1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá ảnh hưởng của hoạt động làng nghề đa hội, phường châu khê, thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh đến chất lượng nước

112 841 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 2,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoặc trong dự thảo Nghị định của Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn được Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đệ trình tháng 5 năm 2007 quy địn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

- -

NGUYỄN ĐỨC HIỂN

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG LÀNG NGHỀ

ĐA HỘI, PHƯỜNG CHÂU KHÊ, THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH ĐẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

- -

NGUYỄN ĐỨC HIỂN

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG LÀNG NGHỀ

ĐA HỘI, PHƯỜNG CHÂU KHÊ, THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH ĐẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC

CHUYÊN NGÀNH : KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

MÃ SỐ : 60.44.03.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN VĂN DUNG

HÀ NỘI, 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn Nguyễn Đức Hiển

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể các thầy cô giáo Khoa Môi trường, các thầy cô giáo của Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã truyền đạt cho tôi những kiến thức cơ bản và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học cao học trong suốt hai năm qua

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc và chân thành tới thầy PGS TS Nguyễn Văn Dung đã dành nhiều thời gian trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này

Tôi cũng xin cảm ơn Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh Bắc Ninh, Trung tâm quan trắc môi trường tỉnh Bắc Ninh, Trung tâm quan trắc và bảo vệ môi trường tỉnh Phú Thọ, UBND phường Châu Khê, thị xã Từ Sơn, Phòng Tài nguyên & Môi trường, Phòng Công thương thị xã Từ Sơn đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi tiếp cận và thu thập những thông tin, lấy mẫu phân tích cần thiết cho đề tài

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã động viên và giúp đỡ tôi về tinh thần, vật chất trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài này

Hà Nội, ngày 03 tháng 09 năm 2014

Học viên

Nguyễn Đức Hiển

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC HÌNH vi

DANH MỤC TỬ VIẾT TẮT vii

MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2.Mục đích và yêu cầu nghiên cứu của đề tài 2

2.1 Mục đích: 2

2.2 Yêu cầu: 2

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3

1.1 Khái niệm và phân loại làng nghề 3

1.1.1 Khái niệm làng nghề 3

1.1.2 Phân loại làng nghề 4

1.2 Cơ sở nghiên cứu thực tiễn làng nghề: 5

1.2.1 Thực trạng hoạt động làng nghề trên thế giới: 5

1.2 Tình hình phát triển làng nghề tái chế kim loại ở nước ta 8

1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển 8

1.2.2 Khái quát về làng nghề tái chế kim loại 11

1.2.3 Các vấn đề trong môi trường làng nghề tái chế kim loại: 13

1.2.4 Tình hình quản lý môi trường làng nghề 21

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 28

2.2.Nội dung nghiên cứu: 28

2.3 Phương pháp nghiên cứu 28

2.3.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp 28

Trang 6

2.3.2 Phương pháo điều tra bảng hỏi: 29

2.3.3 Phương pháp lấy mẫu, bảo quản và phân tích mẫu: 29

2.3.4 Phương pháp đối chứng chất lượng nước 34

2.3.5 Phương pháp xử lý số liệu 34

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 35

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 35

3.1.2 Tình hình phát triển kinh tế xã hội: 39

3.2 Hiện trạng hoạt động sản xuất tại làng nghề: 41

3.2.1 Quy mô làng nghề: 41

3.2.2 Quy trình công nghệ sản xuất làng nghề: 42

3.3 Đặc trưng chất thải tại làng nghề tái chế sắt thép Đa Hội 51

3.4 Hiện trạng quản lý môi trường tại làng nghề 55

3.5 Hiện trạng chất lượng môi trường nước tại làng nghề sắt thép Đa Hội 57

3.5.1 Hiện trạng chất lượng nước mặt: 57

3.5.2 Hiện trạng chất lượng nước thải 62

3.5.3 Hiện trạng chất lượng nước ngầm 65

3.6 Ảnh hưởng của sự ô nhiễm nước tới đời sống người dân 67

3.6.1 Đặc điểm nhân khẩu 67

3.6.2 Tình hình sức khỏe người dân 68

3.7 Đề suất một số biện pháp bảo vệ môi trường nước tại làng nghề Đa Hội 70

3.7.1 Giải pháp về công nghệ và kỹ thuật 70

3.7.2 Giải pháp về quản lý, cơ chế, chính sách 72

3.7.3 Quy hoạch không gian CCN làng nghề gắn với BVMT 75

3.7.4 Tăng cường truyền thông môi trường và khuyến khích BVMT 76

3.7.5 Bảo vệ sức khỏe cộng đồng 77

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79

1 Kết luận 79

2 Kiến nghị 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Hàm lượng một số kim loại nặng trong đất nông nghiệp 15

Xã Đại Đồng - Huyện Văn Lâm – Tỉnh Hưng Yên 15

Bảng 1.2: Vị trí mẫu và hàm lượng một số kim loại nặng trong nước 17

Xã Đại Đồng – Huyện Văn Lâm – Tỉnh Hưng Yên 17

Bảng 1.3: Hàm lượng tổng số và linh động của một số KLN trong đất nông nghiệp khu vực nghiên cứu 19

Bảng 2.1: Vị trí và ký hiệu các mẫu nước tại làng nghề sắt thép Đa Hội 30

Bảng 2.2 Thời gian các đợt lấy mẫu nước tại làng nghề Đa Hội 32

Bảng 2.3 : Danh mục các chỉ tiêu và phương pháp phân tích 33

Bảng 3.1: Thực trạng phát triển kinh tế làng nghề Đa Hội 40

Bảng 3.2: Số cơ sở sản xuất, sản lượng thép và giá trị đạt được của làng nghề Đa Hội qua các năm 40

Bảng 3.3: Diến biến về cơ sở sản xuất và quy mô hiện tại của các cơ sở sản xuất CCN làng nghề Đa Hội 42

Bảng 3.4: Nhu cầu sử dụng nguyên, nhiên liệu làng nghề Đa Hội năm 2014 43 Bảng 3.5: Tình hình sử dụng nguyên, nhiên liệu của các cơ sở sản xuất tại làng nghề Đa Hội năm 2014 44

Bảng 3.6 Số lượng sản phẩm tại các cơ sở điều tra 45

Bảng 3.7: Các dạng chất thải từ hoạt động tái chế kim loại 52

Bảng 3.8: Lượng chất thải rắn sản xuất của các cơ sở sản xuất tại làng nghề Đa Hội 54

Bảng 3.9: Kết quả quan trắc chất lượng nước mặt tại vị trí NM-1 57

Bảng 3.10: Kết quả quan trắc tại vị trí NM-2 và NM-3 59

Bảng 3.11: Kết quả quan trắc tại vị trí NT1 và NT2 63

Bảng 3.12: Kết quả quan trắc tại vị trí NT3 và NT4 64

Bảng 3.13: Kết quả quan trắc chất lượng nước ngầm theo thời gian của làng nghề Đa Hội 66

Bảng 3.14: Tỷ lệ bệnh tật của người dân phường Châu Khê 68

Bảng 3.15: Phân công chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức, cá nhân trong 73

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất 5

Hình 1.2: Hiện trạng phân bố làng nghề nước ta 9

Hình 1.2: So sánh hàm lượng trung bình của các KLN tổng số và linh động trong đất nông nghiệp Châu Khê năm 2005 và 2010 20

Hình 3.1: Sơ đồ hành chính thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh 36

Hình 3.2: Biểu đồ cơ cấu lao động theo ngành của Châu Khê năm 2008 39

Hình 3.3: Biểu đồ tình hình sản xuất sắt thép qua các năm 41

Hình 3.4: Quy trình tái chế sắt phế liệu và nguồn thải 48

Hình 3.5: Quy trình gia nhiệt, tẩy rỉ và mạ kẽm điện 51

Hình 3.6: Biến động thông số BOD, COD, TSS trong nước mặt tại làng nghề Đa Hội 60

Hình 3.7: Diễn biến nồng độ Fe theo thời gian 61

Hình 3.8: Diễn biến nồng độ các thông số BOD, COD,TSS,Fe trong nước thải CCN làng nghề Đa Hội theo thời gian 65

Hình 3.9: Diễn biến nồng độ COD và Fe theo thời gian trong nước ngầm 67

Hình 3.10: Tỷ lệ mắc bệnh giữa các hộ tại làng nghề Đa Hội 69

Hình 3.11: Mô hình xử lý nước thải cho cụm công nghiệp Đa Hội 70

Hình 3.12: Mô hình xử lý cho cơ sở có dây chuyền mạ 71

Hình 3.13: Mô hình xử lý nước thải sinh hoạt ra ao làng Đa Hội 71

Trang 9

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BOD5 Nhu cầu oxy sinh học trong 5 ngày

CNH - HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

TSS Nồng độ chất rắn lơ lửng

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một trong những nước đang phát triển mạnh mẽ, nền kinh tế tăng trưởng vượt bậc sau thời kỳ “Đổi mới” Bên cạnh các ngành trọng tâm như công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch… phải kể đến sự phát triển của các làng nghề truyền thống đã và đang góp phần giữ gìn bản sắc truyền thống văn hóa dân tộc, thúc đẩy hội nhập nền kinh tế, nâng cao chất lượng đời sống của người dân, giải quyết vấn đề lao động Tuy nhiên, sự phát triển làng nghề lại kéo theo rất nhiều mặt hạn chế Trong đó các vấn đề môi trường làng nghề đang ngày càng trở nên trầm trọng và cũng ảnh hưởng không nhỏ tới nền kinh tế và sức khỏe của người dân

và rất cần chúng ta có những biện pháp, cách thức bảo vệ, duy trì, phát triển làng nghề một cách bền vững

