Vậy nên việc sử dụng truyện cườivào làm ngữ liệu dạy học trong các phân môn của môn Tiếng Việt ngoài việc phù hợp với tâm lí lứa tuổi, sự nhận thức của học sinh Tiểuhọc thì nó còn đem đế
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SỬ DỤNG TRUYỆN CƯỜI TRONG DẠY HỌC
“ LUYỆN CÂU ” VÀ “ CHÍNH TẢ ” Ở TIỂU HỌC
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Lê Thị Thanh Thủy
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Phượng
X B
Trang 2Hà Nội – 2015
LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến GS.TS Lê Phương Nga - người đã tận tình hướng dẫn, động viên và khích lệ tác giả hoàn thành luận văn từ lúc hình thành ý tưởng nghiên cứu cho đến lúc hoàn thiện đề tài luận văn.
Xin chân thành cảm ơn tất cả các thầy cô trong khoa Giáo dục Tiểu học đã truyền đạt những kiến thức qúy báu và cần thiết trong suốt thời gian
em học tập tại trường và tạo mọi điều kiện thuận lợi để em hoàn thành luận văn một cách tốt nhất.
Xin cảm ơn các anh/chị các khóa cao học trước, các bạn học trong lớp cao học K22 và các bạn sinh viên trong khoa đã quan tâm, động viên em trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu Cảm ơn các quý thầy cô đang tham gia giảng dạy ở Trường Tiểu học Ứng Hòe, Huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương đã chia sẻ kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy truyện cười với em, để em có thêm những thông tin, những tư liệu cần thiết hoàn chỉnh đề tài nghiên cứu của mình
Cuối cùng xin cảm ơn bạn bè và gia đình ba mẹ đã động viên ủng hộ, giúp đỡ
và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả trong suốt quá trình học tập
để hoàn thành luận văn
Hà Nội, tháng 9 năm 2014 Tác giả
Nguyễn Thị Ngân
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu về truyện cười 2
3 Mục đích nghiên cứu 8
4 Đối tượng nghiên cứu 9
5 Giả thuyết khoa học 9
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 10
7 Các phương pháp sử dụng 10
8 Đóng góp của luận văn 10
9 Phạm vi nghiên cứu 11
10 Cấu trúc của luận văn 12
CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG TRUYỆN CƯỜI TRONG DẠY HỌC “LUYỆN CÂU” VÀ “CHÍNH TẢ” 13
I Cơ sở lí luận 13
1 Giới thuyết về truyện cười 13
1.1 Khái niệm truyện cười 13
1.2 Một số đặc trưng cơ bản của truyện cười 14
1.3 Phân biệt truyện cười, truyện vui với chuyện vui 16
1.4 Phân loại của truyện cười 19
II Lợi thế của việc sử dụng truyện cười làm ngữ liệu trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học 21
1 Nhiều truyện cười phù hợp với mục tiêu dạy học tiếng Việt ở Tiểu học 22
1.1 Nguyên tắc giao tiếp trong dạy học tiếng Việt 22
1.2 Truyện cười góp phần giảng dạy môn Tiếng Việt theo hướng tích hợp 23
Trang 61.3 Ngữ liệu tối giản, súc tích 26
Trang 71.4 Ngữ liệu mang tính trực quan 271.5 Ngữ liệu tạo hứng thú cho học sinh 28
1 Thống kê truyện cười được sử dụng trong chương trình môn Tiếng Việt ở Tiểu học 30
2 Nhận xét về sử dụng truyện cười trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học 33
3 Về sự phân bố truyện cười trong các phân môn của môn Tiếng Việt. 34
CHƯƠNG II: XÂY DỰNG NGÂN HÀNG TRUYỆN CƯỜI ĐỂ DẠY HỌC “LUYỆN CÂU” VÀ “CHÍNH TẢ”Ở TIỂU HỌC 36
2 Nguyên tắc lựa chọn truyện cười trong dạy học “luyện câu” và “chính tả”ởTiểu học 362.1 Lựa chọn truyện cười phù hợp với mục tiêu dạy học “luyện câu” và
“chính tả”ở Tiểu học 362.2 Lựa chọn truyện cười đảm bảo yêu cầu giáo dục toàn diện cho học sinh Tiểu học 382.3 Lựa chọn truyện cười phải phù hợp, tạo được hứng thú và đặc điểm tâm líhọc sinh Tiểu học 39
1 Xây dựng ngân hàng truyện cười làm ngữ liệu cho dạy học luyện câu và chính tả ở Tiểu học 402.1 Xây dựng ngân hàng truyện cười dạy luyện câu 412.2 Xây dựng ngân hàng truyện cười để dạy dấu câu 432.3 Xây dựng ngân hàng truyện cười để dạy kiểu câu( câu cảm, câu kể, câu hỏi, câu khiến) 462.4 Xây dựng ngân hàng truyện cười để dạy nhận diện, phân tích cấu tạo thành phần trong câu đơn, câu ghép (trạng ngữ, chủ ngữ, vị ngữ) 47
3 Xây dựng ngân hàng truyện cười để dạy học chính tả 503.1 Xây dựng ngân hàng truyện cười dạy chính tả âm/vần/thanh 50
Trang 83.2 Xây dựng ngân hàng truyện cười làm ngữ liệu để dạy quy tắc viết hoa 54
Trang 9CHƯƠNG III: SỬ DỤNG NGÂN HÀNG TRUYỆN CƯỜI LÀM NGỮ LIỆU DẠY HỌC CÁC TRI THỨC, KĨ NĂNG “LUYỆN CÂU”
VÀ “CHÍNH TẢ”Ở TIỂU HỌC 57
I Sử dụng ngân hàng truyện cười làm ngữ liệu dạy học các tri thức, kĩ năng “luyện câu” và “chính tả”ở Tiểu học 57
1 Sử dụng truyện cười làm ngữ liệu để xây dựng bài tập luyện câu 57
1.1 Sử dụng truyện cười làm ngữ liệu xây dựng bài tập dạy dấu câu 57
1.1.1 Sử dụng truyện cười làm ngữ liệu để xây dựng bài tập dạy các kiểu câu 59
1.1.2 Sử dụng truyện cười làm ngữ liệu để xây dựng bài tập hiểu và ghi nhớ các từ trừu tượng, khó hiểu trong câu 61
1.1.3 Sử dụng truyện cười làm ngữ liệu để xây dựng bài tập nhận diện, phân tích cấu tạo thành phần trong câu (trạng ngữ, chủ ngữ, vị ngữ) 62
2 Sử dụng truyện cười làm ngữ liệu để xây dựng bài tập chính tả 63
2.1 Truyện cười được sử dụng làm ngữ liệu để xây dựng bài tập chính tả có từ chứa tiếng/ âm/vần/thanh dễ lẫn, âm đầu có nhiều cách ghi( ch/tr, l/n, ng/ngh, d/gi/r) 63
2.3 Truyện cười được sử dụng làm ngữ liệu để xây dựng bài tập dạy quy tắc viết hoa 66
2.3.1.Quy tắc viết hoa tên địa lí 66
2.3.2 Quy tắc viết hoa tên người 67
II Sử dụng tổ hợp bài tập dạy học các tri thức, kĩ năng Tiếng Việt 67
1 Mục đích và nhiệm vụ, nội dung, tổ chức thực hiện và đánh giá kết quả thực nghiện sư phạm 67
1.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 67
1.2 Nội dung và quy trình tiến hành thử nghiệm sư phạm 68
Trang 101.3 Tổ chức thực nghiệm 69 1.3.1 Giáo án minh họa môn Chính tả lớp 2 69
Trang 11I/ Mục đích, yêu cầu : 69
II/ Đồ dùng dạy - học : 69
1.3.2 Giỏo ỏn minh họa mụn Luyện từ và cõu lớp 5 72
1.4 Kết quả thử nghiệm 74
2 Một vài chỉ dẫn sử dụng truyện cười trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học 75
2.1 Mở rộng phạm vi sử dụng truyện cười 75
2.2 Sử dụng truyện cười để giới thiệu bài, nội dung bài học 75
2.3 Sử dụng truyện cười để củng cố nội dung bài học 78
2.4 Sử dụng truyện cười trong kiểm tra, đỏnh giỏ kết quả học tập 79
PHẦN KẾT LUẬN 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 15PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Tiếng Việt là bộ môn quan trọng trong nhà trường phổ thông Nócung cấp cho học sinh những tri thức về hệ thống Tiếng Việt với tư cách làcông cụ để giao tiếp và tư duy, rèn luyện kĩ năng sử dụng Tiếng Việt và nănglực hoạt động ngôn ngữ, qua đó góp phần rèn luyện nhân cách con người.Môn Tiếng Việt còn có nhiều nội dung phong phú, trong đó truyện cười làmột nét ưu việt của chương trình - sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học Trongvăn học nói chung và văn học thiếu nhi nói riêng thì truyện cười có một vị tríquan trọng với những biểu hiện đặc trưng cơ bản như cốt truyện đơn giản, íttình tiết nhưng lại rất chặt chẽ, rõ ràng, dễ hiểu và đặc biệt là luôn có yếu tố,tình tiết bất ngờ hay những tình tiết kết thúc đột ngột …chính vì thế đã tạonên niềm say mê, hứng thú học tập cho các em học sinh Tiểu học
Theo các nhà tâm lí học, phát triển trí tuệ, nhân cách cho trẻ không cónghĩa là nhồi nhét kiến thức kinh điển hay thuần tuý mà trước hết phải tạo chotrẻ sự tò mò để kích thích trí tưởng tượng nhằm tạo điều kiện để em nảy nởcảm xúc, tự do phát triển tâm hồn, tư duy Vậy nên việc sử dụng truyện cườivào làm ngữ liệu dạy học trong các phân môn của môn Tiếng
Việt ngoài việc phù hợp với tâm lí lứa tuổi, sự nhận thức của học sinh Tiểuhọc thì nó còn đem đến cho học sinh tiếng cười nhẹ nhàng, thú vị, sinh động.Đồng thời phát triển cho các em về nhiều mặt như trí tuệ, ngôn ngữ, óc hàihước, lòng nhân hậu,… kích thích các em sự hiếu kỳ, tìm tòi đọc các loại sáchnhiều hơn để cảm nhận cái hay, cái thú vị của cuộc sống thông qua những câuchuyện vui, truyện cười Song song với điều đó là phát triển về nhân cách,đạo đức, hình thành lối sống phù hợp cho học sinh
1.2 Hiện nay, qua thực tiễn dạy học chúng tôi thấy trong chương trìnhsách giáo khoa có số lượng truyện cười được dùng làm ngữ liệu dạy mônTiếng Việt còn rất ít, có phần hạn chế, chưa đủ đáp ứng nhu cầu cho các emtrong việc học Hơn nữa các ngữ liệu truyện cười được đưa vào chương trình
Trang 16sách giáo khoa cũng chưa khai thác hết tác dụng việc dạy học các phân môncủa môn Tiếng Việt Trong sách giáo khoa Tiếng Việt, trước hết truyện cườiđược dạy như một đối tượng cần tiếp nhận trong các bài học làm giàu vốn từ
và một số bài tập đọc Vì thế việc tìm hiểu sử dụng truyện cười và điều chỉnh,
bổ sung hệ thống truyện cười để làm ngữ liệu cho việc dạy học Tiếng Việt ởtiểu học là vấn đề cấp thiết và có tính thực tiễn cao cần được nghiên cứu cụthể và áp dụng vào thực tế
Đã có không ít công trình nghiên cứu về truyện cười, song phần lớn cáccông trình này còn dừng lại ở việc sưu tầm, để đọc giải trí, mua vui Cũng cómột số công trình nghiên cứu truyện cười nhưng ở mức khái quát, hay lại đisâu vào nghiên cứu truyện cười được sử dụng chủ yếu trong trường học ở cấpTHCS, còn thiếu nghiên cứu đi sâu vào truyện cười trong dạy học ở Tiểu họctrong khi các em có nhu cầu học và tự học là khá lớn
Chính vì lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Sử dụng
truyện cười trong dạy học “luyện câu” và “chính tả”ở Tiểu học” và tập
trung vào việc đầu tiên là đi từ những căn cứ thực tế của việc dạy - học để lựachọn truyện cười, bước đầu xây dựng ngân hàng ngữ liệu truyện cười để chỉ
ra những khả năng sử dụng chúng trong dạy học Tiếng Việt, nhằm góp phầnnâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt ở Tiểu học Cung cấp tri thức mộtcách khoa học và có tính thực tiễn cao cho các em học sinh Tiểu học nói riêng
và cho nền giáo dục nước ta nói chung trong giai đoạn hiện nay
2 Lịch sử nghiên cứu về truyện cười
Có thể nói truyện cười ra đời từ rất sớm, khó có thể ấn định thời gian cụthể, thời điểm cụ thể để đánh dấu sự ra đời của truyện cười Nhưng có thểkhẳng định một điều rằng, truyện cười Việt Nam ra đời và phát triển cùng vớiquá trình lao động sản xuất và đời sống nhân dân, khi tư duy con người tươngđối phát triển, họ ý thức được tầm quan trọng của truyện cười, nó không chỉđem lại tiếng cười mua vui cho thiên hạ để cho họ giải tỏa những mệt nhọc,vất vả sau một ngày lao động, sản xuất cực nhọc, mà truyện cười còn có tác
Trang 17dụng phê phán, châm biếm, mỉa mai các thói hư tật xấu của con người, nhữngtính cách khác với đời sống hằng ngày Đến giai đoạn xã hội phát triển ở mức
độ cao hơn, truyện cười có khi được xem như là một thứ vũ khí sắc bén đểđấu tranh chống lại những bất công của tầng lớp trên, đề cao cách đối đáp,ứng xử của tầng lớp dưới trong xã hội với việc đối đáp không ngoan trước cáctình huống mang tính phê bình lối sống hoang lạc, không tiết kiệm, không tôntrọng các tầng lớp dưới Bên cạnh đó tiếng cười còn phản ánh sự thôngminh, tư duy sâu sắc của người Việt nói chung và những con người có trí tuệ,khả năng giao tiếp, ứng biến nhanh nhạy nói riêng ở những vùng, miền khácnhau trong cả nước Ở đó đã có sự kết tinh của một quá trình chọn lọc, kháiquát và nó xứng đáng được xem là một tác phẩm hoàn chỉnh, một chỉnh thểthống nhất và toàn vẹn Ẩn sâu sau phía sau là ý nghĩa vừa có mặt thực, vừa
có mặt ảo; vừa phê phán vừa thể hiện tính hài ước, thể hiện rõ nét hai mặtphản diện trong đời sống hằng ngày
Bên cạnh các thể loại khác như ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích, câu đố,truyện ngụ ngôn, được sử dụng trong dạy học Tiếng Việt Tiểu học, thì thểloại truyện cười, truyện gây cười, truyện vui được các nhà nghiên cứu ít chú ýhơn Những công trình nghiên cứu chủ yếu thường mang tính sưu tầm, tuyểnchọn và biên soạn, phân loại tùy theo mục đích của người biên soạn, Từnhững công trình đã được nghiên cứu về truyện cười, có thể kể ra một số côngtrình nghiên cứu tiêu biểu như sau:
1/ Công trình nghiên cứu đồng tác giả, Đinh Gia Khánh - Chu Xuân
Diên - Võ Quang Nhơn(2006), Văn học dân gian Việt Nam(tái bản), Nxb
Giáo dục Hoàng Tiến Tựu (1997) đã liệt kê một số truyện cười dân gian kháthú vị và đưa vào trong tác phẩm để người đọc tiếp cận
2/ Mấy vấn đề về phương pháp giảng dạy – nghiên cứu văn học dân
gian Hoàng Tiến Tựu (1997), tác giả không những liệt kê trình bày một
truyện cười dân gian của nước ta từ xưa đến nay, mà đã đưa ra một số phươngpháp giảng dạy cũng như nghiên cứu văn học dân gian Giúp cho người đọc
Trang 18không những tiếp cận được một số tác phẩm truyện cười Việt Nam mà cònđịnh hướng những phương pháp nghiên cứu truyện cười cho phù hợp với từngnội dung, mục đích nghiên cứu khác nhau.
3/ Bình giảng truyện dân gian, Vũ NGọc Khánh (1999), Nxb Giáo dục
Hà Nội, tác giả đã nêu bật lên được những ý nghĩa, hàm ý của những yếu tốgây cười trong truyện cười dân gian Kinh nghiệm giảng dạy truyện cười từnhững bài giảng mà tác giả đã sưu tầm, tổng hợp và trình bày trong đề tàinghiên cứu của tác giả
4/ Bình giảng thơ ca - truyện dân gian, Nxb Giáo dục Nguyễn Xuân
Kính(1999), công trình nghiên cứu không những nêu giá trị của thơ ca mà cònkhẳng định được ý nghĩ của những cốt truyện, trong đó có truyện cười củadân gian Việt Nam từ xưa tới nay.Tác giả đã tổng hợp những kinh nghiệmgiảng dạy của các thầy cô ở các trường để xây dựng nên công trình nghiêncứu cho mình Tác giả đã nêu bật ý nghĩa quan trọng của những cốt truyệndân gian Việt Nam nói chung và truyện cười nói riêng trong sự phát triển của
xã hội và giáo dục các thế hệ tiếp theo
5/ Tổng tập văn học dân gian người Việt, Hoàng Bắc(2000), Nxb Trí
việt, công trình nghiên cứu đã sưu tầm, tổng hợp và sắp xếp một cách khoahọc văn học dân gian Việt Nam, trong đó phân loại truyện cười dân gian ViệtNam thành một chuyên đề cụ thể Từ công trình nghiên cứu này, người thamkhảo có thể tra cứu, nghiên cứu theo các lĩnh vực của mình trong văn học dângian của người Việt
6/ Truyện cười người xưa, Thu Trinh (2001), Nxb Thanh niên, tác giả
đã nghiên cứu và hệ thống hóa một cách khoa học truyện cười người xưatrong văn hóa người Việt ở các vùng, miền trong nước Đã phân loại truyệncười căn cứ theo từng giai đoạn lịch sử của sự phát triển xã hội ở nước ta Qua
đó góp phần làm phong phú thêm truyện cười của người xưa trong xã hộihiện nay, lưu giữ để không làm phai nhạt đi những nét hay trong văn hóa dângian của người Việt
Trang 197/ Truyện cười xưa và nay, Nguyễn Đức Hiền (1995), Nxb Trẻ Hà Nội,
công trình nghiên cứu đã hệ thống một cách khoa học truyện cười xưa và naytrong văn hóa người Việt Bên cạnh đó đưa ra nhận định nguyên nhân gâycười trong truyện cười xưa và nay Hệ thống truyện cười xưa thường phảnánh những bất công của xã hội phong kiến, những thói hư, tật xấu của những
vị quan ở các vùng, miền trong cả nước, và nêu bật lên những hành xữ linhhoạt, khéo léo của quần chúng nhân dân vừa có ý nghĩa gây cười nhưng vừa
đã kích các thói hư, tật xấu đó Trong truyện cười của xã hội ngày nay lànhững phản ánh những bất cập của xã hội, những mặt đối lập trong văn hóahội nhập, những phản ánh của quần chúng nhân dân Do đó, góp phần giúpcác nhà nghiên cứu văn hóa thuận tiện trong việc hệ thống hóa tri thức mộtcách khoa học hơn truyện cười của người xưa và nay
8/ 40 truyện Trạng Quỳnh, Chí Vĩnh, Nxb Thanh Hóa Lữ - Huy
Nguyên (2002) Tác giả đã nêu lên được 40 tuyện của Trạng Quỳnh trong vănhóa dân gian Việt Nam, đã làm nổi bật lên được trí thông minh, mưu mẹo xửtrí một cách linh hoạt, tài đối đáp của Trạng Quỳnh trong các tình huống Nólàm nổi bật lên được nụ cười hóm hỉnh, mỉa mai xã hội xưa, các vị quan xưathông qua tiếng cười đả kích
9/Truyện cười dân gian Việt Nam - Truyện tiếu lâm và các Trạng, Chí
Vĩnh(2003), Nxb Thanh Hóa Lữ - Huy Nguyên (2001), tác giả nghiên cứu đãsưu tầm có hệ thống truyện cười dân gian Việt Nam, đã phân tích ý nghĩa củatruyện cười và truyện cười tiếu lâm theo nghĩa rộng và hẹp Tác giả đã nêulên được ý nghĩa của truyện cười, những đóng góp của truyện cười trong lýluận và thực tiễn Dù vậy nhưng công trình nghiên cứu hầu như chỉ tập trungvào truyện cười trong văn hóa dân gian Việt Nam ở xã hội trước là chính,chưa nghiên cứu, sưu tầm những truyện cười trong xã hội hiện nay
10/ Truyện Tiếu lâm Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin Triều Nguyên
(2004), công trình đã tập trung nghiên cứu hệ thống truyện tiếu lâm ViệtNam, những truyện gây cười và tạo nên tiếng cười thoải mái Tiếng cười
Trang 20trong truyện tiếu lâm tập trung vào những câu chuyện hài ước, thú vị, sựthông minh dí dỏm của các nhân vật.Đóng góp của công trình nghiên cứu là
đã sưu tầm có hệ thống truyện Tiếu lâm, có chọn lọc một cách khoa học thểloại truyện Tiếu luân từ các công trình nghiên cứu trước
11/ Nghệ thuật chơi chữ trong văn chương người Việt, Nxb Giáo dục
(2004), công trình nghiên cứu đã nêu bật lên tính nghệ thuật, sự thú vị, ýnghĩa tiềm ẩn trong nghệ thuật chơi chữ của văn chương người Việt qua cácgiai đoạn lịch sử giai đoạn trước Những câu truyện cười thể hiện được ýnghĩa đả kích, trí thông minh của người Việt thông qua ngôn ngữ, qua giaotiếp của văn hóa người xưa
12/ Trong luận án tiến sĩ “Ngữ liệu văn học dân gian trong dạy học Tiếng
Việt”, tác giả Nguyễn Văn Tứ, Học viên Trường Đại học Sư phạm Hà nội (2012)
đã đề cập một phần về truyện cười nhưng hướng vào cách giảng dạy ở trườngTHCS và THPT hơn là tập trung vào tiểu học để nghiên cứu Trong công trìnhnghiên cứu ấy, tác giả đã chú trọng nghiên cứu và làm sáng tỏ giá trị, vai trò củavăn học dân gian trong việc dạy học Tiếng Việt ở THCS và THPT
Ngoài những công trình nghiên cứu trên, còn có rất nhiều bài phân tích,nghiên cứu của các tác giả khác mà chúng tôi chưa có điều kiện để thống kêhết Từ những công trình nghiên cứu trên đây, đã được chúng tôi tìm hiểu,tham khảo, nghiên cứu một cách có chủ đích và khoa học, nhằm giúp chochính tác giả có thêm kiến thức cơ bản, cơ sở lý luận và thực tiễn để nghiêncứu đề tài của mình
Từ những công trình nghiên cứu trên thì có ba công trình nghiên cứu đãtập trung chuyên sâu và có liên quan đến đề tài nghiên cứu của chúng tôi làcông trình của tác giả Hoàng Tiến Tựu, Nguyễn Đức Hiền, Chí Vĩnh Bêncạnh việc tập hợp một số lượng khá lớn truyện cười xưa và nay trong văn hóangười việt thì các tác giả trên còn giới thiệu nguồn gốc xuất xứ; mục đích,chức năng, ý nghĩa của truyện cười, nêu bật lên giá trị của những nụ cườitrong các cốt truyện
Trang 21Trong lịch sử xây dựng ngân hàng truyện cười để vận dụng và vàochương trình hạy học Tiếng Việt Tiểu học đã có từ lâu trong chương trìnhsách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học, dù không xác định được mốc thời gianđưa truyện cười cụ thể vào trong sách giáo khoa chương trình dạy và họcTiếng việt Tiểu học, nhưng có thể khẳng định qua các lần biên soạn và cảicách sách giáo khoa thì ngữ liệu truyện cười ngày càng được nghiên cứu, ápdụng và bổ sung vào trong thực tiển giảng dạy Đáp ứng ngày càng nhiều nhucầu dạy và học, truyền tải và tiếp thu của môn học, qua đó có thể nhận địnhlịch sử xây dựng ngân hàng truyện cười để dạy học và lịch sử để nghiên cứu
về truyện cười luôn có mối quan hệ tác động qua lại và bổ sung cho nhau đểhoàn thiện hơn ngữ liệu truyện cười trong chương trình sách giáo khoa TiếngViệt Tiểu học
Từ thực tế nền giáo dục nước ta, sau bốn năm được đưa vào dạy thửnghiệm, năm học 2002 - 2003, bộ sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học biênsoạn theo Chương trình Tiểu học mới đã được chính thức đưa vào dạy ở tất cảcác trường Tiểu học trên cả nước Bên cạnh những điểm kế thừa từ sách giáokhoa cải cách giáo dục, bộ sách này có nhiều sự thay đổi theo hướng tích cực.Các truyện vui lần đầu tiên được đưa vào dạy học cũng làm nên bộ mặt mớicho nó, đem đến cho học sinh những tiếng cười nhẹ nhàng, góp phần hìnhthành ở các em trí thông minh, óc hài hước và lòng nhân hậu Việc làm nàychẳng những khiến cho bộ sách trở nên hấp dẫn với các em mà còn giúp họcsinh phát triển về nhiều mặt Đây cũng là minh chứng cho thấy đội ngũ các nhàbiên soạn đã có sự chú trọng nhiều hơn đến đặc điểm tâm – sinh lí và nhận thứccủa đối tượng học sinh tiểu học, đến đặc trưng của bậc học Tính khoa học, sưphạm của chương trình, vì thế cũng đã được khẳng định, nâng cao
Xuất phát từ những nhu cầu thực tế trong việc cung cấp thêm hệ thốngngữ liệu truyện cười vào trong chương trình dạy học, một số công trìnhnghiên cứu trước đó đã từng bước bổ sung vào ngân hàng truyện cười nhữngcốt truyện với nội dung phù hợp với lứa tuổi, cung cấp thêm những tài liệu
Trang 22tham khảo rất có giá trị trong thử nghiệm và biên soạn chính thức sách TiếngViệt Tiểu học Các tác giả nghiên cứu đã đi sâu vào chủ thể tiếp nhận truyệncười, kiến thức đạt được khi các em tiếp nhận truyện cười trong chương trìnhmôn học so với các chương trình dạy học giai đoạn trước, góp phần làm căn
cứ khoa học và tài liệu tham khảo trong quá trình biên soạn sách Tiếng ViệtTiểu học Với công trình nghiên cứu của mình trong giai đoạn hiện nay,chúng tôi sẽ nghiên cứu để bổ sung thêm vào hệ thống tri thức khoa học trongviệc dạy và học truyện cười Tiếng Việt Tiểu học đối với các em, làm rõ hơngiá trị của truyện cười và bổ sung có hệ thống một số truyện cười cần thiếttrong việc dạy và học Tiếng Việt Tiểu học khi vấn đề tranh cãi xung quanh đề
án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015đang được Bộ Giáo dục trình Quốc hội xem xét phê chuẩn
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở
thực tiễn của việc sử dụng truyện cười trong dạy học “luyện câu” và “chính
tả” ở Tiểu học Từ đó xây dựng ngân hàng truyện cười làm ngữ liệu để dạyhọc tốt hơn phần luyện câu và phân môn chính tả của môn Tiếng Việt ở Tiểuhọc trong thời gian tới
4 Đối tượng nghiên cứu
Thực tế việc dạy – học truyện cười trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học;
hệ thống ngữ liệu truyện cười và việc sử dụng truyện cười trong chương trìnhTiếng việt ở Tiểu học
Trong đối tượng nghiên cứu nói chung, các thể loại truyện cười dângian, truyện vui, truyện hài được đưa vào làm ngữ liệu trong sách giáo khoaTiếng Việt Tiểu học có nhiều truyện chưa phải thuộc thể loại truyện cườiđúng nghĩa mà nhiều khi chỉ là những câu chuyện vui theo kiểu “Tiếng cườituổi học trò” Vì thế, bên cạnh thuật ngữ “Truyện cười”, trong nghiên cứunày, chúng tôi cũng sử dụng các thể loại là “Truyện có yếu tố gây cười” hoặc
là “Truyện vui”, “ truyện hài” với tên gọi chung là truyện cười
Trang 235 Giả thuyết khoa học
- Hệ thống ngữ liệu truyện cười còn thiếu tính khoa học, chưa đáp ứngđược nhu cầu học của học sinh, có những truyện cười còn mơ hồ và còn xavới nhận thức của các em Nên việc phát huy hết tác dụng của truyện cườitrong việc dạy học còn thiếu tính thực tế
- Hệ thống ngữ liệu truyện cười đã được biên soạn và đưa vào giảngdạy ở Tiếng Việt Tiểu học, nhưng do phương pháp dạy học của giáo viênchưa kích thích được nhu cầu học nên việc phát huy tác dụng và ý nghĩa củatruyện cười chưa đúng với thực tế dạy học
- Trong xã hội hiện nay, dưới tác động của các nguồn thông tin nhiềuchiều, như phim ảnh, game, các thể loại truyện dường như đã tác động vàlàm sao nhoãng việc đọc truyện cười của các em, từng bước làm cho truyệncười ngày càng mờ nhạt và thiếu sự thú vị hơn đối với các em khi các em học
Nếu nghiên cứu làm rõ được việc sử dụng truyện cười trong dạy - họccác phân môn trong môn Tiếng Việt, đồng thời đưa ra những giải pháp để bổsung, lựa chọn ngữ liệu truyện cười đảm bảo tính giáo dục, phù hợp với mụcđích nghiên cứu sẽ nâng cao được hiệu quả dạy - học phần luyện câu và phầnmôn chính tả ở Tiểu học thời gian tới
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng truyện cười
trong “luyện câu” và “chính tả” của môn Tiếng Việt.
6.2.Công trình nghiên cứu nhằm bổ sung thêm ngữ liệu truyện cười để
phục vụ tốt hơn cho công tác dạy và học luyện câu và chính tả trong mônTiếng Việt ở Tiểu học
7 Các phương pháp sử dụng
Phương pháp đọc, tra cứu tài liệu: Tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu liênquan đến truyện cười trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
Trang 24Phương pháp thống kê: Thống kê các truyện gây cười trong sáchTiếng Việt Tiểu học, các công trình nghiên cứu đi trước và nhiều cách đánhgiá, nhận xét.
Phương pháp khảo sát - điều tra: Khảo sát thực trạng về khả năng sử
dụng truyện cười trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
Phương pháp thực nghiệm sư phạm Bên cạnh đó tác giả còn sử dụng
phương pháp lôgic học, nhằm giúp tác giả phân tích đúng đắn cả về trình tựsắp xếp, cách nghiên cứu khoa học và tiết kiệm được thời gian
8 Đóng góp của luận văn
8.1 Về lí luận
Làm rõ thêm cơ sở lí luận của việc sử dụng truyện cười trong dạy học
“luyện câu” và “chính tả”ở Tiểu học
Làm rõ thêm cơ sở lí thuyết về ngữ liệu trong dạy học truyện cười
8.2 Về thực tiễn
Từ những cơ sở lý luận, nhằm bổ sung một số ngữ liệu truyện cười theo mụctiêu dạy học môn Tiếng Việt Tiểu học, làm tài liệu tham khảo cho giáo viên,học sinh và những người quan tâm, yêu thích truyện cười Góp phần giúpnâng cao chất lượng cũng như hiệu quả việc dạy - học môn Tiếng Việt nóichung và phần luyện câu và phần môn chính tả nói riêng
9 Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là “Sử dụng truyện cười trong dạy học
“luyện câu” và “chính tả” ở Tiểu học” Đề tài này nghiên cứu nghiêng về cơ
sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng truyện cười trong môn Tiếng Việt;nhằm xác lập căn cứ để đề xuất, bổ sung, sử dụng truyện cười làm ngữ liệu đểdạy học Tiếng Việt ở Tiểu học Nhưng chưa tập trung nghiên cứu rộng ra cácthể loại truyện khác ngoài ngữ liệu truyện gây cười cho các em học sinh Tiểuhọc; không tập trung đi sâu phân tích cụ thể từng truyện cười trong Tiếng ViệtTiểu học, mà chỉ liệt kê, phân tích giá trị của yêu tố gây cười trong một số
Trang 25truyện Xây dựng ngân hàng truyện cười làm ngữ liệu phục vụ cho việc dạy vàhọc phần luyện câu và phần môn chính tả trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học.Chính vì môn Tiếng Việt ở Tiểu học chưa nghiên cứu mở rộng giá trịkiến thức của truyện cười như ở khối THCS và THPT Nên trong việc đưa ranhững kiến nghị sau khi nghiên cứu của đề tài còn hạn chế Từ những hạn chếtrên nên những đóng góp của đề tài nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc xâydựng ngân hàng truyện cười nhằm làm ngữ liệu phục vụ cho việc dạy và họcluyện câu và chính tả trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học.
Trang 2610 Cấu trúc của luận văn
PHẦN MỞ ĐẦU
Nêu lí do chọn đề tài, lịch sử vấn đề, mục đích nghiên cứu, đối tượngnghiên cứu, giả thuyết khoa học, nhiệm vụ nghiên cứu, các phương pháp sửdụng, đóng góp của luận văn, phạm vi nghiên cứu của luận văn
PHẦN NỘI DUNG
- Chương I: Cơ sở khoa học của việc sử dụng truyện cười trong dạy học
“luyện câu” và “chính tả”ở Tiểu học
- Chương II: Xây dựng ngân hàng truyện cười để dạy học “luyện câu”
và “chính tả” ở Tiểu học
- Chương III: Sử dụng ngân hàng truyện cười làm ngữ liệu dạy học các
tri thức, kĩ năng “luyện câu” và “chính tả”ở Tiểu học
PHẦN KẾT LUẬN
Trang 27CHƯƠNG I
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG TRUYỆN CƯỜI
TRONG DẠY HỌC “LUYỆN CÂU” VÀ “CHÍNH TẢ”
I Cơ sở lí luận
1 Giới thuyết về truyện cười
1.1 Khái niệm truyện cười
Theo tác giả Đỗ Bình Trị thì“Truyện cười là truyện kể về hiện tượng
buồn cười, thể hiện ở hoạt động của người và vật (bao gồm cả hoạt động nói năng) nhằm gây cười”, Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn hóa dân
gian, trang 6, Nxb Khoa học - 1999
“Truyện cười nói một cách đơn giản là những truyện làm cho người ta cười, có thể là cười mỉm, nhưng thường là cười giòn giã Có thể là cười một cách vui vẻ, nhẹ nhàng, nhưng thường cười mà phẫn nộ, khinh ghét”, Giáo
trình Văn học dân gian Việt Nam, trang 13, Đinh Gia Khánh chủ biên, NxbGiáo dục – 2001
“Truyện cười là loại truyện kể về những hiện tượng đáng cười trong cuộc sống, nhằm tạo ra những tiếng cười vui hoặc phê phán những thói hư, tật xấu trong xã hội” Sách giáo khoa Ngữ văn 6, trang 15, tập 1, Nguyễn
Khắc Phi chủ biên, Nxb Giáo dục - 2002
Danh từ “truyện cười” được giới nghiên cứu nước ta dùng làm thuậtngữ chuyên môn để chỉ tất cả các hình thức truyện kể có tác dụng gây cười vàlấy tiếng cười làm phương tiện chủ yếu để khen, chê và mua vui, giải trí (nhưtruyện khôi hài, truyện trào phúng, truyện tiếu lâm, .)
Tóm lại, có thể hiểu truyện cười là truyện kể về hiện tượng buồn cười
trong cuộc sống, nhằm tào ra tiếng cười vui vẻ, cũng có thể là tiếng cười phê phán của con người.
1.2 Một số đặc trưng cơ bản của truyện cười
a Nghệ thuật dựng truyện cười
Trang 28Nói đến đặc trưng của truyện cười trước hết phải nói đến nghệ thuậtdựng truyện Trong tổ chức cốt truyện, vai trò của tưởng tượng, hư cấu hếtsức quan trọng.
Truyện cười trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học đều chứa đựng yếu
tố tưởng tượng và hư cấu, những đặc điểm đó thường mang tính nhẹ nhàng,
dễ hiểu và dễ cảm nhận Truyện cười ở Tiểu học là một sản phẩm của lý trínên sự tưởng tượng, hư cấu trong truyện thường gắn với tư duy duy lý trongđời sống hằng ngày, cốt truyện thường đơn giản, ít tình tiết trừu tượng, khóhiểu, thường rõ ràng và hợp lý, nó đáp ứng được nhu cầu học và tiếp nhận củacác em theo độ tuổi tiếp cận
Trong quá trình tham gia giảng dạy, tác giả thấy thường thì truyện cườiđược sử dụng làm ngữ liệu trong Tiếng việt Tiểu học rất ngắn và không cóphần mở đầu hay kết thúc cụ thể như truyện cổ tích hay các thể loại truyệnkhác Chính đó cũng là nét riêng của truyện cười để giúp các em học sinhTiểu học dễ dàng tiếp cận và cảm nhận tiếng cười thú vị đó Chính người đọccũng có thế thấy, truyện cười thường ngắn và có khi cực ngắn cho nên phần
mở đầu và phần kết thúc của nó nhiều khi cũng khó phân tích và cảm nhậnmột cách cụ thể nhất Điểm quan trọng là do chính nhu cầu học và nhận thứccủa các em, nên phần mở đầu và phần kết thúc của truyện cười phải được sắpxếp sao cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của giáo dục đối với học sinhTiểu học, nên có phần không giống với các thể loại truyện khác được
Truyện cười trong Tiếng Việt ở Tiểu học không nhằm mục đích phảnánh và lý giải những xung đột, mâu thuẫn, những tình tiết cao siêu khó hiểu,khó cảm nhận; cũng không nhằm phản ánh, lý giải những sự kiện phức tạpcủa xã hội mà chủ yếu dùng tiếng cười để phản ánh những mặt, những điềuthú vị và bất ngờ tạo nên tiếng cười trong cuộc sống
Thời gian và bối cảnh của truyện cười thường ngắn, không gian thườnghẹp, sự việc diễn ra ít và diễn biến đơn giản, ít sinh động nhưng họa cảnhthường thú vị, tình tiết hấp dẫn với cảm nhận của lứa tuổi các em Tình tiếtxây dựng, dẫn nhập hay tạo ra những tình huống bất ngờ, nội dung thường
Trang 29trào phúng, có phần tò mò, kết thúc đột ngột, sống động, đó là những đặcđiểm gây nên tiếng cười thoải mái, dí dỏm cho các em.
Trong sáng tác truyện cười, các tác giả phải thường xuyên sử dụng cáchọa cảnh mang tính hư cấu, tưởng tượng và biện pháp phóng đại, cường điệu
để tạo dựng lên những ngôn ngữ, cử chỉ, trường hợp và tình huống đáng cườitheo cảm nhận của lứa tuổi các em Tuy những cái đáng cười hầu như có sẵntrong đời sống xã hội, chỉ cần phát hiện và nêu bật, thể hiện nó nhằm gâycười, tạo sự thú vị, niềm say mê cho các em Những truyện cười hấp dẫn và
có giá trị đều là kết quả sáng tạo của người có tài năng,
b Xây dựng nhân vật trong truyện cười
Nghệ thuật xây dựng truyện gắn liền với nghệ thuật xây dựng nhân vậttrong cốt truyện Hầu hết các câu truyện thường ngắn và rất ngắn, nhưng dùngắn đến mấy thì truyện cười cũng được xây dựng ít nhất hai nhân vật trở lên,hầu như không có một nhân vật Trong đó thường có một nhân vật phản diện,một nhân vật chính diện; một nhân vật đại diện cho điều tốt, một nhân vật đạidiện cho điều xấu Các nhân vật trong truyện thường linh hoạt, nhưng cómột nhân vật thông minh hơn, nhanh nhẹn hơn và thường ứng xử linh hoạt đểtạo ra tiếng cười
Ví dụ: Truyện Người lái xe đãng trí Tiếng Việt lớp 5 hay truyện Muakính Tiếng Việt lớp 2,…
Trang 30cuộc sống trước các tình huống, hành động mà cốt truyện nêu lên Nghệ thuật
sử dụng ngôn từ diễn đạt thường mang tính sinh động, trừu tượng và giúp chomỗi em khi đọc truyện sẽ có liên tưởng đến những họa cảnh sinh động khácnhau, trong đời sống hằng ngày từ thực tế của đời sống
1.3 Phân biệt truyện cười, truyện vui với chuyện vui
+ Truyện cười:
Truyện cười (còn gọi là truyện tiếu lâm) là một lĩnh vực truyện kể dângian rộng lớn, đa dạng, phức tạp bao gồm nhiều hình thức khác nhau được gọibằng những danh từ như truyện tiếu lâm, truyện khôi hài, truyện trào phúng,truyện trạng, giai thoại hài hước để tạo nên tiếng cười cho người đọc
* Xét về hình thức tiếng cười có:
- Tiếng cười trong sinh học mang tính bản năng, vô thức phát ra do phảnứng của cơ thể một cách đơn thuần (tiếng cười của người bị gù, của
bệnh nhân tâm thần ) Trong khi, tiếng cười tâm lý xã hội biểu thị thái
độ, bộc lộ tư tưởng, tình cảm con người Tiếng cười tâm lý xã hội có hai loạinhỏ: Tiếng cười tán thưởng và tiếng cười phê phán
- Tiếng cười tán thưởng biểu thị niềm vui, sự yêu mến Tiếng cười phêphán biểu thị sự khinh ghét, sự phủ nhận.Tiếng cười phê phán là cái cười trongtruyện cười.Cái cười phát ra từ cái đáng cười Cái đáng cười chứa đựng cái hàihiểu theo nghĩa triết học, nghĩa là có mâu thuẫn bên trong Ðó là mâu thuẫn giữacái xấu và cái đẹp, giữa hình tượng và ý niệm, giữa sinh động và máy móc
* Về nội dung của truyện cười có các mục đích:
- Mua vui giải trí: Nhằm mục đích giải trí là chủ yếu, song nó cũng cótính chất phê phán nhẹ nhàng những thói xấu của người bình dân, những lầm
lỡ, hớ hênh.(Ví dụ truyện vui Mua kính, Tiếng Việt 2, tập 1, bên cạnh tiếng
cười thú vị, còn nhằm mục đích phê phán tính cách lười học của cậu bé, tuổi còn nhỏ mà không lo học để biết đọc, đi mua kính đeo vào để biết đọc).
- Phê bình giáo dục: Phê bình thói hư tật xấu trong nội bộ nhân dân: Hội
sợ vợ, Áo mới lợn cưới, Sợ quá nói liều (Ví dụ truyện vui Mồ côi xử kiện,
Trang 31Tiếng Việt 3, tập 1, đã phê bình ông chủ quán giàu có mà bắt ép đòi tiền bác nông dân vì đã hít hết mùi thơm trong quán của ông chủ quán đó, truyện đã hàm ý phê bình một bộ phận nhà giàu không biết thương, giúp đỡ hay đùm bọc những người nghèo trong xã hội, chỉ biết vụ lợi thêm để làm giàu cho chính mình).
- Đả kích: Vạch trần cái ác, cái xấu có tính bản chất của giai cấp thốngtrị trong xã hội phong kiến Truyện trào phúng đã kích từ vua chúa, quan lại
đến địa chủ cường hào, thầy đồ (Ví dụ truyện Điều ước của vua Mi – đát,
nội dung cốt truyện mang tính đã kích Vua Mi – đát vì bản tính tham lam, đã làm vua trị vì một đất nước rồi mà còn mong muốn mọi vật chạm vào đều hóa thành vàng, và chính nhà vua phải trả giá với lòng tham vô hạn của mình, cuối cùng đành phải xin thần Đi-ô-ni-đốt lấy lại điều ước đó để trở lại cuộc sống bình thường).
+ Truyện vui:
Là những truyện có nội dung vui vẻ, tạo hứng thú với người đọc, không
có những tình tiết phê phán hay đã kích mà tập trung, nhấn mạnh đến nhữngtình huống vui vẻ, hài ước Nội dung truyện vui kích thích sự vui thú củangười đọc, làm cho người đọc sảng khoái Nhân vật của truyện vui thườngnhiều, có nhiều tình tiết và họa cảnh, qua đó làm nổi lên những điều thú vị,vui vẻ Trong nội dung truyện vui, có thể tập trung nhiều tình huống và hànhđộng diễn ra theo thời gian dài hơn, có nhiều hành động, tình hướng xẩy raxen kẽ hoặc cùng nhau xẩy ra, đem đến niềm vui cho người tiếp cận thôngqua những tình huống, hành động trong truyện
Truyện vui được người viết ghi chép lại trong những câu chuyện thú vịhằng ngày hoặc sáng tác ra nó và nó sẽ bất di bất dịch khi các bản thảo của nóđược xuất bản, công bố đến người đọc những cốt truyện thú vị đó
* Xét về hình thức: Truyện vui thường có nhiều tình tiết hơn truyện cười,
mỗi tình tiết thường tạo cho người đọc sự bất ngờ và thú vị, hấp dẫn Cónhiều nhân vật trong cốt truyện cùng tham gia trong xây dựng nhiều tình tiết
Trang 32vui của truyện.
* Xét về nội dung truyện vui: Được xây dựng chủ yếu là những điều tạo
ra sự ngạc nhiên, phản ứng nhanh mà hấp dẫn, thú vị và hài ước .Thườngtạo cho người đọc nhiều niềm vui, hứng thú hơn là những hình thức phêphán.Mục đích của truyện vui là nhằm tạo ra sự hấp dẫn, giải trí cho ngườiđọc và có ý nghĩa giáo dục
+ Chuyện vui:
Là một vấn đề, sự vật, sự việc, hiện tượng vui thú, hài ước được mộtngười hay một vật (nhân cách hóa) tường thuật lại thường là dưới dạng lờinói, truyền miệng thậm chí bằng vũ điệu và ngôn ngữ cơ thể để diễn đạt cáivui thú, thích thú Khi những chuyện vui được ghi chép và lưu lại trên mộtphương tiện rõ ràng và cụ thể thì chuyện vui sẽ trở thành "truyện vui" trongđời sống thường ngày Như vậy, khác biệt đầu tiên chúng ta có thể thấy làkhác biệt ở thời gian ra đời, rõ ràng, "truyện vui" là con của "chuyện vui" vì
nó ra đời trễ hơn và ra đời từ chính những "chuyện vui" kể trên
Về độ chính xác, chuyện vui thường sẽ qua rất nhiều người trước khi trởthành một “truyện vui", vì chính qua nhiều người diễn đạt nên mỗi người sẽdiễn đạt một ít để thêm hay bớt tính hài ước, tính vui, thú vị trong cốt truyện.Chuyện vui thường gắn liền với đời sống hằng ngày của người dân diễn
ra trong mọi hoạt động, mọi nơi và trong mọi tình huống, người ta có thể tạo
ra niềm vui, tính hài ước gắn liền với cuộc sống để làm cho cuộc sống vui vẽ,thú vị thêm.Chuyện vui có thể là những chuyện có phần ngớ ngẩn, có phầnkhác so với quy luật đời sống hằng ngày, có tính hài ước và được nhữngngười truyền miệng xây dựng nên để tạo nên niềm vui, tính thú vị trong đờithường.Chuyện vui cũng có thể là những cốt truyện trong sách, báo, truyệncười và từ các nguồn tài liệu khác nhau được người ta đọc, tiếp cận xây dựngthành những câu chuyện vui thường ngày Những người nói chuyện có thểthêu dệt tăng thêm mức độ thú vị từ những truyện họ được tiếp cận, làm sinhđộng thêm, thú vị thêm cho người nghe
Trang 331.4 Phân loại của truyện cười
* Theo tiêu chí kết cấu thì truyện cười có 2 nhóm lớn:
a Truyện cười kết chuỗi:
- Nhóm truyện cười về nhân vật trung tâm là đối tượng của tiếng cười
phê phán (ví dụ truyện Trạng Lợn): Bên cạnh tiếng cười vui vẻ, nhẹ nhàngcòn có tiếng cười phê phán, chê trách, oán trách người ta cười tính keo
kiệt, bủn xỉn, cười những trò nhố nhăng trong cuộc sống, … Ví dụ truyện đi
học là tiên, Anh keo kiệt ngủ say, … Tiếng cười mang hàm ý châm biếm, thái
độ khinh bỉ, phê phán những tật xấu của con người
- Nhóm truyện cười về nhân vật trung tâm là người được ca ngợi, thán
phục, đã dũng cảm, mưu trí đấu tranh chống cái xấu, cái ác (Ví dụ truyện Trạng Quỳnh): Tiếng cười thường vui vẻ, nhẹ nhàng, đó là tiếng cười đối vớihình thức suy diễn thú vị, đơn thuần của cuộc sống hằng ngày Tiếng cười gầngũi với đời sống của người dân, nhất là tính đơn thuần, mộc mạc của ngườinông dân Việt Nam
b Truyện cười không kết chuỗi:
* Truyện khôi hài (giải trí là chủ yếu): Đặc điểm cụ thể của truyện cười
khôi hài dân gian bao gồm: Nhân vật, kết cấu, ngôn ngữ những đặc điểmnày làm thi pháp đặc trưng của truyện khôi hài và đều phục vụ mục đích gâycười Truyện khôi hài (hài ước) là một thể loại của truyện cười, có mục đíchchủ yếu nhằm giải trí, mua vui là chính Và theo Ang-ghen tác dụng chính của
loại truyện khôi hài là nhằm“Giải tỏa người nông dân sau một ngày lao động
mệt nhọc”
Bộ phận truyện cười phiếm chỉ ở mức rộng bao gồm những truyện cười
về những nhân vật không có tên riêng và cũng không có tính xác định xã hội
cụ thể, chỉ tượng trung cho những thói hư tật xấu phổ biến của con người, …
Có thể coi đây là loại nhân vật tính cách, truyện thiên về tính hài ước, tính xãhội thường mờ nhạt
Trang 34Bộ phận truyện cười phiếm chỉ ở mức hẹp bao gồm những truyện cười
về các nhân vật không có tên riêng, nhưng thành phần, địa vị xã hội tương đối
cụ thể Nhìn chung, giá trị hiện thực, tính chiến đấu của bộ phận truyện nàycao hơn so với bộ phận truyện cười phiếm chỉ ở mức rộng
Bộ phận thứ hai bao gồm chuỗi truyện có những nhân vật thông minh, hóm
hỉnh (Ví dụ truyện Bác ba phi ) Ở đây, nhân vật trung tâm luôn luôn chủ động
tấn công, dùng tiếng cười làm phương tiện và vũ khí, làm cho kẻ thù mất mặt
* Truyện trào phúng (phê phán là chủ yếu): Là tiếng mà nội dung chính
là châm biếm, đả kích một nhân vật nào hay một hành động nào đáng lên án,đáng chê trách và tác giả mỉa mai thông quan tiếng cười châm biếm sâu xa.Nhân vật trong truyện cười châm biếm thường bộc lộ những hành động, tínhcách khác hẳn với đời thường của xã hội, bên cạnh đó thường có những nhânvật, những tính cách những hành động đối lập lại để làm nổi bật lên cái đángphê phán, cái đáng cười đả kích đó
* Truyện tiếu lâm (có yếu tố tục): Nói tục là một cách gây cười để thỏa
mãn sự nghịch ngợm của con người Yếu tố tục trong truyện tiếu lâm khôngnhững dùng để châm biếm, đả kích, phê phán các hành vi xấu xa hay phảnứng lại chế độ áp bức phong kiến mà nó còn được sử dụng vào mục đích muavui, chỉ là để thỏa mãn sự nghịch ngợm Sau một ngày lao động vất vả và chịunhiều áp lực tâm sinh lý, con người cảm tìm đến với nhau để tâm sự, tròchuyện, kể cho nhau nghe những câu chuyện vui, đặc biệt là những yếu tố tụctrong truyện tiếu lâm giúp người ta cười sảng khoái, giòn giã và tan biến mọi
lo âu, mệt nhọc Họ không chỉ sử dụng truyện cười để phản ứng lại nhữngđiều bất bình trong xã hội, mà truyện cười còn được xem như là một thú vuitích cực, một trò tiêu khiển rất thú vị
II Lợi thế của việc sử dụng truyện cười làm ngữ liệu trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học.
Theo các học giả, ngữ liệu là tư liệu ngôn ngữ để nghiên cứu ngôn ngữ
và dạy tiếng Như vậy, trong dạy học tiếng (tiếng mẹ đẻ hay tiếng nước
Trang 35ngoài), ngữ liệu (còn gọi là: ví dụ, dẫn chứng, minh họa, tư liệu .) có thểđược trích dẫn, khai thác, lựa chọn từ nhiều nguồn khác nhau tùy thuộc vàomục đích, nội dung, đối tượng và điểu kiện cụ thể của quá trình day học Đó
là những ngữ liệu được trích dẫn từ văn học dân gian, văn học viết, ngữ liệucho người dạy tự đặt ra hoặc huy động từ những nguồn gốc khác
Ngữ liệu dùng ở tiểu học phải thực sự cụ thể, thú vị, trực quan sinh động,nhiều hình ảnh và màu sắc Do đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi như vậy nênngoài các truyện cười dân gian có sẵn thì các nhà viết sách còn phải nghĩ ranhững truyện cười thú vị phù hợp với lứa tuổi các em trong giai đoạn xã hộihiện nay Vì vậy, ngữ liệu của truyện cười dùng trong dạy học nói chung vàcác phân môn Tiếng Việt nói riêng không chỉ dừng lại ở những truyện cườidân gian mà còn có những truyện cười trong xã hội hiện tại, chính là nhữngnội dung cốt truyện gây cười do các nhà viết sách, nhà nghiên cứu xây dựngnên hoặc sưu tầm từ các kênh khác
Trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt, việc lựa chọn các ngữ liệutruyện cười để các em dễ dàng tiếp cận và học có vai trò hết sức quan trọngcho quá trình hình thành và phát triển nhân cách, cũng như lưu giữ, ghi nhớnhững kiến thức nền tảng của các em Việc lựa chọn những truyện cười làmngữ liệu phù hợp với nội dung dạy học cũng như tâm sinh lý của lứa tuổi các
em, góp phần thực hiện những mục đích và yêu cầu trong quá trình giảng dạy
1 Nhiều truyện cười phù hợp với mục tiêu dạy học tiếng Việt ở Tiểu học
1.1 Nguyên tắc giao tiếp trong dạy học tiếng Việt
Văn học dân gian, nói chung là tiếng nói có tính chất cộng đồng, là hoạtđộng ứng xử văn hóa có tính chất tự nhiên, ngẫu hứng, là hoạt động giao tiếp
và nói năng cụ thể của con người trong cuộc sống lao động hằng ngày
Nguyên tắc giao tiếp (hay còn gọi là nguyên tắc phát triển lời nói,nguyên tắc thực hành) yêu cầu:
- Việc lựa chọn và sắp xếp nội dung dạy học phải lấy hoạt động giao tiếp
Trang 36làm mục đích, tức là hướng vào việc hình thành các kĩ năng nghe, nói, đọc,viết cho học sinh.
- Xem xét các đơn vị ngôn ngữ trong hoạt động hành chức, tức là đưachúng vào các đơn vị lớn hơn, ví dụ xem xét từ hoạt động trong câu như thếnào, câu ở trong đoạn, bài ra sao
- Phải tổ chức hoạt động nói năng của học sinh để dạy học tiếng Việt,nghĩa là phải sử dụng giao tiếp như một phương pháp dạy học chủ đạo ở Tiểuhọc [21]
- Theo nguyên tắc giao tiếp, trong dạy học luyện câu và chính tả đòi hỏi
người dạy phải sử dụng giao tiếp như một phương pháp dạy học chủ đạo:
tạo điều kiện cho học sinh được thực hiện những hoạt động nói năng thật nhưtrong cuộc sống Giáo viên cũng nên áp dụng những hình thức dạy học khácnhau để học sinh được luyện tập trong nhiều môi trường giao tiếp khác nhau,với nhiều đối tượng giao tiếp, từ đó mang lại hiệu quả cao trong dạy học Đốitượng nghe, đọc bài làm của học sinh cần được thay đổi thường xuyên để họcsinh có hứng thú khi luyện câu và chính tả
- Phương pháp thực hành, đặc biệt là thực hành quan sát trực tiếp cầnđược tận dụng để giúp học sinh tăng cường vốn sống, có những cảm nhậnthực cho bài bài thực hành
1.2 Truyện cười góp phần giảng dạy môn Tiếng Việt theo hướng tích hợp
Nội dung, nhiệm vụ của dạy học Tiếng Việt trong nhà trường được cụthể hóa ở chương trình dạy học, ở sách giáo khoa nhằm cung cấp cho học sinh
hệ thống tri thức về Tiếng Việt, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo và năng lực sử dụngTiếng Việt trong hoạt động giao tiếp, tư duy Những tri thức, kĩ năng đó đượccung cấp qua hệ thống các khái niệm, quy tắc, bài học, các đơn vị tri thứcthuộc các lĩnh vực ngữ âm, chính tả, nhữ pháp
Với tư cách là ngữ liệu dạy học, tiếng cười ngoài có tác dụng chung nhưcác loại ngữ liệu khác còn có khả năng trực tiếp phục vụ những nội dung dạy
Trang 37học Tiếng Việt trong nhà trường Bằng hình thức đọc và phát âm, điền từ,hoản chỉnh câu để tạo hứng thú cho người đọc, dễ nhớ và bằng những hìnhảnh liên tưởng thú vị, liên tưởng độc đáo với đời thường Qua đó giúp các emứng phó linh hoạt, thông minh hơn trước các tình huống cuộc sống tương tựnhư trong cốt truyện, giúp các em phản ứng nhanh, biết phân biệt được nhữngmặt tốt, những mặt xấu của đời thường thể hiện trong cốt truyện Thông quanhững giá trị thực tiễn đó phục vụ tốt cho các em hơn trong việc củng cố trithức, kĩ năng Tiếng Việt qua cơ chế học và tự học, tìm hiểu các loại sách, tàiliệu có chuyên mục truyện cười nhiêu hơn mà nó thuộc về cấu trúc, chức năngcủa Tiếng Việt, từng bước phục vụ tốt cho việc dạy tập đọc, chính tả, từ ngữ,ngữ pháp cũng như những kiến thức của cuộc sống được lồng ghép trongTiếng Việt.
Ví dụ truyện:
Truyện: Mua kính
Có một cậu bé lười học nên không biết chữ Thấy nhiều người khi đọcsách phải đeo kính, cậu tưởng rằng cứ đeo kính thì đọc được sách.Một hôm,cậu vào một cửa hàng để mua kính, cậu giở một quốn sách ra đọc thử.Cậu thửđến năm bảy chiếc kính khác nhau mà vẫn không đọc được Bác bán kínhthấy thế liền hỏi: “Hay là cháu không biết đọc?” Cậu bé ngạc nhiên: “Nếucháu mà biết đọc thì cháu phải mua kính làm gì?” Bác bán kính phì cười:
“Chẳng có thứ kính nào đeo vào mà biết đọc được đâu! Cháu muốn đọc sáchthì phải học đi đã”
(Tiếng Việt 2, tập 1)
Truyện Mua kính không chỉ có tác dụng giúp các em luyện đọc, luyện
phát âm mà còn gây cười, gây hứng thú đối với người đọc vì sự suy luậnkhông có căn cứ, thiếu thực tế và không đúng khi cho rằng những ai đeo kínhvào đều đọc được sách Gây cười vì hành động của cậu bé đi mua kính để cóthể đọc, và tiếp theo là tiếng cười thú vị khi cậu bé đeo kính mà vẫn khôngđọc được Qua nội dung cốt truyện, ám chỉ hàm ý đến với các em học sinh, để
Trang 38học giỏi thì tất yếu phải dựa vào sự nỗ lực, rèn luyện, sự cố gắng của các em,chứ không có một phương tiện nào giúp các em học giỏi hơn được Ý nghĩasâu xa trong cốt truyện đã thể hiện được hàm ý đến với người học như vậy.
- Em đi nhầm giầy rồi Về đổi giày đi cho đỡ chịu!
Cậu bé chạy vội về nhà Cậu lôi từ gầm giường ra hai chiếc giày, ngắm
đi ngắm lại, rồi lắc đầu nói:
- Đôi này vẫn chiếc thấp, chiếc cao
(Tiếng Việt 2, tập 1)
Qua truyện Đổi giày, tiếng cười vui khi cậu học trò nọ xỏ nhầm giày,
một chiếc cao, một chiếc thấp bước tập tễnh trên đường tới trường Cậu còn
tự hỏi, sao chân mình một bên dài, một bên ngắn, hay là tại mặt đường?Tiếngcười ngộ nghĩ khi em quay về nhà đổi giày và thấy đôi ở nhà vẫn chiếc caochiếc thấp Qua nột dung cốt truyện, không chỉ giúp các em vang lên tiếngcười ngộ nghĩnh, thú vị mà còn đưa ra cách giải quyết cho các em, khi giáoviên đặt ra câu hỏi về cách xử trí nếu các em là em học sinh đó Hay lí do vìsao cậu bé lại nói như vậy? Từ đó, giúp giáo dục các em qua từng kĩ năngtrong cuộc sống, các em tự đưa ra tình huống và giải quyết tình huống trongnhững trường hợp của truyện cười như trên
Nói tóm lại, các ngữ liệu truyện cười, trực tiếp hay gián tiếp đều phảnánh các mức độ khác nhau của nội dung dạy học Tiếng Việt trong nhà trường
Trang 39Tiểu học Đó là những tri thức, những quy luật ngôn ngữ học, được các tácgiả thể hiện qua những sáng tác của mình Việc nhận thức đúng đắn cơ sởngôn ngữ học của ngữ liệu truyện cười không những có tác dụng tích cựctrong việc dạy học Tiếng Việt mà còn góp phần thúc đẩy các hoạt động giáodục khác đối với học sinh.
Truyện cười là một hình thức sinh hoạt vui chơi dân gian, những câuchuyện được kể vui giữa gia đình, những nơi đông người hay giữa lớp học đềutạo nên tính thú vị, tinh thần vui vẽ, xóa đi những lo toan, những vất vả, nhữngcăng thẳng của đời sống, đây là một thể loại văn học thực sự bổ ích thật khó
để xã hội phát triển qua từng giai đoạn thời gian khi không tồn tại tiếng cường,thiếu sự hài ước, thiếu niềm vui và sự hứng thú trong lao động, sản xuất Lúc đócon người tồn tại trong xã hội như những công cụ sản xuất chỉ biết lao động vàlao động, tồn tại chứ không phải sống đúng với nhu cầu của con người
Dạy học môn Tiếng Việt trong trường học nói chung và trường Tiểu họcnói riêng, truyện cười được xem như văn bản hoàn chỉnh, trọn vẹn và thể hiệnđược những nội dung, mục đích cụ thể của bài hoc Chúng không chỉ giúp chohọc sinh tri thức có tính lý thuyết, ngôn ngữ của Tiếng Việt mà bước đầu cònrèn luyện được tính tư duy, nhạy bén, logic cho học sinh Đây là một ưu thếrất lớn của truyện cười khi nó được dùng như một ngữ liệu trong quá trìnhgiảng dạy môn Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học
Đối với học sinh Tiểu học, ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ được giảng dạy trongnhà trường không chỉ nhằm mục đích cung cấp các tri thức cần thiết cho việchọc tập của các em mà nó còn là phương tiện trong quá trình giao tiếp vàtrong các hoạt động cụ thể của cuộc sống hằng ngày thông qua những tình tiếthay, thú vị trong cốt truyên Đây là hoạt động song hành giúp cho việc dạyhọc Tiếng Việt đạt kết quả cao nhất Hơn nữa, truyện cười không chỉ là hoạtđộng ngôn ngữ đơn thuần mà là những ngữ liệu hàm chứa những tri thức và
kĩ năng sử dụng Tiếng Việt, những vấn đề mà nội dung chương trình giảngdạy Tiếng Việt phải giải quyết
Trang 401.3 Ngữ liệu tối giản, súc tích
Ngữ liệu truyện cười được đưa vào trong chương trình giảng dạy TiếngViệt Tiểu học không mang tính giàn trải, khó hiểu hay tính hình thức màngược lại, những ngữ liệu truyện cười được nghiên cứu và biên soạn đưa vàotrong sách giáo khoa thường được tối giải, cô động, ngắn gọn nhưng chứađựng đầy đủ kiến thức được đưa vào trong cốt truyện để các em học sinh tiếpnhận đầy đủ kiến thức đó
Ví dụ truyện Đổi giày (Tiếng Việt 2, tập 1) Ngữ liệu trong cốt truyện
không miêu tải chi tiết hay quá ngắn về nội dung, mà diễn đạt tình tiết xẩy ratình huống cậu bé mang lộn giày, đi trên đường thấy chân cao, chân thấp nhưngvẫn không nghĩ mình mang lộn giày mà nghĩ là do đường khập khiểng, đến khiđược thầy giáo cho biết là đi lộn giày thì cậu bé mới biết Đến khi về nhà đổigiày, chỉ một câu nói diễn đạt ngắn gọn của truyện “Đôi giày này vẫn chiếc thấpchiếc cao” đã gây cho người đọc cất lên tiếng cười thú vị và sảng khoái
1.4 Ngữ liệu mang tính trực quan
Sự hiểu biết và nhận thức của các em ở độ tuổi đang học Tiểu học còn hạnchế nên việc dạy cho em hiểu những từ khó hiểu, những từ ghép, những câuphức hợp…, Ngữ liệu truyện cười đưa vào giảng dạy trong chương trình sáchgiáo khoa Tiếng Việt Tiểu học đã khác phục được điều đó và giúp các em hiểuthêm ý nghĩa những từ ngữ đó có trong đời thường thông qua diễn giải ở truyện
Ví dụ truyện Há miệng chờ sung (Tiếng Việt 2, tập 1) Thông qua những
tình tiết thú vị trong truyện mang tính trực quan khi chàng lười nằm há miệngdưới cây sung chờ sung rụng để ăn, nhưng không có quả sung nào rụng vàomiệng Cho tới khi có người qua đường và anh ta nhờ người này nhặt giúpsung bỏ hộ vào miệng, người này còn lười hơn khi dùng hai ngón chân cặpquả sung bỏ vào miệng cho chàng lười Những hoạt động và hành động trongtruyện mang tính thực tế với đời sống và giúp các em đễ cảm nhận và biết về
những hành động đó Bài học còn giúp các em diễn giải từ Chàng: chỉ người đàn ông còn trẻ; Mồ côi cha mẹ: Mất cha mẹ từ khi còn nhỏ, qua đó giúp các