BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM --- NGUYỄN HỮU TIỀN NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ KĨ THUẬT TƯỚI NƯỚC, CẮT TỈA VÀ CHE SÁNG ĐẾN SINH TRƯỞNG
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM -
NGUYỄN HỮU TIỀN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ KĨ THUẬT (TƯỚI NƯỚC, CẮT TỈA VÀ CHE SÁNG) ĐẾN SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN CỦA CÂY ĐINH LĂNG TẠI GIA LÂM - HÀ NỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
TS NINH THỊ PHÍP
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn này
là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện hoàn thành luận văn đều đã được tác giả cảm ơn Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Hữu Tiền
Trang 3Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo Bộ môn Cây công nghiệp – Cây thuốc, phòng thực hành thí nghiệm Bộ môn Cây công nghiệp - khoa Nông học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn
Sự giúp đỡ nhiệt tình của đồng nghiệp, bạn bè và gia đình trong thời gian thực hiện luận văn là nguồn động viên tinh thần rất lớn giúp tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Hữu Tiền
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục các chữ viết tắt vii
Danh mục bảng viii
Danh mục hình x
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
1.1 Giới thiệu chung về cây đinh lăng 3
1.1.1 Nguồn gốc, phân loại 3
1.1.2 Giá trị kinh tế và giá trị sử dụng 4
1.1.3 Đặc điểm thực vật học và yêu cầu ngoại cảnh đối với sinh trưởng phát triển 5
1.1.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ đinh lăng tại Việt Nam 5
1.2 Cơ sở khoa học và thực tiễn nghiên cứu của đề tài 6
1.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 6
1.2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 8
1.3 Các kết quả nghiên cứu về biện pháp kĩ thuật tác động đến sinh trưởng phát triển của cây trồng 11
1.3.1 Kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về ảnh hưởng của nước tưới tới cây trồng 11
1.3.2 Các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về phương pháp cắt tỉa đối với cây trồng 12
1.3.3 Các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về phương pháp che sáng cho cây trồng 14
1.3.4 Một số kết quả nghiên cứu về cây đinh lăng 17
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 22
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 22
Trang 52.2.1 Địa điểm 22
2.2.2 Thời gian nghiên cứu 22
2.3 Nội dung nghiên cứu 22
2.4 Phương pháp nghiên cứu 22
2.4.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới nước đến sinh trưởng và phát triển của cây đinh lăng (tuổi 1 và tuổi 2) 22
2.4.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến sinh trưởng và phát triển của cây đinh lăng tuổi 3 23
2.4.3 Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến sinh trưởng và phát triển của cây đinh lăng tuổi 1 và tuổi 2 24
2.5 Các chỉ tiêu theo dõi 24
2.6 Thu thập và xử lý số liệu 25
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của đinh lăng (tuổi 1 và năm thứ 2) 26
3.1.1 Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến độ biến động độ ẩm đất của các công thức thí nghiệm 26
3.1.2 Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến động thái tăng trưởng chiều cao và đường kính thân cây đinh lăng 27
3.1.3 Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến động thái tăng số lá và nhánh trên cây đinh lăng 30
3.1.4 Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến chỉ số SPAD của cây đinh lăng 32
3.1.5 Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến diện tích lá của cây đinh lăng 33
3.1.6: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến sinh trưởng bộ rễ cây đinh lăng 34
3.1.7 Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến khả năng tích lũy chất khô và khối lượng rễ của cây đinh lăng 36
Trang 63.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến đến sinh trưởng, phát
triểnvà năng suất của đinh lăng tuổi 3 38
3.2.1 Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến đến động thái tăng trưởng chiều cao và đường kính thân cây của đinh lăng tuổi 3 38
3.2.2 Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến động thái số nhánh và lá của cây đinh lăng tuổi 3 39
3.2.3 Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến chỉ số SPAD của lá đinh lăng tuổi 3 40
3.2.4 Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến diện tích lá của cây đinh lăng tuổi 3 41
3.2.5 Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến tốc độ tăng trưởng bộ rễ của cây đinh lăng tuổi 3 41
3.2.6: Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến khả năng tích lũy chất khô và khối lượng rễ của cây Đinh lăng tuổi 3 42
3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến sinh trưởng của cây đinh lăng 44
3.3.1 Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến động thái tăng trưởng chiều cao và đường kính thân cây đinh lăng tuổi 1 và tuổi 2 44
3.3.2 Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến động thái tăng trưởng số nhánh và số lá của cây đinh lăng tuổi 1 và tuổi 2 45
3.3.4 Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến diện tích lá cây đinh lăng tuổi 1 và tuổi 2 48
3.3.5 Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến sinh trưởng của bộ rễ cây đinh lăng tuổi 1 và tuổi 2 49
3.3.6 Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến khả năng tích lũy chất khô của cây đinh lăng tuổi 1 và tuổi 2 50
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 52
Kết luận 52
Kiến nghị 52
Trang 7sản xuất nông nghiệp tốt theo tổ chức y tê Thế giới)
thuốc của trung tâm Sâm và Dược liệu thành phố Hồ Chí Minh
Trang 8DANH MỤC BẢNG
STT Tên Bảng Trang 3.1: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến biến động độ ẩm đất
của các công thức thí nghiệm 27 3.2: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến động thái tăng trưởng
chiều cao và đường kính thân cây Đinh lăng 29 3.3: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến động thái tăng số nhánh
và số lá trên cây đinh lăng 31 3.4: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến chỉ số SPAD cây đinh
lăng 32 3.5: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến diện tích lá của cây
đinh lăng 34 3.6: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến sinh trưởng bộ rễ cây
đinh lăng 35 3.7: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến khả năng tích lũy chất
khô và khối lượng rễ của cây đinh lăng 36 3.8: Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến động thái tăng trưởng chiều cao và
đường kính thân cây của cây đinh lăng tuổi 3 38 3.9: Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến động thái tăng trưởng số nhánh cây
đinh lăng tuổi 3 39 3.10: Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến chỉ số SPAD của lá cây đinh lăng tuổi 3 40 3.11: Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến diện tích lá của cây đinh lăng tuổi 3 41 3.12: Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến tốc độ tăng trưởng bộ rễ của cây đinh
lăng tuổi 3 42 3.13: Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến khả năng tích lũy chất khô và khối
lượng rễ của cây đinh lăng tuổi 3 42 3.14: Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến động thái tăng trưởng chiều cao
và đường kính thân cây đinh lăng 44
Trang 93.15: Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến động thái tăng trưởng số nhánh và
số lá của cây đinh lăng 46 3.16: Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến chỉ số SPAD của lá cây đinh lăng
tuổi 1 và tuổi 2 47 3.17: Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến diện tích lá cây đinh lăng tuổi 1
và tuổi 2 48 3.18: Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến sinh trưởng của bộ rễ cây đinh
lăng tuổi 1 và tuổi 2 49 3.19: Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến khả năng tích lũy chất khô của
cây đinh lăng tuổi 1 và tuổi 2 51
Trang 10DANH MỤC ĐỒ THỊ