Một trong những địa phương có làng nghề truyền thống lâu đời là tỉnh Bắc Ninh với các làng nghề: Làng nghề tái chế sắt thép Đa Hội, Làng nghề đúc đồng Đại Bái, làng nghề mây tre đan Xuân Lai và làng nghề sắt thép Châu Khê đang phát triển mạnh mẽ trong nhưng năm gần đây, góp phần rất lớn cho nền kinh tế chung của tỉnh Bắc Ninh Bên cạnh những mặt tích cực, theo ban thanh tra của Bộ tài nguyên và Môi trường thì làng nghề sắt thép Đa Hội (Châu Khê) được xếp vào một trong 47 làng nghề đang bị ô nhiễm môi trường đặc biệt nghiêm trọng, phải khẩn trương khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường Do đặc trưng của làng nghề tái chế sắt thép, cùng với đó là cơ sở hạ tầng còn kém quy trình sản xuất còn thủ công, chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung hay công nghệ xử lý còn lạc hậu, chưa được đầu tư đúng mức Nên nước thải phát sinh từ làng nghề gây ảnh hưởng vô cùng to lớn đến sức khỏe của con người và môi trường

Từ các vấn đề thực tế trên, dưới sự hướng dẫn của PGS TS Nguyễn Văn Dung, tôi

tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động làng nghề Đa Hội

phường Châu Khê, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đến chất lượng nước”

Trang 11

2 Mục đích và yêu cầu nghiên cứu của đề tài

Khảo sát và phỏng vấn các chủ cơ sở sản xuất làng nghề

Tìm hiểu và thu thập thông tin về làng nghề

Lấy mẫu và phân tích mẫu nước đề tài nghiên cứu

Đánh giá đúng ảnh hưởng của hoạt động làng nghề đến chất lượng nước

Đề xuất giải pháp nhằm quản lý chất lượng nước làng nghề đạt hiệu quả

Trang 12

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm và phân loại làng nghề

1.1.1 Khái niệm làng nghề

Khái niệm làng nghề được hiểu theo nhiều cách khác nhau Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan niệm về làng nghề, dưới đây là một số quan niệm

Quan niệm thứ nhất: Dựa theo đề tài “Khảo sát một số làng nghề truyền thống

– chính sách và giải pháp” (Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học,1996) thì “Làng nghề

là một cộng đồng dân cư, một cộng đồng sản xuất nghề TTCN và nông nghiệp ở nông thôn” Theo quan niệm này, làng nghề được hiểu khá đơn giản, xúc tích và ngắn gọn gồm 3 yếu tố: Là một cộng đồng dân cư, nghề sản xuất TTCN và nông nghiệp ở nông thôn

Quan niệm thứ hai: Một số nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm làng nghề kèm

theo tiêu chí cụ thể về lao động và thu nhập Theo đó “Làng nghề là những làng đã từng có 50 hộ hoặc từ 1/3 tổng số hộ hay lao động của địa phương trở lên làm nghề chiếm phần chủ yếu trong tổng thu nhập của họ trong năm” (Đỗ Quang Dũng, 2006)

Hoặc trong dự thảo Nghị định của Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn được Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đệ trình

tháng 5 năm 2007 quy định “Làng nghề là thôn ấp, bản có trên 35% số hộ hoặc lao động tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn và thu nhập từ ngành nghề nông thôn chiếm trên 50% tổng thu nhập của làng”.Các định nghĩa này đã khắc phục

nhược điểm của quan niệm thứ nhất, quan tâm đến tỷ lệ người làm nghề và thu nhập

từ ngành nghề, nhưng lại cố định tiêu chí xác định làng nghề

Quan niệm thứ ba: Theo Dương Bá Phương (2001), thì “Làng nghề là làng ở nông thôn có một (hoặc một số) nghề thủ công tách hẳn khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập” Quan niệm này nêu lên được 2 yếu tố cơ bản cấu thành của làng

nghề là làng và nghề, nêu lên được vấn đề nghề trong làng tách ra khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập nên phù hợp với điều kiện mới hơn

Quan niệm thứ tư: Theo Đặng Kim Chi (2005), có thể hiểu làng nghề “là làng nông thôn Việt Nam có ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số lao động và thu nhập so với nghề nông”

Trang 13

Có rất nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau khi đề cập đến tiêu chí để một làng ở nông thôn được coi là một làng nghề Nhưng nhìn chung, các ý kiến thống nhất ở một số tiêu chí sau:

Giá trị sản xuất và thu nhập từ phi nông nghiệp ở làng nghề đạt trên 50% so với tổng giá trị sản xuất và thu nhập chung của làng nghề trong năm; hoặc doanh thu hàng năm từ ngành nghề ít nhất đạt trên 300 triệu đồng

Số hộ và số lao động tham gia thường xuyên hoặc không thường xuyên, trực tiếp hoặc gián tiếp đối với nghề phi nông nghiệp ở làng ít nhất đạt 30% so với tổng số hộ hoặc lao động ở làng nghề có ít nhất 300 lao động

Sản phẩm phi nông nghiệp do làng sản xuất mang tính đặc thù của làng và do người trong làng tham gia

Như vậy, làng nghề là làng trong đó có phần lớn dân cư sống bằng các nghề phi nông nghiệp và thường cùng một nghề chủ yếu.Thu nhập của người dân trong làng phần lớn từ tiểu thủ công nghiệp Đây trở thành một lĩnh vực hoạt động độc lập, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng thu nhập của dân cư nông thôn

1.1.2 Phân loại làng nghề

Làng nghề với những hoạt động và phát triển đã có những tác động tích cực và tiêu cực đến nền kinh tế, đời sống xã hội và môi trường với những nét đặc thù rất đa dạng Vấn đề phát triển và môi trường của các làng nghề hiện nay đang có nhiều bất cập và đang được chú ý nghiên cứu Muốn có được những kết quả nghiên cứu xác thực, đúng đắn và có thể quản lý tốt các làng nghề thì cần có sự nhìn nhận theo nhiều khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau đối với làng nghề Bởi vậy, hệ thống phân loại các làng nghề dựa trên các số liệu thông tin điều tra, khảo sát là cơ sở khoa học cho nghiên cứu, quản lý hoạt động sản xuất cũng như việc quản lý, bảo vệ môi trường làng nghề Cách phân loại làng nghề phổ biến nhất là phân theo loại hình sản xuất, loại hình sản phẩm Theo cách này có thể phân thành 6 nhóm ngành sản xuất gồm: + Ươm tơ, dệt vải và may đồ da

+ Chế biến lương thực thực phẩm, dược liệu

+ Tái chế phế liệu (giấy, nhựa, kim loại…)

+ Thủ công mỹ nghệ, thêu ren

Trang 14

+ Vật liệu xây dựng, khai thác và chế tác đá

+ Nghề khác (mộc gia dụng, cơ khí nhỏ, đóng thuyền, quạt giấy, đan vó, lưới )

Thủ công mỹ nghệ39%

Chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi, giết mổ20%

Tái chế phế liếu 4%

Vật liệu xây dựng, khai thác đá 5%

Hình 1.1 Phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất

Nguồn: Tổng cục Môi trường, 2008

Ngoài ra còn có thể phân loại theo quy mô sản xuất (lớn, nhỏ, trung bình), phân loại theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm, theo lịch sử phát triển, theo mức độ

sử dụng nguyên liệu, theo thị trường tiêu thụ sản phẩm hoặc theo tiềm năng tồn tại

và phát triển

1.2 Cơ sở nghiên cứu thực tiễn làng nghề:

1.2.1 Thực trạng hoạt động làng nghề trên thế giới:

Trên thế giới, từ những năm đầu của thế kỷ XX cũng có một số công trình nghiên cứu có liên quan đến làng nghề như: “Nhà máy làng xã” của Bành Tử (1922); “Mô hình sản xuất làng xã” và “Xã hội hóa làng thủ công” của N.H.Noace (1928) Năm 1964, tổ chức WCCI (World crafts council International - Hội đồng Quốc tế về nghề thủ công thế giới) được thành lập, hoạt động phi lợi nhuận vì lợi ích chung của các quốc gia có nghề thủ công truyền thống (Ngô Trà Mai, 2008) Đối với các nước châu Á, sự phát triển kinh tế làng nghề truyền thống là giải pháp tích cực cho các vấn đề kinh tế xã hội nông thôn Thực tế nhiều quốc gia trong khu vực có những kinh nghiệm hiệu quả trong phát triển làng nghề, điển hình là

Trang 15

Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Thái Lan Trung Quốc sau thời kỳ cải cách mở cửa năm 1978, việc thành lập và duy trì Xí nghiệp Hương Trấn, tăng trưởng với tốc độ 20 - 30 % đã giải quyết được 12 triệu lao động dư thừa ở nông thôn Hay Nhật Bản, với sự thành lập “Hiệp hội khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống” là hạt nhân cho sự nghiệp khôi phục và phát triển ngành nghề có tính

truyền thống dựa theo “Luật nghề truyền thống”…(Trần Minh Yến, 2003)

Đối với các làng nghề tái chế sắt thép, ở các nước châu Á như Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc…đã chú trọng tới từ lâu

Ở Nhật Bản, tuy CNH diễn ra nhanh và phát triển mạnh, song làng nghề vẫn tồn tại, các nghề thủ công vẫn được mở mang Họ không những chỉ duy trì và phát triển các ngành nghề cổ truyền mà còn mở ra một số nghề mới Đồng thời, Nhật Bản cũng rất chú trọng đến việc hình thành các xí nghiệp vừa và nhỏ ở thị trấn, thị

tứ ở nông thôn để làm vệ tinh cho những xí nghiệp lớn ở đô thị

Ngành nghề thủ công truyền thống của Nhật bao gồm: Chế biến lương thực, thực phẩm, nghề đan lát, nghề dệt chiếu, nghề thủ công mỹ nghệ, nghề dệt lụa, nghề rèn nông cụ…Đầu thế kỷ XX, Nhật Bản còn 867 nghề thủ công cổ truyền hoạt động Năm 1992 đã có 2.640 lượt người của 62 nước trong đó có Trung Quốc, Malayxia, Anh, Pháp tới thăm làng nghề truyền thống của Nhật Nổi lên là nghề rèn

là nghề thủ công cổ truyền phát triển ở nhiều làng nghề và thị trấn của Nhật Thị Trấn Takeo tỉnh GiFu là một trong những địa phương có nhiều nghề cổ truyền từ

