Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page ix 4.20 Tiêu chí sắp xếp công việc cho người lao động phân theo các loại hình 4.32 Phân tích SWOT trong quản lý
Trang 1i
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
NGUYỄN HỮU TRƯỜNG
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG
LAO ĐỘNG TẠI CÁC LÀNG NGHỀ Ở THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 2i
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
NGUYỄN HỮU TRƯỜNG
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG
LAO ĐỘNG TẠI CÁC LÀNG NGHỀ Ở THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ : 60.34.04.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS VŨ THỊ PHƯƠNG THỤY
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 3Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được
chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 01 tháng 07 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Hữu Trường
Trang 4Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page iii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, các đồng chí cán bộ cơ sở, nhân dân địa phương, gia đình và bạn bè
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo – TS Vũ Thị Phương Thụy đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình chỉ bảo tôi trong quá trình thực tập và làm luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo, các cán bộ thị xã Từ Sơn, cán
bộ Phường Châu Khê, xã Hương Mạc, xã Tương Giang, bí thư và trưởng các khu phố Đa Hội, thôn Hương Mạc và Hồi Quan đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành kế hoạch thực tập
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến cán bộ quản lý thư viện khoa KT và PTNT, quản lý thư viện Học viện Nông Nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện cho tôi
sử dụng tài liệu tham khảo
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo Khoa KT và PTNT, các thầy cô trong bộ môn Kinh tế tài nguyên môi trường, các thầy cô đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu, cùng toàn thể gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành đề tài thực tập tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 01 tháng 07 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Hữu Trường
Trang 5Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page iv
MỤC LỤC
Trang 6Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page v
4.1 Khái quát về tình hình lao động và sử dụng lao động làng nghề tại thị
4.1.1 Khái quát tình hình phát triển các làng nghề tại thị xã Từ Sơn 37 4.1.2 Khái quát tình hình lao động tại các làng nghề trên địa bàn thị xã Từ Sơn 42 4.1.3 Khái quát tình hình quản lý và sử dụng lao động làng nghề trên địa bàn
4.2 Thực trạng của hoạt động quản lý và sử dụng lao động tại các cơ sở điều tra 52 4.2.1 Tình hình cơ bản của các đối tượng điều tra 52 4.2.2 Quản lý và sử dụng lao động ở các cơ sở điều tra 56 4.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý và sử dụng lao động ở các
4.3.2 Năng lực của người quản lý và ý thức của người lao động 73
4.3.4 Ảnh hưởng của tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp 74 4.3.5 Chính sách của cơ sở với người lao động 75 4.3.6 Các chính sách của Nhà nước và địa phương 78 4.3.7 Phân tích SWOT trong quản lý và sử dụng lao động nghề tại thị xã Từ Sơn 83 4.4 Giải pháp nâng cao năng lực quản lý và sử dụng lao động làng nghề tại
4.4.2 Làm tốt công tác đào tạo nghề cho người lao động 89 4.4.3 Chính sách tiền lương, tiền thưởng, các chế độ cho người lao động 90
4.4.5 Ký hợp đồng lao động với người lao động 91
Trang 7Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page vi
4.4.6 Đăng ký tình hình lao động làm thuê với chính quyền địa phương 92
Trang 8Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page vii
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
Trang 9Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page viii
DANH MỤC BẢNG
3.1 Tình hình phân bố và đất đai của Thị Xã Từ Sơn 23 3.2 Tình hình dân số - lao động tại Thị xã Từ Sơn 24 3.3 Kết quả phát triển kinh tế của thị xã Từ Sơn 27 3.4 Số lượng cơ sở sản xuất và số lượng cơ sở điều tra năm 2014 32 3.5 Lượng mẫu điều tra các đối tượng nghiên cứu, năm 2014; 33 4.1 Số lượng làng nghề truyền thống tại thị xã Từ Sơn, năm 2014 38 4.2 Tình hình phát triển về loại hình tổ chức sản xuất nghề của các làng
4.9 Phân loại và quản lý lao động phường Châu Khê- Làng nghề sắt thép 49 4.10 Phân loại và quản lý lao động xã Hương Mạc – Làng nghề mộc 50 4.11 Phân loại và quản lý lao động tại xã Tương Giang – làng nghề dệt 51 4.12 Tổng hợp thông tin về chủ của các cơ sở sản xuất tại Thị xã Từ Sơn 52 4.13 Tổng hợp thông tin lao động được điều tra tại các cơ sở sản xuất 54 4.14 Thời gian làm nghề của người lao động điều tra 55 4.15 Quy mô sản xuất và năng suất lao động theo loại hình cơ sở tại các
4.16 Nhu cầu và thực tế tuyển dụng lao động ở các cơ sở nghiên cứu, 2013 58 4.17 Ý kiến đánh giá của người lao động về công tác tuyển dụng 59 4.18 Hoạt động đào tạo nghề cho người lao động ở các cơ sở điều tra 60 4.19 Tiêu chí sắp xếp công việc cho người lao động của các cơ sở sản xuất 62
Trang 10Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page ix
4.20 Tiêu chí sắp xếp công việc cho người lao động phân theo các loại hình
4.32 Phân tích SWOT trong quản lý và sử dụng lao động làng nghề 85 4.33 Dự kiến tập huấn năng cao năng lực cho chủ các cơ sở sản xuất 88
Trang 11Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 1
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, cả nước có khoảng 3.350 làng nghề, trong đó Hà Nội chiếm tỷ lệ nhiều nhất với 1.350 làng nghề được công nhận (Nguyễn Văn Ba, 2012) Nhìn chung sự phát triển các làng nghề ở Việt Nam vẫn còn nhiều tồn tại, đặc biệt là vấn
đề quản lý và sử dụng lao động Hầu hết các cơ sở có sử dụng lao động làm thuê đều chưa ký hợp đồng bằng văn bản với người lao động, hoặc có ký nhưng thực hiện các điều khoản trên hợp đồng không đầy đủ Vì thế nhiều lao động không thiết tha với nghề Để làng nghề phát triển, công tác quản lý và sử dụng lao động tại các
cơ sở cần được củng cố, công tác quản lý về mặt hành chính phải được thực hiện một cách nghiêm túc và được sự đồng thuận của người dân Việc phát triển các làng nghề một cách có quy mô có ý nghĩa rất lớn trong việc tạo việc làm cho lao động nông thôn, phát triển kinh tế, tạo bộ mặt mới cho nông thôn đồng thời giảm bớt sự di cư ra các thành phố lớn, gìn giữ nghề truyền thống đồng thời nâng cao thu
nhập của người dân nông thôn (Hiệp Hội làng nghề Việt Nam,2013)
Tái lập năm 1997, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Đồng Bằng Bắc Bộ, Bắc Ninh đã và đang vươn lên từ những nguồn lực vốn có, chủ trương của tỉnh phấn đấu đến năm 2015 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp, mức tăng trưởng hàng năm từ 10-16% Là một tỉnh có nhiều làng nghề và làng nghề truyền thống, trong
số 62 làng nghề còn tồn tại thì Bắc Ninh có tới 53 làng nghề sản xuất công nghiệp
và tiểu thủ công nghiệp Sự hình thành và phát triển các làng nghề trong những năm qua đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh Các làng nghề tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông thôn; giải quyết các vấn đề xã hội phức tạp ở khu vực nông thôn; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh và góp phần bảo tồn giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Các làng nghề đã góp phần rất lớn trong việc giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân trong tỉnh (trên 75.000 lao động thường xuyên và trên 10.000 lao động thời vụ) Tại các làng nghề, mức thu nhập của người dân cao gấp 3 đến 4,5 lần so với các làng thuần nông, nhờ vậy góp phần giảm tỷ lệ đói nghèo của tỉnh Đây còn là nơi cung
Trang 12Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 2
cấp nguồn hàng xuất khẩu quan trọng của tỉnh với kim ngạch từ 1.200 tỉ đến 1.500
tỉ đồng/ năm (Nguyễn Văn Luyện, 2014)