STT Tên Bảng Trang 3.1: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến động thái tăng trưởng chiều cao cây đinh lăng 1 năm tuổi 28 3.2: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến tích lũy chất khô, khối lượng rễ tươi và khô của đinh lăng 1 tuổi 37 3.3: Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến khả năng tích lũy chất khô và khối lượng rễ của cây đinh lăng tuổi 3 43 3.4: Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến khả năng tích lũy chất khô và khối lượng rễ tươi, khô của cây đinh lăng tuổi 1 50
Trang 11MỞ ĐẦU
Việt Nam vốn được đánh giá là nước có nguồn dược liệu tự nhiên phong phú
và đa dạng về chủng loại lẫn công dụng làm thuốc Thống kê có hơn 3000 loại cây thuốc trong đó có nhiều cây đặc hữu Đây thực sự là một lợi thế của ngành dược Việt Nam
Trong những năm vừa qua, việc nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của những cây cỏ ở nước ta ngày càng được quan tâm nhiều Nhiều loại cây cỏ xung quanh chúng ta được biết đến phổ biến hơn với công dụng trong chữa trị bệnh như: Đinh lăng, nấm Linh Chi, sâm Ngọc Linh,…
Đinh lăng (Polyscias fruticosa), thuộc họ nhân sâm Araliaceae, hầu hết các
loài này được dùng làm thuốc Theo y học cổ truyền, rễ đinh lăng có vị ngọt, hơi đắng, tính mát có tác dụng thông huyết mạch, bồi bổ khí huyết, lá có vị đắng, tính mát có tác dụng giải độc thức ăn, chống dị ứng, chữa ho ra máu, kiết lỵ Nói chung, ngoài tác dụng lương huyết và giải độc thức ăn, những tính chất khác của đinh lăng gần giống như nhân sâm Tuy nhiên cây đinh lăng ít độc hơn cả nhân sâm và khác với Nhân sâm, nó không làm tăng huyết áp
Với nhiều tác dụng được biết đến trong y học mà cây đinh lăng ngày nay được trồng phổ biến và rộng rãi Đặc biệt một số Tỉnh đã tập trung phát triển cây đinh lăng thành các vùng chuyên canh sản xuất lớn như: Nam Định, Bình Phước, Đồng Nai, Thanh Hóa… Tuy nhiên tình trạng trồng và khai thác đinh lăng ở nước
ta hiện nay còn tự phát, quy mô chưa lớn dẫn đến sản lượng không ổn định, chất lượng không đảm bảo và giá cả biến động Đặc biệt đinh lăng chưa được sản xuất theo quy trình (trồng lẫn vùng trồng lúa và hoa màu, kỹ thuật trồng và chăm sóc chủ yếu theo kinh nghiệm, việc sử dụng giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nguồn nước tưới… tùy tiện thu hái không tuân thủ theo kĩ thuật mùa, vụ và tuổi của cây) làm ảnh hưởng tới chất lượng dược liệu, qua đó ảnh hưởng đến chất lượng thuốc sản xuất từ dược liệu Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu khoa học về cây đinh lăng, tuy nhiên những nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào thành phần và hoạt chất của
rễ đinh lăng còn hạn chế nghiên cứu về quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc và áp dụng khoa học kĩ thuật mới cho cây Vì vậy, thiết yếu cần có những nghiên cứu
Trang 12nhằm đưa ra quy trình trồng, chăm sóc để nâng cao khả năng sinh trưởng phát triển, hạn chế sâu bệnh và cho thu hoạch năng suất cao đối với cây đinh lăng phục vụ nhu cầu cho sản xuất
Xuất phát từ yêu cầu sản xuất thực tế trên, dưới sự hướng dẫn của TS.Ninh
Thị Phíp tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số kĩ
thuật (tưới nước, cắt tỉa và che sáng) đến sinh trưởng phát triển của cây đinh lăng tại Gia Lâm - Hà Nội”
Mục đích và yêu cầu
Mục đích
Xác định kĩ thuật cắt tỉa, mức che sáng và khoảng cách giữa các lần tưới phù hợp cho cây đinh lăng sinh trưởng, phát triển tốt góp phần hoàn thiện quy trình trồng, chăm sóc cây đinh lăng
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học nghiên cứu quy trình trồng
và kĩ thuật thâm canh nâng cao năng suất thu hoạch tươi cũng như khô của cây đinh lăng
Kết quả nghiên cứu của đề tài bổ sung thêm tài liệu cho công tác nghiên cứu
khoa học, tài liệu giảng dạy, tài liệu tham khảo cho các cán bộ kỹ thuật nông nghiệp
Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần xây dựng và hoàn thiện quy trình trồng, chăm sóc cây đinh lăng phục vụ người dân sản xuất theo hướng hàng hóa, làm tăng năng suất và chất lượng đinh lăng, đáp ứng nhu cầu nguồn dược liệu
Đề tài góp phần làm đa dạng sinh học và phát triển nguồn gen cây thuốc trong điều kiện hiện nay
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Giới thiệu chung về cây đinh lăng
1.1.1 Ngu ồn gốc, phân loại
Cây đinh lăng tên khoa học là Polyscias fruticosa (L.) Harms hay còn gọi là
cây gỏi cá thuộc bộ hoa tán (Apiales), họ ngũ gia bì (Araliaceae), chi (Polyscias)
Chi này chứa khoảng 114 - 150 loài (tùy theo quan điểm phân loại), chủ yếu phân
bố tại khu vực Madagascar Chúng có các lá dạng lông chim Chi này là một nhóm cận ngành và có thể sẽ được chia tách (hoặc hợp nhất) với một số chi khác Tại Việt Nam có khoảng 4 loài
Phân loại theo đặc điểm thực vật học (hình dạng lá) thì đinh lăng chia làm nhiều dạng khác nhau và một số loài đang sử dụng nhiều nhất là:
- Đinh lăng lá tròn: Polyscias balfouriana Baill
- Đinh lăng trổ (đinh lăng viền bạc): Polyscias guilfoylei (Cogn Marche) Baill
- Đinh lăng lá to (đinh lăng răng): Polyscias filicfolia (Merr) Baill
- Đinh lăng đĩa: Polyscias scutillarius (Burm f) Merr
- Đinh lăng răng (lá 2 lần kép, thân màu trắng): Polyscias serrata Ballf
Theo dân gian, đinh lăng được chia làm hai loại chính là: Đinh lăng nếp và đinh lăng tẻ
- Đinh lăng nếp: Là loại lá nhỏ, xoăn, thân nhẵn, củ to, rễ nhiều và mềm, vỏ
bì dày cho năng suất cao và chất lượng tốt Khả năng chống chịu với điều kiện bất thuận tốt Vì vậy người sản xuất nên chọn loại này để trồng và hiện nay đinh lăng nếp đang được trồng phổ biến, chiếm đa phần diện tích trồng của người dân
- Đinh lăng tẻ: Là loại lá to, vỏ thân xù xì, màu xanh nhạt, củ nhỏ, rễ ít và cứng,
vỏ bì mỏng năng suất thấp Loại này không nên trồng
Cây đinh lăng có nguồn gốc từ các đảo Thái Bình Dương (Polynêdi) được trồng khắp nơi từ đồng bằng đến miền núi Cây được trồng phổ biến làm cảnh ở khắp cả nuớc, có mọc cả ở Lào và miền nam Trung Quốc Từ năm 1961, do biết tác dụng bổ dưỡng của rễ đinh lăng nên người dân trồng nhiều ở các bệnh viện, trạm xá
và vườn gia đình
Trang 14Tại Việt Nam đinh lăng được trồng ở nhiều nơi và được trồng nhiều nhất ở huyện Hải Hậu – Nam Định, Thái Bình, Bình Phước, Đồng Nai,… để thu lá, thân nhưng giá trị dược liệu chính của cây nằm ở rễ, củ Đinh lăng là cây có giá trị kinh
tế và dược liệu cao (Như Xuân, 2013)
1.1.2 Giá trị kinh tế và giá trị sử dụng
Giá trị kinh tế
Cây đinh lăng là cây dược liệu quý, được sử dụng làm thuốc chữa nhiều bệnh cho con người Đây là một loại cây thảo, rất dễ trồng và dễ sống, ít bị sâu bệnh gây hại nên đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người trồng Sau trồng 3 năm cây đinh lăng có thể thu hoạch được Với giá thu mua toàn bộ rễ, gốc, thân lá tại thị trường huyện hiện nay từ 20.000 - 25.000 đồng/kg, nếu trồng 1 sào, 3 năm sau cho thu nhập 30-
45 triệu đồng/sào; chi phí giống 1,5 – 2,0 triệu và phân bón từ 400- 600 nghìn đồng/sào; người nông dân trung bình lãi ròng 19 - 21 triệu đồng/sào/1 năm
Qua các đề tài nghiên cứu khoa học thì tác dụng dược tính của cây đinh lăng đã được chứng minh, nên nhu cầu sử dụng cây đinh lăng làm thuốc ngày càng tăng Hiện nay đinh lăng mua theo gốc (kg), giá của mỗi gốc (kg) đinh lăng tùy vào năm tuổi Nếu lâu năm gốc to, thịt cây chặt sẽ nặng cân và giá tiền sẽ cao lên Đinh lăng trồng càng lâu năm thì giá trị dược liệu và kinh tế càng cao
Giá trị sử dụng
Trong củ đinh lăng có chứa hợp chất Saponin, alkaloid có tác dụng như Nhân sâm, nhiều Vitamin, ngoài ra rễ cây còn chứa khoảng 13 loại axit amin không thể thay thế, rất cần thiết cho cơ thể con người, nhờ hoạt chất trong củ đinh lăng giúp cho tăng trí nhớ cho não bộ, một số đơn vị dược trong nước đã ứng dụng hoạt chất trong cây đinh lăng để làm thuốc bổ não (Đỗ Tất Lợi, 1986) (Nguyễn Trần Châu và
cs, 2007) Ngoài ra củ cây đinh lăng còn dùng để chữa trị ho ra máu, chữa tắc tia sữa, làm mát huyết, lợi tiểu, giảm mẫn ngứa Củ đinh lăng sao vàng, khử thổ, sắc cho phụ nữ uống sau khi sinh để chống đau dạ con, làm tăng tiết sữa cho con bú Một nghiên cứu gần đây trên cây này bởi Võ Duy Hồ Nam và các đồng nghiệp, đã chiết xuất hợp chất saponin trong oleanolic axit từ lá, và polyacetylenes
từ củ Có khả năng kháng khuẩn và kháng nấm Các loại dầu dễ bay hơi trong lá
Trang 15cũng đã được nghiên cứu và phân lập để tìm ra 8 hợp chất saponin mới oleanolic acid, tên polysciosides A đến H và 3 saponin đã được biết đến
Thành phần hoá học: Trong rễ cây đinh lăng có chứa glucosid, alcaloid, saponin triterpen, tanin, 13 loại acid amin, B1 Trong thân và lá cũng có những thành phần hóa học như trên nhưng lượng ít hơn
Rễ đinh lăng có vị ngọt, tính bình, lá vị nhạt, hơi đắng, có tác dụng bổ năm tạng, giải độc, bổ huyết, tăng sữa, tiêu thực, tiêu sưng viêm Đinh lăng là thuốc tăng lực Nó giúp tăng sức chịu đựng của cơ thể đối với các yếu tố bất lợi như kiệt sức, gia tốc, nóng Đối với người, đinh lăng làm cho nhịp tim sớm trở lại bình thường sau khi chạy dai sức và làm cho cơ thể chịu được nóng Người bệnh bị suy mòn uống đinh lăng chóng phục hồi cơ thể, ăn ngon, ngủ tốt, tăng cân Nó cũng làm tử cung co bóp mạnh hơn Đinh lăng ít độc hơn nhân sâm và không làm tăng huyết áp
1.1.3 Đặc điểm thực vật học và yêu cầu ngoại cảnh đối với sinh trưởng phát triển
Đinh lăng có nhiều loại nhưng dùng để làm thuốc thường là đinh lăng lá nhỏ, cây thân gỗ nhỏ cao 0,8 – 1,5 m, thân không lông, không gai Lá kép 3 lần xẻ lông chim, dài 20 – 40 cm Lá chét có cuống nhỏ mảnh khảnh dài 3 – 15 mm, dạng màng khía răng không đều, phần nhiều khía hay chia thùy, có mũi nhọn dài 3 – 10 cm, rông 0,6 - 4cm Hoa nhỏ màu trắng mọc thành cờ, tán ngắn dài 7 – 18 cm Quả dẹt màu trắng bạc, dài và rộng khoảng 3 – 4 mm, dày 1 mm, cây ra hoa tháng 4 - 7 Đinh lăng là cây lâu năm, có thể sống đến vài chục năm, chịu hạn khá tốt Cây phát triển kém hoặc chết khi ngập úng Phân bố rộng khắp trên khắp cả nước, ở tất cả các vùng sinh thái, có thể phát triển trên nhiều loại đất nhưng tốt nhất là đất pha cát
Cây có khả năng tái sinh dinh dưỡng cao nên người dân trồng chủ yếu bằng cách giâm cành bánh tẻ hoặc cành già vào tháng 2 - 4 hoặc tháng 8 - 10 Trong năm mùa Thu và mùa Xuân thuận lợi cho cây sinh trưởng phát triển nhanh nhất
1.1.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ đinh lăng tại Việt Nam
Cây đinh lăng là cây dược liệu quý, được sử dụng làm thuốc chữa nhiều bệnh cho con người, rất dễ trồng và dễ sống, ít bị sâu bệnh đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người trồng Nguyễn Huy Văn (2012) cho biết, hàng năm Tổng công ty Dược Traphaco cần 400 tấn rễ đinh lăng để làm thuốc, nhưng hiện nay nguồn cung cấp
Trang 16này không ổn định do chưa chủ động trong sản xuất đinh lăng
Ngày 23/5/2014, tại xã Nghĩa Lạc, Nghĩa Hưng, Nam Định, Traphaco đã phối hợp cùng với Công ty trách nhiệm hữu hạn Hiệp Hưng Xanh và Dự án Biotrade khởi công Trung tâm giống đinh lăng theo tiêu chuẩn GAP-WHO Mỗi năm trung tâm sẽ cung cấp khoảng từ 0,6 - 1 triệu cây giống đinh lăng, cung cấp đủ cho 40ha diện tích vùng trồng, đảm bảo 50% sản lượng tiêu thụ của Traphaco Ở thời điểm hiện tại, Traphaco đã có hơn 10 ha diện tích đinh lăng trồng theo tiêu chuẩn GAP- WHO tại Nam Định, cung cấp sản lượng 90.000 kg/vụ cho cho công ty Công ty sẽ tiếp tục khảo sát và mở rộng vùng trồng tại một số tỉnh như Phú Thọ, Thái Nguyên, Hà Nội, Hưng Yên, Thái Bình, Ninh Bình, Đăk Nông, Đăk Lăk,
Theo số liệu của chi cục thống kê huyện Hải Hậu (2014) có 457 ha cây dược liệu hàng năm, trong đó chủ yếu là cây đinh lăng Gia đình nào cũng có ít nhất từ 50
Hậu xuất bán ra thị trường từ 1.500 - 2.000 tấn sản phẩm đinh lăng tươi cung cấp cho các tiểu thương và công ty dược phẩm Traphaco
Vùng Đồng Nai có nhược điểm là đất chua nhưng được khắc phục bằng công thức phân bón thích hợp như: Rắc vôi bột, tro trấu và phân bò ủ hoai mục … nên đinh lăng ở đây cho thu hoạch năng suất cao Hiện nay đã có rất nhiều vùng trồng cây đinh lăng lá nhỏ có diện tích 5 ha xuất hiện góp phần đa dạng hóa nguồn gen cây thuốc ở miền Đông Nam Bộ và phát triển dược liệu đinh lăng, cung cấp cho các công ty dược phẩm phía Nam sản xuất thuốc, không phải mua dược liệu từ miền Bắc, giúp giảm chi phí vận chuyển và hạ giá thành sản phẩm (Nguyễn Thị Ngọc Trâm và cs, 2015)
1.2 Cơ sở khoa học và thực tiễn nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Nước là một trong những nhân tố quan trọng nhất đối với tất cả các cơ thể sống Nước chiếm 90% khối lượng chất nguyên sinh và nó quyết định tính ổn định của cấu trúc keo nguyên sinh chất Với thực vật, khi hàm lượng nước trong tế bào giảm, một loạt chức năng sinh lý quan trọng như quang hợp, hô hấp sẽ bị kìm hãm
Trang 17do đó ảnh hưởng tới sinh trưởng và phát triển của cây Nước không chỉ đóng vai trò như một dung môi, một phản ứng mà nước còn tham gia vào cấu trúc của tế bào Ngoài những vai trò quan trọng trên nước còn là một yếu tố nối liền cây với môi trường bên ngoài và điều hòa nhiệt độ cho cây Độ ẩm đất liên quan khá mật thiết tới tuổi cây và độ ẩm đất cũng như lượng mưa Khi lượng nước trong đất đảm bảo
sẽ giúp hòa tan tốt các chất muối khoáng và thuận lợi cho quá trình hút dinh dưỡng
và trao đổi chất của cây Tuy nhiên ở mỗi giai đoạn sinh trưởng phát triển cây cần lượng nước khác nhau Vì vậy, khoảng cách giữa các lần tưới, liều lượng tưới và phương pháp tưới có ảnh hưởng trực tiếp tới các quá trình trao đổi chất, sinh trưởng phát triển của cây trồng Tóm lại cần phải cung cấp đầy đủ nước tưới cho cây trồng Ánh sáng được coi là yếu tố sinh thái vừa có tác dụng giới hạn, vừa có tác dụng điều chỉnh đối với đời sống sinh vật, đặc biệt là thực vật Ánh sáng trắng trực tiếp tham gia vào quá trình quang hợp, là nguồn dinh dưỡng của cây cỏ và ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống của thực vật Ánh sáng có ảnh hưởng căn bản đến sự phân phối lượng tăng trưởng mới giữa các bộ phận của cây trồng Khi được cung cấp đầy đủ ánh sáng cây trồng phát triển một toàn diện và khi cường độ ánh sáng không thích hợp sẽ gây ức chế sinh trưởng của cây trồng Tuy nhiên mỗi giai đoạn
và mỗi loại cây trồng cần mức độ cũng như cường độ ánh sáng là khác nhau Vì vậy, trong môi trường có cường độ ánh sáng thích hợp thì cây trồng sinh trưởng phát triển là tốt nhất
Các kết quả nghiên cứu cho thấy, ở trong cây nơi nào lượng đạm được tích lũy ít mà lượng đường nhiều thì việc cắt tỉa sẽ giúp gia tăng sự phân hoá hoa bởi tác dụng làm cân đối giữa đạm và đường, tạo điều kiện thuận lợi tích lũy đạm ở điểm sinh trưởng Việc loại bỏ một vài điểm sinh trưởng không có lợi sẽ giúp tăng quá trình cung cấp nước, đạm và chất dinh dưỡng cho các điểm sinh trưởng còn lại phát triển tốt hơn Cắt tỉa loại bỏ những bộ phận sinh dưỡng đã già và bị sâu bệnh sẽ giúp cây trẻ hóa các bộ phận sinh dưỡng và tập trung dinh dưỡng cho những bộ phận này phát triển Như vậy cắt tỉa đảm bảo cho cây thoáng đãng, mọi phía của cây đều nhận được ánh sáng một cách đầy đủ, khống chế được chiều cao cây ở mức thấp để hạn chế ảnh hưởng của gió bão và thuận tiện cho thu hoạch, chăm sóc phòng trừ sâu bệnh
Trang 181.2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
Nước giúp cho cây trồng thực hiện các quá trình vận chuyển các khoáng chất trong đất giúp điều kiện quang hợp, hình thành sinh khối tạo nên sự sinh trưởng của cây trồng Tổng lượng nước mà cây trồng hút lên hằng ngày chủ yếu là để thoát ra ngoài ở dạng thoát hơi qua lá, nước chỉ giữ lại cho bản thân cấu trúc của cây trồng chỉ chừng 0,5 – 1,0% mà thôi Rễ cây là bộ phận hút nước cho cây trồng Bộ rễ hình thành ở nhiều dạng khác nhau, tuỳ theo loại cây trồng, điều kiện đất đai, khí hậu và chiều sâu mực nước ngầm Thông thường, rễ cây hút nhiều nước nhất (chiếm khoảng 40 - 50%) ở độ sâu ¼ chiều dài của rễ tính từ mặt đất, càng xuống sâu thì tỉ
lệ hút hước càng giảm
Thực tế, cây trồng trong điều kiện được cung cấp nước đầy đủ sẽ có bộ rễ dài
và sâu, vươn ra theo các chiều trong đất Ngược lại, nếu thiếu nước, bộ rễ của cây sẽ ngắn và thưa
Trong điều kiện đất và nước đầy đủ, rễ từng loại cây trồng sẽ phát triển triển tối đa để tăng trưởng Chiều sâu tối đa của hệ thống rễ cây trồng cũng chính là chiều sâu lớp đất cần tưới (Lê Anh Tuấn, 2010)
Đối với các cây trồng lấy rễ củ thì yêu cầu về nước tưới cần quan tâm hàng đầu Đa số các loài cây trồng lấy rễ hay thân củ là cây ưa ẩm nhưng không chịu úng Cần cung cấp đủ nước trong suốt quá trình sống cho cây Trong giai đoạn cây con
ẩm độ đất luộn đạt 80 – 90 % Vì vậy, thời vụ trồng luôn tiến hành vào mùa xuân ở các tỉnh phía Bắc và mùa mưa ở các tỉnh phía Nam để cung cấp đủ ẩm cho cây Nếu thời tiết hanh khô thì phải tiến hành tưới nước 3 – 4 lần/tuần để cho cây thích nghi với điều kiện sống, sau đó có thể giảm dần chế độ tưới Trong giai đoạn phát triển yêu cầu độ ẩm luôn đạt 70 – 75 % giúp cho củ phát triển đầy đủ cân đối Giai đoạn thu hoạch thì yêu cầu nước không cao, yêu cầu ẩm độ từ 60 – 65 % thuận lợi cho thu hoạch
Ánh sáng là nhân tố sinh thái tối quan trọng đối với thực vật Bởi vì sánh sáng là nguồn năng lượng cần thiết cho quá trình tổng hợp chất hữu cơ Tuy nhiên, mỗi lài cây khác nhau có nhu cầu ánh sáng khác nhau Trong điều kiện ở vườn ươm, cây con cũng phải chịu những ảnh hưởng bất lợi của cường độ ánh sáng mạnh Vì
Trang 19thế, nghiên cứu chế độ che bóng cho cây con trong giai đoạn gieo ươm là một việc làm cần thiết Việc che bóng có tác dụng không chỉ hạn chế tác động xấu của cường
độ ánh sáng mạnh, mà còn điều hòa nhiệt độ và làm giảm quá trình mất nước ở cây con (Hoàng Công Đãng, 2000)
Hiệu quả dễ thấy nhất là sau khi cắt tỉa cây sẽ tạo ra các chồi mới sinh trưởng mạnh và có nhiều khả năng để các cành mới này cho hoa trái, giúp giữ được sản lượng ổn định hằng năm Tạo cho cây trồng một khung tán cân đối, ánh sáng được phân bố đều và vườn cây thông thoáng, độ ẩm không khí điều hòa hạn chế phát sinh
và sinh trưởng của sâu bệnh hại Ở những cây già, khả năng ra hoa trái giảm do giảm sinh trưởng của chồi thì việc cắt tỉa sẽ cho hiệu quả cải thiện Việc đốn tái sinh
(cắt tỉa nặng) cũng nhằm mục đích này (Hoàng Đức Phương, 2000)
Đối với cây ăn quả thì cắt tỉa bao nhiêu, mức độ như thế nào tùy thuộc vào cách cho trái của cây, sự kết hợp giữa chồi (hay mắt) tháp và gốc tháp, sức sinh trưởng của cây Tất cả các yếu tố này thay đổi tùy loài cây trồng Do vậy, cây ăn trái cần được xếp thành nhóm tùy theo chúng có kiểu cho trái ở nhánh bên hay ngọn nhánh hoặc cả hai mà có cách cắt tỉa sao cho phù hợp nhất
* Yêu cầu nước, ánh sáng, cắt tỉa của một số cây trồng lấy rễ
Ánh sáng cung cấp năng lượng cho quá trình quang hợp của cây và hầu hết cây trồng đều là cây ưa sáng Tuy nhiên một số cây lại chịu bóng trong suốt quá trình sống của mình như: Cây sa nhân, sâm… Mỗi giai đoạn cây trồng lại thích ứng với mức độ sáng khác nhau Đặc biệt nhiều cây khi giai đoạn cây con có khả năng chịu bóng rất tốt nhưng khi lớn lại ưa sáng như: Cây ba kích, cây ngưu tất, …
Vì vậy trong quá trình ươm trồng cây con loại cây này cần phải tiến hành trong vườn ươm có mái che, độ che phủ khoảng 80% Khi mới trồng, cây con vẫn cần che bóng bằng cành lá các loại cây khác Cần đảm bảo thường xuyên tưới nước giữ ẩm, làm sạch cỏ dại và phải che nắng cho cây con không để ánh nắng trực tiếp chiếu vào (Bùi Thị Hương Phú và cs, 2013)
Tùy vào nhu cầu ánh sáng khác nhau của mỗi cây trồng mà thời gian đưa cây con ra ngoài sáng khác nhau như: Cây ba kích từ tháng thứ 6 trở đi nên đưa trồng ngoài ruộng có ánh sáng chiếu toàn phần hoặc cây sa nhân cần trồng dưới tán rừng,
Trang 20vườn có ánh sáng tán xạ Đặc biệt cây sa nhân con có thể trồng ở nhiều điều kiện môi trường khác nhau như: Dưới tán rừng tự nhiên dưới tán vườn cây ăn quả hoặc vườn tạp, trên đất nương rãy đã bỏ hoang đất trống (chừa lại một số cây gỗ có tán lá thoáng với tổng độ tán che từ 10 - 20% (tối đa 30%) (Bùi Thị Hương Phú và cs, 2013) Nước là một nhân tố không thể thiếu trong quá trình sinh trưởng và phát triển Có nước đầy đủ mới đảm bảo được quá trình quang hợp, hô hấp và trao đổi chất Nhưng với cây lấy củ thì nước còn quan trọng hơn vì làm cho đất luôn ẩm, hệ thống lông hút được bảo vệ và bộ rễ mới phát triển tốt Vì vậy mà lượng mưa cũng ảnh hưởng nhiều tới năng suất cây trồng như cây sa nhân thường mọc trên các sườn núi, ở độ cao khoảng 300 - 350 m so với mặt biển trở lên Sa nhân thường sinh trưởng phát triển tốt và cho thu hoạch cao ở những vùng có lượng mưa hàng năm khoảng 2500 mm, độ ẩm bình quân hàng năm trên 80%
Bên cạnh một số cây dễ tính như ba kích còn có một số cây yêu cầu rất khắt khe về độ ẩm, nước tưới như cây sa nhân, cây ngưu tất … Cây sa nhân giai đoạn sau gieo từ 1 – 1,5 tháng cần duy trì độ ẩm đồng ruộng từ 80 – 85% Giai đoạn phát triển thân cành (sau gieo 1,5 – 3 tháng) nếu thời tiết không mưa cần cung ứng nước cho cây, 7 – 10 ngày/lần tháo ngấm Giai đoạn xuống củ hạn chế tối đa tưới nước cho cây, < 50% ẩm độ đất mới cần bổ sung nước Giai đoạn cây đang hình thành củ nếu gặp thời tiết mưa ẩm nhiều cần chủ động tiêu nước, không để nước ngập trong rãnh, nếu đất quá ẩm củ sẽ nhỏ, nhiều rễ nhỏ và rễ phụ, củ bị thối Hầu hết các cây lấy củ khi gặp ngập úng 5 – 7 ngày đều chết do bộ rễ bị thối
Mỗi cây trồng có yêu cầu về khoảng cách trồng và mật độ khác nhau Vì vậy khi đốn, tỉa sẽ giúp đảm bảo mật độ cây, tạo độ thông thoáng vườn cây và giúp cây tập trung dinh dưỡng nuôi bộ phận sinh dưỡng Do đó trong quá trình trồng cần phải tiến hành tỉa cành đúng thời điểm để đem lại hiệu quả năng suất thu hoạch cao nhất như: Cây sa nhân trồng trong vườn cây ăn quả với mật độ trồng từ 6000 - 9000 cây/ha (khoảng cách trồng 1 x 1 m/1cây) Cây ngưu tất sau trồng khoảng 3 tháng, cây phát triển thân lá quá tốt hoặc xuất hiện ngồng hoa cần tiến hành phát ngọn cho cây, duy trì độ cao cây 50 – 60 cm Có thể phát ngọn 1 – 2 lần tùy thuộc vào sinh trưởng, phát triển của cây sẽ giúp tăng năng suất củ (Phạm Thu Thủy, 2014)
Trang 211.3 Các kết quả nghiên cứu về biện pháp kĩ thuật tác động đến sinh trưởng phát triển của cây trồng
1.3.1 Kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về ảnh hưởng của nước tưới tới cây trồng
Với cây Đương Quy và Nghệ Đỏ thuộc dạng cây dược liệu đều lấy củ, đặc điểm thân cây thấp nên phù hợp với cả hai hình thước là nhỏ giọt và phun mưa áp lực thấp
Kỹ thuật tưới công nghệ cao kết hợp với bón phân và phun thuốc trừ sâu sẽ tiết kiệm đáng kể nhân công, lượng tổn thất phân bón và thuốc trừ sâu, nâng cao giá trị thặng dư phù hợp với đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn
Lượng nước tưới bổ sung cho cây mạch môn trồng xen trong vườn bưởi lâu
và năng suất thu hoạch đạt cao nhất Sau trồng 34 tháng năng suất thực thu từ củ đạt 82,95 tạ/ha (Nguyễn Đình Vinh, 2012)
Theo Nguyễn Bá Hoạt và cs (2005), Trong cuốn “ kỹ thuật trồng, sử dụng và chế biến cây thuốc” thì yêu cầu về lượng mưa hàng năm của một số cây lấy rễ củ như sau: Cây ba gạc Cu Ba (>1700mm), cây Ba kích (1500 – 2500 mm), cây Bạch truật và Đương Quy Nhật Bản (1600 – 2000 mm), cây nghệ vàng ( 2000 – 2500 mm), …
Do khoai tây được trồng bằng củ nên không hình thành rễ chính mà chỉ có các rễ phụ thưa thớt Phần lớn rễ tập trung ở tầng đất mặt nên khả năng hút nước của cây không lớn Khi gặp điều kiện khô hạn cây khoai tây rất dễ bị thiếu nước và phát triển kém Giai đoạn hình thành củ đòi hỏi ẩm độ đất khoảng 60%, giai đoạn hình thành củ là 80% Nếu thiếu nước ở giai đoạn hình thành củ thì năng suất giảm
rõ rệt, cụ thể: Ẩm độ đất là 60% thì năng suất giảm 4,3%; ẩm độ đất còn 40% năng suất giảm 33,9% và không tưới năng suất giảm 63% (Đường Hồng Dật, 2005) Theo Nguyễn Đình Vinh và cs (2010), kết quả điều tra kỹ thuật trồng và chăm sóc cây mạch môn tại 2 tỉnh Phú Thọ, Yên Bái cho thấy: 90-95% nông dân được điều tra đã đánh giá cây mạch môn có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ đất chống hạn, giữ ẩm cho đất và không cạnh tranh dĩnh dưỡng ánh sáng với cây trồng chính Đây là loại cây sinh trưởng tốt trong điều kiện có che bóng Khả năng chịu
Trang 22hạn, chịu nóng chịu rét rất tốt, cây có khả năng sinh trưởng bình thường trong điều kiện mùa khô, lạnh ở mền bắc Khả năng chịu úng khá, kết quả quan sát tại các điểm điều tra và phỏng vấn người dân cho thấy cây mạch môn có thể chịu ngập úng hoàn toàn trong thời gian 15- 20 ngày, không làm chết thân ngầm
1.3.2 Các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về phương pháp cắt tỉa đối với cây trồng
Cây có tán dày nếu không cắt tỉa khi cây ra nhiều trái thì trái sẽ có kích thước nhỏ và màu sắc kém do mất cân bằng chất đạm và chất đường bột Cây được cắt tỉa thường xuyên giúp tăng tỉ lệ đậu trái Đối với cây phát triển vượt mức (sung mãn) thì việc cắt tỉa bớt cành lá sẽ tạo điều kiện cho cây dễ ra hoa tạo trái hơn Việc tỉa bỏ hoa trái tuy có làm giảm năng suất tổng thể nhưng tăng năng suất cá thể, trái có giá trị thương phẩm cao Ngoài ra việc cắt tỉa còn là một biện pháp làm giảm nguồn lây lan sâu bệnh trên cây
Đối với các loài có các chồi cựa nhỏ mọc tận cùng trên nhánh và các chồi này phát triển trong thời gian dài trên cây để cho trái, nên cắt tỉa trên các nhánh đã phát triển trong mùa trước Các nhánh dài cần được cắt ngọn hoặc cắt bỏ hoàn toàn
vì khi mang nhiều trái cành sẽ bị uốn cong xuống, trái bị lắc nhiều trong gió gây bầm dập các trái khác trên cây
Một thí nghiệm tạo hình và cắt tỉa trên giống ổi JP1 thực hiện tại Mã Lai (Norlia Yunus, 1990) trong thời gian 5 năm cho thấy, năng suất và số trái của cây trong điều kiện cắt tỉa nhẹ cao hơn cây được cắt tỉa trung bình và nặng Tuy nhiên, không có
sự khác biệt về trọng lượng trung bình của trái và tỷ lệ chất hòa tan tổng số giữa các cây được áp dụng các mức độ cắt tỉa Việc cắt tỉa nặng đã giúp cây cho nhiều chồi mới nhất Trái mọc ra từ các chồi mới tại vị trí xa nhất tính từ chỗ cắt cành
Cắt tỉa trong giai đoạn cây đang phát triển cành lá: Được thực hiện trên các cây còn nhỏ nhằm chọn lọc các cành giâm thích hợp và khi thực hiện trên cây cho trái thì nhằm loại bỏ các cành vượt, làm giảm sức sinh trưởng của cây, cải thiện việc đậu trái, màu sắc trái
Cắt tỉa sau mùa thu hoạch: Đối với một số loại cây ăn trái, cần tiến hành cắt tỉa cho cây sau khi thu hoạch trái, như nhãn, vải, xoài, nho, thanh long các chồi,
Trang 23cành mang trái phía ngoài tán, cành bị bẻ gãy, cành yếu vươn ra xa tán, cành bị sâu bệnh, cần được cắt để thu nhỏ tán cây và giúp cây đâm chồi mới đồng loạt, to mập, khoẻ để chuẩn bị cho mùa trái năm sau
Các loại cành cần cắt tỉa là những cành nhỏ mọc thẳng bên trong tán, các cành nhỏ không nhận được ánh sáng, cành mọc khít nhau hay mọc chồng khít lên nhau Việc cắt bỏ các cành bị sâu bệnh, cành bị khô héo hay hư hỏng cần tiến hành thường xuyên để tăng khoảng cách thích hợp cho các cành giàn
Thời điểm cắt cành trong năm và cách cắt cành: Tốt nhất là cắt cành trong điều kiện thời tiết khô ráo để vết thương mau lành Nông dân ở Đồng Bằng Sông Cửu Long có tập quán “rửa cây” sau khi thu hoạch Tuy nhiên trong thời gian này ở Đồng Bằng Sông Cửu Long là thời gian còn mưa, nên khi cắt cành cần bôi lên vết cắt các loại thuốc sát khuẩn (thuốc có gốc đồng như Copper zinc, Copper-B) để tránh nhiễm bệnh
Phạm Thị Hương (2008) khi đốn tỉa trên 2 giống xoài Hôi và xoài Tròn 10 -
12 tuổi tại Yên Châu – Sơn La theo dõi trong 2 năm 2006 – 2007 cho kết quả: Đốn tỉa sau thu hoạch kết hợp bón phân làm giảm độ cao tán, tăng số đợt lộc thu (từ 1 đợt lên 2 đợt) và chất lượng lộc, làm tăng số lượng hoa trên chùm một cách đáng kể (tăng 109 hoa ở xoài Tròn và 221 hoa ở xoài Hôi) tạo tiền đề cho cải thiện tỉ lệ đậu quả và điều kiện để thâm canh vườn cây dễ dàng hơn
Kết quả đốn tỉa, trẻ hóa kết hợp quy trình bón phân cân đối sau một năm trên cây mận tại Mộc Châu Sơn La thể hiện rõ rệt như: Sinh trưởng phát triển khỏe, phát lộc và đậu quả tập trung, quả to và chất lượng ngon hơn Trung bình mỗi cây cho thu hoạch từ 1,5 – 1,7 tạ (Trần Thanh Toàn, 2012)
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của các biện pháp kĩ thuật cắt lá, đào lật rễ đến sinh trưởng và năng suất củ của cây Mạch môn, Nguyễn Đình Vinh (2013) kết luận: Các kĩ thuật cắt lá và đào lật rễ có ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng của thân lá cây ở giai đoạn đầu sau xử lý Tuy nhiên công thức đào lật rễ vào vụ đông có ảnh hưởng tốt đến sự phát sinh tầng rễ và số rễ của cây mạch môn Cắt lá hai lần vào vụ đông
và vụ hè có ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng và năng suất củ mạch môn Sau 34 tháng trồng và xử lý, công thức đào lật rễ cho năng suất củ thực thu đạt cao nhất
Trang 24289,0 tạ/ha, cao hơn rõ rệt so với đối chứng không cắt lá, không đào lật rễ
Kết quả khảo sát của Nguyễn An Đệ (2013) cho thấy măng cụt là cây ra hoa
ở đầu cành, các đọt cành có từ 2-3 cặp lá có tỷ lệ ra hoa cao hơn hơn so với các cành non hình thành muộn trong năm Ngoài ra các đọt cành thứ cấp già cỗi 4-5 cặp
lá trở lên hình thành từ những năm trước khả năng ra hoa rất kém Cắt tỉa cành tượt + cành khô dập gãy + đọt cành cấp 1giao tán đảm bảo không làm giảm số trái và có ảnh hưởng tốt đến chất lượng trái nên có thể áp dụng trong sản xuất
Như vậy cắt đứt rễ cây mạch môn vào vụ đông có tác dụng kích thích cho cây hình thành rễ, củ giúp tăng năng suất rễ và củ đạt cao nhất (289,0 tạ/ha) Tuy nhiên cắt lá một lần không gây ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất củ so với công thức không cắt lá Cắt lá hai lần trong vụ đông và vụ hè có ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng và năng suất củ chỉ đạt 142,3 tạ/ha (Nguyễn Đình Vinh, 2013)
Trong quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp, Lê Quý Anh (2014) kết luận công thức tỉa cây đinh lăng 3 năm tuổi giữ lại 2 cành có sự phát triển, sinh trưởng của bộ
rễ là tốt nhất khi số rễ là 30,67 rễ/cây và khối lượng rễ đạt 87,45g/cây cao hơn các công thức khác (tỉa giữ lại 1 cành, tỉa giữ lại 3 cành và đặc biệt là công thức không tỉa cành)
Hiện nay có một số nhà vườn kết hợp việc cắt cành thông qua phương pháp chiết cành Tuy nhiên, điều này cần được cân nhắc vì làm như thế ta đã giữ lại một số cành trên cây trong một thời gian mà nói về mặt sinh trưởng thì không có hiệu quả Do
đó việc chiết cành cần thực hiện với mục đích rõ ràng trong thời điểm thích hợp
1.3.3 Các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về phương pháp che sáng cho cây trồng
Ánh sáng là nguồn năng lượng cần cho quang hợp của thực vật Ánh sáng có ảnh hưởng căn bản đến sự phân phối lượng tăng trưởng mới giữa các bộ phận của cây gỗ Khi được che bóng, tăng trưởng chiều cao của cây gỗ non diễn ra nhanh, nhưng đường kính nhỏ, sức sống yếu và thường bị đỏ ngã khi gặp gió lớn Trái lại, khi gặp điều kiện chiếu sáng manh, tăng trưởng chiều cao của cây gỗ non diễn ra chậm, nhưng đường kính lớn thân cây cứng và nhiều cành Nói chung, việc che bóng giúp cây con tránh được những tác động cực đoan của môi trường làm giảm
Trang 25khả năng thoát hơi nước, đồng thời làm giảm nhiệt độ của cây và của hỗn hợp ruột bầu (Nguyễn Văn Thêm, 2002)
Chế độ ánh sáng được coi là thích hợp cho cây con ở vườn ươm khi nó tạo ra
tỷ lệ lớn giữa rễ/chiều cao thân, hình thái tán lá cân đối, tỷ lệ chiều cao/đường kính bằng hoặc gần bằng 1 Đặc điểm này cho phép cây con có thể sống sót và sinh trưởng tốt khi chúng bị phơi ra ánh sáng hoàn toàn Vì thế, trong gieo ươm cây giống nhà lâm học phải chú ý đến nhu cầu ánh sáng của cây con (Kimmins, J P., 1998) (Nguyễn Xuân Quát, 1985) (Nguyễn Văn Thêm, 2002)
Những cây con sinh trưởng với cường độ ánh sáng thấp sẽ hình thành các lá
ưa bóng Nếu bất ngờ đưa chúng ra ngoài ánh sáng và kèm theo điều kiện ẩm độ, nhiệt độ thay đổi, chúng bị ức chế bởi ánh sáng mạnh Điều này có thể làm cho cây con bị chết hoặc ngừng sinh trưởng cho đến khi các lá ưa bóng được thay thế bằng các lá ưa sáng (Kimmins, J P, 1998) (Nguyễn Văn Thêm, 2002)
Trong quá trình nghiên cứu về cây ngũ vị tử Ngọc Linh, Trần Thị Liên từ năm 2009 đến năm 2011 đã kết luận rằng để trồng cây ngũ vị tử Ngọc Linh đạt hiệu quả cao, nhất thiết phải trồng dưới tán rừng trong đó chế độ ánh sáng tán xạ từ 45 đến 50% (ứng với ánh sáng trực xạ là từ 50% - 55%), ổn định trong suốt chu kỳ
sinh trưởng của cây (Trần Thị Liên, 2011)
Theo Vũ Thanh Hải (2008) thì rau cần nước trồng trong điều kiện che sáng
có khối lượng cây/khóm lớn hơn không che đạt 58,8 – 61,4 g/khóm Khi che 25% cường độ ánh sáng, năng suất rau cần trắng 25,7 % và đạt 16,5 tấn/ha Riêng trong điều kiện ánh sáng toàn phần, rau cần đạt năng suất 12,7 tấn/ha và còn giảm chi phí
che lưới 25 triệu đồng/ha so với che 25% cường độ ánh sáng
Cây sâm Ngọc Linh Việt Nam nếu trồng trong điều kiện tự nhiên không che bóng cho tỷ lệ cây sống thấp và bị sâu bệnh hại nhiều Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Thuận & Cs, có thể trồng trong điều kiện bán tự nhiên (trong nhà
có mai che theo quy mô công nghiệp đạt kết quả tốt Nếu trồng trong điều kiện rừng già nguyên sinh, độ che phủ 70 – 90 %, độ ẩm không khí 75 – 90 % tại khu vực núi Ngọc Linh và có thể phát triển thêm tại một số điểm khác như Mường Lống, Mường Xén (Nghệ An); Hang Kia, Pà Cò (Hòa Bình); Sapa (Lào Cai)
Trang 26So sánh điều kiện trồng một số loại sâm chủ yếu trên thế giới
* Tam thất (Panax pseudogingseng) trồng đại trà tại Châu Vân Sơn Trung
Quốc có độ cao trên 1400m Giàn che: Một mái kín cả xung quanh, cao 1,5 – 1,6m Khoảng cách trồng: 15 – 20cm Độ chiếu sáng dưới giàn che: 80 – 90%
* Sâm Triều Tiên (Panax ginseng): Trồng đại trà tại tỉnh Kangwon và tỉnh
Kyungbuk, độ cao so với mặt nước biển 1000 – 1500m Giàn che : Mái nhiều tầng, không che khoảng cách giữa các tầng mái và xung quanh giàn Khoảng cách trồng:
15 – 20cm Độ chiếu sáng dưới giàn che: 60 – 70%
* Sâm Việt Nam (Panax Vietnamensis): Năm 1980 – Trường Đại học dược
TP Hồ Chí Minh đã trồng trong điều kiện nhân tạo; Độ cao 1000 – 1200m Sườn núi phía đông, sườn dốc 15 – 200 Giàn che kiểu một mái liền, xung quanh có che liếp, các cửa thông gió đủ thoáng Để môi trường ẩm về mùa khô đủ nước thường xuyên có nước chảy ở một số rãnh luống chính Giàn cao 1,5 – 1,6m một mái kiểu giàn tam thất Đất có độ phì vừa phải Môi trường xung quanh có rừng tái sinh Giàn làm tương đối kiên cố – cọc sắt, khung gỗ, lợp phên nứa và cỏ tranh, lau lách
* Sâm Nhật Bản (Panax Japonicus): Trồng đại trà tại tỉnh Nagano, độ cao so
với mặt nước biển 1200 – 1500m Mật độ khoảng cách trồng: 20 x 20cm Giàn che: Giàn nhân tạo hoặc rừng tự nhiên hoặc rừng trồng để che
* Sâm Mỹ (Panax quinquefolius): Được trồng nhiều ở Georgia, Minnesota,
Phần lớn được trồng trong các giàn nhân tạo Khoảng cách trồng 20 x 20cm hoặc thưa hơn
Trang 271.3.4 Một số kết quả nghiên cứu về cây đinh lăng
Các nghiên cứu về quy trình nhân giống, chăm sóc:
Năm 2013, Ninh Thị Phíp thực hiện nghiên cứu: “Một số biện pháp kỹ thuật
tăng khả năng nhân giống của cây đinh lăng lá nhỏ (Polyscias fruticosa L Harms)”
góp phần nâng cao khả năng nhân giống và sinh trưởng của cây đinh lăng trong sản xuất Bốn thí nghiệm được tiến hành trong điều kiện nhà ươm có mái che nhằm nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể, chiều dài cành, vị trí cành giâm và nồng độ chất điều tiết sinh trưởng α -NAA đến khả năng ra rễ, bật mầm và sinh trưởng của cành
giâm cây đinh lăng lá nhỏ (Polyscias fruticosa L Harms) Kết quả chỉ ra: Sử dụng
giá thể là 50% đất + 50% trấu hun giúp cây sinh trưởng phát triển cao nhất về chiều cao chồi (14,2cm), đường kính thân (0,51cm), số lá/cây cao nhất (3 lá/cây) và số rễ (4,2 rễ/cây)
Khoa học công nghệ phát triển mạnh nên những ứng dụng của nó vào nhân giống, tạo nguồn giống cây trồng phát huy hiệu quả hơn bao giờ hết Trong đó cây đinh lăng khi được nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô từ rễ cây 5 tuổi rưỡi (6 tháng) vẫn đảm bảo hoàn toàn đặc tính ban đầu của cây ngoài tự nhiên Phương pháp nuôi cấy mô kết hợp với thủy canh có nhiều triển vọng trong việc chủ động tạo nguồn nguyên liệu đinh lăng ổn định, đáp ứng nhu cầu sản xuất các chế phẩm chứa đinh lăng ở quy mô lớn (Nguyễn Trần Châu và cs, 2007)
Các loại chế phẩm khác nhau có ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cành giâm cây đinh lăng lá nhỏ Sử dụng α- NAA hoặc N3M giúp cây ra nhiều rễ, sinh trưởng tốt hơn, rút ngắn thời gian xuất vườn Trong đó giâm cành đinh lăng xử
lý N3M ở nồng độ 2000 ppm giúp cành giâm ra nhiều rễ, tăng khả năng sinh trưởng của cành giâm cao hơn hẳn công thức đối chứng Tỷ lệ ra rễ (96,7%), chiều dài rễ tại thời điểm xuất vườn (5,2 cm), chiều dài rễ sau 90 ngày (15,2 cm), số rễ/cây sau
90 ngày(10,7 rễ/cây), khối lượng tươi (7,43 g/cây)
Chiều dài cành giâm có ảnh hưởng đến tỷ lệ nảy mầm và sinh trưởng của cành giâm của một số cây thuốc Đối với cây đinh lăng có thể giâm cành đinh lăng ngắn hơn 25 cm mà không ảnh hưởng đến các chỉ tiêu sinh trưởng vẫn đảm bảo hệ số nhân khá cao (4,6 lần) Tuy nhiên không nên giâm cành đinh lăng quá ngắn (10cm) sẽ ảnh
Trang 28hưởng đến sinh trưởng của cây đinh lăng sau này (Ninh Thị Phíp, 2012)
Sử dụng cành thân chính có chiều dài cành giâm từ 15 - 20cm, xử lý nồng độ
α -NAA 2000 - 3000 ppm trong thời gian từ 3 - 5 giây giúp cành giâm ra rễ nhiều, khả năng sinh trưởng của cành giâm cao hơn hẳn công thức đối chứng không sử dụng (Ninh Thị Phíp, 2012)
Cây đinh lăng lá nhỏ (Polyscias fruticosa L Harms) trước nay hầu như chỉ
có ở các tỉnh miền Bắc Nguyễn Thị Ngọc Trâm và cs (2014) đã tiến hành di thực cây đinh lăng lá nhỏ từ Hải Dương về Đồng Nai Vùng đất này có nhược điểm là độ
pH cao, nhưng nhóm nghiên cứu đã tìm được công thức phân bón thích hợp cho cây (vôi bột, tro trấu và phân bò ủ hoai) và khắc phục được nhược điểm của đất Bên cạnh đó, việc nuôi trồng thu hái dược liệu được tiến hành theo GACP-WHO nên đã tạo được vùng trồng dược liệu đinh lăng lá nhỏ phát triển tốt, khối lượng dược liệu thu được trung bình đạt hơn 6 tấn/ha và tỷ lệ bộ rễ cao gấp đôi khi trồng ở Hải Dương Nghiên cứu này cũng mang lại những thông tin quan trọng như: xác định được mùa thu hái tại thời điểm cây đạt hàm lượng hoạt chất cao, phát hiện sâu bệnh hại để có thể phòng tránh và tìm những sản phẩm phòng trừ sâu bệnh, không phải sử dụng thuốc trừ sâu ảnh hưởng đến sức khỏe con người (Nguyễn Thị Ngọc Trâm và
cs, 2014)
Ngô Thị Tú Trinh (2010) “Nghiên cứu tạo phôi vô tính và thử nghiệm
chuyển gien tạo rễ tóc vào rễ bất định thông qua vi khuẩn Agrobacteriumzhizogenes
ở cây đinh lăng” đạt giải nhất Giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học Eureka
2010 Rễ cây đinh lăng, nhất là rễ cọc, có chứa các hợp chất thứ cấp như saponin, poliacetylene, giúp bồi bổ cơ thể, tăng sức đề kháng và có một số tác dụng giống nhân sâm Đinh lăng thường được nhân giống bằng phương pháp giâm cành, dễ thực hiện nhưng lại khiến cây không có rễ cọc Việc tạo phôi vô tính có thể giúp nhân giống hàng loạt với số lượng lớn, chất lượng cao
Lê Như Thảo và cs (2014) tiến hành“ Nghiên cứu nhân giống đinh lăng lá nhỏ bằng kỹ thuật nuối cấy chồi đỉnh” như sau: Chồi đỉnh đinh lăng dài 2-3 cm (cây
4 năm tuổi) được sử dụng làm nguyên liệu nuôi cấy Chồi được khử trùng bằng nước javen nồng độ 75 % trong thời gian 15 phút, cho hiệu quả cao với mẫu vô
Trang 29trùng đạt 70,17 % và tỷ lệ tạo chồi đạt 55,26 % sau 14 ngày nuôi cấy Môi trường
LV thích hợp hơn cho sự sinh trưởng và phát triển của chồi đinh lăng, thể hiện qua các chỉ tiêu số chồi phát sinh (3,10), chiều cao chồi (3,83 cm/chồi), số lá (8,54), chiều dài lá (2,24 cm/lá) và chiều rộng lá (0,35 cm/lá) tốt hơn so với trên môi trường MS Môi trường thích hợp cho nhân nhanh chồi invitro là LV bổ sung BA (0,3 mg/l) và sucrose (30 g/l) cho hình thành 4,36 chồi/mẫu, chồi phát triển đều có thân vươn cao (2,45 cm/chồi), thân lá to khỏe sau 40 ngày nuôi cấy Môi trường LV
có bổ sung IBA (0,3 mg/l) và sucrose (30 g/l) thích hợp cho nuôi cấy tạo rễ đạt tỷ lệ 50,18 %, rễ dài tuyệt đối (2,50 cm), có số lượng rễ 1,39 rễ/chồi sau 40 ngày nuôi cấy Với những kết quả nghiên cứu này, có thể hoàn thiện thành một quy trình nhân giống đinh lăng với hệ số nhân chồi cao, chất lượng cây con tốt và đáp ứng nhu cầu
về nguồn nguyên liệu cho ngành sản xuất dược phẩm
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của che sáng trong giâm hom cây nắm cơm cho thấy rằng khi che 30% ánh sáng thì số rễ trung bình và chiều dài rễ trung bình cho giá trị cao nhất (Bùi Văn Thanh và Ninh Khắc Bản, 2010)
Các nghiên cứu khoa học về thành phần hóa học và tác dụng dược lý:
Năm 1961, các nhà khoa học thuộc Viện y học quân sự Việt Nam đã nghiên cứu và phát hiện được nhiều điểm dược học vượt trội của cây đinh lăng như: Tăng biên độ điện thế não, tăng tỉ lệ các sóng alpha, bêta và giảm tỉ lệ sóng delta Những biến đổi này diễn ra ở vỏ não mạnh hơn so với ở thể lưới, tăng khả năng tiếp nhận của các tế bào thần kinh vỏ não với các kích thích ánh sáng, tăng nhẹ quá trình hưng phấn khi thực hiện phản xạ trong mê lộ, tăng hoạt động phản xạ có điều kiện gồm phản xạ dương tính và phản xạ phân biệt Nhìn chung, dưới tác dụng của cao đinh lăng, vỏ não được hoạt hóa nhẹ và có tính đồng bộ, các chức năng của hệ thần kinh
về tiếp nhận và tích hợp đều tốt hơn
Nghiên cứu của Ngô Ứng Long và cs (1985) cho biết đinh lăng có tác dụng tăng lực làm tăng sức dẻo dai của cơ thể, giúp người bị suy nhược nhanh chóng hồi phục, ăn uống tốt và ngủ ngon hơi Dùng nấu nước uống hàng ngày như thuốc bổ Các hợp chất dược học được phân lập từ đinh lăng cho thấy có hoạt tính kháng chủng Gram dương, kháng nấm Candida albican nhưng không kháng được chủng
Trang 30khuẩn Gram âm Về độ độc thì đinh lăng ít độc hơn nhâm sâm (độ độc kém 3 lần)
và không làm tăng huyến áp Tác dụng tăng lực trên động vật thí nghiệm và trên người Thân và lá cũng có tác dụng tăng lực nhưng yếu hơn so với rễ
Khi nghiên cứu về chống trầm cảm và stress của đinh lăng Năm 2002, Nguyễn Thị Thu Hương và các cs đã dùng chuột trắng để thử nghiệm Kết quả cho thấy Saponin trong cao đinh lăng có tác dụng chống trầm cảm và phục hồi thời gian ngủ bị rút ngắn bởi stress ở liều 45 – 180 mg/kg
Với mục đích thu nhân một lượng lớn saponin thông qua con đường công nghệ sinh học, Phạm Thị Tố Liên và Võ Thị Bạch Mai (2007) đã bước đầu nghiên cứu sự tạo dịch treo tế bào cây đinh lăng Kết quả bước đầu cho thấy sự tăng trưởng của dịch treo tế bào tốt và tạo được rễ khi môi trường nuôi cấy có sự hiện diện của 2,4–D 1mg/l kết hợp với BA 2,0 mg/l, 20% nước dừa và saccharose 30g/l
Khi nghiên cứu về tác dụng dược lý thực nghiệm của sản phẩm cấy mô từ cây đinh lăng lá nhỏ, Nguyễn Trần Châu và cs (2007) đã có kết luận như:
Các mẫu RDT (dịch chiết cồn rễ đinh lăng được tạo ra trong môi trưởng lỏng từ Callus) và RTC (Dịch chiết cồn rễ đinh lăng được tạo ra trong môi trường thủy canh) có các thành phần tương tự như các mẫu thu hái từ cây đinh lăng 5 tuổi nuôi trồng bằng phương pháp tự nhiên Điều này chứng tỏ các sản phẩm thu nhận
từ phương pháp nuôi cấy mô thực vật vẫn bảo toàn đặc tính ban đầu của cây ngoài
tự nhiên Hàm lượng Saponin toàn phần trong mẫu RDT cao hơn 1,1% so với rễ cây tự nhiên
Tác dụng tăng lực so với lô đối chứng, ở liều 200mg/kg thể trọng, RDT và RTC có tác dụng chống nhược sức và phục hồi thể lực sau khi dùng thuốc liên tục
7 ngày So với các mẫu cao lá và rễ tự nhiên, mẫu RDT và RTC có tác dụng tăng lực tương tự như ở cây ngoài tự nhiên
Khả năng đáp ứng với môi trường nhiệt độ cao RDT và RTC có tác dụng
(12,48%; 11,83%) so với lô chứng Khả năng đáp ứng với môi trường nhiệt độ cao của lô chuột uống RDT và RTC tương tự với lô uống RTN (Dịch chiết cồ rễ đinh lăng thu hái từ cây 5 tuổi rưỡi trồng tại vườn thuốc của trung tâm Sâm và Dược liệu thành phố Hồ Chí Minh)
Trang 31Tác dụng kháng viêm các mẫu cao RDT và RTC đều có tác dụng làm giảm thể tích chân chuột bị gây phù bằng formol (38,11%; 53,19%) so với mẫu chứng giảm (19,62%) sau 5 ngày điều trị Chứng tỏ mẫu cao RDT và RTC có khả năng giảm sự bài tiết dịch rỉ viêm trên mô hình gây viêm cấp Trọng lượng u hạt tươi của lô uống RDT và RTC kém hơn lô chứng (9,89%; 9,33%)
Tóm lại, hiện nay đã có nhiều nghiên cứu về cây đinh lăng Tuy nhiên, những nghiên cứu tập trung chủ yếu vào chiết suất và tác dụng dược học của cây mà chưa quan tâm nhiều về quy trình nhân giống, kĩ thuật trồng và chăm sóc cây đinh lăng để nâng cao hiệu quả trong sản xuất với quy mô lớn Đặc biệt chưa áp dụng những công nghệ cao và sản xuất tiên tiến vào trong quy trình trồng đinh lăng Vì vậy thiết yếu cần có nhiều hơn nữa những nghiên cứu về kĩ thuật trồng và chăm sóc cây để đưa ra quy trình trồng hiệu quả để phục vụ bà con nông dân
Trang 32Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
- Cây đinh lăng lá nhỏ (Polyscias fruticosa L Harms) được trồng và nhân
giống tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam từ 1 - 3 năm tuổi
- Phân bón:
+ Phân đạm urê (46%N)
2.2.2 Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 4/2014 - 1/2015
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới nước đến sinh trưởng và phát triển của cây đinh lăng (tuổi 1 và 2)
- Đánh giá ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa cành đến sinh trưởng và phát triển của cây đinh lăng (tuổi 3)
- Đánh giá ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến sinh trưởng, phát triển của cây đinh lăng (tuổi 1 và 2)
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới nước đến sinh trưởng và phát triển của cây đinh lăng (tuổi 1 và tuổi 2)
- Thí nghiệm gồm 3 công thức, mỗi công thức bố trí 15 chậu, kích thước 20 x
Trang 3320 x 20 cm, trồng 1 cây 1 chậu Giá thể trồng cây là: 85% đất phù sa sông Hồng không được bồi hàng năm + 10% phân vi sinh + 5% trấu hun
+ Công thức 1: Sau 10 ngày tưới 1 lần
+ Công thức 2: Sau 20 ngày tưới 1 lần
+ Công thức 3: Sau 30 ngày tưới 1 lần
Sơ đồ bố trí thí nghiệm: Theo khối ngẫu nhiên đầy đủ
Cây 1 năm tuổi Cây 2 năm tuổi
2.4.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của kĩ thuật cắt tỉa đến sinh trưởng và phát triển của cây đinh lăng tuổi 3
+ Công thức 1: Để nguyên cây không tỉa cành (đối chứng) + Công thức 2: Tỉa để lại 3 cành trên cây
+ Công thức 3: Tỉa 30% lá già + Công thức 4: Tỉa 50% lá già
- Thời vụ tiến hành: Tháng 10/2014; Cây tuổi 3 trồng tháng 10/2012
- Phương pháp: Từ năm thứ 3 trở đi khi cây phát triển tốt thân lá cần tỉa bớt cành và lá, mỗi năm tiến hành 1 đợt vào tháng 10 Mỗi công thức bố trí 3 lần nhắc
- Địa điểm: nghiên cứu tại khu thí nghiệm của Bộ môn cây công nghiệp Những cành để lại là những cành chính của cây Là già được tính là những lá
Trang 34Công thức 2: Không che sáng (đối chứng)
Sử dụng lưới đen 1 lớp làm giàn cao 1,5 m rộng 2,5 m che bớt cường độ ánh sáng cho cây đinh lăng tuổi 1 và tuổi 2
* Sơ đồ bố trí thí nghiệm: Theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn
Cây tuổi 1 Cây tuổi 2
2.5 Các chỉ tiêu theo dõi
Mỗi cây đo 5 lần ở 5 vị trí khác nhau, sau đó lấy kết quả độ ẩm đất của cây đại diện
là trung bình của 5 lần đo Độ ẩm đất của công thức là trung bình độ ẩm của 3 cây đại diện
- Mỗi công thức lấy 3 cây đại diện mẫu đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển
* Đo đếm các chỉ tiêu ban đầu, chu kì 1 tháng đo đếm 1 lần:
Trang 35+ Chiều cao cây (cm): Từ mặt đất lên đến vuốt lá cao nhất
+ Chỉ số SPAD: Đo hàm lượng diệp lục của lá bằng máy đo SPAD Minilab 502
mm trở lên
+ Rễ chính (rễ cấp 1/cây): Là những rễ mọc ra từ thân chính
+ Chiều dài rễ (cm): Đo từ cổ rễ đến phần chóp dài nhất của rễ
+ Đường kính rễ (cm): Đo đường kính phần to nhất của rễ chính (rễ cấp1)
+ Khối lượng thân lá tươi, khối lượng thân lá khô của cây đinh lăng (g/cây): Cân toàn bộ khối lượng thân lá tươi, tiến hành sấy và cân khối lượng thân lá khô vào lần đo cuối cùng trước khi kết thúc thí nghiệm
+ Khả năng tích lũy chất khô của cây (g/cây): Cân khối lượng toàn bộ của cây đinh lăng sau khi thu hoạch, rửa sạch và đem đi sấy khô
+ Khối lượng rễ (g/cây): Thu hoạch sau lần đo cuối cùng, làm rửa sạch đất, tách rễ khỏi phần thân lá và mang đi sấy khô, cân trước và sau khi sấy
Khối lượng rễ khô
Khối lượng rễ tươi + Diện tích lá: Đo diện tích lá bằng máy CL-202 area mdter tại thời điểm thu hoạch thí nghiệm
2.6 Thu thập và xử lý số liệu
Số liệu được thu thập xử lý bằng Excel kết hợp với IRISTAT 4.0
2.7 Giới hạn của đề tài
- Trong thí nghiệm 1: Không nói cụ thể lượng nước đối với thí nghiệm ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới
- Thí nghiệm 3: Khi che sáng chỉ dùng lưới đen 1 lớp che cho cây và cường
độ ánh sáng giảm đi ở khoảng 30%
Trang 36Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của đinh lăng (tuổi 1 và năm thứ 2)
3.1.1 Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến độ biến động độ ẩm đất của các công thức thí nghiệm
Độ ẩm đất ảnh hưởng nhiều tới khả năng sinh trưởng phát triển của cây trồng Khi cung cấp nước đầy đủ nước các hoạt động trao đổi chất và quang hợp của cây diễn ra tốt nhất tạo điều kiện cho sinh trưởng phát triển, tổng hợp chất dinh dưỡng sau này Đặc biệt đối với cây lấy củ thì lượng nước và thời gian tưới rất quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của bộ rễ Tuy nhiên nếu tưới liên tục và lượng nước tưới nhiều có thể nghẹt rễ gây thối rễ chết cây, còn để hạn quá cây sẽ chết vì thiếu nước
Bảng 3.1 cho thấy độ ẩm đất sau trồng 3 tháng và 9 tháng là thấp nhất Nguyên nhân chính là do sau trồng 3 tháng thời tiết nắng nóng kéo dài, trời khô hanh và cuối năm lạnh, độ ẩm không khí thấp Với độ ẩm đất thấp như vậy sẽ làm cho cây đinh lăng sinh trưởng chậm, thân lá và củ kém phát triển
Độ ẩm đất thí nghiệm sau trồng 1 tháng và 6 tháng cao thuận lợi cho sinh trưởng phát triển của cây đinh lăng Vì vậy mà trong các tháng này cây sinh trưởng khá nhanh
Tuổi của cây đinh lăng ảnh hưởng nhiều tới mức biến động độ ẩm của đất Cây đinh lăng càng lớn, tuổi càng nhiều thì lượng nước dùng cho các hoạt động trao đổi chất và quang hợp càng lớn hơn so với những cây nhỏ hơn Vì vậy hầu hết độ
ẩm của các công thức cây 2 năm đều thấp hơn so với những công thức cây 1 năm
Độ ẩm các công thức giữa các lần tưới chênh lệch nhau rất lớn và đều có ý nghĩa Trong đó trung bình độ ẩm đất cây mới trồng cao nhất trong lần đầu đạt 36,4%
- 62,9% tiếp đến là sau trồng 6 tháng từ 34,9% – 62,2% và thấp nhất khi trồng 3 tháng là 32,5% - 54,8% Do sau trồng 1 tháng cây mới hồi xanh nên lượng nước cây hút được ít còn thời tiết sau trồng 6 tháng có mưa nhiều nên độ ẩm đất cao
Đối với cây 2 năm khả năng quang hợp của cây lớn hơn nên khoảng cách giữa các lần tưới ảnh hưởng nhiều tới độ ẩm đất của các công thức Trong đó sau
Trang 37trồng 15 tháng thời tiết nắng nóng, nhiệt độ cao nên độ ẩm thấp nhất từ 32,2% – 54,0% và sau trồng 18 tháng độ ẩm đất đạt cao nhất khoảng 35,0% - 62,3% Như vậy ta thấy rằng độ ẩm đất phụ thuộc vào tuổi cây, thời tiết và độ ẩm không khí
Bảng 3.1: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến biến động độ ẩm
đất của các công thức thí nghiệm
Công thức
Độ ẩm đất (%) Thời gian sau trồng
chiều cao và đường kính thân cây đinh lăng
Chiều cao cây là một trong nhiều chỉ tiêu quan trọng phản ánh khả năng tổng hợp và tích lũy chất hữu cơ của cây Qua đó đánh giá chính xác sức khỏe của cây trồng Cây sinh trưởng phát triển tốt thì chiều cao cây phát triển nhanh, cân đối theo từng thời kì và làm tiền đề cho năng suất sau này
Chiều cao cây là một đặc tính di truyền Tuy nhiên phụ thuộc nhiều vào biện pháp kĩ thuật canh tác và điều kiện ngoại cảnh trong thời gian trồng Nếu cây trồng được cung cấp đầy đủ các yếu tố như: Dinh dưỡng, nước và ánh sáng thì cây trồng phát triển nhanh nhất cũng như tích lũy chất khô tốt nhất
Qua bảng 3.2 cho thấy:
Khoảng cách giữa các lần tưới ảnh hưởng rõ rệt tới cây đinh lăng mới trồng
ở cả ba công thức trong suốt thời gian theo dõi và sự sai khác này là có ý nghĩa Cụ thể như sau trồng 9 tháng chiều cao cây trung bình của các công thức 10 ngày tưới,
Trang 3820 ngày, 30 ngày tưới lần lượt đạt 53,2 cm; 44,2 cm và 24,1 cm Mức độ tăng trưởng của công thức 10 ngày tưới là tốt nhất và ổn định qua các lần đo đếm Sau 9 tháng theo dõi với độ ẩm đất là 57,2% tăng trưởng chiều cao cây của công thức 10 ngày tưới nhanh nhất là 32,4 cm và chậm nhất là công thức 30 ngày tưới với 8,1 cm (độ ẩm đất 34,8%)
Hình 3.1: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến động thái tăng
trưởng chiều cao cây đinh lăng 1 năm tuổi
Đối với đinh lăng 2 năm sự sai khác có ý nghĩa chỉ xảy ra giữa công thức 10 ngày tưới và công thức 30 ngày tưới Từ sau trồng 15 tháng trở đi giữa công thức 20 ngày tưới và công thức 30 ngày tưới đã có sai khác với độ tin cậy 95% Cụ thể như chiều cao cây đo được sau trồng 15 tháng của công thức công thức 20 ngày tưới đạt 62,3 cm và công thức 30 ngày tưới đạt 52,3 cm Như vậy khoảng cách giữa các lần tưới tưới từ 10 ngày đến 20 ngày không gây ảnh hưởng nhiều tới chiều cao cây đinh lăng Sau 21 tháng trồng chiều cao cây đinh lăng tăng trưởng trung bình từ 66,7 – 82,3 cm (ẩm đất 57,6%)
Mức độ phát triển đường kính thân của đinh lăng 1 năm và 2 năm giữa các công thức sau mỗi tháng không có sự khác biệt rõ rệt Sau 9 tháng trồng đường kính thân của đinh lăng không tăng nhiều cụ thể như: Đối với đinh lăng 1 năm ở công
Trang 39thức 10 ngày tưới tăng 0,22 cm và công thức 30 ngày tưới tăng 0,13 cm Đối với
đinh lăng 2 năm ở công thức 10 ngày tăng 0,32 cm và công thức 30 ngày tưới tăng
0,22 cm Tương tự như chiều cao cây đường kính thân đinh lăng phát triển tốt ở
công thức công thức 10 ngày và công thức 20 ngày với độ ẩm đất trung bình từ 47,3
– 62,9%
Bảng 3.2: Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến động thái tăng
trưởng chiều cao và đường kính thân cây Đinh lăng Công thức
Chiều cao cây (cm) Đường kính thân (cm)
Thời gian sau trồng
15 tháng
18 tháng
21 tháng
13 tháng
15 tháng
18 tháng
21 tháng
Mức độ tăng đường kính thân cây đinh lăng sau trồng từ 3 – 6 tháng là nhanh
nhất và thấp nhất từ 7 - 9 tháng sau trồng Nguyên nhân là do thời tiết từ sau trồng 7
tháng trời hanh, có nhiều đợt rét đậm rét hại kéo dài gây rụng lá, ức chế sinh trưởng
phát triển của cây
Đường kính thân cây đinh lăng sau 21 tháng trồng có sự sai khác với độ tin
cậy 95% chỉ xảy ra ở công thức 10 ngày tưới và 30 ngày Cụ thể, đường kính thân
đinh lăng đo được ở công thức 10 ngày tưới đạt 1,34 cm còn công thức 30 ngày
tưới chỉ có 0,69 cm
Trang 40Tóm lại ở cả cây đinh lăng 1 năm và 2 năm khoảng cách tưới từ 10-20 ngày/lần là thuận lợi cho sinh trưởng phát triển chiều cao cây Tuy nhiên khuyến cáo đối với cây đinh lăng mới trồng tốt nhất nên áp dụng mức tưới 10 ngày/lần vì cây còn non nên cần đủ ẩm cho rễ phát triển Không nên áp dụng 30 ngày tưới/lần
vì cây không hút đủ nước cho các hoạt động trao đổi chất và quang hợp nên cây sinh trưởng chậm Đường kính thân đinh lăng tỉ lệ thuận với khoảng cách giữa các lần tưới Khi khoảng cách giữa các lần tưới càng xa thì cây quang hợp kém và vận chuyển muối khoáng chậm nên đường kính thân giảm theo
3.1.3 Ảnh hưởng của khoảng cách giữa các lần tưới đến động thái tăng số lá và nhánh trên cây đinh lăng
Số nhánh đinh lăng tăng dần trong suốt thời gian trồng Thời gian đinh lăng
tăng nhánh mạnh từ sau trồng từ 3 – 6 tháng và gần như không tăng từ sau đó trở đi
Số nhánh ra mới từ khi trồng cũng hạn chế từ 2 – 3 nhánh và phụ thuộc nhiều vào
độ tuổi cây với khoảng cách giữa các lần tưới
Đối với đinh lăng 1 năm số nhánh tăng nhiều nhất ở công thức công thức 10 ngày tưới (3,56 nhánh/cây) và ít nhất là công thức 30 ngày (1,22 nhánh/cây) Sự sai khác giữa các công thức thể hiện rõ rệt và có ý nghĩa nhất kể từ sau trồng 3 tháng đến lúc thu hoạch Cụ thể sau 9 tháng số nhánh ở công thức công thức 10 ngày tưới
là 4,56 nhánh/cây, công thức 30 ngày tưới có 2,22 nhánh/cây và độ ẩm đất từ 34,8 – 57,2% Trong khoảng thời gian sau trồng từ 6 – 9 có duy nhất công thức công thức
10 ngày ra thêm nhánh mới (0,13 nhánh/cây) còn 2 công thức còn lại số nhánh vẫn giữ nguyên
Đối với đinh lăng 2 năm công thức 10 ngày tưới đẻ nhánh khỏe hơn hẳn so với hai công thức còn lại Sau 21 tháng trồng số nhánh đếm được từ công thức 10 ngày tưới (4,99 nhánh/cây, đất ẩm 49,6%) và thấp nhất là công thức 30 ngày tưới (3,78 nhánh/cây, đất ẩm 34,3%) Qua bảng còn cho thấy sai khác giữa các công thức từ sau trồng 15 tháng là có ý nghĩa với độ tin cậy 95%
Ở cả cây mới trồng và cây 2 năm với khoảng cách 30 ngày tưới/lần khả năng
ra thêm nhánh mới là rất hạn chế (1,22 nhánh đối với cây mới trồng và 1,67 nhánh đối với cây 2 năm)