700 – 800 năm, đến nay vẫn tiếp tục hoạt động, hiện nay cả thị trấn có khoảng 200

hộ gia đình với 1000 lao động là thợ thủ công chuyên nghiệp, hằng năm sản xuất ra

9 – 10 triệu nông cụ các loại, với chất lượng cao, mẫu mã đẹp Điều đáng chú ý là công nghệ chế tạo công cụ của Nhật từ thủ công dần dần được hiện đại hóa với các máy gia công tiến bộ và kỹ thuật tiến tiến

Sau Chiến tranh kết thúc Chính phủ Hàn Quốc đã chú trọng đến công nghiệp nông thôn, trong đó có ngành nghề thủ công và làng nghề truyền thống Đây là một chiến lược quan trọng để phát triển nông thôn Các mặt hàng được tập trung sản xuất là: Hàng thủ công mỹ nghệ, hàng truyền thống công nghiệp phục vụ du lịch và xuất khẩu, đồng thời tập trung chế biến lương thực, thực phẩm theo công nghệ cổ truyền Chương trình này tập trung vào các nghề sử dụng lao động thủ công, công

Trang 16

nghệ đơn giản và nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phương, sản xuất quy mô nhỏ với khoảng 10 hộ gia đình liên kết với nhau thành tổ hợp tác được ngân hàng cung cấp vốn tín dụng với lãi xuất thấp để mua nguyên liệu sản xuất và cả tiêu thụ sản phẩm Phát triển ngành nghề thủ công truyền thống cũng được triển khai rộng khắp từ những năm 1970 đến 1980, đã xuất hiện 908 xưởng thủ công dân tộc chiếm 2,9% các xí nghiệp vừa và nhỏ, thu hút 23.000 lao động, hoạt động theo hình thức sản xuất tại gia là chính Đây là loại hoạt hình nông thôn với 79,4% dựa vào các hộ gia đình riêng biệt, sử dụng nguyên vật liệu địa phương và bí quyết truyền thống Để phát triển công nghiệp thủ công truyền thống Chính phủ đã thành lập 95 hãng thương mại về những mặt hàng này (Đặng Ngọc Vinh, 2009)

Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực, phát triển làng nghề còn tồn tại những mặt tiêu cực, đặc biệt là làng nghề làm ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí, … Tình trạng ô nhiễm đã xảy ra ở hầu hết các làng nghề trên thế giới và cần thiết phải

có các biện pháp quản lý, khắc phục Đặc biệt, “việc sử dụng cộng đồng như những nhà quản lý môi trường không chính thức và tính cộng đồng là công cụ bảo vệ môi trường đã được thực hiện thành công ở một số nước trong khu vực và thế giới bằng các hình thức khác nhau” (Đặng Đình Long, 2005) Cũng theo Đặng Đình Long, các nghiên cứu của World Bank đã chứng minh rằng, “dựa trên sức ép của cộng đồng, cộng với việc tăng cường năng lực của các cơ quan quản lý môi trường có thể cải thiện được lượng phát thải tại các cơ sở gây ô nhiễm”

Một số quốc gia đã thực hiện thành công cách quản lý này như: Côlômbia, Trung Quốc, Hàn Quốc, Philippin, Bănglađét, Malaysia, Inđônêxia… với phương pháp cho điểm đơn giản để dân chúng nhận rõ cơ sở nào tuân thủ các tiêu chuẩn chống ô nhiễm của quốc gia và địa phương, cơ sở nào không tuân thủ Trung Quốc

đã cho phép tính các loại phí ô nhiễm dựa trên sự thảo luận của cộng đồng Mức định giá phí ô nhiễm dựa trên mức độ ô nhiễm, mức dân cư phải hứng chịu hậu quả của ô nhiễm, mức thu nhập bình quân… Cùng với đó, chính phủ nước này cũng thường xuyên nâng cao năng lực của cộng đồng trong nhận thức và hành động giải quyết các vấn đề môi trường địa phương

Ở Inđônêxia, dưới áp lực của cộng đồng địa phương bằng việc phát đơn kiện các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm, qua đó chính phủ và các cơ quan kiểm soát ô nhiễm làm trung gian đứng ra giải quyết, buộc các cơ sở gây ô nhiễm phải đền bù cho cộng

Trang 17

đồng và có những giải pháp giảm thiểu ô nhiễm (Đặng Đình Long, 2005)…

Như vậy, cần thiết có sự phối hợp giữa Nhà nước và cộng đồng trong quản lý môi trường cũng như giải quyết xung đột trong vấn đề môi trường Đây là giải pháp mang tính bền vững cho sự phát triển của xã hội

1.2.2 Tình hình phát triển làng nghề tái chế kim loại ở nước ta

1.2.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Sự phát triển của các làng nghề tái chế kim loại ở Việt Nam đã trải qua những giai đoạn khác nhau, gắn với những cung bậc thăng trầm của lịch sử Đặc biệt, từ khi đổi mới nền kinh tế 1986 đến nay, dưới tác động to lớn của sự biến đổi nền kinh tế trong nước cũng như trên toàn thế giới nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật: Các cuộc cách mạng công nghiệp và cách mạng xanh trong nông nghiệp… giúp cho quá trình phát triển của các làng nghề thay đổi to lớn, mang lại nhiều thành công nhưng cũng để lại rất nhiều vấn đề cần giải quyết: kinh tế, xã hội…đặc biệt là vấn đề môi trường bị ảnh hưởng quá nghiêm trọng trong nhưng năm trở lại đây

Trải qua nhiều thăng trầm theo chiều dại của lịch sử, các làng nghề tái chế kim loại cũng như các làng nghề khác có lúc hưng thịnh, nhưng cũng có lúc suy thoái tưởng trừng như khó khôi phục do bị ảnh hưởng bởi chiến tranh, bởi chế độ cai trị của thực dân xâm lược: Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ

Cho đến năm 2005, cả nước có 2.017 làng nghề dải khắp cả 3 miền Bắc, Trung, Nam, trong đó tập trung phần lớn ở vùng đồng bằng sông Hồng Làng nghề tái chế kim loại chiếm số lượng ít, chỉ vào khoảng 80 -120 làng nghề Các làng nghề trong cả nước thu hút hơn 10 triệu lao động, nâng cao thu nhập cho người dân, cải thiện đáng kể đời sống cho một bộ phận dân cư khu vực nông thôn Hiện nay, Nhà nước có nhiều chính sách nhằm khuyến khích làng nghề phát triển, đặc biệt từ khi Hiệp hội làng nghề Việt Nam được thành lập (2005), đã có nhiều chương trình, chính sách nhằm bảo tồn, thúc đẩy sự phát triển làng nghề (Dương Đình Giám, 2012)

Tuy nhiên, nhiều làng nghề nói chung và làng nghề tái chế kim loại nói riêng có nguy cơ lâm vào tình trạng suy thoái do nhiều nguyên nhân khác nhau (do bế tắc về thị trường, do bị cạnh tranh, do thiếu vốn để cải tiến sản xuất, gây ô nhiễm môi trường…)

Để giải quyết những khó khăn này, cần có cái nhìn tổng quan về làng nghề và gắn với thực trạng kinh tế xã hội trong nước và thế giới

Trang 18

Hình 1.2: Hiện trạng phân bố làng nghề nước ta

(Tổng cục môi trường, 2008)

Trang 19

Ngày nay với mạng lưới phân bổ rộng khắp trong cả nước bao gồm trên 40.000 cơ sở sản xuất ở gần 3.000 làng nghề Riêng làng nghề tái chế kim loại cũng tăng lên so với trước đây, có khoảng 160 - 200 làng nghề Nhìn chung các làng nghề

ở Việt Nam đều trên 80% là các hộ cá thể, đang đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi địa phương Bởi ngoài việc tăng thêm thu nhập cho người dân, các làng nghề còn giải quyết việc làm cho khoảng 20 triệu lao động, trong đó 30% số lao động có việc làm thường xuyên còn lại là lao động thời vụ (TS Dương

Đình Giám, 2012)

Nguyên, vật liệu cho các làng nghề tái chế kim loại chủ yếu được được đi thu mua lại từ các phế liệu kim loại bỏ đi, một phần cũng phải nhập khẩu từ nước ngoài, một phần nhỏ lấy từ thiên nhiên Phần lớn công nghệ và kỹ thuật áp dụng cho sản xuất trong các làng nghề ở nông thôn còn lạc hậu tính cổ truyền vẫn chưa được chọn lọc và đầu tư khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm còn thấp, do

đó chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường và giảm sức cạnh tranh Do hạn chế

về công nghệ và kỹ thuật sản xuất nên các các làng nghề vẫn sử dụng chủ yếu là lao động thủ công ở hầu hết các công đoạn, kể cả các công đoạn nặng nhọc và độc hại nhất Nhiều sản phẩm đặc thù đòi hỏi trình độ kỹ thuật và tính mỹ thuật cao, tay nghề khéo léo… chủ yếu là các làng nghề truyền thống, sản xuất các sản phẩm thủ công mỹ nghệ như làng nghề đúc đồng Riêng về thị trường tiêu thụ sản phẩm thì trước đây về cơ bản thị trường này nhỏ hẹp tiêu thụ tại chỗ do đó giá thành cũng thấp Nhưng hiện nay, thị trường xuất khẩu các mặt hàng truyền thống của Việt Nam đã mở rộng sang khoảng hơn 100 quốc gia trên thế giới, trong đó có các thị trường truyền thống như Trung Quốc, Hồng Công, Xingapo, thậm chí cả các thị trường khó tính như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, EU…Do đó giá trị sản lượng các làng nghề cùng phát triển nhanh đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu Tuy nhiên làng nghề hiện nay nói chung đang tồn tại một số bất cập và phải

có các chính sách phù hợp để phát triển, nhất là trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc

tế (Dương Đình Giám, 2012)