Trong vài năm gần đây, quá trình công nghiệp hóa ở thị xã Từ Sơn, cùng với việc áp dụng các chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn đã làm cho các làng nghề thay đổi nhanh chóng Việc phát triển các làng nghề không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội, góp phần vào việc tăng trưởng kinh tế mà còn góp phần phân phối lại lực lượng lao động trong xã hội, giải quyết việc làm, tăng thu nhập của người lao động, xoá đói giảm nghèo
Mô hình chủ yếu ở các làng nghề là hộ gia đình, công ty TNHH và doanh nghiệp tư nhân hoạt động với đặc điểm sản xuất chủ yếu là sản xuất tại nhà ở hoặc xen cư, một số làng nghề đã bước đầu đi vào quy hoạch cụm công nghiệp làng nghề với một tỷ lệ nhỏ các hộ sản xuất/doanh nghiệp tham gia
Phần lớn các hộ gia đình/doanh nghiệp có mặt bằng sản xuất chật hẹp, nằm cận kề khu dân cư hoặc tại gia đình, xưởng tạm bợ, thiếu ánh sáng; vật liệu sản xuất và sản phẩm làm ra bố trí, sắp xếp lộn xộn, bừa bãi Việc tổ chức sản xuất – tổ chức lao động không hợp lý, với lao động thủ công chiếm tới 70 – 80%, và có tới gần 80% các khâu trong dây chuyền công nghệ người lao động phải làm việc trong điều kiện nặng nhọc, vất vả ầu hết các cơ sở sản xuất đều không có hệ thống thông gió, hút bụi, xử lý hơi khí độc trong nhà xưởng, ngay cả các cơ sở sản xuất sử dụng nhiều hoá chất, nhiều chất dễ cháy, dễ nổ (axít, xút, cao su, xà phòng, đồ nhựa…); Không có hoặc thiếu bộ phận làm công tác quản lý và sử dụng lao động; Không trang bị hoặc trang bị không đầy đủ các phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động; Việc tổ chức tập huấn cho người lao động mang tính sơ sài, hình thức, thậm chí nhiều nơi không tổ chức huấn luyện; Không có sổ sách theo dõi, thống kê đầy
đủ tình hình tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và thực hiện không nghiêm túc chế
độ khai báo khi xảy ra tai nạn lao động với các cơ quan chức năng;… Công tác quản lý và sử dụng lao động các cấp đối với khu vực này gần như đang bị bỏ ngỏ Công tác này ở địa phương còn nhiều bất cập như: trình độ học vấn của người lao động thấp nên nhận thức còn yếu về vấn đề này nên quản lý nhân khẩu gặp khó khăn, đa số các cơ sở thuê lao động ký hợp đồng miệng với người lao động nên quyền lợi của người lao động khó được đảm bảo,
Trang 13Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 3
Để giúp những người lao động có thu nhập ngày càng cao từ làm nghề, các
cơ sở phải tổ chức lao động một cách hợp lý sao cho năng suất lao động đạt hiệu
quả cao nhất Chính vì lý do này tôi đã chọn đề tài: “Nghiên cứu tình hình quản lý
và sử dụng lao động tại các làng nghề ở thị xã Từ Sơn, Tỉnh Bắc Ninh” nhằm
tìm hiểu thực trạng quản lý và sử dụng lao động tại các làng nghề trên địa bàn thị
xã từ đó đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả của công tác quản lý, sử dụng lao động tại địa phương
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 M ục tiêu chung
Tìm hiểu tình hình quản lý và sử dụng lao động tại các làng nghề của thị xã
Từ Sơn từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp để nâng cao kết quả trong việc quản lý và sử dụng lao động của làng nghề trên địa bàn thị xã Từ Sơn
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu: Các vấn đề kinh tế xã hội liên quan đến quản lý và
Trang 14Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 4
1.3.2 Ph ạm vi nghiên cứu
* Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về tình hình quản lý và
sử dụng lao động các làng nghề trên địa bàn thị xã Từ Sơn
* Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn thị xã Từ Sơn và nghiên cứu sâu ở 3 xã, phường đại diện các làng nghề của thị xã là: Tương Giang, Châu Khê, Hương Mạc
Trang 15Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 5
2.1.1.1 Khái niệm về lao động, lao động làng nghề
- Lao động: Theo Bộ Luật lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam thông qua ngày 23 tháng 6 năm 1994: Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước
Lao động nông thôn là toàn bộ những hoạt động lao động sản xuất tạo ra sản phẩm của những người sống ở nông thôn Do đó, lao động nông thôn bao gồm: lao động trong các ngành nông nghiệp, công nghiệp nông thôn, dịch vụ ở nông thôn …
- Việc làm: Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp
luật cấm đều được thừa nhận là việc làm Giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà
nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội (Điều 13 – Bộ Luật lao động)
- Người lao động: là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có
giao kết hợp đồng lao động
- Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan tổ chức hoặc cá nhân, nếu
là cá nhân thì ít nhất phải đủ 18 tuổi, có thuê mướn, sử dụng và trả công lao động
- Làng nghề là một làng tuy vẫn còn trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn
nuôi nhưng cũng có một số nghề phụ khác như đan lát, gốm sứ, làm tương song
đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có cơ cấu tổ chức, cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công có tính mỹ nghệ, đặc trưng của địa phương (Trần Quốc Vượng, 1996)
Trang 16Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 6
- Lao động làng nghề là những người lao động tham gia sản xuất ra những
sản phẩm mang tính đặc trưng của địa phương đó
Lao động làng nghề nói chung hiện nay chia ra 2 nhóm rõ rệt:
Nhóm lao động không thường xuyên: thiếu kỹ năng làm những công việc đơn giản, không hoặc ít có đào tạo bài bản
Lao động thường xuyên, kỹ năng cao, thường làm việc ở những cơ sở hoặc doanh nghiệp làm hàng mỹ nghệ cao cấp
2.1.1.2 Đặc điểm kỹ thuật, công nghệ của sản xuất sản phẩm trong làng nghề
- Đặc trưng đầu tiên của nghề thủ công truyền thống là kỹ thuật thủ công mang tính truyền thống và bí quyết dòng họ Công cụ sản xuất chủ yếu là thô sơ do chính người thợ thủ công chế tạo ra
- Công nghệ truyền thống không thể thay thế hoàn toàn bằng công nghệ hiện đại mà chỉ có thể thay thế ở một số khâu, công đoạn nhất định Đây chính là một trong những yếu tố tạo nên tính truyền thống của sản phẩm
- Kỹ thuật công nghệ trong các làng nghề truyền thống hầu hết là thô sơ, lạc hậu
- Thông qua sự phát triển của khoa học, kỹ thuật đã tạo ra sự kết hợp giữa công nghệ truyền thống và công nghệ hiện đại trong quá trình sản xuất
- Sản phẩm làng nghề truyền thống rất đa dạng, phong phú Nó có thể được sản xuất hàng loạt hoặc sản xuất đơn chiếc Việc sản xuất hàng loạt sản phẩm giống nhau chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ hoặc vừa Bên cạnh đó, sản phẩm mang tính đơn chiếc thường là sản phẩm mỹ nghệ cao cấp – vì những nét hoa văn, phần tinh hoa của chúng luôn được cải biến them nhằm thu hút sự thưởng thức của những người sành chơi Nhìn chung, trong sản phẩm của làng nghề truyền thống vẫn tồn đọng những hao phí lao động sống, đó là lao động thủ công của con người
2.1.1.3 Đặc điểm của lao động làng nghề
- Thứ nhất, lao động được sử dụng trong các làng nghề chủ yếu là lao động
thủ công Lao động trong làng nghề có nhiều loại hình và nhiều trình độ khác nhau Trong đó, nghệ nhân đóng vai trò quan trọng, được coi là nòng cốt của quá trình sản xuất và sang tạo sản phẩm Người thợ thủ công trước hết là người nông dân Làng nghề là tồn tại ở nông thôn, gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp Các làng nghề xuất hiện trong từng làng - xã ở nông thôn sau đó các ngành nghề thủ công nghiệp
Trang 17Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 7
được tách dần nhưng không rời khỏi nông thôn, sản xuất nông nghiệp và sản xuất - kinh doanh thủ công nghiệp trong các làng nghề đan xen lẫn nhau Có thể lúc này người lao động làm nghề nhưng ở thời điểm khác họ lại làm công việc của nhà nông Lao động làng nghề đôi khi tách khỏi nông nghiệp nhưng không tách khỏi nông thôn
- Thứ hai, người thợ nhờ vào kỹ thuật khéo léo, tinh xảo của đôi bàn tay,
vào đầu óc thẩm mỹ và sáng tạo của người thợ, của các nghệ nhân để làm ra sản phẩm Trước kia, do trình độ khoa học và công nghệ chưa phát triển thì hầu hết các công đoạn trong quy trình sản xuất đều là thủ công, giản đơn Ngày nay, cùng với
sự phát triển của khoa học - công nghệ, việc ứng dụng khoa học - công nghệ mới vào nhiều công đoạn trong sản xuất của làng nghề đã giảm bớt được lượng lao động thủ công, giản đơn Tuy nhiên, một số công đoạn trong quy trình sản xuất vẫn phải duy trì kỹ thuật lao động thủ công tinh xảo
-Thứ ba, lao động được học nghề chủ yếu theo phương thức truyền nghề
trong các gia đinh từ đời này sang đời khác và chỉ khuôn lại trong từng làng Tuy nhiên, hiện nay đã có sự kết hợp phương thức đào tạo nghề mới, mở các trường đào tạo nghề đồng thời vừa học vừa làm có sự truyền nghề của nghệ nhân, thợ cả đối với thợ phụ, thợ học việc
Trình độ học vấn thấp làm hạn chế việc sử dụng thiết bị, công nghệ cao vào sản xuất hạn chế khả năng tư duy, sang tạo sản phẩm mới Tính kỉ luật lao động, tác phong làm việc chưa nhanh nhẹn
2.1.2 Lý lu ận cơ bản về quản lý và sử dụng lao động làng nghề
2.1.2.1 Khái niệm về quản lý và sử dụng lao động
- Quản lý lao động
Lao động làng nghề truyền thống khác với lao động trong các doanh nghiệp
về cách thức và tổ chức làm việc Vì thế để quản lý lao động nghề tốt trước hết cần phải nắm rõ những vấn đề của quản lý:
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường
Trang 18Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 8
Như vậy, quản lý lao động được hiểu là tất cả những tác động có tổ chức và hướng đích mà chủ thể tác động lên người lao động trọng điều kiện biến động của môi trường nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra Quá trình quản lý có thể diễn ra dưới nhiều hình thức và ở các công đoạn khác nhau, có thể trực tiếp hoặc gián tiếp Nhưng dù cách thức quản lý nào thì mục đích của hoạt động quản lý đều là nhằm làm cho hoạt động sản xuất thực sự có hiệu quả, đem lại lợi ích cho cả nhà sản xuất lẫn người lao động (Nguyễn Văn Điềm và Nguyễn Ngọc Quân, 2010)
- Sử dụng lao động
Sử dụng lao động trong nông thôn tại các làng nghề là việc dùng lao động trong các hoạt động sản xuất của các cơ sở làm nghề Do sức lao động là lực lượng sản xuất quan trọng của xã hội nên nhiệm vụ đặt ra có tính chất nguyên tác là phải
sử dụng đầy đủ và hợp lý nguồn lao động
Theo nguyên tắc này, đơn vị sử dụng lao động trong nông nghiệp, nông thôn phải sử dụng đầy đủ về mặt số lượng lao động: toàn bộ những người lao động trong và ngoài tuổi quy đinh và có khả năng lao động đều cần được tham gia vào sự phát triển kinh tế của hộ gia đình nói riêng và xã hội nói chung
Lao động cần được sử dụng hợp lý về mặt thời gian: Để đạt được hiệu suất lao động nhất định, việc sử dụng sức lao động cần đảm bảo khai thác hết khả năng lao động của họ cả về thể lực và trí lực, nhưng phải phù hợp với trình độ, điều kiện sức khỏe của từng người lao động để làm được điều này, thời gian lao động trong năm cần được phân bố một cách hợp lý theo mùa vụ
Tóm lại, sử dụng lao động đầy đủ, hợp lý có quan hệ mật thiết với nhau Sử dụng đầy đủ, hợp lý thì hiệu quả mang lại sẽ thúc đẩy việc tăng thu nhập cho người lao đông Ngược lại, thì hiệu quả sử dụng lao động sẽ không cao Quá trình sử dụng lao động gắn liền với sự phát triển của kinh tế nông thôn Khi kinh tế phát triển, sử dụng lao động càng yêu cầu cao về chất lượng và phân công lao động ngày một hợp lý hơn
Sử dụng lao động cần đạt hiệu quả kinh tế cao: Trong thời vụ căng thẳng, ngoài lao động gia đình thì các nông hộ vẫn phải thuê lao động trên thị trường, vì lao động là một hàng hóa đặc biệt, nên vấn đề thuê mướn lao động cũng thay đổi theo
Trang 19Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 9
quan hệ cung cầu Do đó, hộ gia đình cần so sánh giá trị vật chất mà lao động thuê làm ra có bằng với tiền thuê lao động đó hay không
2.1.2.2 Vai trò của quản lý và sử dụng lao động làng nghề
- Góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Lao động là yếu tố đầu vào không thể thiếu của quá trình sản xuất, đặc biệt đối với nghề truyền thống Lao động là nhân tố chính tạo ra các sản phẩm có giá trị, tạo nên sự khác biệt của sản phẩm Đánh giá sự tăng trưởng kinh tế thông qua tiền lương và mức chi tiêu của người lao động Khi tiền công của người lao động tăng chứng tỏ chi phí sản xuất tăng, phản ánh khả năng sản xuất tăng Đồng thời, khi mức tiền công tăng lên làm cho thu nhập có thể sử dụng của người lao động tăng,
do đó, khả năng chi tiêu của người tiêu dùng ở các làng nghề cũng tăng lên
- Góp phần xóa đói giảm nghèo
Lao động tham gia vào các làng nghề sẽ giảm áp lực giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, đồng thời giảm bớt lượng lao động di cư lên thành phố làm việc Mức thu nhập của người lao động tại các làng nghề hiện nay tương đối ổn định, đảm bảo được nhu cầu của người dân nông thôn
Tỷ lệ thất nghiệp cao là gánh nặng cho nền kinh tế, là nguyên nhân dẫn đến
sự chậm tăng trưởng của nền kinh tế làm chậm quá trình xoá đói giảm nghèo Do vậy, việc phát triển các làng nghề là cách giải quyết hợp lý, sẽ tận dụng được nguồn tài nguyên, lao động địa phương với chi phí thấp Bên cạnh việc tạo việc làm, tăng thu nhập cho lao động ở khu vực nông thôn, phát triển làng nghề ở nông thôn sẽ tạo them việc làm cho người lao động lúc nông nhàn, lao động phụ như người già, trẻ
em, người khuyết tật góp phần trong việc xoá đói giảm nghèo của địa phương
- Đóng góp vào việc bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống làng nghề Hầu hết các làng nghề có khởi nguồn sang tạo từ cư dân địa phương nên trong các sản phẩm làng nghề từ kiểu dáng, mẫu mã đều có dấu ấn riêng về bản sắc văn hoá của từng địa phương Lịch sử phát triển của các làng nghề truyền thống gắn với lịch sử phát triển văn hóa dân tộc Nhiều sản phẩm truyền thống có tính nghệ thuật cao, trong đó thể hiện những sắc thái riêng của mỗi làng nghề Để làm ra những sản phẩm như vậy không thể thiếu bàn tay tài hoa của những người thợ Do
Trang 20Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 10
vậy, sự tham gia của lao động làng nghề góp phần bảo tồn và phát triển các làng nghề, bảo tồn những nét độc đáo của bản sắc dân tộc
2.1.2.3 Đặc điểm của quản lý và sử sự lao động làng nghề
Lao động làng nghề truyền thống khác với lao động trong các doanh nghiệp
về cách thức và tổ chức làm việc Trong lao động làng nghề sử dụng lao động thủ công là chính Lao động trong làng nghề có nhiều loại hình và nhiều trình độ khác nhau Trong đó, nghệ nhân đóng vai trò quan trọng, được coi là nòng cốt của quá trình sản xuất và sang tạo sản phẩm Người thợ thủ công trước hết là người nông dân Người lao động tại các làng nghề đa phần có trình độ học vấn thấp làm hạn chế việc sử dụng thiết bị, hạn chế khả năng tư duy nên cần được đào tạo kĩ năng cơ bản và đơn giản Tính kỷ luật lao động, tác phong làm việc chưa nhanh nhẹn Cho nên người sử dụng lao động cần thường xuyên kiểm tra giám sát và hướng dẫn người lao động
Nhìn chung, quản lý con người cần phải có kinh nghiệm, hỉểu biết về con người, về công việc Đối với cơ sở làm nghề truyền thống, công tác quản lý lao động có đặc thù riêng Đa số chủ cơ sở cũng xuất thân làm nông nghiệp như những người lao động, do vậy, họ hiểu được tâm lý của người lao động Nghề truyền thống cũng gắn liền với sản xuất nông nghiệp nên cũng có yếu tố mùa vụ Người lao động tới cơ sở khi công việc của nhà nông đã hoàn thành Một số ít có thể coi làm nghề là nguồn thu nhập chính của gia đình họ sẽ tập trung làm nghề, còn làm nông do các thành viên khác trong gia đình đảm nhiệm Nắm được đặc điểm này sẽ giúp các cơ sở tận dụng lao động một cách hiệu quả nhất
2.1.3 N ội dung quản lý và sử dụng lao động làng nghề
2.1.3.1 Nội dung quản lý và sử dụng lao động làng nghề tại các cơ sở kinh doanh
Cho dù là doanh nghiệp hay hộ gia đình sản xuất kinh doanh nhỏ thì mục tiêu cuối cùng vẫn là lợi nhuận Yếu tố con người trong quá trình sản xuất là quan trọng nhất Do đó, để đạt được mục tiêu thì công tác quản lý và sử dụng lao động
vô cùng quan trọng; nó giúp tìm kiếm, phát triển và duy trì lực lượng lao động có chất lượng tốt nhất (Nguyễn Đức Lợi, 2010)
Trang 21Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 11
Nhìn chung, quản lý con người cần phải có kinh nghiệm, hỉểu biết về con người, về công việc Đối với cơ sở làm nghề truyền thống, công tác quản lý lao động có đặc thù riêng Đa số chủ cơ sở cũng xuất thân làm nông nghiệp như những người lao động, do vậy, họ hiểu được tâm lý của người lao động Nghề truyền thống cũng gắn liền với sản xuất nông nghiệp nên cũng có yếu tố mùa vụ Người lao động tới cơ sở khi công việc của nhà nông đã hoàn thành Một số ít có thể coi làm nghề là nguồn thu nhập chính của gia đình họ sẽ tập trung làm nghề, còn làm nông do các thành viên khác trong gia đình đảm nhiệm Nắm được đặc điểm này sẽ giúp các cơ sở tận dụng lao động một cách hiệu quả nhất
a Xác định số lao động cần thiết
Để xác định được số lao động cần dùng thật chính xác trong các doanh nghiệp là rất khó, đặc biệt là các doanh nghiệp làm nghề truyền thống, người lao động hầu hết làm nông nghiệp, họ chỉ tới làm việc vào những lúc nông nhàn Đặc điểm của nông dân ở nước ta là tổ chức kỷ luật chưa cao, họ làm việc theo ý của
họ Vì thế, khi họ làm việc trong một tập thể cần phải xây dựng kế hoạch làm việc chú ý tới đặc điểm này (Nguyễn Đức Lợi, 2010)
Đối với những cơ sở có quy mô, quy định làm việc giữa công ty và người lao động được quy định chặt chẽ, cụ thể hơn Kế hoạch sản xuất kinh doanh, tuyển dụng, đào tạo lao động được xây dựng rõ ràng Việc xác định lao động trong từng giai đoạn, từng thời điểm cũng được cơ sở lập ra cụ thể Do đó, quyền lợi, thu nhập của người lao động được đảm bảo (Nguyễn Đức Lợi, 2010)
Thông qua việc lập kế hoạch sản xuất kinh doanh sẽ xác định được nhu cầu lao động cần thiết cho hoạt động sản xuất sắp tới thực sự hiệu quả
Không chỉ xác định tổng số lao động mà còn phải xác định nhu cầu lao động trong từng công đoạn, bộ phận sản xuất để lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nghề cho người lao động hợp lý và đạt năng suất cao nhất
b Tuyển dụng lao động
Tuyển dụng lao động nhằm tìm kiếm, thu hút ứng viên từ những nguồn khác nhau và làm việc và chọn lựa những người đáp ứng tốt công việc của cơ sở Đây là công việc quan trọng vì khi tuyển chọn được nguồn lao động tốt thì hiệu quả công việc sẽ được nâng cao Công tác tuyển dụng lao động phải xuất phát từ kế hoạch
Trang 22Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 12
SXKD và kế hoạch nhân lực Nếu lực lượng lao động cơ sở có kỹ năng tốt sẽ giúp tiết kiệm được chi phí như: tiền lương, chi phí đào tạo và tránh được rủi ro trong quá trình SXKD (Nguyễn Đức Lợi, 2010)
Sau khi đã xác định được số lao động cần thiết, các cơ sở cần lập kế hoạch tuyển dụng lao động Bảng kế hoạch này cần nêu rõ những nội dung như: vị trí công việc tuyển dụng, đối tượng tuyển dụng, yêu cầu đối với người tuyển dụng, hồ
sơ đăng ký tuyển dụng (Nguyễn Văn Điển, Nguyễn Ngọc Quân, 2010)
Lao động tuyển dụng có thể từ nhiều nguồn khác nhau: ở các trường nghề, địa phương khác Tuy nhiên, hoạt động tuyển dụng cũng cần tuân theo các quy định của pháp luật về tuyển dụng lao động được áp dụng tại thời điểm hiện tại
c Phân công lao động
Nguồn nhân lực nếu được sử dụng tốt sẽ mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp Sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực sẽ nâng cao năng suất lao động, giảm các chi phí qua đó hạ giá thành sản phẩm, nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm với các sản phẩm cùng loại khác trên thị trường Sau khi tuyển dụng được đủ lao động theo kế hoạch, cần phân công lao động vào những bộ phận phù hợp từ đó lên kế hoạch đào tạo nghề cho những người chưa biết nghề và bồi dưỡng cho những người
đã có nghề Việc đào tạo nghề cho người lao động trước khi vào lao động trực tiếp
là công việc quan trọng giúp người lao động có kiến thức cơ bản nhất với công việc mình sắp làm từ đó hiệu quả công việc sẽ tăng lên (Nguyễn Đức Lợi, 2010)
d Giám sát quá trình làm việc của lao động và kiểm tra chất lượng hoàn thành
Nghề thủ công có nhiều công đoạn sản xuất Trước đây một người có thể làm nhiều công đoạn, nhưng nay, do ảnh hưởng của công nghiệp nên nghề thủ công cũng được chuyên môn hóa ngay ở các công đoạn sản xuất Mỗi người làm một công việc cụ thể Vì thế công tác kiểm tra, giám sát sản phẩm cũng cần được tiến hành thường xuyên, ở từng công đoạn sản xuất Làm như vậy khi sản phẩm mắc lỗi
ở một bộ phận nào đó thì chỉ cần chỉnh sửa ở giai đoạn làm ra bộ phận đó mà thôi, như thế sẽ đảm bảo được chất lượng cũng như tiến độ hoàn thành sản phẩm đó
Công việc này đòi hỏi người kiểm tra phải am hiểu, nắm bắt được toàn bộ quá trình sản xuất ra sản phẩm, do vậy thường là những người thợ lành nghề Người đảm nhiệm công việc này có thể trực tiếp sửa sản phẩm mắc lỗi hoặc chỉ dẫn
Trang 23Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 13
người thợ sửa tuỳ thuộc và từng sản phẩm, để sao cho sản phẩm làm ra đạt tiêu chuẩn (Nguyễn Đức Lợi, 2010)
e Đào tạo nghề cho người lao động
Tổ chức đào tạo nghề cho người lao động là hết sức cần thiết Đào tạo nghề không nên hiểu đơn giản là đào tạo cho người lao động chưa biết nghề Mà phải quan niệm đây là hoạt động phải được tiến hành thường xuyên và theo định kỳ Về
tổ chức đào tạo nghề thường xuyên sẽ đảm bảo nâng cao chất lượng người lao động, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa trên thị trường Do đó, bản thân người đào tạo cũng phải liên tục tìm tòi, cập nhật những mẫu mã, thị hiếu tiêu dùng mới … về sản phẩm, thị trường tiêu thụ (Nguyễn Đức Lợi, 2010)
f Trả công cho người lao động
Đối với nghề thủ công nói chung, giá trị sức lao động hao phí cho 1 đơn vị sản phẩm khá lớn Vì thế, thường áp dụng các hình thức trả công theo số lượng sản phẩm làm ra, hoặc theo thời gian làm việc (Nguyễn Đức Lợi, 2010)
g Quản lý hợp đồng lao động
Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động (Nguyễn Đức Lợi, 2010)
Đối với làng nghề, chủ yếu sử dụng 2 loại hợp đồng sau:
+ Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ
đủ 12 tháng đến 36 tháng;
+ Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng
Hợp đồng lao động có hiệu lực từ ngày giao kết hoặc từ ngày do hai bên
thoả thuận hoặc từ ngày người lao động bắt đầu làm việc
2.1.4 Các y ếu tố ảnh hưởng đến quản lý và sử dụng lao động làng nghề
2.1.4.1 Quy mô và cơ cấu sản xuất sản phẩm của làng nghề
Quy mô sản xuất càng lớn thì cần nhiều lao động nên công tác quản lý và sử dụng lao động phức tạp hơn Nhìn chung, quy mô sản xuất tại các làng nghề ở nước
Trang 24Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 14
ta hiện nay vẫn còn nhỏ lẻ, manh mún, chủ yếu là các hộ gia đình và dựa vào các yếu tố sản xuất vốn có Ở mỗi cơ sở thường xuyên chỉ có từ 3 – 7 người làm việc,
số lao động chỉ tăng lên vào một thời điểm nhất định nào đó trong năm, khi nhu cầu sản xuất tăng lên Lao động ở các làng nghề truyền thống chủ yếu được tận dụng từ lao động dư thừa của nông nghiệp để làm các công việc phụ như: đánh vecni, đánh bóng Với quy mô sản xuất như vậy thì quản lý lao động ở các hộ sản xuất nhỏ không khó khăn Tuy nhiên, đối với thợ phụ - chỉ làm vào những luc nông nhàn thì lại cần tổ chức làm việc hợp lý, tránh làm công việc bị đình trệ (Nguyễn Văn Điển, Nguyễn Ngọc Quân, 2010)
2.1.4.2 Trình độ học vấn của chủ cơ sở
Ở các làng nghề truyền thống, nhiều chủ cơ sở trình độ học vấn thấp, họ làm nghề theo kiểu “cha truyền con nối” nên việc quản lý lao động ở những cơ sở này rất sơ sài Đa số người lao động làm tất cả các khâu của quá trình sản xuất, người lao động không được đào tạo bài bản, ít được cải thiện công nghệ và quy trình sản xuất nên hao phí sức lao động lớn mà công lao động lại thấp (Nguyễn Văn Điển, Nguyễn Ngọc Quân, 2010)
2.1.4.3 Ý thức của người lao động
Người lao động có trình độ văn hóa cao thì việc tuyên truyền, phố biến các chính sách sẽ đơn giản, người lao động cũng dễ dàng nhận thức và thực hiện Khi nắm được các quyền lợi của mình, người lao động tự khắc sẽ thực hiện các chủ trương chính sách về quản lý lao động tại địa phương nói chung và của các cơ sở làm việc nói riêng (Nguyễn Văn Điển, Nguyễn Ngọc Quân, 2010)
2.1.4.4 Công nghệ sản xuất
Nghề truyền thống có đặc điểm riêng biệt đó là các công đoạn sản xuất chủ yếu bằng tay nên tiêu hao sức lao động lớn Tuy nhiên, hiện nay có nhiều loại máy móc đã được đưa vào sử dụng nên lao động sống sẽ được giảm bớt, một lao động
có thể đảm nhiệm nhiều khâu trong quá trình sản xuất, hoặc chỉ chuyên sản xuất một bộ phận của sản phẩm Công tác quản lý lao động sẽ trở nên đơn giản hơn (Nguyễn Văn Điển, Nguyễn Ngọc Quân, 2010)
Trang 25Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 15
2.1.4.5 Ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ trong sản xuất nông nghiệp
Đối với lao động làng nghề, ảnh hưởng của tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp khá rõ Khi tới mùa thu hoạch, những lao động làm thuê sẽ trở về địa phương của họ để thu hoạch mùa màng, khi đó, lao động trong các cơ sở sẽ giảm xuống Khi hết giai đoạn làm mùa họ lại quay lại làm việc Chính đặc điểm này, công tác quản lý lao động nghề cần linh hoạt để đảm bảo sản xuất không bị ảnh hưởng (Nguyễn Văn Điển, Nguyễn Ngọc Quân, 2010)
2.1.4.6 Các chính sách của Nhà nước
Khi Nhà nước có các chính sách ưu đãi cho phát triển làng nghề thì các cơ
sở sẽ mở rộng sản xuất, tăng cường sản xuất những sản phẩm có giá trị văn hóa cao
để xuất khẩu, do đó phải đào tạo lao động có trình độ chuyên môn, có kỷ luật và ý thức lao động tốt
Ngày 20.12.2011 UBND tỉnh Bắc ninh có ra quyết định số 1632/QĐ-UBND
về việc phê duyệt quy hoạch phát triển công nghiệp nông thôn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2011 – 2020 Trong quyết định có đưa ra quy hoạch một số ngành công nghiệp chủ yếu
Ngày 12 tháng 7 năm 2013 Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã ban hành Nghị quyết số 96/NQ-HĐND17về việc Quy định tiêu chuẩn, thủ tục xét công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống, thợ giỏi, nghệ nhân, tổ chức,
cá nhân (UBND tỉnh Bắc Ninh, 2013)
Đây là cơ hội để các cơ sở mở rộng sản xuất, trang bị máy móc công nghệ, người lao động cũng có cơ hội tiếp cận với công nghệ sản xuất tiên tiến mới Sản xuất phát triển buộc người quản lý phải nâng cao năng lực quản lý của mình để tăng cường công tác quản lý và sử dụng lao động để sản xuất đạt hiệu quả tốt nhất
2.1.4.7 Trình độ quản lý của cán bộ cấp cơ sở
Cán bộ quản lý cấp xã, cấp thôn có trình độ cao có chuyên môn nghiệp vụ thì sẽ quản lý nắm bắt tốt được số lượng lao động, thong tin về người lao động và người sử dụng lao động Từ đó, có những biện pháp để quản lý tuyên truyền quyền
và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động thự hiện các chủ trương chính sách về quản lý lao động tại địa phương
Trang 26Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 16
2.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý và sử dụng lao động nông thôn ở Việt Nam
2.2.1 Tình hình qu ản lý và sử dụng lao động nông thôn ở Việt Nam
Giai đoạn sau đổi mới, việc làm nông thôn chủ yếu phụ thuộc vào đất canh tác Thiếu đất canh tác, đồng nghĩa với thiếu việc làm của lao động nông thôn, đặc biệt là lao động nông nghiệp Diện tích đất nông nghiệp bình quân một hộ là 4.984
m2, cao nhất là 10.149 m2 (đồng bằng sông Cửu Long), thấp nhất 2.284 m2 (đồng bằng Bắc Bộ) Nhiều hộ gia đình đã kết hợp phát triển nghề phụ hoặc chuyển sang hoạt động phi nông nghiệp nhưng vẫn giữ lại đất nông nghiệp được giao và đăng kí
là lao động nông nghiệp (Phạm Thị Thu Trang, 2013)
Tình trạng thiếu việc làm hay còn gọi là thất nghiệp bộ phận, bán thất nghiệp
là đặc trưng của lao động nông thôn Khu vực nông thôn chiếm 76% lực lượng lao đông cả nước, trong đó 30% lao động thiếu việc làm, phổ biến là thiếu mang tính thời vụ Thiếu việc làm chủ yếu thể hiện ở thời gian sử dụng lao động của hộ gia đình nông dân khá thấp Phần lớn lao động nông thôn mới chỉ sử dụng hết khoảng 81,79% thời gian lao động trong năm (Phạm Thị Thu Trang, 2013)
Đến năm 1998, khu vực nông thôn vẫn còn khoảng 8,2 triệu người thường xuyên thiếu việc làm, chiếm 28,19% tổng số lao động hoạt động kinh tế nông thôn Số lao động nữ thiếu việc làm chiếm 26,2% lao động nữ nông thôn Phần lớn người thiếu việc làm là lao động trẻ ở độ tuổi 15 - 34 Tỉnh có tỷ lệ thiếu việc làm cao thuộc đồng bằng sông Hồng và trung du Bắc Bộ (Phạm Thị Thu Trang, 2013)
Do thiếu việc làm và năng suất lao động còn thấp nên thu nhập bình quân của lao động nông thôn không cao, Năm 2005 thu nhập bình quân của lao động nông thôn đạt 495.000 đồng/tháng, trong đó lao động ngành nông lâm nghiệp thấp nhất 392.000 đồng/tháng, lao động ngành công nghiệp, xây dựng đạt 770.000 đồng/tháng, ngành dịch vụ đạt 797.000 đồng/tháng Bình quân thu nhập của lao động nông thôn thấp hơn 3 lần so với khu vực thành thị (Phạm Thị Thu Trang, 2013)
Tính chất thời vụ, rủi ro cao và tình trạng bất ổn là đặc trưng của sản xuất nông nghiệp và của lao động nông thôn Vào kỳ thời nông nhàn, một bộ phận lao động
có nghề thường đi các địa phương khác, vùng khác hành nghề nhằm tăng thu nhập (thường là nghề: mộc, đóng cối, làm gạch ngói ) đến mùa họ lại quay về quê làm ruộng Do đó, công tác quản lý và sử dụng lao động ở nông thôn rất phức tạp, đòi hỏi phải có sự linh hoạt và thường xuyên kiểm tra, thống kê (Phạm Thị Thu Trang, 2013)
Trang 27Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 17
2.2.2 Tình hình qu ản lý và sử dụng lao động nông thôn ở một số địa phương
a Ở Thanh Hóa
Lao động và việc làm ở khu vực nông thôn tỉnh Thanh Hóa nằm trong tình
trạng chung như đối với các tỉnh khác: Lao động nông nghiệp chiếm 83% tổng lực
lượng lao động toàn tỉnh (1,8 triệu người), trong khi lao động làm việc trong khu
vực dịch vụ, thương mại chỉ chiếm 4% và lao động trong khu vực nhà nước chiếm
7% Phần lớn lao động nông nghiệp tập trung ở đồng bằng, nơi đất đai hạn chế và
chật chội Hàng năm, toàn tỉnh có trên 30.000 người tham gia vào lực lượng lao
động Lao động nông thôn chỉ sử dụng hết 70% quỹ thời gian trong năm dẫn đến
tình trạng thiếu việc làm rất phổ biến Hàng năm, tỉnh phải lo tạo việc làm cho ít
nhất 70.000 người, tăng tỷ lệ thời gian làm việc của lao động nông thôn lên 75%
(Phạm Thị Thu Trang, 2013)
Trước tình hình đó, Đảng bộ tỉnh đã có Nghị quyết đề ra các biện pháp: Thúc
đẩy đầu tư phát triển kinh tế — xã hội; Tăng cường đào tạo tay nghề gắn với các
chương trình dự án phát triển chung, xây dựng các khu công nghiệp; Tăng cường và
nâng cao chất lượng dịch vụ việc làm, cung cấp thông tin đầy đủ và thường xuyên về
thị trường lao động; Hỗ trợ người lao động để họ tự phát triển sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ để tự tạo việc làm cho mình, cho lao động trong gia đình họ Các ngành, các
cấp xây dựng đề án về giải quyết việc làm; Tạo điều kiện về thuê đất, mặt bằng, thuê
lao động, cho vay tín dụng ưu đãi, miễn giảm thuế, khuyến khích sử dụng nguyên
liệu, lao động tại chỗ; Xúc tiến xuất khẩu lao động
b Huyện Châu Giang, Hưng Yên
Trước năm 2000, Châu Giang (nay là Khoái Châu và Văn Giang, Hưng Yên)
là huyện đất chật, người đông, độc canh cây lúa truyền thống, ngày nay mới bắt đầu
chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và phát triển ngành nghề phi nông nghiệp
Huyện Châu Giang là huyện thuần nông, lao động nông nghiệp chiếm 85,6%
tổng lao động của toàn huyện, cao hơn mức trung bình của cả nước, lao động phi nông
nghiệp có xu hướng giảm Trong khi đó, bình quân diện tích đất nông nghiệp theo lao
động nông nghiệp có xu hướng giảm (năm 1995 là 1.150m2/người đến năm 1998 chỉ
còn 1.048m2/người) Hơn nữa số lao động di chuyển ra khỏi huyện cũng khá lớn:
khoảng hơn 6.000 người, chiếm hơn 4% tổng số lao động, phần lớn những lao động
Trang 28Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 18
này làm việc tạm thời tại thành phố, đến mùa vụ họ lại quay về làm nông nghiệp (Phạm Thị Thu Trang, 2013)
Lực lượng lao động mới bổ sung hàng năm chủ yếu là lao động trẻ, có trình
độ văn hóa từ tốt nghiệp cấp 2 trở lên Tuy nhiên số lao động có tay nghề, đã qua đào tạo chỉ chiếm 5% so với tổng số Số lao động này chủ yếu làm việc trong các ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ (Phạm Thị Thu Trang, 2013)
Số lao động không có việc nhưng có nhu cầu làm việc chiếm 6,4% tổng số lao động Ngoài ra thời gian nông nhàn của lao động nông nghiệp chiếm tới 40% tổng số thời gian, cao hơn số ước tính của cả nước (28 - 30%) (Phạm Thị Thu Trang, 2013)
Như vậy, hàng năm huyện có thêm 3.138 người và hơn 9.000 lao động thất nghiệp với thời gian nông nhàn lớn Nguyên nhân chủ yếu do ngành nghề phi nông nghiệp không phát triển, dẫn đến không thu hút lao động thậm chí còn dôi dư Điều này gây một áp lực không nhỏ cho vấn đề giải quyết việc làm của huyện Châu Giang (Phạm Thị Thu Trang, 2013)
Bằng những giải pháp tích cực, huyện Châu Giang đã giải quyết được vấn đề việc làm:
Thứ nhất: Thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng: Từ cây lúa nước sang các loại cây có giá trị kinh tế cao như cây dược liệu, cây ăn quả, cây cảnh
Thứ hai: Thực hiện chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa: Từ chăn nuôi gia súc quy mô nhỏ lẻ, mang tính kết hợp và tận dụng cao chuyển thành chăn nuôi quy mô lớn mang tính sản xuất hàng hóa trong các hộ gia đình Thu hút số lượng lớn lao động tham gia vào quá trình vận chuyển, tiêu thụ gia cầm, gia súc
Thứ ba: Phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp: một số nghề truyền thống tiếp tục được khôi phục và phát triển như: Vật liệu xây dựng, mây tre đan, chế biến lương thực) Bên cạnh đó, số người tham gia ngành thương nghiệp, dịch
vụ như xay sát, bơm nước, làm đất, đã tăng lên đáp ứng được nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của nông dân
Thứ tư: Triển khai các chương trình quốc gia về giải quyết việc làm: Thực hiện chương trình 120 và 773 di dân đi vùng kinh tế mới bằng nguồn vốn vay được huy động từ ngân hàng Nông nghiệp, ngân hàng Người nghèo, cho người dân vay với lãi suất ưu đãi
Trang 29Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 19
Thứ năm: Hỗ trợ vốn tạo việc làm thông qua các hiệp hội: Hội Nông dân, Hội Phụ nữ đã tín chấp với Ngân hàng Nông nghiệp và Ngân hàng Người nghèo cho hàng nghìn hộ vay vốn để tổ chức sản xuất trồng trọt, chăn nuôi tạo việc làm cho nhiều lao động
2.2.3 Tình hình qu ản lý và sử dụng lao động nông thôn ở một số làng nghề
a Làng nghề mộc Cúc Bồ - Hải Dương
Làng mộc Cúc Bồ được tỉnh Hải Dương công nhận là làng nghề từ năm
2003, nhưng đến nay việc phát huy và phát triển còn chậm, chưa hình thành một tổ chức chặt chẽ mang tầm cỡ lớn như công ty hoặc doanh nghiệp
Ở làng nghề mộc Cúc Bồ hiện nay tồn tại các nhóm sản xuất hàng hóa như sau: Nhóm sản xuất hàng hóa là kiến trúc làm Đình,Chùa, Miếu .và tu sửa di tích Sản phẩm của họ không phải để bán mà bảo lưu các công trình kiến trúc mang tính tôn giáo, tín ngưỡng Tuy nhiên, sản phẩm không chủ động được vì đầu ra của sản phẩm phụ thuộc vào địa phương và cá nhân có nhu cầu Đại tiện cho nhóm này
là “ Hợp tác xã mộc truyền thống Cúc Bồ” với 9 thành viên và hơn 50 thợ Số thợ này có tay nghề cao, thông thạo nhiều việc, làm theo kinh nghiệm truyền thống nhưng đều ở độ tuổi cao từ 50 – 60 tuổi (Phạm Thị Thu Trang, 2013)
Nhóm chuyên sản xuát đồ gia đình như: tủ, giường, bàn ghế Thợ làm trong nhóm này chủ yếu còn trẻ, biết dùng máy móc như: cưa, xẻ, bào, đục, cắt mộng, Sản phẩm sản xuất tùy theo nhu cầu thị trường nhưng vì chưa có nhãn mác nên sức ảnh hưởng chưa lớn Từ nhóm này trong làng hình thành hoạt động kinh doanh thương mại Một số chủ nhỏ mở xưởng thuê thợ sản xuất hoặc chuyển sang bao tiêu sản phẩm
và trở thành người buôn bán kiếm lời
Nhóm chuyên sản xuất các sản phẩm cao cấp như: sập, tủ, tượng, phù điêu, bàn ghế cao cấp Họ sử dụng công nghệ truyền thống: sơn son, thếp bạc, vàng hoặc áp dụng công nghệ hiện đại cho loại hàng mỹ nghệ cao cấp
Với cách thức sản xuất như hiện nay, đa số các cơ sở đều có quy mô nhỏ, chưa biết hợp tác với nhau để sản xuất sản phẩm Vốn ít nên không đầu tư được công nghệ máy móc, mẫu mã sản phẩm còn đơn giản, lạc hậu nên hàng hóa cạnh tranh trên thị trường kém
Trang 30Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 20
Công tác quản lý ở các cơ sở cũng chưa chặt chẽ Cho đến nay, tất cả các
“ông chủ nhỏ” ở làng mộc Cúc Bồ đều chưa được đào tạo qua trường lớp Họ trưởng thành trong nghề, có chút vốn rồi đứng ra làm ông chủ vì muốn có thu nhập cao hơn Ngoài việc thuê thợ chính họ còn nhận đào tạo người đến xin học việc Số thợ học việc thực chất do thợ chính hoặc thợ bạn truyền nghề cho bằng cách dạy làm thực dụng cho từng công việc, từng công đoạn từ đơn giản đến phức tạp
Để làng nghề mộc Cúc Bồ phát triển, các cơ sở làm nghề phải kết hợp với chính quyền địa phương nâng cao vai trò tổ chức, quản lý, đào tạo thợ Cần mở trường dạy nghề ngay tại địa phương hoặc cử người cho đi học, ưu tiên thông thoáng về đất đai và cơ sở hạ tầng (Nguyễn Thị Thuận, 2009)
b Làng nghề mộc Đồng Kỵ - Bắc Ninh
Phường Đồng Kỵ có khoảng 149 Hợp tác xã, doanh nghiệp và 3.134 hộ tham gia kinh doanh sản xuất đồ gỗ mĩ nghệ (chiếm 95% số hộ) Nghề truyền thống đã góp phần không nhỏ làm thay đổi diện mạo của làng quê nơi đây Nơi đây được mệnh danh là “làng doanh nhân”, “làng giám đốc”, bởi cả làng có tới hơn 200 công
ty với 500 giám đốc, phó giám đốc Đồng Kỵ có khả năng giải quyết việc làm cho
6000 lao động tại chỗ và khoảng 4000 người đến từ các vùng lân cận như: Bắc Giang, Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Vĩnh Phúc… với mức thu nhập bình quân
từ 2-5 triệu đồng/người/tháng Trong những năm gần đây, để đáp ứng những nhu cầu của thị trường, đồ gỗ Đồng Kỵ đã được cải biến mẫu mã rất nhiều Đồ gỗ Đồng
Kỵ hiện nay không chỉ được ưa chuộng trong nước mà còn ở các nước khác Khi làng nghề ngày một phát triển thì mô hình kinh tế hộ gia đình trở nên chật hẹp, không đáp ứng được nhu cầu đi lên của làng nghề Nhiều gia đình trong làng đã chuyển từ sản suất quy mô nhỏ thành các công ty với quy mô lớn Đến nay, cả phường Đồng Kỵ có hơn 160 công ty, hợp tác xã chuyên sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ Trong hệ thống sản xuất, việc chuyên môn hoá đang được hình thành (Phạm Thị Thu Trang, 2013) Tuỳ theo tính chất của từng nghề mà sự phân công lao động có
sự phân công có khác nhau Ví dụ với 1 làng nghề mộc có thể được phân thành:
• Nhóm chuyên kinh doanh sản phẩm: bán hàng tại làng hoặc các đại lý trong đô thị
• Nhóm kiêm cả sản xuất và kinh doanh
Trang 31Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 21
• Nhóm hoạt động chuyên theo 1 số công đoạn: Mua gỗ, pha gỗ, tẩm sấy, nhóm gia công thô, nhóm gia công tinh, nhóm vận chuyển
Sự phân hóa dần các thứ bậc sản xuất – kinh doanh đã mang rõ nét tính kinh
tế thị trường, một thị trường lao động được phân loại rõ theo năng lực Tại nhiều làng nghề, những người gốc ở làng thường tham gia điều hành hoặc làm trọn vẹn một công đoạn, phần làm công thường là những người từ các nơi khác đến Nhờ có phương thức sản xuất hợp lý mà đến nay làng nghề Đồng Kỵ đã phát triển một cách mạnh mẽ Hiện nay việc truyền nghề ở Đồng Kỵ mang đậm màu sắc truyền thống nghĩa là nghề được truyền trực tiếp từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác
Trang 32Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 22
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Từ Sơn có vị trí địa lý khá thuận lợi, nằm ở phía Bắc thủ đô Hà Nội, cách trung tâm Thành phố Bắc Ninh 12 km, thuộc vùng kinh tế phát triển Về địa giới
hành chính Từ Sơn có vị trí tiếp giáp như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Yên Phong - Bắc Ninh,
- Phía Nam giáp huyện Gia Lâm - Hà Nội,
- Phía Đông giáp huyện Tiên Du - Bắc Ninh,
- Phía Tây giáp huyện Gia Lâm và Đông Anh - Hà Nội
3.1.1.2 Địa hình
Khu vực Từ Sơn nói chung có địa hình cao ráo bằng phẳng, cốt cao độ dao động từ 4,5m - 6,5m độ, có chỗ gò cao 7,0m-15m Cấu tạo địa tầng chủ yếu là đất sét pha có cường độ chịu lực khá và ổn định, đáp ứng nhu cầu xây dựng công trình
Nhìn chung địa hình của thị xã thuận lợi cho việc phát triển mạng lưới giao thông, thuỷ lợi, xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng mạng lưới khu dân cư, các khu công nghiệp, TTCN…
3.1.1.3 Khí hậu và thời tiết
Do nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng nên khí hậu thời tiết của thị xã Từ Sơn mang đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm với hai mùa rõ rệt
Mùa khô lạnh bắt đầu từ tháng 11 năm trước kết thúc vào tháng 4 năm sau, mùa mưa nóng bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 Ngoài ra ở Từ Sơn vào các tháng mùa hạ còn bị ảnh hưởng của gió bão kèm theo mưa lớn kéo dài nhiều ngày, tạo ngập úng cho một số vùng trũng của thị xã gây không ít khó khăn cho sản xuất và đời sống của dân cư Vào mùa đông đôi khi có sương muối xuất hiện làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp
Trang 33Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 23
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
3 Đất tôn giáo, tín ngưỡng 24 24 24 100,00 100,00 100,00
4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 59 59 59 100,00 100,00 100,00
5 Đất sông suối, mặt nước 167 167 167 100,00 100,00 100,00
6 Đất phi nông nghiệp khác 7 7 7 100,00 100,00 100,00
III Đất chưa sử dụng 21 21 21 100,00 100,00 100,00
Nguồn: phòng thống kê Thị xã Từ Sơn
Thị xã Từ Sơn có tổng diện tích (DT) đất tự nhiên là 6133 ha (chiếm 7,64% diện tích tự nhiên của tỉnh), phân bố không đều giữa các đơn vị hành chính xã Toàn thị xã có 4 xã và 7 phường, phường có diện tích đất tự nhiên lớn nhất là xã Đình Bảng có 827 ha chiếm 13,48 %, phường Đông Ngàn có diện tích đất tự nhiên nhỏ nhất là 141 ha chiếm 2,3%
Biểu 3.2 cho thấy tình hình sử dụng đất đai của thị xã Từ Sơn qua các năm
2012 - 2014 Đất sản xuất nông nghiệp có diện tích lớn nhất và phần lớn là đất trồng cây hàng năm chiếm khoảng 98,4 %, đất nuôi trồng thủy sản và đất trồng cây lâu năm
Trang 34Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 24
chiếm phần nhỏ, không có đất rừng Tiếp đó là đến đất chuyên dùng, đất thổ cư, đất chưa sử dụng Diện tích đất nông nghiệp trong những năm qua giảm bình quân mỗi năm 2,11%, diện tích đất này có xu hướng giảm qua các năm do nhu cầu về đất thổ cư
và đất chuyên dùng tăng lên cùng với sự phát triển kinh tế của thị xã, năm 2014 giảm
so với năm 2012 là 158 ha Đất chuyên dùng có vị trí quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội của thị xã, đặc biệt là đối với sự phát triển ngành nghề công nghiệp N-TTCN nông thôn Trước tình hình phát triển kinh tế như hiện nay, việc tăng lên của diện tích đất chuyên dùng là tất yếu và việc lấn sang đất sản xuất nông nghiệp là không tránh khỏi
3.1.2.2 Dân số và lao động
Theo thống kê của thị xã, dân số hiện nay, của thị xã là 165908 người Là 1 thị xã có nhiều nghề truyền thống nên số dân làm nông nghiệp của thị xã chỉ chiếm gần 1/3 tổng dân số và có xu hướng ngày càng giảm
Bảng 3.2 Tình hình dân số - lao động tại Thị xã Từ Sơn
CC (%)
Số lượng (người)
CC (%)
Số lượng (người)
CC (%)
Nguồn: phòng thống kê thị xã Từ Sơn
Qua bảng số liệu thống kê tình hình dân số, lao động được tổng hợp từ phòng thống kê của thị xã thấy 55% tổng dân số của thị xã trong độ tuổi lao động Lao động phi nông nghiệp chiếm trên 60%, trong đó chủ yếu là lao động làm nghề Qua 3 năm tốc độ tăng bình quân của lao động làm nghề là 1,85 % Năm 2012 lao
Trang 35Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 25
động phi nông nghiệp là 52.693 người thì lao động làm nghề chiếm 60,2% tương đương với 31.721 người Đến năm 2014 lao động phi nông nghiệp là 58.234 người thì lao động làm nghề cũng tăng lên 37.211 người chiếm 63,9%
Lao động của thị xã tăng và biến động là do nhiều lao động từ nơi khác chuyển đến làm việc Chính vì lẽ đó, công tác quản lý dân số của địa phương, công tác quản lý lao động ở các cơ sở làm nghề gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi phải phối hợp chặt chẽ và ngày càng nâng cao hiệu quả quản lý, để môi trường làm việc, quyền lợi, thu nhập, của người lao động được đảm bảo
3.1.2.3 Cơ sở hạ tầng
a Giao thông xây dựng
Trong thời gian qua thị xã Từ Sơn đã đầu tư xây dựng và đưa và hoạt động một số công trình như: xây dựng lò đốt rác thải ở phường Đình Bảng; chỉnh trang
đô thị thị xã phục vụ Tết Nguyên đán; sửa chữa cải tạo một số tuyến đường giao thông của thị xã Tiếp tục thi công 04 công trình chuyển tiếp từ năm 2013, tập trung chính vào các công trình; Quần thể lưu niệm đồng chí Ngô Gia Tự, Trường THCS
Từ Sơn và các công trình PCLB, thủy lợi cải tạo đất Đã tổ chức mở thầu 02 gói đấu thầu xây dựng Đài tưởng niệm trong khu công viên Lý Thái Tổ Trình UBND tỉnh phê duyệt 02 dự án: Khu trung tâm văn hóa thể thao thị xã và Dự án xây dựng Nhà máy rác thải để phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng ở địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển kinh tế xã hội ở địa phương
UBND thị xã đã tích cực chỉ đạo các cơ quan chuyên môn, các đơn vị xã, phường triển khai, tổ chức tốt công tác chuẩn bị và tổ chức thực hiện đầu tư xây dựng các dự án đã ghi kế hoạch vốn năm 2014, 2015 tập trung vào các công trình: Trường học, Trạm y tế, đường GTNT và hạ tầng các dự án đất tái định cư, đất đấu giá, đất dân cư dịch vụ của các xã, phường; Hoàn thành việc đấu nối dự án cấp nước sạch xã Tương Giang đưa vào sử dụng; Đang thực hiện việc đấu nối đường ống cấp nước sạch xã Tam Sơn với dự án nước sạch xã Tương Giang; xã Hương Mạc và Phù Khê đang thực hiện dự án cung cấp nước sạch theo dự án nhà máy nước sạch Tam Giang Yên Phong sử dụng vốn ODA; đối với phường Châu Khê đã xin chủ trương UBND tỉnh đồng ý cho đấu nối với nhà máy nước An Việt; xã Phù Chẩn đấu nối với KCN VSIP; các phường còn lại chưa được sử dụng nước sạch thị
Trang 36Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 26
xã đã phối hợp với Sở Xây dựng đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án xây dựng mạng lưới cung cấp nước sạch cho các xã, phường
b Công tác quy hoạch
Thị xã đã hoàn thành quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của thị xã đến năm 2020 tầm nhìn 2030, thông qua Hội đồng thẩm định tỉnh và trình UBND tỉnh phê duyệt Thị xã thực hiện điều chỉnh và trình UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch chi tiết khu du lịch - văn hóa Đền Đầm để xây dựng Nhà văn hóa khu phố Yên Lã 1 và xin khảo sát xây dựng Nhà văn hóa khu phố Nội Trì Thị xã đã thực hiện quy hoạch 05 dự án và phê duyệt 06 đồ án quy hoạch giao thông và hạ tầng thị
xã Điều chỉnh cục bộ quy hoạch chung các xã: Tam Sơn, Tương Giang và Hương Mạc có quy hoạch khu xử lý rác thải và nghĩa trang theo quy hoạch vùng của UBND tỉnh Bắc Ninh
Thị xã cũng đã lập xong Dự án đầu tư xây dựng Nhà máy xử lý chất thải dinh hoạt và trình UBND tỉnh phê duyệt UBND tỉnh đã có văn bản về việc khảo sát lập dự án đầu tư xây dựng đường vào khu xử lý chất thải; Khu chôn lấp phế thải rắn, vật liệu xây dựng thông thường đã được quy hoạch trình UBND tỉnh
Bên cạnh đó, thị xã cũng đã xin cấp giấy phép xây dựng nhà và quản lý, xử
lý vi phạm về xây dựng, giao thông, dô thị đảm bảo đúng trình tự, quy định; cấp được 186/193 giấy phép xây dựng đạt 96,37%, kiểm tra được gần 69 công trình xây dựng qua kiểm tra xử phạt vi phạm hành chính 13 trường hợp phạt 142,5 triệu đồng Chỉ đạo các cơ quan liên quan hoàn thành tốt việc giải tỏa, phân luồng không
để xảy ra ùn tắc giao thông vào giờ cao điểm, ngày lễ, tết
3.1.2.4 Tăng trưởng và cơ cấu kinh tế
a Công nghiệp - TTCN
Sản xuất công nghiệp năm 2014 tăng trưởng đột biến so cùng kỳ, đặc biệt là khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Toàn thị xã hiện có 1185 doanh nghiệp đăng ký, trong đó hiện có 853 doanh nghiệp đang hoạt động, tăng 103 doanh nghiệp so với cùng kỳ năm 2013
Gía trị sản xuất công nghiệp - TTCN ước 19398 tỷ đồng, đạt 240% KH, tăng 87,6% so cùng kỳ Trong đó: kinh tế tư nhân, hộ cá thể 4590 tỷ đồng, giảm 12,8%
so cùng kỳ, chiếm 23,6%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 14582 tỷ tăng 3 lần so
Trang 37Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 27
cùng kỳ, chiếm 75,1%; kinh tế nhà nước đạt 226 tỷ đồng, tăng 22,9% so cùng kỳ, chiếm 1,3%
Bảng 3.3 Kết quả phát triển kinh tế của thị xã Từ Sơn Chỉ tiêu
TĐPT BQ
(%)
GT (tỷ đồng)
CC (%)
GT (tỷ đồng)
CC (%)
GT (tỷ đồng)
CC (%)
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo thống kê thị xã Từ Sơn
b Sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới
Chỉ đạo các xã, phường tập trung triển khai kế hoạch sản xuất theo đúng kế hoạch kịp thời vụ Toàn thị xã ước gieo trồng đcược 5094 ha đạt 97,5% KH, bằng 96% so cùng kỳ; trong đó diện tích lúa 4742 ha, 102,4% KH, bằng 96,4% so cùng
kỳ, năng suất lúa đạt 52,9 tạ/ha; cây rau màu các loại 270,5 ha, 117% KH bằng 93,1% so cùng kỳ Tổng thời điểm điều tra 1/4: Bò 89 con, giảm 41 con so cùng kỳ, lợn 27512 con, giảm 1,3% so cùng kỳ; tổng đàn gia cầm 309276 con, tăng 1,7% so cùng kỳ (Phòng thống kê thị xã Từ Sơn, 2014)
Giá trị sản xuất nông nghiệp - thủy sản cả năm ước tính đạt 161,2 tỷ đồng, bằng 104,4% KH, 88% so cùng kỳ; trong đó: trồng trọt đạt 50,7 tỷ đồng, bằng 92%
so cùng kỳ, thủy sản: 9,7 tỷ đồng bằng 93% so cùng kỳ Tiếp tục chỉ đạo các xã, phường thực hiện các biện pháp khủ trùng tiêu đọc xử lý môi trường, vệ sinh chuồng trại, phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm (Phòng thống kê thị xã Từ Sơn, 2014)
Đã trình UBND tỉnh xét công nhận xã Tương Giang và xã Phù Khê đạt chuẩn Nông thôn mới; phê duyệt đề án xây dựng NTM cho 2 xã Phù Chẩn và Tam Sơn tiếp tục chỉ đạo các xã triển khai chương trình xây dựng NTM hoàn thành Đề
Trang 38Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 28
án xây dựng NTM đã được phê duyệt theo quy định; ưu tiên triển khai các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng các chương trình cấp bách trên cơ sở khả năng cân đối nguồn vốn
Hưởng ứng tết trồng cây, thị xã đã tổ chức Lễ phát động tết trồng cây năm
2014, đồng thời chỉ đạo các xã, phường tổ chức phát động tết trồng cây đầu xuân Giaps Ngọ và trồng cây năm 2014; kết quả toàn thị xã đã trồng được 1000 cây phân tán các loại, đạt 38,4% kế hoạch (KH) năm (Phòng thống kê thị xã Từ Sơn, 2014)
c Thương mại - dịch vụ
Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và dịch vụ ước 8134 tỷ đồng, đạt 100% KH, tăng 18,4 so với cùng kỳ Hoạt động bưu chính viễn thông tiếp tục phát triển, doanh thu ước 76,9 tỷ đồng, tăng 12,3% so cùng kỳ Tổng thu tiền mặt qua ngân hàng ước 177954 tỷ đồng, tăng 12% so cùng kỳ, chi tiền mặt qua ngân hàng
173769 tỷ đồng, tăng 15% so cùng kỳ; Tổng nguồn vốn huy động 13420 tỷ đồng, đạt 111,8% KH tăng 10% so cùng kỳ, tổng dư nợ tín dụng 17120 tỷ đồng, đạt 114,1% KH tăng 8% so cùng kỳ
d Công tác thu chi ngân sách
Tổng thu ngân sách Nhà nước trên đại bàn ước 689,3 tỷ đồng, đạt 101,6% KH năm, tăng 8,2% so cùng kỳ, các khoản giao thị xã thu ước đạt 134,3 tỷ đồng, đạt 103% KH bằng 93,2% so cùng kỳ; thu từ tiền đất ước 250 tỷ đồng, đạt 100% so KH Tổng chi ngân sách 509,1 tỷ đồng đạt 120,3% KH, 98,2% so cùng kỳ, trong đó: chi trong cân đối 267,8 tỷ đồng đạt 100% so KH, bằng 82,3% so cùng kỳ; chi đầu tư từ nguồn qũy đất đấu giá tạo vốn 212,4 tỷ đồng đạt 144,5% KH bằng 121,6% so cùng kỳ
3.1.2.5 Điều kiện văn hóa – xã hội
a Công tác giáo dục
Qui mô trường lớp được giữ vững, số học sinh có tăng so với cùng kỳ: tỷ lệ huy động trẻ vào nhà trẻ mẫu giáo tăng hơn cùng kỳ; Khối tiểu học tăng 8 lớp (540 HS); THCS tăng 11 lớp ( 843 HS) so với cùng kỳ Cơ sở vật chất tiếp tục được các cấp các ngành quan tâm; tỷ lệ kiên cố hóa trường lớp học ( chỉ tính phòng học thông thường); 93,1% (mầm non 82,2%, TH 95,3%, THCS 97,6%), 98% trường đạt chuẩn quốc gia Chất lượng đại trà ổn định và ngày càng thực chất hơn, tỷ lệ tốt
Trang 39Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 29
nghiệp THCS đạt 99,98%, học sinh tốt nghiệp THPT thi đỗ vào các trường ĐH đạt 44%; kỷ cương nề nếp được giữ vũng, các phong trào thi đua được duy trì Chỉ đạo quyết liệt việc lập dự toán và quản lý, sử dụng các khoản thu- chi trong các trường học trên địa bàn thị xã đúng quy định, hướng dẫn tại các văn bản hiện hành, đảm bảo công khai, minh bạch, dân chủ; hạn chế tối đa các khoản thu theo thỏa thuận và thu tự nguyện nhằm khắc phục tình trạng lạm thu và chi sai mục đích Tăng cường công tác chỉ đạo, quản lý việc dậy thêm, học thêm đúng quy định
b Văn hóa thông tin - thể thao - truyền thanh
Các hoạt động Văn hóa thông tin – thể dục thể thao đã được tổ chức triển khai theo đúng kế hoạch, các nhiệm vụ trọng tâm được quan tâm đôn đốc chỉ đạo sát sao, kịp thời Tập trung chỉ đạo và thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền hướng vào mừng Đảng, mừng Xuân Ất Mùi, tuyên truyền về cấm buôn bán vận chuyển, tàng trữ và đốt pháo nổ thả đèn trời, công tác đảm bảo an toàn giao thông, công tác tuyển quân năm 2015 Tổ chức thành công các hoạt động kỷ niệm 15 năm tái lập huyện Từ Sơn (nay là Thị xã Từ Sơn) và đón nhận Huân chương Độc lập hạng 3
Tổ chức xét duyệt công nhận và khen thưởng 62 làng văn hóa, khu phố văn hóa đạt 76,5%, 99 cơ quan, đơn vị văn hóa năm 2013 Triển khai nhiệm vụ công tác năm 2014: 81/81 làng, khu phố đăng ký xây dựng Làng, Khu phố văn hóa; 32316
hộ gia đình đăng ký "gia đình văn hóa" bằng 92,4% số hộ toàn thị xã; 122/133 cơ quan, đơn vị đăng ký đạt danh hiệu Văn hóa, đạt 91,73% số cơ quan, đơn vị có tổ chức Công đoàn Kết quả ước có 70% số thôn, khu phố đạt danh hiệu Văn hóa; 105
cơ quan, đơn vị đạt danh hiệu Văn hóa, đạt 85,3% cơ quan, đơn vị đăng ký, 78,2%
cơ quan, đơn vị có tổ chức Công đoàn đạt danh hiệu văn hóa
Công tác quản lý Lễ hội được chỉ đạo theo đúng kế hoạch của UBND thị xã
và Quy chế quản lý Lễ hội của Bộ văn hóa thông tin – Thể thao và Du lịch, chỉ thị
27 CT-TW Đã thực hiện kiểm tra 72 hộ hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa trên địa bàn, lập biên bản và xử lý 12 hộ vi phạm Thực hiện tốt Nghị quyết số 20, 22 của HĐND tỉnh về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang
Công tác quản lý các di tích lịch sử văn hóa được duy trì, các di tích lịch sử văn hóa được tu bổ, tôn tạo có hiệu quả
Trang 40Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 30
Công tác truyền thanh: Bám sát các nhiệm vụ chính trị của thị xã, Đài phát thanh thị xã đã sản xuất 235 chương trình phát thanh với 3275 tin bài góp phần tuyên truyền có hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật và Nhà nước và nhiệm vụ chính trị của thị xã
c Công tác y tế - dân số - gia đình và trẻ em
Ước cả năm ngành y tế thị xã khám chữa bệnh cho 329365 lượt người (trung bình mỗi ngày 902 lượt người), tăng 2,9% so với cùng kỳ năm 2013; tiếp tục áp dụng 09 kỹ thuật mới trong công tác khám chữa bệnh, nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân như: mổ quặm; phẫu thuật nâng mí sa trễ; phẫu thuật cắt amidan gây mê; xét nghiệm canci ion hóa; canci toàn phần Công tác kiểm tra, đảm bảo VSATTTP trong dịp tết nguyên đán, hành nghề y dược tư nhân được triển khai có hiệu quả Trong năm, kiểm tra được gần 700 lượt cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh lương thực thực phẩm; doanh nghiệp sử dụng lao động và cơ sở hành nghề y, dược tư nhân Chỉ đạo thành công đợt 1 Chiến dịch tiêm phòng Sởi- Rubella cho trẻ từ 01- 05 tuổi, số ca phản ứng nhẹ thấp nhất tỉnh với 02/358 ca Chuẩn bị tốt các điều kiện tiêm đợt 2 cho trẻ từ 6-10 tuổi triển khai trong tháng 12/2014
Công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình: tổng số sinh là 3151 trẻ, tỷ lệ chiếm tỷ suất 20,9%, giảm 1,2% so với năm 2013 (giảm 88 trẻ), tỷ số giới tính khi sinh là 122 nam/100 nữ (2013 là 123/100); Tổng số bà mẹ sinh con thứ 3 trở lên là
687 trường hợp, giảm 9 trường hợp, chiếm tỷ lệ 21,8%, tăng 0,3% so với cùng kỳ;
Dự kiến tỷ lệ tăng dân số tự nhiên cả năm là 1,68%, giảm 0,07% so với cùng kỳ; Tỷ
lệ trẻ em suy dinh dưỡng thể cân nặng 9,3%, giảm 2% so với năm 2013
Vận động nhân dân thực hiện Nghị quyết số 20/NQ-HĐND tỉnh về hỏa táng, điện táng cho người chết, đến ngày 30/11 cả thị xã có 170 đám tang thực hiện hỏa táng, điện táng, đạt 27% Cơ quan chuyên môn đã chi trả kịp thời 350 triệu đồng hỗ trợ theo Quyết định số 100/QĐ-UBND của UBND tỉnh cho 170 trường hợp đủ điều kiện
Công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em được quan tâm, nhân dịp tết nguyên đán và tết thiếu nhi 01/6 thị xã đã trích từ ngân sách và quỹ bảo trợ trẻ em trợ cấp cho 120 cháu có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn