BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM --- --- NGUYỄN BÍCH NGỌC THÀNH PHẦN SÂU MỌT TRONG KHO BẢO QUẢN THỨC ĂN GIA SÚC; ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC LOÀI MỌT
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
NGUYỄN BÍCH NGỌC
THÀNH PHẦN SÂU MỌT TRONG KHO BẢO QUẢN THỨC
ĂN GIA SÚC; ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC LOÀI MỌT RĂNG
CƯA (Oryzaephilus surinamensis Linnaeus) VÀ HIỆU LỰC
DIỆT TRỪ BẰNG THUỐC PHOSPHINE TẠI HÀ NỘI
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng,
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Bích Ngọc
Trang 3Lời cảm ơn
Để đề tài được hoàn thành tốt, trong suốt thời gian thực tập, nghiên cứu, tôi
đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của Giáo viên hướng dẫn, của các tập thể, cá nhân, sự động viên của gia đình và bạn bè
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn tới TS Lê Ngọc Anh – Học viện Nông Nghiệp Việt Nam đã dành cho tôi sự chỉ dẫn và giúp đỡ tận tình trong suốt thời gian thực tập và nghiên cứu hoàn thành đề tài
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của tập thể các thầy, cô giáo bộ môn Côn trùng – Khoa Nông Học –Học viện Nông Nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo và tập thể cán bộ Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng 5 – Hà Nội, Trung tâm Giám Định Kiểm dịch thực vật – Cục Bảo vệ thực vật đã động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa học và thực hiện đề tài nghiên cứu
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của mình đến tất cả bạn bè, người thân
và gia đình đã luôn động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành nghiên cứu này
Hà Nội, ngày 10 tháng 02 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Bích Ngọc
Trang 41.2.1 Nghiên cứu về thành phần côn trùng gây hại trong kho bảo
1.3.1 Nghiên cứu về thành phần côn trùng gây hại trong kho bảo
Trang 51.3.4 Nghiên cứu về giống Oryzaephilus – Mọt răng cưa Oryzaephilus
2.6.1 Phương pháp điều tra thành phần sâu mọt hại trong kho bảo quản
2.6.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái của loài mọt răng
2.6.3 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của loài mọt răng cưa
2.6.4 Đánh giá hiệu lực diệt trừ mọt răng cưa Oryzaephilus
surinamensis L bằng thuốc xông hơi Phosphine trong
2.6.5 Phương pháp xử lý số liệu 35
3.1 Thành phần sâu mọt hại trong kho bảo quản thức ăn gia súc tại Hà Nội và
3.1.1 Thành phần sâu mọt hại trong kho bảo quản thức ăn gia súc tại
3.1.2 Thành phần sâu mọt hại trong kho bảo quản thức ăn gia súc tại
3.1.3 Thành phần sâu mọt hại trong kho bảo quản thức ăn gia súc tại
3.1.4 Thành phần sâu mọt hại trong kho bảo quản thức ăn gia súc tại
Trang 63.2 Nghiên cứu đặc điểm hình thái của loài mọt răng cưa Oryzaephilus
3.3 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của loài mọt răng cưa
3.3.1 Thời gian phát dục các pha và vòng đời của mọt răng cưa
Oryzaephilus surinamensis L trên các loại thức ăn khác
3.3.2 Sức sinh sản của mọt răng cưa Oryzaephilus surinamensis L trên
3.3.3 Nghiên cứu thời gian sống của trưởng thành mọt răng cưa
Oryzaephilus surinamensis L trong điều kiện có và
3.3.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn đến khả năng gia
tăng quần thể của mọt răng cưa Oryzaephilus surinamensis L và tỷ lệ hao hụt trọng lượng trên các loại
3.4 Đánh giá hiệu lực diệt trừ mọt răng cưa Oryzaephilus surinamensis L
bằng thuốc xông hơi Phosphine trong phòng thí nghiệm 67
Trang 7Danh mục bảng
1.1 Thành phần côn trùng và nhện chính hại kho nông sản trên thế giới 5
1.3 Hiệu quả của phosphine trong phòng trừ côn trùng hại kho nông sản 14 3.1.Thành phần sâu mọt hại trong kho bảo quản thức ăn gia súc tại khu vực
3.2.Thành phần sâu mọt hại trong kho bảo quản thức ăn gia súc tại khu vực
3.3 Thành phần sâu mọt hại trong kho bảo quản thức ăn gia súc tại khu vực
3.4 Thành phần sâu mọt hại trong kho bảo quản thức ăn gia súc tại Hà Nội và
3.5 Kích thước các pha phát dục của Oryzaephilus surinamensis L. 49
3.6 Thời gian phát dục của Oryzaephilus surinamensis L nuôi ở 25oC,
3.10 Tỷ lệ trứng nở của mọt răng cưa Oryzaephilus surinamensis L. 63
3.11 Thời gian sống của trưởng thành mọt Oryzaephilus surinamensis L
3.12 Khả năng gia tăng quần thể của mọt răng cưa Oryzaephilus surinamensis
L và tỷ lệ hao hụt trọng lượng trên các loại thức ăn ở nhiệt độ 300C,
3.13 Hiệu lực phòng trừ mọt răng cưa Oryzaephilus surinamensis L của
Trang 8Danh mục hình
3 1 Thành phần sâu mọt hại kho bảo quản thức ăn gia súc tại Hà Nội và phụ
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang được toàn cầu hoá, Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại quốc tế (WTO), sự giao lưu hàng hoá giữa các vùng, các quốc gia ngày càng phát triển mạnh mẽ thì nhiệm vụ của công tác Kiểm dịch thực vật ngày càng quan trọng Nhiệm vụ cơ bản của công tác Kiểm dịch thực vật là kiểm tra, phát hiện, xử lí nhằm ngăn chặn sự truyền lan của các đối tượng kiểm dịch thực vật từ vùng này sang vùng khác, từ quốc gia này sang quốc gia khác thông qua con đường xuất - nhập khẩu, trao đổi, vận chuyển, bảo quản các loại sản phẩm nông nghiệp Những năm gần đây, Việt Nam thường xuyên nhập khẩu rất nhiều loại nguyên liệu làm thức ăn gia súc như ngô, sắn, cám gạo, cám mì, DDGS (bã ngô lên men), gluten ngô, bã đậu nành, lúa mì, khô dừa, khô dầu đậu tương Cụ thể, năm
2013, Việt Nam đã nhập hơn 3,4 triệu tấn nguyên liệu trên từ Mỹ, Brazil, Canada, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Đài Loan, Malaysia, Mianmar Chúng thường được lưu trữ trong kho để sản xuất, chế biến dần
Trong quá trình bảo quản các loại hàng hóa và nông sản, chất lượng các loại sản phẩm này thường bị ảnh hưởng do sự xâm nhập và gây hại của nhiều loài côn trùng hại kho Trong khi, việc bảo quản hàng nông sản trong kho còn gặp nhiều khó khăn do các điều kiện về kho tàng còn hạn chế, phương thức bảo quản, sự luân chuyển hàng hóa không dứt điểm Cùng với khí hậu nóng, ẩm, rất thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển của côn trùng cho nên sự bùng phát dịch hại cũng như phát sinh các ổ dịch kiểm dịch thực vật là điều đáng quan tâm của hệ thống Kiểm dịch thực vật Trong công tác Kiểm dịch thực vật, việc quản lý dịch hại trong kho, trong đó công tác điều tra kho có ý nghĩa rất lớn, nó là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác kiểm dịch thực vật nội địa Đối với hàng nông sản nhập khẩu, công tác điều tra kho góp phần phúc tra kết quả kiểm dịch thực vật nhập khẩu, đặc biệt đối với các lô hàng nhiễm dịch hại kiểm dịch thực vật và những lô hàng có xuất xứ từ vùng dịch đã được xử lý theo quy định Công tác quản lý dịch hại và điều tra kho còn là cơ sở để phân tích, đánh giá nguy cơ dịch hại nhằm thúc đẩy hàng xuất khẩu
Trang 10và cũng là cơ sở để đề xuất những biện pháp xử lý nhằm bảo đảm hiệu quả xử lý và chất lượng nông phẩm Do đó, việc nắm vững thành phần côn trùng, xác định các ổ dịch hại kiểm dịch thực vật trong nội đia, các thông tin khoa học của côn trùng, nhện hại, thiên địch trong kho có ý nghĩa rất quan trọng
Trong các loài dịch hại kho, giống Oryzaephilus là giống gây hại thứ phát
nguy hiểm, gây ra những tổn thất lớn đối với nông sản bảo quản Giống Oryzaephilus hiện nay trên thế giới ghi nhận gồm 2 loài là Oryzaephilus surinamensis L và Oryzaephilus mercator F Trong đó, mọt răng cưa Oryzaephilus surinamensis L đã
có mặt trong kho thức ăn gia súc ở nước ta Còn Oryzaephilus mercator F chưa có
công bố nào ghi nhận sự phân bố của chúng trên lãnh thổ Việt Nam, tuy nhiên chúng lại phân bố ở một số nước lân cận thường xuyên giao thương hàng nông sản với nước
ta, hay ở những vùng có cùng kiểu khí hậu với Việt Nam như Thái Lan, Trung Quốc,