Trang 20

1.2.2.2 Khái quát về làng nghề tái chế kim loại

* Tái chế kim loại: Là hoạt động phân loại các loại kim loại như sắt, đồng, thép, nhôm…từ dòng thải và sử dụng chúng như nguyên liệu đầu vào để sản xuất ra các sản phẩm, chất lượng các sản phẩm này có thể kém hơn chất lượng sản phẩm ban đầu

* Về quy mô: Các làng nghề tái chế kim loại phần lớn đều có quy mô vừa và nhỏ (chiếm 72% tổng số cơ sở sản xuất), nằm xen kẽ với khu dân cư, hình thành chủ yếu trên cơ sở gia đình, kinh nghiệm được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Số lượng công nhân không nhiều, khoảng 6 người/hộ sản xuất và thường có nguồn thu nhập ổn định, góp phần thúc đẩy kinh tế hộ gia đình

* Về phân bố các làng nghề: Đa số các làng nghề này nằm ở phía Bắc, công nghệ sản xuất đang từng bước được cơ khí hóa Một số tỉnh thành phố tập trung với

số lượng lớn các làng nghề tái chế kim loại: Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Nội, Nam Định, Bắc Ninh… Làng nghề đúc nhôm Vân Chàng - Nam Định, làng nghề đúc đồng Phước Kiều - Quang Nam, làng nghề đúc đồng Ngũ Xã - Hà Nội, làng nghề đúc nhôm Mẫn Xá - Bắc Ninh, làng nghề đúc đồng Đại Bái – Bắc Ninh, làng nghề tái chế kim loại Đa Hội - Bắc Ninh…(Nguyễn Thị Cẩm Vân, 2013)

* Quy trình tái chế kim loại:

Quy trình này là quy trình chung mà tất cả các làng nghề tái chế kim loại hiện nay ở Việt Nam đang áp dụng

Trang 21

* Tác động tích cực:

- Về mặt kinh tế:

Tái chế kim loại cung cấp nguyên liệu giá rẻ và được xem như là nguồn cung cấp nguyên liệu đầu vào cho các chu trình tiếp theo

Giảm chi phí mua nguyên liệu

Giảm chi phí xử lý chất thải, hạ được giá thành sản phẩm

Góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của địa phương nói chung và của gia đình nói riêng

- Về mặt xã hội:

Giải quyết công an việc làm, tạo thu nhập cho người lao động nông thôn

Tăng thêm thu nhập khi những lúc nông nhàn

Ổn định xã hội, hạn chế được những tệ nạn xã hội

Giữ gìn được nét truyền thống văn hóa của làng nghề

* Về hiện trạng hoạt động của các làng nghề tái chế kim loại: Hầu hết các làng nghề tái chế kim loại ở nước ta hiện nay đều có quy trình tái chế tương đối đơn giản, dễ vận hành, hoàn toàn bằng thủ công Họ thu mua các phế thải như thép vụn, phế liệu do máy móc, dụng cụ sắt bị hư hỏng, vật dụng gia đình…tái chế thành sản phẩm mới theo sự đặt hàng của người mua

Đặc thù của các làng nghề công nghệ sản xuất và thiết bị ở các làng nghề phần lớn lạc hậu, chắp vá Thiết bị phần lớn là đơn giản, không đảm bảo được yêu cầu kỹ thuật,

an toàn và vệ sinh môi trường Thường sử dụng các nhiện liệu rẻ tiền, hóa chất độc hại (kể cả đã cấm sử dụng) để hạ giá thành sản phẩm Tuy lượng chất thải của làng nghề loại này không lớn nhưng chứa nhiều thành phần độc hại Ô nhiễm đáng quan tâm nhất là ô nhiễm không khí và nước

Trình độ người lao động ở các làng nghề, chủ yếu là lao động thủ công, văn hóa thấp, số lao động chỉ tốt nghiệp cấp I, II chiếm trên 60% Kiến thức tay nghề không toàn diện dẫn tới tiêu hao nhiều nguyên liệu, làm tăng phát thải nhiều chất ô nhiễm môi trường nước, đất, không khí, ảnh hưởng tới giá thành sản phẩm và chất lượng môi trường

Trang 22

1.2.2.3 Các vấn đề trong môi trường làng nghề tái chế kim loại:

Vấn đề ô nhiễm tại làng nghề tái chế kim loại hiện nay đang là một trong những vấn đề nóng của xã hội Các làng nghề hầu hết chưa đi vào quy hoạch cụm công nghiệp làng nghề, mà vẫn chủ yếu sản xuất kinh doanh tại hộ gia đình Công nghệ sản xuất còn lạc hậu, các biện pháp bảo vệ môi trường và sức khỏe cho người lao động và những người xung quanh còn rất hạn chế

• Ô nhiễm nước thải:

- Nước làm mát các thiết bị máy móc

- Nước làm nguội sản phẩm trong quá trình đúc

- Vệ sinh thiết bị, mặt bằng nhà xưởng

Nước sẽ cuốn theo các tạp chất bẩn còn trong máy móc như các hóa chất, muối acid, muối kim loại, cyanua, các kim loại nặng như thủy ngân, kẽm, sắt, crom, niken…dầu mỡ công nghiệp, chất rắn lơ lửng trực tiếp chảy ra cống xả rồi xả ra các

ao, hồ, sông, cánh đồng…của làng nghề mà không qua bất kỳ hệ thống xử lý nào

• Ô nhiễm môi trường không khí:

- Quá trình vận chuyển nguyên liệu tới làng nghề: Bụi phát sinh từ khói thải của

xe chuyên chở Ngoài ra còn một phần bụi bám trên bề mặt kim loại do chứa các tạp chất đá…cũng phát tán vào môi trường không khí

- Gia công sơ bộ, tẩy gỉ: Phát sinh một lượng lớn bụi, bụi chứa kim loại nặng và bụi của vật liệu độc hại

- Quá trình nấu: Người ta thường sử dụng than, củi, dầu FO,DO gây ô nhiễm

CO2, SO2, NOx , chất hữu cơ bay hơi (hơi axit, kiềm, oxit kim loại PbO, ZnO,

Al2O3, FexOy, khí độc…)

Ngoài ra còn gây ô nhiễm đất, ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm nhiệt, ô nhiễm mùi… Các vấn đề ô nhiễm môi trường đã ảnh hưởng rất lớn tới cuộc sống của những người sản xuất và người xung quanh, cần có những biện pháp, cách thức quản lý của nhà nước nhằm hạn chế mức thấp nhất việc ô nhiễm môi tại các làng nghề như hiện nay (Đặng Kim Chi, 2005)

Làng nghề Đông Mai xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên là làng nghề đúc đồng từ xưa nhưng chuyển sang tái chế pin, bình ắc-quy hỏng từ những năm

1970 đến nay Đông Mai có tới 200 hộ làm nghề tái chế chì “Pin và bình ắc-quy cũ sau khi thu gom về sẽ được tháo rút phần axít còn sót rồi phá dỡ để lấy các tấm chì

Trang 23

Số chì này được đưa vào lò nung để loại bỏ tạp chất và đổ thành thỏi Bước cuối cùng là quét bột khói để tạo màu phấn phía ngoài các thỏi chì rồi bán lượng axít còn sót được súc rửa và đổ thẳng ra cống rãnh, ao hồ, đường sá Vỏ bình ắc-quy nhựa màu trắng được nghiền và bán cho cơ sở tái chế; còn vỏ đen thì bỏ chất đống Bầu không khí ở làng nghề này luôn ngợp trong khói bụi Những ngày nắng nóng, bụi chì và nước axít tồn đọng bốc mùi khét lẹt; khi trời đổ mưa thì chất thải chảy lênh láng khắp nơi, đọng đầy các ao hồ rồi ngấm vào lòng đất Trong quá trình nấu chì, một lượng khói, bụi, xỉ không qua bất cứ công đoạn xử lý nào được thải trực tiếp ra môi trường Công nhân làm việc trong các lò nấu chì không hề được trang bị

đồ bảo hộ lao động Đi làm về, áo quần của họ dính đầy bụi chì và hóa chất, vô tình trở thành nguồn nhiễm độc cho chính bản thân và những người trong gia đình

Nhiều năm nay, Đông Mai được xem là 1 trong 4 làng nghề gây ô nhiễm môi

trường trầm trọng nhất tỉnh Hưng Yên Có thời điểm, hơn 50% người dân của thôn

bị bệnh đường ruột, đau dạ dày; 30% mắc bệnh đường hô hấp, đau mắt; 100% người trực tiếp nấu chì bị nhiễm độc Cách đây 10 năm, thôn đã có hơn 40 người bị teo cơ, bại não, bại liệt, mù bẩm sinh do ảnh hưởng của bụi và khói chì Theo Quyết định 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đến hết năm 2007, Đông Mai phải hoàn tất việc xử lý ô nhiễm môi trường, di dời các hộ, cơ sở sản xuất ra khỏi khu dân cư Đến năm 2011, tỉnh Hưng Yên đã phê duyệt dự án xây dựng cụm công nghiệp Đông Mai rộng 21 ha, cách khu dân cư trên 1 km để tập trung các cơ sở tái chế kim loại độc hại Tuy nhiên, hiện rất nhiều cơ sở tái chế chì trong khu dân cư vẫn chưa chịu di dời Báo cáo mới nhất của Viện Sức khỏe nghề nghiệp và Môi trường cho thấy kết quả đáng báo động: Có đến 97% trong tổng số 500 trẻ tại thôn Đông Mai được làm xét nghiệm nhanh có kết quả phơi nhiễm chì Hầu hết các trẻ này đều có hàm lượng chì trong máu vượt ngưỡng 3-7 lần Trẻ em vì nhiễm chì nặng nên bị còi cọc, chậm phát triển trí não…và ngày càng nhiều người chết vì căn bệnh ung thư (Văn Duẩn, Ngọ Dung, 2014)

Xã Đại Đồng nằm ở phía Đông Bắc của huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên có Thôn Lộng Thượng trong xã có nghề đúc đồng truyền thống, và thôn Xuân Phao và Văn ổ có nghề tái chế kẽm Sự tích luỹ kim loại nặng trong đất nông nghiệp và nước ngầm của

xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên là điều tất yếu sảy ra (Hồ Thị Lam Trà, 2006)

Trang 24

Bảng 1.1: Hàm lượng một số kim loại nặng trong đất nông nghiệp

Xã Đại Đồng - Huyện Văn Lâm – Tỉnh Hưng Yên

Cu, 3 trên bốn mẫu bị ô nhiễm Cu đều thuộc khu vực chịu ảnh hưởng của làng nghề chuyên sản xuất các mặt hàng về đồ đồng dân dụng (Lộng Thượng), và một mẫu ở làng nghề tái chế kẽm (Xuân Phao) Ba mẫu ô nhiễm Zn đều nằm ở các làng nghề tái chế kẽm (Văn ổ và Xuân Phao) và làng nghề đúc đồng (Lộng Thượng) Sự tích luỹ Pb ở khu vực làng nghề là rất lớn có 7 mẫu trong khu vực nghiên cứu có hàm lượng Pb cao hơn tiêu chuẩn Việt Nam Cá biệt có 2 mẫu chịu ảnh hưởng của làng

Trang 25

nghề đúc đồng có hàm lượng Pb trên 200 mg/kg và 1 mẫu chịu ảnh hưởng của làng

nghề tái chế kẽm có hàm lượng Pb trên 300 mg/kg

Điều tra về tình hình sản xuất của làng nghề đúc đồng tác giả Hồ Thị Lam Trà

thấy có hơn 70% các hộ trong làng làm nghề đúc đồng Quy trình sản xuất của các

hộ mang tính thủ công, các mảnh vụn của đồng, nước rửa, khuôn đúc đồng được

thải trực tiếp vào môi trường Trong làng không có hộ nào xử lý rác thải, nước thải

Nước thải được đổ và dẫn trực tiếp ra các mương thoát nước rồi chảy ra các cánh

đồng lúa lân cận Kết quả phân tích Cd, Cu, Pb và Zn được thể hiện ở phần kết quả

nghiên cứu chứng minh được rằng: quá trình sản xuất này đã gây ra sự tích đọng

một hàm lượng lớn về Cd, Cu, Pb và Zn Sự ô nhiễm Cu, Pb và Zn ở mức độ khá

cao

Hiện tại ở hai làng nghề tái chế kẽm (Văn ổ và Xuân Phao) không còn nhiều hộ dân

làm nghề này do gần đây nguồn nguyên liệu bị khan hiếm, tuy nhiên do trước kia,

trong thời gian dài, quá trình sản xuất là thủ công và không có ý thức trong việc thu

gom phế liệu nên đất nông nghiệp chịu ảnh hưởng của làng nghề này đã bị tích luỹ

một lượng đáng kể Cd, Cu, Pb và Zn

Qua quá trình nghiên cứu của tác giả Hồ Thị Lam Trà nhận thấy rằng sự ảnh

hưởng của các làng nghề khác nhau là khác nhau, tùy thuộc vào ngành nghề sản

xuất, thời gian và quy mô hoạt động của làng nghề mà ảnh hưởng đến chất lượng

môi trường theo các mức độ khác nhau Nhìn chung hầu như tất cả các làng nghề

đều ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng môi trường Sau đây là bảng số liệu kết quả

hàm lượng một số kim loại nặng mà tác giả Hồ Thị Lam Trà nghiên cứu tại Đại

Đồng – Văn Lâm – Hưng Yên

Trang 26

Bảng 1.2: Vị trí mẫu và hàm lượng một số kim loại nặng trong nước

Xã Đại Đồng – Huyện Văn Lâm – Tỉnh Hưng Yên

(µg/l) (µg/l) (µg/l) (µg/l)

1 Thôn Văn ổ Giếng khoan 6,40 5,13 176,13 67,19 217,38

3 Thôn Văn ổ Giếng khơi 6,79 25,14 166,42 71,43 126,18

4 Thôn Văn ổ Giếng khoan 6,50 4,19 93,56 61,05 149,38

5 Thôn Xuân Phao Giếng khoan 6,35 3,18 91,45 66,48 147,15

6 Thôn Xuân Phao Giếng khoan 6,35 4,11 196,01 71,39 179,41

7 Thôn Xuân Phao Giếng khoan 6,64 7,10 59,44 39,14 59,69

8 Thôn Lộng Thượng Giếng khoan 5,54 9,63 150,41 42,38 101,42

9 Thôn Lộng Thượng Giếng khoan 5,34 19,14 141,25 49,53 201,41

10 Thôn Lộng Thượng Giếng khoan 5,41 3,91 81,25 50,11 138,42

11 Thôn Lộng Thượng Giếng khoan 5,56 5,14 82,41 52,03 138,63

12 Thôn Lộng Thượng Giếng khoan 5,74 7,16 141,04 61,25 315,41

13 Thôn Lộng Thượng Giếng khơi 6,01 9,11 215,63 41,53 101,49

14 Thôn Lộng Thượng Giếng khoan 5,89 4,11 186,50 52,01 98,64

Hai mẫu nước ao có pH trung tính (7,51 và 8,02), các mẫu nước của giếng khoan

và giếng khơi của thôn Văn ổ và Xuân Phao có độ pH trên 6,0; các mẫu nước giếng khoan của thôn Lộng Thượng đều có pH dưới 6,0 Theo quy định tiêu chuẩn nước mặt dùng trong sinh hoạt và nước ngầm của Việt Nam pH dao động từ 6,0 đến 8,5

và từ 6,5 đến 8,5, thì nguồn nước giếng khoan ở cả 3 thôn đã có ảnh hưởng đến sức khoẻ của người dân Hàm lượng Cd; Cu; Pb và Zn trong các mẫu nước nghiên cứu dao động từ: 2,16 - 25,14; 59,44 - 215,63; 25,13 - 71,43 và 47,69 - 315,41 µg/l, tương ứng Như vậy, hàm lượng Cd, Cu, Pb và Zn trong các mẫu nước nghiên cứu chênh lệch nhau rất lớn, sự chênh lệnh giữa mẫu có hàm lượng Cd; Cu; Pb và Zn trong các mẫu nước cao nhất so với mẫu thấp nhất là 12,63; 3,62; 2,84 và 6,61 lần

Trang 27

Sự chênh lệnh giữa hàm lượng Pb của mẫu cao nhất và thấp nhất chỉ có 2,84 lần, nhưng trong 15 mẫu nước nghiên cứu có 9 mẫu vượt quá tiêu chuẩn Việt Nam (tiêu chuẩn nước mặt dùng trong sinh hoạt và nước ngầm có hàm lượng Pb nhỏ hơn 50 µg/l) Hàm lượng Cd trong hai mẫu nước ao và nước giếng khơi thuộc thôn Văn ổ cũng đã vượt quá tiêu chuẩn Việt Nam (tiêu chuẩn nước mặt dùng trong sinh hoạt

và nước ngầm cho phép hàm lượng Cd không vượt quá 10 µg/l) Ngoài ra mẫu số 8 được lấy ở thôn Lộng Thượng cũng có hàm lượng Cd cao gần gấp 2 lần tiêu chuẩn

Cd cho nước mặt dùng trong sinh hoạt và nước ngầm Như vậy hoạt động sản xuất tại các làng nghề trong xã đã có ảnh hưởng đến nguồn nước sinh hoạt của người dân

Theo số liệu thống kê của Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Từ Sơn thì trong giai đoạn từ 2005 – 2009 số hộ có làm nghề sản xuất và kinh doanh sắt tăng lên nhanh chóng từ 1146 hộ (2005) lên 1767 hộ (2009) Sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động tái chế sắt là nguyên nhân chính dẫn đến khả năng tích lũy kim loại nặng trong đất nông nghiệp của phường Châu Khê Kết quả nghiên cứu hàm lượng kim loại nặng Cd, Cu, Pb, Zn tổng số và di động trong đất nông nghiệp xung quanh khu vực làng nghề tái chế sắt như sau:

Trang 28

Bảng 1.3: Hàm lượng tổng số và linh động của một số KLN trong đất nông

nghiệp khu vực nghiên cứu

Hồ Thị Lam Trà, 2011)

Diễn biến hàm lượng trung bình của các KLN trong đất theo thời gian, số liệu nghiên cứu 2005 và số liệu nghiên cứu năm 2010:

Trang 29

Hình 1.2: So sánh hàm lượng trung bình của các KLN tổng số và linh động trong

đất nông nghiệp Châu Khê năm 2005 và 2010

Thấy rằng hàm lượng trung bình của các KLN Cd, Cu, Pb, Zn trong đất nông nghiệp của Châu Khê ở cả hai dạng tổng số và linh động đều có xu hướng tăng lên theo thời gian

Mặc dù hàm lượng trung bình của các KLN Cd, Cu, Pb và Zn trong đất nông nghiệp của Châu Khê vẫn nằm dưới ngưỡng tối đa cho phép Tuy nhiên, hàm lượng

Cu và Zn đã ở mức khá cao, gần tới ngưỡng ô nhiễm Sự tích lũy KLN trong đất có

xu hướng gia tăng theo thời gian Nguyên nhân dẫn tới sự tích lũy KLN trên đất nông nghiệp được xem như là kết quả tất yếu của việc phát triển hoạt động tái chế sắt, thép ở Châu Khê (Nguyễn Xuân Hòa, Cao Trường Sơn, Hồ Thị Lam Trà, 2011) Các tác giả nghiên cứu đã cho chúng ta cái nhìn khách quan về những vấn đề môi trường cấp bách trong khu vực làng nghề tái chế kim loại hiện nay Ô nhiễm môi

Trang 30

trường nước, đất, không khí, tiếng ồn… đã ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe cộng đồng

Chính sự phát triển với tốc độ nhanh chóng và quy mô sản xuất được mở rộng liên tục đã gây một áp lực quá lớn đến chất lượng môi trường, đặc biệt là môi trường nước Các làng nghề sản xuất theo hộ gia đình nên nguồn vốn ít, công nghệ thô sơ, ít áp dụng các công nghệ khoa học kỹ thuật, đặc biệt hệ thống xử lý chất thải trong quá trình sản xuất gần như là không có Chính vì điều này mà chất lượng môi trường ngày càng đi xuống trong khí phát triển làng nghề ngày càng đi lên Sức khỏe người dân ngày càng không được đảm bảo

Không chỉ thải ra làm ô nhiễm nguồn nước, các làng nghề còn khai thác một lượng lớn nước mặt hoặc nước ngầm phục vụ cho sản xuất, điều này làm cho nguồn nước của chúng ta ngày càng cạn kiệt Sử dụng quá mức nước ngầm đã làm cho mực nước ngầm bị giảm, sự ô nhiễm nước ngầm ngày càng tăng, nước mặt thì không đủ phục vụ cho sinh hoạt, tưới tiêu sản xuất nông nghiệp

Tuy nhiên, cũng phải kể đến công tác quản lý, pháp luật nhà nước chưa đủ các biện pháp răn đe đối với cơ sở gây ô nhiễm Văn bản pháp luật còn thiếu hiện hành

và chưa phù hợp với tình hình phát triển mới

Ý thức của các hộ kinh doanh sản xuất còn thấp, thiếu tự giác trong vấn đề môi trường Họ chỉ nghĩ tới lợi nhuận trước mắt mà quên mất những tổn hại về môi trường và chính họ sẽ là người chịu những hậu quả về môi trường mà họ gây ra Công tác tuyên truyền, vận động cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường tại các làng nghề còn chưa hiệu quả, chưa bám sát thực tế…

1.2.3 Tình hình quản lý môi trường làng nghề

1.2.3.1 Pháp luật liên quan tới quản lý môi trường làng nghề

Hoạt động quản lý các làng nghề đã được đề cập trong các văn bản pháp lý của Nhà nước như sau:

Thông tư số 46/2011/TT – BTNMT ngày 26/12/2011 của Bộ Tài Nguyên

và môi trường quy định về bảo vệ môi trường làng nghề, nêu rõ quan điểm, mục tiêu và phân rõ trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức, tập thể về vấn đề BVMT làng nghề

Trang 31

Điều 38 Luật BVMT năm 2005 đã quy định về BVMT làng nghề: “Việc quy hoạch, xây dựng, cải tạo và phát triển làng nghề phải gắn liền BVMT; UBND cấp tỉnh

có trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thống kê, đánh giá mức độ ô nhiễm của các làng nghề trên địa bàn và có kế hoạch giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường của làng nghề; Cơ

sở sản xuất trong các KCN, CCN và làng nghề phải thực hiện các yêu cầu về BVMT:

xử lý nước thải; thu gom và vận chuyển chất thải rắn; quản lý chất thải nguy hại và đóng góp kinh phí xây dựng kết cấu hạ tầng về BVMT, nộp đầy đủ các phí BVMT” Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật BVMT: Đến nay, các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật BVMT đã được xây dựng để áp dụng cho mọi đối tượng sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, không phân biệt nằm trong khu vực nông thôn, làng nghề, khu đô thị, công nghiệp hay các khu vực khác

Các văn bản có liên quan:

Quyết định số 577/QĐ-TTg ngày 11/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tổng thể BVMT làng nghề đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 với mục tiêu tổng quát: Tăng cường công tác BVMT trong quản lý và phát triển làng nghề, ngăn chặn việc phát sinh các làng nghề ô nhiễm môi trường mới, từng bước khắc phục, cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường làng nghề, bảo vệ và nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư, góp phần phát triển KT – XH khu vực nông thôn một cách bền vững

Văn bản số 2436/BTNMT – TCMT ngày 26/6/2013 của Bộ TN & MT về việc thực hiện triển khai Đề án tổng thể BVMT làng nghề

Nghị định số 179/2013 ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, quy định chi tiết đối tượng bị xử phạt, các hành vi vi phạm, chế tài xử lý khi vi phạm trong lĩnh vực BVMT

Quyết định số 132/2000/QĐ-TTg ngày 24/11/2000 do Thủ tướng Chính phủ ban hành về một số chính sách phát triển ngành nghề nông thôn

Nghị định số 66/2006/TT-BNN ngày 07/07/2006 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số

Trang 32

66/2006/NĐ-CP ngày 07/07/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn ;

Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 113/2006/TT-BTC ngày 20/12/2006 về việc hướng dẫn một số nội dung về ngân sách nhà nước hộ trợ phát triển ngành nghề nông thôn theo Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/07/2006 của Chính phủ trong đó có quy định một trong các nội dung được hưởng hỗ trợ

Chiến lược BVMT Quốc gia đến năm 2010, định hướng đến năm 2030 Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam

Ngày 2/9/2012 Phó Thủ tường Chính phủ Hoàng Trung Hải đã ký Quyết định số 1206/QĐ-TT phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia khắc phục ô nhiễm

và cải thiện môi trường giai đoạn 2012 – 2015: Chính phủ đã quyết định dành 5.863

tỷ đồng cho Chương trình mục tiêu quốc gia khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường trong giai đoạn 2012 – 2015 Trong đó, 2.420 tỷ đồng dành cho dự án khắc phục ô nhiễm ở 47 làng nghề (ngân sách Trung ương chi 1.420 tỷ đồng, ngân sách địa phương đóng góp 700 tỷ đồng, huy động từ các tổ chức, cá nhân 300 tỷ đồng)

Nghị định số 04/2007/NĐ-CP ngày 08/01/2007 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/06/2003 của Chính phủ phí BVMT đối với nước thải;

Thông tư liên tịch số 125/2003/TTLT-BTC-BTNMT ngày 18/12/2003 của liên Bộ Tài chính – Bộ TN&MT hướng dẫn thực hiện Nghị định số số 67/2003/NĐ-

CP ngày 13/06/2003 của Chính phủ phí BVMT đối với nước thải; Thông tư liên tịch

số 106/2007/TTLT/BTC-BTNMT ngày 06/09/2007;

Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 về quản lý chất thải rắn; Thông tư số 13/2007/TT-BXD ngày 31/12/2007 của Bộ Xây dựng hướng dẫn một số

Trang 33

điều của Nghị định số 59/2007/NĐ-CP; Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ về phí BVMT đối với chất thải rắn; Thông tư số 39/2008/TT-BTC ngày 19/05/2008 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 174/2007/NĐ-

CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ về phí BVMT đối với chất thải rắn;

Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/04/2011 của Bộ TN&MT quy định về quản lý chất thải nguy hại;

Thông tư số 07/2007/ TT-BTNMT ngày 03/07/2007 của Bộ TN&MT hướng dẫn phân loại và quyết định danh mục cơ sở gây ô nhiễm môi trường cần phải xử lý Bên cạnh đó, một số địa phương cũng đã ban hành các quyết định về hoạt động quản lý làng nghề tại địa phương:

- Quyết định số 554/QĐ-UBND ngày 27 tháng 01 năm 2011 của UBND thành phố Hà Nội phê duyệt đề án bảo tồn và phát triển nghề, làng nghề Hà Nội giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2020;

- Quyết định số 22/2008/QĐ-UBND ngày 02 tháng 5 năm 2008 của UBND thành phố Hà Nội ban hành “Quy định một số chính sách hỗ trợ phát triển nghề và làng nghề Hà Nội”

Tại Bắc Ninh cũng đã có một số văn bản quy phạm pháp luật bổ sung cho tình hình quản lý môi trường làng nghề như sau:

- Quyết định số 64/2011/QĐ-UBND ngày 23/5/2011 của UBND tỉnh Bắc Ninh về ban hành Quy chế Bảo vệ môi trường làng nghề, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh, quy định chi tiết các điều khoản về BVMT, chức năng nhiệm vụ của tổ chức, tập thể trong việc QLMT làng nghề và CCN

- Quyết định số 1442/QĐ-UBND ngày 16/7/2013 của UBND tỉnh Bắc Ninh

về triển khai thực hiện Đề án tổng thể bảo vệ môi trường làng nghề đến năm 2020

và định hướng đến năm 2030

Những văn bản pháp lý trên chính là cơ sở pháp lý để quản lý hoạt động của các làng nghề từ cấp Trung ương đến địa phương

1.2.3.2 Quản lý môi trường làng nghề tại tỉnh Bắc Ninh

Toàn tỉnh Bắc Ninh hiện có 62 làng nghề trong đó có 30 làng nghề truyền thống, 32 làng nghề mới với những sản phẩm nổi tiếng như gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ,

Trang 34

sắt thép (Đa Hội, Châu Khê), giấy (Phong Khê, Phú Lâm), rượu (Tam Đa, Đại Lâm), tái chế nhôm (Văn Môn) (Cục thống kê, 2014)

Kết quả khảo sát điều tra chất lượng môi trường mới nhất tại các làng nghề Bắc Ninh do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh thực hiện cho thấy, tất cả các mẫu nước mặt, nước ngầm, môi trường không khí tại đây đều có dấu hiệu ô nhiễm với mức độ khác nhau Đất đai bị xói mòn, thoái hóa, chất lượng các nguồn nước suy giảm mạnh

Làng tái chế giấy Phong Khê, thành phố Bắc Ninh, hàng ngày thải ra môi trường khoảng 4.500 - 5.000m3 nước thải chứa lượng độc tố cao gấp nhiều lần tiêu chuẩn cho phép như hàm lượng chất rắn lơ lửng cao hơn từ 4,5 - 11 lần, hàm lượng COD cao hơn từ 8 - 500 lần, hàm lượng Pb cao hơn 5,5 lần

Làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, thị xã Từ Sơn cũng bị ô nhiễm nặng do nồng độ bụi, khí thải, tiếng ồn và nhiệt độ cao từ các xưởng sản xuất và các hoạt động vận tải Theo khảo sát, hàm lượng bụi ở làng nghề này đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 - 3,6 lần, tiếng ồn cao hơn 10 - 20 dBA

