Giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai nhằm giải quyết các mâu thuẫn, bức xúc trong quan hệ đất đai, liên quan tới nhiều các quy định pháp luật, các quan hệ xã hội phức tạp và quyền lợi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
NGUYỄN KIM CÚC
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI,
TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẠ LONG,
TỈNH QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2010-2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
NGUYỄN KIM CÚC
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI,
TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẠ LONG,
TỈNH QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2010-2014
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ : 60.85.01.03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS HỒ THỊ LAM TRÀ
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 3Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi Tất cả các số liệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất
kỳ luận văn nào khác Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả sự giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện tốt luận văn này
Hà Nội, ngày 6 tháng 6 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Kim Cúc
Trang 4Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, tôi xin chân thành cảm ơn Quý Thầy - Cô giáo Học viện Nông nghiệp Việt Nam và Khoa Quản lý Đất đai đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo, PGS.TS Hồ Thị Lam Trà
người hướng dẫn khoa học tận tình, chu đáo và đã giúp đỡ rất nhiều để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn cán bộ, công chức thuộc Thanh tra tỉnh Quảng Ninh, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh, Sở Tài chính tỉnh Quảng Ninh, Thanh tra thành phố Hạ Long, Ban tiếp dân thành phố Hạ Long, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Hạ Long, Phòng Nội vụ thành phố Hạ Long, UBND các phường và nhân dân trên địa bàn thành phố Hạ Long đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu để thực hiện luận văn tốt nghiệp này
Tôi xin cảm ơn cơ quan, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ để tôi hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 6 tháng 6 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Kim Cúc
Trang 5Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iv
1.1.2 Một số khái niệm trong quản lý đất đai liên quan đến vấn đề nghiên
1.1.4 Một số vấn đề chủ yếu phát sinh khiếu nại, tố cáo về đất đai trong
1.2 Kinh nghiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo của một số nước trên thế giới 14
1.2.2 Kinh nghiệm về khiếu nại và giải quyết khiếu nại hành chính tại
1.2.3 Kinh nghiệm về khiếu nại và giải quyết khiếu nại hành chính tại
1.3 Cơ sở thực tiễn và tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai ở Việt
1.3.1 Cơ sở thực tiễn và tính pháp lý về giải quyết khiếu, tố cáo về đất đai
1.3.2 Tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai ở Việt Nam 29 1.3.3 Tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn tỉnh
Trang 6Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page v
2.3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 36 2.3.2 Tình hình khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh từ 01/01/2010 đến 31/12/2014 36 2.3.3 Đánh giá thực trạng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh từ 01/01/2010 đến
2.3.4 Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao khả năng giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai của thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới 36
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu sử dụng phần mềm vi tính 37
3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và tình hình quản lý nhà nước về đất đai của thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 38
3.2 Tình hình khiếu nại, tố cáo trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 52 3.2.1 Tình hình khiếu nại, tố cáo trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh
3.2.2 Nguyên nhân dẫn đến khiếu nai, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành
Trang 7Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vi
3.3 Đánh giá công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn
3.3.1 Kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai 69 3.3.2 Đánh giá công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai 73 3.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 75 3.4.1 Hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật đất đai và giải quyết KNTC 75 3.4.2 Nâng cao công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện 77 3.4.3 Xây dựng cơ cấu tổ chức hợp lý và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ 78 3.4.4 Đầu tư kinh phí cho giải quyết KNTC và đầu tư khoa học công
3.4.5 Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật 79 3.4.6 Một số giải pháp bổ sung nhằm hạn chế phát sinh khiếu nại, tố cáo 80
PHỤ LỤC
Trang 8Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vii
3.11 Tổng hợp việc khiếu nại, tố cáo và tình hình gửi đơn đến cấp có thẩm
quyền giải quyết của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn thành phố 71
Trang 9Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page viii
3.12 Tổng hợp kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai cho hộ gia
3.13 Tổng hợp ý kiến của hộ gia đình, cá nhân có đơn KN, TC về đất đai
đối với kết quả giải quyết của cơ quan có thẩm quyền 73 3.14 Tổng hợp giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo
Trang 10Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page ix
DANH MỤC HÌNH
3.3 Phòng làm việc của Ban tiếp dân thành phố Hạ Long 60
Trang 11Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page x
Trang 12Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1
MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
“Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân” Điều này đã được Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013 quy định Khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai diễn ra thường xuyên, phức tạp, nhạy cảm ảnh hưởng lớn đến tình hình an ninh, kinh tế, chính trị của mỗi địa phương
Trong những năm gần đây số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai có chiều hướng gia tăng Theo thống kê của Thanh tra nhà nước, hàng năm có khoảng 10 vạn vụ việc khiếu kiện liên quan đến đất đai, chiếm 70% tổng số vụ việc khiếu kiện của công dân được gửi đến cơ quan nhà nước Trong các khiếu kiện về đất đai, thì khiếu kiện về giải tỏa đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất chiếm phần lớn trong tổng số các vụ kiện Ngoài ra là Khiếu nại đòi lại đất cũ, tranh chấp đất đai trong nhân dân qua các thời kỳ nhưng chưa được giải quyết dứt điểm; Khiếu nại về nhà ở (đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ, đòi nhà thuộc diện thực hiện các chính sách của Nhà nước về quản lý nhà; Khiếu nại về chính sách xã hội; khiếu nại trong hoạt động tư pháp Nội dung tố cáo chủ yếu là tố cáo cán bộ mất dân chủ, lợi dụng chức quyền để tham nhũng trong quản lý, sử dụng đất đai, trong quản lý tài chính, ngân sách nhà nước; trù dập người khiếu kiện, bao che cho cán bộ dưới quyền; cố ý làm sai lệch hồ sơ, áp dụng pháp luật không đúng trong hoạt động tố tụng, gây thiệt hại quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai là nội một trong những nội dung quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về đất đai Giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai nhằm giải quyết các mâu thuẫn, bức xúc trong quan hệ đất đai, liên quan tới nhiều các quy định pháp luật, các quan hệ xã hội phức tạp và quyền lợi của người dân, tổ chức Do đó đây là vấn đề quan tâm của toàn xã hội Đề giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai chính xác, công bằng, thấu tình, đạt lý đòi hỏi
Trang 13Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 2
tổng hợp nhiều yếu tố (sự hoàn thiện của hệ thống văn bản pháp luật; nâng cao chất lượng bộ máy cơ quan hành chính Nhà nước về đất đai, cơ quan Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; làm tốt công tác tiếp công dân, tổ chức tuyên truyền, phổ biến giáo dục về đất đai cho người dân )
Thành phố Hạ Long là trung tâm văn hóa, kinh tế chính trị của tỉnh Quảng Ninh là đô thị loại I trực thuộc tỉnh, với diện tích đất tự nhiên 271,95 km² và là thành phố du lịch có tỷ lệ phát triển dân số nhanh nhất là tỷ lệ tăng dân số cơ học Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai thành phố Hạ Long từ năm 2010 đến nay đã đạt được những kết quả nhất định, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn tồn tại một số hạn chế và bất cập trong công tác này như: hệ thống văn bản pháp luật chưa hoàn thiện, thiếu sự thống nhất gây khó khăn trong thực hiện; lực lượng cán bộ giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai còn thiếu, còn yếu về chuyên môn, vẫn xảy ra tình trạng khiếu nại, tố cáo về đất đai kéo dài do chưa được giải quyết thấu tình, đạt lý
Xuất phát từ những vấn đề mang tính thực tiễn nêu trên, được sự nhất trí của Khoa Quản lý đất đai - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội và sự hướng
dẫn của PGS.TS Hồ Thị Lam Trà, chúng tôi chọn đề tài: “Đánh giá thực trạng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010-2014” để xây dựng Luận văn thạc sỹ
nông nghiệp chuyên ngành Quản lý đất đai
2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích của đề tài
- Phân tích, đánh giá được thực trạng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh từ ngày 01/01/2010 đến 31/12/2014 nhằm chỉ ra những mặt làm được, những mặt chưa làm được, tìm ra nguyên nhân dẫn đến tình trạng khiếu nại, tố cáo trên địa bàn nghiên cứu
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý đất đai trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Trang 14Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 3
2.2 Yêu cầu của đề tài
- Các thông tin, số liệu, tài liệu điều tra phải trung thực, chính xác
- Các giải pháp thiết thực, phù hợp với đặc điểm của địa phương nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố
Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Trang 15Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 4
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở lý luận về khiếu nại, tố cáo về đất đai
1.1.1 Khái quát về khiếu nại, tố cáo về đất đai
- Khiếu nại: là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức
theo thủ tục của pháp luật quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình (Quốc hội, 2011a)
Để giám sát các hoạt động của bộ máy nhà nước và giải quyết các khiếu nại của nhân dân, ngay sau khi giành được chính quyền, ngày 23 tháng 11 năm
1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 64/SL thành lập Ban thanh tra đặc biệt với nhiều nhiệm vụ quan trọng, điểm hình là Ban thanh tra đặc biệt có toàn quyền “ nhận các đơn khiếu nại của nhân dân…" Đồng thời Sắc lệnh này cũng quy định Ban thanh tra đặc biệt có “…ủy nhiệm là đi giám sát tất cả các công việc
và các nhân viên của Ủy ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ" Ban thanh tra đặc biệt có trách nhiệm thường xuyên nghiên cứu và giải quyết các khiếu nại, phản ánh của các tầng lớp nhân dân từ khắp các địa phương gửi lên chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh… Như vậy, khiếu nại trong Sắc lệnh số 64/SL là khiếu nại của nhân dân với chính quyền khi có căn cứ cho rằng cán bộ, nhân viên nhà nước đang làm việc trong bộ máy chính quyền có những hành vi vi phạm pháp luật hoặc
vi phạm quyền lợi của mình Quy định như vậy là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của nhân dân tránh những việc làm sai trái của cán bộ hoặc cơ quan nhà nước, điều này phản ánh bản chất tốt đẹp của Nhà nước ta, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á (Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật – Bộ tư pháp, 2012b)
- Giải quyết khiếu nại: là việc cơ quan Nhà nước thụ lý, xác minh, kết luận
và ra quyết định giải quyết khiếu nại Người giải quyết khiếu nại là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật (Quốc hội, 2011a)
Trang 16Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 5
- Tố cáo: là việc công dân theo thủ tục của pháp luật quy định báo cho cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất
cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân (Quốc hội, 2011b)
Tố cáo xuất hiện khi xã hội có phân chia giai cấp và đặc biệt được thừa nhận khi Nhà nước ra đời Trong mỗi thời đại, ở mỗi chế độ xã hội khác nhau, khi có hành vi xâm phạm lợi ích của tập thể, của cá nhân thì mọi người đều có quyền đưa vụ việc đó đến cơ quan đại diện cho giai cấp thống trị để yêu cầu giải quyết Khi Nhà nước ra đời, Nhà nước thừa nhận tố cáo là quyền của công dân, quyền này được ghi nhận trong các văn bản pháp luật (Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật – Bộ tư pháp, 2012a)
- Giải quyết tố cáo: là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận,
xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và việc xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo (Quốc hội, 2011b)
- Khiếu nại, khiếu kiện về đất đai: Người sử dụng đất, người có quyền lợi
và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai (Quốc hội, 2013b)
- Giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai: Cá nhân có quyền tố cáo vi
phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai (Quốc hội, 2013b)
* Phân biệt giữa khiếu nại và tố cáo:
- Về chủ thể: nếu như khiếu nại cho phép công dân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại thì pháp luật chỉ cho phép công dân có quyền tố cáo
- Về thái độ xử lý: Khiếu nại không được khuyến khích nhưng tố cáo được khuyến khích: khiếu nại là đi đòi lại lợi ích cho mình nên pháp luật không đặt vấn đề khuyến khích trong khi đó về bản chất tố cáo là sự thể hiện trách nhiệm của công dân đối với xã hội, với nhà nước thông qua việc phát hiện những hành
vi vi phạm pháp luật, góp phần ngăn chặn xử lý hành vi vi phạm, tránh được những thiệt hại cho lợi ích của nhà nước, của xã hội và các cá nhân khác
- Không đặt vấn đề bảo vệ người khiếu nại nhưng bảo vệ người tố cáo lại được hết sức chú trọng
Trang 17Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 6
- Việc xử lý đơn không đúng thẩm quyền: Khiếu nại không đúng thẩm quyền thì người tiếp nhận không phải chuyển đơn trong khi đó tố cáo không đúng thẩm quyền thì người tố cáo vẫn phải xử lý thông tin: Việc xử lý đơn khiếu nại không đúng thẩm quyền có sự thay đổi kể từ Pháp lệnh 1991 Điều này được giải thích như sau: nếu như trước kia người dân dân gửi đơn không đúng thẩm quyền chủ yếu là do nhận thức không đúng và đa số các trường hợp họ cũng chỉ gửi đến một cơ quan, vậy nên nếu cơ quan nhận được nếu thấy không thuộc thẩm quyền của mình thì có trách nhiệm giúp người dân chuyển đơn đến cơ quan có thẩm quyền và báo cho người gửi đơn để họ biết và theo dõi việc giải quyết Việc gửi đơn không đúng thẩm quyền hiện nay lại không phải từ nguyên nhân đó mà
là do người khiếu nại muốn gây sức ép, dù biết rõ cơ quan có thẩm quyền giải quyết của mình nhưng ngoài việc gửi đơn đến cơ quan này họ có thể làm rất nhiều đơn (điều này hết sức dễ dàng với sự trợ giúp của các công cụ tin học), gửi đến rất nhiều cơ quan khác nhau của đảng và nhà nước, thậm chí gửi đến nhà riêng của các cán bộ lãnh đạo của địa phương và trung ương Việc chuyển đơn gây ra sự lãng phí và không cần thiết Với tố cáo thì khác, người dân vì lợi ích của nhà nước và xã hội mà phát hiện, thông báo với cơ quan nhà nước Họ không thể biết được hành vi vi phạm đến mức độ hành chính hay hình sự, thuộc thẩm quyền của cơ quan quản lý hay cơ quan tố tụng, thậm chí của cơ quan nhà nước hay tổ chức đảng, nên khi nhận được dù không thuộc thẩm quyền của mình thì cũng phải có trách nhiệm xử lý thông tin đó bằng cách chuyển đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết và nếu thấy cần thiết thì phải thông báo ngay cho cơ quan chức năng để ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm tránh thiệt hại có thể xảy ra
- Giải quyết khiếu nại phải có quyết định giải quyết trong khi tố cáo chỉ quy định vấn đề xử lý tố cáo: Quyết định giải quyết khiếu nại phải gửi cho người khiếu nại trong khi kết quả xử lý tố cáo được gửi cho người tố cáo chỉ khi họ có yêu cầu
- Khiếu nại có thời hiệu trong khi tố cáo không có thời hiệu: Khiếu nại là phản đối một quyết định hay hành vi đụng chạm đến lợi ích của mình nên trong tuyệt đại đa số các trường hợp người khiếu nại được nhận quyết định hoặc biết
Trang 18Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 7
được hành vi đó Pháp luật định ra một thời gian nhất định để họ suy nghĩ về căn
cứ và quyết định có nên phản đối quyết định, hành vi đó hay không Thời hiệu khiếu nại là 90 ngày Trong khi đó hành vi bị tố cáo không liên quan trực tiếp đến người tố cáo, thậm chí có những trường hợp họ chỉ biết hành vi đó một cách
vô tình rồi thông báo với cơ quan nhà nước để xử lý Vì thế không đặt vấn đề thời hiệu đối với tố cáo Tất nhiên nói như vậy không có nghĩa là mọi tố cáo nhận được đều buộc phải giải quyết mà căn cứ vào trường hợp cụ thể các cơ quan cơ trách nhiệm sẽ quyết định việc này, điều đó phụ thuộc vào khả năng giải quyết vụ việc Cơ quan nhà nước có thể không thụ lý trong những trường hợp quy định tại Điều 20 của Luật Tố cáo.(Đinh Văn Minh, 2013)
1.1.2 Một số khái niệm trong quản lý đất đai liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Quản lý Nhà nước về đất đai: Điều 53 của Hiến pháp nước Cộng hoà Xã
hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “Đất đai… thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” Và tại Điều 4 của Luật Đất đai 2013 cũng quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ
sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này” Điều này đã khẳng định được tính chất quan trọng của đất đai Đồng thời, đây là cơ sở pháp lý để Nhà nước thống nhất quản lý đất đai nhằm đưa chính sách quản lý và sử dụng đất đúng đối tượng, đúng mục đích và có hiệu quả Trong đó có nội dung về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong việc quản lý và sử dụng đất đai (Quốc hội, 2013a; Quốc hội, 2013b)
- Người sử dụng đất: Theo quy định tại Điều 5 của Luật đất đai 2013, bao
gồm: Tổ chức trong nước gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội
- nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức sự nghiệp công lập và tổ chức khác theo quy định của pháp luật về dân sự (sau đây gọi chung là tổ chức); Hộ gia đình, cá nhân trong nước (sau đây gọi chung là hộ gia đình, cá nhân); Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ; Cơ sở tôn giáo
Trang 19Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 8
gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và cơ sở khác của tôn giáo; Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của
tổ chức liên chính phủ; Người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo quy định của pháp luật về quốc tịch; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp Việt Nam mà nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại theo quy định của pháp luật về đầu tư (Quốc hội, 2013b)
- Thửa đất: là phần diện tích đất được giới hạn bởi ranh giới xác định trên
thực địa hoặc được mô tả trên hồ sơ (Quốc hội, 2013b)
- Nhà nước giao quyền sử dụng đất (Nhà nước giao đất): là việc Nhà nước
ban hành quyết định giao đất để trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu
sử dụng đất (Quốc hội, 2013b)
- Nhà nước cho thuê quyền sử dụng đất (Nhà nước cho thuê đất): là việc
Nhà nước quyết định trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất thông qua hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất (Quốc hội, 2013b)
- Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất: là việc Nhà nước trao quyền sử
dụng đất cho người đang sử dụng đất ổn định mà không có nguồn gốc được Nhà nước giao đất, cho thuê đất thông qua việc cấp giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu đối với thửa đất xác định (Quốc hội, 2013b)
- Nhà nước thu hồi đất: là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng
đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người
sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai (Quốc hội, 2013b)
- Bồi thường về đất: là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối
với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất (Quốc hội, 2013b)
Trang 20Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 9
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất: là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất (Quốc hội, 2013b)
- Giá đất: là giá trị của quyền sử dụng đất tính trên một đơn vị diện tích
đất (Quốc hội, 2013b)
- Giá trị quyền sử dụng đất: là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với
một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định (Quốc hội, 2013b)
- Tiền sử dụng đất: là số tiền mà người sử dụng đất phải trả cho Nhà nước
khi được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích
sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất (Quốc hội, 2013b)
1.1.3 Nội dung khiếu nại, tố cáo về đất đai
- Nội dung khiếu nại bao gồm:
+ Khiếu nại việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội;
+ Khiếu nại đòi lại đất cũ, tranh chấp đất đai trong nhân dân qua các thời
kỳ nhưng chưa được giải quyết dứt điểm;
+ Khiếu nại về nhà ở (đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ, đòi nhà thuộc diện thực hiện các chính sách của Nhà nước về quản lý nhà
+ Khiếu nại về cấp GCN; khiếu nại trong hoạt động tư pháp …
- Nội dung tố cáo chủ yếu là tố cáo cán bộ mất dân chủ, lợi dụng chức quyền để tham nhũng trong quản lý, sử dụng đất đai, trong quản lý tài chính, ngân sách nhà nước; trù dập người khiếu kiện, bao che cho cán bộ dưới quyền;
cố ý làm sai lệch hồ sơ, áp dụng pháp luật không đúng trong hoạt động tố tụng, gây thiệt hại quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
1.1.4 Một số vấn đề chủ yếu phát sinh khiếu nại, tố cáo về đất đai trong thời gian qua
Có rất nhiều vấn đề phát sinh khiếu nại, tố cáo về đất đai nói chung, nhưng chủ yếu vẫn tập trung vào các vấn đề sau đây:
Trang 21Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 10
- Có sự biến động lớn về chủ sử dụng đất:
Nhu cầu của người dân ngày càng cao và giá trị từ đất đem lại ngày càng tăng lên, cùng với những chính sách đất đai của từng thời kỳ có nhiều thay đổi đã dẫn đến những biến động lớn về chủ sử dụng đất Trải qua quá trình sử dụng đất nhiều thửa đất có nhiều chủ sử dụng đất khác nhau, mặt khác các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền không quản lý việc sử dụng đất một cách chặt chẽ đã phát sinh tình trạng khiếu nại, tố cáo về đất đai
- Sự bất cập của hệ thống chính sách pháp luật về đất đai:
Hệ thống pháp luật đất đai trong thời gian dài đã không giải quyết được một số quan hệ về đất đai, dẫn tới tồn đọng số vụ việc cần giải quyết và gây ra tình trạng những vấn đề giống nhau nhưng lại vận dụng chính sách đất đai khác nhau giữa các địa phương khi giải quyết
Từ chỗ pháp luật công nhận nhiều hình thức sở hữu đất đai chuyển sang quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, đến sau này quy định cho người sử dụng đất có đầy đủ các quyền, do vậy việc nắm bắt kịp thời các quy định pháp luật của cán bộ và người dân hạn chế, việc hiểu các quy định pháp luật cũng không đầy
đủ và quan niệm về chế độ sở hữu tư nhân về đất đai trong nhân dân vẫn còn tồn tại Việc ban hành văn bản pháp luật về đất đai theo từng giai đoạn lịch sử, phát triển của đất nước nên thiếu đồng bộ và còn chồng chéo, thiếu công bằng, người hưởng chính sách sau được lợi hơn người hưởng chính sách trước (có một số trường hợp những người chây ỳ, không chấp hành pháp luật được lợi hơn người chấp hành nghiêm pháp luật), từ đó dẫn đến việc khiếu nại, tố cáo về đất đai
Hệ thống pháp luật quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai thiếu tính đồng bộ Luật Khiếu nại, tố cáo và Luật Đất đai có các quy định không thống nhất trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân Cho đến nay, vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể về mối quan hệ trong giải quyết khiếu nại, tranh chấp giữa cơ quan hành chính và toà án nhân dân, giữa Bộ quản lý chuyên ngành và Thanh tra Chính phủ Thẩm quyền giải quyết giữa cơ quan hành chính và cơ quan toà án chưa cụ thể,
rõ ràng nên nhiều trường hợp người dân phải đi lại nhiều lần giữa Toà án nhân dân
và Ủy ban nhân dân nhưng vẫn không được tiếp nhận để giải quyết
Trang 22Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 11
Văn bản quy phạm pháp luật quy định về việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế tuy
đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần, nhưng còn nhiều vấn đề chưa được quy định
cụ thể, rõ ràng, nhất là xác định trường hợp được hoặc không được đền bù, xác định loại đất để đền bù
- Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng có nhiều bất cập:
Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa quyền của Nhà nước với tư cách là đại diện sở hữu toàn dân về đất đai và quyền của người sử dụng đất đã được pháp luật công nhận, dẫn tới quyền thu hồi đất của Nhà nước cao hơn quyền và lợi ích chính đáng của người sử dụng đất, đặc biệt là trong việc tạo vốn từ quỹ đất; định giá đất bồi thường, xử lý mối quan hệ giữa giá đất thu hồi với giá đất hàng năm
và tái định cư (thu hồi theo giá Nhà nước quy định quá thấp, giao đất tái định cư lại theo giá gần sát giá thị trường)
Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa lợi ích của xã hội với lợi ích của những người có đất bị thu hồi, thường chỉ chú trọng đến tính cấp thiết của việc giải phóng mặt bằng để có được dự án, chưa chú ý những vấn đề xã hội nảy sinh sau khi thu hồi đất, dẫn tới không bảo đảm điều kiện tái định cư, không có phương án tích cực về giải quyết việc làm cho người có đất bị thu hồi, nhất là đối với nông dân không còn hoặc còn ít đất sản xuất hoặc những người không còn việc làm như nơi ở cũ
Chưa giải quyết tốt mối quan hệ về lợi ích giữa nhà đầu tư cần sử dụng đất với người có đất bị thu hồi, thường chú trọng đến môi trường đầu tư, nóng vội giải phóng mặt bằng để giao đất, cho thuê đất Việc quy định giá đất quá thấp so với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường tuy có tác động tích cực tới việc khuyến khích nhà đầu tư nhưng lại gây ra những phản ứng gay gắt của những người có đất bị thu hồi
Việc chưa điều chỉnh kịp thời giá đất để tính bồi thường khi Nhà nước thực hiện dự án có liên quan đến nhiều tỉnh hoặc việc cho người có nhu cầu sử dụng đất phát triển các dự án tự thoả thuận bồi thường với người dân đang sử dụng đất, người được giao đất muốn giải phóng mặt bằng nhanh đã chấp nhận giá
Trang 23Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 12
bồi thường cao hơn quy định của Nhà nước làm cho mức đền bù chênh lệch trên cùng một khu vực, từ đó phát sinh khiếu nại
Việc thu hồi đất để phục vụ quy hoạch phát triển đô thị và các khu công nghiệp chưa tính toán đồng bộ, toàn diện, người dân bị thu hồi bồi thường giá trị thấp, việc chuyển đổi nghề nghiệp là rất khó khăn do trình độ hạn chế dẫn đến thất nghiệp, đời sống gặp nhiều khó khăn phát sinh ra khiếu nại, tố cáo
Nguyên nhân sâu xa của những biểu hiện nêu trên là chưa quán triệt và chấp hành nghiêm chỉnh quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về đất đai
- Công tác tổ chức thi hành pháp luật về đất đai còn hạn chế:
Việc áp dụng pháp luật về đất đai của một số cấp cơ sở còn nhiều bất cập, nhất là trong việc thu hồi đất, nhiều cấp cơ sở vẫn chưa nắm chắc những quy định mới của pháp luật về đất đai nên vẫn áp dụng những quy định cũ đã bị huỷ bỏ hoặc thay thế, nhiều trường hợp áp dụng trái với quy định Những bất cập này đã tạo nên những vụ việc khiếu nại, tố cáo về đất đai
Công tác quản lý đất đai cũng còn nhiều bất cập, hồ sơ địa chính chưa đảm bảo, không đủ cơ sở cho việc quản lý đất đai Công tác quy hoạch sử dụng đất chậm, việc chỉnh lý biến động đất đai không được theo dõi, cập nhật thường xuyên dẫn đến việc tham mưu không đầy đủ, thiếu chính xác trong việc quy hoạch, thu hồi đất và giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai
Qua từng giai đoạn, nhiều địa phương cấp xã chưa có quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất chi tiết, dẫn tới việc tuỳ tiện trong giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất
Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn chậm, chưa cơ bản hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với tất cả các loại đất theo chủ trương của Đảng và Nhà nước Mặt khác một số trường hợp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không chính xác cũng là nguyên nhân phát sinh khiếu nại, tố cáo về đất đai
Công tác thanh tra, kiểm tra đã được thực hiện tại các cấp, các ngành, địa phương trong tỉnh chưa triệt để, trong đó công tác hậu kiểm đối với các dự án, công trình sau khi được giao đất, cho thuê đất ít được chú ý Tình trạng sử dụng
Trang 24Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 13
đất không đúng mục đích, không đúng tiến độ ít được phát hiện và xử lý kịp thời Việc thanh tra kiểm tra thực hiện chế độ công vụ và xử lý những vi phạm của cán
bộ, công chức trong công tác quản lý và sử dụng đất đai chưa được đặt ra một cách cụ thể, tích cực
- Sự bất cập trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai:
Trong tổ chức thực hiện pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai một số đơn vị cơ sở chưa làm tốt, chưa hướng dẫn cụ thể theo pháp luật đối với người khiếu nại, tố cáo dẫn đến người khiếu nại, tố cáo đi hết nơi này đến nơi khác, cùng một nội dung nhưng gửi đi rất nhiều cơ quan Một số vụ việc đã có kết luận hoặc quyết định giải quyết nhưng trong tổ chức thi hành lại phát sinh những khiếu nại, tố cáo mới phức tạp hơn
Đất đai là vấn đề phức tạp, đã và đang phát sinh nhiều khiếu kiện, nhưng
tổ chức và cơ chế giải quyết khiếu kiện thiếu ổn định và nhìn chung bất cập so với yêu cầu thực tế Giải quyết một vụ khiếu nại, tố cáo đòi hỏi phải có các bước điều tra, nghiên cứu, kết luận và thi hành kết luận, trong khi đó đội ngũ những người am hiểu pháp luật, có nghiệp vụ chuyên sâu hiện nay chủ yếu là kiêm nhiệm Khiếu nại, tố cáo về đất đai chủ yếu nảy sinh ở cấp huyện nhưng bộ máy thụ lý ở cấp này lại không tương ứng Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp là người chủ trì, chịu trách nhiệm chính về quyết định giải quyết khiếu nại nhưng lại phải
lo mọi việc của địa phương nên khó có điều kiện chuyên tâm về việc này Đây cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo chậm chạp, thiếu dứt điểm, chất lượng thấp
Trong quá trình giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo về đất đai nhiều nơi chưa nghiên cứu kỹ các quy định của pháp luật, nên có những trường hợp áp dụng chưa phù hợp Nhiều vụ việc tồn đọng mà nếu giải quyết thì sẽ kéo theo nhiều trường hợp tương tự khác cũng phải giải quyết, nhưng không giải quyết thì người khiếu nại không chấp nhận Nhiều trường hợp đã giải quyết theo đúng quy định của pháp luật nhưng người dân vẫn tiếp tục có ý kiến
Việc phân công thực hiện nhiệm vụ tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc giải quyết các vụ khiếu nại, tố cáo về đất đai chưa thống nhất, có vụ
Trang 25Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 14
việc giao cho Thanh tra tỉnh chủ trì, có vụ việc giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì; ở cấp huyện giao cho Thanh tra huyện hoặc giao cho Phòng Tài nguyên và Môi trường, thậm chí có nơi vừa giao cho Thanh tra vừa giao cho cơ quan Tài nguyên và Môi trường Tình trạng này đã gây khó khăn lúng túng trong việc xác định thẩm quyền tham mưu giải quyết
Việc phối hợp giải quyết khiếu nại về đất đai giữa các cơ quan có thẩm quyền chưa được chặt chẽ và thống nhất, vẫn còn tình trạng đùn đẩy trách nhiệm,
có nhiều vụ việc ý kiến khác nhau Trước những vấn đề phức tạp đã không nghiên cứu kỹ chính sách, pháp luật và vận dụng cụ thể vào tình hình thực tế để giải quyết
- Một số vấn đề khác:
Do sự thiếu gương mẫu, sa sút về phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán
bộ, công chức dẫn đến tình trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai không đúng đắn, không chính xác, trái với quy định của pháp luật
Do sự thiếu hiểu biết và thiếu ý thức chấp hành pháp luật, một bộ phận người dân chưa nhận thức đầy đủ các quy định của pháp luật nên khiếu nại, tố cáo gay gắt đối với những trường hợp đã được giải quyết đúng pháp luật Một số trường hợp lợi dụng việc khiếu nại, tố cáo để kéo dài thời gian, không chấp hành quyết định giải quyết đã có hiệu lực pháp luật Nhiều trường hợp cố tình gây rối, coi thường pháp luật và chống đối người thi hành công vụ nhưng chưa được xử
lý nghiêm minh Trong khi đó, trên thực tế không có điểm dừng về giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai
1.2 Kinh nghiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo của một số nước trên thế giới
1.2.1 Kinh nghiệm về mô hình giải quyết
Trên thực tế, việc giải quyết khiếu nại, khiếu kiện ở một số nước do mô hình tổ chức phù hợp đã dẫn tới những thành công trong hoạt động giải quyết
KN, KKHC như Hoa Kỳ, canađa, Pháp Với lý do trên, việc tham khảo các mô hình giải quyết khiếu nại, khiếu kiện hành chính (tài phán hành chính) ở một số nước trên thế giới sẽ có những tác dụng nhất định cho việc sửa đổi Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Tố tụng hành chính cũng như sửa đổi một bước căn bản
Trang 26Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 15
phương thức giải quyết khiếu nại, khiếu kiện hành chính nhằm tiến tới ổn định các vấn đề XH trong cả nước
a Cơ chế giải quyết khiếu nại nội bộ
Hầu hết các nước trên thế giới hiện nay đều có cơ chế giải quyết khiếu nại nội bộ, theo đó cơ quan cấp trên trực tiếp xem xét lại quyết định của cơ quan cấp dưới liên quan đến khiếu nại Ở Anh, Mỹ, Úc, Canada có các tổ chức hành chính phi tố tụng hoặc các “cơ quan” nằm trong các bộ có nhiệm vụ giải quyết các khiếu nại hành chính của người dân Quyết định giải quyết của các “cơ quan” này có thể bị khởi kiện tại toà án tư pháp nhưng trên thực tế, phần lớn các tranh chấp tìm ra được giải pháp trong giai đoạn hành chính mà không phải đưa ra kiện tụng trước toà
Tuy nhiên, cơ chế này mang lại những kết quả khác nhau: Một mặt, nó không tốn kém và có thể nhanh chóng Song, kinh nghiệm cho thấy, cơ quan cấp trên có xu hướng đồng tình với quyết định của cơ quan cấp dưới, chẳng hạn ở Anh, năm 2005, 77% số đơn khiếu nại nội bộ về quyền tiếp cận thông tin bị bác
bỏ hoàn toàn
b Cơ quan độc lập giải quyết khiếu nại
Một số quốc gia thành lập cơ quan độc lập giải quyết khiếu nại như: Thanh tra Quốc hội; Cao ủy viên; các cơ quan chuyên biệt về một lĩnh vực; hoặc
cơ quan dạng bán tòa án
Hiện tại có khoảng 100 nước đã thành lập Thanh tra Quốc hội Cơ quan này được thành lập để bổ sung cho các cơ quan xét xử thông thường, với hình thức tổ chức đa dạng:
- Mô hình “cổ điển” của Thanh tra Quốc hội có thể thấy ở các nước Bắc
Âu và một số nước khác như Ba Lan, Hà Lan, Tây Ban Nha và Nam Mỹ
- Ở Hungary có mô hình Thanh tra nhân quyền,
- Ở Trung Mỹ chỉ thành lập các Ủy ban nhân quyền Còn tại các khu vực các nước nói tiếng Pháp, có thể thấy mô hình Thanh tra Quốc hội có chức năng trung gian Có các Thanh tra Quốc hội ở cấp quốc gia, cấp vùng
và địa phương
Trang 27Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 16
Tuy nhiên, dù theo hình thức nào thì Thanh tra Quốc hội đều có đặc điểm chung là đều là các thiết chế dân chủ dựa trên sự thừa nhận các quyền của các cá nhân và nguyên tắc pháp quyền Thanh tra Quốc hội thường không có thẩm quyền ra các quyết định bắt buộc, nhưng các kiến nghị của họ có ảnh hưởng lớn
và được tuân thủ
Một xu hướng ngày càng phổ biến trên thế giới là thành lập các cơ quan chuyên trách một lĩnh vực, trong đó có thẩm quyền tiếp nhận và giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đó Điều này xuất phát từ sự can thiệp ngày càng nhiều của các
cơ quan công quyền vào các hoạt động kinh tế - xã hội đã thúc đẩy những nước này tạo ra nhiều thiết chế chuyên biệt để giải quyết tranh chấp hành chính Nhiều
tổ chức với nhiều tên gọi khác nhau như các ban, uỷ ban có thẩm quyền giải quyết trong giai đoạn đầu các tranh chấp nảy sinh giữa công dân (hay người bị quản lý) với các cơ quan hành chính nhà nước
Trong khi đó, ở nhiều nước lại thành lập Ủy ban Thông tin là cơ quan do Quốc hội thành lập, hoặc cơ quan độc lập thuộc chính phủ, hoặc là một cơ quan hoàn toàn độc lập Năm 2006, có 22 nước thành lập cơ quan dạng này Ở một số nước như Pháp, Canada, cơ quan này có thẩm quyền tương tự như Thanh tra Quốc hội Ở Slovenia, Serbia, Ireland, Liên hiệp Anh, Ủy ban thông tin có quyền ban hành các quyết định có tính bắt buộc, trừ một số ít trường hợp
Ở Úc có Tài phán Phúc tra hành chính (Administrative Appeals AAT) có thẩm quyền xem xét lại các quyết định của các cơ quan hành chính dựa trên sự kiện, luật, chính sách và có thể ra quyết định mới bác bỏ, sửa đổi hoặc đồng ý với quyết định ban đầu của cơ quan hành chính
Tribunal-Tựu chung, dù theo mô hình nào, để cơ quan giải quyết khiếu nại hành chính hoạt động hiệu quả, cần có những yếu tố nhất định Trước hết, cơ quan này cần được độc lập, độc lập ngay từ lúc thành lập, tức là phải do cơ quan lập pháp thành lập hoặc phê chuẩn và bổ nhiệm với một quy trình minh bạch, thành viên phải là những người có uy tín về đạo đức, chuyên môn, không vướng víu về quyền lợi; có ngân sách hoạt động không do Chính phủ kiểm soát, văn phòng
Trang 28Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 17
riêng Bên cạnh đó,cơ quan này cần có những quyền lực thực tế như điều tra các đơn khiếu nại, triệu tập nhân chứng, thẩm vấn, và quan trọng là có quyền buộc các cơ quan công quyền phải làm hay không làm điều gì, ví dụ như phải cung cấp thông tin, dữ liệu; có thẩm quyền bác bỏ khiếu nại Về mặt thủ tục,cần có những quy định bảo đảm cho việc thuận tiện, nhanh chóng và ít tốn kém cho người khiếu nại Điều này nhằm bảo đảm mọi thành viên trong xã hội có điều kiện tiếp cận, từ đó khuyến khích họ thực thi quyền của mình
sẽ làm lẫn lộn giữa hai ngành hành chính và tư pháp
Một số nước châu Âu lục địa như Thuỵ Điển, Hy Lạp cũng theo hệ thống này Mô hình Pháp có ưu điểm: đối với người dân, so với việc kiểm tra có tính chất chính trị thì việc giải quyết khiếu kiện hành chính có tính khách quan hơn khi được thực hiện và bảo đảm bởi tính độc lập của một loại toà án Đối với
cơ quan hành chính, tính chuyên nghiệp của toà án hành chính khi việc xét xử được thực hiện bởi một toà án chuyên trách được đánh giá cao do có sự hiểu biết sâu sắc lĩnh vực quản lý công, tôn trọng các ưu quyền của cơ quan hành chính cần thiết cho sự vận hành và bảo đảm lợi ích chung Tuy nhiên, trong hệ thống của Pháp, có khá nhiều tranh chấp về thẩm quyền giữa toà án hành chính và toà
án tư pháp do có những điểm không thống nhất về thẩm quyền xét xử Nhiều văn bản liên quan đến pháp nhân công quyền đã trao thẩm quyền cho Toà án tư pháp
cả về những vụ việc kiện về lạm quyền hoặc bồi thường thiệt hại Chẳng hạn,
Trang 29Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 18
Luật ngày 31/12/1957 đã trao thẩm quyền cho toà án tư pháp xét xử các vụ việc bồi thường thiệt hại do các xe cộ của cơ quan nhà nước gây ra Hoặc Pháp lệnh ngày 01/12/1986 và Luật ngày 6/7/1987 liên quan đến quyền tự do cạnh tranh, Đạo luật ngày 02/8/1989 liên quan đến Uỷ ban Chứng khoán đã giao các tranh chấp loại này cho Toà án phúc thẩm Paris xét xử
- Mô hình hỗn hợp Là mô hình trao quyền xét xử về tính hợp pháp cho toà
án hành chính, còn thẩm quyền xét xử các vụ việc đòi bồi thường trong lĩnh vực hợp đồng lại thuộc về toà tư pháp như ở Đức, Ý, Hà Lan, Lucxămbua, Phần Lan
Về ưu điểm: sự phân chia thẩm quyền giữa hai ngành tài phán mang tính hợp lý hơn do: Cơ sở lý luận của nó là khi cơ quan hành chính hành động đơn thuần như một cá nhân thực hiện chẳng hạn, việc quản lý các hoạt động công nghiệp và thương mại, ký kết các hợp đồng dân sự hoặc gây ra các thiệt hại cho người nào đó thì phải được xem xét như một pháp nhân tư và thẩm quyền giải quyết tranh chấp thuộc về toà án tư pháp Ngược lại, khi cơ quan hành chính hành động với tư cách một pháp nhân công quyền, khi nó thực hiện những ưu thế của quyền lực công, như quyền lập quy, ban hành các văn bản bắt buộc thi hành thì việc kiểm tra tính hợp pháp của nó phải thuộc về cơ quan tài phán hành chính Tuy nhiên, hệ thống này cũng tồn tại những nhược điểm nhất định: sự phân chia thẩm quyền giữa khiếu kiện về tính hợp pháp và khiếu kiện về bồi thường đã tạo ra không ít khó khăn Chẳng hạn, khi trách nhiệm của cơ quan hành chính không phải xuất phát từ một hành vi thực tế mà lại xuất phát từ một văn bản trái pháp luật Trong trường hợp này, việc đánh giá tính hợp pháp của văn bản đó thuộc về cơ quan tài phán hành chính trong khi việc quyết định mức bồi thường lại thuộc về cơ quan tài phán tư pháp Như vậy, theo hệ thống này, hai loại khiếu kiện về tính hợp pháp và khiếu kiện đòi bồi thường là không rõ ràng, rành mạch
- Mô hình Anh-Mỹ: Các quốc gia theo hệ thống pháp luật Anh- Mỹ, các quốc gia châu Phi như Sênegan, Bờ Biển Ngà… lại trao thẩm quyền xét xử các khiếu kiện hành chính cho các toà tư pháp.Về hình thức, mô hình giải quyết
Trang 30Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 19
khiếu nại này đơn giản nên có nhiều ưu điểm do nó tạo sự gần gũi giữa toà án và những người đi kiện vì nó cho phép người kiện gửi đơn đến toà án tư pháp nên
về bản chất của tư pháp nó bảo đảm tính khách quan của hoạt động xét xử hành chính bởi toà án tư pháp không dính dáng gì đến cơ quan hành pháp Tuy nhiên, khi các toà án chỉ lo bảo vệ các quyền của cá nhân mà không biết đến nhu cầu quản lý công và không am hiểu về hoạt động hành chính công thì đây lại là một khó khăn cho việc bảo đảm quyền, lợi ích của nhà nước - là những lợi ích chung
mà cơ quan hành chính có trách nhiệm thực hiện Ngược lại, để bảo vệ những ưu quyền của mình, cơ quan nhà nước sẽ tìm cách hạn chế thẩm quyền của toà án trong các vụ việc khiếu kiện hành chính Trong xu hướng Nhà nước ngày càng can thiệp nhiều hơn vào lĩnh vực kinh tế - xã hội, pháp luật nhiều nước theo mô hình Anh-Mỹ đã thành lập trong cơ quan tài phán tư pháp bộ phận với các thẩm phán chuyên xét xử các tranh chấp hành chính như ở Tây Ban Nha đã lập ra các
“phân toà hành chính” trong các Toà án tư pháp Ở Sênêgan và Bờ Biển Ngà cũng đã lập ra một toà án cao cấp trong đó có phân toà chuyên xét xử về hành chính và có thẩm quyền kép: xét xử các khiếu kiện về tính hợp pháp của văn bản hành chính thông qua con đường tố tụng lạm quyền (le recour pour excès de pouvoir) và xét xử các khiếu kiện chống lại các quyết định của các toà án cấp dưới, bằng con đường phá án (giám đốc thẩm) Như vậy, trong nhóm các nước này xuất hiện các thẩm phán chuyên xét xử hành chính ngay trong lòng các toà
án tư pháp Mô hình này có xu hướng gần gũi với hệ thống giải quyết khiếu nại hỗn hợp Hiện nay có nhiều quan điểm về việc giải quyết khiếu kiện hành chính
ở Anh quốc so với Pháp và các nước theo hệ thống hỗn hợp như Đức, Ý nhanh chóng và hiệu quả hơn
Tuy nhiên, việc giải quyết các khiếu nại, khiếu kiện hành chính hiện nay ở mọi quốc gia còn tùy thuộc thể chế chính trị-hành chính đó mang tính dân chủ thực sự không, có vì con người hay không Bởi bất kỳ nhà nước nào nếu không xây dựng được những thiết chế dân chủ thì mọi cơ quan thiết lập ra đều không thể đại diện cho bất kỳ quyền lợi nào của người dân khi quyền và lợi ích của họ
Trang 31Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 20
bị nhà nước xâm hại
Trang 32Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 21
1.2.2 Kinh nghi ệm về khiếu nại và giải quyết khiếu nại hành chính tại Nhật Bản
Ở Nhật Bản, công dân có quyền khiếu nại bất cứ hành vi và quyết định nào của nhà nước kể cả các văn bản qui phạm pháp luật, các chính sách của nhà nước nếu như họ cho rằng những hoạt động đó ảnh hưởng bất lợi đến quyền và lợi ích của
họ Hệ thống các cơ quan tiếp nhận và giải quyết khiếu nại hành chính của Nhật Bản được tổ chức thực sự đầy đủ, toàn diện và linh hoạt ở cả hệ thống hành pháp, tư pháp và lập pháp đảm bảo bất cứ một khiếu nại nào của người dân cũng được xem xét thấu đáo và thoả đáng Hiến pháp của Nhật Bản cho phép người dân có quyền biểu thị chính kiến của mình bằng phương pháp trưng cầu dân ý về mọi lĩnh vực và đặc biệt là về sự tồn tại của chính quyền Nhật Bản theo chế độ tam quyền phân lập
và thực hiện sự phân cấp mạnh mẽ cho chính quyền địa phương Các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp thực hiện nguyên tắc pháp quyền là phân quyền mạnh mẽ và
có sự kiềm chế, kiểm soát trong việc thực hiện quyền lực nhà nước Thủ tướng có quyền bổ nhiệm chánh án tòa án tối cao nhưng đồng thời tòa án cũng độc lập và có quyền xem xét những hành vi vi phạm pháp luật của Thủ tướng Chánh án có quyền xem xét các đạo luật được ban hành nếu vi hiến và có thể ra quyết định hủy bỏ một đạo luật của quốc hội Quốc hội có quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm Thủ tướng và nội các nhưng đồng thời Thủ tướng cũng có quyền giải tán nghị viện Thủ tướng bổ nhiệm bộ trưởng và không cần có sự chấp thuận của nghị viện Các nghị sĩ làm việc theo chế độ chuyên nghiệp và không kiêm nhiệm Mỗi chính quyền địa phương có chế độ độc lập với chính quyền trung ương Thị trưởng do nhân dân bầu ra và cũng có thể bị miễn nhiệm nếu có chữ ký của một phần ba số dân và có sự xác nhận chữ ký đúng của ủy ban bầu cử địa phương thì phải tổ chức bầu cử lại và nếu bị hơn một nửa dân số không tán thành thì phải giải tán chính quyền để thành lập lại Như vậy, người dân có quyền trực tiếp quyết định vận mệnh của chính quyền Chính vì vậy, hầu hết các khiếu nại của người dân đều được giải quyết nhanh chóng và thỏa đáng Hệ thống các cơ quan giải quyết khiếu nại tùy theo từng địa phương có thể thành lập ra cơ quan thanh tra (Ombudsman) Có khoảng 32 địa phương thành lập ra cơ quan thanh tra để tiếp nhận và giải quyết các khiếu nại của địa phương.( Nguyễn Quốc Hiệp, 2013)
Trang 33Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 22
1.2.3 Kinh nghi ệm về khiếu nại và giải quyết khiếu nại hành chính tại Trung
Qu ốc
Trong 10 năm (từ năm 1999 đến 2009), Trung Quốc đã thụ lý 770.000 vụ việc khiếu nại hành chính, chỉnh sửa 110.000 quyết định hành chính, điều tiết hoà giải thành công 150.000 tranh chấp hành chính, hơn 85% vụ khiếu nại hành chính tại các cơ quan địa phương đã được giải quyết ổn thoả, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân Có thể thấy, sự phát triển nhanh về kinh tế dẫn đến nhiều tranh chấp trong xã hội, đặc biệt việc các cơ quan hành chính đưa ra quyết định về thu hồi đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng, bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, xử phạt hành chính…đã dẫn đến số lượng đơn khiếu nại hành chính ngày càng gia tăng Nếu như năm 2006 đơn khiếu nại hành chính lên Quốc Vụ viên Trung Quốc chỉ có 485 vụ, thì năm 2008 tăng lên 866 vụ (tăng 90% so 2006)
Không chỉ dừng lại ở việc người dân đưa đơn kiện tới đâu giải quyết tới
đó, từ năm 2009, Chính phủ Trung Quốc còn thí điểm xây dựng Uỷ ban giải quyết khiếu nại hành chính tại các tỉnh, thành phố lớn Uỷ ban giải quyết khiếu nại hành chính làm việc theo nguyên tắc tập trung quyền lực xử lý khiếu nại, đưa khiếu nại từ những đơn vị nhỏ lẻ tập trung xử lý, đưa những vụ việc quan trọng,
có ảnh hưởng lớn tập trung xử lý; đồng thời tiến hành kiểm tra giám sát, xử lý khiếu nại hành chính trong khu vực quản lý Uỷ ban giải quyết khiếu nại hành chính ban đầu chỉ thí điểm tại 8 tỉnh, sau đó mở rộng 12 tỉnh gồm 60 Uỷ ban lớn nhỏ khác nhau, và tỷ lệ sửa sai cho những quyết định hành chính đạt 47% trên toàn quốc Quốc vụ viện Trung Quốc cũng đưa ra quyết định tỉnh, thành phố nào
có khả năng xây dựng thí điểm Uỷ ban giải quyết khiếu nại hành chính thì tích cực thực thi, không chỉ gây được sự chú ý của các cơ quan hành chính mà các chuyên gia cũng vào cuộc tham gia trong thẩm tra khiếu nại Uỷ ban khiếu nại hành chính có vai trò tích cực trong minh bạch hành vi hành chính, công khai giải quyết khiếu nại, xoá bỏ những nghi hoặc vốn ăn sâu trong tiềm thức của
người dân Trung Quốc “làm quan thường bao che lẫn nhau”
Có thể thấy rõ kết quả giải quyết khiếu nại hành chính được nâng cao rõ
Trang 34Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 23
rệt Ví dụ tỉnh Hắc Long Giang trước đây chỉ sửa sai cho hành vi hành chính
là 8,9% nhưng từ khi thành lập Uỷ ban giải quyết khiếu nại hành chính từ năm
2009, tỷ lệ sửa sai đạt đến 47% Thành phố Trung Sơn tỉnh Quảng Đông, từ khi thực thi Uỷ ban giải quyết khiếu nại hành chính (tháng 4/2010), tỷ lệ thụ
lý đơn khiếu nại tăng lên gấp 3, cao gấp 20% số lượng thụ lý vụ án so với toà
án cùng cấp
Tuy nhiên, khiếu nại hành chính vẫn tồn tại những mặt cần phải hoàn thiện hơn nữa, số lượng tố tụng hành chính vẫn còn chiếm tỷ lệ cao so với khiếu nại hành chính Nhân dân nhiều nơi vẫn chưa biết đến cơ quan thụ lý giải quyết khiếu nại hành chính là các Uỷ ban giải quyết khiếu nại hành chính mà vẫn trực tiếp đứng ra tiến hành tố tụng hành chính tại toà án (Lê Thúy và Trần Hồng Quang, 2011)
1.3 Cơ sở thực tiễn và tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai ở Việt Nam và tỉnh Quảng Ninh
1.3.1 Cơ sở thực tiễn và tính pháp lý về giải quyết khiếu, tố cáo về đất đai ở Việt Nam
1.3.1.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và công tác chỉ đạo về giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai
Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, gắn với việc xây dựng bộ máy nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh Các Hiến pháp năm
1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và đến Hiến pháp năm 2013 đều ghi nhận quyền khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân và quy định việc khiếu nại, tố cáo phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng, trong thời hạn pháp luật quy định Vì vậy, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều Chỉ thị, Nghị quyết, văn bản pháp luật để không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai
Nhằm thể chế hóa quyền khiếu nại, tố cáo của công dân và trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo tạo cơ sở pháp
lý đầy đủ, vững chắc, góp phần phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội
Trang 35Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 24
chủ nghĩa, Nhà nước ta đã ban hành Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 Luật này
đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2004, 2005 Năm 2010 ban hành Luật Tố tụng hành chính Năm 2011, đã ban hành Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo Năm
2013 ban hành Luật Tiếp công dân Cùng với đó là các Nghị định và Thông tư hướng dẫn thi hành Luật
Trước tình hình khiếu nại, tố cáo về đất đai trong những năm gần đây không ngừng gia tăng và diễn biến phức tạp, Đảng và Nhà nước ban hành thêm nhiều văn bản để chỉ đạo, xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân với mục tiêu giải quyết kịp thời, dứt điểm không để khiếu nại vượt cấp, diễn biến phức tạp, khiếu nại đông người kéo dài
Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai đang là một thách thức đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Giải quyết dứt điểm, có hiệu quả vấn đề này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc duy trì sự ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương Đổi mới công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai, tiếp nhận ý kiến phản hồi từ tổ chức, cá nhân để hoàn thiện và xây dựng hệ thống quản lý đất đai (thể chế, bộ máy tổ chức), quan tâm thấu đáo lợi ích thiết thực của người dân để giải quyết tranh chấp khiếu nại, tố cáo về đất đai đạt hiệu quả cao, góp phần ổn định tình hình an ninh, chính trị xã hội là vấn đề cấp bách,
là yêu cầu đang đặt ra hiện nay đối với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
1.3.1.2 Việc ban hành các văn bản pháp luật của Nhà nước quy định về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai của các cơ quan hành chính Nhà nước
Để cụ thể hoá các chủ trương, chính sách của Đảng và tạo cơ sở pháp lý cho công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai từ năm 2004, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật từ Luật đến các Nghị định, Quyết định, Chỉ thị, Thông tư hướng dẫn và các văn bản quy định về trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan hành chính Nhà nước để áp dụng giải quyết các khiếu nại, tố cáo về đất đai Các văn bản đã được ban hành qua các thời kỳ, thể hiện sự thay đổi về cơ chế chính sách, theo hướng minh bạch, ngày càng có lợi hơn cho người dân, nhằm phù hợp với thực tiễn của từng giai đoạn và hướng đến sự thống nhất, khắc phục sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản pháp luật quy định
Trang 36Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 25
về vấn đề này
Hệ thống các văn bản pháp luật của cơ quan HCNN có thẩm quyền tại địa phương từ Nghị quyết đến Quyết định, Chỉ thị, Hướng dẫn được ban hành để cụ thể hóa việc thực hiện công tác giải quyết KN, TC về đất đai tại địa phương
1.3.1.3 Thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai hiện nay
Đề tài đề cập đến việc khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn thành phố Hạ Long của các cơ quan hành chính Nhà nước theo trình tự, thủ tục quy định của Luật Đất đai 2013, Luật khiếu nại 2011, Luật tố cáo 2011 và các văn bản hướng dẫn
- Về giải quyết khiếu nại:
Như chúng ta đã biết, theo Luật Khiếu nại, tố cáo trước đây khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì đầu tiên công dân, cơ quan, tổ chức phải khiếu nại đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có cán bộ, công chức có hành vi hành chính ( khiếu nại lần đầu) Có thể nói đây là một yêu cầu có tính bắt buộc đối với mọi trường hợp khiếu nại hành chính theo trình tự khiếu nại mà Luật khiếu nại quy định Nhìn chung, việc quy định trình tự khiếu nại như vậy là cứng nhắc, không phù hợp với thực tế và yêu cầu hội nhập quốc
tế, nó chưa tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình Đồng thời ở khía cạnh khác việc quy định có tính bắt buộc đối với mọi khiếu nại lần đầu phải thông qua con “ đường hành chính” như vậy đã vô tình làm tăng thên một số lượng lớn công việc cho các cơ quan hành chính nhà nước, trong khi công việc các cơ quan này đang có dấu hiệu của
sự quá tải
Với quan điểm xây dựng trình tự khiếu nại đơn giản, công khai, dân chủ
và có hiệu quả; phát huy quyền dân chủ của nhân dân; tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện có kết quả quyền khiếu nại; góp phần phát triển kinh tế, ổn định chính trị và trật tự xã hội; qua đó thực hiện tốt nhiệm
vụ quản lý nhà Nhà nước Đồng thời để khắc phục những hạn chế, bất cập của
Trang 37Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 26
Luật khiếu nại, tố cáo trước đây, Luật khiếu nại 2011 đã có những thay đổi mạnh
mẽ về trình tự khiếu nại theo hướng công khai, dân chủ, đơn giản và nhanh chóng hơn, với cơ chế khiếu nại linh hoạt tạo điều kiện thuận lợi cao nhất cho người khiếu nại Theo cơ chế này khi vụ việc khiếu nại hành phát sinh, công dân,
cơ quan, tổ chức có quyền chọn lựa cách giải quyết mà mình cho là hiệu quả, cụ thể là khiếu nại trực tiếp đến người có quyết định, hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án theo quy định của Luật tố tụng hành chính, không nhất thiết cứ phải khiếu nại tới người có quyết định, hành vi hành chính như trước đây; đồng thời cho phép công dân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện vụ kiện hành chính ở bất kỳ giai đoạn nào trong quá trình khiếu nại… Với tinh thần đó Luật khiếu nại đã quy định rõ trình tự khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính Việc quy định trình tự khiếu nại vừa tạo điều kiện thuận lợi cho công dân, cơ quan, tổ chức trong việc lựa chọn hình thức giải quyết có hiệu quả hơn khiếu nại của mình, đề cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tạo cơ hội tự sửa chữa của người có quyết định hành chính, hành vi hành chính khi bị khiếu nại và hơn hết là tạo ra cơ chế giải quyết khiếu nại khách quan công khai, minh bạch và kịp thời hơn Đối với trường hợp người khiếu nại khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án thì Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ việc theo quy định của Luật Tố tụng hành chính (Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật – Bộ tư pháp, 2012b)
Theo quy định hiện hành, thẩm quyền giải quyết khiếu nại cụ thể và trình
tự, thủ tục giải quyết khiếu nại được quy định tại Luật Khiếu nại năm 2011 (Quốc hội, 2011a)
- Về giải quyết tố cáo:
Việc giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ thì thẩm quyền giải quyết tố cáo được xác định theo nguyên tắc: tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức
do người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức đó giải quyết Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc
Trang 38Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 27
thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu
cơ quan, tổ chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan,
tổ chức đó giải quyết Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm
vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức thuộc thẩm quyền quản lý của nhiều
cơ quan, tổ chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý cán bộ, công chức, viên chức bị tố cáo phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan giải quyết
Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán
bộ, công chức, viên chức có dấu hiệu tội phạm do cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự
Đối với hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực thì thẩm quyền giải quyết tố cáo được quy định như sau: Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của cơ quan nào thì cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết Người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý được giao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Tố cáo có nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của nhiều cơ quan thì các cơ quan có trách nhiệm phối hợp để xác định thẩm quyền giải quyết hoặc báo cáo cơ quan quản lý nhà nước cấp trên quyết định giao cho một cơ quan chủ trì giải quyết; tố cáo có nội dung thuộc thẩm quyền giải quyết của nhiều cơ quan thì cơ quan thụ lý đầu tiên có thẩm quyền giải quyết Theo quy định hiện hành, thẩm quyền giải quyết tố cáo cụ thể và trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo được quy định tại Luật Tố cáo năm 2011 (Quốc hội, 2011b)
1.3.1.4 Cơ sở pháp lý liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai
- Hiến pháp 1993;
- Luật Khiếu nại, tố cáo ngày 02 tháng 12 năm 1998;
- Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003;
- Luật Khiếu nại, Tố cáo sửa đổi ngày 15 tháng 6 năm 2004;
- Luật Khiếu nại, Tố cáo sửa đổi ngày 29 tháng 11 năm 2005;
- Nghị định 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009 của Chính Phủ về xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai;
Trang 39Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 28
- Luật tố tụng hành chính ngày 24 tháng 11 năm 2010;
- Luật Khiếu nại ngày 11 tháng 11 năm 2011;
- Luật Tố cáo ngày 11 tháng 11 năm 2011;
- Nghị định 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ hướng dẫn Luật khiếu nại;
- Nghị định 76/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ hướng hướng dẫn Luật tố cáo;
- Thông tư 06/2013/TT-TTCP 30/9/2013 của Thanh tra Chính Phủ quy định quy trình giải quyết tố cáo;
- Thông tư 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính Phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính;
- Luật tiếp công dân ngày 25 tháng 11 năm 2013;
- Hiến pháp 2013;
- Luật Đất đai ngày 29 tháng 11 năm 2013;
- Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai;
- Nghị định 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về giá đất;
- Nghị định 45/2014/NĐ-CP 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước;
- Nghị định 46/2014/NĐ-CP 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước;
- Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
- Nghị định 64/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính Phủ hướng dẫn Luật Tiếp công dân;
- Thông tư 07/2014/TT-TTCP 31/10/2014 của Thanh tra Chính Phủ quy định quy trình xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn kiến nghị, phản ánh;
- Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính Phủ về xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Trang 40Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 29
1.3.2 Tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai ở Việt Nam
Tình hình khiếu nại, tố cáo diễn biến phức tạp và bức xúc ở nhiều nơi, có lúc, có nơi đặc biệt phức tạp, gay gắt, biểu hiện rõ nhất là: số đoàn đông người tăng mạnh, thái độ khiếu kiện thiếu kiềm chế, khiếu nại, tố cáo vượt cấp lên Trung ương gia tăng; tình trạng đơn thử gửi tràn lan mang tính chất phổ biến, nhất là trong các dịp có sự kiện chính trị (họp Trung ương, họp Quốc hội, Bầu cử Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Hội đồng nhân dân, Đại hội Đảng …)
- Có nhiều vụ việc phát sinh từ những năm trước, đã được các cấp chính quyền xem xét, giải quyết nhưng công dân vẫn không nhất trí tiếp tục khiếu kiện kéo dài, nhất là các vụ việc khiếu nại về thu hồi đất để thực hiện dự án tại các địa phương như TP Hà Nội, tỉnh Hưng Yên, Hà Nam, Hải Dương, Đắk Lắk, Đắk Nông, Thanh Hóa, An Giang, Tiền Giang, Bà Rịa-Vũng Tàu, Đồng Nai…, các
vụ việc đòi lại đất cũ, tranh chấp đất đai trong nội bộ nhân dân tại các địa phương như: Long An, Bến Tre, Tây Ninh, Bình Dương, TP Hồ Chí Minh …
- Có hiện tượng những người, nhóm người khiếu nại "liên kết" với nhau
để khiếu nại đông người nhằm tạo thêm sức ép lên các cơ quan Đảng và Nhà nước Đáng chú ý là trong một số trường hợp có sự xúi giục, kích động của các thế lực thù địch nhằm lôi kéo những người khi khiếu nại liên kết đông người có những hành vi quá khích, gây rối Tình hình khiếu nại, tố cáo nêu trên đã ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và tiềm ẩn những nguy cơ làm mất ổn định chính trị -
xã hội tại một số địa phương trong một số thời điểm Trong một số trường hợp đã xuất hiện những mâu thuẫn phát sinh giữa người dân với chính quyền, giữa người dân với nhà đầu tư Trong nhiều dự án, do tác động của tình hình khiếu nại, tố cáo nên đã làm cho dự án bị chậm triển khai, kéo dài nhiều năm, ảnh hưởng xấu đến phát triển kinh tế xã hội Một số vụ việc khiếu kiện người dân thể hiện thái độ sẵn sàng đối đầu, bất phục tùng chính quyền, thậm chí hăm dọa cán
bộ có trách nhiệm Điều đáng lo ngại là tình hình khiếu nại, tố cáo đã tác động tiêu cực vào tâm lý, hành động của cán bộ, vào đời sống xã hội và niềm tin của một bộ phận không nhỏ nhân dân, cán bộ đối với chính quyền, đòi hỏi phải được quan tâm chỉ đạo quyết liệt Nội dung khiếu nại của công dân tập trung chủ yếu