Malaysia, Mianmar… Trong khi đó, những nghiên cứu về giống Oryzaephilus nói chung và mọt răng cưa Oryzaephilus surinamensis L nói riêng ở nước ta chưa nhiều
Với mong muốn góp phần vào việc làm giảm tổn thất sau thu hoạch và trong quá trình bảo quản, đồng thời nâng cao hiệu quả của công tác kiểm dịch thực vật, hạn chế tối đa sự phát sinh, phát triển và gây hại của sâu mọt, mang lại hiệu quả
kinh tế, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, chúng tôi thực hiện đề tài: “Thành
phần sâu mọt trong kho bảo quản thức ăn gia súc; Đặc điểm sinh học loài mọt răng cưa (Oryzaephilus surinamensis Linnaeus) và hiệu lực diệt trừ bằng thuốc Phosphine tại Hà Nội và phụ cận 2014”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở điều tra thành phần sâu mọt hại trong kho bảo quản thức ăn gia súc khu vực Hà Nội và phụ cận, xác định đặc điểm hình thái, sinh học của loài mọt
răng cưa (Oryzaephilus surinamensis L.), đánh giá hiệu lực diệt trừ chúng bằng
thuốc Phosphine, từ đó làm cơ sở xây dựng biện pháp phòng trừ loài mọt răng cưa đạt hiệu quả
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
∗ Ý nghĩa khoa học
- Những kết quả nghiên cứu về thành phần sâu mọt hại trong kho bảo quản
Trang 11thức ăn gia súc khu vực Hà Nội và phụ cận sẽ góp phần bổ sung vào danh mục thành phần sâu mọt hại kho bảo quản thức ăn gia súc đã công bố ở nước ta
- Bổ sung một số dẫn liệu khoa học về một số đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và một số yếu tố ảnh hưởng đến khả năng gia tăng quần thể của loài mọt răng cưa
Oryzaephilus surinamensis trên một số loại thức ăn gia súc bảo quản
∗ Ý nghĩa thực tiễn
- Cung cấp các dẫn liệu về đặc điểm nhận biết và gây hại của loài mọt mọt
răng cưa (Oryzaephilus surinamensis L.) làm căn cứ khoa học quan trọng phục vụ
công tác kiểm dịch thực vật xuất nhập khẩu và nội địa
- Đề xuất biện pháp phòng trừ triệt để loài mọt mọt răng cưa (Oryzaephilus surinamensis L.) một cách hợp lý, an toàn với con người và môi trường , đáp ứng vấn đề xử lý kiểm dịch thực vật
4 Yêu cầu của đề tài
- Điều tra thành phần sâu mọt hại trong kho bảo quản thức ăn gia súc tại khu vực Hà Nội và phụ cận
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái của loài mọt răng cưa Oryzaephilus surinamensis L
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của loài mọt răng cưa Oryzaephilus surinamensis L
- Tiến hành thử nghiệm hiệu lực của thuốc xông hơi Phosphine diệt trừ loài
mọt răng cưa Oryzaephilus surinamensis L trong phòng thí nghiệm
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Có thể nói ở đâu có sự tồn trữ và lưu trữ, ở đó xuất hiện các loài sinh vật gây hại Trong nhóm các yếu tố sinh vật gây hại kho và hàng hóa trong kho, côn trùng là đối tượng phá hại rất nghiêm trọng và nguy hiểm Côn trùng gây hại trong kho không chỉ làm hao hụt về trọng lượng hàng hóa mà còn gây mất mát về phẩm chất hàng hóa
Do đó, việc nghiên cứu thành phần côn trùng hại kho và các đặc điểm sinh học, sinh thái là rất cần thiết để từ đó đề ra biện pháp phòng trừ chúng có hiệu quả, đồng thời ngăn chặn sự lây lan dịch hại, giảm thiểu tối đa những thiệt hại về kinh tế
1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
1.2.1 Nghiên cứu về thành phần côn trùng gây hại trong kho bảo quản nông sản
Cho đến nay, trên thế giới đã phát hiện được hàng trăm loài côn trùng và nhện trong kho bảo quản nông sản Dựa vào đặc tính gây hại, Cotton và Good (1937) đã chia côn trùng trong kho thành 4 nhóm:
1 - Nhóm gây hại chủ yếu: gồm các loài gây những tổn hại đáng kể cho hàng hóa bảo quản, là những loài chính gây nên sự hỏng chất lượng và hao hụt trọng lượng, thường xâm nhiễm trực tiếp vào hàng hóa, phát triển với mức quần thể lớn
và có thể thay đổi một phần theo khí hậu trong kho
2 - Nhóm gây hại thứ yếu: gồm những loài gây hại có tính chất cục bộ và có thể diễn ra chỉ sau khi có việc xâm nhiễm và phát triển của các loài gây hại chính
3 - Nhóm gây hại ngẫu nhiên: gồm những loài côn trùng xâm nhiễm vào kho, hàng hóa do khi mở cửa kho, mở bao gói hoặc trong quá trình vận chuyển… như ruồi, bướm, rết… chúng bị lôi cuốn vào kho hàng do tính hướng sáng, mùi thơm hay chỉ để trú ẩn
4 - Nhóm côn trùng ký sinh hay ăn thịt: Chúng xâm nhiễm vào kho hàng để ký sinh hoặc ăn thịt các côn trùng hại kho có mặt trong đó như ong ký sinh và một số loài thuộc họ Carabidae
Năm 1974, danh mục côn trùng gây hại hạt dự trữ trong kho của Cotton và
Trang 13Wilbur gồm 43 loài được chia làm 2 nhóm: Nhóm côn trùng gây hại chủ yếu: gồm
19 loài thuộc 12 họ, 3 bộ (Coleoptera, Lepidoptera và Sarcoptiformes) Nhóm gây hại thứ yếu nhưng thường xuyên phát hiện trên hạt: gồm 24 loài thuộc 12 họ, 3 bộ
Trong đó, Oryzaephilus surinamensis và Oryzaephilus mercator được xếp vào
nhóm côn trùng gây hại chủ yếu
Năm 2002, hệ thống quản lý dịch hại hàng hóa bảo quản (Pestcon system INC) công bố danh mục thành phần côn trùng và nhện chính hại kho nông sản
Bảng 1.1 Thành phần côn trùng và nhện chính hại kho nông sản trên thế giới
1 Acarus siro Linnaeus Acaridae Arachnida Arachnida Hại thứ phát
2 Lasioderma serricorne
(Fabricius) Anobiidae Coleoptera Insecta Hại bên ngoài
3 Stegobium perniceum
(Linnaeus) Anobiidae Coleoptera Insecta Hại bên ngoài
4 Rhyzopertha dominica (Fabricius) Bostrichidae Coleoptera Insecta Hại nguyên phát
5 Cryptolestes pusillus (Schonherr) Cucujidae Coleoptera Insecta Hại thứ phát
6 Cryptolestes ferrugineus (Stephens) Cucujidae Coleoptera Insecta Hại thứ phát
7 Sitophius granarius
(Linnaeus) Curculionidae Coleoptera Insecta Hại nguyên phát
8 Sitophilus oryzae (Linnaeus) Curculionidae Coleoptera Insecta Hại nguyên phát
9 Sitotroga cerealella (Oliv.) Curculionidae Coleoptera Insecta Hại nguyên phát
(Linnaeus) Silvanidae Coleoptera Insecta Hại thứ phát
13 Tribolium castaneum Herbst Tenebrionidae Coleoptera Insecta Hại thứ phát
14 Tribolium comnfusum (Jac
du Val) Tenebrionidae Coleoptera Insecta Hại thứ phát
15 Tenebroides mauritanicus (L.) Trogossitidae Coleoptera Insecta Hại bên ngoài
16 Ephestia kuehniella Zeller Pyralidae Lepidoptera Insecta Hại thứ phát
17 Ephestia cautella (Walker) Pyralidae Lepidoptera Insecta Hại bên ngoài
18 Ephestia elutta (Hubner) Pyralidae Lepidoptera Insecta Hại bên ngoài
19 Ephestia figulella Pyralidae Lepidoptera Insecta Hại bên ngoài
20 Plodia interpunctella
(Hubner) Pyralidae Lepidoptera Insecta Hại thứ phát
(Nguồn tài liệu: Pestcon Systems INC, 2002)
Trang 14Bảng 1.1 cho thấy thành phần côn trùng và nhện chính hại kho nông sản gồm
19 loài côn trùng thuộc 10 họ, 2 bộ (Coleoptera và Lepidoptera) và 1 loài nhện hại
Năm 2009, Hagstrum và Subramanyam thống kê trong kho dự trữ của Mỹ có hơn 1660 loài côn trùng thuộc 120 họ, trong đó có 66 loài côn trùng hại kho thuộc
19 họ thường xuyên được tìm thấy Trong đó, tần suất xuất hiện của Oryzaephilus surinamensis cao hơn Oryzaephilus mercator
Theo FAO (2014), số loài côn trùng hại kho thuộc Bộ Cánh cúng có khoàng 250.000 loài, trong đó có nhiều loài gây hại quan trọng, có khoảng 40 họ thuộc Bộ Cánh cứng có liên quan đến sản phẩm trong kho, chúng phân bố rộng khắptrên phạm vi toàn thế giới, phần lớn các loài tập trung vào 7 họ: Bostrichidae, Bruchidae, Cucujidae, Cuculionidae, Dermetidae, Silvanidae và Tenebrionidae
Theo thống kê của Bùi Công Hiển (1995), thành phần côn trùng hại kho nông sản khu vực Đông Nam Á gồm 122 loài thuộc 28 học của bộ cánh cứng và 17 loài thuộc 6 họ của bộ cánh vảy Các loài cánh cứng phổ biến nhất gồm 28 loài
Bảng 1.2 Các loài cánh cứng phổ biến ở vùng Đông Nam Á
8 Cleridae Necrobia rufipes (Deg.)
9 Cucujidae Cryptolestes pusillus (Schonherr)
10
Currculionidae Sitophilus oryzae (L.)
12
Dermestidae Dermestes ater (Deg.)
14 Mycetophagidae Typhaea stercorea (L.)
Trang 1526 Thorictidae Thorictodes heydeni (Reitter)
27
Trogossitidae Lophocateres pusillus (Klug)
(Nguồn tài liệu: Bùi Công Hiển, 1995)
Năm 2004, Hà Thanh Hương đã thống kê thành phần côn trùng hại kho nông sản khu vực Đông Nam Á Kết quả cho thấy có 174 loài thuộc 38 họ, 2 bộ Bộ cánh cứng chiếm 153 loài thuộc 34 họ khác nhau, bộ cánh vảy có 21 loài thuộc 4 họ khác
nhau Trong đó, Oryzaephilus surinamensis có mặt ở hầu hết các nước Đông Nam Á như Indonesia, Thái Lan, Việt Nam, còn Oryzaephilus mercator chưa có mặt ở Việt Nam,
Malaysia, Philippines nhưng đã xuất hiện ở Indonesia, Thái Lan và các nước khác Theo Bhadriraju (2009), tại khu vực Đông Nam Á, thành phần côn trùng hại kho nông sản thuộc Bộ Cánh cứng (Coleoptera) và Bộ Cánh vảy (Lepidoptera) ở Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Philippines và một số nước khác thuộc khu vực Đông Nam Á có 174 loài thuộc 38 họ, trong đó Bộ Cánh cứng có
153 loài thuộc 34 họ khác nhau, chiếm 87,93%, Bộ Cánh vảy có 21 loài thuộc 4
họ khác nhau, chiếm 12,07%
Các kết quả trên cho thấy côn trùng hại kho có mặt ở mọi nơi trên thế giới, trong đó khu vực Đông Nam Á là nơi có thành phần côn trùng hại kho nông sản rất phong phú và đa dạng
Trang 161.2.2 Nghiên c ứu về những thiệt hại do sâu mọt gây ra trong kho bảo quản
là một trong những nguyên nhân đã dẫn đến nạn đói ở nhiều châu lục
Theo kết quả điều tra của FAO (1999), hàng năm trên thế giới, mức tổn thất của lương thực trong kho bảo quản là 10%, cụ thể là 13 triệu tấn ngũ cốc bị thiệt hại
do côn trùng và 100 triệu tấn bị thiệt hại do bảo quản không đúng cách Thiệt hại ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới cao hơn ở những vùng ôn đới Năm 1976, thiệt hại về ngũ cốc bảo quản ở các nước phát triển là 42 triệu tấn, tương đương 95% tổng lượng ngũ cốc thu hoạch của Canada Ở Mỹ, thiệt hại ngũ cốc dự trữ hàng năm vào khoảng 15-23 triệu tấn, trong đó khoảng 7 triệu tấn là do chuột hại và 8-16 triệu tấn là do côn trùng Ở châu Mỹ Latin, thiệt hại từ 25-50% ngũ cốc sau thu hoạch Ở các nước châu Phi, khoảng 30% nông sản bị mất mát hàng năm Ở Đông Nam Á, một số vụ mùa bị mất tới 50% do bảo quản sau thu hoạch
Subrahmanyan (1962) chỉ ra rằng tổng sản lượng lương thực của thế giới có thể tăng 25-30% nếu chúng ta có thể tránh những mất mát lương thực sau thu hoạch Bakal (1963) tính ra tổn thất lương thực hàng năm do chuột, côn trùng, nấm
là khoảng 33 triệu tấn, 1 lượng đủ để cung cấp cho dân số Hoa Kỳ trong vòng 1 năm (dẫn theo Snelson, 1987)
Năm 1973 lương thực trên thế giới không thể cung cấp cho những nơi mất mùa và thiếu đói; lương thực cung cấp cho hàng triệu người dựa hầu hết vào lượng thu hoạch mỗi năm Ít nhất 10% sản phẩm thu hoạch bị phá hủy bởi các loài gây hại trong quá trình dự trữ, và mất mát khoảng 30% là điều thường xuyên xảy ra ở những vùng rộng lớn của thế giới, đặc biệt là ở những vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới nơi mà nhu cầu nâng cao sản lượng lương thực là cần thiết nhất (Snelson, 1987)
Theo IPPC (2012), an ninh lương thực thế giới đang bị đe dọa, ước tính đến
Trang 17năm 2050, để có thể đáp ứng nhu cầu lương thực của dân số toàn thế giới cần gia tăng sản lượng thêm 70% Một phần lớn của sự đe dọa đến từ các loài sâu bệnh hại mới được phát hiện và sự lây lan, bùng phát dịch hại của các loài côn trùng
Walter công bố rằng, thiệt hại do dịch hại kho gây ra khoảng 10% ở Minnesota, thậm chí tới 50% ở một số quốc gia đang phát triển Tổn thất do côn trùng gây ra ước tính từ 5% đến 10% sản phẩm lương thực toàn thế giới (dẫn theo Mason, 2002)
Lượng lương thực mất mát ngũ cốc hàng năm ở châu Phi đủ để nuôi sống 48 triệu người trong vòng 12 tháng, tương đương 4 tỉ đô la hay lượng ngũ cốc được nhập khẩu vào châu Phi trong nửa năm (Kimatu, 2013)
Một số côn trùng trước đây được coi là những loài phá hại thứ yếu thì nay trở thành mối hiểm họa FAO (1999) cho biết loài mọt đục hạt lớn trước đây tồn tại như một loài gây hại thứ yếu ở Trung Mỹ, Brazil, Colombia và miền nam nước Mỹ nhưng gần đây tại Châu Phi chúng đã gây ra những thảm cảnh cho những kho dự trữ ngô ở Tanzania và các nước Trung Phi khác Các thông báo chính thức sự thiệt hại lên đến 34% ở các kho chứa ngô và khoảng 70% ở các kho chứa ngũ cốc
Hurlock (1967), qua thực nghiệm với loài mọt răng cưa Oryzaephilus surinamensis L đã xác định tốc độ tăng trưởng của hơn 100 cá thể mọt trưởng thành ban đầu, có thể đạt tới hơn 12 triệu con trong vòng 3 tháng và trong thời gian này chúng tiêu thụ đến 54 kg lương thực trung bình/1 tháng
Mức độ hao hụt trọng lượng trong thời gian bảo quản kho thường không phản ánh chính xác thiệt hại của sản phẩm Hơn nữa, cũng phải lưu ý tới việc nông sản bảo quản trong kho bị ẩm do độ ẩm môi trường Một yếu tố khác là thành phần các chất chứa trong bao để tính trọng lượng còn có cả bụi bẩn và côn trùng do đó mức hao hụt về trọng lượng thường lớn hơn thực tế Dù đã có những cố gắng thường xuyên và liên tục, các chuyên gia về bảo quản chỉ mới đạt được một số kết quả trong việc bảo quản nông sản lâu dài ở vùng ôn đới nhưng rất ít kinh nghiệm ở vùng nhiệt đới, đặc biệt là vùng nhiệt đới ẩm
Trang 181.2 3 Nghiên c ứu về các biện pháp phòng trừ sâu mọt trong kho bảo quản
nông s ản
1.2 3.1 Phòng trừ bằng luật lệ
Phòng trừ bằng luật lệ là việc điều khiển bằng luật lệ, pháp quy thông qua các tổ chức có chức năng quản lý nhà nước nhằm tiễu trừ, ngăn chặn hay phòng chống việc xâm nhiễm loài gây hại cũng như hạn chế thiệt hại do côn trùng gây ra
Nội dung chủ yếu bao gồm việc thực thi các biện pháp kiểm dịch quốc tế (kiểm dịch đối ngoại) và kiểm dịch trong nước (kiểm dịch nội địa)
Các cơ quan chức năng thực thi biện pháp phòng trừ bằng luật lệ chủ yếu tập trung vào các nhiệm vụ:
- Ngăn ngừa sự xâm nhập các côn trùng từ nước ngoài, đặc biệt là các đối tượng kiểm dịch;
- Ngăn chặn các ổ dịch có khả năng lan rộng trong nước hay một vùng sinh thái;
- Tôn trọng các quy định, quy trình áp dụng các biện pháp phòng trừ đối với những loài gây hại quan trọng;
- Ngăn chặn việc làm giả và sử dụng sai thuốc trừ sâu và các hóa chất bảo vệ thực vật
1.2 3.2 Biện pháp kỹ thuật
∗ Vệ sinh kho:
Việc bảo quản lưu trữ hàng hóa trong kho có tác động trực tiếp đến sự sinh trưởng và phát triển của côn trùng Vệ sinh sạch sẽ kho tàng trước khi nhập hàng, sắp xếp và bố trí hàng hóa bảo quản trong kho gọn gàng, ngăn nắp và giữ cho kho sạch sẽ trong suốt quá trình bảo quản có tác dụng loại bỏ nguồn lây nhiễm côn trùng gây hại cho các lô hàng lưu trữ tiếp theo
Côn trùng trong kho thường sống trong các phần hàng hóa còn sót lại sau khi xuất hàng hoặc ẩn nấp trong các khe kẽ của sàn tường kho, trong các phương tiện chế biến, vận chuyển Vì vậy giữ cho kho tàng luôn được sạch sẽ trong quá trình bảo quản kết hợp với kiểm tra định kỳ giúp phát hiện sớm sự xuất hiện của côn trùng gây hại để có biện pháp xử lý kịp thời Do đó, biện pháp vệ sinh kho tàng là điều có giá trị trước tiên khi áp dụng các biện pháp phòng trừ côn trùng gây hại (sinh học, hóa học và vật lý)
Trang 19∗ Giảm ẩm độ trong kho và thủy phần hàng hóa
Thủy phần của hàng hóa trong bảo quản là một trong những yêu cầu rất quan trọng Hàng hóa bảo quản phải đủ độ khô cần thiết sẽ hạn chế sự bốc nóng trong khối hàng cũng như hạn chế sự xâm nhiễm và gây hại của côn trùng
Theo Muggleton et al (1990), thủy phần an toàn đối với hạt ngũ cốc khoảng 12-13%; với lạc là 8%; với hạt cọ dầu là 6% Davey và Elcoata (1966) kết luận rằng thủy phần an toàn đối với hạt ngũ cốc khoảng 12-13%; với lạc là 8%; với hạt cọ dầu
là 6% Hyde (1969) cho rằng nấm mốc và côn trùng chỉ phát triển khi độ ẩm tương đối của không khí trong kho lớn hơn 70-75%
Việc bảo quản hạt ngũ cốc ở Úc và Trung Quốc hiện nay chủ yếu sử dụng các loại kho xylô với hệ thống thông gió hiện đại có sức chứa 50.000-70.000 tấn Với các loại kho này, côn trùng rất khó xâm nhiễm từ bên ngoài vào bên trong kho
để gây hại (Fangneng và Bhadriraju, 2007)
Bên cạnh đó, ở Úc hiện áp dụng biện pháp bảo quản kín dưới đất bằng việc đào các hố sâu khoảng 1-2m dưới đất, sau đó để trải bạt để cách nhiệt và ẩm, rồi đổ rời hạt lúa mỳ xuống; sau đó trùm lên trên bằng một tấm bạt che khác và ghép các mép bạt lại với nhau làm kín (không cần đến nhà và mái che cho loại kho này) Bảo quản theo phương pháp này có thể kéo dài trong thời gian 6 tháng Bảo quản dưới mặt đất cũng rất phổ biến ở các nước châu Phi hiện nay, nơi có điều kiện thời tiết khô và nóng Phương pháp bảo quản dưới mặt đất có chi phí thấp hơn nhiều so với bảo quản trong các xylô Tuy nhiên, phẩm chất hạt bảo quản cũng giảm đi nhanh hơn nên thời gian bảo quản thường chỉ là 6 tháng (Collins, 2010)
∗ Phòng trừ bằng nhiệt độ
Côn trùng có tính mẫn cảm với nhiệt độ cao Krikpatrick và Tilton (1972) đã
thử nghiệm khả năng chịu nhiệt của côn trùng hại kho ở 49oC, kết quả cho thấy độ mẫn
cảm của các loài như sau: Lasioderma serricorne > Cryptolestes pusillus = Rhyzopertha dominica > Sitophilus oryzae = Tribolium castaneum = Trogoderma variabile > Sitophilus granarius > Tribolium confusum = Oryzaephilus surinamensis
Một số loài côn trùng kho mẫn cảm với nhiệt độ lạnh Các pha phát dục như trứng, sâu non, nhộng và trưởng thành có khả năng chống chịu với nhiệt độ lạnh
Trang 20khác nhau Pha trứng của hầu hết các loài côn trùng kho đều mẫn cảm với nhiệt độ
thấp Mọt răng cưa Oryzaephilus surinamensis sống khoảng trên 10 tuần ở nhiệt độ
5-100C Dù không chết ở 100C nhưng ở nhiệt độ này chúng không vận động và ăn hại được Vì vậy, thường sử dụng nhiệt độ thấp để phòng trừ côn trùng kho ở nhiệt
độ giữa 10oC và 20oC Xử lý lạnh dưới 0oC, côn trùng không thể sinh trưởng và gây hại (Mason, 2010)
∗ Phòng trừ bằng chiếu xạ:
Bức xạ ion hoá đã được nhiều nhà khoa học ứng dụng trong phòng trừ côn trùng kho như: bức xạ gamma, tia X, Cobalt và Cesium có thể trừ côn trùng kho Có
2 loại bức xạ ion hoá là tia gamma và chùm điện tử
Tia gamma trực tiếp tiêu diệt côn trùng hại kho nông sản hoặc gây bất dục cho chúng Chiếu xạ bằng tia gamma 16000 Krad ở 30oC khiến 99,9% trưởng thành
Oryzaephilus surinamensis bị bất dục (Jafferies, 1966) (dẫn theo Hà Thanh Hương, 2004)
1.2 3.3 Biện pháp sinh học
Biện pháp sinh học là sử dụng những sinh vật sống hay các sản phẩm hoạt động sống của chúng nhằm ngăn ngừa hoặc làm giảm bớt tác hại do các sinh vật hại gây ra
Trong phạm vi rộng hơn, phòng trừ sinh học cũng bao gồm việc sử dụng các chất độc có nguồn gốc tự nhiên, các chất xua đuổi hoặc dẫn dụ, những chất có thể được sử dụng trong hệ thống phòng trừ tổng hợp côn trùng gây hại trong kho, thậm chí những kỹ thuật này còn được gọi tên riêng là các kỹ thuật công nghệ sinh học Phòng trừ sinh học tạo ra cơ hội để đấu tranh có hiệu quả chống lại một loài dịch hại riêng biệt mà không gây ra ảnh hưởng đến các loài dịch hại khác hoặc các loài côn trùng có ích
Kẻ thù tự nhiên của côn trùng chính hại kho nông sản gồm:
1 Các loài côn trùng ký sinh như ong ký sinh thuộc họ Braconidae (như
Bracon hebator ký sinh Ephestia cautella), Ichneumonidae, Pteromalidae và
Bethylidae
2 Các loài bắt mồi gồm bọ xít (bọ xít bắt mồi thuộc họ Anthocoridae như
Xylocoris flavipes, cánh cứng, bọ càng cua (Pseudoscorpion) và nhện bắt mồi (như
Trang 21Pyemotes sp.)
3 Tác nhân gây bệnh gồm vi khuẩn và virus:
Vi khuẩn gây bệnh cho côn trùng kho nông sản như Bacillus thuringiensis Berliner (Bt), B papille
Hiroshi et al (1991) ghi nhận được ba loài ong ký sinh côn trùng gây hại trong các kho lương thực ở Thái Lan là Chaetospila elegans, Proconus sp và Bracon hebetor Và một số loài bắt mồi như: kiến (khoảng 4-5 loài), bọ xít
(Xylocoris flavipes Reuter), Scenopinus fenestralis và bò cạp giả Chelifer sp
Berlinder (1911) phân lập được vi khuẩn Bacillus thuringiensis từ sâu non của Ephestia kuehniniella Zeller tại Thuringia Người ta đã phát hiện được 525 loài thuộc 13 bộ côn trùng bị nhiểm vi khuẩn Bacillus thuringiensis, trong đó nhiều nhất
là bộ cánh vảy (318 loài), sau đó là bộ hai cánh (59 loài), bộ cánh cứng (34 loài) và còn lại là các bộ khác (khoảng 1-12 loài)
Theo Doberski (1984), nấm Beauveria bassiana Bals kìm hãm trên 90% sự phát triển của sâu non và nhộng Oryzaephilus surinamensis với lượng bào tử nấm là
106-103 conidiospores/ml (dẫn theo Snelson, 1987)
1.2 3.4 Biện pháp hóa học
Sử dụng thuốc xông hơi khử trùng là biện pháp phòng trừ hữu hiệu đạt hiệu quả tiêu diệt côn trùng hại kho nông sản cao nhất khi chúng bùng phát thành dịch Nhiều loại thuốc xông hơi đã được sử dụng trong việc phòng trừ côn trùng gây hại , trong kho như: Methyl bromide (CH3Br), Phosphine (PH3), Chloropicrin (CCL3.NO2), Dichlorvos – DDVP (loại có hàm lượng hoạt chất 98%), Ethylene dichloride (CH2Cl.CH2Cl), Cacbon disulphide (CS2), Cacbon tetrachloride (CCl4), Sulphuryl fluoride (SO2F2), Acrylonitrile (CH2:CH.CN)… Tuy nhiên, hiện chỉ còn hai loại thuốc được sử dụng rộng rãi là Methyl bromide và Phosphine Những loại khác hầu hết đã bị cấm hoặc hạn chế sử dụng do tính độc cao, gây nguy hiểm cho người sử dụng, hàng hóa và môi trường hoặc gây ảnh hưởng xấu đến hàng hóa bảo quản sau khi xông hơi
Khử trùng bằng Methyl Bromide cho hiệu quả tốt, nhanh chóng tuy nhiên Methyl Bromide bị kiểm soát nhập khẩu và sử dụng bởi Nghị định thư Montrean do
Trang 22có tiềm năng phá hủy tầng ôzôn của khí quyển (hệ số 0,6) Do vậy, xu hướng hiện nay đối với hàng nông sản xuất nhập khẩu là khử trùng bằng Phosphine
Liều lượng xông hơi khử trùng bằng Phosphine phụ thuộc rất nhiều vào nhiệt
độ kho, cấu trúc kho và độ kín của kho bảo quản Nhiều tác giả trên thế giới đã nghiên cứu hiệu quả và liều lượng phosphine để phòng trừ côn trùng hại kho nông sản Kết quả trình bày ở bảng 1.3
Bảng 1.3 Hiệu quả của phosphine trong phòng trừ côn trùng hại kho nông sản
Trừ sâu non R dominica
và S oryzae Rai et al., 1963
2 viên/tấn
Trừ sâu non Ephestia, T
castaneum , S oryzae, O
surinamensis và sâu non
R dominica trong kho gạo thô
Rai et al., 1963; Anon, 1963-1967; Radoeff and Schirkenoff, 1963; Elvin and Cogburn, 1963, 1965; Halliday, 1967
1/2 viên/35 kg trong 24
giờ
Trừ S oryzae, sâu non T
castaneum trong ngăn dự trữ thóc
Rout and Mohaty, 1967; Rout and Parida, 1968 1,16 mg/l PH3 trong 24
Trừ côn trùng hai trong
(Người tổng hợp: Hà Thanh Hương, 2008)
Trang 23Tại Úc, Herron (1990) đã thử nghiệm tính kháng thuốc của 6 loài côn trùng
hại kho nông sản (Tribolium castaneum, T confusum, Oryzaephilus surinamensis, Rhyzopertha dominica , Sitophilus oryzae và S granarius) thu thập được từ 63 địa
điểm ở bang New South Wales trong năm 1986 với malathion, fenitrothion, carbaryl, bioresmethrin, pirimiphos-methyl, chlorpyrifos-methyl và phosphine bằng phương pháp giấy lọc Kết quả tất cả các loài đều kháng với malathion, khoảng 70%
số dòng của loài Oryzaephilus surinamensis kháng với pirimiphos-methyl, 50%
kháng với fenitrothion và 39% kháng với chlorpyrifos-methyl Ba dòng của loài
Oryzaephilus surinamensis vừa kháng với pirimiphos-methyl, vừa kháng với chlorpyrifos-methyl Tất cả các loài đều có tính kháng với phosphine nhưng thấp (dẫn theo Hà Thanh Hương, 2008)
Theo Mason (2010), nhiệt độ tối thích cho xử lý khử trùng xông hơi Phosphine là trên 650F, thời gian ủ thuốc tối thiểu là 72 giờ Sau khi khử trùng, thời gian thông thoáng tối thiểu là 48 giờ
1.2.4 Nghiên cứu về chi Oryzaephilus
Vị trí phân loại: Theo CABI (2014), giống Oryzaephilus có vị trí phân loại
và danh pháp như sau:
- Giới (Kingdom): Animalia
Mọt răng cưa Oryzaephilus surinamensis Linnaeus là một trong số những
loài côn trùng hại kho phổ biến nhất, được tìm thấy ở hầu hết mọi nơi dự trữ thực phẩm và rau quả Mặc dù nó được biết đến trong giới khoa học từ hơn 150 năm trước nhưng chỉ đến năm 1896, khi Chittenden là người đầu tiên nghiên cứu vòng
Trang 24đời của mọt răng cưa thì mới bắt đầu có những nghiên cứu sinh học về loài mọt quan trọng này Chittenden (1896) thực hiện nghiên cứu ở Washington và thấy rằng
vòng đời của O.surinamensis kéo dài 6-10 tuần vào mùa xuân và khoảng 24 ngày và
giữa mùa hè Dean công bố kết quả tương tự ở Kansas, cho thấy giai đoạn nhộng kéo dài 6-12 ngày và ở Kansas có 4-6 lứa/năm (dẫn theo Back, 1926)
Linnaeus, người đầu tiên miêu tả mọt răng cưa vào năm 1767 đầu tiên đặt tên
loài này là Dermester surinamensis Hiện nay, theo CABI (2014), mọt răng cưa có tên khoa học là Oryzaephilus surinamensis L
Phân bố: có mặt ở hầu hết các nước châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi, châu Đại Dương, trong đó có Việt Nam
Kí chủ: hại chủ yếu trên các loại ngũ cốc và sản phẩm ngũ cốc Ngoài ra còn gây hại trên gạo trắng và các sản phẩm từ gạo trắng
Theo EPPO (2014), vòng đời trung bình của O.surinamensis là 20 ngày trong
điều kiện 30-330C, 70-90%RH Ở 200C, vòng đời khoảng 3-4 tháng Trưởng thành cái đẻ trứng trên bề mặt sản phẩm, từ 300-400 trứng Sâu non có thể di chuyển và tìm kiếm thức ăn, chúng phát triển nhanh nhất ở 20-350C Sâu non có 4 tuổi Trưởng thành sống khá lâu, rất hoạt động, di chuyển nhanh
Kết quả nghiên cứu của Subramayam và Hagstrum (1993); Hagstrum và Milliken (1988) cho thấy khi nuôi trên ngô hạt ở nhiệt độ 250C thì thời gian phát triển trung bình từ giai đoạn trứng đến trưởng thành của mọt răng cưa
O.surinamensis là 36,4 ngày, còn ở nhiệt độ 300C là 22 ngày
Theo Bekel (2007) khi nuôi mọt O.surinamensis trên lúa mỳ ở nhiệt độ
25±5oC và độ ẩm 65±5% thì 89% số trứng nở trong vòng 5 ngày, sau 10 ngày còn lại 30,5% sâu non, sau 30 ngày có 43% hóa nhộng và 63,4% vũ hóa trưởng thành sau 46 ngày
Theo nghiên cứu năm 1997 của William F.Lyon, mọt răng cưa
O.surinamensis đẻ trứng trên bề mặt hạt, 6-10 quả/ngày, một trưởng thành cái có thể đẻ khoảng 370 trứng Sâu non được tìm thấy ở lớp thực phẩm 1-2cm phía trên Vòng đời kéo dài từ 20-80 ngày ở 18-370C
Oryzaephilus surinamensis là loài đa thực nên rất khó kiểm soát do khả năng
Trang 25sinh sản cao, thời gian hoàn thành vòng đời ngắn và khả năng di chuyển nhanh nhẹn của chúng Hơn nữa, với kích cỡ cơ thể nhỏ và sự di chuyển xa, chúng có thể gây hại ở nhiều nơi Do vậy, rất khó để áp dụng biện pháp phòng trừ một cách hiệu quả (Klys, 2012)
Mọt răng cưa Oryzaephilus surinamensis đã được xếp vào loại sâu hại nguy
hiểm trong các loài sâu hại thứ cấp do tính ăn các loại bột, hạt vỡ Hiện nay, chúng còn gây hại trên các loại hạt còn nguyên vẹn (Beckel et al., 2006)
1.2.4.2 Nghiên cứu về mọt răng cưa Oryzaephilus mercator F
Theo CABI (2014), mọt răng cưa Oryzaephilus mercator F có tên khác là Silvanus gossypii, Silvanus mercator Fauvel
Phân bố: có mặt ở một số nước châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi, chưa ghi nhận sự phân bố ở Việt Nam
Kí chủ: hại chủ yếu trên các loại hạt có dầu, đôi khi được tìm thấy trên ngũ cốc Ngoài ra, còn gây hại trên gạo nâu và cám gạo
Trưởng thành cái có thể đẻ 400 trứng Trứng nở trong vòng 3-8 ngày Sâu non không thể ăn các loại hạt còn nguyên vẹn Vòng đời kéo dài từ 20-80 ngày phụ thuộc vào nhiệt độ
1.3 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.3.1 Nghiên cứu về thành phần côn trùng gây hại trong kho bảo quản nông sản
Việt Nam là một nước thuộc khu vực Đông Nam Á, thành phần côn trùng và nhện hại kho nông sản cũng không kém phần phong phú
Nguyễn Thị Giáng Vân và cs (1995) đã ghi nhận được 46 loài sâu mọt hại lương thực cất giữ trong kho ở 28 tỉnh thuộc 3 miền Bắc, Trung, Nam Trong đó có
38 loài mọt thuộc bộ Cánh cứng với 19 họ khác nhau và 8 loài thuộc bộ Cánh vảy
với 5 họ khác nhau Trong đó, Sitophilus oryzae, Rhizopertha dominica, Tribolium castaneum, Oryzaephilus surinamensis là các loài gây hại phổ biến, được ghi nhận xuất hiện với tần suất cao (>50%)
Kết quả điều tra thành phần côn trùng và nhện hại nông sản xuất khẩu và bảo quản ở Việt Nam từ năm 1964 đến năm 1996 được Trung tâm Phân tích Giám định Kiểm dịch thực vật thống kê cho thấy có 110 loài gây hại thuộc 43 họ, 8 bộ, trong
Trang 26đó tập trung chủ yếu ở: Bộ cánh cứng (73 loài thuộc 27 họ), Bộ cánh vảy (13 loài thuộc 7 họ), Bộ cánh màng (9 loài thuộc 3 họ), Bộ cánh nửa (11 loài thuộc 4 họ) Những họ có số loài nhiều nhất là Tenebrionidae, Dermestidae, Curculionidae Trong đó, số lượng loài côn trùng ở miền Bắc là 80 loài, nhiều hơn miền Nam (69 loài) và hơn hẳn miền Trung (23 loài) Đó là do miền Bắc và miền Nam có số lượng nông sản cất giữ trong kho lớn hơn, nhiều chủng loại nông sản hơn, là môi trường thuận lợi cho khu hệ côn trùng phát triển
Theo Hoàng Văn Thông (1997), thành phần côn trùng hại trên hàng nông sản nhập khẩu ở khu vực phía Bắc Việt Nam từ 1991 đến 6/1997 có 40 loài thuộc 4
bộ Trong đó có 36 loài thuộc bộ cánh cứng (Coleoptera) với 10 loài xuất hiện ở mức phổ biến Trên hàng nông sản xuất khẩu có 40 loài côn trùng hại, nằm trong 29
họ, thuộc 5 bộ Trong đó có 30 loài thuộc bộ cánh cứng (Coleoptera) và chỉ có 14 loài xuất hiện ở mức tương đối phổ biến
Theo Hoàng Trung (1999), thành phần côn trùng hại kho ở 9 tỉnh phía Bắc Việt Nam có 60 loài của 30 họ thuộc 7 bộ, trong đó tập trung chủ yếu ở bộ cánh cứng với 45 loài thuộc 22 họ
Kết quả điều tra thành phần côn trùng hại kho của ngành Kiểm dịch thực vật 1998-2002 cho thấy, tổng số loài côn trùng trong kho là 115 loài của 44 họ, thuộc 8
bộ và 1 loài thuộc lớp nhện Trong tổng số loài côn trùng đã thu thập, phát hiện được 4 loài côn trùng là đối tượng kiểm dịch thực vật của Việt Nam tập trung chủ
yếu ở miền Nam là: Tribolium confusum (phát hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh); Acanthoscelides obtectus (phát hiện tại Lâm Đồng); Phthorimaea operculella (phát hiện tại Lâm Đồng, Bắc Ninh) và Tenebrio molitor (phát hiện tại Hà Nội, Hải
Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh)
Đến năm 2000 - 2001, Hà Thanh Hương và cs đã tiến hành thu thập xác định được 56 loài côn trùng và 01 loài nhện, thuộc 26 họ, 4 bộ và 2 lớp (lớp côn trùng và lớp nhện); trong đó có 52 loài côn trùng gây hại thuộc 22 họ, 2 bộ 6 loài côn trùng hại kho nông sản ở miền Bắc Việt Nam xuất hiện phổ biến nhất với độ thường gặp
cao là các loài Oryzaephilus surinamensis (45,10%); Lophocateres pusillus (50,98%); Tribolium castaneum (52,94%); Cryptolestes pusillus (58,82%);
Trang 27Rhyzopertha dominica (64,71%); Sitophilus oryzae (66,67%) Chúng gây hại trên các
loại nông sản bảo quản như: thóc dự trữ quốc gia, thóc và ngô của các công ty giống cây trồng, thức ăn gia súc, gia cầm và các loại nông sản khác thuộc 17 tỉnh miền Bắc Việt Nam Phân tích số lần xuất hiện thấy số lượng loài côn trùng và nhện thu thập được nhiề nhất ở các kho thức ăn gia súc, gia cầm tại Hà Nội và Sơn La (27 loài) Bùi Minh Hồng (2002) đã tiến hành điều tra côn trùng hại kho trên thóc đổ rời tại hệ thống kho cuốn thuộc Cục dự trữ quốc gia ở 3 tỉnh Hà Nội, Thái Bình, Bắc Giang Kết quả thu thập được 15 loài, thuộc 3 bộ, 11 họ Số loài tập trung chủ yếu ở bộ cánh cứng (13 loài thuộc 11 họ) trong đó 3 họ chính là Curculionidae,
Tenebrionidae và Silvanidae Mọt răng cưa Oryzaephilus surinamensis là một trong
7 loài xuất hiện nhiều nhất ở cả 3 khu vực
Trên thóc dự trữ quốc gia đổ rời ở miền Bắc Việt Nam 2001-2002, Dương Minh Tú (2005) đã phát hiện được 32 loài côn trùng kho thuộc 20 họ của 5 bộ, trong đó có 25 loài gây hại (4 loài gây hại sơ cấp, 21 loài gây hại thứ cấp) và 7 loài côn trùng có ích (4 loài bắt mồi, 3 loài ong ký sinh)
Từ năm 2010 đến năm 2013, tại kho sắn ở Xuân Mai phát hiện 35 loài, trong
đó có 29 loài là côn trùng và nhện gây hại thuộc các bộ Coleoptera, Psocoptera, Lepidoptera, Arachnida và 06 loài thiên địch thuộc các bộ Coleoptera, Hemiptera, Pseudoscorpiones, Hymenoptera gồm 04 loài ăn thịt và 02 loài ong ký sinh (Lê
Xuân Chiến, 2013)
Việc thay đổi kỹ thuật bảo quản nông sản sau thu hoạch khiến nguồn thức ăn của côn trùng hại kho, các điều kiện sinh thái cũng có nhiều thay đổi, do vậy, thành phần và mật độ các loài côn trùng luôn có sự biến đổi Việc nghiên cứu thành phần côn trùng gây hại trong kho bảo quản nông sản vẫn luôn được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm
1.3.2 Nghiên cứu về thiệt hại do sâu mọt gây ra trong kho bảo quản nông sản
Việt Nam với điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa hết sức thuận lợi cho côn trùng phát sinh và phát triển Vì vậy, côn trùng ăn hại, phá hoại nông sản thực phẩm là một trong những nguyên nhân gây nên tổn thất lương thực, thực phẩm trong kho bảo quản Theo thực nghiệm của Bộ môn nghiên cứu côn trùng trực thuộc Tổng cục
Trang 28lương thực (1957 - 1974), nếu công tác phòng trừ sâu mọt trong kho không tốt, hàng năm chúng ta sẽ bị hao hụt từ 3 - 10% số lượng nông sản dự trữ Tính trung bình đối với các loại hạt tổn thất sau thu hoạch khoảng 10%
Tổn thất lương thực sau thu hoạch trên sản phẩm gạo là 13-16%, nghĩa là tổng lượng lúa thu hoạch là 23 triệu tấn thì 3-3,5 triệu tấn bị mất sau thu hoạch Lượng mất mát này tương đương lượng thu hoạch trên 1 triệu hecta lúa (Nguyễn Thiện Luân, 1994)
Theo Vũ Quốc Trung (2008) những con số thể hiện thiệt hại do sâu mọt hại kho gây ra là rất đáng chú ý: Gạo tẻ sau 3 tháng bảo quản với mật độ sâu hại 100 con/kg và thủy phần 13,5%, nó ăn hao mất 3,5% khối lượng và phát triển thêm 106% Bột mỳ có thủy phần 12%, mật độ sâu hại là 10 con/kg, sau 3 tháng bảo quản
nó ăn hao mất 8% khối lượng và phát triển thêm 190% Một kho thóc sau 8 tháng không tiến hành các biện pháp phòng trừ sâu hại, mật độ sâu hại còn sống lên đến
32 con/kg Khi tiến hành kiểm tra lớp thóc bề mặt tới độ sâu 0,5 m thì thấy trung bình tỷ lệ hạt bị hại là 13,7%, dung trọng của lớp thóc này là 490 g/l (cũng loại thóc này không bị sâu hại có dung trọng 568 g/l) Đem cân 1000 hạt thóc không bị sâu hại nặng 23,2 g, còn 1000 hạt bị sâu hại chỉ nặng có 16,9 g Theo dõi quá trình xay xát thì thấy: từ 100 kg thóc không bị sâu hại có thể thu hồi được 70 – 73 kg gạo trắng, trong khi đó có mật độ sâu hại 100 con/kg, chỉ thu hồi được tối đa 66 kg gạo
Đó là chưa kể tới chất lượng gạo rất kém, giá trị thương phẩm thấp và không đảm bảo về mặt vệ sinh
Theo Lê Doãn Diên (1994), thiệt hại trên lúa sau thu hoạch hàng năm ở Việt Nam là 1,6 triệu tấn lúa, xấp xỉ 350-36- triệu đôla Mỹ Số liệu điều tra tại một số huyện ngoại thành Hà Nội của Nguyễn Kim Vũ (1999) cho thấy tổn thất sau thu hoạch do côn trùng gây ra cho lúa gạo trung bình là 6,4%; mức thiệt hại cao nhất có thể lên đến 11,8% (dẫn theo Dương Minh Tú, 2005) Theo kết quả báo cáo của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn (2002), thiệt hại về gạo do côn trùng gây ra trong kho bảo quản vùng Ðồng Bằng Sông Cửu Long khoảng 18 %
Giảm mất mát trong quá trình sản xuất, bảo quản và chế biến nông sản nói chung và lúa gạo nói riêng đang được xem là một trong những ưu tiên hàng đầu của chính sách nông nghiệp của nước ta hiện nay
Trang 291.3.3 Nghiên c ứu về các biện pháp phòng trừ sâu mọt trong kho bảo quản
nông s ản
1 3.3.1 Biện pháp kiểm dịch thực vật
Theo Hoàng Trung (2004): “Để hạn chế sự du nhập và lây lan của các loài côn trùng nguy hiểm gây tổn hại nghiêm trọng đối với thực vật và sản phẩm thực vật từ quốc gia này sang quốc gia khác hoặc từ vùng này sang vùng khác, tất cả các nước trên thế giới đều có danh mục đối tượng kiểm dịch thực vật của quốc gia đó và các quy định kiểm soát chặt chẽ bởi hệ thống các văn bản pháp quy về kiểm dịch thực vật”
Việt Nam đã ban hành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với quy định quốc tế như Luật Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật do Quốc hội ban hành có hiệu lực từ ngày 1/1/2015; Danh mục Đối tượng Kiểm dịch thực vật gồm 107 loài nhóm I và 07 loài nhóm II do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp ban hành; kèm theo các thông tư, quyết định liên quan do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cũng như Cục Bảo vệ thực vật ban hành
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện công tác kiểm dịch thực vật còn phải căn
cứ theo Công ước Quốc tế về bảo vệ thực vật (IPPC), các Tiêu chuẩn Quốc tế về Kiểm dịch thực vật (ISPM), các Hiệp định, hợp đồng buôn bán, các thoả thuận song phương giữa Việt Nam và các nước, các Tiêu chuẩn Việt Nam, Quy chuẩn Việt Nam, quy trình hướng dẫn đã ban hành
Việc thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với việc ngăn ngừa sự du nhập, lây lan cũng như chỉ đạo hướng dẫn và giám sát phòng trừ côn trùng gây hại trong kho hiện nay được giao cho Cục Bảo vệ thực vật thuộc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn quản lý
1.3.3.2 Biện pháp kỹ thuật
∗ Vệ sinh kho:
Việc vệ sinh kho đòi hỏi phải kiểm tra, quét dọn và lau chút, vứt bỏ mọi thứ
dư thừa có thể giúp côn trùng sinh sống, ẩn nấp, với không gian cả ở trong kho lẫn các hành lang bên ngoài và xung quanh khu vực kho Trước đây, trong quy trình hướng dẫn bảo quả kho ở nước ta còn lưu ý cơ thể sử dụng thuốc trừ sâu như
Trang 30dipterex, tuy không được phép phun trực tiếp vào sản phẩm lương thực, nhưng có thể xử lý để vệ sinh kho không chứa hàng hay chuẩn bị chứa hàng để diệt côn trùng còn sót lại
Ở nước ta áp dụng phương pháp sàng, quạt để loại bỏ côn trùng hại, mỗi ngày
có thể giải quyết được 5 - 10 tấn hạt hoặc bột bị nhiễm côn trùng hại Phải tiến hành thường xuyên sẽ có tác dụng hạn chế rất lớn sự thiệt hại (Vũ Quốc Trung, 2008) Kết quả nghiên cứu của Bùi Công Hiển (1986) trong các kho bảo quản gạo cho thấy nếu phần trấu và cót dùng kê lót được xử lý vệ sinh bằng thuốc hoá học phun trực tiếp hoặc trộn vào trấu kết hợp với phơi nắng đảm bảo quần thể các loài côn trùng phát triển rất thấp trong 8 tháng bảo quản so với kho không được xử lý vệ sinh