Con sông Ngũ Huyện Khê với 24km chảy qua địa phận tỉnh Bắc Ninh đang từng ngày từng giờ bị “bức tử” khi có tới năm làng nghề ven sông (sản xuất đồ gỗ

mỹ nghệ Đồng Kỵ, tái chế sắt thép Đa Hội - Châu Khê, tái chế giấy Phú Lâm và tái chế giấy Phong Khê) thường xuyên đổ các chất thải rắn và nước thải độc hại trực tiếp xuống hai bên bờ sông

Kết quả phân tích cho thấy hầu hết các chỉ tiêu kim loại nặng trong mẫu bùn

ở đáy sông Ngũ Huyện Khê đoạn đi qua làng nghề đều cao hơn so với đoạn trước khu vực làng nghề từ 1-2 lần Ở đoạn sông chảy qua làng nghề sản xuất thép Châu Khê, thị xã Từ Sơn, mức độ ô nhiễm kim loại nặng như sắt tăng 2,1 lần, đồng tăng 1.1 lần Hàm lượng dầu mỡ vượt tiêu chuẩn cho phép từ 6,6 - 8 lần

Diện tích nước mặt, đất canh tác trong các làng nghề đã hoặc đang bị lấp dần bởi chất thải Một số ao nuôi cá đã có hiện tượng cá chết hàng loạt do ô nhiễm từ nguồn nước thải sản xuất

Người lao động trong làng nghề thường xuyên phải làm việc mỗi ngày 10 - 12 giờ trong điều kiện diện tích làm việc chật hẹp, mức ô nhiễm cao, không có trang phục và thiết bị bảo hộ, không có biện pháp phòng chống cháy nổ, mặc dù ở khắp các

Trang 35

làng nghề đều tiềm tàng những nguy cơ gây cháy nổ lò hơi, điện, hóa chất, xăng dầu… Tất cả các yếu tố trên tác động trực tiếp và thường xuyên tới môi trường sống của người lao động và dân cư trong làng nghề Khoảng 60-70% số dân cư trong khu vực mắc các bệnh thần kinh, ngoài da, đường hô hấp, khô mắt, điếc và cả bệnh ung thư đe dọa tính mạng

Nguyên nhân của tình trạng này là do chính quyền địa phương có làng nghề thiếu các chế tài xử phạt các hành vi gây ô nhiễm của các cơ sở sản xuất Đối với các cơ sở nằm trong các khu, cụm công nghiệp bên cạnh làng nghề, chính quyền địa phương không có thẩm quyền tự kiểm tra, xử phạt mà chỉ được phép phối hợp thanh kiểm tra cùng Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh hoặc Ban quản lý cấp huyện Hiện nay, tại một số làng nghề đã thành lập Tổ vệ sinh môi trường nhưng hoạt động không có hiệu quả vì thiếu kinh phí hoạt động Hệ thống thoát nước chung của hầu hết các làng nghề đầu tư không đồng bộ dẫn tới thường xuyên xảy ra hiện tượng ách tắc cục bộ, gây ô nhiễm môi trường làng nghề

Thêm vào đó, ý thức các hộ sản xuất còn rất kém, hầu hết các hộ chỉ chú trọng sản xuất mà không quan tâm đến vấn đề ô nhiễm môi trường Đặc biệt các chủ

cơ sở sản xuất không quan tâm đến việc đầu tư cho việc xử lý chất thải, cải thiện môi trường của cơ sở sản xuất

Để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng, tỉnh Bắc Ninh đã xây dựng Quy chế bảo vệ môi trường làng nghề, trong đó bao gồm nhiều biện pháp “mạnh tay” như cắt điện, ngừng cấp vốn vay đối với các cơ sở gây ô nhiễm môi trường Riêng trong năm 2009 đã có 21 cơ sở tái chế nhựa thuộc xã Đông Phong, huyện Yên Phong bị cắt nguồn cung cấp điện do vi phạm các quy định của Luật bảo vệ môi trường

Ngoài ra, Bắc Ninh cũng thực hiện một số biện pháp khác như triển khai quy hoạch cụm công nghiệp làng nghề Đa Hội, để tập trung tất cả các hộ sản xuất, tái chế sắt thép vào trong cụm công nghiệp, quy hoạch bãi chôn lấp rác thải tập trung,

áp dụng thử nghiệm một số giải pháp như sản xuất sạch, các biện pháp quản lý môi trường, các mô hình xử lý chất thải dạng khí, nước… Tại một số làng nghề, vấn đề bảo vệ môi trường đã được đề cập đến trong hương ước, quy ước làng nghề Các

Trang 36

biện pháp này bước đầu góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại một số cơ sở sản xuất ở làng nghề song khả năng nhân rộng các mô hình còn rất hạn chế

Bắc Ninh cũng khuyến khích công tác xã hội hóa các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình tham gia các hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý, tái sử dụng chất thải đảm bảo yêu cầu vệ sinh môi trường

Tỉnh Bắc Ninh tập trung nguồn lực đầu tư, xử lý dứt điểm một số khu vực ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng tại các làng nghề Phong Khê, Phú Lâm, Châu Khê, đồng thời tăng cường công tác thanh tra, xử lý các tổ chức, cá nhân vi phạm Luật Bảo vệ môi trường; kiên quyết xử lý các cơ sở cố tình vi phạm hay trốn

tránh trách nhiệm xử lý nguồn thải gây hại

Trang 37

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng: Chất lượng môi trường nước tại làng nghề Đa Hội

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Không gian: Đề tài được giới hạn trong phạm vi không gian là tại CCN làng nghề Đa Hội, phường Châu Khê, Thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

+ Thời gian: Đề tài từ tháng 6 năm 2013 đến tháng 3 năm 2015

2.2 Nội dung nghiên cứu:

- Điều tra, thu thập thông tin về các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội làng nghề Đa Hội

- Điều tra, thu thập thông tin về hiện trạng sản xuất và phát sinh chất thải của làng nghề Đa Hội

- Đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường nước tại làng nghề Đa Hội qua các số liệu phân tích chất lượng môi trường nước

- Đề xuất được một số giải pháp khắc phục, giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường nước tại làng nghề Đa Hội

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp

Thu thập thông tin, số liều cần thiết phục vụ cho đề tài nghiên cứu tại Sở tài nguyên & môi trường Bắc Ninh, Trung tâm quan trắc môi trường Bắc Ninh, Ủy ban nhân dân phường Châu Khê, phòng Tài Nguyên và môi trường thị xã Từ Sơn, phòng Công thương thị xã Từ Sơn, thông tin đại chúng, báo đài và internet bao gồm như sau:

- Thu thập thông tin, số liệu về các điều kiên tự nhiên, kinh tế - xã hội của làng nghề sắt thép Đa Hội như Báo cáo thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội,

an ninh quốc phòng 2013, 2014…

- Thu thập thông tin về hiện trạng sản xuất của làng nghề sắt thép Đa Hội

Trang 38

2.3.2 Phương pháp thu thập điều tra số liệu sơ cấp:

Bằng bảng hỏi để điều tra thu thập các thông tin về tình hình sản xuất, các vấn đề môi trường, ý thức bảo vệ môi trường, sức khỏe của người dân chúng tôi đã tiến hành thiết kế các phiếu điều tra để phỏng vấn hộ gia đình tại làng nghề Đa Hội,

cụ thể:

- Địa điểm điều tra:

+ Tại CCN làng nghề Đa Hội

+ Thôn Trịnh Nguyễn, Đa Vạn, Đa Hội

- Số lượng phiếu điều tra:

+ Điều tra các hộ sản xuất tái chế sắt théo là 60 phiếu: Trong CCN làng nghề

Đa Hội được chia làm 3 khu sản xuất tái chế, mỗi khu vực điều tra 20 phiếu

+ Điều tra 30 hộ không sản xuất tại quanh khu vực CCN làng nghề Đa Hội ( Trịnh Nguyễn, Đa Vạn và Đa Hội, mỗi khu vực 10 phiếu) để so sánh đối chiếu với kết quả điều tra của các hộ sản xuất

2.3.3 Phương pháp lấy mẫu, bảo quản và phân tích mẫu:

2.3.3.1 Phương pháp lấy mẫu nước:

* Số lượng và vị trí lấy mẫu:

- Căn cứ để lấy mẫu:

+ Cơ sở (hộ) sản xuất tại CCN làng nghề

+ Dòng chảy của điểm pha chộn

+ Điểm lấy mẫu không bị ảnh hưởng bởi hoạt động sản xuất

- Vị trí lấy mẫu:

Tiến hành quan trắc lấy mẫu nước mặt, nước ngầm, nước thải Trong đó, nước mặt lấy tại 3 vị trí; nước ngầm 2 vị trí và nước thải 4 vị trí Sơ đố hướng dòng chảy và vị trí lấy mẫu được thể hiện ở (Hình 2.1)

Vị trí lấy mẫu và ký hiệu các mẫu nước được trình bày trong Bảng 2.1

Trang 39

Bảng 2.1: Vị trí và ký hiệu các mẫu nước tại làng nghề sắt thép Đa Hội

Nước mặt

1 NM-1 Trước điểm hòa trộn giữa nước thải CCN làng nghề với

nước sông Ngũ Huyện Khê

2 NM-2 Sau điểm hòa trộn giữa nước thải CCN làng nghề với nước

sông Ngũ Huyện Khê, phía dưới cầu Song Tháp

3 NM-3 Ao làng Đa Hội, ngăn cách với CCN làng nghề là con sông

Ngũ Huyện Khê

Nước ngầm

4 NN1 Mẫu nước giếng tại CCN làng nghề Đa Hội (Độ sâu 60 m)

5 NN2 Mẫu nước giếng khoan trạm y tế phường Châu Khê, cách

CCN 35m ( Độ sâu 60 m)

