Phân loại các nhóm làng nghề Các làng nghề truyền thống, làng nghề mới, dựa trên các tiêu chí khác nhau, có thể phân loại theo một số dạng như sau: - Theo ngành sản xuất, loại hình sản
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
NGUYỄN THỊ HÀ
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ TÁI CHẾ NHỰA PHAN BÔI, XÃ DỊ SỬ, HUYỆN MỸ HÀO, TỈNH HƯNG YÊN
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
NGUYỄN THỊ HÀ
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ TÁI CHẾ NHỰA PHAN BÔI, XÃ DỊ SỬ, HUYỆN MỸ HÀO, TỈNH HƯNG YÊN
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
MÃ SỐ: 60.44.03.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS ĐOÀN VĂN ĐIẾM
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân, được thực
hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Đoàn Văn Điếm
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hà
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cám ơn PGS TS Đoàn Văn Điếm, người
đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn Với những lời chỉ dẫn, những tài liệu, sự tận tình hướng dẫn và những lời động viên của Thầy đã giúp tôi vượt qua nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin cám ơn quý thầy cô giảng dạy chương trình cao học "Khoa học Môi trường” đã truyền dạy những kiến thức quý báu, những kiến thức này rất hữu ích và giúp tôi nhiều khi thực hiện nghiên cứu Đặc biệt, tôi xin cám ơn về những góp ý có ý nghĩa rất lớn khi tôi thực hiện đề cương nghiên cứu
Xin cám ơn các đồng chí lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hưng Yên, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Mỹ Hào, UBND xã Dị Sử, cán bộ và nhân dân thôn Phan Bôi đã tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình tôi tham gia khóa học và thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cám ơn
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hà
Trang 5MỤC LỤC
1.1.1 Khái niệm và lịch sử hình thành, phát triển của làng nghề 3
1.1.4 Một số đặc điểm của làng nghề Việt Nam hiện nay 8 1.2 Vấn đề môi trường tại các làng nghề ở Việt Nam 12 1.2.1 Nguyên nhân gây ô nhiễm tại khu vực các làng nghề 12
1.2.3 Thực trạng ô nhiễm môi trường làng nghề hiện nay 13 1.3 Ảnh hưởng của hoạt động sản xuất làng nghề tới sức khoẻ cộng
Trang 6Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.3.4 Sử dụng phương pháp so sánh kết quả phân tích 32 2.3.5 Phương pháp tổng hợp thống kê và xử lý số liệu: xử lý số liệu
2.3.6 Phương pháp kế thừa các tài liệu có liên quan đến đề tài 33 2.3.7 Phương pháp cân bằng vật chất: Xác định định lượng xả thải chất
thải phát sinh trong quá trình sản xuất 33
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thôn Phan Bôi, xã Dị Sử,
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội làng nghề Phan Bôi 37 3.2 Tình hình sản xuất của làng nghề Phan Bôi 40 3.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển làng nghề tái chế nhựa Phan Bôi 40
3.2.3 Hiện trạng phát sinh chất thải trong khu vực làng nghề 43 3.3 Hiện trạng chất lượng môi trường tại làng nghề Phan Bôi 50
3.4 Tác động của ô nhiễm môi trường tới sức khỏe của người dân 62 3.4.1 Tác động của ô nhiễm môi trường làng nghề đến sức khỏe cộng đồng 62
Trang 73.4.2 Tác động của ô nhiễm môi trường đến mỹ quan địa phương 65 3.5 Thực trạng công tác quản lý môi trường tại làng nghề Phan Bôi 66 3.5.1 Các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của các
3.5.2 Thực trạng công tác quản lý môi trường làng nghề hiện nay 67 3.6 Các đề xuất để hạn chế và cải thiện ô nhiễm môi trường tại làng
3.6.5 Giải pháp giáo dục nâng cao ý thức cộng đồng 75
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
1.1 Các xu thế phát triển của làng nghề Việt Nam đến năm 2015 5
1.2 Thống kê số lượng làng nghề tái chế phế liệu ở Việt Nam 10
1.3 Các sản phẩm chính của làng nghề tái chế phế liệu 11
1.4 Đặc trưng ô nhiễm từ sản xuất của một số loại hình làng nghề tái chế 14
1.5 Thành phần và khối lượng nhựa thải được thu gom, tái chế tại một
1.6 Một số máy móc thiết bị chính trong dây chuyền tái chế nhựa 22
2.1 Vị trí lấy mẫu nước thải tại làng nghề tái chế nhựa Phan Bôi 31
2.2 Vị trí lấy mẫu nước mặt tại làng nghề tái chế nhựa Phan Bôi 31
2.3 Vị trí lấy mẫu nước ngầm tại làng nghề tái chế nhựa Phan Bôi 31
3.1 Dân số và cơ cấu ngành nghề của thôn Phan Bôi 38
3.3 Kiểm toán vật chất, năng lượng và các dòng thải tính cho một tấn
3.4 Bình quân chất thải rắn của một số loài vật nuôi (kg/con.ngày) 47
3.6 Tỉ lệ phát sinh nước thải của các nguồn thải 48
3.7 Lượng nước thải trung bình cho 1 tấn phế liệu đầu vào 48
3.8 Hệ số phát thải của một số loài vật nuôi (l/con/ngày) 49
3.9 Hiện trạng chất lượng nước ngầm tại làng nghề Phan Bôi năm 2013 51
3.10 Kết quả phân tích nước ngầm tại thôn Phan Bôi (Ngày 20/12/2014) 52
3.11 Kết quả quan trắc nước thải tại làng nghề Phan Bôi 54
3.12 Nồng độ các thông số trong nước thải tại làng nghề Phan Bôi (Ngày
3.13 Hiện trạng nước mặt tại làng nghề Phan Bôi (năm 2013) 58
3.14 Nồng độ các thông số trong nước mặt tại làng nghề Phan Bôi (Ngày
Trang 93.15 Thống kê tình hình bệnh tật của một số làng nghề có ô nhiễm môi
3.16 Tỷ lệ mắc các loại bệnh chủ yếu ở thôn Phan Bôi 64
3.17 Hiện trạng cơ sở vật chất, nhân lực cho quản lý môi trường của xã
Trang 10DANH MỤC HÌNH
1.1 Sự phân bố các làng nghề Việt Nam theo khu vực 8
1.2 Ước tính thải lượng các chất ô nhiễm trong khí thải làng nghề khu
1.3 Hàm lượng bụi trong không khí tại làng nghề tái chế kim loại 16
1.4 Lượng chất thải rắn tại một số làng nghề tái chế kim loại 17
1.5 Công nghệ sản xuất được áp dụng hiện nay tại các làng nghề tái
3.1 Vị trí địa lý của làng nghề tái chế nhựa Phan Bôi 34
3.2 Trình độ văn hóa của lao động làng nghề Phan Bôi 39
3.3 Sơ đồ quy trình sản xuất tái chế nhựa tại làng nghề Phan Bôi 42
3.4 Biến thiên nồng độ các thông số trong nước ngầm theo thời gian 52
3.5 Biểu đồ hàm lượng COD trong nước thải tại làng nghề Phan Bôi 56
3.6 Biểu đồ hàm lượng chất rắn lơ lửng trong nước thải tại làng nghề
3.7 Biểu đồ hàm lượng BOD5 trong nước mặt tại thôn Phan Bôi 60
3.8 Biểu đồ hàm lượng các chất rắn lơ lửng trong nước mặt tại thôn
3.9 Sơ đồ quản lý môi trường làng nghề Phan Bôi 67
3.11 Sơ đồ hệ thống xử lý nước thải sơ bộ tại hộ gia đình 72
Trang 11DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường
Trang 12MỞ ĐẦU
Làng nghề đóng vai trò vô cùng quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh
tế - xã hội, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xóa đói giảm nghèo ở nông thôn, giải quyết việc làm lúc nông nhàn, tăng thu nhập, phát triển du lịch Sự phát triển mạnh mẽ của các làng nghề hiện nay mang đến những hiệu quả kinh tế to lớn, nâng cao thu nhập, tạo công ăn việc làm, gìn giữ lại những nét văn hoá truyền thống
Tuy nhiên, một trong những thách thức đang đặt ra đối với các làng nghề
là vấn đề môi trường và sức khỏe của người lao động, của cộng đồng dân cư đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ hoạt động sản xuất của các làng nghề Kết quả khảo sát 52 làng nghề điển hình trong cả nước của Đề tài KC 08.09 (2005) cho thấy trong số đó, 46% làng nghề có môi trường bị ô nhiễm nặng (đối với không khí hoặc nước hoặc đất hoặc cả ba dạng), 27% ô nhiễm vừa và 27% bị ô nhiễm nhẹ (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008) Các kết quả quan trắc gần đây cho thấy mức độ ô nhiễm của các làng nghề không giảm mà còn có xu hướng gia tăng Vấn đề về môi trường thực sự trở thành một bài toán khó bởi cơ chế quản lý tại các làng nghề còn lỏng lẻo, hơn nữa người dân chỉ quan tâm tới lợi nhuận trước mắt mà không để ý đến môi trường xung quanh đang xuống cấp một cách nghiêm trọng
Phan Bôi là một làng nghề mới trên địa bàn huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên,
ra đời khoảng 15 năm trở lại đây, thu hút khoảng 40% số hộ dân tham gia vào hoạt động tái chế phế liệu Chính nhờ sự phát triển của làng nghề mà đời sống người dân thôn Phan Bôi từng bước được cải thiện đáng kể, đời sống được nâng cao, làm thay đổi hầu như toàn bộ bộ mặt của thôn Song một thực tế đang đặt ra với Phan Bôi là tình hình môi trường trong thôn hầu như không được quan tâm đến và đang bị ô nhiễm khá nghiêm trọng Theo Báo cáo hiện trạng môi trường làng nghề tỉnh Hưng Yên năm 2013, Phan Bôi hiện đang được xếp vào danh sách một trong những làng nghề đang bị ô nhiễm nghiêm trọng của tỉnh
Trang 13Từ thực tế như vậy việc điều tra, đánh giá thực trạng đồng thời đưa ra đề xuất nhằm bảo vệ sức khoẻ cộng đồng và bảo vệ môi trường đang là một việc làm cấp thiết đặt ra với chính quyền các cấp và nhân dân nơi đây
Do đó, tôi chọn đề tài:
“Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý môi trường tại làng nghề tái chế nhựa Phan Bôi, xã Dị Sử, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên”
Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng môi trường làng nghề tái chế nhựa Phan Bôi
- Đề xuất các giải pháp quản lý môi trường tại làng nghề tái chế nhựa Phan Bôi, xã Dị Sử, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên
Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá được đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội và tình hình sản xuất của làng nghề tái chế nhựa Phan Bôi, xã Dị Sử, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên
- Đánh giá được hiện trạng môi trường và ảnh hưởng của các hoạt động sản xuất tới môi trường
- Ý kiến của người dân về công tác quản lý môi trường và sức khỏe cộng đồng trong thôn
- Đề xuất được các giải pháp quản lý, xử lý môi trường tại làng nghề tái chế nhựa - Phan Bôi
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về làng nghề Việt Nam
1.1.1 Khái niệm và lịch sử hình thành, phát triển của làng nghề
1.1.1.1 Khái niệm làng nghề
Từ xa xưa, người nông dân Việt Nam đã biết sử dụng thời gian nông nhàn
để sản xuất những sản phẩm thủ công, phi nông nghiệp phục vụ cho nhu cầu đời sống như: các công cụ lao động nông nghiệp, giấy, lụa, vải, thực phẩm qua chế biến… Các nghề này được lưu truyền và mở rộng qua nhiều thế hệ, dẫn đến nhiều hộ dân có thể cùng sản xuất một loại sản phẩm Bên cạnh những người chuyên làm nghề, đa phần lao động vừa sản xuất nông nghiệp, vừa làm nghề, hoặc làm thuê (nghề phụ) Nhưng do nhu cầu trao đổi hàng hóa, các nghề mang tính chất chuyên môn sâu hơn, được cải tiến kỹ thuật hơn và thường được giới hạn trong quy mô nhỏ (làng), dần dần tách hẳn nông nghiệp để chuyển hẳn sang
nghề thủ công Như vậy, làng nghề đã xuất hiện
Có thể hiểu “làng nghề là làng nông thôn Việt Nam có ngành nghề TTCN,
phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số lao động và thu nhập so với nghề nông”
(Đặng Kim Chi, 2005)
Tiêu chí để một làng ở nông thôn được coi là một làng nghề:
- Giá trị sản xuất và thu nhập của từ phi nông nghiệp ở làng nghề đạt trên 50% so với tổng giá trị sản xuất và thu nhập chung của làng nghề trong năm; hoặc doanh thu hàng năm từ ngành nghề ít nhất đạt trên 300 triệu đồng,
- Số hộ và số lao động tham gia thường xuyên hoặc không thường xuyên, trực tiếp hoặc gián tiếp đối với nghề phi nông nghiệp ở làng ít nhất đạt 30% so với tổng số hộ hoặc lao động ở làng nghề có ít nhất 300 lao động
- Sản phẩm phi nông nghiệp do làng sản xuất mang tính đặc thù của làng
và do người trong làng tham gia
Theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2008, tiêu chí công nhận làng nghề gồm có 3 tiêu chí sau:
- Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành
Trang 15Thông qua quá trình sinh hoạt và phát triển của xã hội mà yêu cầu cần phải sản xuất ra các vật dụng thiết yếu, từ đó mà nghề được hình thành và dần dần phát triển cho tới ngày nay (Đặng Kim Chi, 2005)
Có thể nói, làng nghề là một trong các đặc thù của nông thôn Việt Nam Nhiều sản phẩm sản xuất tại các làng nghề đã trở thành thương phẩm trao đổi, góp phần cải thiện đời sống gia đình và tận dụng lao động dư thừa lúc nông nhàn
Đa số các làng nghề trải qua lịch sử phát triển hàng trăm năm, song song với quá trình phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá và nông nghiệp của đất nước Ví dụ: Làng nghề đúc đồng Đại Bái (Bắc Ninh) với hơn 900 năm phát triển, làng nghề gốm Bát Tràng (Hà Nội) đã có gần 500 năm tồn tại, làng nghề trạm bạc Đồng Xâm (Thái Bình) đã hình thành cách đây hơn 400 năm…
Trước đây, làng nghề sản xuất ra các vật dụng để phục vụ nhu cầu sản xuất, sinh hoạt của con người trong vùng Những năm gần đây, trong cơ chế thị trường làng nghề đang thay đổi nhanh chóng Hoạt động của làng nghề hiện nay không chỉ phục vụ cho nhu cầu của con người trong và ngoài vùng mà còn phục
vụ cho hoạt động xuất khẩu và phát triển hoạt động du lịch
Hiện nay, quá trình phát triển kinh tế của đất nước, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của thị trường trong và ngoài nước thay đổi do đó mà những làng nghề phù hợp với thị trường có xu thế phát triển mạnh, còn những làng nghề không thích ứng có khả năng bị suy thoái hoặc không phát triển được nữa (Bộ Tài nguyên và
Trang 16Chế biến lương thực thực phẩm, chăn nuôi, giết mổ
Tái chế phế liệu
Thủ công
mỹ nghệ
Vật liệu xây dựng, khai thác đá
Ghi chú: - 1: Suy thoái; 0: Duy chì, không phát triển; 1: Phát triển vừa; 2: Phát triển mạnh
(Nguồn: Đề tài KC 08-09, 2005)
1.1.2 Phân loại các nhóm làng nghề
Các làng nghề truyền thống, làng nghề mới, dựa trên các tiêu chí khác nhau, có thể phân loại theo một số dạng như sau:
- Theo ngành sản xuất, loại hình sản phẩm;
- Theo quy mô sản xuất, quy trình công nghệ;
- Theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm;
- Theo mức độ sử dụng nguyên/nhiên liệu;
- Theo thị trường tiêu thụ sản phẩm, tiềm năng tồn tại và phát triển
Mỗi cách phân loại đều có những đặc thù riêng và tuỳ theo mục đích mà có thể lựa chọn cách phân loại phù hợp (Đặng Kim Chi, 2005)
Tuy nhiên trong thực tế thường dựa trên các yếu tố tương đồng về ngành sản xuất, sản phẩm, thị trường nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm để chia hoạt
Trang 17động làng nghề nước ta ra thành 6 nhóm ngành chính:
- Làng nghề chế biến lương thực thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ;
- Làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da;
- Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá;
- Làng nghề tái chế phế liệu;
- Làng nghề thủ công mỹ nghệ;
- Các nhóm ngành khác: (Bộ TN&MT, 2008)
1.1.3 Vai trò của làng nghề
1.1.3.1 Đối với phát triển kinh tế và giải quyết vấn đề lao động việc làm
Sự phát triển sản xuất nghề trong những năm gần đây đã và đang góp phần quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn Tại các làng có nghề, đại bộ phận người dân tham gia làm nghề thủ công nhưng vẫn duy trì sản xuất nông nghiệp ở một mức độ nhất định Kết quả thống kê tại nhiều làng có nghề, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ đạt từ 60-80%; nông nghiệp chiếm khoảng 20 - 40% Số hộ sản xuất và cơ sở ngành nghề nông thôn đang ngày một tăng lên với tốc độ tăng bình quân từ 8,8 - 9,8%/năm, kim ngạch xuất khẩu từ các sản phẩm làng nghề không ngừng gia tăng Mức thu nhập của người lao động sản xuất nghề cao gấp 3 - 4 lần so với thu nhập của sản xuất thuần nông Nghiên cứu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã thực hiện năm 2004 chỉ ra rằng, tỷ lệ hộ nghèo trong số hộ sản xuất thủ công nghiệp là 3,7%, thấp hơn nhiều so với mức trung bình cả nước là 10,4% Như vậy có thể thấy, làng nghề đóng một vai trò quan trọng trong xóa đói giảm nghèo, trực tiếp giải quyết công ăn việc làm cho người lao động trong lúc nông nhàn, góp phần đáng kể trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn (Chính phủ, 2011)
Bên cạnh đó, làng nghề còn có một ý nghĩa gián tiếp đặc biệt quan trọng khác, đó là hạn chế việc di dân tự do từ khu vực nông thôn vào khu vực thành thị trong thời kỳ nông nhàn, để tìm kiếm công ăn, việc làm và thu nhập
Hoạt động sản xuất nghề nông thôn đã tạo ra việc làm cho hơn 11 triệu lao động, thu hút khoảng 30% lực lượng lao động nông thôn, đặc biệt có những địa phương đã thu hút được hơn 60% nhân lực lao động của cả làng Mức thu nhập
từ sản xuất nghề cao hơn nhiều so với nguồn thu từ nông nghiệp, đặc biệt là đối
Trang 18với vùng đất chật người đông như đồng bằng sông Hồng Tại các làng nghề quy
mô lớn, trung bình mỗi cơ sở, doanh nghiệp tư nhân tạo việc làm ổn định cho khoảng 30 lao động thường xuyên và 8-10 lao động thời vụ; các hộ cá thể tạo việc làm cho 4-6 lao động thường xuyên và 2-5 lao động thời vụ Tại các làng nghề dệt, thêu ren, mây tre đan mỗi cơ sở vào thời kỳ cao điểm, có thể thu hút 200-250 lao động (Chính phủ, 2011)
Làng nghề truyền thống được xem như một nguồn tài nguyên du lịch văn hóa vật thể và phi vật thể đầy tiềm năng Nhiều tên tuổi sản phẩm đã gắn với thương hiệu của các làng nghề từ Nam đến Bắc, được người tiêu dùng trong nước
và nước ngoài ưa chuộng như gốm sứ Bình Dương; gốm Bát Tràng, Hà Nội; gốm Chu Đậu, Hải Dương; gốm Phù Lãng, Bắc Ninh; đồ gỗ Đồng Kỵ, Bắc Ninh; đồ
gỗ Gò Công, Tiền Giang; dệt Vạn Phúc, Hà Nội; cơ khí Ý Yên, Nam Định; mây tre đan Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh; mây tre đan Chương Mỹ, Hà Nội; chạm bạc Đồng Xâm, Thái Bình; đúc đồng Đại Bái, Bắc Ninh; đồ đá mỹ nghệ Non Nước, Đà Nẵng Nhiều địa phương đã phát triển hiệu quả mô hình kết hợp các tuyến du lịch với thăm quan làng nghề, từ gian trưng bày và bán sản phẩm đến các khu vực sản xuất, thu hút rất nhiều khách du lịch trong và ngoài nước (Chính phủ, 2011)
1.1.3.2 Đối với phát triển văn hoá truyền thống và vấn đề xã hội:
Việc duy trì và phát triển làng nghề (đặc biệt các làng nghề truyền thống)
có nghĩa là bảo tồn giá trị văn hoá dân tộc Sản phẩm là sự kết tinh của các lao động vật chất và tinh thần Nó được tạo nên bởi bàn tay tài hoa và óc sáng tạo của người thủ công Nó không đơn thuần chỉ là sản phẩm hàng hoá mà còn chứa đựng những nét đặc sắc văn hóa của từng vùng
Tại nhiều địa phương, việc giải quyết việc làm cho rất nhiều lao động đã tạo điều kiện giảm các tệ nạn xã hội như cờ bạc, nghiện hút,… góp phần đảm bảo
an sinh, xã hội cho khu vực nông thôn Đồng thời với sự quy tụ các tay nghề sản xuất giỏi, có cơ hội trao đổi, học hỏi kinh nghiệm, nâng cao trình độ; quy tụ các nguyên liệu sản xuất phong phú là một trong những yếu tố tạo sự đa dạng hóa của nền văn hóa và sản xuất tại nông thôn (Chính phủ, 2011)
Trang 191.1.4 Một số đặc điểm của làng nghề Việt Nam hiện nay
1.1.4.1 Đặc điểm chung
Theo thống kê, hiện trong cả nước có 13% số hộ nông dân chuyên sản xuất nghề, 27% số hộ nông dân tham gia sản xuất nghề, thu hút hơn 29% lực lượng lao động ở nông thôn Các làng nghề hoạt động với các hình thức khá đa dạng: Trong tổng số 40.500 cơ sở sản xuất ở các làng nghề có 80,1% là các hộ cá thể, 5,8% theo hình thức Hợp tác xã và 14,1% thuộc các dạng sở hữu khác Làng nghề Việt Nam có một số đặc điểm cơ bản là:
* Phân bố làng nghề trong cả nước:
Hiện nay, cả nước có 1.324 làng nghề được công nhận và 3.221 làng có nghề Hoạt động sản xuất nghề nông thôn đã tạo ra việc làm cho hơn 11 triệu lao động, thu hút khoảng 30% lực lượng lao động nông thôn; đặc biệt có những địa phương đã thu hút được hơn 60% lao động của cả làng, đã và đang có nhiều đóng góp cho ổn định đời sống nông dân, góp phần phát triển kinh tế nông thôn Làng nghề phân bố không đồng đều giữa các vùng, miền (miền Bắc khoảng 60%, miền Trung 30%, miền Nam 10%) Trong đó các làng nghề có quy mô nhỏ, trình độ sản xuất thấp, thiết bị cũ và công nghệ lạc hậu chiếm phần lớn (trên 70%) Vì vậy, đã và đang nảy sinh nhiều vấn đề môi trường tại các làng nghề (Bộ TN&MT, 2011)
Hình 1.1: Sự phân bố các làng nghề Việt Nam theo khu vực
(Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011)
Trang 20* Tình hình sản xuất của các làng nghề
- Nguyên liệu cho sản xuất:
Nguyên vật liệu cho các làng nghề chủ yếu được khai thác ở các địa phương trong nước Nước ta có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, phong phú nông sản và thực vật, đồng thời có nguồn khoáng sản phong phú, đa dạng trong đó có các loại vật liệu xây dựng Do đó, hầu hết các nguồn nguyên liệu vẫn lấy từ trực tiếp từ tự nhiên
Do sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất, việc khai thác và cung ứng các nguyên liệu tại chỗ hay các vùng khác trong nước đang dần bị hạn chế Ví dụ, theo thống kê, làng nghề gốm Bát Tràng (Hà Nội) mỗi năm tiêu thụ khoảng 70.000 tấn than, gần 100.000 tấn đất nguyên liệu; Các làng nghề chế biến gỗ, mây tre đan trong những năm qua đòi hỏi cung cấp một khối lượng nguyên liệu rất lớn, đặc biệt là các loại gỗ quý dùng cho sản xuất đồ gỗ ga dụng và gỗ mỹ nghệ Nhiều nguyên liệu chúng ta đã phải nhập từ một số nước khác
Sự khai thác bừa bãi, không có kế hoạch đã làm cạn kiệt tài nguyên và gây ảnh hưởng tới môi trường sinh thái Việc sơ chế các nguyên liệu chủ yếu do các
hộ, các cơ sở sản xuất tự làm với kỹ thuật thủ công hoặc các máy móc thiết bị tự chế lạc hậu Do đó, chưa khai thác hết hiệu quả của các nguyên liệu, gây lãng phí tài nguyên
- Công nghệ, thiết bị và cơ sở hạ tầng sản xuất:
Hầu hết các cơ sở sản xuất nghề nông thôn, nhất là ở khu vực các hộ tư nhân vẫn còn sử dụng các loại công cụ thủ công truyền thống hoặc cải tiến một phần Trình độ công nghệ còn lạc hậu, cơ khí hóa thấp, các thiết bị phần lớn đã
cũ, sử dụng lại của các cơ sở sản xuất công nghiệp quy mô lớn không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, an toàn và vệ sinh môi trường Trình độ công nghệ thủ công và bán cơ khí vẫn chiếm tỷ lệ hơn 60% ở các làng nghề
Hiện nay, để đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và thế giới, nhiều làng nghề đã áp dụng công nghệ mới, thay thế máy móc mới, hiện đại Ví dụ, làng gốm Bát Tràng đã dùng đã dần dần đưa công nghệ nung gốm sứ bằng lò tuy nen (dùng ga và điện) thay cho lò hộp và lò bầu (dùng than và củi), nhào luyện
Trang 21đất bằng máy thay cho bằng tay thủ công, dùng bàn xoay bằng mô tơ điện thay cho bàn xoay bằng tay ; làng gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ Bắc Ninh hiện nay đã đầu tư
11 máy xẻ ngang, 300 máy cắt dọc, 100 máy vanh, 500 máy khoan bàn, 500 máy phun sơn… phục vụ cho sản xuất, nhờ đó mà năng suất và chất lượng sản phẩm cũng được nâng cao rõ rệt…
Làng nghề Việt Nam trong nhiều năm qua ngày càng phát triển và đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH
1.1.4.2 Đặc điểm sản xuất của các làng nghề tái chế phế liệu
Các làng nghề tái chế phế liệu là các làng nghề mới được hình thành, số lượng ít nhưng lại phát triển nhanh về quy mô và loại hình tái chế, có thể phân chia 3 nhóm làng nghề tái chế cơ bản gồm:
Đa số các làng nghề loại này nằm ở khu vực phía bắc, công nghệ sản xuất
đã từng bước được cơ khí hoá
Theo Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2008, hiện nay cả nước
có 71 làng nghề tái chế phế liệu trong tổng số 1.324 làng nghề, chiếm khoảng 5,36%, trong đó tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc như: Hà nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Nam Định, Thanh Hóa
Bảng 1.2: Thống kê số lượng làng nghề tái chế phế liệu ở Việt Nam Khu vực
Trang 22Mặc dù số lượng các làng tái chế chất thải không lớn chỉ chiếm 5,36% tổng lượng làng nghề trong cả nước, nhưng tỷ lệ cơ giới hoá cao hơn các làng khác rất nhiều Sản phẩm của làng nghề tái chế rất đa dạng về mẫu mã và phong phú về chủng loại Do sản xuất nhỏ hộ gia đình, tính tự lập cao và tập trung trong quy mô làng xã nên rất năng động, linh hoạt trong các khâu
Việc tiếp cận thị trường, tìm đầu ra cho sản phẩm hoặc tìm hiểu thị hiếu của người sử dụng được các làng nghề nắm bắt và tận dụng rất nhanh, linh hoạt, luôn có sự cạnh tranh thị trường giữa các loại hình sản phẩm, tạo sự đa dạng phong phú các loại hình sản phẩm cũng như chất lượng của sản phẩm
Sản phẩm của các làng nghề tái chế phế liệu bao gồm:
Bảng 1.3: Các sản phẩm chính của làng nghề tái chế phế liệu
1 Minh Khai - Văn
Lâm - Hưng Yên Túi nilon, màng nilon Trong nước
(Nguồn: Cục kiểm soát ô nhiễm, Tổng cục môi trường)
Làng nghề tái chế phế liệu thu hút được khá nhiều lao động, ngoài những lao động tham gia trực tiếp tại làng nghề, còn có những người thu gom phế liệu
từ khắp các tỉnh thành trong cả nước
Theo thống kê, thu nhập bình quân từ sản xuất làng nghề tái chế phế liệu khá cao thường từ 3÷6 triệu đồng/người/tháng
Trang 23Tổng doanh thu ở một số làng nghề tái chế phế liệu rất cao so với sản xuất nông nghiệp và các loại hình dịch vụ khác, ví dụ như làng nghề Vân Chàng - Nam Định đạt 4,5 tỷ/năm, làng tái chế nhựa Minh Khai - Hưng Yên đạt 44 tỷ/năm, làng tái chế giấy Dương ổ - Bắc Ninh đạt 25 tỷ/năm (Bộ TN&MT, 2008)
1.2 Vấn đề môi trường tại các làng nghề ở Việt Nam
1.2.1 Nguyên nhân gây ô nhiễm tại khu vực các làng nghề
Quy mô sản xuất tại nhiều làng nghề là quy mô nhỏ, khó phát triển vì mặt bằng sản xuất chật hẹp xen kẽ với khu vực sinh hoạt
Trình độ nhận thức của người dân về các vấn đề môi trường còn chưa đầy đủ; trình độ người lao động, chủ yếu là lao động thủ công, học nghề, văn hoá thấp nên hạn chế nhận thức đối với công tác BVMT
Công nghệ sản xuất lạc hậu là lý do lớn nhất gây ô nhiễm môi trường Phần lớn sản xuất ở các làng nghề là do tự phát, sản xuất theo từng hộ đơn lẻ nên vốn đầu tư cho sản xuất nhỏ, các công nghệ sản xuất thô sơ lạc hậu, chủ yếu làm bằng thủ công đã dẫn đến không tận dụng hết tinh chất của vật liệu, làm tăng
lượng phát thải nhiều chất ô nhiễm môi trường Trình độ kỹ thuật ở các làng nghề
chủ yếu là thủ công, bán cơ khí Hoàn toàn chưa có làng nghề nào có áp dụng tự
động hoá (Đặng Kim Chi, 2005)
Tuy đã có những chính sách nhằm khuyến khích phát triển làng nghề bền vững nhưng đến nay phần lớn các làng nghề đều đang phát triển không cân đối, thiếu những quy hoạch và chính sách đồng bộ, chương trình giáo dục về môi trường cho cộng đồng còn nhiều hạn chế Vì thế hoạt động sản xuất tại làng nghề
còn nhiều bất cập (Nguyễn Thị Tươi, 2003)
1.2.2 Các nguồn phát thải trong làng nghề
Có rất nhiều nguồn thải gây ONMT ở làng nghề dưới đây là một số nguồn chính:
Hoạt động sản xuất ngành nghề tiểu thủ công nghiệp: Hoạt động này
tạo ra các chất gây ÔNMT như rác thải, nước thải, bụi và các khí độc hại Trong một số làng nghề sử dụng các hoá chất độc hại (dệt nhuộm, mạ và chạm
Trang 24bạc, tái chế giấy…) và lượng hoá chất này được thải ra môi trường qua nước thải hoặc khí thải
Hoạt động sản xuất nông nghiệp: Trong quá trình sản xuất sử dụng các
loại phân bón hoá học và phân hữu cơ, nước thải và chất thải rắn từ hoạt động chăn nuôi đều gây ô nhiễm môi trường
Sinh hoạt: Lượng rác thải do con người thải ra 0,2 - 0,5 kg/ngày (Đinh Xuân Hùng, 2005), trong quá trình đun nấu bằng than củi và than tổ ong đã tạo ra các khí độc hại Lượng nước thải do sinh hoạt của con người khá lớn có chứa các chất hữu cơ dễ và khó phân huỷ cũng góp phần gây ô nhiễm môi trường
1.2.3 Thực trạng ô nhiễm môi trường làng nghề hiện nay
1.2.3.1 Đặc trưng của ô nhiễm môi trường làng nghề
Các chất thải phát sinh tại nhiều làng nghề đã và đang gây ô nhiễm, tác động làm suy thoái môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người dân Ô nhiễm môi trường làng nghề có một số đặc điểm sau: (Bộ TN&MT, 2008)
Ô nhiễm môi trường làng nghề là dạng phân tán trong phạm vi một khu vực (xóm, thôn, xã…) Do quy mô sản xuất nhỏ, phân tán, đan xen với khu
vực sinh hoạt nên đây là loại hình ô nhiễm khó quy hoạch và kiểm soát
Ô nhiễm làng nghề mang đặc trưng của các hoạt động sản xuất theo ngành nghề và loại hình sản phẩm: do mỗi loại hình sản xuất, mỗi đặc trưng
sản phẩm của các làng nghề sẽ tạo ra các loại chất ô nhiễm khác nhau và tác động đến các thành phần môi trường cũng khác nhau Vì vậy ô nhiễm môi trường
ở các làng nghề là không đồng nhất, chúng có những nét khác biệt cụ thể phân theo từng nhóm các làng nghề chính
Trang 25Bảng 1.4: Đặc trưng ô nhiễm từ sản xuất của một số loại hình làng nghề tái chế Loại hình
Bụi giấy, tạp chất giấy phế liệu, bao bì, hóa chất
HF, HCl, THC
COD, SS, dầu
mỡ, CN-, kim loại
Xỉ than, rỉ sắt, vụn kim loại nặng
Ô nhiễm nhiệt
Tái chế nhựa
Bụi, CO, Cl2, HCl, THC, hơi hữu cơ
BOD5, COD,
SS, tổng N, tổng P, dầu
mỡ, độ màu
Nhãn mác Ô nhiễm nhiệt
(Nguồn: Đặng Kim Chi, 2005)
Ô nhiễm làng nghề thường khá cao tại khu vực sản xuất và ảnh hưởng trực tiếp đến người lao động và người dân làng nghề: do mặt bằng sản
xuất chật hẹp, máy móc thiết bị thô sơ, lạc hậu, trình độ quản lý thấp, điều kiện sản xuất không bảo đảm nên mức độ ô nhiễm tại các cơ sở sản xuất làng nghề khá cao Người lao động do không được trang bị đầy đủ các dụng cụ bảo hộ lao động, lại thường xuyên tiếp xúc với các loại chất thải nên chịu tác động trực tiếp của quá trình ô nhiễm Mặt khác do khu sản xuất đan xen với khu dân cư nên việc lan truyền các chất ô nhiễm từ nơi sản xuất tới nơi sinh hoạt là rất dễ dàng điều này gây ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe của người dân trong khu vực làng nghề
Trang 261.2.3.2 Thực trạng ô nhiễm môi trường làng nghề hiện nay
Vấn đề môi trường mà các làng nghề đang phải đối mặt không chỉ giới hạn ở trong phạm vi các làng nghề mà còn ảnh hưởng đến người dân ở vùng lân cận Theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2008 với chủ đề “Môi trường làng nghề Việt Nam”, Hiện nay “hầu hết các làng nghề ở Việt Nam đều bị ô nhiễm môi trường (trừ các làng nghề không sản xuất hoặc dùng các nguyên liêu không gây ô nhiễm như thêu, may ) Chất lượng môi trường tại hầu hết các làng nghề đều không đạt tiêu chuẩn khiến người lao động phải tiếp xúc với các nguy cơ gây hại cho sức khỏe, trong đó 95% là từ bụi; 85,9% từ nhiệt và 59,6%
từ hóa chất Kết quả khảo sát 52 làng nghề cho thấy, 46% làng nghề có môi trường bị ô nhiễm nặng ở cả 3 dạng; 27% ô nhiễm vừa và 27% ô nhiễm nhẹ” (Bộ TN&MT, 2008)
Ô nhiễm nước: Khối lượng và đặc trưng nước thải sản xuất ở các làng
nghề phụ thuộc chủ yếu vào công nghệ sản xuất và nhiên liệu dùng trong sản xuất Chế biến lương thực thực phẩm, chăn nuôi, giết mổ gia súc, gia cầm, ươm
tơ, dệt nhuộm là những ngành sản xuất có nhu cầu nước rất lớn và cũng xả thải khối lượng lớn nước thải với mức ô nhiễm hữu cơ cao đến rất cao Ngược lại, một số ngành như tái chế, chế tác kim loại, đúc đồng, nhôm nhu cầu nước không lớn nhưng nước thải bị ô nhiễm các chất rất độc hại như các hóa chất, axit, muối kim loại, xyanua và các kim loại nặng như Hg, Pb, Cr, Zn, Cu
Kết quả khảo sát chất lượng nước thải của các làng nghề các năm gần đây cho thấy mức độ ô nhiễm hầu như không giảm, thậm trí còn tăng cao hơn trước
Ô nhiễm không khí: Các làng nghề tại Việt Nam rất đa dạng, trong đó
một số loại hình sản xuất có đặc thù phát thải nhiều loại khí độc hại như làng nghề tái chế kim loại, giấy, nhựa, đúc đồng, làng nghề tái sản xuất vật liệu xây dựng, thực phẩm, chế tác đa Các khí thải điển hình như bụi, khí SO2, NO2, hơi axit và kiềm sản sinh từ các quá trình như xử lý bề mặt, nung, sấy, tẩy trắng, đục tạo hình các sản phẩm (Bộ TN&MT, 2008)
Trang 27Hình 1.2: Ước tính thải lượng các chất ô nhiễm trong khí thải làng nghề khu vực đồng bằng sông hồng
Ghi chú: Tính toán dựa trên tổng số dân
(Nguồn: Bộ TN&MT, 2008)
Môi trường khu vực sản xuất tại các làng nghề tái chế kim loại hiện đang
bị ô nhiễm nặng nề Ngoài ô nhiễm không khí do đốt nhiên liệu, thể hiện ở các thông số như bụi , SO2, CO, NO2 , quá trình tái chế gia công cũng phát sinh các khí
độc như hơi axit, kiềm, oxit kim loại và gây ô nhiễm nhiệt (Bộ TN&MT, 2008)
Hình 1.3: Hàm lượng bụi trong không khí tại làng nghề tái chế kim loại
Trang 28Ô nhiễm chất thải rắn: Thống kê năm 2008 cho thấy các làng nghề tại
miền Bắc phát sinh nhiều chất thải nguy hại nhất, đặc biệt là các làng nghề tái chế kim loại, đúc đồng với nguồn chất thải rắn phát sinh bao gồm bavia, bụi kim loại, phôi, rỉ sắt với lượng phát sinh khoảng 1 - 7 tấn/ngày Các làng nghề tái chế nguyên liệu các loại rác thải thông thường là nhựa, túi nilon, giấy, hộp, vỏ lon, kim loại và các loại rác thải khác thường được đổ ra bất kỳ dòng nước hoặc khu đất trống nào Làm cho nước ngầm và đất bị ô nhiễm các chất hóa học độc hại, ảnh hưởng tới sức khỏe của con người (Bộ TN&MT, 2008)
Hình 1.4: Lượng chất thải rắn tại một số làng nghề tái chế kim loại
Theo Báo Nhân dân ngày 23/6/2005, PGS.TS Đặng Kim Chi đã cảnh báo
“100% mẫu nước thải ở các làng nghề được khảo sát có thông số vượt tiêu chuẩn cho phép Môi trường không khí bị ô nhiễm có tính cục bộ tại nơi trực tiếp sản xuất, nhất là ô nhiễm bụi vượt TCCP và ô nhiễm do sử dụng nhiên liệu than củi
Tỷ lệ người dân làng nghề mắc bệnh cao hơn các làng thuần nông, thường gặp ở các bệnh về đường hô hấp, đau mắt, bệnh đường ruột, bệnh ngoài da Nhiều dòng sông chảy qua các làng nghề hiện nay đang bị ô nhiễm nặng; nhiều ruộng lúa, cây trồng bị giảm năng suất do ô nhiễm không khí từ làng nghề” Hà Nội là một trong những thành phố có nhiều làng nghề nhất cả nước Sau khi mở rộng (2008), Hà Nội có tổng cộng 1.275 làng có nghề, trong đó có 226 làng nghề được UBND thành phố công nhận theo các tiêu chí làng nghề, với nhiều loại hình sản xuất khác
Trang 29nhau, từ chế biến lương thực, thực phẩm; chăn nuôi, giết mổ; dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da đến sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác đá; tái chế phế liệu; thủ công mỹ nghệ Trong số này, làng nghề thủ công mỹ nghệ chiếm 53% với 135 làng nghề, tiếp đó là làng nghề dệt nhuộm đồ da chiếm 23% với 59 làng nghề, làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm chiếm 16,9% với 43 làng nghề Hiện nay, phần lớn lượng nước thải từ các làng nghề này được xả thẳng ra sông Nhuệ, sông Đáy mà chưa qua xử lý khiến các con sông này đang bị ô nhiễm nghiêm trọng Chưa kể đến một lượng rác thải, bã thải lớn từ các làng nghề không thể thu gom và xử lý kịp, nhiều làng nghề rác thải đổ bừa bãi ven đường đi và các khu đất trống
1.3 Ảnh hưởng của hoạt động sản xuất làng nghề tới sức khoẻ cộng đồng xung quanh
Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên Môi trường, ô nhiễm môi trường làng nghề chính là “thủ phạm” làm gia tăng tỷ lệ người mắc bệnh đang lao động và sinh sống tại chính làng nghề đó, và tỷ lệ này đang có xu hướng tăng trong những năm gần đây Theo kết quả điều tra cho thấy, tại nhiều làng nghề tỷ lệ người mắc bệnh (đặc biệt là nhóm người trong độ tuổi lao động) đang có xu hướng tăng cao
Tỷ lệ mắc các bệnh ngoài da, tiêu chảy, hô hấp và đau mắt tại các làng nghề cao hơn rất nhiều lần so với làng không làm nghề Ô nhiễm môi trường tại các làng nghề tái chế phế liệu gây tác hại nghiêm trọng nhất tới sức khỏe cộng đồng do hơi độc, nhiệt độ, tiếng ồn và chất thải rắn Bốn nhóm bệnh có tỷ lệ mắc cao tại làng nghề này là bệnh phổi; bệnh tiêu hóa, mắt và phụ khoa; ung thư phổi và lao phổi Đặc biệt, theo thống kê tuổi thọ trung bình của người dân tại các làng nghề ngày càng giảm đi, thấp hơn 10 năm so với tuổi thọ trung bình toàn quốc
Kết quả khảo sát cho thấy, nhiều người sản xuất trực tiếp thường bị mệt mỏi, căng thẳng thần kinh và các bệnh về đường hô hấp Trong tổng số người ở các làng nghề, các bệnh phổ biến thường gặp như bệnh phụ khoa chiếm 13-38%; bệnh về đường tiêu hóa chiếm 8- 30%; viêm da chiếm 4,5- 23%, bệnh về đường
hô hấp 6- 18%; đau mắt 9-15% Nguyên nhân gây bệnh ở các làng nghề chủ yếu
là do vệ sinh môi trường không đảm bảo, nguồn nước sạch khan hiếm Tỷ lệ người mắc bệnh ở làng nghề chế biến nông sản thực phẩm Dương Liễu (Hà Tây),
Trang 30nghề bún bánh Vũ Hội (Thái Bình) là 70%; làng nghề bún Phú Đô (Hà Nội) là 50%; làng nghề bún bánh Yên Ninh, nước mắm Hải Thanh (Thanh Hoá) là 15%
Số người già tại các làng nghề này rất thấp Người trên 90 tuổi hoàn toàn không
có Tỷ lệ trẻ em ở các làng nghề mắc bệnh cao, chủ là bệnh về đường tiêu hóa, hô hấp Phụ nữ mắc bệnh phụ khoa do nước sinh hoạt không sạch Tỷ lệ mắc bệnh
ở các làng nghề tái chế cao hơn 15-23% so với các làng nghề không sản xuất Bệnh về đường hô hấp ở trẻ em, phụ khoa ở phụ nữ chiếm 30-45% trên tổng số trẻ em và phụ nữ trong làng Tuổi thọ trung bình khu vực làng nghề này thấp, chỉ
từ 55-63 tuổi Đặc biệt, tuổi thọ trung bình ở nam giới chỉ từ 50- 55 tuổi Các bệnh dịch như tiêu chảy, đau mắt đỏ, ngộ độc… cũng ngày một tăng
1.4 Làng nghề tái chế nhựa và những tác động đến môi trường
1.4.1 Giới thiệu chung về làng nghề tái chế nhựa
Là thành viên của khối làng nghề tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề tái chế nhựa nói chung đã có những đóng góp không nhỏ cho nền kinh tế đa thành phần của đất nước trong thời kỳ đổi mới Số lượng làng nghề tái chế nhựa tại Việt Nam không nhiều, một số làng nghề điển hình là: Minh Khai, Phú Xuyên,
Hà Tây; Văn Phúc, Văn Giang, Hưng Yên; Triều Khúc, Trung Văn, Hà Nội, và một số làng nghề tái chế nhựa ở miền Trung và miền Nam Các làng nghề đã giải quyết được nhiều công ăn việc làm cho người lao động từ khâu thu mua cho đến khâu phân loại và xay rửa nguyên liệu và cũng đã xử lý được lượng lớn phế thải Trong những năm gần đây một số làng nghề tái chế nhựa đã phát triển nhanh chóng, không những thu hút nhiều lao động trong làng mà còn sử dụng nhiều lao động từ các vùng lân cận tham gia sản xuất Số lượng lao động như vậy nhiều hơn số công nhân của một nhà máy công nghiệp quốc doanh cùng ngành quy mô nhỏ Trang thiết bị cũng được đầu tư đáng kể để tạo ra được những mặt hàng đa dạng, phong phú đáp ứng nhu cầu thị trường
1.4.2 Công nghệ sản xuất
Công nghệ sản xuất tại các làng nghề tái chế chất dẻo nói chung có nhiều công đoạn hoàn toàn tương tự nhau, thường chỉ khác nhau ở khâu cuối là khâu tạo ra các loại hình sản phẩm khác nhau
Trang 31Quy trình công nghệ sản xuất của các làng nghề tái chế nhựa thể hiện dưới hình sau:
Hình 1.5 Công nghệ sản xuất được áp dụng hiện nay tại các làng nghề tái
chế nhựa
* Mô tả tóm tắt các công đoạn tái chế nhựa:
- Các chất thải nhựa được thu gom về các làng nghề từ khắp các tỉnh thành Tiếp theo đó, chúng được phân loại hoàn toàn thủ công và dựa vào kinh nghiệm của người thợ
- Sau khi phân loại, nguyên liệu được xay rửa (hoặc xay khô) Nước được bơm trực tiếp vào máy xay Sau khi ra khỏi máy xay, nhựa được đi làm khô tự nhiên bằng cách phơi trên sân hoặc cánh đồng, đường làng,
Trang 32- Sau khi phơi khô, nhựa nguyên liệu được nạp vào phễu nạp liệu, được trục vít đẩy vào bộ phận gia nhiệt nấu chảy, sau đó đùn thành các dây nhựa, làm lạnh và cắt tạo hạt
Do trong quá trình giặt rửa, phơi khô, phế liệu còn lẫn các tạp chất nên người ta đặt các tấm lưới bằng kim loại ở đầu phun của máy Tùy theo sản phẩm
mà thời gian thay lưới lọc khác nhau, ví dụ với quá trình sản xuất túi nylon, khoảng 10 - 15 phút thay lưới lọc một lần (tùy vào độ bẩn của nguyên liệu)
Để sản xuất túi nylon, hạt nhựa được bổ sung bột màu theo tỷ lệ 0,1% vào thùng chứa, sau đó nhựa được gia nhiệt nấu chảy và được đẩy vật liệu đến bộ phận cán kéo, tạo màng bằng trục vít
Quá trình sản xuất dây thừng tương tự như sản xuất túi nylon Nhựa sau khi ép đùn thành sợi được làm nguội bằng nước lạnh qua một hệ thống trục nén, sau đó được gia nhiệt lần hai để kéo dãn sản phẩm, cuối cùng được đưa qua hệ thống trục cán trước khi được cuộn thành sản phẩm
* Nhu cầu nguyên liệu:
Nguyên liệu sử dụng cho công nghệ tái chế nhựa chủ yếu từ các loại nhựa phế liệu Chúng được thu gom từ nhiều địa phương như Hải Phòng, Thanh Hóa, Nghệ An, Sơn La, Lạng Sơn và khắp các tỉnh thành trong cả nước đặc biệt là các thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh thông qua mạng lưới thu mua phế liệu Nguyên liệu này có nguồn gốc khác nhau như:
- Chất thải công nghiệp: vỏ ti vi, radio, bao bì công nghiệp, vỏ máy thiết
bị bằng nhựa,
- Chất thải nông nghiệp: hộp đựng hóa chất, thuốc trừ sâu, bao bì vật tư nông nghiệp,
- Chất thải dịch vụ: bơm tiêm, chai dung dịch truyền, các loại túi nylon, can,
- Chất thải sinh hoạt: các hộp đựng mỹ phẩm, chai đựng thực phẩm, nước uống,
Nhìn chung các chất thải này khi thu gom thường được phân loại theo thành phần các loại nhựa: nhựa HDPE, PP, PS, PVC, PET,
Theo số liệu điều tra tại một số làng nghề thu gom, tái chế nhựa điển hình thì thành phần và lượng thu gom, tái chế được thể hiện trong bảng dưới đây:
Trang 33Bảng 1.5: Thành phần và khối lượng nhựa thải được thu gom, tái chế
Trung Văn tấn/năm
Đại Thắng tấn/năm
(Nguồn: Đặng Kim Chi và cs, 2006)
* Thiết bị, máy móc được sử dụng:
Một số thiết bị chính sử dụng trong các dây chuyền sản xuất tại một số làng nghề tái chế nhựa điển hình như: máy xay, nghiền nhựa, máy tạo hạt, máy thổi túi nylon, máy kéo dây, máy cán, máy bơm nước, được sản xuất trong nước theo kiểu tự chế hoặc nhập khẩu từ Trung Quốc, Hàn Quốc (Bảng 1.6)
Bảng 1.6 Một số máy móc thiết bị chính trong dây chuyền tái chế nhựa
TT Loại máy móc, thiết bị Năng suất Đặc điểm Nơi sản xuất
1 Máy xay, nghiền nhựa 200 - 300 kg/h Máy tự chế tạo Việt Nam
2 Máy tạo hạt nhựa 200 - 250 kg/h Chế tạo trong
4 Máy kéo dây (dây
cước, dây buộc) 200 -230 kg/h
Kiểm soát được nhiệt độ
Máy bơm nước cấp
cho giặt rửa, xay
Trang 34* Đánh giá chung về công nghệ sản xuất tại các làng nghề tái chế nhựa:
- Thu gom tốn nhiều công lao động và phân loại hoàn toàn thủ công bằng mắt nên hiệu suất thấp và tốn nhân công
- Phân loại sau khi xay, rửa bằng tuyển nổi chỉ phân ra được hai loại: nổi (HDPE, LDPE, PP) và loại chìm (PS, PET, PVC)
- Không tách riêng ra các loại nhựa phế thải đựng các chất nguy hiểm như: hóa chất, thuốc trừ sâu, bơm tiêm,
- Chỉ giặt rửa bằng nước thường nên không loại được hết các tạp chất dính vào phế liệu
- Thiết bị xay, rửa được chế tạo trong nước, do những người thợ cơ khí trong làng tự chế tạo nên chưa khống chế được lượng nước rửa và lượng nhựa xay
- Sấy khô bằng phơi khô tự nhiên nên chịu ảnh hưởng của thời tiết và sản phẩm dễ bị nhiễm bẩn
- Thiết bị tạo hạt chế tạo trong nước, chưa có bộ phận điều nhiệt và chưa
an toàn về điện
1.4.3 Tác động từ các hoạt động sản xuất của làng nghề tái chế nhựa đến môi trường
1.4.3.1 Môi trường nước
Công nghệ tái chế nhựa có mức độ cơ giới hóa cao, đạt tới 60 - 70 % Tuy nhiên do máy móc phần lớn đã cũ, tận dụng, không đồng bộ, hiệu quả sản xuất không cao thải ra nhiều chất thải gây ô nhiễm môi trường
Thaoe điều tra của PGS.TS Đặng Kim Chi và cs, nước thải từ các làng nghề tái chế nhựa có hàm lượng chất ô nhiễm COD = 70 - 135mg/l, BOD5 = 34 - 84mg/l, vượt TCCP từ 1 - 2 lần
1.4.3.2 Môi trường không khí
Kết quả khảo sát tại các làng nghề tái chế nhựa cho thấy nồng độ hơi khí ô nhiễm hầu hết đều vượt tiêu chuẩn cho phép, cụ thể:
- Bụi trong không khí dao động trong khoảng 1,45 - 1,33 mg/m3, vượt TCCP 0,5 - 4 lần
Trang 35- Hàm lượng THC đo được ở khu vực các bãi rác của làng nghề tái chế nhựa là 5,36mg/l vượt TCCP 1,16 lần
Hai yếu tố tác động mạnh tới vi khí hậu ở làng nghề tái chế nhựa là độ ẩm
và tiếng ồn Tiếng ồn vượt tiêu chuẩn từ 10 - 15dBA, độ ẩm tương đối cao, hơi
ẩm cuốn theo hơi hóa chất, dung môi hóa dẻo gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe người lao động và khu vực xung quanh (Đặng Kim Chi và cs, 2006)
1.4.3.3 Chất thải rắn và môi trường đất
Kết quả phân tích chất lượng đất tại làng nghề tái chế nhựa cho thấy môi trường đất chưa bị ảnh hưởng nhiều, các thông số như hàm lượng cacbon, nitơ, phốt pho, độ chua hay các kim loại nặng đều ở mức trung bình Tuy nhiên về mặt lâu dài nếu không đảm bảo điều kiện vệ sinh môi trường sẽ gây ô nhiễm nặng nề hơn nữa (Đặng Kim Chi và cs, 2006)
1.5 Thực trạng quản lý môi trường làng nghề hiện nay
1.5.1 Các chính sách của nhà nước, địa phương đang áp dụng quản lý đối với làng nghề
Một trong những hướng đi cơ bản để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy
sự phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn đó là nhà nước, với vai trò và quyền hạn của mình thực hiện các chính sách khuyến khích phát triển các ngành nghề ở nông thôn Hàng loạt các chính sách biện pháp cụ thể đã được đề ra và áp dụng ở các mức khác nhau tại các làng nghề trong cả nước
Luật BVMT năm 2005 là văn bản quy phạm pháp luật cao nhất trong lĩnh vực môi trường, trong đó có một điều riêng (Điều 38) về BVMT làng nghề và các điều khoản khác liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp Hàng loạt các Nghị định của chính phủ ban hành để hướng dẫn thi hành luật môi trường: Nghị định 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều luật BVMT; Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28/2/2008 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Chính phủ; Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT,
Ngày 07 tháng 7 năm 2006 Chính phủ đã ban hành Nghị định số
Trang 3666/2006/NĐ-CP về chính sách phát triển các ngành nghề nông thôn, trong đó quy định cụ thể về tiêu chí làng nghề và các chính sách khuyến khích, ưu đãi, trong
đó nhấn mạnh chương trình bảo tồn, phát triển làng nghề
Thông tư số 113/TT-BTC ngày 28/12/2006 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn một số nội dung về ngân sách nhà nước hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn theo Nghị định số 66/2006/NĐ-CP, trong đó có quy định một trong các nội dung được hưởng hỗ trợ bao gồm “Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và xử
lý môi trường cho các làng nghề, cụm cơ sở nghành nghề nông thôn”
Nghị định số 189/2007/NĐ-CP quy định: Bộ công thương “Quản lý các cụm, điểm công nghiệp ở cấp huyện và các doanh nghiệp công nghiệp ở địa phương”; Quyết định số 132/2008/QĐ-TTg quy định nhiệm vụ của Tổng cục môi trường về kiểm soát ô nhiễm “kiểm soát chất lượng môi trường tại các đô thị, nông thôn, miền núi, lưu vực sông và vùng ven biển, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, cụm công nghiệp, làng nghề… theo quy định của pháp luật”; Quyết định số 577/QĐ-TTg ngày 11/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ về "Phê duyệt đề án tổng thể bảo vệ môi trường làng nghề đến năm 2030"; Thông tư số 46/2011/TT-BTNMT ngày 26/12/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường "Quy định về bảo vệ môi trường làng nghề"
Ở các tỉnh, thành phố còn có các văn bản hướng dẫn quy định liên quan tới công tác quản lý môi trường làng nghề ở địa phương
Các chính sách của Nhà nước về việc triển khai công tác xã hội hoá bảo vệ môi trường làng nghề đã huy động được sự tham gia tích cực của người dân, người sản xuất Nhiều hương ước đã ra đời tại các làng nghề, nhiều tổ chức tự nguyện hoạt động BVMT với sự đóng góp tài chính của từng hộ sản xuất đã hoạt động hiệu quả
Một số địa phương đã xây dựng và triển khai quy hoạch tập trung cho làng nghề với BVMT, bước đầu triển khai một số công cụ quản lý trong BVMT làng nghề như: áp dụng công cụ kinh tế bằng các hình thức thuế, phí BVMT; quan trắc giám sát chất lượng các thành phần môi trường; công khai phổ biến thông tin
về hiện trạng môi trường
Trang 37Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng quản lý môi trường làng nghề vẫn đang còn có nhiều tồn tại, bất cập chưa được giải quyết ở các mức
độ và cấp độ quản lý khác nhau Đây chính là nguyên nhân quan trọng khiến cho môi trường tại nhiều làng nghề trong thời gian chưa được cải thiện, có nhiều nơi xuống cấp nghiêm trọng Sau đây là một số những yếu kém của hệ thồng quản lý môi trường cần được chú ý giải quyết
1.5.2 Những bất cập trong công tác quản lý môi trường ở làng nghề hiện nay
Theo báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia (2008), công tác quản lý môi trường trong các làng nghề ở nước ta đang có rất nhiều tồn tại:
1.5.2.1 Các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề còn thiếu và chưa đầy đủ
Cho đến thời điểm hiện nay vẫn chưa có một văn bản nào hướng dẫn thực hiện, quy định vấn đề bảo vệ môi trường làng nghề theo các đặc thù riêng của mỗi loại hình sản xuất làng nghề, vẫn còn sự chồng chéo và không rõ ràng về vai trò và trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường làng nghề giữa các Bộ/ngành và giữa Bộ/ngành với địa phương Bên cạnh đó việc phối hợp liên ngành vẫn còn nhiều hạn chế, sự phối hợp của các cơ quan chưa tốt, sự chồng chéo về chức năng quản lý phát triển làng nghề giữa Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
và Bộ Công Thương dẫn đến thiếu việc hướng dẫn, định hướng và hộ trợ cụ thể trong sản xuất, thương mại các làng nghề theo hướng vừa phát triển sản xuất vừa bảo vệ môi trường để phát triển bền vững
Ở cơ sở (xã, thôn) vai trò của các cấp chính quyền trong quản lý môi trường làng nghề còn mờ nhạt Sự kết hợp giữa các cơ quan quản lý môi trường các cấp còn nhiều hạn chế
Công tác quy hoạch khu/cụm công nghiệp tập trung cho làng nghề để hạn chế ô nhiễm môi trường nhưng còn nhiều vấn đề tồn tại, cho tới nay chưa có nhiều khu, cụm làng nghề được thành lập Mặt khác do chính quyền cấp huyện,
xã làm chủ đầu tư cho cụm công nghiệp tập trung, làng nghề nên trong quá trình triển khai tập trung các làng nghề này gặp nhiều khó khăn về quy hoạch và chiến lược phát triển; Cơ sở hạ tầng cho họ thường mới chỉ dừng lại ở việc cấp điện, hệ thống
Trang 38đường giao thông nội bộ đơn giản, một số ít khu có hệ thống cấp thoát nước, tổ thu gom, vận chuyển chất thải rắn đến bãi rác (Bộ TN&MT, 2008)
1.5.2.2 Tổ chức thực hiện những quy định về bảo vệ môi trường làng nghề còn yếu và chưa phát huy hiệu quả
- Còn chậm trong việc quán triệt và triển khai các văn bản pháp quy về bảo vệ môi trường làng nghề tại các cấp;
- Công tác thanh tra, kiểm tra việc thi hành các quy định về bảo vệ môi trường tại làng nghề chưa được thường xuyên và triệt để, xử phạt hành chính các
cơ sơ vi phạm tại làng ngề còn chưa nghiêm;
- Nghị định 67/2003NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải đã
có hiệu lực từ năm 2003 Nhưng việc thu phí bảo vệ môi trường đối với làng nghề hầu như chưa triển khai được Nguyên nhân là do trong làng nghề các hoạt động sinh hoạt, sản xuất đan xen nhau, ngoài ra đời sống của người dân còn nghèo mà nước sử dụng chủ yếu là nước mưa, giếng, sông hồ… nên việc thu phí nước thải rất khó khăn;
- Nghị định số 174/2007/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn, qua một năm thực hiện việc thu phí chất thải rắn cũng không có gì khả quan hơn đối với nước thải;
- Công tác tuyên truyền về bảo vệ môi trường ở làng nghề chưa được chú trọng, thiếu tính sáng tạo, chưa kết hợp được với trường học, tổ chức xã hội, nghề nghiệp, tổ chức tôn giáo, chưa khuyến khích và hướng dẫn cụ thể việc thực hiện và phát triển hương ước làng xã (Bộ TN&MT, 2008)
1.5.2.3 Nhân lực, tài chính và công nghệ cho bảo vệ môi trường làng nghề không đáp ứng nhu cầu
Nhân lực quản lý môi trường từ Trung ương tới địa phương chưa đủ về số lượng, thiếu người chuyên trách về môi trường làng nghề và không được đào tạo một cách bài bản Theo thống kê thì có tới 95% cán bộ chuyên trách về môi trường không được đào tạo một cách đầy đủ
Từ năm 2002 tới nay, tổng đầu tư của cả nước cho làng nghề vào khoảng
550 tỷ đồng phục vụ việc xây dựng cơ sở hạ tầng Qua số liệu thu thập được của
Trang 39làng nghề cho thấy chưa có hoặc có rất ít ngân sách cho các công trình xử lý chất thải của làng nghề
Công nghệ sản xuất sạch hơn còn rất hạn chế, các công nghệ khác đều thiếu tính bền vững và không nhân rộng được mô hình (Bộ TN&MT, 2008)
1.5.2.4 Chưa huy động được đầy đủ các nguồn nhân lực xã hội trong bảo vệ môi trường làng nghề
Sự tham gia của cộng đồng địa phương chỉ dừng lại ở việc bày tỏ sự phản kháng khi bị ảnh hưởng do ô nhiễm môi trường, hoặc khi các công trình vệ sinh công cộng xây dựng gần ở chỗ ở
Các chủ hộ sản xuất không muốn hoặc không có vốn cho đầu tư vào các công nghệ sản xuất nhằm giảm thiểu ô nhiễm, hơn nữa trình độ của các chủ hộ sản xuất làng nghề còn kém hầu hết là chỉ hết cấp 2 nên nhận thức về các vấn đề bảo vệ môi trường còn rất hạn chế
Tính cộng đồng có ảnh hưởng lớn tới việc quản lý môi trường của làng nghề, nơi có tính cộng đồng cao thì quản lý môi trường đem lại hiệu quả tích cực
và ngược lại (Bộ TN&MT, 2008)
Trang 40Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Do thời gian có hạn nên nghiên cứu tập trung vào thực trạng môi trường (bao gồm rác thải và môi trường nước) và tình hình quản lý môi trường tại làng nghề Phan Bôi
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn thôn Phan Bôi, xã Dị Sử, huyện
Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên
Thời gian nghiên cứu từ tháng 01/2014 - 5/2015
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của làng nghề tái chế nhựa Phan Bôi, xã Dị Sử, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên
- Tình hình sản xuất, thu mua và tái chế nhựa (cơ sở hạ tầng, quy trình, quy mô sản xuất, sản phẩm hàng hóa, tiêu thụ… của làng nghề)
- Đánh giá hiện trạng môi trường tại làng nghề:
+ Kiểm kê các nguồn phát thải chính
+ Hiện trạng môi trường (Chất thải rắn và môi trường nước)
- Công tác quản lý môi trường hiện nay tại làng nghề
- Đánh giá của người dân về công tác quản lý môi trường và ảnh hưởng của môi trường đối với đời sống và sức khỏe người dân
- Đề xuất các giải pháp quản lý, xử lý môi trường tại làng nghề tái chế nhựa Phan Bôi, xã Dị Sử, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp khảo sát thực địa
Tiến hành đi đến địa điểm nghiên cứu, quan sát trực tiếp thực trạng môi trường tại làng nghề, mô tả chụp ảnh để chứng thực, làm nguồn tư liệu
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu
2.3.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp:
Tài liệu liên quan đến điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội có sẵn đã được tổng