∗ Giảm ẩm độ trong kho và thủy phần hàng hóa
Kết quả nghiên cứu của Bùi Công Hiển và cs (1989) cho thấy ở vùng Tây Nguyên, vào mùa khô, thủy phần ngô giảm xuống 10,5-11%, cho dù lúc nhập kho trước đó chỉ 2-3 tháng vào khoảng 13-14%; nhưng vào mùa mưa, thủy phần có thể tăng thêm 2-3% Ngay trong một gian kho chứa hàng, thướng cũng sai khác nhua giữa phía Đông và phía Tây, phần được chiếu sáng nhiều sẽ là nguyên nhân để dịch chuyển độ ẩm đến nơi lạnh hơn, vì thế chỗ thường xuyên râm mát lại dễ bị hư hỏng
do côn trùng và nấm mốc
Ở miền Bắc Việt Nam, về mùa đông có những ngày nhiệt độ xuống thấp, thậm chí có nơi xuống rất thấp Ở nhiệt độ thấp như vậy, sâu mọt sẽ ngừng phát triển (10oC) hoặc bị tiêu diệt (5oC trở xuống) Do đó, khi khí trời lạnh có thể mở cửa kho để lùa khí lạnh vào kho tiêu diệt sâu mọt hại, nhưng phải chọn thời điểm không mưa, không có sương mù, độ ẩm tương đối không khí thấp dưới 70% để không làm tăng thuỷ phần của nông sản bảo quản trong kho Tuy nhiên phương pháp này tiêu diệt không triệt để, không chủ động và không phải nơi nào cũng có thể áp dụng được, nhưng lại ít tốn kém và dễ thực hiện (Vũ Quốc Trung, 2008)
Dùng ánh sáng đèn điện 100 - 200 W có thể tiêu diệt được 0,5 - 1 kg côn trùng hại các loại/ 1đêm ở các kho lương thực của Việt Nam (Vũ Quốc Trung, 2008)
Hun khói, sấy bằng năng lượng mặt trời và trộn nông sản với bụi trơ hoặc tro cũng có hiệu quả đối với côn trùng hại
Trang 311.3.3.3 Biện pháp sinh học
Việc sử dụng các loài côn trùng bắt mồi hay ong ký sinh cũng giúp hạn chế một phần tác hại do côn trùng hại kho gây ra Dương Minh Tú (2005) bước đầu
nghiên cứu sử dụng bọ xít bắt mồi Xylocoris flavipes phòng trừ mọt hại kho
Theo Bùi Công Hiển (1995), các loài ong ký sinh côn trùng gây hại trong kho
thường giết chết vật chủ, ví dụ như ong ký sinh (Trichogramma spp.) ký sinh trứng ngài gạo (Corcyra cephalonica)
Tuy nhiên do đặc trưng riêng của môi trường kho và hàng hóa bảo quản nên việc ứng dụng phòng trừ sinh học nhìn chung còn rất hạn chế Ví dụ, việc sử dụng các chế phẩm vi sinh vật cần phải có môi trường ẩm để chúng phát triển và gây bệnh cho côn trùng, nhưng môi trường ẩm là điều cấm kỵ ở trong các kho bảo quản hàng hóa khô như thức ăn gia súc Hàng hóa bảo quản trong kho thường bị nhiều loài côn trùng gây hại và đa số thuộc bộ cánh cứng nên hiệu quả sử dụng sinh vật gây bệnh để trừ côn trùng trong kho là không cao
1 3.3.4 Biện pháp hóa học
Các loại kho tàng và hàng hóa xuất nhập khẩu thường được khử trùng xông hơi bằng Methyl Bromide và Phosphine Đây là hai loại thuốc hữu hiệu nhất để tiêu diệt các loài sinh vật gây hại trong kho bảo quản
Trước đây hầu như việc khử trùng hàng nông sản xuất nhập khẩu của Việt Nam chỉ sử dụng một loại thuốc là Methyl Bromide (CH3Br) với các ưu điểm là hiệu quả tốt, nhanh chóng Tuy nhiên, hiện nay phần lớn các khách hàng mua nông sản của Việt Nam đi các thị trường Châu Âu, Nhật , Cuba chỉ chấp nhận sử dụng thuốc khử trùng là Phosphine Việc sử dụng thuốc Phosphine có một số yêu cầu kỹ thuật khác với Methyl Bromide và các yêu cầu này quyết định chất lượng khử trùng Hoàng Trần Anh (2010) đã nghiên cứu biện pháp xử lý mọt khuẩn đen
Alphitobius diaperinus bằng thuốc Phostoxin, kết quả cho thấy liều lượng 4g/m3 có hiệu lực phòng trừ mọt khuẩn đen cao nhất, đạt 100% sau 7 ngày
Theo Lê Xuân Chiến (2013), thuốc Phostoxin có hiệu lực trừ mọt Carpophilus dimidiatus Fabricius tốt nhất ở nồng độ 12g/m3 với thời gian ủ thuốc 06 ngày Tính
mẫn cảm của từng pha phát dục đối với độc tính của thuốc Phostoxin theo thứ tự Trứng
Trang 32< Nhộng < Sâu non < Trưởng thành Thuốc Methyl bromide + 2 % Chloropicrine có
hiệu lực trừ mọt Carpophilus dimidiatus Fabricius cao ngay ở nồng độ bằng một
nửa nồng độ tối thiểu trong khử trùng kho (10 g/m3)
* Mức độ kháng thuốc Phosphine của sâu mọt:
Đã có nhiều nghiên cứu về tính kháng thuốc Phosphine của sâu mọt, kết quả cho thấy có nhiều loài côn trùng thể hiện tính kháng thuốc Trong đó, mọt đục thân
nhỏ Rhizopertha dominica, mọt cứng đốt Trogoderma granaria và rệp sách
(psocids) có khả năng chống chịu rất cao đối với phosphine
Hoàng Trung (1999) đã nghiên cứu thành phần côn trùng kho ở 9 tỉnh miền
Bắc Việt Nam và mức độ kháng thuốc phosphine, DDVP của 3 loài gây hại chính
Dương Minh Tú (2005) đã nghiên cứu hiệu lực của xông hơi khử trùng bằng Phosphine trong kho thóc dự trữ đổ rời, đồng thời nghiên cứu tính kháng thuốc Phosphine và hiệu lực của thuốc Sumithion 50EC đối với mọt gạo và mọt đục hạt nhỏ
1.3.4 Nghiên cứu về giống Oryzaephilus – Mọt răng cưa Oryzaephilus surinamensis L
Hiện nay ở Việt Nam mới chỉ ghi nhận sự có mặt của loài Oryzaephilus surinamensis L thuộc giống Oryzaephilus Ở Việt Nam, mọt răng cưa Oryzaephilus surinamensis xuất hiện ở tất cả các vùng Tuy nhiên Việt Nam chưa có nghiên cứu chi tiết nào về giống Oryzaephilus nói chung, cũng như loài mọt răng cưa
Oryzaephilus surinamensis nói riêng
Theo kết quả tổng hợp của Bùi Công Hiển và cs (2014), mọt răng cưa
Oryzaephilus surinamensis có một số đặc điểm hình thái và đặc điểm sinh học như sau:
Đặc điểm hình thái:
- Trưởng thành: Thân dài 2,5 – 3,5 mm, dài và dẹt, màu hồng nâu Trên mảnh
lưng ngực có 6 gai lồi ra trông rất rõ và giống như răng cưa
- Sâu non: Khi đẫy sức dài 3-4mm Thân hình ống tròn, màu xám trắng
- Trứng: Hình bầu dục dài, màu trắng sữa
- Nhộng: Dài 2,5 - 3 mm, màu trắng sữa
Trang 33- Với các sản phẩm còn nguyên vẹn, mọt răng cưa chỉ phá hại khi hàng hóa có thủy phần cao Ở các loại hàng hóa có thủy phần từ 12% trở xuống, mọt răng cưa không thể phát triển được
- Mỗi năm có từ 2-5 lứa Con cái thường đẻ 35 - 100 trứng, bình quân 70 trứng, tối đa 285 trứng Trứng đẻ thành ổ, trong kẽ hoặc đẻ rải rác 3-4 quả
- Mọt răng cưa thoát ẩm rất mạnh, những sản phẩm có mật độ mọt này cao, thủy phần tăng lên rất nhanh
Trang 34Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Mọt răng cưa Oryzaephilus surinamensis L
- Vật liệu nghiên cứu: Gạo hạt nguyên, cám gạo, bột mỳ được khử trùng ở nhiệt độ 600C trong thời gian ít nhất là 45phút, nhiều nhất là 1 tuần, tùy thuộc từng loại thức ăn cho đến khi thủy phần đạt 12-13% Sau đó để nguội và hồi
ẩm trong Desicator đến thủy phần 15-16%
Hình 2.1 Các loại thức ăn thí nghiệm
a Gạo hạt nguyên; b Cám gạo; c Bột mỳ
2.2 Địa điểm nghiên cứu
- Kho bảo quản thức ăn gia súc tại khu vực Hà Nội và phụ cận
- Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng V – Cục Bảo vệ thực vật
- Trung tâm Giám định Kiểm dịch thực vật – Cục Bảo vệ thực vật
2.3 Thời gian nghiên cứu
Trang 35- Đồ dùng mở bao, hộp, găng tay, bút lông, ống nghiệm có nắp, túi nylong đựng mẫu…
- Hộp petri (150x20mm), hộp nhựa to (hình trụ, đường kính 20 cm, cao 30 cm), hộp nhựa nhỏ (đường kính 10cm, cao 10 cm), lưới ngăn côn trùng
- Bút chì, nhãn ghi, khay, lọ thủy tinh…
- Kính hiển vi, máy ảnh, hộp nuôi sâu, sổ sách ghi chép
- Các máy móc khác như: tủ định ôn, tủ sấy, Desicator …
- Hóa chất thí nghiệm: cồn 700, formol 5%, lọ độc và các hóa chất khác
- Hóa chất khử trùng xông hơi: Phosphine và thùng (Chamber) khử trùng thể tích 1m3.
Trang 362.5 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra xác định thành phần sâu mọt gây hại kho bảo quản thức ăn gia súc tại khu vực Hà Nội và phụ cận năm 2014
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái của loài mọt răng cưa Oryzaephilus surinamensis Linnaeus
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của loài mọt răng cưa Oryzaephilus surinamensis Linnaeus
- Đánh giá hiệu lực diệt trừ loài mọt răng cưa Oryzaephilus surinamensis L
của thuốc xông hơi khử trùng Phosphine
2.6 Phương pháp nghiên cứu
2.6.1 Phương pháp điều tra thành phần sâu mọt hại trong kho bảo quản thức ăn gia súc
Điều tra các kho bảo quản thức ăn gia súc trên địa bàn Hà Nội và phụ cận, gồm 3 khu vực: Hà Nội, Hà Nam và Bắc Giang – Bắc Ninh
2.6.1.1 Phương pháp điều tra thu thập và bảo quản mẫu
Phương pháp lấy mẫu: Theo Quy chuẩn Việt Nam: QCVN 01-141:
2013/BNNPTNT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phương pháp lấy mẫu kiểm dịch thực vật (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
- Lấy mẫu ban đầu: Các điểm lấy mẫu ban đầu phải phân bố đều trong lô vật thể Mẫu được lấy theo phương pháp đường chéo góc của các mặt quy ước tính theo
độ cao của khối hàng Khối lượng mẫu ban đầu phụ thuộc vào khối lượng hàng hóa, lấy ít nhất 5 mẫu/ 1 khối hàng
- Lấy mẫu trung bình: Trộn đều tất cả các mẫu ban đầu, phân tách mẫu theo nguyên tắc đường chéo để lấy mẫu trung bình
- Lấy mẫu bổ sung: Điều tra bằng mắt để thu thập trực tiếp sâu mọt gây hại, chú ý những nơi sâu mọt thường tập trung như khe, kẽ nứt, nền, tường kho, góc kho, trên các vật dụng làm kệ, kê lót, bao bì, nơi có hàng tồn đọng lâu, mục nát Điều tra bổ sung để phát hiện thêm những loài sâu mọt hại nông sản chưa thu thập được
Phương pháp thu thập, định loại mẫu côn trùng:
- Dùng xiên dài đối với hàng đổ rời, xiên ngắn đối với hàng đóng bao sợi hoặc
Trang 37dụng cụ khác đối với hàng đóng bao giấy, màng nhựa, hộp gỗ hoặc kim loại để lấy mẫu ban đầu
- Đối với côn trùng thuộc Bộ Cánh cứng: dùng panh, bút lông gạt nhẹ cho côn trùng rơi vào ống nghiệm để thu bắt rồi bịt kín miệng bằng nút bông
Phương pháp bảo quản mẫu:
- Đối với côn trùng sau khi giết, cho vào lọ bảo quản nơi khô ráo có ghi nhãn gồm ký hiệu mẫu, ngày thu thập, vật phẩm bị bại nơi thu thập và người thu thập Đối với sâu non, nhộng thì ngâm vào cồn 70o
- Mẫu thu được của từng địa điểm được để riêng trong túi nilon có nhãn theo quy định
- Tất cả các mẫu côn trùng thu thập ở các địa điểm đều được đưa về phòng thí nghiệm của Trung tâm Giám định Kiểm dịch thực vật để giám định đến loài theo các khóa phân loại hiện hành
- Định loại côn trùng theo tài liệu của Bousquet (1990), Gorham (1991), Haines (1991) và Bùi Công Hiển (1995)
Các chỉ tiêu cần điều tra:
- Tên loài côn trùng gây hại (tên Việt Nam và tên khoa học)
- Mức độ phổ biến của từng loài
Tính độ thường gặp (%) để đánh giá mức độ phổ biến của từng loài côn trùng theo không gian điều tra:
(%) = Na x 100
N Trong đó: Na: Số điểm điều tra có chứa loài a
N: Tổng số điểm điều tra
Mức độ phổ biến được chia thành 4 cấp:
+++ : Rất phổ biến (>50%) ++ : Phổ biến (20-50%) + : Ít phổ biến (5-20%)
- : Rất ít gặp (<5%)
Trang 382.6.1.2 Phương pháp xử lý và bảo quản sâu mọt
Theo 10TCN 956: 2006: Kiểm dịch thực vật – Quy trình lưu giữ, bảo quản
và vận chuyển mẫu trong kiểm dịch thực vật
+ Đối với côn trùng trưởng thành: Giết chết trong lọ độc có chứa KCN, tiếp theo sấy ở 45-500C trong 3-4 ngày sau đó cho vào lọ nút mài kín và để ở nhiệt độ phòng + Đối với sâu non, nhộng: để sâu non nhịn đói trong 1 ngày cho bài tiết sạch, sau đó cho vào ống nghiệm hoặc nước lã đun không cần sôi cho đến khi sâu non duỗi thẳng ra là được Nhộng được trần qua nước ấm Sau đó ngâm sâu non và nhộng vào cồn 700
Các lọ đều được dán nhãn đầy đủ, bảo quản nơi khô ráo có ghi nhãn gồm ký hiệu mẫu, ngày thu thập, vật phẩm bị hại nơi thu thập và người thu thập
2.6.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái của loài mọt răng cưa Oryzaephilus surinamensis L
Thu mọt trưởng thành qua quá trình điều tra và nuôi trong hộp nhựa to hình trụ đường kính 20cm, cao 30cm, bên trong có chứa thức ăn (khối lượng thức ăn dư thừa) đã được khử trùng và làm sạch - đây là nguồn cung cấp mọt cho các thí nghiệm của đề tài
Hình 2.3 Nuôi nguồn mọt cho các thí nghiệm
Quan sát, mô tả màu sắc và đo kích thước của từng pha phát dục với số lượng mọt quan sát là 30 cặp cá thể Đơn vị đo là mm
- Pha trứng: đo chiều dài từ mép trên đến mép dưới của trứng theo hướng nhất định, chiều rộng đo phần rộng nhất;
Trang 39- Pha sâu non: chiều dài, chiều rộng: đo ở nơi rộng nhất từng tuổi sâu;
- Pha nhộng: đo chiều dài, chiều rộng đo nơi rộng nhất của nhộng;
- Pha trưởng thành: đo chiều dài, chiều rộng (nơi rộng nhất của cơ thể)
Dùng công thức thống kê sinh học để tính kích thước trung bình:
n
Xi
=
Trong đó: X : kích thước trung bình của từng pha;
Xi: giá trị kích thước cá thể thứ i;
Dùng hộp nhựa nhỏ (đường kính 10cm, cao 10 cm) có nắp đậy ngăn côn trùng Cho thức ăn đã được làm sạch và khử trùng vào các hộp Trong mỗi hộp thả một cặp mọt Kiểm tra, tìm trứng và thay thức ăn hàng ngày (1 lần/ngày)
Với pha trứng: Kiểm tra hàng ngày Khi thấy trứng ghi lại ngày, tháng và tiến hành tách riêng từng quả đưa vào hộp petri (1 quả/hộp) có chứa thức ăn Tiếp tục theo dõi quan sát thời điểm trứng nở
Trang 40Với pha sâu non: Khi trứng nở thành sâu non tiếp tục theo dõi thời gian phát dục của từng tuổi Quan sát mỗi ngày một lần và ghi lại thời điểm khi phát hiện thấy
có xác sâu non của mọt trong hộp petri Thời gian phát dục của mỗi tuổi được tính
từ thời điểm lột xác lần trước đến lần lột xác tiếp theo
Với pha nhộng: Tiếp tục theo dõi mỗi ngày một lần Ghi chép thời điểm khi sâu non tuổi cuối bắt đầu hóa nhộng và khi nhộng vũ hóa trưởng thành
Với pha trưởng thành: Khi phát hiện nhộng vũ hóa trưởng thành, chọn 10 cặp đực – cái ghép đôi và nuôi trong hộp petri có thức ăn Theo dõi mỗi ngày một lần đến khi tìm thấy quả trứng đầu tiên và ghi chép ngày phát hiện
Vòng đời của mọt được tính từ khi trứng nở đến khi mọt trưởng thành đẻ quả trứng đầu tiên
Thời gian phát dục trung bình được tính theo công thức:
N
ni Xi
Trong đó: X : thời gian phát dục trung bình của từng pha;
Xi: thời gian phát dục của cá thể thứ i;
ni: số cá thể lột xác trong ngày thứ i;
đẻ trứng trung bình, số trứng đẻ trung bình và tỷ lệ trứng nở
Số trứng đẻ TB/1cá thể cái
Tổng số trứng đẻ (quả) Tổng số con cái (con)