Nước thải

6 NT1 Cơ sở sản xuất thép Xuân Cậy

7 NT2 Cơ sản xuất thép Bách Lương

8 NT3 Cơ sở sản xuất thép Chuyền Hương

Trang 40

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 31

Hình 2.1: Sơ đồ hệ thống lấy mẫu quan trắc

Ngày đăng: 19/09/2015, 10:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Ngô Trà Mai (2008), Nghiên cứu, xác lập cơ sở khoa học cho quy hoạch bảo vệ môi trường một số làng nghề tỉnh Hà Tây, Luận án TS, Đại học Khoa học Tự nhiên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu, xác lập cơ sở khoa học cho quy hoạch bảo vệ môi trường một số làng nghề tỉnh Hà Tây
Tác giả: Ngô Trà Mai
Năm: 2008
12. Dương Bá Phương (2001), Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa
Tác giả: Dương Bá Phương
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2001
13. Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh (2010), Báo cáo hiện trạng môi trường năm 2010, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hiện trạng môi trường năm 2010
Tác giả: Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh
Năm: 2010
14. Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh (2011), Báo cáo hiện trạng môi trường năm 2011, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hiện trạng môi trường năm 2011
Tác giả: Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh
Nhà XB: Bắc Ninh
Năm: 2011
15. Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh (2012), Báo cáo hiện trạng môi trường năm 2012, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hiện trạng môi trường năm 2012
Tác giả: Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh
Năm: 2012
16. Hồ Thị Lam Trà (2006), Sự tích luỹ kim loại nặng trong đất nông nghiệp và nước ngầm ở xã Đại Đồng huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tích luỹ kim loại nặng trong đất nông nghiệp và nước ngầm ở xã Đại Đồng huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên
Tác giả: Hồ Thị Lam Trà
Năm: 2006
19. Nguyễn Thị Hồng Tú, Nguyễn Thị Liên Hương, Lê Vân Trình (2005), Những vấn đề về sức khỏe và an toàn trong các làng nghề Việt Nam, NXB Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề về sức khỏe và an toàn trong các làng nghề Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Tú, Nguyễn Thị Liên Hương, Lê Vân Trình
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2005
20. Nguyễn Thị Cẩm Vân (2013): Đánh giá hiện trạng môi trường nước và không khí tại làng nghề tái chế sắt thép Châu Khê, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh và đề xuất các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tr.15-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiện trạng môi trường nước và không khí tại làng nghề tái chế sắt thép Châu Khê, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh và đề xuất các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường
Tác giả: Nguyễn Thị Cẩm Vân
Năm: 2013
21. Trần Quốc Vượng (2000) Các giải pháp phát triển làng nghề Việt Nam thời hội nhập, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp phát triển làng nghề Việt Nam thời hội nhập
Tác giả: Trần Quốc Vượng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
24. Trần Minh Yến (2003), Phát triển làng nghề truyền thống ở nông thôn Việt Nam trong quá trình CNH - HĐH, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Viện Kinh tế học.Trang web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển làng nghề truyền thống ở nông thôn Việt Nam trong quá trình CNH - HĐH
Tác giả: Trần Minh Yến
Nhà XB: Viện Kinh tế học
Năm: 2003
30. Vo Van Duc, 2000, Craft villages in the context of Rural Industrialization and Modernnization in Vietnam, Vietnam economic Review Sách, tạp chí
Tiêu đề: Craft villages in the context of Rural Industrialization and Modernnization in Vietnam
Tác giả: Vo Van Duc
Nhà XB: Vietnam economic Review
Năm: 2000
32. Vu Hoang Nam, 2008, The role of human capital and social capital in the transportation of village – based industrial cluster: evidence from Northern Vietnam, NXB Tokyo Sách, tạp chí
Tiêu đề: The role of human capital and social capital in the transportation of village – based industrial cluster: evidence from Northern Vietnam
Tác giả: Vu Hoang Nam
Nhà XB: NXB Tokyo
Năm: 2008
33. Sylvie Fanchette, Nicholas Stedman, 2009, Discovering craft villages in Sách, tạp chí
Tiêu đề: Discovering craft villages in
Tác giả: Sylvie Fanchette, Nicholas Stedman
Năm: 2009
34. United States environmental Protection Agency (1994), “Environmental planning for small communities” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Environmental planning for small communities
Tác giả: United States environmental Protection Agency
Năm: 1994
35. Viet Nam agricultural science institute (2010), “Assessing participatory rural environmetal management in the craft village”, Ha Noi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Assessing participatory rural environmental management in the craft village
Tác giả: Viet Nam agricultural science institute
Nhà XB: Ha Noi
Năm: 2010
38. World Bank, 2012, Greening Industry: New roles for communities Market and Goverments Sách, tạp chí
Tiêu đề: Greening Industry: New roles for communities Market and Goverments
Tác giả: World Bank
Năm: 2012
25. Bộ tài nguyên và môi trường Việt Nam http://www,monre,gov,vn/v35/default,aspx?tabid=414 26. Cục quản lý tài nguyên nước Việt Namhttp://dwrm,gov,vn/ Link
18. Tổng cục môi trường (2008), Báo cáo môi trường quốc gia 2008 Khác
23. Đặng Ngọc Vinh (2009), Vấn đề phát triển công nghiệp nông thôn nước ta,nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
36. Vietnam Association of craft villages, 7/4/2007, Craft villages look to the future Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1.  Phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất - đánh giá ảnh hưởng của hoạt động làng nghề đa hội, phường châu khê, thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh đến chất lượng nước
Hình 1.1. Phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất (Trang 14)
Hình 1.2: Hiện trạng phân bố làng nghề nước ta - đánh giá ảnh hưởng của hoạt động làng nghề đa hội, phường châu khê, thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh đến chất lượng nước
Hình 1.2 Hiện trạng phân bố làng nghề nước ta (Trang 18)
Bảng 1.1: Hàm lượng một số kim loại nặng trong đất nông nghiệp - đánh giá ảnh hưởng của hoạt động làng nghề đa hội, phường châu khê, thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh đến chất lượng nước
Bảng 1.1 Hàm lượng một số kim loại nặng trong đất nông nghiệp (Trang 24)
Hình 1.2: So sánh hàm lượng trung bình của các KLN tổng số và linh động trong - đánh giá ảnh hưởng của hoạt động làng nghề đa hội, phường châu khê, thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh đến chất lượng nước
Hình 1.2 So sánh hàm lượng trung bình của các KLN tổng số và linh động trong (Trang 29)
Hình 2.1: Sơ đồ hệ thống lấy mẫu quan trắc - đánh giá ảnh hưởng của hoạt động làng nghề đa hội, phường châu khê, thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh đến chất lượng nước
Hình 2.1 Sơ đồ hệ thống lấy mẫu quan trắc (Trang 40)
Hình 3.3: Biểu đồ tình hình sản xuất sắt thép qua các năm - đánh giá ảnh hưởng của hoạt động làng nghề đa hội, phường châu khê, thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh đến chất lượng nước
Hình 3.3 Biểu đồ tình hình sản xuất sắt thép qua các năm (Trang 50)
Bảng 3.5: Tình hình sử dụng nguyên, nhiên liệu của các cơ sở sản xuất tại làng nghề Đa Hội năm 2014 - đánh giá ảnh hưởng của hoạt động làng nghề đa hội, phường châu khê, thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh đến chất lượng nước
Bảng 3.5 Tình hình sử dụng nguyên, nhiên liệu của các cơ sở sản xuất tại làng nghề Đa Hội năm 2014 (Trang 53)
Hình 3.4: Quy trình tái chế sắt phế liệu và nguồn thải - đánh giá ảnh hưởng của hoạt động làng nghề đa hội, phường châu khê, thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh đến chất lượng nước
Hình 3.4 Quy trình tái chế sắt phế liệu và nguồn thải (Trang 57)
Hình 3.6: Biến động thông số BOD, COD, TSS trong nước mặt tại làng - đánh giá ảnh hưởng của hoạt động làng nghề đa hội, phường châu khê, thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh đến chất lượng nước
Hình 3.6 Biến động thông số BOD, COD, TSS trong nước mặt tại làng (Trang 69)
Bảng 3.11: Kết quả quan trắc tại vị trí NT1 và NT2 - đánh giá ảnh hưởng của hoạt động làng nghề đa hội, phường châu khê, thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh đến chất lượng nước
Bảng 3.11 Kết quả quan trắc tại vị trí NT1 và NT2 (Trang 72)
Bảng 3.12: Kết quả quan trắc tại vị trí NT3 và NT4 - đánh giá ảnh hưởng của hoạt động làng nghề đa hội, phường châu khê, thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh đến chất lượng nước
Bảng 3.12 Kết quả quan trắc tại vị trí NT3 và NT4 (Trang 73)
Hình 3.8: Diễn biến nồng độ các thông số BOD, COD,TSS,Fe trong nước thải - đánh giá ảnh hưởng của hoạt động làng nghề đa hội, phường châu khê, thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh đến chất lượng nước
Hình 3.8 Diễn biến nồng độ các thông số BOD, COD,TSS,Fe trong nước thải (Trang 74)
Bảng 3.13: Kết quả quan trắc chất lượng nước ngầm theo thời gian của làng nghề Đa Hội - đánh giá ảnh hưởng của hoạt động làng nghề đa hội, phường châu khê, thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh đến chất lượng nước
Bảng 3.13 Kết quả quan trắc chất lượng nước ngầm theo thời gian của làng nghề Đa Hội (Trang 75)
Hình 3.9: Diễn biến nồng độ COD và Fe theo thời gian trong nước ngầm - đánh giá ảnh hưởng của hoạt động làng nghề đa hội, phường châu khê, thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh đến chất lượng nước
Hình 3.9 Diễn biến nồng độ COD và Fe theo thời gian trong nước ngầm (Trang 76)
Hình 3.10: Tỷ lệ mắc bệnh giữa các hộ tại làng nghề Đa Hội - đánh giá ảnh hưởng của hoạt động làng nghề đa hội, phường châu khê, thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh đến chất lượng nước
Hình 3.10 Tỷ lệ mắc bệnh giữa các hộ tại làng nghề Đa Hội (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w