1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

điều tra, nghiên cứu bệnh đốm đen hoa hồng (marssonina rosae) và biện pháp phòng trừ năm 2014

75 1,6K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 5,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18 2.2 Địa điểm, thời gian tiến hành nghiên cứu 18 2.5.1 Phương pháp điều tra tình hình canh tác cây hoa hồng và Tình hình sử 2.5.3 Điều tra

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

- -

NGUYỄN THANH LỢI

ĐIỀU TRA, NGHIÊN CỨU BỆNH ĐỐM ĐEN HOA HỒNG

(MARSSONINA ROSAE) VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

NĂM 2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, NĂM 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THANH LỢI

ĐIỀU TRA, NGHIÊN CỨU BỆNH ĐỐM ĐEN HOA HỒNG

(MARSSONINA ROSAE) VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng:

Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào khác

Mọi sự giúp đỡ cho công việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn

và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Thanh Lợi

Trang 4

và hoàn chỉnh luận văn này

Tập thể các thầy cô giáo bộ môn Bệnh cây, Khoa Nông học, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam, luôn giúp đỡ và có những góp ý sâu sắc trong thời gian tôi học tập và thực hiện đề tài

Bà con nông dân, nơi tôi tiến hành các thí nghiệm, nghiên cứu khoa học

đã luôn nhiệt tình giúp đỡ tôi

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, người thân và gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tác giả luận văn

Nguyễn Thanh Lợi

Trang 5

1.1.1 Bệnh đốm đen hoa (Marssonina rosae) 4

1.1.2 Bệnh phấn trắng (Sphaerotheca pannosa) 6

1.1.3 Bệnh gỉ sắt (Phragmidium mucronatum) 7

1.1.4 Bệnh thán thư (Colletotrichum rosae) 7

1.1.6 Bệnh thối xám (Botrytis cinerea Pers.) 9

1.2.1 Bệnh đốm đen hoa hồng (Marssonina rosae) 11

1.2.2 Bệnh gỉ sắt (Phragmidium mucronatum) 13

1.2.4 Bệnh phấn trắng hoa hồng (Sphaerotheca pannosa var rosae) 15

Trang 6

Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

2.2 Địa điểm, thời gian tiến hành nghiên cứu 18

2.5.1 Phương pháp điều tra tình hình canh tác cây hoa hồng và Tình hình sử

2.5.3 Điều tra ảnh hưởng của một số yếu tố canh tác đến sự phát sinh phát

triển của bệnh đốm đen hoa hồng trên đồng ruộng 19

3.1 Tình hình canh tác, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và thành phần bệnh

3.1.2 Tình hình sử dụng thuốc BVTV trên cây hoa hồng 27 3.1.3 Thành phần bệnh hại trên cây hoa hồng 30

3.1.4 Tần xuất bắt gặp nấm Marssonina rosae 34 3.2 Ảnh hưởng một số yếu tố tới sự phát sinh gây hại của bệnh đốm đen

3.2.1 Sự phân bố của bệnh đốm đen trên cây hoa hồng 36 3.2.2 Ảnh hưởng của mùa vụ tới diễn biến gây hại của bệnh đốm đen hại

3.2.3 Ảnh hưởng của vùng trồng hoa tới diễn biến gây hại của bệnh đốm

3.2.4 Ảnh hưởng của giống hoa hồng tới diễn biến gây hại bệnh đốm đen

tại Mê Linh và Tây Tựu, Hà Nội vụ xuân hè 2014 40

Trang 7

3.2.5 Ảnh hưởng của nền đất canh tác đến bệnh đốm đen hoa hồng 42 3.2.6 Ảnh hưởng của nền đất chuyên canh hoa và nền đất mới trồng đến

bệnh đốm đen hại hoa hồng tại Mê Linh, Hà Nôi vụ thu đông 2014 45 3.2.7 Ảnh hưởng của việc cắt tỉa lá, cành bị bệnh và làm cỏ đến bệnh đốm

3.2.8 Ảnh hưởng của phương pháp tưới đến bệnh đốm đen hoa hồng 48 3.2.9 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân đạm đến bệnh đốm đen hoa hồng 49 3.3 Biện pháp hóa học phòng trừ bệnh đốm đen hoa hồng 50 3.3.1 Hiệu lực trừ bệnh của một số thuốc hóa học 50 3.3.2 So sánh hiệu quả của phun thuốc Antracol 70WP với việc phòng trừ nấm

bệnh theo tập quán của nông dân tại xã Mê Linh, Mê Linh, Hà Nội 52

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Tình hình canh tác trên cây hoa hồng vụ xuân hè 2014 tại

Bảng 3.2 Tình hình sử dụng thuốc BVTV trên hoa hồng vụ xuân hè

Bảng 3.3 Thành phần bệnh nấm hại hoa hồng ở Hà Nội và phụ cận,

Bảng 3.4 Tần xuất bắt gặp nấm Marssonina rosa hại trên cây hoa

Bảng 3.5 Sự phân bố của bệnh đốm đen trên cây hoa hồng 36 Bảng 3.6 Ảnh hưởng của mùa vụ tới bệnh đốm đen trên giống hồng

đỏ Pháp tại Mê Linh, Hà Nội, năm 2014 38 Bảng 3.7 Ảnh hưởng của vùng trồng hoa tới bệnh đốm đen hại trên

giống hồng đỏ Pháp vụ Xuân Hè 2014 39 Bảng 3.8 Ảnh hưởng của giống hoa hồng tới diễn biến gây hại bệnh

đốm đen tại Mê Linh, Hà Nội vụ xuân hè 2014 40 Bảng 3.9 Ảnh hưởng của giống hoa hồng tới diễn biến gây hại bệnh

đốm đen tại Tây Tựu, Hà Nội vụ xuân hè 2014 41 Bảng 3.10 Ảnh hưởng của nền đất canh tác đến bệnh đốm đen hoa

hồng tại Mê Linh, Hà Nội vụ xuân hè 2014 43 Bảng 3.11 Ảnh hưởng của nền đất canh tác đến bệnh đốm đen hoa

hồng tại Mê Linh, Hà Nội vụ thu đông 2014 44 Bảng 3.12 Ảnh hưởng của nền đất chuyên canh hoa và nền đất mới

trồng hoa đến bệnh đốm đen tại Mê Linh, Hà Nội vụ thu

Bảng 3.13 Ảnh hưởng của việc cắt tỉa lá, cành bị bệnh và làm cỏ đến

bệnh đốm đen hoa hồng tại Mê Linh, Hà Nội 47

Trang 9

Bảng 3.14 Ảnh hưởng của phương pháp tưới đến bệnh đốm đen hoa

Bảng 3.15 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân đạm đến bệnh đốm

đen hoa hồng tại Mê Linh, Hà Nội vụ xuân hè 2014 49 Bảng 3.16 Hiệu lực phòng trừ bệnh đốm đen hoa hồng bằng thuốc hóa

Bảng 3.17 So sánh hiệu quả phòng trừ bệnh nấm hại hoa hồng giữa

thuốc Antracol 70WP với thuốc Carbenzim 500FL 52

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Hà Nội, là trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế lớn, nhu cầu của người dân về tất cả các lĩnh vực vui chơi, giải trí, học tập đều rất lớn trong đó có nhu cầu sử dụng hoa trong đời sống hàng ngày Cũng chính vì thế, xung quang trung tâm Hà Nội có nhiều vùng trồng hoa lớn để đáp ứng một phần nhu cầu này Trong các vùng trồng hoa lớn đó có Mê Linh và Tây Tựu thuộc

Hà Nội Theo Nguyễn Xuân Linh (1997), diện tích trồng hoa ở các vùng này

có thể chiếm từ 70-80% Cây hoa là một sản phẩm đặc biệt, vừa có giá trị

kinh tế cao, vừa có giá trị lớn về tinh thần Hoa đóng góp vai trò quan trọng trong đời sống con người Hiện nay, đời sống vật chất của con người ngày càng được nâng cao, đời sống tinh thần cũng được cải thiện đáng kể, do vậy nhu cầu về hoa ngày càng tăng Theo thống kê của Tổ chức thương mại thế giới ( WTO) tổng giá trị hoa tiêu thụ trên thế giới đã tăng lên rất nhanh, từ năm 1991 là 100 tỷ USD đến năm 2000 xấp xỉ 200 tỷ USD, trong đó hoa cắt đạt 60%

Việt Nam có nghề trồng hoa từ rất lâu đời, có vị trí địa lý nằm trong vùng nhiệt đới ẩm thuận lợi cho sự sinh trưởng, phát triển của nhiều loại hoa Trồng hoa góp phần đa dạng hóa cây trồng, nâng cao thu nhập cho người nông dân vùng nông thôn, đặc biệt là những người dân trồng hoa ở vùng ngoại vi các thành phố

Theo Nguyễn Xuân Linh (1997), vào giai đoạn hiện nay, xu hướng của người trồng hoa là sản xuất hoa cắt Hoa hồng là một trong những loại hoa phổ biến trên thế giới và được trồng rộng rãi ở hầu hết các nước như Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Đức, Pháp, Hà Lan Ở Việt Nam hoa hồng được trồng từ rất lâu đời và được sử dụng rất nhiều trong đời sống

Hiện nay, có nhiều nguyên nhân làm ảnh hưởng tới sự phát triển, mở

Trang 12

rộng và tăng năng suất của cây hoa hồng như cơ sở hạ tầng, khí hậu thời tiết, đất đai, giống, chế độ phân bón, tưới nước Trong đó bệnh hại là một những nguyên nhân gây tổn thất đáng kể Theo Lê Lương Tề và CTV (2007), bệnh hại làm giảm đáng kể năng suất, chất lượng sản phẩm hoa, là điều băn khoăn trăn trở của nghề trồng hoa nói chung và hoa hồng nói riêng Bên cạnh đó việc nghiên cứu tình hình bệnh hại trên hoa hồng ở nước ta chưa thực sự được quan tâm Để tạo điều kiện cho cây hoa hồng sinh trưởng, phát triển thuân lợi nhằm tăng năng suất, sản lượng và chất lượng, đặc biệt đối với hoa xuất khẩu trước hết cần xác định rõ thành phần bệnh hại trên hoa hồng Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của thực tế sản xuất, để góp phần giải quyết những vấn đề trên, chúng tôi đã tiền hành nghiên cứu đề tài:

“ Điều tra, nghiên cứu bệnh đốm đen hoa hồng (Marssonina rosae) và biện pháp phòng trừ năm 2014”

Trang 13

2 Mục đích, yêu cầu

2.1 Mục đích

Xác định thành phần bệnh nấm hại hoa hồng và ảnh hưởng của một số yếu tố như giống, thời vụ, tới sự phát sinh gây hại của bệnh đốm đen hại hoa hồng và biện pháp phòng trừ bệnh đốm đen hoa hồng

2.2 Yêu cầu

Điều tra thành phần, mức độ phổ biến bệnh nấm hại hoa hồng

Xác định ảnh hưởng của một số yếu tố canh tác, giống, phân bón, thời vụ đến bệnh đốm đen hại cây hoa hồng

Khảo sát khả năng phòng trừ bệnh đốm đen bằng thuốc hóa học trong điều kiện đồng ruộng

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

3.1 Ý nghĩa khoa học

Đề tài sẽ cung cấp thông tin chính xác về thành phần bệnh nấm hại cũng như biện pháp phòng trừ các bệnh đốm đen trên hoa hồng tại Hà Nội

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Hoa hồng là một trong các cây hoa trồng phổ biến tại nhiều vùng của

cả nước nói chung và Hà Nội nói riêng Cây hoa hồng bị nhiều bệnh hại tấn công như bệnh gỉ sắt, bệnh đốm đen Tuy nhiên, hiện nay có rất ít thông tin

về nguyên nhân cũng như biện pháp phòng trừ bệnh

Việc xác định chính xác tác nhân gây bệnh và thử nghiệm biện pháp phòng trừ sẽ cung cấp thông tin khoa học giúp nông dân trồng hoa, ít nhất tại địa bàn tỉnh Hà Nội có thể áp dụng hiệu quả biện pháp phòng chống bệnh hại hoa hồng

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Cây hoa hồng (Rosa sp.) thuộc họ hoa hồng (Rosaceae) có xuất xứ ở

vùng ôn đới và á nhiệt đới vùng Bắc bán cầu (Trương Hữu Tuyên, 1979) Nhiều tác giả cho rằng hoa hồng được trồng đầu tiên ở vùng Tiểu á và Trung Quốc sau đó du nhập qua Hà Lan, Pháp ,Đức, Bungari và một số nước khác

Ở Việt Nam hoa hồng được trồng ở khắp cả ba miền đất nước Nước ta có khí hậu ôn hòa, nhiệt độ thích hợp cho hoa hồng sinh trưởng thường từ 18-25oC,

độ ẩm đất từ 60-70%, độ ẩm không khí từ 80-85% Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng từ 1500-2000 mm rất thuận lợi cho cây hoa hồng phát triển

Về vấn đề bệnh hại, một số tác giả cho rằng, nhiều loại bệnh nguy hiểm phá hại nặng trên các giống hồng mới nhập nội vào nước ta Bệnh làm ảnh hưởng đến năng suất, phẩm chất và sinh trưởng của cây Theo Huỳnh Văn Thới (1997), cây bị hại nặng bởi các bệnh như phấn trắng, đốm đen, gỉ sắt, mụn vỏ thân cành, bệnh thối cành; ngoài ra cây hoa hồng còn bị tuyến trùng gây hại tạo u sưng trên rễ

1.1.1 Bệnh đốm đen hoa (Marssonina rosae)

Theo Trần Văn Mão và CTV (2001), bệnh đốm đen hoa hồng phổ biến

và gây hại nghiêm trọng ở nhiều nước , tỷ lệ bệnh có thể tới 100% Bệnh làm

lá rụng sớm, lá rụng hoàn toàn

Theo Vũ Triệu Mân và CTV (2007), bệnh do nấm Actinonema rosae

Fr gây ra, giai đoạn hữu tính là nấm Diplocarpon rosae Wolf Đĩa cành hình

thành dưới lớp biểu bì của lá, sợi nấm qua đông trong các cành cây khô, lá rụng và sang năm lại lây nhiễm Đầu tiên nấm xâm nhiễm vào các lá già rồi lan lên các lá non, ở điều kiện thuận lợi chỉ 3-6 ngày đã xuất hiện triệu chứng bệnh

Trang 15

Cây bị bệnh thường sau 8-32 ngày lá rụng Nhiệt độ càng cao lá rụng càng sớm Bệnh đốm đen có thể phát sinh, phát triển quanh năm, nhưng hại nặng nhất từ tháng 9 đến tháng 11 Biện pháp phòng trừ là cần phải kịp thời tỉa cành, tránh để cành cây quá dài, tăng cường bón phân bón hữu cơ và phân đạm hợp lý để tắng sức đề kháng cho cây Về mùa đông, nên cắt bỏ các cành bệnh, thu dọn sạch lá rụng dọn sạch cành lá rụng Nên áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp như dọn sạch sẽ cành lá bệnh, tiêu diệt nguồn nấm bệnh trong đất bằng cách khử trùng đất đất bằng dung dịch đồng sulfat 1 %, thuốc tím 0,5% phun lên mặt đất hoặc dùng mùn cưa, tro bếp phủ lên mặt đất (dầy khoảng 8 mm) Khi yỷ lệ bệnh còn thấp dưới 10% phun Daconil 0,1%

Theo nghiên cứu của Dương Công Kiên (1999) cho rằng đây là bệnh khó trị, bệnh lây lan rộng và nhanh trong điều kiện ẩm ướt sau các trận mưa

vào mùa thu Nguyên nhân lây lan bệnh là do nấm Massonina rosae gây ra

Nhiệt độ thích hợp nhất để nấm phát triển là từ 22-26cC, ẩm độ lớn hơn 85% Biện pháp phòng trừ thích hợp là nên làm vệ sinh vườn thường xuyên, tránh đọng nước trên lá và nên tưới cây vào buổi sáng có nắng, cần thiêu hủy sạch các lá bệnh, lá già sát mặt đất đồng thời kết hợp sử dụng bổ sung các giống hoa hồng chống chịu bệnh Đối với thuốc hóa học, có thể phun định kỳ một tuần một lần với các loại thuốc như Anvil, Benomyl, Topsin M… rất có hiệu quả phòng trừ

Theo tác giả Nguyễn Xuân Linh và CTV (2000), bệnh đốm đen thường phá hoại trên các lá bánh tẻ, các vết bệnh xuất hiện ở hai mặt lá, bệnh làm lá biến vàng, rung hàng loạt Đây là một trong những bệnh chủ yếu hại hoa hồng, hại nặng trên giống hồng vùng Đà Lạt Các thuốc hóa học phòng trừ đặc hiệu là Score 250ND, Zineb 80WP với liều lượng 30-50g/10lít hoặc Antracol 70 BHN để phòng trừ với liều lượng 1,5 – 2 kg/ha Ngoài ra, các biện pháp khác cần phải thường xuyên triển khai như làm vườn hồng thông

Trang 16

thoáng, tránh để vườn ngập úng, sớm cắt bỏ cành lá bị bệnh, thường xuyên dọn sạch cỏ và thu dọn tàn dư gây bệnh

1.1.2 Bệnh phấn trắng (Sphaerotheca pannosa)

Theo Trần Văn Mão và CTV (2001) , bệnh phấn trắng là bệnh phá hại phổ biến trên các vườn hồng Bệnh hại lá, thân và cành non và nụ hoa Tỷ lệ cây nhiễm bệnh chiếm tới 50-70%, ảnh hưởng tới sự ra hoa của cây Nguyên

nhân là do nấm Oidium sp… Bệnh phát sinh vào cuối mùa đông và ngừng

phát triển vào cuối tháng 5, hại nặng vào tháng 3 ,tháng 4 Nhiệt độ thích hợp bào tử nấm nảy mầm xâm nhập là từ 17-25oC, trong điều kiện khô hạn hoặc

ẩm ướt bệnh đều có thể phát triển được Để phòng trừ bệnh cần chú ý chăm sóc tốt, thường xuyên tỉa cành, vườn thoáng gió, đủ ánh sáng, tốt nhất mỗi ngày đều có ánh sáng mặt trời chiếu trong vài giời Trong thời kỳ bị bệnh nên bón nhiều phân và Kali để tăng sức đề kháng cho cây, tránh bón nhiều đạm Khuyến cáo nên sử dụng hợp chất lưu huỳnh vôi 0.3O bome theo định kỳ có tác dụng tốt trong việc phòng trừ bệnh phấn trắng Theo Nguyễn Huy Trí và CTV (1994) ở nước ta hiện nay cây hoa hồng vụ xuân thường bị bệnh gây hại nặng Nấm làm lá mất diện tích quang hợp, thâm rụt lại, lá biến dạng, hoa không nở được dẫn tới ảnh hưởng năng suất và phẩm chất hoa

Theo Nguyễn Xuân Linh và CTV (2000) nguyên nhân gây bệnh là do

nấm Sphaerotheca pannosa var rosae (S pannosa) gây ra Trong các giống

hoa hồng bệnh thường phá hại nặng trên giống Đà Lạt Theo các tác giả nên

sử dụng thuốc Score 250 ND, Anvil 5SC, Bayfidan 250 EC đạt hiệu quả cao trong việc phòng chống bệnh

Dương Công Kiên (1999) cho rằng nguyên nhân gây bệnh phấn trắng

hoa hồng là do nấm Peronospora sparsa Nấm phát triển tốt nhất ở nhiệt độ

18OC , ẩm độ 85%, nếu nhiệt độ lên cao tới 27OC nấm sẽ chết sau 24 giờ Sử dụng phun Kasuran, Derosal, Ridomil rất có hiệu quả, cần kết hợp với biện pháp cắt tỉa, đốt huỷ cành lá bị bệnh, bón thêm kali cho cây

Trang 17

1.1.3 Bệnh gỉ sắt (Phragmidium mucronatum)

Theo Trần Văn Mão và CTV (200l), bệnh gỉ sắt phân bố rộng ở nước

ta, làm lá rụng sớm ảnh hưởng đến sự ra hoa và phẩm chất của hoa Ngoài ra bệnh còn gây hại trên cành non, hoa và quả Vào mùa đông biểu hiện triệu chứng bằng những chấm đen nhỏ, đó là ổ đông bào tử của nấm gỉ sắt Sợi nấm hoặc đông bào tử qua đông trên chồi, cành bệnh, tới mùa xuân năm sau bào tử đông hình thành bào tử đảm sau đó hình thành bào tử xuân, rồi hình thành bào tử hạ, bào tử hạ tái xâm nhiễm nhiều lần trên đồng ruộng Bào tử đông nảy mầm ở nhiệt độ 6-25OC, bào tử hạ nảy mầm ở nhiệt độ 9-27OC, gặp thời tiết ấm áp, mưa nhiều bệnh thường phá hại nặng Theo các tác giả trên,

nguyên nhân gây bệnh là do nấm Phragmidium rosae- multiflorae Diet Để

phòng trừ bệnh gỉ sắt cần áp dụng các biện pháp chăm sóc, tỉa bỏ cành lá bệnh kết hợp với phun thuốc Sodium -p- aminobenzen sulffonate hoặc hợp chất lưu huỳnh vôi 0,3Obome, ngoài ra cần bón thêm phân Ca, K, Mg, P với liều lượng hợp lý tăng khả năng chống chịu bệnh cho cây

Tác giả Nguyễn Xuân Linh và CTV (2000) cho rằng nguyên nhân gây

ra bệnh là do nấm Phragnidium mucronatum Để phòng trừ tốt nên loại bỏ tàn

dư cây bệnh và cỏ dại kết hợp với việc phun thuốc Score 250 ND, Anvil 5SC

Dương Công Kiên (1999) cũng cho rằng nguyên nhân gây bệnh gỉ sắt là do

nấm P mucronatum Nhiệt độ thích hợp cho nấm phát triển từ 18-21oC Để phòng trừ bệnh nên thu dọn, đốt sạch tàn dư cây bệnh, tưới nước vừa phải và kết hợp phun thuốc Plantvax, Bavistin, Zineb, Topsin M để phòng trừ cho cây

1.1.4 Bệnh thán thư (Colletotrichum rosae)

Theo Nguyễn Xuân Linh và CTV (2000) nguyên nhân gây bệnh là do

nấm Collettotrichum rosae gây ra Bệnh gây hại trên các lá bánh tẻ, lá già,

bệnh nặng lan lên ngọn, điều kiện ẩm ướt bệnh lây lan rộng nên dùng thuốc Topsin M 70ND với liều lượng 5- 10g/8 lít nước để phòng trừ bệnh

Trang 18

Theo Dương Công Kiên (1999) nguyên nhân gây bệnh thán thư hoa

hồng là do nấm Sphaceloma rosarum (Pass) (Elsinoe rosarum) Bệnh thường

phá hại trên lá hồng dại, khi bệnh nặng các mô lá bệnh khô chết làm rách lá Bệnh có thể hại cả thân, cành làm cành yếu dễ gãy Bệnh có thể hại cả trên hoa và đài hoa Bệnh lây lan mạnh vào mùa xuân khi có nhiệt độ thấp và ẩm

độ cao Bào tử nấm lây lan nhờ nước tưới và côn trùng Về biện pháp phòng trừ khi bệnh xuất hiện phải giảm lượng nước tưới, tránh đọng nước trên lá, cần phải thu dọn tàn dư cây trồng đồng thời có thể phun định kỳ 1-2 tuần một lần một trong những thuốc Antracol, Score, Carbenzim để phòng trừ bệnh

1.1.5 Bệnh đốm lá (Cercospora puderi)

Nguyên nhân gây bệnh do nấm Cercospora puderi Davis (C puderi)

theo Trần Văn Mão và CTV(2000) Bào tử nấm hình ống dài hay hình đuôi chuột, không màu đến nâu nhạt Sợi nấm qua đông trong lá bệnh hoặc trong tàn dư cây bệnh, đến mùa xuân năm sau sợi nấm bắt đầu lây lan xâm nhiễm trên các lá mới Bệnh xuất hiện từ tháng 3 đến tháng 10 khi có ẩm độ cao trên vết đốm thường có một lớp mốc xám đen Theo tác giả để phòng trừ bệnh có thể phun thuốc Daconil 0,2% hoặc Bavitis 0,2% kết hợp với việc thu dọn tàn

dư cây bệnh trong vườn sẽ đạt hiệu quả cao

Dương Công Kiên (1999) cũng cho rằng nguyên nhân gây bệnh là do

nấm C puderi B.H.Davis Vết bệnh có đường kính khoảng 5 mm, xung quanh

vết bệnh có viền nâu đỏ, trung tâm vết có màu nâu xám Nấm gây hại chủ yếu trên mặt lá ở những vườn hồng rậm rạp, vì vậy viêc cắt tỉa cành lá thường xuyên có thể hạn chế được bệnh Biện pháp phòng trừ bằng thuốc hóa học có hiệu quả khi sử dụng các loại thuốc trừ bệnh như Score 250ND, Carbendazim Ngoài ra trên cây hoa hồng bệnh đốm lá còn nhiều nguyên

nhân khác gây nên như nấm Alternania alternate hoặc do nấm Colletotrichum

capsici (Syd) Butt và Bisby

Trang 19

Nguyễn Xuân Linh và CTV (2000) cho rằng nguyên nhân gây bệnh là

do nấm C rosae Bệnh hại chủ yếu trên lá bánh tẻ, lá già, bệnh nặng có thể

làm cho lá chóng rụng, có thể phòng trừ bệnh bằng thuốc Topsin M- 70ND và

Score 250ND Trên cây hoa hồng còn có bệnh cháy mép lá do nấm Pestalozia sp.(P sp.) gây ra và có thể phòng trừ bệnh này bằng thuốc Daconil 75WP pha

ở nồng độ 0,20% hoặc Roval 50WP pha ở nồng độ 0,15% Bên cạnh cây hồng còn bị các bệnh hại khác do vi khuẩn, virus gây ra

Ngoài ra theo Trần Văn Mão và CTV (2001) trên cây hoa hồng còn có

bệnh khô lá (nguyên nhân do nấm Phyllosticta sp.) Bệnh thường phát sinh từ

tháng 6 đến tháng 9, nhiệt độ càng cao, bệnh càng nặng

1.1.6 Bệnh thối xám (Botrytis cinerea Pers.)

Theo Trần Văn Mão và CTV (2001) bệnh gây hại nặng vào mùa xuân khi tiết trời có nhiều mưa phùn, bệnh hại cả nụ hoa, tràng hoa và lá non, bệnh nặng làm hoa khô và lá rụng Để phòng trừ bệnh, theo một số tác giả nên sử dụng dung dịch Boocdo 1% hoặc Zineb 0,2% phun theo định kỳ 7 ngày/lần

Theo Dương Công Kiên bệnh chết khô do nấm Botrytis cinerea Pers

ex Fr gây ra, nhiệt độ thích hợp cho nấm phát triển là 15oC Khi cây bị bệnh,

nụ hoa thường không nở được, nụ bị gãy gục xuống, hoa khô cháy Theo tác giả có thể phòng trừ bằng một số loại thuốc hóa học như Kasuran, Daconil, Carbenzim định kỳ 1 tuần/ 1 lần cho hiệu quả tốt

Dương Công Kiên và CTV (1999) trên cây hoa hồng ngoài các bệnh

kể trên còn có bệnh héo do nấm Verticillium albo - atrum gây ra Bệnh gây

hại làm cho các ngọn non bị héo nhưng vẫn còn xanh, các lá ở phía dưới biến vàng, ban đêm có thể phục hồi nhưng sau một vài ngày cả phần ngọn cũng chuyển sang màu vàng sau cùng biến thành màu nâu, tàn úa và chết, bệnh thường hại từ ngọn xuống Trên hoa có thể tạo những vệt đen dọc theo chiều dài cành hoa Bệnh hại nặng vào mùa k hố khi thời tiết khô hạn Hoa hồng

Trang 20

ở ngoài trời ít bị bệnh này hơn hoa hồng được trồng trong nhà kính Theo

tác giả để phòng trừ bệnh nên dùng các giống kháng bệnh như Rose

Multif1ora, Rose Manetti Ngoài ra theo các tác giả trên cây hoa hồng còn bị một số bệnh do virus, vi khuẩn, tuyến trùng gây ra hoặc bệnh sinh lý không truyền nhiễm cũng gây hại khá nghiêm trọng trên cây hoa hồng trồng ngoài đồng ruộng

Theo Trần Văn Mão và CTV (2001) trên cây hoa hồng còn có bệnh

khô lá (nguyên nhân do nấm Phyllosticta sp.) Bệnh thường phát sinh từ

tháng 6 đến tháng 9, nhiệt độ càng cao, bệnh càng nặng Bệnh khô cành

hồng (Coniothyrium fuckeili Sacc) Bệnh thường gây hại trên các cành non

có thể làm gãy cành và cây chết Sợi nấm qua đông trên các cành bệnh, năm sau nấm xâm nhiễm lên các cây trồng mới Vì vậy để phòng trừ bệnh này cần phải tỉa cành theo định kỳ, nhất là những cành bị gãy do gió bão, kịp thời đốt bỏ những cành bị bệnh, sau khi cắt tỉa cành cần phun thuốc Daconil 0,1% hoặc trộn Zineb 0,1% và Benlat 0,1 % để bảo vệ cho cây

1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Cho đến nay nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã phát hiện được khá nhiều loài vi sinh vật gây bệnh trên cây hoa hồng

Pirone và CTV (1960) đã ghi nhận có 02 loài virus 03 loài vi khuẩn và

30 loài nấm gây bệnh trên cây hoa hồng Ở Venezuela ghi nhận 18 loài nấm gây bệnh trên lá và hoa , 6 loài nấm gây bệnh trên thân và 2 loài nấm gây bệnh trên rễ (Vargas và CTV, 1990; Barnett và CTV (1998)) Có những loài nấm gây bệnh trên tất cả các bộ phận chính (lá, hoa, thân, rễ) của cây hoa

hồng như nấm Fusarium sp., Botrytis sp., nhưng có một số loài chỉ gây bệnh trên lá và hoa như Erysiphe sp., Phragmidium sp., Phoma sp và cũng có loài nấm chỉ gây bệnh trên rễ và thân cây hoa hồng như Botryo diplodia

Trang 21

Theo các như nghiên cứu ở Mỹ trên cây hoa hồng có 17 bệnh do nấm,

3 bệnh do vi khuẩn, 6 bệnh do tuyến trùng và 7 bệnh do virus (Heath (1981); Kendrich (1971); Shaul và CTV (1996); Subramanian (1983))

Một số bệnh được nghiên cứu ở nhiều nước như bệnh thối xám

(Botrytis cinerea) ở Ấn Độ, Đan Mạch, Israel và Mỹ; Bệnh đốm đen trên lá

(M rosae) ở ấn Độ, Đức, Nhật Bản, Mỹ, Ba Lan, Thụy Điển; Bệnh phấn trắng (S panorosa var rosae) ở Ấn Độ, Ba Lan, Đức, Ai Cập, Rumani, Trung Quốc; bệnh gỉ sắt (do nhiều loài nấm thuộc loài Phragmidium) được nghiên

cứu ở Anh Quốc, Italia, Liên Xô (cũ) (Bhatti và CTV (1980); Chatani và CTV (1996); Kanl (1984); Grimalskaya (1979); Kintya và CTV (1990); Pisi và CTV (1990); Qwarns Trom (1990); Szekely và CTV (1984); Veser (1996)) Những bệnh này đã gây thiệt hại đáng kể cho hầu hết các vùng trồng hoa hồng ở nhiều nước trên thế giới

1.2.1 Bệnh đốm đen hoa hồng (Marssonina rosae)

Theo Horst (1983) bệnh đốm đen hoa hồng được thông báo đầu tiên ở Thụy Điển (1815), sau đó là ở Pháp , Bỉ, Đức, Anh và ở Hà Lan (1844) Bệnh được ghi nhận lần lượt ở Mỹ (1830), Nam Mỹ (1880), Úc (1892), Liên Xô (1907), Trung Quốc (1910), Canada(1911), ở Châu Phi (1920-1922), Ấn Độ (1941) và Thổ Nhĩ Kỳ (1947) Nấm gây bệnh phát hiện khắp các vùng trồng hoa hồng và thậm chí ở các đảo như Philipine, Malta, Hawai và Newzealand (Tschen (1991); Usesugi (1997))

Theo Cynthia (1972) triệu chứng đặc trưng để phân biệt bệnh đốm đen hoa hồng với các bệnh đốm khác là xuất hiện nhiều hay ít những đốm đen tròn lớn 12mm, có viền và mép đâm tia

Baker (1948) cho rằng nguyên nhân gây bệnh là nấm D rosae Dạng sinh sản vô tính là nấm M rosae Nấm D rosae hình thành các quả thể hình

cầu trên các vết bệnh già, cũ và qua đông ở đó, chúng chính là nguồn lây nhiễm đầu tiên vào mùa xuân trên đồng ruộng Hosrt (1983)cho biết: sợi nấm

Trang 22

phân nhiều nhánh, không màu khi còn non, về già sợi nấm sẫm màu Sợi nấm sinh trưởng trong môi trường PDA và môi trường Malt agar rất chậm, tối thiểu từ 15-37 ngày Mặt khác việc nuôi cấy trên môi trường nhân tạo rất khó khăn do nấm dễ bị tạp bởi các nấm hoại sinh khác, một tháng sau khi nuôi cấy mới đạt đường kính tản nấm từ 2-9mm và tính độc mất đi sau một vài tháng nuôi cấy Wenefride I và CTV (1993) đã xác định kích thước bào tử, màu sắc

tản M rosae, giai đoạn vô tính của nấm D rose đã được khẳng định sự đa

dạng của nấm này Bào tử nấm có chiều dài 21,1- 25,3 µm; các chủng nấm chia 4 nhóm màu: Nâu củ hành, hồng sáng, xám nhạt và nâu của củ hành với

sự pha trộn giữa đốm nâu đỏ và vàng Nguồn bệnh tồn tại qua đông trên các

bộ phận của cây bị nhiễm bệnh Bào tử lan truyền nhờ nướcvà cỏ thể bám vào

cơ thể côn trùng để di chuyển, bào tử nấm thường được sinh ra vào mùa xuân

và bắt đầu quá trình xâm nhiễm vào cây

Bệnh đốm đen phát triển thuận lợi khi có cả hai yếu tố nhiệt độ ấm áp

và độ ẩm cao Nấm M rosae có khả năng thích ứng nhiệt độ khá rộng (15-

7OC), điều kiện tốt nhất của bệnh là có độ ẩm tương đối trên 85% và lá được

để ẩm liên tục ít nhất trong 6 giờ hoặc hơn, nhiệt độ thuận lợi nhất cho sự nẩy mầm của bào tử là 18- 20OC Ở nhiệt độ này sự nẩy mầm của bào tử bắt đầu sau 9 giờ và tỷ lệ nảy mầm có thể đạt tới 96% trong 36 giờ Bào tử phân sinh chết, không nẩy mầm ở 33OC, ở nhiệt độ 30OC chúng có thể nẩy ầm nhưng không đủ sức để phát triển đủ sức để phát triển Sợi nấm sinh trưởng mạnh nhất ở 21OC và ngừng phát triển sau 8 tuần ở nhiệt độ 33OC Sự lây nhiễm của bào tử trên lá mạnh nhất ở nhiệt độ 19-21OC và triệu chứng bệnh có thể xuất hiện trong vòng 3-4 ngày ở nhiệt độ 22-30OC Sự lây nhiễm hoàn thành nếu lá vẫn ẩm ướt suốt 24 giờ trước khi khô

Sự lây nhiễm không thực hiện được trong không khí khô, ngay cả khi

độ ẩm tương đối 100% cũng không thực hiện được sự nẩy mầm nếu bào tử không được làm ướt

Trang 23

Theo Horst (1983), bệnh đốm đen thường phát triển mạnh hơn khi thời tiết ẩm Bệnh đốm đen có thể phòng ngừa hoặc ít nhất có thể hạn chế bằng cách áp dụng những biện pháp sau: Tạo luồng không khí lưu thông xung quanh cây hoa và như vậy sẽ làm giảm độ ẩm, hạn chế sự nhiễm bệnh; tỉa bớt cành lá; tưới nước dưới gốc hoa tránh tưới ướt lá, tránh tưới nước vào buổi chiều tối sẽ làm cây bị ẩm ướt suốt đêm tạo điều kiện thuận lợi cho bào tử nảy mầm, xâm nhiễm Cần tỉa bớt và nhặt sạch lá rụng, lá bệnh Cũng có thể hạn chế bệnh nếu trồng hóa hồng ở địa điểm có nắng chiều, hoặc nắng chiếu cả ngày Về sử dụng thuốc, có thể dùng Funginex, Fungigard, Daconil 2787 và bột lưu huỳnh phun theo định kỳ từ 7-14 ngày/1lần Thuốc Fantan có hiệu quả cao trong phòng trừ bệnh đốm đen và an toàn với người sử dụng

Nên chọn các giống có sức đề kháng cao với bệnh như: Fortyniner, Cornonador, Carefree Beauty, Simpliaty,Borica, Granh Opera…

1.2.2 Bệnh gỉ sắt (Phragmidium mucronatum)

Bệnh gỉ sắt hoa hồng phá hại rất phổ biến trên vườn trồng và cả cây hồng dại Bệnh làm rụng lá sớm dẫn đến giảm năng suất phẩm chất hoa

Theo Horst (1983) có 9 loài nấm gỉ sắt được tìm thấy trong đó có loài

Phragmidium mucronatum là loài phổ biến nhất ở Mỹ, gây hại chủ yếu trên

giống hồng Hybird tea rosae và một số giống khác Nấm P mucronarum

được quan sát đầu tiên trên kính hiển vi vào năm 1667 do Hooke tiến hành

Nuôi cấy P mucronatum có thể thực hiện trên các môi trường Agar có chứa

dung dịch chiết nấm men, pepton, casein Theo Talbot và CTV (1971), bệnh

gỉ sắt đã được phát hiện thấy trên 200 giống hồng khác nhau được nhân ra từ những cây hồng dại có tên Hybrid tea và Floribundas tại Anh Bệnh gỉ sắt lan rộng ở các vùng Nam, Đông nước anh, miền Tây nước Mỹ và các vùng địa lý

có nhiệt độ ấm áp, độ ẩm cao

Theo Cynthia (1972) bệnh gỉ sắt hại hoa hồng hại nặng trên các giống hồng lai và một số giống hồng khác Bệnh hại nghiêm trọng ở các vườn hoa

Trang 24

hồng dọc theo bờ biển Thái Bình Dương Bào tử nấm được không khí và gió truyền di lây nhiễm ở dưới mặt lá qua các lỗ khí khổng Nhiệt độ tối thích cho

sự lây nhiễm của bệnh là 18-20OC và có điều kiện ẩm ướt liên tục trong 2- 4 giờ

Baker (1953) xác định bệnh gỉ sắt phát triển thuận lợi trong điều kiện

có độ ẩm cao (có giọt nước, giọt sương) và nhiệt độ từ 18-20OC Vào đầu mùa thu, bào tử đông bắt đầu xuất hiện Nấm gỉ sắt qua đông ở lá và thân cành Mùa xuân sang bào tử nấm được sinh ra và bắt đầu quá trình xâm nhiễm mới Bào tử đông hình thành đảm đa bào và các bào tử đảm Bào tử đảm phát tán nhờ gió, rơi lên bề mặt lá non, cành non của cây để bắt đầu xâm nhiễm Sự nhiễm bệnh thuận lợi ở những nơi không thông gió và có sự ngưng tụ hơi nước Nhiệt độ cao của mùa hè làm ảnh hưởng đến sự lây nhiễm của bào tử Bào tử gỉ sắt có thể giữ được khả năng sống trong 1 tuần ở 80oF ở miền nam California Từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau có nhiệt độ thích hợp cho bào tử nấm gỉ sắt nẩy mầm, do có những cơn mưa rào Để phòng trừ bệnh, cần hái

bỏ các lá già, lá bệnh thường xuyên Việc tỉa cành lá bệnh vào mùa đông và đầu mùa xuân, trước khi các lá mới xuất hiện sẽ làm giảm mức độ lây nhiễm

và ngăn chặn sự lây nhiễm, phát triển của nấm vào mùa xuân Nên phun thuốc

6 ngày / lần vào thời kỳ có điền kiện môi trường thích hợp với sự phát triển của nấm có thể sử dụng một số thuốc hoá học sau: Sunfua đồng, Ferbam, Zineb, Maneb (cả trong giai đoạn nấm qua đông)

Theo Forberg (1975)để phòng trừ bệnh này cần chọn tạo các giống kháng bệnh, tiêu diệt nguồn bệnh trên tàn dư, cỏ dại và ký chủ phụ, kết hợp với việc phun thuốc hoá học Peroxin 0,2- 0,4%

1.2.3 Bệnh đốm lá (Cercospora puderi)

Theo Cynthia (1983) có 2 loài nấm gây bệnh đốm lá Nguyên nhân thứ

nhất là nấm C puderi, được ghi nhận ở bang Georgia và Texas Loài thứ hai

là nấm C rosicola gây ra Bệnh được phát hiện vùng phía Nam nước Mỹ

Trang 25

Quả thể bầu được hình thành trên các tàn dư cây bệnh Có thể phun Maneb để phòng chống bệnh này

Theo Horst (1983) bệnh đốm lá cùng do 2 loài nấm là C puderi và C

rosicola gây ra Ngoài ra còn có một số bệnh đốm lá như: bệnh đốm lá do

nấm Alternaria alternata (Fr) gây ra các vết đốm trên lá ở thời kỳ có mưa

nhiều Vết bệnh thay đổi từ màu vàng sang màu nâu đậm, các đốm to dần và xuất hiện các vòng đồng tâm trên mô bệnh của lá Gặp điều kiện ẩm ướt, các chồi hoa, nụ hoa và hoa đều có thể nhiễm bệnh Nhiệt độ tối ưu cho nấm phát triển là 30OC Các loài A brassicae var microspora Brun và các loài khác

cũng đã được thông báo là nguyên nhân gây ra bệnh đốm lá trên cây hoa

hồng; bệnh thán thư do nấm Colletotrichum capsici (Syd) Bult và Bisby gây

ra những vết đốm đỏ hình tròn, các đốm này có thể kết hợp thành một đốm lớn Bệnh nặng các lá bị khô và dễ rụng

1.2.4 Bệnh phấn trắng hoa hồng (Sphaerotheca pannosa var rosae)

Phoatus đã mô tả bệnh phấn trắng trên hoa hồng lần đầu tiên vào khoảng 300 năm trước công nguyên Năm 1819, Wallroth đã mô tả nấm gây

bệnh này là nấm Alphitomorpha pannosa Nó được chuyển vào loại Erysiphe

là E pannosa vào năm 1829 và cuối cùng vào năm 1851 loài nấm này được xếp vào loại Sphaerotheca Mặc dù nó được công nhận là S pannosa …một

số chuyên gia cồng nhận phân chia loài này thành 2 loài tuy nhiên một cuộc khảo sát quy mô lớn đã được tiến hành và chứng minh rằng không có sự khác

nhau rõ rệt giữa 2 loài này và nấm phấn trắng hoa hồng ở Mỹ là do S.pannosa

gây nên

Theo Cynthia (1972) bệnh phấn trắng hoa hồng được phát hiện thấy ở nhiều nơi trên thế giới Đây là bệnh phổ biến thường xuyên trên nhà kính và trong vườn Bệnh thường hại nặng trên các vườn hồng bị côn trùng và nhện

đỏ phá hại Bệnh phấn trắng phá hại nặng trên các vườn hông khi người ta sử dụng Ferbam và những thuốc hữu cơ cũ khác như thuốc lưu huỳnh và đồng để

Trang 26

trừ bệnh đốm đen Bệnh phát triển hại nặng ở vùng bờ biển Thái Bình Dương

và hịa nghiêm trọng ở các vùng trồng hồng phía Tây Nam Bệnh hại nặng trên các giống hồng leo vào cuối mùa hè khi nhiệt độ ban đêm thấp Để phòng trừ bệnh nên sử dụng bột lưu huỳnh khi thấy dấu hiệu triệu chứng đầu tiên vì thuốc có hiệu lực kéo dài khi thời tiết quá nóng Karathane hiệu quả ở dạng phun nước hơn ở dạng bột nhưng cần đúng liều lượng Nên chọn các giống kháng bệnh, trong đó các giống hồng đỏ, hồng lai, hồng nở hoa rất mẫn cảm với bệnh, những giống hồng có màu đỏ da cam rất ít bị nhiễm bệnh

Theo Massey (1984) và Moseman (1966) bệnh gây hại nặng trên những vườn hồng luân canh

Theo Horst (1983), cho rằng bênhj này phân bố rộng rãi, là bệnh nguy hiểm nhất đối với hoa hồng Nguyên nhân gây ra bệnh phấn trắng là do nấm

S pannosa var rosae. Bệnh phấn trắng phát sinhphá hại nặng ở điều kiện phân bón quá nhiều đạm Nấm bệnh làm giảm sự phát triển của lá, giảm độ bóng của hoa Sợi nấm mầu trắng đa bào, thường hình thành trên bề mặt mô bệnh , tạo vòi hút xâm nhập vào biểu bì lá Cành bào tử phân sinh ngắn, thẳng đứng Bào tử phân sinh hình thành trên đỉnh của mỗi, bào tử có hình trứng hoặc bầu dục, mọc thành chuỗi, thường thì có từ 5-10bào tử trên mỗi cành Khi gặp điều kiện không thuân lợi, nấm hình thành những quả thể kín Quả thể có dạng hình cầu đến hình quả lê, đường kính từ 18-20 µm Quả thể non mầu trắng, già có màu đen, khi có độ ẩm thích hợp quả thể giải phóng các túi

và bào tử túi ra ngoài, nhờ gió phát tán Bào tử nấm nảy mầm ở nhiệt độ 20OC

từ 2-4 giờ và có độ ẩm tương đối gần 100% Rất hiếm khi quả thể của nấm được hình thành Ở những vùng khí hậy ôn hòa hoặc trong nhà kính, bào tử nấm có thể tồn tại quanh nam, Khi nhiệt độ vào ban đêm ở trên cánh đồng khoảng 15,5OC và độ ẩm đạt từ 90-99% bào tử nẩy mầm xâm nhiểm Ở điều kiện nhiệt độ 26,6OC và đội ẩm tương đối là 40-70% vào ban ngày thích hợp cho sự hình thành và giải phóng bào từ Nhiều chu kỳ ngày và đêm lặp lại là

Trang 27

điều kiện thuận lợi để hoàn thành dịch bệnh Để phòng trừ cần chọn lựa cẩn thận các giống chống chịu bệnh kết hợp phun thuốc hóa học Việc cắt tỉa chồi cành bị bệnh, thiêu hủy những tàn dư có tác dụng hạn chế nguồn bệnh Đối với vườn hồng trồng trong nhà kính ngoài việc phun thuốc diệt nấm có thể hạ thấp độ ẩm vào ban đêm bằng quạt thông gió…để giảm sự hình thành dịch bệnh trong nhà kính

Theo một số tác giả cho rằng đối với hoa hồng trồng ngoài đồng ruộng, nấm phấn trắng bảo tồn qua đông chủ yếu ở dạng sợi nấm trên nụ và quả thể trên lá bệnh, còn trên hoa hồng ở nhà kính nấm chỉ tồn tại ở dạng sợi và bào

tử phân sinh (Massey (1984); Schnathorst (1965))

Để phòng trừ bệnh phấn trắng hoa hồng nên sử dụng một số loại thuốc nội hấp như Teiforin, Ferarimol, Tradimefon, Etaconazon (Geoger (1988); Coyier (1983))

Trang 28

Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Bệnh đốm đen hoa hồng Marssonina rosae

2.2 Địa điểm, thời gian tiến hành nghiên cứu

- Một số vùng trồng hoa tại Mê Linh, Từ Liêm - Hà Nội; Văn Giang –

Hưng Yên

- Thời gian nghiên cứu: năm 2014

2.3 Vật liệu nghiên cứu

- Các giống hoa hồng được trồng ở địa phương như hoa hồng đỏ Pháp,

hoa hồng trắng Trung Quốc, trắng kem, đỏ gai

- Dụng cụ thí nghiệm: que cấy nấm, hộp petri, panh, lam kính, lamen, giấy đặt ẩm, kính hiển vi, kính lúp soi nổi và một số dụng cụ, vật tư thiết yếu khác, bút viết, sổ ghi chép, máy ảnh

2.4 Nội dung nghiên cứu

• Điều tra thành phần, mức độ phổ biến bệnh nấm hại hoa hồng

• Xác định ảnh hưởng của một số yếu tố canh tác, giống, phân bón, thời

vụ đến bệnh đốm đen hại cây hoa hồng

• Khảo sát khả năng phòng trừ bệnh đốm đen bằng thuốc hóa học trong điều kiện đồng ruộng

Trang 29

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Phương pháp điều tra tình hình canh tác cây hoa hồng và Tình hình sử dụng thuốc BVTV trên cây hoa hồng

- Điều tra theo phương pháp sử dụng phiếu câu hỏi Số hộ nông dân tham gia tra lời phiếu là 30 nông dân, tại vùng trồng hoa Mê Linh Mẫu phiếu điều tra có trong phần phụ lục ở cuối báo cáo này

2.5.2 Phương pháp điều tra ngoài đồng

- Điều tra thành phần bệnh hại:

Chúng tôi áp dụng theo phương pháp phát hiện sâu bệnh hại cây trồng của theo QCVN 01-38:2010?BNNPTNT Khi điều tra tiền hành thu thập tất

cả mẫu bệnh hại mang về phòng thí nghiệm để ẩm, sau đó tiến hành giám định vi sinh vật gây bệnh

- Điều tra tình hình diễn biến bệnh hại theo phương pháp điều tra phát

hiện sâu bệnh hại cây trồng của Cục Bảo vệ thực vật Điều tra cố định theo phương pháp 5 điểm chéo góc, chọn khu vực đại diện, điều tra tại mỗi điểm

đã chọn 1m2, chọn 5 cây bất kỳ đếm toàn bộ số lá trên cây đã chọn

Theo dõi định kỳ 7 ngày một lần trên cây đã được đánh dấu, thu thập số liệu và tính tỷ lệ bệnh, chỉ số bệnh Quan sát và mô tả đặc điểm cây nhiễm bệnh

2.5.3 Điều tra ảnh hưởng của một số yếu tố canh tác đến sự phát sinh phát triển của bệnh đốm đen hoa hồng trên đồng ruộng

+ Một số qui định chung cho các nghiên cứu

- Các điều tra được tiến hành trên cành hoa hồng mới (là cành hoa mới xuất hiện sinh trưởng sau khi thu hoạch hoa lứa trước, trên một gốc cây hoa hồng), việc theo dõi cành hoa này được đánh dấu cố định, theo dõi từ khi cành hoa mới xuất hiện 5 – 7 ngày tới khi chuẩn bị thu hoạch

- Trong cùng một thí nghiệm, các yếu tố phi thí nghiệm là đồng nhất với nhau

Trang 30

Hình 2.1 Cành hoa được đánh dấu để tiến hành nghiên cứu

* Phương pháp điều tra sự phân bố của bệnh đốm đen trên cây hoa hồng

- Tiến hành điều tra cành hoa hồng từ khi cành hoa mới xuất hiện 5 – 7 ngày Chia làm 4 tầng điều tra lá và hoa khi hoa xuất hiện, mỗi tầng chiếm 1/3

độ cao của cành hoa: gồm tầng 1 – là tầng sát mặt đất cành hoa; tầng 2 là tầng

ở giữa; tầng 3 là tầng lá trên cùng, sát hoa; Tầng 4 là tầng hoa, khi hoa xuất hiện (Hình 2.2)

* Phương pháp điều tra ảnh hưởng của mùa vụ tới diễn biến gây hại của bệnh đốm đen hại hoa hồng

- Chúng tối tiến hành nghiên cứu này dựa theo mùa vụ cây trồng trong một năm Các cành hoa được sinh ra trong thời gian vụ xuân hè và thu đông được đánh dấu và theo dõi cho tới khi chuẩn bị thu hoạch Việc theo dõi này

Cành hoa được theo dõi

Trang 31

để đánh giá ảnh hưởng của yếu tố thời vụ (trong đó thời tiết là yếu tố chính) tới sự gây hại của bệnh đốm đen hoa hồng

Hình 2.2 Tầng lá điều tra

- Điều tra định kỳ 7 ngày 1 lần theo phương pháp 5 điểm chéo góc Mối điểm điều tra 5 cành cây cố định, đếm số lá bị bệnh/tổng lá điều tra Chỉ tiêu theo dõi: TLB (%), CSB (%)

* Ảnh hưởng của các giống hoa hồng đến bệnh đốm đen

- Tại Mê Linh

Thí nghiệm được tiến hành gồm 4 giống:

+ Công thức 1: Giống đỏ Pháp

+ Công thức 2: Giống đỏ gai

+ Công thức 3: Giống trắng kem

+ Công thức 4: Giống trắng Trung Quốc

Điều tra định kỳ 7 ngày 1 lần theo phương pháp 5 điểm chéo góc Mối điểm điều tra 5 cành cây cố định, đếm số lá bị bệnh/tổng lá điều tra Chỉ tiêu theo dõi: TLB (%), CSB (%)

Tầng 1 Tầng 3

Tầng 2

Trang 32

- Tại Tây Tựu

Thí nghiệm được tiến hành gồm 3 giống:

+ Công thức 1: Giống đỏ Pháp

+ Công thức 2: Giống đỏ gai

+ Công thức 3: Giống trắng Trung Quốc

- Tại Tây Tựu giống hoa trắng kem là không phổ biến, diện tích trồng nhỏ vì vậy chúng tôi không tiến hành nghiên cứu giống này.s

* Ảnh hưởng của nền đất đến sự phát sinh phát triển của bệnh đốm đen

Thí nghiệm được tiến hành trên hai nền đất:

+ CT1: Nền đất thoát nước tốt

+ CT2: Nền đất thoát nước chậm

Giống hoa hồng thí nghiệm: Giống đỏ Pháp

Điều tra định kỳ 7 ngày 1 lần theo phương pháp 5 điểm chéo góc Mối điểm điều tra 5 cành cây cố định, đếm số lá bị bệnh/tổng lá điều tra Chỉ tiêu theo dõi: TLB (%), CSB (%)

* Ảnh hưởng của nền đất chuyên canh hoa và nền đất mới trồng đến bệnh đốm đen hại hoa hồng tại Mê Linh, Hà Nôi vụ thu đông 2014

- Trong canh tác cây hoa hồng tại Mê Linh, có nhiều vùng là vùng trồng hoa hồng chuyên canh (liên tục, lâu năm > 10 năm), và có những vùng mới qui hoạch trồng hoa hồng (> 1 – 2 năm) Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên hại loại đất trồng này để đánh giá sự gây hại của bệnh đốm đen hoa hông, xem có sự khác biệt nào hay không

Thí nghiệm được tiến hành trên hai nền đất:

+ Nền đất chuyên canh

+ Nền đất mới

Điều tra định kỳ 7 ngày 1 lần theo phương pháp 5 điểm chéo góc Mối điểm điều tra 5 cành cây cố định, đếm số lá bị bệnh/tổng lá điều tra Chỉ tiêu theo dõi: TLB (%), CSB (%)

Trang 33

* Ảnh hưởng của liều lượng đạm tới bệnh đốm đen

Sử dụng các loại phân bón Đạm dạng đơn, không sử dụng các loại phân

đa lượng để tiến hành làm thí nghiệm Thí nghiệm tiến hành trên các ruộng canh tác từ 2 năm trở lên, không tiến hành bón lót, chỉ tiến hành bón thúc Phân đạm được bón theo phương pháp: bón lót một nửa ; nửa còn lại chia đôi bón thúc vào thời điểm cây bắt đầu ra lá và cây có khoảng 20 lá

Thí nghiệm được tiến hành gồm 3 công thức:

+ CT1: Liều lượng đạm thấp (110 kg N/ha)

+ CT2: Liều lượng đạm trung bình (180 kgN/ha)

+ CT3: Liều lượng đạm cao (260 kg N/ha)

Giống thí nghiệm: Giống đỏ Pháp

Điều tra định kỳ 7 ngày 1 lần theo phương pháp 5 điểm chéo góc Mối điểm điều tra 5 cành cây cố định, đếm số lá bị bệnh/tổng lá điều tra Chỉ tiêu theo dõi: TLB (%), CSB (%)

* Ảnh hưởng của biện pháp tỉa lá cành bệnh kết hợp với vệ sinh đồng ruộng đến bệnh đốm đen

Thí nghiệm gồm 2 công thức:

+ CT1: Tỉa lá bệnh, cành bệnh kết hợp với vệ sinh đồng ruộng

+ CT2: Không tỉa lá bệnh, cành bệnh, không vệ sinh đồng ruộng

Điều tra định kỳ 7 ngày 1 lần theo phương pháp 5 điểm chéo góc Mối điểm điều tra 5 cành cây cố định, đếm số lá bị bệnh/tổng lá điều tra Chỉ tiêu theo dõi: TLB (%), CSB (%)

* Khảo sát hiệu lực của một số thuốc hóa học trong phòng trừ bệnh đốm đen

Trang 34

- Công thức 1: Antracol 70 WG

- Công thức 2: Anvil 5SC

- Công thức 3: Score 250SC

- Công thức 4: AryGreen 75WP

- Đối chứng: Không sử dụng thuốc hóa học

Giống thí nghiệm: Trắng Trung Quốc

Số lần phun thuốc: 01 lần, ngày phun thuốc: 12/03/2014

- Ngày điều tra theo dõi: Điều tra trước khi phun thuốc 1 ngày, sau khi phun thuốc 3 ngày, 7 ngày và 4 ngày

- Phương pháp điều tra: Mỗi ô (nhắc lại điều tra 5 điểm theo đường chéo góc, mỗi điểm điều tra 5 cành cây cố định, đếm số lá bị bệnh/tổng lá điều tra)

- Chỉ tiêu theo dõi:

* Chỉ số bệnh (%)

CSB (%) = NxT

x axb

Trang 35

Ta: Mức độ bệnh của lô thí nghiệm sau xử lý

Tb: Mức độ bệnh của lô thí nghiệm trước xử lý

Ca: Mức độ bệnh của lô đối chứng sau xử lý

Cb:Mức độ bệnh của lô đối chứng trước xử lý

- Các số liệu thu được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học, chương trình tính sai số thí nghiệm Crop stat 7.2 và chương trình ứng dụng Excel trong xử lý số liệu

Trang 36

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1.Tình hình canh tác, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và thành phần bệnh hại trên cây hoa hồng

3.1.1 Tình hình canh tác cây hoa hồng

Bảng 3.1 Tình hình canh tác trên cây hoa hồng vụ xuân hè 2014

tại Mê Linh, Hà Nội

Thu gom tàn dư bỏ xuống

Tàn dư được bỏ vào hố rác

Ghi chú: + Số hộ điều tra: 30 hộ

Như đã biết, kỹ thuật canh tác có một vai trò quan trọng trong việc đem lại hiệu quả kinh tế cho người nông dân làm nông nghiệp, kỹ thuật canh tác có tốt thì mới làm giảm chi phí trồng trọt, tạo hiệu quả nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm nông sản, từ đó nâng cao thu nhập cho nông dân Cây hoa hồng cũng không ngoại lệ, kỹ thuật canh tác cây hoa hồng tốt, dẫn đến làm giảm sự xâm nhiễm của sâu bệnh, từ đó giảm chi phí cho công tác phòng trừ sâu bệnh

Trang 37

Qua bảng 3.1 chúng tôi nhận thấy có 100% các hộ nông dân trồng hoa cắt, giống hoa trồng chủ yếu là giống địa phương chiếm 80%, chỉ có 20% số

hộ có trồng giống hoa mới

Số hộ trồng 2 vụ hoa trong năm chiếm đa số là 19 hộ chiếm 63%, chỉ

có 11 hộ trồng 3 vụ hoa trong năm chiếm 37%

Việc vệ sinh đồng ruộng của người dân còn mang tính tự phát, bỏ tàn

tư một cách tùy tiện chưa có ý thức xây dựng bãi để tàn dư riêng Cụ thể là có

18 hộ chiếm 60% sau khi thu dọn tàn dư sau thu hoạch để ngay đầu bờ ruộng nhà mình cho tự phân hủy, 12 hộ chiếm 40% thu gom tàn dư sau thu hoạch mang ra bỏ xuống kênh mương nội đồng

Người dân chủ yếu sử dụng phân bón tổng hợp NPK để bón cho cây hoa hồng chiếm 83,3%, chỉ có 16,7% số hộ còn sử dụng phân đơn để chăm bón cho cây hoa

Đa số người dân đều cung cấp nước tưới cho cây bằng phương pháp tưới rãnh là chủ yếu chiếm 96,7%, chỉ có 1 hộ chiếm 3,3% tưới cho cây theo phương pháp tưới phun

Việc thăm đồng thường xuyên được người dân quan tâm, 100% số hộ thường xuyên thăm đồng ( 16,7% số hộ thăm đồng hàng ngày, 83,3% số hộ thăm đồng hàng tuần)

Theo kết quả trên cho thấy, các chủ hộ cũng đã có những hiểu biết nhất định về kỹ thuật canh tác cây hoa hồng Tuy nhiên, những hiểu biết này mới chỉ là những hiểu biết kinh nghiệm, tự phát, chưa có kỹ thuật canh tác cao Người nông dân thường dựa vào kinh nghiệm của mình từ việc chăm sóc cây trồng khác chuyển sang chăm sóc cây hoa

3.1.2 Tình hình sử dụng thuốc BVTV trên cây hoa hồng

Qua quá trình điều tra, phỏng vấn nông dân và điều tra thực tế ngoài đồng ruộng, chúng tôi nhận thấy rằng cây hoa hồng được trồng ở Mê Linh bị

Ngày đăng: 19/09/2015, 10:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Cành hoa được đánh dấu để tiến hành nghiên cứu - điều tra, nghiên cứu bệnh đốm đen hoa hồng (marssonina rosae) và biện pháp phòng trừ năm 2014
Hình 2.1. Cành hoa được đánh dấu để tiến hành nghiên cứu (Trang 30)
Bảng 3.2. Tình hình sử dụng thuốc BVTV trên hoa hồng vụ xuân hè 2014 - điều tra, nghiên cứu bệnh đốm đen hoa hồng (marssonina rosae) và biện pháp phòng trừ năm 2014
Bảng 3.2. Tình hình sử dụng thuốc BVTV trên hoa hồng vụ xuân hè 2014 (Trang 38)
Bảng 3.3. Thành phần bệnh nấm hại hoa hồng ở Hà Nội và phụ cận, vụ - điều tra, nghiên cứu bệnh đốm đen hoa hồng (marssonina rosae) và biện pháp phòng trừ năm 2014
Bảng 3.3. Thành phần bệnh nấm hại hoa hồng ở Hà Nội và phụ cận, vụ (Trang 40)
Hình 3.1. Bệnh gỉ sắt hoa hồng - điều tra, nghiên cứu bệnh đốm đen hoa hồng (marssonina rosae) và biện pháp phòng trừ năm 2014
Hình 3.1. Bệnh gỉ sắt hoa hồng (Trang 41)
Hình 3.3. Bệnh đốm đen hoa hồng - điều tra, nghiên cứu bệnh đốm đen hoa hồng (marssonina rosae) và biện pháp phòng trừ năm 2014
Hình 3.3. Bệnh đốm đen hoa hồng (Trang 43)
Hình 3.4. Bệnh phấn trắng hoa hồng - điều tra, nghiên cứu bệnh đốm đen hoa hồng (marssonina rosae) và biện pháp phòng trừ năm 2014
Hình 3.4. Bệnh phấn trắng hoa hồng (Trang 44)
Bảng 3.5. Sự phân bố của bệnh đốm đen trên cây hoa hồng - điều tra, nghiên cứu bệnh đốm đen hoa hồng (marssonina rosae) và biện pháp phòng trừ năm 2014
Bảng 3.5. Sự phân bố của bệnh đốm đen trên cây hoa hồng (Trang 46)
Hình 3.5. Các tầng lá điều tra - điều tra, nghiên cứu bệnh đốm đen hoa hồng (marssonina rosae) và biện pháp phòng trừ năm 2014
Hình 3.5. Các tầng lá điều tra (Trang 47)
Bảng 3.6. Ảnh hưởng của mùa vụ tới bệnh đốm đen trên giống hồng đỏ - điều tra, nghiên cứu bệnh đốm đen hoa hồng (marssonina rosae) và biện pháp phòng trừ năm 2014
Bảng 3.6. Ảnh hưởng của mùa vụ tới bệnh đốm đen trên giống hồng đỏ (Trang 48)
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của vùng trồng hoa tới bệnh đốm đen hại trên - điều tra, nghiên cứu bệnh đốm đen hoa hồng (marssonina rosae) và biện pháp phòng trừ năm 2014
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của vùng trồng hoa tới bệnh đốm đen hại trên (Trang 49)
Bảng 3.8. Ảnh hưởng của giống hoa hồng tới diễn biến gây hại bệnh đốm - điều tra, nghiên cứu bệnh đốm đen hoa hồng (marssonina rosae) và biện pháp phòng trừ năm 2014
Bảng 3.8. Ảnh hưởng của giống hoa hồng tới diễn biến gây hại bệnh đốm (Trang 50)
Bảng 3.9. Ảnh hưởng của giống hoa hồng tới diễn biến gây hại bệnh đốm - điều tra, nghiên cứu bệnh đốm đen hoa hồng (marssonina rosae) và biện pháp phòng trừ năm 2014
Bảng 3.9. Ảnh hưởng của giống hoa hồng tới diễn biến gây hại bệnh đốm (Trang 51)
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của nền đất canh tác đến bệnh đốm đen hoa hồng - điều tra, nghiên cứu bệnh đốm đen hoa hồng (marssonina rosae) và biện pháp phòng trừ năm 2014
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của nền đất canh tác đến bệnh đốm đen hoa hồng (Trang 53)
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của nền đất canh tác đến bệnh đốm đen hoa hồng - điều tra, nghiên cứu bệnh đốm đen hoa hồng (marssonina rosae) và biện pháp phòng trừ năm 2014
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của nền đất canh tác đến bệnh đốm đen hoa hồng (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm