1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh hưng yên

137 400 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy việc Bộ Tài chính, 2013 chỉ đạo “tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro cao về thuế” không những đóng góp đáng kể vào chống thất

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN NHƯ HẢI

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THANH TRA THUẾ

ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH HƯNG YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

HÀ NỘI, NĂM 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN NHƯ HẢI

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THANH TRA THUẾ

ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN

Trang 3

H ọc viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page ii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiêm cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bầy trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Như Hải

Trang 4

H ọc viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page iii

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình, sự đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể

Trước tiên, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong bộ môn Kinh tế tài nguyên và Môi trường, khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn, Ban quản lý đào tạo - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến GS.TS Nguyễn Văn Song đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện luận văn

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các cơ quan Cục thuế tỉnh, Thanh tra tỉnh Hưng Yên và một số doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp số liệu, tư liệu khách quan giúp tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và người thân đã động viên, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Như Hải

Trang 5

H ọc viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page iv

MỤC LỤC

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Mục lục iv

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục sơ đồ ix

PHẦN I MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2

PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4

2.1 Cơ sở lý luận 4

2.1.1 Một số khái niệm 4

2.1.2 Đặc điểm của thanh tra thuế 5

2.1.3 Phân biệt giữa thanh tra thuế với kiểm tra thuế 6

2.1.4 Vai trò của thanh tra thuế 8

2.1.5 Mục đích và nguyên tắc thanh tra thuế 9

2.1.6 Phương pháp thanh tra 13

2.1.7 Các hình thức thanh tra thuế 15

2.1.8 Nội dung thanh tra thuế 17

2.1.9 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả thanh thuế 19

2.1.10 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác thanh tra thuế 21

2.2 Cơ sở thực tiễn 23

2.2.1 Kinh nghiệm thanh tra thuế ở một số nước trên thế giới 23

2.2.2 Kinh nghiệm thanh tra thuế tại Việt nam 29

2.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra từ tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn 33

PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 35

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 35

3.1.2 Tài nguyên thiên nhiên 36

Trang 6

H ọc viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page v

3.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 36

3.1.4 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý thu thuế tại Cục thuế tỉnh Hưng Yên 41

3.2 Phương pháp nghiên cứu 46

3.2.1 Nguồn số liệu 46

3.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 47

3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 47

3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 48

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 50

4.1 Thực trạng về thanh tra thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên thời gian qua 50

4.1.1 Thực trạng công tác xây dựng kế hoạch thanh tra thuế 50

4.1.2 Thực trạng công tác triển khai thực hiện kế hoạch thanh tra 54

4.1.3 Thực trạng thanh tra thuế đối với doanh nghiệp theo các nội dung chủ yếu 61

4.2 Kết quả đạt được, những tồn tại và nguyên nhân trong công tác thanh tra thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên thời gian qua 87

4.2.1 Những kết quả đạt được 87

4.2.2 Những hạn chế và nguyên nhân 93

4.3 Một số giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên 102

4.3.1 Mục tiêu cải cách công tác quản lý thuế 102

4.3.2 Quan điểm về cải cách thanh tra thuế 103

4.3.3 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hưng Yên 103

4.3.4 Giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên 105

PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 114

5.1 Kết luận 114

5.2 Kiến nghị 116

5.2.1 Với nhà nước 116

5.2.2 Với chính quyền tỉnh Hưng Yên và Cục thuế tỉnh 117

TÀI LIỆU THAM KHẢO 119

PHỤ LỤC……… 116

Trang 7

H ọc viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page vi

Trang 8

H ọc viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page vii

DANH MỤC BẢNG

3.1 Tình hình phát triển và cơ cấu kinh tế tỉnh Hưng Yên

năm 2011-2013 38 3.2 Tình hình dân số và lao động tỉnh Hưng Yên qua các

năm 2011-2013 40 3.3 Tình hình cán bộ, công chức tại Văn phòng Cục thuế tỉnh Hưng

Yên qua 3 năm (2011-2013) 41 4.1 Kế hoạch thanh tra thuế các DN trên địa bàn tỉnh Hưng Yên 52 4.2 Đánh giá của cán bộ thanh tra thuế về công tác lập kế hoạch thanh

tra thuế đối với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên 53 4.3 Tổ chức thanh tra theo quy trình thanh tra thuế tại trụ sở NNT 54 4.4 Kết quả thực hiện kế hoạch thanh tra thuế tại các doanh nghiệp 60 4.5 Đánh giá của cán bộ thanh tra thuế về công tác triển khai thực hiện

kế hoạch thanh tra thuế tại trụ sở NNT 61 4.6 Kết quả cấp, quản lý mã số thuế của Cục thuế tỉnh 64 4.7 Kết quả đánh giá của cán bộ thanh tra thuế và các doanh nghiệp về

đăng ký thuế 66 4.8 Kết quả đánh giá của cán bộ thanh tra thuế và các doanh nghiệp về

chấp hành chế độ kế toán, sổ sách, hóa đơn, chứng từ 71 4.9 Kết quả đánh giá của cán bộ thanh tra thuế và các doanh nghiệp về

kê khai thuế 73 4.10 Bảng tổng hợp kết quả truy thu các loại thuế qua công tác thanh tra

thuế các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên năm 2011, 2012, 2013 75 4.11 Kết quả đánh giá của cán bộ thanh tra thuế và các doanh nghiệp về

tính thuế 85

Trang 9

H ọc viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page viii

4.12 Kết quả đánh giá của cán bộ thanh tra thuế và các doanh nghiệp về

nộp thuế 86

4.13 Tình hình thực hiện kế hoạch thanh tra NNT 2011-2013 87

4.14 Kết quả số thuế phải nộp sau thanh tra năm 2011-2013 89

4.15 Tỷ lệ số thuế truy thu trong tổng thu NSNN 2011-2013 89

4.16 Tình hình giảm lỗ sau thanh tra 2011-2013 90

4.17 Tình hình nợ thuế của NNT sau thanh tra 2011-2013 95

4.18 Kết quả đánh giá của cán bộ thanh tra thuế về nguyên nhân nào sau đây ảnh hưởng đến công tác thanh tra thuế 97

Trang 10

H ọc viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page ix

DANH MỤC SƠ ĐỒ

3.1 Bộ máy quản lý và cơ cấu tổ chức Cục thuế tỉnh Hưng Yên 42 4.1 Quy trình thanh tra thuế tại trụ sở NNT 54

Trang 11

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 1

PHẦN I

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây Hưng Yên là một tỉnh luôn đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong vùng đồng bằng sông Hồng với tốc độ phát triển nhanh và bền vững (Thủ tướng Chính phủ, 2011) “tạo tiền đề vững chắc để Hưng Yên cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại trước năm 2020” Do vậy những năm qua, tỉnh đã tích cực thực hiện thu hút đầu tư, tạo môi trường đầu tư thông thoáng và hấp dẫn Mặt trái của sự phát triển nhanh về số lượng doanh nghiệp là một số doanh nghiệp có ý thức tuân thủ pháp luật thuế không tốt, có hành vi gian lận ngày càng tinh vi báo lỗ nhiều năm nhưng vẫn tiếp tục mở rộng sản xuất kinh doanh thủ đoạn chuyển giá hết sức tinh vi và phức tạp, thủ đoạn trốn, tránh thuế

khó phát hiện hơn trước nhiều lần Do vậy việc (Bộ Tài chính, 2013) chỉ đạo

“tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp có dấu

hiệu rủi ro cao về thuế” không những đóng góp đáng kể vào chống thất thu ngân

sách nhà nước mà còn đảm bảo công bằng trong động viên đối với các chủ thể kinh tế Để làm được điều này, ngoài việc phải xây dựng cho được một chính sách thuế hiện đại, hợp lý còn cần phải có bộ máy quản lý phù hợp để tổ chức triển khai thực hiện tốt các luật thuế Hoạt động thanh tra thuế được coi như bộ phận chủ lực của ngành thuế trong phòng ngừa, răn đe gian lận trong chống trốn, tránh thuế, nâng cao và giúp cho hoạt động quản lý thuế đạt được các mục tiêu đã

đề ra mà còn giúp Nhà nước phát hiện những hạn chế của chính sách, điều chỉnh kịp thời chính sách, chế độ về thuế, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế của cộng đồng và góp phần phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng trốn thuế, chống thất thu thuế

Ngày 01/7/2007, Luật quản lý thuế có hiệu lực đã đánh dấu sự thay đổi mới căn bản, tác động toàn diện đối với cơ quan thuế và người nộp thuế, cải cách đồng bộ từ tổ chức bộ máy, chức trách nhiệm vụ của cơ quan thuế đến công tác quản lý thuế, thanh tra, kiểm tra thuế, đồng thời cải cách mạnh mẽ thủ tục hành

Trang 12

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 2

chính theo nguyên tắc công khai, minh bạch Để đảm bảo thực hiện tốt Luật Quản lý thuế, thực hiện thành công công cuộc cải cách và hiện đại hoá ngành thuế thì việc tập trung kiện toàn, nâng cao năng lực hệ thống thuế nói chung và

hệ thống thanh tra thuế nói riêng là một giải pháp quan trọng, cần thiết

Đó chính là lý do tôi chọn đề tài: “Giải pháp hoàn thiện công tác thanh

tra thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên” có ý nghĩa thiết

thực cả về mặt lý luận và thực tiễn

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đánh giá thực trạng, phân tích các yếu tố ảnh

hưởng từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thanh tra thuế đối với

doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên trong thời gian tới

- Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thanh tra thuế đối với doanh

nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra

thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên Cụm từ “thanh tra thuế đối

với doanh nghiệp” đề cập trong Luận văn được viết gọn lại thành “thanh tra người nộp thuế” với nội hàm là tương đương

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

1.3.2.1 Về nội dung

Trang 13

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 3

Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng về thanh tra thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên Chỉ rõ kết quả đạt được, những tồn tại và nguyên nhân từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra thuế phù hợp với mục tiêu cải cách công tác quản lý thuế, quan điểm về cải cách thanh tra thuế và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hưng Yên

1.3.2.2 Về không gian

Đề tài chỉ nghiên cứu công tác thanh tra đối với doanh nghiệp trên địa bàn

tỉnh Hưng Yên

1.3.2.3 Về thời gian

Tài liệu phục vụ cho nghiên cứu trong phạm vi từ năm 2011 đến hết năm

2013 để đánh giá thực trạng thanh tra thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh

Hưng Yên cho phù hợp từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thanh

tra thuế cho những năm tiếp theo

Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng 6 năm 2014 đến tháng 3 năm 2015

Trang 14

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 4

Theo từ điển tiếng Việt nêu rõ “thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc

làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp”, “thanh tra là loại hình đặc biệt của kiểm tra” (Hoàng Phê, 2000)

Luật Thanh tra (2010) nêu rõ “Thanh tra là việc xem xét, đánh giá, xử lý của

cơ quan quản lý nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật và các quy định khác của pháp luật”

Thanh tra là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước; là phương thức bảo đảm pháp chế, tăng cường kỷ luật trong quản lý nhà nước, thực hiện quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa Trong phạm vi chức năng của mình, các cơ quan quản

lý nhà nước có trách nhiệm tự kiểm tra việc thực hiện quyết định của mình và thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước của các cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức hữu quan và cá nhân có trách nhiệm (gọi chung là cơ quan, tổ chức và cá nhân) nhằm phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phần thúc đẩy hoàn thành nhiệm

vụ, hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân (Nguyễn Thế Lợi, 2013)

Thanh tra thuế là hoạt động kiểm tra của tổ chức chuyên trách làm công tác

kiểm tra của CQT đối với đối tượng thanh tra nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý

những hành vi trái pháp luật” (Nguyễn Văn Hiệu và Nguyễn Thị Liên, 2009)

Từ các quan niệm trên, có thể hiểu: Thanh tra thuế là hoạt động kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân

Trang 15

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 5

chịu sự quản lý trong việc thực hiện pháp luật về thuế nhằm kết luận đúng, sai, đánh giá ưu khuyết điểm, góp pháp hoàn thiện cơ chế quản lý thuế, phòng ngừa

và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm pháp luật thuế, bảo đảm tính công bằng trong thực thi pháp luật thuế; đồng thời làm cho người nộp thuế luôn ý thức rằng

có một hệ thống giám sát hiệu quả tồn tại, từ đó thúc đẩy họ tự giác tuân thủ pháp luật thuế

2.1.2 Đặc điểm của thanh tra thuế

Đặc điểm của thanh tra thuế mang những nét đặc thù như:

Thứ nhất, thanh tra thuế có phạm vi rộng Đối tượng thanh tra là các tổ

chức, cá nhân trong ngành thuế, là đối tượng nộp thuế bao gồm mọi tổ chức và cá nhân trong xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của các luật thuế

Thứ hai, thanh tra thuế là công tác rất khó khăn, phức tạp vì nó đụng chạm

đến lợi ích kinh tế của đối tượng nộp thuế Để che dấu các hành vi trốn thuế nhằm bảo vệ lợi ích vật chất của mình, các đối tượng nộp thuế thường tìm mọi biện pháp để cản trở, gây khó khăn cho công tác thanh tra của cơ quan thuế

Thứ ba, thanh tra thuế là công việc đòi hỏi rất cao về năng lực chuyên môn

và phẩm chất đạo đức của người cán bộ làm trong lĩnh vực này Để xác định đúng đắn nghĩa vụ thuế của đối tượng thanh tra, đòi hỏi người cán bộ thuế không chỉ nắm chắc các luật thuế mà còn phải nắm chắc được bản chất của các hoạt động kinh tế của đối tượng thanh tra, tức là người cán bộ thanh tra phải có trình

độ cao, nắm vững được chính sách, pháp luật, am hiểu về kế toán và phải có kỹ năng phân tích, phát hiện, xử lý gian lận của đối tượng thanh tra Đồng thời, người cán bộ thanh tra thuế cần phải có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh vững vàng vì thường xuyên phải làm việc trong môi trường có sự cám dỗ về vật chất (Nguyễn Văn Hiệu và Nguyễn Thị Liên, 2009)

Thanh tra thuế là hoạt động có tính chẩt pháp lý cao, liên quan đến lợi ích kinh tế và chính trị của nhiều đối tượng trong xã hội Do đó, công tác thanh tra thuế phải đảm bảo các yêu cầu sau:

Trang 16

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 6

Thứ nhất, thanh tra thuế phải đảm bảo chính xác, khách quan, trung thực,

xử lý đúng người, đúng tội, không bao che, không quy chụp cho đối tượng được thanh tra Đây chính là yêu cầu hàng đầu của thanh tra thuế vì chỉ khi đảm bảo những yêu cầu này mới có thể đạt được mục đích của công tác thanh tra thuế, mới làm cho thanh tra thuế trở thành cán cân công lý, mới có được sự tin tưởng của quần chúng nhân dân

Thứ hai, thanh tra thuế phải đảm bảo công khai, dân chủ, kịp thời, tạo điều

kiện tốt nhất để quần chúng nhân dân tham gia ý kiến Đảm bảo công khai, dân chủ là yêu cầu quan trọng của công tác thanh tra thuế vì thông qua đó phát huy được sức mạnh và vai trò của quần chúng nhân dân trong công tác giám sát tuân thủ pháp luật Yêu cầu kịp thời được đặt ra trong công tác thanh tra thuế nhằm khắc phục những yếu kém, bất cập trong quản lý Nhà nước; ngăn chặn đúng lúc các hành vi tiêu cực, tránh tổn thất nặng nề cho Nhà nước và nhân dân

Thứ ba, thanh tra thuế phải đảm bảo thực hiện đúng các luật thuế, ngăn

ngừa, loại trừ các hành vi trốn, lậu thuế Đây là yêu cầu thiết yếu của công tác thanh tra thuế; đạt được yêu cầu này thì công tác thanh tra thuế mới làm tròn chức năng và nhiệm vụ của mình (Nguyễn Văn Hiệu và Nguyễn Thị Liên, 2009)

2.1.3 Phân biệt giữa thanh tra thuế với kiểm tra thuế

(Việc phân biệt thanh tra và kiểm tra thuế ở đây được ngầm hiểu là phân biệt theo Pháp luật Việt Nam hiện hành, trong phạm vi giới hạn ở Việt Nam) Trong thực tế, người ta thường hay nhầm lẫn giữa khái niệm thanh tra thuế

và kiểm tra thuế, do đó, cần phân biệt điểm giống và khác nhau giữa hoạt động thanh tra thuế và kiểm tra thuế trong CQT

Kiểm tra thuế là hoạt động của CQT xem xét tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá (Nguyễn Văn Hiệu và Nguyễn Thị Liên, 2009)

Trang 17

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 7

Về mặt lý luận và thực tiễn, thanh tra thuế và kiểm tra thuế là hai hoạt động không thể thiếu được của công tác lãnh đạo, quản lý của CQT nhằm đảm bảo pháp luật về thuế được thực thi đúng đắn và hiệu quả

Thanh tra thuế và kiểm tra thuế có những điểm giống nhau:

- Thanh tra, kiểm tra thuế đều là một nội dung quan trọng của quản lý thuế Đều có cùng một mục đích phát hiện, ngăn ngừa, xử lý những vi phạm pháp luật thuế, góp phần thúc đẩy các tổ chức, cá nhân hoàn thành nhiệm vụ theo quy định của pháp luật thuế, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý thuế, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân

- Chủ thể thanh tra, kiểm tra thuế là cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật

- Đối tượng thanh tra, kiểm tra thuế là cơ quan, tổ chức, cá nhân có nghĩa

vụ nộp thuế cho nhà nước và các đơn vị trong nội bộ ngành thuế

- Nội dung thanh tra, kiểm tra thuế là việc chấp hành pháp luật thuế

- Về phương pháp, thanh tra, kiểm tra thuế đều phải xem xét hoạt động thực

tế của đối tượng để phát hiện, phân tích, đánh giá thực trạng đối tượng một cách chính xác, khách quan, làm rõ đúng, sai, chỉ rõ nguyên nhân để có biện pháp khắc phục xử lý vi phạm

- Hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế không chỉ được thực hiện ở một giai đoạn trong hoạt động quản lý thuế mà nó được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của quản lý thuế

* Tuy nhiên, giữa thanh tra thuế và kiểm tra cũng có sự khác nhau nhất định:

Thứ nhất, chủ thể của thanh tra không đồng nhất với đối tượng thanh tra

Chủ thể thanh tra là tổ chức thanh tra chuyên trách của Nhà nước (Thanh tra Nhà nước, các tổ chức thanh tra chuyên ngành); đối tượng thanh tra là đối tượng quản

lý của Nhà nước Chủ thể của kiểm tra có thể không đồng nhất hoặc đồng nhất với đối tượng kiểm tra Chẳng hạn, khi đơn vị tự kiểm tra thì chủ thể kiểm tra và đối tượng kiểm tra đồng nhất với nhau Như vậy, thanh tra là kiểm tra từ bên

Trang 18

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 8

ngoài vào đối tượng; còn kiểm tra có khi do bản thân đối tượng đó tự thực hiện, không nhất thiết do bên ngoài kiểm tra

Thứ hai, hoạt động thanh tra thuế chủ yếu được tiến hành ở giai đoạn sau khi

các nghiệp vụ kinh tế đã phát sinh; nội dung thanh tra thuế thường là những vấn đề phức tạp, bản chất vấn đề thường được che giấu có chủ ý nên khó nhận biết Trong khi đó, kiểm tra thuế được tiến hành thường xuyên, bao gồm kiểm tra trước, kiểm tra trong và kiểm tra sau khi các hoạt động kinh tế phát sinh; nội dung kiểm tra thuế thường là những vấn đề hiện tại, dễ nhận biết

Thứ ba, tính chất của thanh tra thuế là một hoạt động dựa vào quyền lực của cơ

quan quản lý Nhà nước Kiểm tra thuế là hoạt động trung tính, có thể là hoạt động quyền lực của cơ quan quản lý Nhà nước, hoặc có thể chỉ là hoạt động quản lý đơn thuần

Thứ tư, do mức độ nghiêm trọng của sự việc cần thanh tra, nên thời gian để

tiến hành một cuộc thanh tra thuế thường dài hơn một cuộc kiểm tra thuế

Mặc dù có những điểm khác biệt nhưng thanh tra, kiểm tra thuế đều là những hoạt động không thể thiếu trong công tác quản lý thuế Việc phân biệt thanh tra thuế và kiểm tra thuế không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn trong việc tổ chức, chỉ đạo, điều hành để tránh sự chồng chéo giữa thanh tra và kiểm tra thuế, giảm phiền hà cho các tổ chức cá nhân là đối tượng thanh tra và kiểm tra

Tóm lại, thanh tra thuế và kiểm tra thuế là hai khái niệm khác nhau nhưng

có liên hệ qua lại, gắn bó và đều là những hoạt động không thể thiếu trong công tác quản lý thuế

2.1.4 Vai trò của thanh tra thuế

Thanh tra có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý thuế

Thứ nhất, thanh tra người nộp thuế đã góp phần hoàn thiện cơ chế chính

sách pháp luật về thuế Hệ thống thuế ở nước ta hiện nay bao gồm nhiều sắc thuế khác nhau Mỗi sắc thuế điều tiết đến một số đối tượng xã hội nhất định và có những phương pháp quản lý thu khác nhau Về cơ bản mỗi sắc thuế khi được ban

Trang 19

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 9

hành đều đã được nghiên cứu kỹ và chuẩn bị chu đáo nhưng do đặc điểm nền kinh tế nước ta đang ở thời kỳ chuyển đổi từ hành chính, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nên không trách khỏi những khiếm khuyết, bất cập Chính vì vậy thanh tra thuế là nơi cung cấp các căn cứ, các bằng chứng cụ thể phản ánh một cách chân thực, sống động các hoạt động diễn ra trong thực tế, để phục vụ cho việc hoàn thiện, bổ sung các chính sách cho phù hợp

Thứ hai, thanh tra thuế là phương tiện phòng ngừa hành vi vi phạm pháp

luật và tội phạm nảy sinh trong hoạt động quản lý thu thuế Với tư cách là chức năng quản lý Nhà nước, hoạt động thanh tra thuế chính là việc xem xét tại chỗ việc làm của các tổ chức, cá nhân nộp thuế có đúng quy định của chính sách pháp luật về thuế hay không? Qua đó sử dụng các biện pháp chế tài bằng mệnh lệnh hoặc các quyết định hành chính nhằm ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật của người nộp thuế

Thực tiễn cho thấy không có hệ thống pháp luật nào có thể đảm bảo là không có cơ sở, khiếm khuyết Đây chính là nguyên nhân để người nộp thuế lợi dụng, cố tình lách luật để trục lợi cá nhân Thanh tra phải phát hiện, ngăn ngừa,

xử lý các hành vi trốn thuế, gian lận thuế

Thứ ba, thanh tra người nộp thuế có vai trò quan trọng trong việc cải cách

thủ tục hành chính thuế Triển khai thực hiện pháp luật thuế, cũng đồng thời với việc triển khai thực hiện các thủ tục hành chính thuế Qua hoạt động thanh tra phát hiện những người nộp thuế thực hiện không đúng và không đủ các thủ tục hành chính thuế để kịp thời chấn chỉnh Đồng thời phát hiện những khiếm khuyết, những thủ tục không phù hợp với thực tế để kiến nghị bổ sung hoàn thiện, nâng cao hiệu lực pháp luật thuế (Tổng cục thuế, 2008)

2.1.5 Mục đích và nguyên tắc thanh tra thuế

2.1.5.1 Mục đích thanh tra thuế

Mục đích của hoạt động thanh tra thuế nhằm:

Trang 20

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 10

+ Bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức

và cá nhân khi thực hiện chính sách pháp luật về thuế

+ Phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về thuế + Thực hiện cải cách hành chính trong lĩnh vực thuế, phát hiện những hạn chế chưa đồng bộ về cơ chế quản lý và chính sách thuế để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền kịp thời sửa đổi bổ sung, góp phần hoàn thiện chính sách thuế, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

+ Động viên, khen thưởng để phát huy nhân tố tích cực, đồng thời tăng cường trấn áp và xử lý nghiêm những hành vi tiêu cực trong việc thực hiện pháp luật thuế

2.1.5.2 Nguyên tắc thanh tra thuế

Nguyên tắc thanh tra là tập hợp các quy tắc chỉ đạo, những chuẩn mực mà các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức thanh tra, cán bộ, thanh tra viên phải

tuân theo trong quá trình tiến hành thanh tra

Các nguyên tắc thanh tra chỉ đạo và chi phối mối quan hệ trong thanh tra nhằm đảm bảo cho hoạt động thanh tra đạt được mục đích đề ra

Điều 7 Luật Thanh tra và Điều 75 Luật Quản lý thuế đã đưa ra một số nguyên tắc của hoạt động thanh tra thuế như sau:

“Tuân theo pháp luật; bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời Không trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra giữa các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra; không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra” (Luật Thanh tra, 2010)

“1 Thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến NNT, đánh giá việc chấp hành pháp luật của NNT, xác minh và thu thập chứng cứ để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế;

2 Không cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là NNT;

Trang 21

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 11

3 Tuân thủ quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan” (Luật Quản lý thuế, 2006)

Từ những quy định nêu trên cho thấy thanh tra thuế là loại hình thanh tra chuyên ngành, do đó thanh tra thuế đồng thời vừa phải tuân thủ theo nguyên tắc của thanh tra chuyên ngành quy định trong Luật Thanh tra về thanh tra chuyên ngành, vừa phải tuân theo nguyên tắc quy định trong Luật Quản lý thuế

Các nguyên tắc cơ bản của thanh tra thuế được cụ thể hóa như sau:

Một là, nguyên tắc tuân thủ pháp luật Pháp luật thể hiện ý chí của nhà nước,

nguyện vọng và lợi ích của nhân dân Thanh tra thuế là kiểm tra việc thực hiện pháp luật nên phải tuân thủ pháp luật Đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong hoạt động thanh tra Thực hiện nguyên tắc này, chủ thể thanh tra khi thực hiện nhiệm vụ thanh tra phải căn cứ vào các quy định của pháp luật để kết luận, kiến nghị những vấn đề thanh tra và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận, kiến nghị của mình Đối tượng thanh tra phải nghiêm chỉnh chấp hành các quyết định của chủ thể thanh tra, cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu và giải trình số liệu khi được yêu cầu

Nguyên tắc này đòi hỏi các cơ quan và cán bộ thanh tra thuế phải thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà pháp luật quy định Mọi hành vi lạm quyền hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đều bị coi là hành vi không tuân thủ quy định của pháp luật và đều phải bị xử lý

Đây cũng là nguyên tắc cần thiết để đề cao trách nhiệm của chủ thể thanh tra; nâng cao hiệu lực của công tác thanh tra thuế; ngăn ngừa tình trạng làm trái pháp luật, vô hiệu hoá hoạt động thanh tra

Hai là, nguyên tắc trung thực, chính xác, khách quan Đảm bảo tính trung

thực chính xác khách quan là vấn đề có tính nguyên tắc cao trong công tác thanh tra

Có như vậy mới cho phép đánh giá đúng thực trạng của đối tượng được thanh tra,

xử lý đúng người, đúng việc, đúng pháp luật

Trang 22

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 12

Nguyên tắc khách quan và chính xác đòi hỏi trong hoạt động thanh tra phải tôn trọng sự thực, đánh giá sự vật hiện tượng như nó vốn có, không suy diễn hay quy chụp một cách chủ quan, phải tiến hành công việc một cách thận trọng

Nguyên tắc trung thực đòi hỏi trong hoạt động thanh tra phải phản ánh và đánh giá đúng bản chất của sự vật, hiện tượng; vô tư; không thiên lệch; không vì quyền lợi cá nhân; phải tỷ mỷ, cẩn thận và phải có kiến thức chuyên môn vững vàng, hiểu biết sâu rộng và sâu sát thực tiễn (Nguyễn Văn Hiệu và Nguyễn Thị Liên, 2009)

Ba là, nguyên tắc công khai, dân chủ Tính công khai trong thanh tra thuế

tức là phải thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”

để thu hút sự tham gia, đồng tình ủng hộ của nhân dân Việc công khai bao gồm nhiều vấn đề cụ thể như: công khai quyết định thanh tra, tiếp xúc công khai với các đối tượng có liên quan và công bố công khai kết luận thanh tra Tuy nhiên, tùy trường hợp cụ thể mà xác định phạm vi công khai và hình thức công khai cho phù hợp để đảm bảo giữ gìn bí mật quốc gia, bí mật người tố cáo, đảm bảo lợi ích của nhà nước và công dân, đảm bảo hiệu quả thanh tra cao nhất

Dân chủ trong hoạt động thanh tra là thể hiện sự tôn trọng khách quan, tôn trọng quần chúng, lấy dân làm gốc Dân chủ trong hoạt động thanh tra, kiểm tra nhằm lôi cuốn sự tham gia đông đảo của quần chúng nhân dân, sử dụng quần chúng như là những tai mắt của lực lượng thanh tra Thực hiện nguyên tắc này phải coi trọng việc tiếp nhận thu thập ý kiến của mọi đối tượng có liên quan, tạo điều kiện cho đối tượng thanh tra được trình bày ý kiến của mình, nhất là khi giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân (Nguyễn Văn Hiệu và Nguyễn Thị Liên, 2009)

Bốn là, nguyên tắc bảo vệ bí mật Cần quán triệt nguyên tắc này trong thanh

tra thuế là vì trong quá trình thanh tra, người làm công tác này tiếp cận với nhiều vấn đề, nhiều tài liệu liên quan đến bí mật, bí quyết kinh doanh của doanh nghiệp, bí mật quốc gia Nếu để lộ cho những đối tượng không được phép biết sẽ làm thiệt hại lợi ích của quốc gia và các doanh nghiệp Do vậy, họ chỉ được báo

Trang 23

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 13

cáo cho những người có thẩm quyền biết (Nguyễn Văn Hiệu và Nguyễn Thị Liên, 2009)

Năm là, nguyên tắc hiệu quả Thực hiện nguyên tắc này mới đảm bảo cho

thanh tra thuế đạt được mục đích của nó Nguyên tắc này đòi hỏi thanh tra thuế phải thực hiện đúng quy trình, quy phạm do ngành thuế đã quy định đồng thời phải đảm bảo tính hiệu quả, nghĩa là phải có tác dụng đề phòng, ngăn ngừa những thiếu sót, vi phạm; phải đảm bảo giúp các đối tượng kiểm tra thực hiện

đúng chính sách thuế (Nguyễn Văn Hiệu và Nguyễn Thị Liên, 2009)

2.1.6 Phương pháp thanh tra

2.1.6.1 Phương pháp đối chiếu, so sánh

Đây là phương pháp nghiệp vụ được sử dụng chủ yếu trong suốt quá trình tiến hành một cuộc thanh tra thuế Nội dung của phương pháp này là việc tiến hành so sánh, đối chiếu các nội dung cần thanh tra để xác định tính hợp lý, khách quan, trung thực của nội dung kiểm tra Cụ thể là đối chiếu tài liệu, số liệu của đơn vị được thanh tra với các quy định, chuẩn mực hoặc đối chiếu với các đơn vị khác cùng ngành nghề, quy mô sản xuất kinh doanh; đối chiếu giữa báo cáo kế toán với sổ kế toán, giữa sổ tổng hợp và sổ chi tiết, giữa sổ sách kế toán với chứng từ kế toán, đối chiếu giữa số liệu báo cáo thống kê với thực tế về hiện vật (vật tư, hàng hóa, hiện vật); đối chiếu giữa nội dung tài liệu, báo cáo quyết toán,

sổ sách chứng từ với các chuẩn mực chung của ngành (các định mức kinh tế -kỹ thuật); đối chiếu giữa nội dung thu, chi thực tế với chính sách, chế độ quy định (Nguyễn Văn Hiệu và Nguyễn Thị Liên, 2009)

2.1.6.2 Phương pháp kiểm tra từ tổng hợp đến chi tiết

Trình tự hạch toán kế toán phải theo nguyên tắc đi từ chi tiết đến tổng hợp, Tuy nhiên, trong công tác thanh tra thuế, phương pháp tối ưu để kiểm tra số liệu

là kiểm tra từ tổng hợp đến chi tiết, hay còn gọi là phương pháp kiểm tra ngược chiều Theo phương pháp này, trước hết kiểm tra số liệu tổng hợp sau mới kiểm tra số liệu chi tiết

Trang 24

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 14

Việc kiểm tra số liệu tổng hợp được tiến hành với các số liệu đã được tổng hợp theo nội dung kinh tế, phán ánh trên các báo cáo tổng hợp như: Bảng tổng kết tài sản, báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh Từ việc phân tích đối chiếu trên tài liệu tổng hợp rút nhận xét tổng quát và những vấn đề cần đi sâu kiểm tra Kiểm tra số liệu chi tiết là việc kiểm tra số liệu của từng nghiệp vụ kinh tế phát sinh thể hiện trên chứng từ gốc hoặc bảng kê chi tiết

Phương pháp này giúp cho cán bộ thanh tra nắm được những vấn đề chính, phát hiện được những mâu thuẫn và những bất thường để từ đó đi vào thanh tra những vấn đề mấu chốt, trọng tâm, tránh bị sa vào những việc vụn vặt hoặc sa lầy, không tìm được hướng đi rõ rệt (Nguyễn Văn Hiệu và Nguyễn Thị Liên, 2009)

2.1.6.4 Phương pháp kiểm tra chứng từ gốc

Chứng từ gốc là cơ sở pháp lý cho mọi số liệu, tài liệu về tài chính, kế toán của người nộp thuế, là cơ sở pháp lý cho việc thanh tra thuế Số liệu, tài liệu kế toán phản ánh các hoạt động kinh tế phát sinh của đơn vị đều phải được ghi chép, tính toán trên cơ sở số liệu của chứng từ gốc Có ba phương pháp kiểm tra chứng

từ gốc sau:

Một là, kiểm tra chứng từ theo trình tự thời gian Là kiểm tra tất cả các

chứng từ gốc đã được sắp xếp thứ tự thời gian phát sinh Phương pháp này mất nhiều thời gian và hiệu quả thấp nên ít được sử dụng

Hai là, kiểm tra theo loại nghiệp vụ Là việc thực hiện kiểm tra chứng từ gốc đã được phân loại, sắp xếp theo một nghiệp vụ nhất định như: chứng từ thu, chi tiền mặt, phiếu xuất, nhập kho Phương pháp này áp dụng khi cần kiểm tra để rút ra kết luận đầy đủ về một loại nghiệp vụ nào đó theo yêu cầu thanh tra Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong thanh tra thuế Phương pháp này tiết kiệm được thời gian kiểm tra, tương đối hiệu quả Hạn chế của phương pháp này là cán bộ thanh tra chỉ kiểm tra được một nghiệp vụ nhất định, không theo dõi được lịch sử, diễn biến theo thời gian phát sinh của chứng từ

Trang 25

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 15

Ba là, kiểm tra điển hình Là lựa chọn ngẫu nhiên một số chứng từ của một loại nghiệp vụ để kiểm tra, xem xét và rút ra kết luận chung Phương pháp này tiết kiệm nhiều thời gian nhưng độ tin cậy của kết luận không cao (Nguyễn Văn Hiệu và Nguyễn Thị Liên, 2009)

2.1.6.5 Các phương pháp kiểm tra bổ trợ

- Phương pháp quan sát: Quan sát trực tiếp những công việc có liên quan đến nội dung thanh tra tại hiện trường Khi thực hiện phương pháp này phải kín đáo và không gây trở ngại cho công việc (Nguyễn Văn Hiệu và Nguyễn Thị Liên, 2009)

- Phương pháp phỏng vấn: Phương pháp này giúp thanh tra viên thu được tin tức từ người có quan hệ trực tiếp đến nội dung thah tra Điều quan trọng là nghệ thuật phỏng vấn phải khéo để thu được những thông tin cần thiết mà người được hỏi lại sẵn sàng trả lời (Nguyễn Văn Hiệu và Nguyễn Thị Liên, 2009)

- Phương pháp thẩm tra và xác nhận từng phần: Mục đích của phương pháp này nhằm đảm bảo kết luận thanh tra về từng nội dung được chuẩn xác, trung thực, khách quan Khi tiến hành thanh tra phải đối chiếu với nhiều nguồn số liệu, nhiều nguồn thông tin để đảm bảo tính khớp đúng của các sự việc, do đó phương pháp này còn được gọi là phương pháp phối hợp kiểm tra nhiều nguồn Phương pháp này đòi hỏi trong quá trình tiến hành thanh tra phải có văn bản xác nhận về từng phần việc đã được xác minh, trên cơ sở xác nhận từng phần đến xác nhận toàn bộ (Nguyễn Văn Hiệu và Nguyễn Thị Liên, 2009)

- Các phương pháp toán học: Đó là các phương pháp số học, toán kinh tế… giúp cho việc tính toán, đối chiếu và tổng hợp số liệu (Nguyễn Văn Hiệu và Nguyễn Thị Liên, 2009)

2.1.7 Các hình thức thanh tra thuế

2.1.7.1 Kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế

Kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế được thực hiện thường xuyên đối với các

hồ sơ thuế nhằm đánh giá tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, chứng từ trong hồ sơ thuế, sự tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế Kiểm tra tại trụ

Trang 26

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 16

sở cơ quan thuế là việc so sánh, đối chiếu các nguồn thông tin kê khai của người nộp thuế, phân tích so sánh thông tin về người nộp thuế qua các kỳ với nhau và với các biến động của ngành để xác định mức độ ổn định và tuân thủ của người nộp thuế (Tổng cục thuế, 2008)

2.1.7.2 Thanh tra toàn diện

Thanh tra toàn diện là loại hình thanh tra tổng hợp, toàn diện tình hình tuân thủ pháp luật thuế của DN mà DN đó có nghĩa vụ thực hiện và ngành thuế có trách nhiệm quản lý

Thanh tra toàn diện là hình thức thanh tra được tiến hành một cách đồng bộ đối với tất cả các sắc thuế: TNDN, GTGT, TTĐB và các loại thuế khác trong kỳ

kê khai thuế Thanh tra toàn diện thường chỉ được thực hiện đối với một hoặc hai

kỳ kê khai thuế thuế gần nhất trừ trường hợp phát hiện người nộp thuế có dấu hiệu không tuân thủ có giá trị trọng yếu Các cán bộ thanh tra cần áp dụng kỹ thuật chọn mẫu và mức độ công việc thanh tra và số các kỳ tài chính cần thanh tra sẽ được mở rộng khi các phát hiện của đội thanh tra yêu cầu phải mở rộng phạm vi thanh tra Cơ quan thuế cần dự tính nguồn nhân lực cũng như chi phí để thực hiện thanh tra toàn diện trong quá trình lập kế hoạch thanh tra hàng năm (Tổng cục thuế, 2008)

2.1.7.3 Thanh tra hạn chế

Thanh tra hạn chế là thanh tra trong phạm vi hẹp gồm:

- Thanh tra, kiểm tra một sắc thuế; một hoặc một số kỳ tính thuế;

- Thanh tra, kiểm tra một hoặc một số bộ hồ sơ hoàn thuế;

- Thanh tra, kiểm tra một hoặc một số yếu tố liên quan đến một hoặc một số

kỳ tính thuế: thanh tra, kiểm tra doanh thu tính thuế, giá vốn hàng bán, khấu hao, tiền lương, tài sản ròng (Tổng cục thuế, 2008)

2.1.7.4 Thanh tra thuế Giá trị gia tăng

Thanh tra chuyên về thuế GTGT là một loại thanh tra hạn chế Loại thanh tra này nên cho phép mở rộng phạm vi thanh tra các người nộp thuế GTGT và phạm vi thanh tra tổng thể rộng hơn Một cuộc thanh tra GTGT bao gồm việc

Trang 27

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 17

kiểm tra kỳ thuế GTGT gần nhất và 5 kỳ tính thuế khác Chỉ thanh tra thêm các

kỳ nếu có phát hiện thêm các căn cứ khác (Tổng cục thuế, 2008)

2.1.7.5 Thanh tra đột xuất

Thanh tra đột xuất được tiến hành khi cơ quan thuế phát hiện người nộp thuế

có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc do Thủ trưởng cơ quan thuế quyết định (Tổng Cục thuế, 2008)

2.1.8 Nội dung thanh tra thuế

Thanh tra thuế là nội dung cơ bản và quan trọng của công tác thanh tra, kiểm tra thuế trong quản lý thuế Theo quy định của pháp luật, các cơ sở kinh doanh đều phải thực hiện đầy đủ việc đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế, chế độ hạch toán kế toán, hoá đơn chứng từ Tuy nhiên, trong thực tế còn nhiều đối tượng vi phạm các quy định trên, vì vậy phải tăng cường công tác thanh tra thuế nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý những hành vi sai phạm đó Nội dung thanh tra thuế tập trung vào những vấn đề chủ yếu sau:

Một là, thanh tra đăng ký thuế Đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế là

quyền và nghĩa vụ của đối tượng kinh doanh Thông qua việc đăng ký thuế, Nhà nước quản lý được mọi mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của cơ sở ngay từ khi bắt đầu hoạt động, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kế hoạch hoá nguồn thu ngân sách Nội dung kiểm tra đăng ký thuế là xem xét trên từng địa bàn, trong từng loại ngành nghề có bao nhiêu cơ sở thực tế có hoạt động kinh doanh, số lượng cơ sở đã đăng ký và chưa kê khai đăng ký thuế

Đối với mỗi cơ sở kinh doanh, khi thanh tra cần đi sâu xem xét tính pháp lý của đăng ký thuế, kiểm tra tính trung thực của các tài liệu, số liệu kê khai trong đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế về vốn, địa điểm kinh doanh, ngành nghề kinh doanh, thời gian thực tế kinh doanh, hình thức kế toán áp dụng, tài khoản giao dịch… nhằm phát hiện và xử lý các hiện tượng gian lận trong việc kê khai đăng ký thuế

Hai là, thanh tra việc chấp hành chế độ kế toán, sổ sách, hoá đơn, chứng từ

Trang 28

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 18

Theo quy định của pháp luật Việt Nam (Luật Doanh nghiệp, Luật Kế toán), tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, các tổ chức, cơ quan đoàn

thể khi làm kinh tế đều phải chấp hành chế độ kế toán, thống kê

Việc thực hiện chế độ kế toán, sổ sách, hóa đơn, chứng từ có liên quan chặt chẽ đến việc tính thuế, khai thuế và nộp thuế của NNT Thanh tra nội dung này bao gồm: thanh tra việc tổ chức thực hiện luật kế toán, chuẩn mực kế toán và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến chế độ kế toán, sổ sách, hóa đơn, chứng

từ của NNT, “kiểm tra việc mở sổ sách kế toán; việc quản lý và sử dụng các loại chứng từ, hóa đơn theo chế độ quy định; hình thức hạch toán, chế độ ghi chép cập nhật sổ sách (Nguyễn Văn Hiệu và Nguyễn Thị Liên, 2009) Từ đó kiểm tra

và xác định tính hợp pháp, hợp lý, tính trung thực của từng loại chứng từ, hóa đơn có liên quan nhằm đảm bảo chính xác các căn cứ tính thuế, ngăn chặn việc hạch toán sai để trốn lậu thuế Do vậy đây là nội dung thanh tra quan trọng đòi hỏi cán bộ thanh tra phải thông thạo nghiệp vụ kế toán và đặc biệt phải có sự hiểu biết sâu rộng về nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội Thực hiện tốt nội dung thanh tra này sẽ tạo tiền đề cho nội dung thanh tra việc thực hiện kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế

Ba là, thanh tra việc thực hiện kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế

Thanh tra căn cứ tính thuế nhằm mục đích xác định đúng số thuế phải nộp,

số thuế đã nộp, số thuế nợ, số thuế được miễn giảm, số thuế được hoàn trong kỳ của doanh nghiệp Việc thanh tra căn cứ tính thuế được thực hiện trên cơ sở kiểm tra sổ sách kế toán, chứng từ hoá đơn và các tài liệu có liên quan Thông qua việc kiểm tra, đối chiếu số liệu trên các tờ khai, bảng kê, quyết toán thuế cơ sở kinh doanh đã kê khai với số liệu trên sổ sách kế toán và tình hình thực tế của cơ sở kinh doanh để phát hiện số thuế đơn vị kê khai thuế, số thuế ẩn lậu (Nguyễn Văn Hiệu

và Nguyễn Thị Liên, 2009) Đây là một khâu rất quan trọng trong quy trình thanh tra thuế, đòi hỏi cán bộ thuế phải nắm vững nội dung quy định của các sắc thuế, các văn bản hướng dẫn thực hiện, đồng thời cần thông thạo nghiệp vụ kế toán

Trang 29

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 19

Kiểm tra việc chấp hành nghĩa vụ kê khai, nộp thuế của cơ sở kinh doanh: xác định xem cơ sở kinh doanh có thực hiện nghiêm túc quy định về thời hạn nộp

tờ khai và tiền thuế theo luật quản lý thuế hay không, nếu nợ đọng thì xác định nguyên nhân nợ để đôn đốc thu nợ Kiểm tra nội dung này cần kiểm tra số thuế phải nộp trên Tờ khai và Giấy nộp tiền vào NSNN xem có nộp nhầm, nộp thừa vào các tài khoản khác không hay chưa nộp?

Tóm lại, nội dung thanh tra rất quan trọng, là cơ sở để tiến hành thanh tra Tùy theo tính chất, yêu cầu quản lý thuế theo từng thời kỳ và tùy thuộc vào nguồn lực để đặt giới hạn, trọng tâm nội dung thanh tra cho phù hợp Vì vậy người cán bộ thanh tra phải nắm vững các quy trình quản lý thuế, các văn bản pháp luật thuế, phải thông thạo nghiệp vụ kế toán

2.1.9 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả thanh thuế

Một là, sự phát triển phong phú, đa dạng và ngày càng phức tạp của NNT

Điều kiện kinh tế xã hội là một trong những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến quản lý thuế nói chung và hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế nói riêng Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn hội nhập sâu rộng hiện nay thì hệ thống luật pháp sẽ dần được hoàn thiện, cơ sở trang thiết bị vật chất kỹ thuật ngày càng được hiện đại hoá và số lượng người nộp thuế không ngừng tăng lên nhanh chóng.Tất cả những biến đổi trên đều tác động lớn tới hiệu quả công tác thanh tra thuế Số lượng người nộp thuế ngày càng tăng sẽ là một thách thức không nhỏ đến công tác thanh tra thuế Bởi cùng với sự gia tăng về số lượng sẽ là

sự đa dạng các loại hình doanh nghiệp và các hình thức kinh doanh, kèm theo đó

là sự phức tạp, tinh vi hơn về thủ đoạn trốn, tránh, gian lận thuế của người nộp thuế Nếu không chuẩn bị cho mình một hành trang đầy đủ (pháp lý, nhân lực, vật lực) cơ quan quản lý thuế, nhất là bộ phận thanh tra, kiểm tra sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc phát hiện và xử lý kịp thời các vụ gian lận, ẩn lậu thuế, gây thất thu cho NSNN

Những năm gần đây, trình độ dân trí và sự hiểu biết về pháp luật thuế cũng như ý thức tuân thủ của người nộp thuế tại Việt Nam ngày càng được cải thiện;

Trang 30

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 20

họ hiểu rõ quyền, lợi ích và trách nhiệm của mình khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh Đây là yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả công tác thanh tra thuế vì NNT sẽ phải tự cân nhắc các hành vi của mình trước khi thực hiện Tuy nhiên, trình độ dân trí và sự hiểu biết về pháp luật thuế của NNT nâng cao trong khi pháp luật thuế chưa hoàn thiện, còn nhiều kẽ hở cũng đã tạo điều kiện cho không ít đối tượng nộp thuế có các hành vi, thủ đoạn trốn, tránh thuế ngày càng tinh vi, phức tạp hơn, gây khó khăn cho cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế trong việc phát hiện ra các gian lận

Hai là, hệ thống chính sách pháp luật thuế chưa hoàn thiện Hệ thống chính sách pháp luật thuế đồng bộ, hoàn thiện, nội dung các sắc thuế rõ ràng, minh bạch sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng để hoạt động thanh tra, kiểm tra người nộp thuế đi vào khuôn khổ Từ đó giúp NNT hiểu và thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ thuế theo qui định của pháp luật và công tác thanh tra, kiểm tra thuế thuận lợi và đạt hiệu quả cao hơn Tuy nhiên, hệ thống chính sách thuế hiện hành tại Việt Nam mặc dù không ngừng được chỉnh sửa, bổ sung nhưng vẫn còn nhiều kẽ hở

và chưa thực sự minh bạch, nhiều qui định phức tạp, không rõ ràng, thủ tục hành chính thuế còn rườm rà Đây chính là kẽ hở để NNT lợi dụng, tạo ra những hành

vi trốn thuế, tránh thuế và gây ra những khó khăn, phức tạp cho công tác thanh tra, kiểm tra thuế

Ba là, sự thay đổi của mô hình quản lý thuế theo chức năng và cơ chế tự khai, tự nộp thuế

Hiện nay, cơ quan quản lý thuế Việt Nam thực hiện cơ chế kê khai, tính thuế theo mô hình NNT tự khai và tự nộp thuế Trong cơ chế này, NNT căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh của mình và các quy định của pháp luật về thuế

để tự khai, tự tính toán số thuế phải nộp, chủ động nộp thuế cho nhà nước theo đúng thời hạn quy định của pháp luật Cơ quan thuế không can thiệp vào quá trình kê khai nộp thuế của các NNT trừ khi phát hiện các sai sót, vi phạm hoặc các dấu hiệu không chấp hành luật thuế Cơ quan thuế có trách nhiệm tuyên truyền, hỗ trợ, hướng dẫn để NNT hiểu rõ và tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế,

Trang 31

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 21

đồng thời giám sát chặt chẽ việc tuân thủ nghĩa vụ thuế của NNT và thông qua công tác thanh tra, kiểm tra để phát hiện, xử lý kịp thời những hành vi trốn thuế của NNT

Thực hiện quản lý thuế theo cơ chế tự kê khai tự nộp thuế, bộ máy quản lý thuế tại cơ quan thuế được tổ chức tập trung theo các chức năng, bao gồm các chức năng chính: tuyên truyền, hỗ trợ NNT; xử lý tờ khai và kế toán thuế; thu nợ, cưỡng chế thuế và thanh tra thuế; trong đó, thanh tra thuế là chức năng trọng tâm của cơ quan thuế trong cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế Quản lý theo chức năng cho phép cơ quan thuế chuẩn hoá mạnh hơn về quy trình thủ tục làm việc đối với các loại thuế, đơn giản hoá hệ thống tin học và giao tiếp với NNT, đồng thời nâng cao hiệu quả chung của ngành Mô hình này thích ứng với mọi sự thay đổi

về NNT và tạo ra sự kiểm tra chéo giữa các cán bộ thuế ở các bộ phận khác nhau, hạn chế tiêu cực nên giảm nguy cơ gian lận thuế, thất thu thuế bởi bất kỳ sự thông đồng nào giữa NNT và cán bộ thuế Ngoài ra, mô hình này còn thúc đẩy chuyên môn hóa và nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ thanh tra thuế; thanh tra thuế phải dựa trên cơ sở phân tích thông tin về người nộp thuế

để lựa chọn đối tượng thanh tra thuế Theo đó, các cơ quan thanh tra được chia thành các nhóm chuyên trách như: nhóm thanh tra người nộp thuế, nhóm kiểm tra người nộp thuế

Để thực hiện phân tích rủi ro trong hoạt động thanh tra thuế; ngành thuế phải xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đầy đủ, chính xác và tập trung về đối tượng thanh tra Hệ thống cơ sở dữ liệu được xây dựng trên cơ sở thông tin từ nội bộ ngành thuế và thông tin từ các ngành liên quan được kết nối tự động với cơ quan thuế và được chia sẻ trên phạm vi toàn quốc Bên cạnh đó, lực lượng làm công tác thanh tra thuế ngày càng được chuyên môn hoá để đáp ứng đòi hỏi của hoạt động thanh tra thuế trong điều kiện thực hiện đổi mới quản lý thuế

2.1.10 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác thanh tra thuế

Trang 32

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 22

Hiệu quả công tác thanh tra NNT không chỉ được xem xét, đánh giá đơn thuần ở khía cạnh hiệu quả kinh tế mà còn được xem xét, đánh giá dưới giác độ hiệu quả xã hội chính trị Vì vậy, các tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác thanh tra NNT được chia 2 nhóm là:

2.1.10.1 Các tiêu chí định lượng

Các tiêu chí định lượng thể hiện ở kết quả thực tế của công tác thanh tra, đã được tiến hành Đó là kết quả cụ thể của việc thực hiện nhiệm vụ được giao hoặc kết quả đem lại của công tác thanh tra Các tiêu chí này thường gồm:

+ Tình tình thực hiện kế hoạch thanh tra về từng chỉ tiêu định lượng của kế hoạch: Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch thanh tra về số đối tượng thanh tra so với kế hoạch năm; Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch về thời gian thanh tra so với kế hoạch năm; Tỷ lệ thanh tra hàng năm so với tổng số đối tượng thanh tra

+ Tình hình vi phạm pháp luật thuế đã phát hiện qua thanh tra: Tỷ lệ vi phạm pháp luật thuế/tổng số đối tượng thanh tra; Tổng số tiền thuế truy thu qua thanh tra; Số tiền thuế truy thu bình quân/đối tượng thanh tra

+ Hiệu quả trực tiếp của thanh tra: Số thuế truy thu được đã nộp NSNN; Tỷ

lệ các trường hợp đối tượng thanh tra chấp nhận hoàn toàn kết luận thanh tra; Tỷ

lệ số thuế truy thu được nộp vào NSNN/tổng số thuế truy thu

Mặc dù có thể tính toán cụ thể được một số chỉ tiêu đã kể trên song thực tế

đa số các chỉ tiêu không thực sự phản ánh rõ hiệu quả kinh tế của công tác thanh tra Bên cạnh việc tính toán chỉ tiêu này trong năm, để đánh giá chính xác hơn tính hiệu quả cần phải so sánh với những năm cũ để đánh giá xu hướng biến động của các chỉ tiêu, có như thế mới thấy rõ những tiến bộ của từng khâu công tác

2.1.10.2 Các tiêu chí định tính

Các chỉ tiêu định tính thường là hệ quả của công tác thanh tra mà không thể hoặc khó tính toán, đo đếm được Đó thường là những hiệu quả có tính xã hội, chính trị như:

Trang 33

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 23

+ Sự chuyển biến về ý thức tuân thủ pháp luật thuế Tiêu chí này có thể đo lường được thông qua so sánh tỷ lệ tuân thủ pháp luật thuế của đối tượng thanh tra qua các năm, đặc biệt là những đối tượng đã được thanh tra

+ Tác dụng trong việc ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật thuế, tạo sự công bằng giữa các đối tượng nộp thuế, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh Có thể đánh giá tác dụng này thông qua xem xét tỷ lệ đối tượng vi phạm bị xử lý truy thu thuế và xử phạt hành chính thuế

+ Tác dụng trong việc phòng chống tham nhũng trong nội bộ cơ quan quản

lý thuế và tạo lòng tin của nhân dân vào hoạt động thanh tra thuế Có thể đánh giá tác dụng này thông qua xem xét tỷ lệ cán bộ thuế vi phạm pháp luật trong thanh tra; tỷ lệ cán bộ thuế vi phạm pháp luật bị xử lý; những vụ việc vi phạm quan trọng và nhạy cảm được phát hiện và xử lý

Hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả thanh tra được đánh giá theo kỳ (quý, năm) và được chia theo sắc thuế, theo hình thức thanh tra, theo loại đối tượng

nộp thuế và từng nội dung thanh tra tương ứng

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Kinh nghiệm thanh tra thuế ở một số nước trên thế giới

*Về mô hình tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra thuế

Hầu hết các nước đều có hệ thống thanh tra thuế được tổ chức theo hệ thống ngành dọc gắn với mô hình tổ chức CQT (Malaysia, Indonesia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Anh) Tại Mỹ và Úc, chức năng thanh tra do các Ban nghiệp vụ (Mỹ) hoặc các Vụ, Cục (Úc) thực hiện, không tổ chức bộ phận thanh tra riêng tại cấp trung ương

Hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế được phân cấp theo mô hình tổ chức, chủ yếu được thực hiện ở cấp trung gian (Cục Thuế vùng, tỉnh) Tại các quốc gia có

tổ chức bộ phận thanh tra riêng cấp trung ương thì chủ yếu là thực hiện công tác chỉ đạo, hỗ trợ thanh tra

Các nước có tổ chức Ban quản lý đối tượng nộp thuế lớn đều thành lập riêng bộ phận thanh tra đối tượng nộp thuế (nằm trong Ban quản lý đối tượng

Trang 34

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 24

nộp thuế lớn) như Australia, Pháp, Hà Lan, New Zealand, Anh, Mỹ, Canada, Thái Lan, Indonesia, Philippines, Singapore và Hàn Quốc

Hoạt động thanh tra đối tượng nộp thuế được chuyên môn hoá cao Các phòng thanh tra tại CQT được tổ chức với chức năng chuyên biệt, chỉ thực hiện một giai đoạn của hoạt động thanh tra như: Phòng thanh tra chịu trách nhiệm thu thập, xử lý, phân tích rủi ro, lập kế hoạch thanh tra; Phòng Thanh tra thực hiện thanh tra và xác định thuế Phòng thanh tra đặc biệt chịu trách nhiệm về phân tích những thông tin liên quan đến việc trốn thuế và điều tra tội phạm (Hàn Quốc, Anh)

Hầu hết CQT các nước đều có thẩm quyền điều tra trốn thuế và bộ phận điều tra trốn thuế thường được tập trung tại cấp trung ương Riêng Nhật Bản cấp vùng cũng có thẩm quyền điều tra trốn thuế Mỹ là quốc gia có thẩm quyền điều tra rộng nhất: Ban điều tra của Mỹ là lực lượng bán vũ trang, chịu trách nhiệm điều tra các vi phạm thuế mang tính hình sự, kể cả các tội phạm liên quan đến rửa tiền và buôn bán ma túy và có các chi nhánh ở trong nước và nước ngoài

Tỷ trọng viên chức làm công tác thanh tra ở các nước chiếm khoảng trên dưới 30% tổng số cán bộ (Nhật Bản: 28%, Anh: 31%, Cục Thuế Thượng Hải-Trung Quốc trên 30%)

* Về lựa chọn đối tượng thanh tra

Ở các nước phát triển, công tác xây dựng kế hoạch thanh tra hàng năm được tập trung, thống nhất theo chỉ đạo cấp trung ương Hàng năm, cấp trung ương căn

cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ hướng dẫn việc xây dựng kế hoạch thanh tra tập trung vào đối tượng, ngành, nghề nhất định, phê duyệt, điều chỉnh tỷ lệ đối tượng thanh tra giữa các ngành nghề Theo kinh nghiệm của CQT Anh thông thường kế hoạch thanh tra thuế được xây dựng theo cơ cấu: 40% do CQT trung ương xây dựng; 10% do lựa chọn ngẫu nhiên; 50% do Cục Thuế và Chi cục Thuế xây dựng Thanh tra thuế các nước đều xử lý rủi ro theo hướng ưu tiên giải quyết trước các rủi ro ở mức cao (là những rủi ro không thể chấp nhận được) và giải quyết các rủi ro ở mức thấp tuỳ theo nguồn lực cho phép (ví dụ: có thể lựa chọn rủi ro ở mức thấp bằng phương pháp ngẫu nhiên để đánh giá khả năng kiểm soát

Trang 35

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 25

hoặc "tích lũy" các rủi ro này để giải quyết trong tương lai) Phạm vi xem xét, phân tích khi nhận dạng rủi ro bao gồm những thông tin được thể hiện ở cấp "vĩ mô" như xu hướng phát triển kinh tế, đặc tính ngành nghề và các tác động của chính sách kinh tế, thương mại và đầu tư

* Về các cách thức tiến hành thanh tra

Ở các nước phát triển, hiện đang áp dụng các hình thức thanh tra sau: Thanh tra thuế trên cơ sở phân tích rủi ro

Thanh tra tại trụ sở CQT: Là hình thức thanh tra các rủi ro không nghiêm trọng và có giá trị truy thu không trọng yếu (thường là có ngưỡng nhất định) Thanh tra tại cơ sở: Thường là các vụ việc có rủi ro nghiêm trọng, không thuộc phạm vi thanh tra tại trụ sở CQT

Thanh tra ngẫu nhiên: Là loại hình thanh tra mang tính chất chọn lựa xác suất nhằm kiểm tra, đánh giá tình hình chung về việc tuân thủ pháp luật Thanh tra ngẫu nhiên có thể được xác định theo chủ đề, ví dụ: thanh tra việc sử dụng hóa đơn GTGT và đối chiếu giữa doanh thu chịu thuế GTGT với doanh thu hoạt động kinh doanh kê khai trong thuế TNDN, thanh tra một số ngành, nghề nhất định Thanh tra ngẫu nhiên có thể được thực hiện theo hình thức thanh tra tại trụ sở CQT hoặc thanh tra tại cơ sở Các tiêu chí lựa chọn thanh tra ngẫu nhiên thường dựa vào nguyên tắc chọn mẫu trong toán thống kê

Về thời gian thanh tra

Hầu hết các nước đều quy định thời gian thanh tra tương đối dài, từ một vài tháng đến một vài năm, tuỳ theo tính chất, quy mô.cuộc thanh tra, điều tra thuế Thời gian thanh tra tại cơ sở kinh doanh là 02 tháng và có thể kéo dài 08 tháng nếu được Lãnh đạo CQT cho phép, thanh tra tại trụ sở CQT thì thời gian là 01 tháng, có thể kéo dài 02 tháng (Indonesia); Thời gian thu thập tài liệu phân tích thông tin (thanh tra tại trụ sở CQT) từ 30 ngày đến 45 ngày; Thời gian thanh tra đối tượng nhỏ khoảng 6 tháng; đối tượng lớn là một năm và điều tra thuế là 2 năm (Anh)

* Về kiểm soát chất lượng thanh tra

Trang 36

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 26

Các nước đều xây dựng hệ thống chuẩn mực thanh tra để kiểm soát chất lượng thanh tra Hệ thống chuẩn mực từng nước có sự khác biệt nhất định nhưng đều bao gồm các nhóm chuẩn mực sau: Chuẩn mực 1: Kế hoạch thanh tra; Chuẩn mực 2: Bằng chứng thanh tra và thu thập bằng chứng thanh tra; Chuẩn mực 3: Kết luận, kiến nghị thanh tra; Chuẩn mực 4: Tài liệu làm việc và Báo cáo thanh tra Tuỳ theo quy mô và tính chất của từng vụ thanh tra, CQT có thể thành lập các bộ phận riêng chịu trách nhiệm rà soát kết quả thanh tra theo các chuẩn mực trên trước khi ban hành quyết định cuối cùng hoặc có thể đưa vào quy trình thanh tra nội bộ Ví dụ, tại Australia, Malaysia và Trung Quốc, các thanh tra viên cao cấp hoặc trưởng phòng thanh tra có trách nhiệm rà soát lại toàn bộ các kết quả thanh tra tại cơ sở có liên quan đến giao dịch quốc tế hoặc các vụ việc lớn trước khi gửi kết luận chính thức cho đối tượng nộp thuế

* Về ứng dụng công nghệ thông tin trong thanh tra thuế

Nhóm các nước phát triển có trình độ ứng dụng công nghệ thông tin trong thanh tra thuế cao và tại cấp trung ương thường thành lập bộ phận “Thanh tra máy tính” (thanh tra tin học, thanh tra thuế bằng máy tính) Thanh tra máy tính được thực hiện thông qua hệ thống ứng dụng tin học hỗ trợ công tác thanh tra và quyền truy cập, khai thác, sử dụng hệ thống dữ liệu của đối tượng nộp thuế để xác định

số liệu thực về sổ sách kế toán và các giao dịch điện tử

Theo kinh nghiệm các nước (Australia, New Zealand, Nhật bản, Hồng Kông, Trung quốc, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan.) hiện tại do tính hiệu quả, thanh tra máy tính chỉ nên áp dụng đối với những NNT lớn,

có hoạt động đa dạng, đa quốc gia

* Công tác tuyển chọn và đào tạo CBTT

Các nước đều có yêu cầu cao đối với việc tuyển chọn thanh tra viên Người được tuyển chọn thường phải được đào tạo qua bậc đại học, riêng nước Anh yêu cầu thanh tra viên phải có hai bằng Đại học

Những tiêu chuẩn cơ bản thanh tra viên cần phải có gồm: Có kiến thức chuyên sâu về luật thuế; Có kiến thức về kế toán theo chuẩn mực trong nước và

Trang 37

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 27

quốc tế và mối liên kết giữa các yêu cầu về kế toán tài chính và kế toán cho mục đích thuế; Có kỹ năng thanh tra, phân tích kinh tế; Có tính nhạy bén, làm việc độc lập và chịu được áp lực công việc; Có kiến thức thành thạo về sử dụng máy

vi tính (bao gồm kiến thức cơ bản về hệ điều hành, mô hình lưu trữ dữ liệu, các ứng dụng cơ sở và ứng dụng chuyên ngành sử dụng cho thanh tra); Có khả năng giao tiếp bằng ngoại ngữ

Ngoài việc tuyển chọn thanh tra viên theo truyền thống từ khối các trường kinh tế, luật, hiện nay một số quốc gia (điển hình là Mỹ) còn tuyển dụng những người từ các chuyên ngành khác để hỗ trợ hoạt động thanh tra theo ngành, phân tích kinh tế ngành

Các nước đều chú trọng công tác đào tạo và bồi dưỡng viên chức thuế Một

số Tổng cục Thuế các nước có trung tâm đào tạo riêng Nhiều trung tâm được đầu tư hiện đại xếp hạng quốc tế hoặc khu vực như Trung tâm đào của Nhật Bản, Malaysia, Pháp Thanh tra viên khi mới được tuyển dụng đều được dự các khoá bồi dưỡng nghiệp vụ và đào tạo cơ bản

Tại Anh, hàng năm đều mở các lớp đào tạo nghiệp vụ chuyên môn cho các ngạch thanh tra viên, thanh tra chính và thanh tra cao cấp Mỗi học viên vào học ở các ngạch trên đều phải đảm bảo những tiêu chí và tiêu chuẩn theo quy định của Nhà nước Khi học xong Chương trình đều phải qua thi tuyển, nếu đạt thì mới được công nhận là ngạch thanh tra tương ứng với trình độ đã đào tạo

* Về hiện đại hóa thanh tra thuế nâng cao hiệu quả quản lý thuế

Trong quá trình tiến hành cải cách và hiện đại hoá công tác quản lý thuế, các quốc gia đều đặt trọng tâm vào việc hiện đại hoá công tác thanh tra thuế với mục tiêu là nâng cao hiệu quả thanh tra thuế dựa trên cơ sở phân tích rủi ro, đổi mới nội dung, phương pháp và tổ chức hoạt động thanh tra, đảm bảo sự tuân thủ pháp luật ở mức độ cao, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra thuế Các quốc gia trên thế giới mặc dù với trình độ và điều kiện phát triển khác nhau nhưng nhìn chung quá trình hiện đại hoá công tác thanh tra thuế được chia thành các giai đoạn chính như sau:

Trang 38

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 28

- Giai đoạn 1: Cơ quan thuế các nước tập trung chủ yếu vào việc trang bị và

sử dụng máy tính cho các chức năng xử lý dữ liệu về thuế, thay thế việc xử lý thủ công bởi các ứng dụng trên máy tính Công tác thanh tra thuế vẫn thực hiện theo phương pháp thủ công truyền thống

- Giai đoạn 2: Nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, xây dựng hệ thống cơ sở

dữ liệu đồng bộ Xây dựng phương pháp, quy trình nghiệp vụ thanh tra thuế dựa trên

kỹ thuật quản lý rủi ro Xây dựng các phần mềm ứng dụng hỗ trợ cho kỹ thuật phân tích, đánh giá rủi ro Triển khai thí điểm kỹ thuật và mô hình thanh tra mới ở một số địa phương Thay đổi tổ chức bộ máy và đào tạo kỹ thuật chuyên sâu, phương pháp nghiệp vụ mới cho cán bộ thanh tra thuế Trình Nhà nước bổ sung sửa đổi các quy định của pháp luật phù hợp với quá trình hiện đại hoá công tác quản lý thuế nói chung và công tác thanh tra thuế nói riêng

- Giai đoạn 3: Hoàn thiện phương pháp, quy trình, kỹ thuật thanh tra Thiết

kế các ứng dụng có tính tích hợp cao, khả năng trao đổi thông tin và xử lý dữ liệu tập trung ở mức cao Triển khai diện rộng mô hình và kỹ thuật thanh tra mới trên toàn quốc Tiếp tục bổ sung sửa đổi hệ thống pháp luật đồng bộ, có những nước còn bổ sung chức năng điều tra cho thanh tra thuế

- Giai đoạn 4: Hiện đại hoá ở mức rất cao

Khả năng tích hợp thông tin, dữ liệu về đối tượng nộp thuế ở mức cao; việc kiểm tra xác định nghi vấn đối với đối tượng nộp thuế phần lớn do công nghệ máy tính thực hiện; việc lựa chọn các đối tượng thanh tra kiểm tra cũng được thực hiện bằng công nghệ máy tính

Mặc dù quá trình hiện đại hoá công tác thanh tra thuế ở các nước có những bước đi khác nhau, nhưng nhìn chung đều phải trải qua các giai đoạn nêu trên Hiện nay một số nước đã hoàn thành giai đoạn 3 và đang đi vào giai đoạn hiện đại hoá ở mức cao như: Hồng Kông (Trung Quốc), Nhật Bản, Australia, Các nước Đông Nam Á và Châu Á khác đều đã tiến hành hiện đại hoá công tác thanh tra thuế và đang ở giữa hoặc cuối giai đoạn 2 như: Hàn Quốc, Xingapo, Đài Loan (Trung Quốc), Philippin, Thái Lan, Inđônêxia, Malaixia, Trung Quốc

Trang 39

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 29

Nói chung Hiện đại hoá công tác thanh tra thuế là khuynh hướng phổ biến trên thế giới Bởi nó mang lại những lợi ích to lớn cho cả đối tượng nộp thuế - Giảm mạnh những chi phí tuân thủ pháp luật về thuế; cho cơ quan thuế - giảm chi phí hành chính, chi phí nguồn lực, tăng chất lượng, hiệu quả và hiệu lực công tác thanh tra thuế; cho Nhà nước - đảm bảo môi trường cạnh tranh bình đẳng về thuế, phù hợp với thông lệ quốc tế, nâng cao khả năng hội nhập kinh tế quốc tế

và tăng thu cho NSNN (Tổng cục thuế, 2008)

2.2.2 Kinh nghiệm thanh tra thuế tại Việt nam

2.2.2.1 Kinh nghiệm thanh tra thuế tại Cục thuế thành phố Hà Nội

Thứ nhất, công tác chỉ đạo điều hành phải thường xuyên, sát sao và gắn với việc giám sát hoạt động thanh tra Việc tuân thủ điều hành và định hướng triển khai công tác thanh tra thuế của Tổng cục thuế theo ngành nghề, lĩnh vực có rủi

ro cao về thuế Đồng thời, phải có sự linh hoạt trong đề xuất bổ sung nhiệm vụ thanh tra theo diễn biến rủi ro và khác thác tăng thu thực tế của doanh nghiệp theo từng ngành nghề lĩnh vực ít bị ảnh hưởng của suy thoái kinh tế Thường xuyên báo cáo đề xuất xử lý kịp thời những vướng mắc về chính sách, chế độ trong quá trình thanh tra Đối với những trường hợp quan trọng liên quan đến số thu lớn, các giao dịch mới phát sinh hoặc phức tạp chưa có quy định cụ thể thì Cục thuế đã trao đổi lấy ý kiến của các bộ phận chuyên môn trong cơ quan, lãnh đạo cấp trên và các bên liên quan để tìm ra phương án giải quyết phù hợp

Thứ hai, coi trọng công tác xây dựng kế hoạch thanh tra và triển khai phân tích sâu các dấu hiệu rủi ro tại trụ sở cơ quan thuế Đối với công tác xây dựng kế hoạch thanh tra thuế, được triển khai bằng phương pháp tính điểm rủi ro Cục thuế thành phố Hà Nội đã giao cho một phòng thanh tra chịu trách nhiệm đầu mối gán điểm rủi ro cho 100% các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội Sau khi sàng lọc rủi

ro từ cao xuống thấp, danh sách người nộp thuế phải phân tích rủi ro được công khai, lấy ý kiến phản hồi từ bộ phận kiểm tra thuế, các Chi cục thuế và bộ phận kê khai kế toán thuế nhằm thu thập thêm thông tin, sàng lọc kỹ đối tượng thanh tra Việc xây dựng kế hoạch được kết hợp giữa công nghệ thông tin với kinh nghiệm

Trang 40

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 30

quản lý của cán bộ và tập trung qua nhiều bước hạn chế tối đa việc lựa chọn doanh nghiệp vào kế hoạch thanh tra

Thứ ba, tăng cường, chủ động phối hợp với các cơ quan điều tra Xác định đây là việc làm thường xuyên và liên tục nên trong thời gian qua, Cục thuế thành phố Hà Nội đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan, đặc biệt với công an trong việc xác minh điều tra các DN cố tình không kê khai, điều chỉnh các hóa đơn có dấu hiệu bất hợp pháp theo thông báo đối chiếu chéo hóa đơn của cơ quan thuế

Thứ tư, tăng cường công tác giám sát hoạt động thanh tra Việc làm này cần được thực hiện từ trước khi ban hành quyết định thanh tra cho tới khi kết thúc, lưu hồ sơ, nhập báo cáo kết quả thực hiện và đôn đốc thu nộp sau thanh tra thông qua hệ thống các biểu mẫu được chuẩn hóa

Thứ năm, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác thanh tra Việc ứng dụng công nghệ thông tin có ý nghĩa quan trọng giúp cho cán bộ thuế không mất nhiều thời gian chiết xuất dữ liệu về hồ sơ kê khai thuế của người nộp thuế mà tập trung vào đánh giá rủi ro Đồng thời, xây dựng công cụ

hỗ trợ cho công tác thanh tra có hiệu quả như: phân loại nhóm DN có dấu hiệu rủi ro, nhóm DN trọng điểm, nhóm ngành nghề cần đi sâu phân tích Khai thác từ

hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý thuế các thông tin liên quan đến các khoản, mục nhiều khả năng xảy ra rủi ro…

Thứ sáu, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thanh tra Xác định con người

là yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng của công tác quản lý thuế nói chung

và công tác thanh tra nói riêng, do vậy việc nâng cao kỹ năng thanh tra, văn hóa công sở và cập nhật các kiến thức, nghiệp vụ, cơ chế chính sách mới cần tiến hành thường xuyên thực hiện (Nguyễn Thị Quỳnh Hương, 2014)

2.2.2.2 Kinh nghiệm thanh tra thuế tại Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh

Theo Cục Thuế TP Hồ Chí Minh, năm 2013, đơn vị đặt chỉ tiêu thanh tra thuế đạt 1,79% số doanh nghiệp (DN) đang quản lí, số thu đã quy đổi đạt 2.090 tỉ đồng

Ngày đăng: 19/09/2015, 10:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1 Tình hình phát triển và cơ cấu kinh tế tỉnh Hưng Yên năm 2011 – 2013 - giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh hưng yên
Bảng 3.1 Tình hình phát triển và cơ cấu kinh tế tỉnh Hưng Yên năm 2011 – 2013 (Trang 48)
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động tỉnh Hưng Yên qua các năm 2011 – 2013 - giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh hưng yên
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động tỉnh Hưng Yên qua các năm 2011 – 2013 (Trang 50)
Bảng 3.3: Tình hình cán bộ, công chức tại Văn phòng Cục thuế tỉnh Hưng - giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh hưng yên
Bảng 3.3 Tình hình cán bộ, công chức tại Văn phòng Cục thuế tỉnh Hưng (Trang 51)
Sơ đồ 3.1 Bộ máy quản lý và cơ cấu tổ chức Cục thuế tỉnh Hưng Yên - giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh hưng yên
Sơ đồ 3.1 Bộ máy quản lý và cơ cấu tổ chức Cục thuế tỉnh Hưng Yên (Trang 52)
Bảng 4.2 Đánh giá của cán bộ thanh tra thuế về công tác lập kế hoạch thanh - giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh hưng yên
Bảng 4.2 Đánh giá của cán bộ thanh tra thuế về công tác lập kế hoạch thanh (Trang 63)
Sơ đồ 4.1  Quy trình thanh tra thuế tại trụ sở NNT - giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh hưng yên
Sơ đồ 4.1 Quy trình thanh tra thuế tại trụ sở NNT (Trang 64)
Bảng 4.4 Kết quả thực hiện kế hoạch thanh tra thuế tại các doanh nghiệp - giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh hưng yên
Bảng 4.4 Kết quả thực hiện kế hoạch thanh tra thuế tại các doanh nghiệp (Trang 70)
Bảng 4.5 Đánh giá của cán bộ thanh tra thuế về công tác triển khai thực - giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh hưng yên
Bảng 4.5 Đánh giá của cán bộ thanh tra thuế về công tác triển khai thực (Trang 71)
Bảng 4.6  Kết quả cấp, quản lý mã số thuế của Cục thuế tỉnh - giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh hưng yên
Bảng 4.6 Kết quả cấp, quản lý mã số thuế của Cục thuế tỉnh (Trang 74)
Bảng 4.9 kết quả đánh giá của cán bộ thanh tra thuế và các doanh nghiệp về - giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh hưng yên
Bảng 4.9 kết quả đánh giá của cán bộ thanh tra thuế và các doanh nghiệp về (Trang 83)
Bảng 4.10 Bảng tổng hợp kết quả truy thu các loại thuế qua công tác thanh tra thuế - giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh hưng yên
Bảng 4.10 Bảng tổng hợp kết quả truy thu các loại thuế qua công tác thanh tra thuế (Trang 85)
Bảng 4.11 Kết quả đánh giá của cán bộ thanh tra thuế và các doanh nghiệp - giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh hưng yên
Bảng 4.11 Kết quả đánh giá của cán bộ thanh tra thuế và các doanh nghiệp (Trang 95)
Bảng 4.13 Tình hình thực hiện kế hoạch thanh tra NNT 2011-2013 - giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh hưng yên
Bảng 4.13 Tình hình thực hiện kế hoạch thanh tra NNT 2011-2013 (Trang 97)
Bảng 4.17 Tình hình nợ thuế của NNT sau thanh tra 2011-2013 - giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh hưng yên
Bảng 4.17 Tình hình nợ thuế của NNT sau thanh tra 2011-2013 (Trang 105)
Bảng 4.18 Kết quả đánh giá của cán bộ thanh tra thuế về nguyên nhân nào - giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh hưng yên
Bảng 4.18 Kết quả đánh giá của cán bộ thanh tra thuế về nguyên nhân nào (Trang 107)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w