1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lựa chọn biện pháp nâng cao hiệu quả huấn luyện thể lực chuyên môn cho nam vận động viên pencak silat tỉnh hà giang lứa tuổi 15 – 16

91 805 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 611,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pencak Silat phát triển rấtmạnh ở nhiều quốc gia và được tổ chức thi đấu phổ biến tại khu vực Đông Nam Á và Châu Á: Là một trong những môn thể thao nằm trong Chương trình thi đấuchính th

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN THANH TÂM

LùA CHäN BIÖN PH¸P N¢NG CAO HIÖU QU¶

HUÊN LUYÖN THÓ LùC CHUY£N M¤N cho NAM VËN §éNG VI£N

PENCAK SILAT TØNH Hµ GIANG LøA TUæI 15 – 16

Chuyên ngành: Giáo dục thể chất

Mã số: 60140103

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học

TS Trương Anh Tuấn

Hà Nội – 2014

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành bày tỏ tấm lòng biết ơn sâu sắc đến TS Trương Anh Tuấn, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt quá trình

tiến hành nghiên cứu và hoàn thành Luận văn.

Em xin gửi lời cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Giáo dục thể chất Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tận tình dạy bảo và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và bảo vệ Luận văn.

Tôi xin được gửi lời cảm ơn tới Ban Giám đốc Trung tâm huấn luyện và thi đấu TDTT tỉnh Hà Giang đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện Luận văn.

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, những người thân trong gia đình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện Luận văn này.

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 06 tháng 9 năm 2014

TÁC GIẢ

Nguyễn Thanh Tâm

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bốtrong bất kỳ một công trình nào

Tác giả luận văn

Nguyễn Thanh Tâm

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN

CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

LVĐ : Lượng vận động

HLV : Huấn luyện viênTDTT : Thể dục thể thaoTDTTQC : Thể dục thể thao quần chúngTLCM : Thể lực chuyên môn

Trang 5

s : giây

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4

3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 4

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 4

5 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 5

6 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5

7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5

8 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI 9

9 TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 9

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 10

1.1 Khái quát quan điểm của Đảng và Nhà nước về TDTT 10

1.2 Khái quát về TDTT tỉnh Hà Giang 15

1.3 Khái quát về lịch sử phát triển môn Pencak Silat ở Đông Nam Á và ở Việt Nam 20

1.3.1 Nguồn gốc môn Pencak Silat 20

1.3.2 Khái quát về sự phát triển của Pencak Silat ở một số nước Đông Nam Á 21 1.3.3 Sự phát triển Pencak Silat ở Việt Nam 25

1.4 Đặc điểm thi đấu và huấn luyện môn Pencak Silat 27

1.4.1 Thi đấu đối kháng (Tanding) 27

1.4.2 Thi đấu biểu diễn quyền thuật (Seni) 28

1.5 Đặc điểm các tố chất thể lực trong môn võ Pencak Silat 29

1.5.1 Tố chất sức mạnh 29

1.5.2 Tố chất sức nhanh 30

1.5.3 Tố chất sức bền 32

1.5.4 Tố chất mềm dẻo 33

1.5.5 Năng lực phối hợp vận động (Tố chất khéo léo) 34

1.6 Đặc điểm huấn luyện thể lực trong môn Penkat Silat 36

Trang 7

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUẤN LUYỆN THỂ LỰC CHUYÊN MÔN CỦA NAM VĐV PENCAK SILAT LỨA TUỔI 15-16 TỈNH HÀ

GIANG 39

2.1 Đánh giá thực trạng huấn luyện thể lực chuyên môn của nam VĐV Pencak Silat lứa tuổi 15 - 16 tỉnh Hà Giang 39

2.1.1 Thực trạng huấn luyện VĐV Pencak Silat tỉnh Hà Giang 39

2.1.2 Thực trạng các điều kiện đảm bảo cho công tác huấn luyện VĐV Pencak Silat tỉnh Hà Giang 40

2.2 Thực trạng TLCM của nam VĐV Pencak Silat lứa tuổi 15 – 16 tỉnh Hà Giang 41

2.2.1 Kết quả phỏng vấn lựa chọn test đánh giá thực trạng thể lực của nam VĐV Pencak Silat lứa tuổi 15-16 tỉnh Hà Giang 41

2.2.2 Xác định tính thông báo và độ tin cậy của các test 43

2.2.3 Đánh giá thực trạng TLCM của nam VĐV Pencak Silat lứa tuổi 15 – 16 tỉnh Hà Giang 48

2.3 Các yếu tố chi phối hiệu quả huấn luyện TLCM của nam VĐV Pencak Silat lứa tuổi 15 – 16 tỉnh Hà Giang 50

CHƯƠNG 3: LỰA CHỌN BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUẤN LUYỆN THỂ LỰC CHUYÊN MÔN CỦA NAM VĐV PENCAK SILAT LỨA TUỔI 15 – 16 TỈNH HÀ GIANG 52

3.1 Xác định nguyên tắc lựa chọn biện pháp nâng cao hiệu quả huấn luyện TLCM của nam VĐV Pencak Silat lứa tuổi 15 – 16 52

3.1 1 Nguyên tắc phải đảm bảo tính khoa học 52

3.1 2 Nguyên tắc phải đảm bảo tính lý luận và thực tiễn 53

3.1 3 Nguyên tắc phải đảm bảo tính khả thi 53

3.2 Lựa chọn biện pháp nâng cao hiệu quả huấn luyện TLCM của nam VĐV Pencak Silat lứa tuổi 15 – 16 tỉnh Hà Giang 53

Trang 8

3.2.1 Kết quả phỏng vấn lựa chọn các nhóm biện pháp 53

3.2.2 Ứng dụng các nhóm biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả huấn luyện TLCM của nam VĐV Pencak Silat lứa tuổi 15 – 16 tỉnh Hà Giang 55

3.3 Thực nghiệm và đánh giá các biện pháp nâng cao hiệu quả huấn luyện TLCM của nam VĐV Pencak Silat lứa tuổi 15 – 16 tỉnh Hà Giang 59

3.3.1 Đánh giá kết quá của các nhóm biện pháp 59

3.3.2 Đánh giá trình độ phát triển TLCM của VĐV Pencak Silat sau khi áp dụng các nhóm biện pháp 62

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

PHỤ LỤC 73

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

TrangBảng 1.1 Thực trạng phong trào TDTT Hà Giang năm 2005 - 2013 18Bảng 2.1 Thực trạng các điều kiện đảm bảo cho công tác huấn luyện

Bảng 2.2 Kết quả phỏng vấn lựa chọn test đánh giá trình độ thể lực

của nam VĐV Pencak Silat lứa tuổi 15-16 tỉnh Hà Giang 42Bảng 2.3 Hệ số tương quan giữa các test lựa chọn với hiệu xuất thi

đấu của nam Pencak silat lứa tuổi 15-16 tỉnh Hà Giang 45Bảng 2.4 Hệ số tin cậy của các test đánh giá TLCM của nam VĐV

Pencak silat lứa tuổi 15 – 16 tỉnh Hà Giang 47Bảng 2.5 Thực trạng trình độ thể lực của nam VĐV Pencak Silat lứa

Bảng 3.1 Kết quả phỏng vấn lựa chọn biện pháp nâng cao hiệu quả

huấn luyện TLCM của nam VĐV Pencak Silat lứa tuổi 15-16

tỉnh Hà Giang

54

Bảng 3.2 Kết quả phát triển TLCM của nam VĐV Pencak Silat lứa tuổi

15-16 tỉnh Hà Giang trước khi áp dụng các nhóm biện pháp 63Bảng 3.3 Kết quả phát triển TLCM của nam VĐV Pencak Silat lứa

tuổi 15-16 tỉnh Hà Giang sau khi áp dụng các nhóm biện pháp 64Bảng 3.4 Nhịp tăng trưởng TLCM của nam VĐV Pencak Silat lứa

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Phát triển TDTT là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhànước nhằm nâng cao sức khỏe, thể lực cho nhân dân; góp phần tích cực bồidưỡng các phẩm chất đạo đức, ý chí, hình thành lối sống tích cực, lành mạnhcho thế hệ trẻ phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Đảng và Nhà nước ta luôn coi TDTT là một bộ phận thuộc chính sách

xã hội, nhằm chăm lo, bồi dưỡng nguồn lực con người về sức khỏe, thể lực,

về tinh thần, ý chí để phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và góp phầnlàm phong phú đời sống tinh thần của con người Việt Nam

Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự quan tâm của xã hội,những năm qua TDTT nói chung và TTTTC nói riêng của nước ta đã cóbước phát triển đáng khích lệ, những thành tích đạt được trên đấu trường quốc

tế và khu vực, đã thu hút được sự ủng hộ của người hâm mộ thể thao, khích lệlòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc của đông đảo nhân dân Công tác huấnluyện và đào tạo tài năng thể thao thể thao đã có những bước tiến bộ vữngchắc trong tổ chức đào tạo và chất lượng đào tạo từ Đội tuyển Quốc gia đếnđội tuyển trẻ được nâng cao Hệ đào tạo tài năng thể thao từ Trung ương đếnđịa phương đã từng bước được hoàn thiện Đạt được những tiến bộ nói trên lànhờ sự đổi mới về chế độ, chính sách TDTT của Nhà nước, nhất là chế độ,chính sách đối với VĐV và HLV, sự đầu tư về khoa học công nghệ, cơ sở vậtchất kỹ thuật TDTT; nhờ sự quan tâm ủng hộ và tài trợ các doanh nghiệp, các

tổ chức xã hội và cá nhân

Thực tế trên một mặt đã khẳng định được sự quan tâm của Đảng vàNhà nước đối với sự nghiệp TDTT, mặt khác cũng khẳng định tiềm năng pháttriển của TTTTC nước ta

Trang 11

Trong số các môn thể thao của Việt Nam giành được thành tích caotại đấu trường khu vực Đông Nam Á hiện nay cần phải kể đến môn võPencak Silat.

Pencak Silat là một môn thể thao mới được du nhập và phát triển tạiViệt Nam vào năm 1989 của thế kỷ trước Môn Pencak Silat được xuất hiện ởMalaysia và Indonesia từ thế kỷ thứ 15 và liên tục phát triển qua nhiều thế kỷ vàhiện nay đã phát triển ở nhiều nước trên thế giới Pencak Silat phát triển rấtmạnh ở nhiều quốc gia và được tổ chức thi đấu phổ biến tại khu vực Đông Nam

Á và Châu Á: Là một trong những môn thể thao nằm trong Chương trình thi đấuchính thức tại Đại hội thể thao Đông Nam Á, Đại hội thể thao bãi biển Châu Á,Đại hội thế thao trong nhà Châu Á, ngoài ra còn có Giải vô địch thế giới

Môn Pencak Silat là một môn võ có những đặc điểm kỹ thuật, thể lựcphù hợp với tầm vóc, tâm sinh lý và thể chất của người Việt Nam Tuy là môn

võ thuật mới phát triển, nhưng do Việt Nam là đất nước có bề dày truyềnthống võ thuật, nên môn Pencak Silat nước ta đã phát triển nhanh chóng vàđạt được những thành tích đáng khích lệ

Hiện nay Pencak Silat đã trở thành một trong những môn thể thao trọngđiểm của nước ta và có khả năng giành thứ hạng cao trong các giải khu vực

và thế giới Tổng cục TDTT đã đưa môn Pencak Silat vào hệ thống thi đấu thểthao thành tích cao nước ta

Pencak Silat là một môn thi đấu đối kháng trực tiếp, có sự va chạm vàtiếp xúc mạnh về thể chất Yêu cầu đặt ra với VĐV Pencak Silat là phải có kỹchiến thuật, phẩm chất tâm lý, ý chí tốt, đặc biệt là sự phát triển toàn diện các

tố chất thể lực như sức nhanh, sức mạnh, sức bền, năng lực phối hợp vậnđộng và năng lực mềm dẻo Trong thời gian thi đấu, VĐV luôn phải tập trungcao độ, di chuyển linh hoạt, thực hiện những đòn đánh nhanh, mạnh với biên

độ lớn và có đủ sức bền để không làm giảm tốc độ đòn đánh ở cuối trận đấu

Trang 12

Trong những năm gần đây, cùng với sự đổi mới đào tạo tài năng thểthao, môn Pencak Silat cũng từng bước được nghiên cứu nhằm hoàn thiện quátrình huấn luyện để không ngừng nâng cao thành tích thi đấu.

Ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu về Pencak Silat như:

Nguyễn Ngọc Anh (2000)“Nghiên cứu hệ thống kỹ thuật đánh ngã và bài tập

bổ trợ nâng cao hiệu quả khả năng đánh ngã của VĐV Việt Nam trong thi đấu Pencak Silat”; Trần Kim Tuyến, (2003) “Nghiên cứu trình độ thể lực của VĐV trong giai đoạn chuyên môn hoá”; Mai Thế Lâm (2007) “Nghiên cứu lựa chọn

và ứng dụng một số bài tập chiến thuật thi đấu đối kháng nhằm nâng cao hiệu quả thi đấu cho VĐV Pencak Silat trẻ lứa tuổi 14-17”; Nguyễn Thị Hồng Hải (2008).“ Xây dựng các chỉ tiêu đánh giá trình độ thể lực cho nữ VĐV Pencak Silat lứa tuổi 15-16 Tỉnh Hà Tây ” Các đề tài nghiên cứu kể trên đã chỉ rõ thực

trạng đào tạo tài năng thể thao trẻ, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả huấnluyện và nâng cao thành tích của VĐV Pencak Silat Tuy vậy các công trìnhnghiên cứu trên chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu các biện pháp, phươngtiện nâng cao hiệu quả huấn luyện kỹ thuật, đánh giá trình độ thể lực…, nhưngcòn chưa có tác giả nào quan tâm nghiên cứu các biện pháp nhằm nâng cao hiệuquả huấn luyện TLCM, một trong những yếu tố đóng vai trò quyết định thànhbại trong thi đấu Pencak Silat, nhất là đối với VĐV ở độ tuổi 15 – 16

Môn thể thao Pencak Silat được phát triển tại tỉnh Hà Giang từ năm 1994đến 1996, song bị gián đoạn 8 năm, đến năm 2004 mới được phát triển trởlại Do bị gián đoạn trong một thời gian dài nên phong trào tập luyện trênđịa bàn toàn tỉnh còn hạn chế, đặc biệt công tác đào tạo VĐV trẻ gặp rấtnhiều khó khăn do nguồn kinh phí dành cho đào tạo VĐV thấp, công tácquản lý VĐV chưa chặt chẽ, huấn luyện chưa hiệu quả Thành tích thi đấucủa VĐV Pencak Silat trẻ tỉnh Hà Giang còn thấp Trong thi đấu bộc lộnhiều điểm yếu, đặc biệt là TLCM VĐV thường xuyên bị giảm sút thể lực

ở những phút cuối của trận đấu

Trang 13

Qua quá trình huấn luyện đội tuyển Pencak Silat của tỉnh và quan sátnhiều giải đấu Pencak Silat, chúng tôi nhận thấy những VĐV đạt thành tíchcao ở môn này thường là những VĐV có nền tảng TLCM Để nâng cao thànhtích môn Pencak Silat của tỉnh Hà Giang trong những năm tới, bên cạnh việcgiải quyết các nhiệm vụ kỹ, chiến thuật, tâm lý cần tập trung nâng cao thểlực chuyên môn cho VĐV

Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn đào tạo VĐV Pencak Silat trẻ củatỉnh Hà Giang, chúng tôi đã xác định lựa chọn đề tài nghiên cứu:

“Lựa chọn biện pháp nâng cao hiệu quả huấn luyện thể lực chuyên môn cho nam vận động viên Pencak Silat tỉnh Hà Giang lứa tuổi 15 – 16’’

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Thông qua việc nghiên cứu lựa chọn các biện pháp nâng cao hiệu quảhuấn luyện TLCM để góp phần nâng cao chất lượng công tác đào tạo, huấnluyện và thi đấu của nam VĐV Pencak Silat lứa tuổi 15 – 16 của tỉnh Hà Giang

3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, đề tài cần giải quyết 3 nhiệm vụ sau:

3.1 Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng huấn luyện TLCM của nam VĐV

Pencak Silat lứa tuổi 15- 16 tỉnh Hà Giang

3.2 Nhiệm vụ 2: Lựa chọn biện pháp nâng cao hiệu quả huấn luyện

TLCM của nam VĐV Pencak Silat lứa tuổi 15 – 16 tỉnh Hà Giang

3.3 Nhiệm vụ 3: Ứng dụng và đánh giá các biện pháp nâng cao hiệu

quả huấn luyện TLCM của nam VĐV Pencak Silat lứa tuổi 15 – 16 tỉnh HàGiang trong thực tiễn

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Các biện pháp nâng cao hiệu quả huấn luyện TLCM của nam VĐVPencak Silat lứa tuổi 15 – 16

Trang 14

4.2 Khách thể nghiên cứu

Nam VĐV Pencak Silat lứa tuổi 15-16 tại Trung tâm huấn luyện và thiđấu TDTT tỉnh Hà Giang

5 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Thành tích thi đấu của VĐV trẻ môn Pencak Silat còn nhiều hạn chế,một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng đó là do công tác huấnluyện TLCM chưa được quan tâm đúng mức

Nếu đề tài lựa chọn được những biện pháp nâng cao hiệu quả huấn luyện TLCM, phù hợp với đặc điểm của nam VĐV Pencak Silat lứa tuổi 15-

16 thì trình độ TLCM của VĐV và thành tích thi đấu của VĐV sẽ được nâng cao.

6 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp nâng cao TLCM của nam VĐV

Pencak Silat lứa tuổi 15-16 tỉnh Hà Giang

- Đối tượng quan trắc: Các VĐV Pencak Silat tỉnh Hà Giang

- Số lượng mẫu nghiên cứu: Là 20 nam VĐV Pencak Silat của Trungtâm Huấn luyện và Thi đấu TDTT tỉnh Hà Giang

7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

7.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu

Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong các công trình nghiêncứu mang tính lý luận, sư phạm, huấn luyện Phương pháp này giúp cho việc

hệ thống hoá các kiến thức có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, hình thành

cơ sở lý luận về quan điểm về các biện pháp nâng cao hiệu quả huấn luyệnTLCM của nam VĐV Pencak Silat lứa tuổi 15-16 tỉnh Hà Giang, đề xuất giảthuyết khoa học, xác định nhiệm vụ nghiên cứu Đồng thời việc sử dụngphương pháp nghiên cứu này cho phép thu thập thêm các số liệu để kiểmchứng và so sánh với những số liệu đã thu thập được trong quá trình nghiêncứu Các tài liệu tham khảo chủ yếu được thu thập từ Thư viện Trường Đại

Trang 15

học Sư phạm Hà Nội, Thư viện Viện khoa học TDTT và trên internet.

Trong quá trình nghiên cứu, đề tài tham khảo 64 sách và tài liệu khoahọc tiếng Việt:

- Các văn kiện của Đảng và Nhà nước về thể dục thể thao trong giaiđoạn mới; về định hướng và chính sách phát triển TLCM

- Các sách chuyên khảo về lý luận TDTT, tâm lý học TDTT, sinh lýhọc TDTT, y học TDTT, về huấn luyện và đào tạo VĐV các môn thể thao,đặc biệt là các môn thể thao đối kháng hai người

- Các công trình nghiên cứu khoa học TDTT đã được công bố

7.2 Phương pháp phỏng vấn bằng phiếu hỏi

Đối tượng phỏng vấn của đề tài là 25 HLV, chuyên gia, chuyên viên, giáoviên, cán bộ quản lý của các trung tâm võ thuật mạnh trên toàn quốc: Trung tâmHuấn luyện thể thao quốc gia I, Trung tâm Huấn luyện thể thao Bộ công an, HàNội, Quảng Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh, Vĩnh Phúc, Quân đội, Thanh Hóa,Nghệ An, Hà Giang những người trực tiếp làm công tác đào tạo VĐV PencakSilat (thời điểm phỏng vấn tháng 08/2013) để thu thập thông tin về thực trạngcông tác huấn luyện và đào tạo VĐV Pencat Silat và các biện pháp nâng caohiệu quả huấn luyện TLCM của Nam VĐV Pencak Silat lứa tuổi 15 – 16

Nội dung phỏng vấn nhằm mục đích tìm hiểu:

- Các biện pháp được sử dụng trong quá trình huấn luyện TLCM

- Các giai đoạn huấn luyện TLCM

- Các nguyên tắc sử dụng LVĐ và quãng nghỉ trong huấn luyện TLCM

- Ý kiến của các nhà chuyên môn, huấn luyện viên về các tiêu chí đánhgiá trình độ TLCM

7.3 Phương pháp quan sát sư phạm

Nhằm quan sát và đánh giá khách quan quá trình huấn luyện TLCM củanam VĐV Pencak Silat lứa tuổi 15 – 16 của tỉnh Hà Giang Nội dung quan sátđược tập trung vào một số yếu tố:

Trang 16

- Việc sử dụng các bài tập TLCM trong huấn luyện thể lực.

- Nội dung, thời gian và mức độ tác động của các bài tập TLCM trongtừng buổi huấn luyện

- Loại hình bài tập và LVĐ của bài tập TLCM

7.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm

Sử dụng các test chuyên môn để đánh giá TLCM của nam VĐV PencakSilat lứa tuổi 15 – 16

- Test đánh giá Sức mạnh:

1 Đấm thẳng hai tay tốc độ vào lăm pơ 15s (lần)

2 Đá vòng cầu hai chân vào lăm pơ 15s (lần)

- Test đánh giá Sức nhanh:

3 Đá vòng cầu chân thuận vào bao 30s (lần)

4 Quét trước, quét sau có đích 30s (lần)

- Test đánh giá Sức bền:

5 Đá vòng cầu hai chân vào lăm pơ 120s (lần)

6 Di chuyển ra tổ hợp đòn 120s (tổ)

- Test đánh giá Khả năng phối hợp vận động:

7 Đá vòng cầu rút chân đá về quét sau 60s(lần)

8 Kết hợp đấm thẳng – đá vòng cầu hai chân liên tục 30s (lần)

7.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Nhằm kiểm tra, đánh giá hiệu quả các biện pháp nâng cao hiệu quảhuấn luyện TLCM đề tài lựa chọn trong thực tiễn huấn luyện VĐV PencastSilat lứa tuổi 15-16 của tỉnh Hà Giang

Thực nghiệm sư phạm được tiến hành trong thời gian 3 tháng Đối tượngtham gia thực nghiệm là 20 nam VĐV Pencak Silat lứa tuổi 15-16 tỉnh Hà Giang

Để kiểm nghiệm tính hiệu quả của biện pháp đã lựa chọn, đề tài tiếnhành kiểm tra sau 3 tháng thực nghiệm và so sánh kết quả trước khi áp dụng

Trang 17

biện pháp và sau khi áp dụng biện pháp.

7.6 Phương pháp toán học thống kê [9], [19], [40]

Là phương pháp được chúng tôi sử dụng trong quá trình xử lý các số liệu

đã thu thập được của quá trình nghiên cứu Các tham số đặc trưng mà chúng tôiquan tâm là: x , d2, d, t, r và được tính theo các công thức sau (với n < 30):

a Số trung bình quan sát:

n

x x

n i

) y y ( ) x x (

) y y )(

x x ( r

i i

i i

Trang 18

Z i

xi: Là giá trị cần tìm ứng với điểm từ 1 - 10 của C

x: Là giá trị trung bình của tập hợp

d: Là độ lệch chuẩn

8 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI

- Đánh giá được thực trạng huấn luyện TLCM của nam VĐV Pencak Silat lứa tuổi 15 – 16 tỉnh Hà Giang

- Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả huấn luyện TLCM của namVĐV Pencak Silat lứa tuổi 15 – 16 tỉnh Hà Giang

9 TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

9.1 Địa điểm nghiên cứu

- Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

- Trung tâm Huấn luyện và thi đấu TDTT tỉnh Hà Giang

9.2 Thời gian nghiên cứu

Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng 4 năm 2013 đến tháng 9 năm

2014 và được chia làm 3 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Từ tháng 4/2013 đến tháng 6/2013 Đọc tài liệu tham

khảo, hoàn thành đề cương

Giai đoạn 2: Từ tháng 7/2013 đến tháng 9/2013 Tiến hành giải quyết

nhiệm vụ 1

Giai đoan 3: Từ tháng 10/2013 đến tháng 9/2014 Tiến hành giải quyết

nhiệm vụ 2 Hoàn thành đề tài và bảo vệ công trình nghiên cứu

Trang 19

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Khái quát quan điểm của Đảng và Nhà nước về TDTT

TDTT có hiệu quả tích cực trong việc nâng cao sức khoẻ của nhân dân, góp phần làm phong phú đời sống văn hoá tinh thần, xây dựng lối sống lành mạnh, đẩy lùi tệ nạn xã hội

Đảng và Nhà nước luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, phát triển sựnghiệp TDTT nhằm góp phần tăng cường sức khoẻ, thể lực của nhân dân, gópphần xây dựng lối sống tích cực, lành mạnh và bồi dưỡng những phẩm chấtđạo đức nhân cách cho thế hệ trẻ Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nướcTDTT được coi là một bộ phận thuộc chính sách xã hội nhằm chăm lo, bồidưỡng nguồn lực con người phục vụ nhiệm vụ phát triển bền vững đất nước

và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam

Đường lối quan điểm TDTT của Đảng và Nhà nước được thể hiện rõtrong các văn kiện của Đảng và chính sách về TDTT của Nhà nước

Các nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, VI, thứ VII và thứVIII, IX, X và XI của Đảng đã xác định những quan điểm cơ bản và chủtrương lớn để chỉ đạo công tác TDTT trong sự nghiệp đổi mới

Về công tác TTTTC, văn kiện Đại hội Đảng lần thứ V đã nêu rõ:

“ Tích cực xây dựng đội ngũ vận động viên ngày càng đông đảo, cóphẩm chất chính trị, đạo đức tốt, và đạt thành tích kỷ lục cao Muốn vậy cầntăng cường hệ thống tổ chức quản lý công tác TDTT ở các cấp, các ngành,các đoàn thể nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ, đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật và từng bước tăngthêm cơ sở vật chất kỹ thuật của TDTT” [58]

Văn kiện Đại hội Đảng VI tiếp tục khẳng định:

Củng cố và mở rộng hệ thống trường, lớp năng khiếu thể thao, pháttriển lực lượng VĐV trẻ, lựa chọn và tập trung sức nâng cao thành tích một số

Trang 20

môn thể thao Coi trọng việc giáo dục đạo đức, phong cách thể thao xã hộichủ nghĩa Cố gắng bảo đảm các điều kiện về cán bộ, về khoa học, kỹ thuật,

cơ sở vật chất và nhất là về tổ chức, quản lý cho công tác TDTT [60]

Đại hội Đảng VII đã định hướng đào tạo VĐV TTTTC:

Nâng cao chất lượng các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng VĐV, nâng cao thànhtích một số môn thể thao Cải tiến tổ chức, quản lý các hoạt động TDTT theohương kết hợp chặt chẽ các tổ chức Nhà nước và các tổ chức xã hội Tạo các điềukiện về cán bộ, cơ sở vật chất và khoa học kỹ thuật để phát triển nhanh một sốmôn thể thao Việt Nam có truyền thống và có triển vọng [60]

Chỉ thị số 36 - CT/TW, ngày 24 tháng 3 năm 1994 của Ban Bí thưTrung ương Đảng (khóa VII) đã chỉ rõ: "Phát triển TDTT là một bộ phậnquan trọng trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nướcnhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, công tác TDTT phải gópphần tích cực nâng cao sức khoẻ, thể lực, giáo dục nhân cách, đạo đức lốisống lành mạnh, làm phong phú đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân,nâng cao năng suất lao động xã hội và sức chiến đấu của các lực lượng vũtrang… Phát triển TDTT là trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền,các đoàn thể nhân dân và tổ chức xã hội, là nhiệm vụ của toàn xã hội, trong

đó ngành TDTT giữ vai trò nòng cốt Xã hội hóa tổ chức các hoạt động TDTTdưới sự quản lý thống nhất của Nhà nước [9]

TTTTC là hoạt động tập luyện và thi đấu của VĐV, trong đó, thànhtích cao, kỷ lục thể thao được coi là giá trị văn hóa, là sức mạnh và năng lựccủa con người; nhà nước phát triển thể thao thành tích cao nhằm phát huy tối

đa khả năng về thể lực, ý chí và trình độ kỹ thuật của VĐV để đạt được thànhtích cao trong thi đấu thể thao Phát triển TTTTC là một nhiệm vụ chính trịnhằm phát huy truyền thống của dân tộc, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thầncủa nhân dân, đề cao sức mạnh ý chí tinh thần, tự hào dân tộc, góp phần nâng

Trang 21

cao uy tín và vị thế của dân tộc Việt Nam TTTTC có vị trí quan trọng trongviệc phát triển TDTT nói chung, nâng cao sức khỏe và năng lực con người, cótác dụng to lớn trong việc tăng cường tình đoàn kết hữu nghị giữa các quốcgia, dân tộc và góp phần nâng cao uy tín của địa phương, đất nước

TTTTC có mối quan hệ biện chứng với TDTT nói chung và với phongtrào thể thao quần chúng nói riêng Ngày nay, ở các quốc gia phát triển,TTTTC đã trở thành một bộ phận quan trọng của lĩnh vực Kinh tế - TDTT,thể hiện ở một số lĩnh vực như bóng đá, bóng chuyền, bóng rổ, quần vợt, đua

xe mô tô, ôtô … và đã trở thành nghề nghiệp của một bộ phận xã hội

Sinh thời, Bác Hồ rất quan tâm đến TTTTC Theo Người, TTTTC pháttriển trên cơ sở TDTTQC Hồ Chí Minh từng lưu ý rằng, phát triển TTTTCvừa phấn đấu giành “vinh quang của dân tộc về mặt thể thao, vừa thúc đẩyTDTTQC vì sức khoẻ cho mọi người dân”

Theo Bác, TDTTQC phải được phát triển phong phú, đó là sự đa dạngcác loại hình, sâu rộng các địa bàn và hầu hết các đối tượng tập luyện Tínhphong phú đó là nền tảng của TTTTC Đồng thời TTTTC phát triển mạnhcũng thể hiện tính phong phú của nó về cả loại hình, đối tượng, địa bàn.Trong thư chúc mừng Đại hội thể thao GANEFO châu Á lần thứ nhất, tổ chứcvào cuối năm 1966 ở Campuchia, Hồ Chí Minh viết: “Đây là cuộc gặp gỡ lớn

để các lực lượng mới trỗi dậy ở châu Á, tỏ rõ cho toàn thế giới thấy khả năngphong phú của mình trong lĩnh vực thể thao” Quan điểm này còn có nghĩarằng, thể thao của các lực lượng mới trỗi dậy ở châu Á với khả năng phát triểnmạnh mẽ cả về TDTTQC và TTTTC [49]

Điều 31, Luật Thể dục, thể thao đã xác định trách nhiệm của Nhà nướcđối với sự nghiệp TDTT, trong đó có lĩnh vực TTTTC: “Nhà nước có chínhsách phát triển TTTTC, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại;đào tạo bồi dưỡng VĐV, HLV đạt trình độ quốc gia, quốc tế; tổ chức thi đấu

Trang 22

thể thao; tham gia các giải thể thao quốc tế; khuyến khích tổ chức cá nhântham gia phát triển TTTTC”.

Bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trong bối cảnh nềnkinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước ta đã thấy rõ vị trí

và vai trò quan trọng của TDTT trong việc chuẩn bị và bồi dưỡng nguồn nhânlực có chất lượng cao, đặc biệt là về thể chất, tinh thần và ý chí

Đại hội XI của Đảng đã đề ra mục tiêu: ”xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; con người phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, ý thức công dân, tuân thủ pháp luật” TDTT vừa là một lĩnh vực văn hóa, giáo dục,

một chính sách xã hội, vừa là một hoạt động dịch vụ cần góp phần tích cực

thực hiện mục tiêu trên.

Văn kiện Đại hội XI cũng nêu rõ nhiệm vụ cụ thể của TDTT: ”Xây dựng và nâng cấp đồng bộ hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao Coi trọng bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc… “Phát triển mạnh phong trào thể dục, thể thao đại chúng, tập trung đầu tư nâng cao chất lượng một số môn thể thao thành tích cao nước ta có ưu thế Kiên quyết khắc phục các hiện tượng tiêu cực trong thể thao”.

Ngày 1 tháng 12 năm 2011, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương

Đảng (khóa XI) đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ vể thể dục, thể thao đến năm

2020, Nghị quyết của Bộ Chính trị đã khẳng định các quan điểm phát triển

TDTT trong giai đoạn phát triển mới của đất nước:

- Một là, Phát triển thể dục, thể thao là yêu cầu khách quan của xã

hội nhằm góp phần nâng cao sức khỏe, thể lực và chất lượng cuộc sống củanhân dân; giáo dục đạo đức, xây dựng lối sống và môi trường văn hóa lànhmạnh, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, mở rộng quan hệ quốc

Trang 23

tế; đồng thời, là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, tổchức xã hội và của mỗi người dân, đảm bảo cho sự nghiệp TDTT ngàycàng phát triển

- Hai là, Đầu tư cho thể dục, thể thao là đầu tư cho con người, cho sự

phát triển của đất nước Tăng tỉ lệ chi ngân sách nhà nước, ưu tiên đầu tư xây

cơ sở vật chất TDTT và đào tạo VĐV TTTTC; đồng thời phát huy các nguồnlực của xã hội để phát triển TDTT Đổi mới quản lý nhà nước về thể dục, thểthao, phát huy mạnh mẽ vai trò của các tổ chức xã hôị trong quản lý, điềuhành các hoạt động thể dục, thể thao

- Ba là, Giữ gìn, tôn vinh giá trị thể dục, thể thao dân tộc, tiếp thu tinh

hoa văn hóa của nhân loại, phát triển thể dục, thể thao nước ta mang tính dântộc, khoa học, nhân dân và văn minh.”

Về nhiệm vụ và giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo tài năng thể thao,Nghị quyết của Bộ Chính trị chỉ rõ: "Tăng tỷ lệ chi ngân sách nhà nước, ưutiên đầu tư xây dựng cơ sở vật chất thể dục, thể thao và đào tạo VĐVTTTTC ".: "Dành nguồn lực thích đáng để hình thành hệ thống đào tạo tàinăng thể thao với đội ngũ kế cận dồi dào và có chất lượng, làm tiền đề chobước phát triển đột phá về thành tích trong một số môn thể thao [26][39]

Đầu tư, nâng cấp các trung tâm huấn luyện thể thao của quốc gia,các ngành, các địa phương, đáp ứng yêu cầu huấn luyện thể thao hiện đại.Củng cố và phát triển các trường, lớp năng khiếu thể thao ở các tỉnh,thành phố với quy mô phù hợp, có nhiệm vụ hỗ trợ phát triển mạng lướihoạt động thể thao thanh, thiếu niên, học sinh, sinh viên các trường học vàphát hiện, bồi dưỡng các năng khiếu và tài năng thể thao Khuyến khíchphát triển câu lạc bộ về các môn thể thao hoạt động theo phương thức tựquản, có sự hỗ trợ của Nhà nước Mở rộng quy mô và hiện đại hóa cáctrung tâm huấn luyện thể thao quốc gia

Trang 24

Đổi mới tổ chức, quản lý TTTTC theo hướng chuyên nghiệp phù hợpvới đặc điểm của từng môn và từng địa phương Ưu tiên đầu tư của Nhà nước

và huy động các nguồn lực xã hội hỗ trợ cho các cơ sở đào tạo vận động viêncác môn thể thao trọng điểm; tích cực chuẩn bị lực lượng vận động viên vàcác điều kiện cơ sở vật, chất kỹ thuật cần thiết, để sẵn sàng đăng cai tổ chứcĐại hội thể thao Châu Á Bảo đảm sử dụng hiệu quả các nguồn lực

Coi trọng giáo dục đạo đức, ý chí, lòng tự hào dân tộc cho VĐV Tônvinh và đãi ngộ xứng đáng các VĐV xuất sắc và phát huy vai trò nêu gươngcủa họ đối với lớp VĐV kế cận và với thanh, thiếu niên nói chung Kiên quyếtđấu tranh khắc phục những hiện tượng tiêu cực trong thể thao, nhất là trongbóng đá và các môn TTTTC" [39]

Như vậy có thể khẳng định, TDTT là một bộ phận của nền văn hóa xãhội có giá trị xã hội và nhân văn sâu sắc Đảng và Nhà nước ta thấy rõ giá trị

xã hội to lớn của TDTT, do vậy trong suốt quá trình lãnh đạo Cách mạngnước ta, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm lãnh đạo phát triển sự nghiệpTDTT, coi TDTT là một bộ phận thuộc chính sách xã hội nhằm chăm lo, bồidưỡng nguồn lực con người, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước vàbảo vệ vững chắc Tổ quốc Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, TDTTdần trở thành một bộ phận vững chắc trong đời sống xã hội nước ta

1.2 Khái quát về TDTT tỉnh Hà Giang

Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cùng với sự nỗ lực phấn đấu,của Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân các dân tộc, tình hình và điều kiệnkinh tế xã hội của tỉnh Hà Giang đã từng bước ổn định và phát triển

Triển khai thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước vềphát triển kinh tế xã hội và văn hóa; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ

XV về phát triển kinh tế xã hội tỉnh Hà Giang, ngày 17 tháng 3 năm 2005

UBND tỉnh Hà Giang đã ban hành Chiến lược số 17/UB-CLTDTT về việc

Trang 25

xây dựng, phát triển sự nghiệp TDTT của tỉnh giai đoạn 2005-2013 Sau 8

năm thực hiện Chiến lược số 17/UB-CLTDTT, phong trào TDTT tỉnh HàGiang đã có sự phát triển về cả chất và lượng, góp phần tích cực thực hiện cácnhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh [8]

Thực hiện tốt cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác

Hồ vĩ đại” Phong trào TDTTQC phát triển sâu rộng với nhiều hình thức đa

dạng, phong phú, thu hút đông đảo mọi tầng lớp nhân dân tham gia, góp phầnnâng cao sức khỏe, xây dựng đời sống mới, cải thiện, nâng cao mức hưởngthụ về đời sống, văn hóa tinh thần cho nhân dân, là động lực thúc đẩy pháttriển kinh tế - xã hội của tỉnh

Phong trào TDTT phát triển đã thu hút đông đảo cán bộ nhân dân,chiến sĩ lực lượng vũ trang tham gia tập luyện

Với phương châm mỗi người tự chọn cho mình một môn thể thao thíchhợp để luyện tập, cán bộ, công nhân viên chức và người lao động trong tỉnh

đã tự giác, tích cực rèn luyện sức khỏe, thể lực 98% cán bộ, chiến sĩ trong lựclượng vũ trang đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo quy định; các hoạt độngtập luyện và thi đấu TDTT được duy trì thường xuyên: Bóng đá, Bóngchuyền, Cầu lông, Võ thuật định kỳ hàng năm Công an tỉnh đã phối hợp với

Sở VHTT&DL thành lập đoàn kiểm tra sức khỏe cho cán bộ chiến sĩ, đảmbảo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác

TDTT trường học cũng có bước tiến bộ rõ rệt Tính đến tháng 12 năm

2013, công tác giáo dục thể chất trong trường học được thực hiện đúng theoquy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoạt động TDTT ngoại khóa đã đượcquan tâm chỉ đạo thường xuyên Toàn tỉnh có 97% số trường thực hiệnnghiêm túc giờ học giáo dục thể chất nội khóa; số trường hoạt động TDTT

ngoại khóa đạt 84% Đội ngũ giáo viên chuyên trách TDTT trong toàn tỉnh

từng bước được được nâng cao chất lượng về chuyên môn

Trang 26

Hàng năm Sở VH, TT & DL và tỉnh Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí

Minh phát động phong trào “Thanh niên khoẻ”, “Khoẻ để lập nghiệp và giữ nước”, triển khai cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thể thao theo gương Bác Hồ vĩ đại” đã thu hút rất nhiều thanh niên, thiếu niên, nhi đồng tham gia.

Sở VH, TT &DL và Đoàn thanh niên tổ chức nhiều giải thi đấu cấp tỉnh, cấphuyện, thành phố và cơ sở Trong đó, có các giải thể thao truyền thống như:giải Cầu lông, Bóng bàn, Bóng đá… các nhà Văn hoá thanh niên, câu lạc bộTDTT luôn là những điểm quy tụ đông đảo thanh niên đến sinh hoạt

Phong trào TDTT đã từng bước phát triển ở vùng sâu, vùng xa, miềnnúi , vùng đồng bào dân tộc ít người, thể hiện ở số người tập luyện ngày càngtăng, số môn thể thao hiện đại cũng được phổ biến rộng rãi như: Bóng đá,Bóng chuyền, Bóng bàn, Điền kinh, Cầu lông, Võ; cùng kết hợp với các mônthể thao dân tộc như: Kéo co, Đẩy gậy, Bắn nỏ, Đánh quay, Đánh cù, Đánhyến, Tu lu, Guốc ván… các môn thể thao dân tộc truyền thống đang đượcbảo tồn, duy trì và phát huy ở các địa phương trong tỉnh, theo từng nội dung

và bản sắc riêng Đến nay, các vùng trắng về TDTT trên địa bàn tỉnh đã dầnthu hẹp khoảng cách

Hàng năm, căn cứ vào kế hoạch tổ chức của Trung ương về các giải thểthao quần chúng cho người dân tộc thiểu số; UBND tỉnh đã giao cho SởVHTT&DL, Ban Dân tộc tỉnh,- Hội Nông dân tỉnh, triển khai tuyển chọn vàthành lập đoàn VĐV là người dân tộc của tỉnh tham gia với Trung ương và đãđạt nhiều huy chương, xếp thứ hạng cao tại các giải khu vực và toàn quốc

Hoạt động TDTT đối với người cao tuổi phát triển nhanh cả về số lượng

và chất lượng, thu hút đông đảo người cao tuổi tham gia: Thể dục dưỡng sinh,

Đi bộ, Bơi lội, Cầu lông, Bóng bàn

Song song với phát triển phong trào TDTT người cao tuổi, tỉnh cũngluôn quan tâm đến hoạt động TDTT của người khuyết tật, trẻ em có hoàn

Trang 27

cảnh đặc biệt khó khăn Hàng năm Sở VH, TT&DL đã phối hợp với HộiNgười khuyết tật tỉnh tổ chức nhiều hoạt động bổ ích, lành mạnh, thành lậpđoàn VĐV của tỉnh tham gia các giải do Trung ương tổ chức đã đạt nhiều huychương các loại Thông qua hoạt động TDTT nhằm khuyến khích và độngviên những người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt vượt qua qua mặccảm vươn lên hoà nhập cùng cộng đồng, cùng xây dựng quê hương Hà Gianggiàu đẹp văn minh [3][8][10][46].

Thực trạng phong trào TDTT tỉnh Hà Giang từ năm 2005 đến

2013 được đánh giá thông qua một số kết quả thống kê được trình bàytại bảng 1.1

Bảng 1.1 Thực trạng phong trào TDTT Hà Giang năm 2005 – 2013

Năm 2012, Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Giang đã ban hành Nghịquyết số 60/2012/ NQ-HĐND ngày 14/7/2012 của Hội đồng nhân dân tỉnh

về qui định chế độ dinh dưỡng đặc thù đối với VĐV, HLV trên địa bàntỉnh Hà Giang; Nghị quyết số: 63/2012/NQ-HĐND ngày 14/7/2012 củaHội đồng nhân dân tỉnh về qui định chế độ chi tiêu tài chính đối với cácgiải thi đấu thể thao trên địa bàn tỉnh; Quyết định số 2819/2012/QĐ-UBND ngày 18/12/2012 của UBND tỉnh Hà Giang về Qui định một số

Trang 28

chế độ đối với HLV, VĐV được tập trung, tập huấn và thi đấu trên địabàn tỉnh Hà Giang [16][40][41][46].

UBND tỉnh Hà Giang đã quan tâm phê duyệt mở các lớp năng khiếuTDTT tập trung tại Trung tâm Huấn luyện và thi đấu tỉnh do ngân sách Nhànước chi

Trình độ các HLV, VĐV đã từng bước trưởng thành và đạt thành tíchbước đầu tại các giải quốc gia, quốc tế Công tác tuyển chọn VĐV, đào tạo,tập huấn và thi đấu của các VĐV đã được lãnh đạo tỉnh quan tâm thông quaviệc ban hành các Nghị quyết, Quyết định, chủ chương, chính sách phù hợpvới yêu cầu chuyên môn, từng bước nâng cao mức dinh dưỡng, thời gian tậphuấn và chế độ đãi ngộ hợp lý cho các VĐV đào tạo tập trung tại Trung tâmHuấn luyện và thi đấu tỉnh Hà Giang

Tính đến tháng 12/2013 số môn TTTTC của Hà Giang đào tạo 5 môn,gồm: Pencak Silat, wuhsu, Bóng ném, Vật nữ, Vovinam

Môn Pencak Silat được phát triển tại Hà Giang từ năm 1994 đến 1996,song bị gián đoạn 8 năm, đến năm 2004 mới được phát triển trở lại Do bịgián đoạn trong một thời gian dài nên phong trào tập luyện trên địa bàn toàntỉnh còn hạn chế, đặc biệt công tác đào tạo VĐV trẻ gặp rất nhiều khó khăn donguồn kinh phí dành cho đào tạo VĐV thấp, công tác quản lý VĐV chưa chặtchẽ, huấn luyện chưa hiệu quả Tuy nhiên tới thời điểm hiện nay phon trào tậpluyện thường xuyên môn võ Pencak Silat từng bước được phát triển, hiện nay

4 trên 11 huyện, thành phố trên địa bàn toàn tỉnh có lớp năng khiếu tập luyệnthường xuyên, tại Thành phố Hà Giang có khoảng 5 đến 6 câu lạc bộ hoạtđộng thường xuyên

Pencak Silat là môn trong những môn thể thao đầu tiên được tỉnh HàGiang lựa chọn đưa vào đào tạo huấn luyện tại tỉnh Ban đầu (năm 2004 chỉ

có 1 HLV với 8 VĐV với thành tích đạt được là 5 huy chương đồng ở các giải

Trang 29

Trẻ quốc gia Hiện nay tỉnh đang đào tạo 32 VĐV với thành tích tăng lênđáng kể với 2 huy chương vàng, 4 huy chương bạc và 11 huy chương đồng ởcác giải toàn quốc.

1.3 Khái quát về lịch sử phát triển môn Pencak Silat ở Đông Nam Á

và ở Việt Nam

1.3.1 Nguồn gốc môn Pencak Silat

Đấu tranh để tồn tại là bản năng tự nhiên của con người Vì sự tồn tại,con người không chỉ phải sản xuất mà còn phải biết chiến đấu, sáng tạo vàphát triển các kỹ thuật tay không và binh khí Việc sử dụng các bộ phận trong

cơ thể là vũ khí chiến đấu đã được thể hiện trong thực tiễn và một phần trong

đó đã dược phát triển để trở thành KIAT-LAGA: theo tiếng Indonesia cónghĩa là kỹ thuật chiến đấu (bao gồm cả kỹ thuật tay không và binh khí).KIAT-LAGA là các kỹ thuật chiến đấu đặc sắc bao gồm các kỹ năng,

kỹ thuật và phương pháp sử dụng để tấn công hoặc chặn phá các đòn tấncông của đối phương Các kỹ thuật này thường được nhóm, ghép lại vớinhau thành từng RURUT (lộ quyền hay tổ hợp kỹ thuật đòn thế) MỗiRURUT là một tổ hợp kỹ thuật liên hoàn có cùng mục đích sử dụng đểtấn công vào các bộ phận trên cơ thể của đối phương hay phòng thủ chặnphá các đòn đánh của đối phương bằng tay không hoặc binh khí Tronggiai đoạn sơ khởi ban đầu các kỹ thuật này còn rất đơn giản và nó chỉ lànhững tư thế, động tác mô phỏng theo những hoạt động của những loài

ác thú trong thế giới hoang dã Cùng với sự phát triển của xã hội loàingười các kỹ thuật đã được bổ sung hoàn thiện để trở thành môn võPencak Silat ngày nay

1.3.2 Khái quát về sự phát triển của Pencak Silat ở một số nước Đông Nam Á

Trang 30

Ở Đông Nam Á, Pencak Silat có nguồn gốc phát triển ở hai nướcMalaysia và Indonesia

- Sự phát triển của Pencak Silat ở Malaysia.

Các dân tộc Mã Lai là những nhóm người sinh sống chủ yếu bằng nôngnghiệp và mối quan hệ xã hội được hình thành theo hệ thống cộng đồng Đặctính này đã định hình nên người dân Mã Lai một hệ tư tưởng và lối sống cộngđồng dựa trên việc đảm bảo và gìn giữ các giá trị, nguyên tắc cộng đồng cũngnhư đề cao những tiêu chuẩn đạo đức và nhân văn cao cả để thích ứng với đặcđiểm của xã hội, việc tập luyện và sử dụng KIAT-LAGA cũng chủ yếu đượcthực hiện nhằm mục đích tự vệ và tên gọi của nó cũng được đổi thành KIAT-BEDIRI (kỹ thuật tự vệ) Cùng với quá trình phát triển của lịch sử, các kỹ thuậttay không, binh khí của KIAT-BEDIRI đã được sáng tạo, phát triển và hoànthiện để sử dụng trong quân đội, phục vụ cho chiến tranh và một phần trong số

đó đã phát triển thành môn võ thuật biểu diễn và thể thao thi đấu

Trong quá trình phát triển xã hội, người dân Mã Lai cũng đã tiếp thu vàkết hợp hài hòa giữa tinh hoa của các nền văn hóa khác và các nguyên tắc vốn

có của xã hội bản địa Tư tưởng triết học đạo Hồi, đạo Phật, đạo Hinđu…đãđược tiếp nhận, đưa vào hệ tư tưởng, lối sống của cộng đồng và tất nhiên điềunày có ảnh hưởng không nhỏ tới KIAT-BEDIRI Các giáo lý này nhìn chungđều hướng vào việc giáo dục và tạo ra những con người có tính cách, tâm hồncao thượng và điều này hoàn toàn phù hợp với triết lý được tạo lập dựa trên

sự sùng đạo và tôn sùng các nguyên tắc, giá trị đạo đức truyền thống củangười dân Mã Lai

Dưới ách cai trị của thực dân tây Âu, việc truyền bá, tập luyện PencakSilat đã bị nghiêm cấm chặt chẽ vì Pencak Silat bị coi là biểu trưng của tinhthần quật cường dân tộc và là vũ khí đấu tranh chống ách xâm lược Bất chấpmọi nguy hiểm đang rình rập người Mã Lai vẫn âm thầm tập luyện, truyền bá

Trang 31

và Pencak Silat vẫn tiếp tục phát triển Trong đại chiến thế giới lần thứ hai,dân tộc Mã Lai lại phải chịu ách cai trị của phát xít Nhật, nhưng chính quyền

đô hộ lại cho phép tự do phát triển văn hóa dân tộc để tranh thủ sự ủng hộ củangười dân bản địa với quân đội Nhật nhằm chống lại lực lượng đồng minh.Chính trong thời điển này, việc tập luyện và truyền bá Pencak Silat được táithiết lập và bắt đầu mở ra một giai đoạn phát triển mới

Sau khi Mã Lai thoát khỏi ách cai trị của nước ngoài và hình thành cácquốc gia độc lập, Pencak Silat đã được phổ biến và phát triển nhanh chóng,đặc biệt là khi liên đoàn Pencak Silat Quốc tế được thành lập Việc Liên đoànPencak Silat Quốc tế (PERSILAT) được thành lập đã tạo một thời kỳ pháttriển mới, thời kỳ mà Pencak Silat bắt đầu được phổ biến rộng rãi ra thế giới

và trở thành môn thể thao thi đấu chính thức tại khu vực Đông Nam Á NgườiMaLaysia rất thích nói về nguồn gốc của môn võ này với vị tổ sư sáng lập làHangtuah vào thế kỷ 15 Theo truyền thuyết Hangtuah đã đi cùng với 4 ngườibạn đến núi Rundock để gặp AdiPutera học những nghệ thuật tự vệ, điều màsau này ông đã đem ứng dụng vào trong môn Pencak Silat

- Sự phát triển Pencak Silat ở Indonesia.

Vào thời kỳ sơ khai trên quần đảo Indonesia, Malaysia (một trongnhững cái nôi của nền văn minh lúa nước) cuộc sống của người dân nơi đâyluôn gắn liền với các lễ hội tôn giáo và những phong tục mang đậm tính thần

bí Sau những ngày lao động và chiến đấu, những người dân vạn đảo lại tậphợp nhau lại quanh đống lửa bên bờ biển, trước các đền thờ thần linh… để tổchức tế lễ nhằm cảm tạ và cầu cho thần linh ban cho sự may mắn và sứcmạnh Trong lễ tế này, các chiến binh đã biểu diễn những điệu múa đượcđúc rút từ các động tác chiến đấu trong thực tiễn và đây chính là những viêngạch đặt nền móng đầu tiên đánh dấu sự ra đời của môn võ Pencak Silat.Tuy có lịch sử hình thành và phát triển từ rất lâu Pencak Silat mới chỉđược thực sự biết đến và được chính thức phổ biến vào những năm đầu của

Trang 32

thế kỷ XV cùng với câu chuyện về đội quân Abav tinh thông võ nghệ của vuaSrusijacgi ở vùng đảo Sumatra Chính nhờ có đội quân thiện chiến này màchiều đại Srusijacgi mới có thể bành chướng được trên vùng đảo Jawa và kếtquả là hầu hết người dân trên vùng đảo này đều trở thành tín đồ của Islam.Trong thời kỳ này và các giai đoạn lịch sử tiếp sau, đặc biệt là ở triều đạiMataran (thế kỷ XV – XVI) rất nhiều đền thờ đã được xây dựng và các lễ tế

đã được tổ chức thường xuyên Cùng với các cuộc chiến tranh giành lãnh địagiữa các quốc vương và các kỳ thao diễn, luyện quân, môn võ Pencak Silat đãtừng bước được phát triển mạnh mẽ và trở thành môn Quốc võ của Idonesia

Từ thế kỷ thứ XVII (trong vòng 350 năm) Indonesia là thuộc địa của Hà Lan

và Pencak Silat đã bị cấm truyền dạy, luyện tập dưới mọi hình thức để đềphòng dân chúng sử dụng môn võ này làm công cụ lật đổ chế độ thực dân.Bất chấp mọi nguy hiểm, người dân vạn đảo vẫn âm thầm luyện tập, truyền bámôn Quốc võ này và Pencak Silat đã chứng minh được tính bất diệt của nó.Vào tháng 9 năm 1945, sau khi Indonesia giành được độc lập, cùng vớiQuốc đạo Islam, Pencak Silat một lần nữa đã trở thành Quốc võ và được pháttriển mạnh mẽ, rộng khắp ở Indonesia Cùng với sự phát triển của lịch sửPencak Silat cũng đã được phát triển rất nhiều hệ phái nhưng tồn tại cho đếnnay vẫn phải kể đến 10 hệ phái chính (Setihati, Tapaksici, Nusantara,Setiahati-Teraha, Maunghjai, Prisaidiri, Panglipur, Ace, Merpatputil,Putrahatawi) được phân bố trên 5 vùng đảo lớn của Indonesia (Sumata, Jawa,Sulaweri, Kalimantan và Irianjnia) Trong mười hệ phái kể trên, hệ phái lớnnhất là Tapaksici Tuy mỗi hệ phái đếu có hệ thống kỹ thuật chiến đấu, chiếnthuật và các loại binh khí đặc thù nhưng xuyên suốt tất cả vẫn là “tinh thần võđạo” của môn võ thuật này

Trông giống như những điệu múa cổ, nhưng thật ra Pencak Silat lại làmột nghệ thuật tự vệ đặc sắc Ngày nay khi được phổ biến ở miền bắc Sumata

Trang 33

(Indonesia) Pencak Silat đã trở thành một nội dung rất quan trọng trong việcgiáo dục nhân cách cho thanh, thiếu niên Môn võ này đã được truyền dạytrong các lớp học buổi chiều ở vùng ngoại ô, làng mạc và được coi như là mộtmôn nghệ thuật đặc sắc Các võ sinh được rèn luyện và trau dồi những chiêuthế tuyệt hảo nhằm tránh né và đánh bại đối thủ có dao (kris) hoặc gươm(predang) Pencak Silat được sử dụng với hai hình thức chủ yếu là biểu diễn:Pencak Silat Pulot và thi đấu: Pencak Silat Buach.

Hình thức biểu diễn (Pencak silat pulot) chủ yếu chỉ được sử dụng trongcác lễ hội hoặc lễ cưới Hình thức thi đấu (Pencak Silat buach) thì chỉ đượcdùng trong các cuộc thi đấu, tranh tài Chỉ cần xem qua các chiêu thế khởi đầu

là có thể phân biệt được hình thức thể hiện của môn võ này Động tác PencakSilat đều toát lên sức mạnh thể chất và tinh thần; ước vọng vươn tới một sứcmạnh siêu phàm của võ sĩ

- Sự phát triển của Pencak Silat trong giai đoạn hiện nay

Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và nền văn minh nhân loại,môn võ Pencak Silat cũng ngày được truyền bá rộng khắp và hiệp hội PencakSilat Đông Nam Á đã được thành lập vơi sự tham dự của 4 quốc gia làIndonesia (issi), Singapore (peassi), Malaysia (pesaka) và Bruney (perib).Ngày 1 tháng 10 năm 1986 Bộ Luật thi đấu chính thức của Pencak Silat

đã được ban hành Hiện nay Pencak Silat đã được phát triển rộng khắp và làmôn thể thao thi đấu mang tính quốc tế, là một nội dung thi đấu chính thứctrong đại hội thể thao Đông Nam Á và đang chuẩn bị được đưa vào chươngtrình thi đấu tại đại hội thể thao Châu Á Giải vô địch Pencak Silat Thế giớivẫn được tổ chức định kỳ 2 năm một lần với sự tham gia của các liên đoànPencak Silat quốc gia như: NPSB ( Hà Lan), PSUO (áo), PSE (Tây Ban Nha),BPSB (Bỉ), PSAT(Thái Lan), PHILSILAT (Philipin), ISAVI (Việt Nam),PSMY (Myanma), PSL (Lào), PSUD (Đức), TAPF (Pháp), WAPSA(úc),

Trang 34

PSFUK (Anh), JAPSA (Nhật Bản), PSFUSA (Mỹ), PSHAKA TAHER (ThụySỹ), PST (Thổ Nhĩ Kỳ), PSP ( Ma Rốc), PSB (Bosnia), PSG (Hy Lạp), PSM(Mônacô), PSC (Canađa)…

Nhìn chung đời sống văn hóa, xã hội của cộng đồng các dân tộc Mã Lairất ít bị ảnh hưởng bởi các nền văn hóa bên ngoài do đây là một cộng đồngthủ cựu và vi vậy nó vẫn duy tri được những nét văn hóa dân tộc đặc sắc từ

xa xưa Tuy nhiên trong quá trình phát triển các giá trị văn hóa khác nếu phùhợp vơi tinh thần cộng đồng của người Mã Lai thi cũng vẫn được đón nhận,tiếp thu Điều này đã dẫn đến kết quả là tư tưởng, giáo lý của đạo Hồi, đạoPhật và đặc biệt là đạo Hinđu đã dần dần hòa nhập vào nền văn hóa bản địa

và trở thành nên tảng tư tưởng của cộng đồng các dân tộc Mã Lai Là sảnphẩm của truyền thống dân tộc, tinh thần của Pencak Silat cũng chịu ảnhhưởng tác động và là sự thể hiện rõ nét nhất của nền tảng tư tưởng này

1.3.3 Sự phát triển Pencak Silat ở Việt Nam

Pencak Silat du nhập vào Việt Nam từ năm 1989 (sau SEA Games 15 ởMalaysia) Ngay từ những ngày đầu, môn võ thuật này đã thu hút mạnh mẽlực lượng thanh thiếu niên tham gia tập luyện, đầu tiên là Thủ đô Hà Nội.Năm 1993, tuy chưa có giải toàn quốc để đánh giá chung phong tràonhưng đội tuyển Pencak Silat Việt Nam vẫn được tuyển chọn dựa trên kết quảthi đấu của giải Pencak Silat mở rộng lần thứ nhất tại Hà Nội để chính thứctham dự SEA Games tại Singapore và đã giành được 4 huy chương đồng.Năm 1994, Giải vô địch Pencak Silat Quốc gia lần thứ nhất được tổ chức

và Pencak Silat được công nhận là môn thể thao thi đấu quốc gia

Năm 1995, Pencak Silat đã có một bước tiến quan trọng và được đưa vàonội dung thi đấu chính thức của Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ 3 Cũngtrong năm này Đội tuyển Pencak Silat Việt Nam đã tham dự SEA Games 18

và đã giành được 3 huy chương bạc, 4 huy chương đồng

Trang 35

Năm 1997, Đội tuyển Pencak Silat Việt Nam tham dự Giải vô địchPencak Silat thế giới tổ chức tại Malaysia và đã giành được 3 huy chươngvàng, 2 huy chương bạc, 1 huy chương đồng; tham dự SEA Games 19 giànhđược 3 huy chương vàng, 5 huy chương bạc, 2 huy chương đồng.

Năm 1999, là năm thành công nhất của Pencak Silat Việt Nam Độituyển Pencak Silat Việt Nam tham dự SEA Games 20 tại Indonesia và giànhđược 7 huy chương vàng, 3 huy chương bạc, 5 huy chương đồng vượt lên trên

Hiện nay, phong trào Pencak Silat ở Việt Nam đã được phát triển rộngkhắp trên phạm vi toàn quốc Thường xuyên có khoảng trên dưới 10.000 võsinh tham gia tập luyện, thi đấu và biểu diễn môn võ thuật hấp dẫn, hào hứng

và phù hợp với mọi lứu tuổi, giới tính này Tập luyện Pencak Silat là phươngpháp hiệu quả để phát triển thể chất, hình thành nhân cách tốt đẹp trong mỗicon người theo 3 tiêu chí giáo dục của Pencak Silat là: tính nhân văn, tínhnghệ thuật, tính tự vệ và thể thao

Trong những năm gần đây, trên những võ đài quốc tế, các VĐV PencakSilat Việt Nam đã giành được những chiến thắng vẻ vang đem lại vinh quang

Trang 36

cho thể thao nước nhà Cho đến nay nước ta đã có nhiều nhà vô địch thế giới,

vô địch SEA Games về Pencak Silat Thành tích xuất sắc này đã góp phầnnâng cao thành tích chung của Đoàn thể thao Việt Nam trong các kỳ Đại hộiThể thao khu vực và quốc tế

Sau hơn 20 năm xây dựng và phát triển, hiện tại đã có nhiều các tỉnh,thành, ngành trong cả nước có đội tuyển Pencak Silat tham gia tranh tài ởcác giải Vô địch Quốc gia được tổ chức định kỳ hàng năm Pencak Silat đãtrở thành môn thể thao thi đấu đỉnh cao chính thức trong hệ thống thi đấuTDTT nước ta

Trong công cuộc đổi mới của đất nước, cùng với sự phát triển của nềnkinh tế xã hội, thể thao cả nước nói chung và môn Pencak Silat nói riêng cũng

đã có những bước phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ và đã đạt được nhữngthành tựu đáng khích lệ tại các đấu trường quốc tế và khu vực Việc giànhđược những tấm huy chương tại các đấu trường này đã đưa Pencak Silat trởthành một trong số các môn thể thao mũi nhọn của nền thể thao nước nhà.Được sự quan tâm lãnh đạo và đầu tư đúng hướng của Đảng, Nhà nước và sựtham gia, ủng hộ mạnh mẽ của xã hội, thể thao Việt Nam nói chung và mônPencak Silat nói riêng ngày một phát triển

1.4 Đặc điểm thi đấu và huấn luyện môn Pencak Silat

Nội dung thi đấu Pencak Silat gồm có 2 nội dung chính là Tanding(Thi đấu đối kháng) và Seni (Thi đấu biểu diễn quyền thuật), trong đó thiđấu biểu diễn quyền thuật có 3 nội dung chính là: Tungan (Thi đấu biểudiễn quy định cá nhân), Ganda (Thi đấu biểu diễn bài đối luyện tự chọn) vàRegu (Thi đấu biểu diễn bài quy định tập thể)

1.4.1 Thi đấu đối kháng (Tanding)

Thi đấu đối kháng là hình thức thi đấu mặt đối mặt giữa hai VĐV củahai đội khác nhau, thông qua việc sử dụng các kỹ thuật tấn công và phòngthủ, gồm các kỹ thuật tránh né, gạt đỡ, các đòn tay, đòn chân, đòn đánhngã Trước tiên, hai VĐV (Persilat) phải thực hiện bộ pháp di chuyển, các

Trang 37

thế tấn của Pencak Silat rồi sau đó mới sử dụng các kỹ thuật tấn công,phòng thủ, sử dụng chiến thuật, sức mạnh và tinh thần thi đấu cao thư ợng

để ghi được số điểm tối đa và giành phần thắng trong trận đấu

Trong thi đấu đối kháng, mỗi trận đấu diễn ra trong 3 hiệp, mỗi hiệp đấu

là 2 phút, nghỉ giữa các hiệp là 1 phút (đối với giải vô địch quốc gia) và mỗihiệp là 1 phút 30 giây, nghỉ giữa các hiệp là 1 phút (đối với giải trẻ)

Cách tính điểm trong thi đấu:

- Điểm 1: Đòn tấn công bằng tay trúng đích hợp lệ vào giáp đốiphương mà không bị gạt đỡ, né tránh, hoá giải

- Điểm 1 + 1: Tránh né, gạt đỡ, hoá giải thành công đòn tấn công củađối phương và lập tức phản công lại bằng đòn tay trúng đích hợp lệ vàogiáp đối phương mà không bị gạt đỡ, né tránh, hoá giải

- Điểm 2: Đòn tấn công bằng chân trúng đích hợp lệ vào giáp đốiphương mà không bị gạt đỡ né tránh

+ Điểm 1 + 2: Tránh né, gạt đỡ, hoá giải thành công đòn tấn công củađối phương và lập tức phản công lại bằng đòn chân trúng đích hợp lệ vàogiáp đối phương mà không bị gạt đỡ, né tránh, hoá giải

- Điểm 3: Đòn tấn công đánh ngã đối phương hợp lệ

- Điểm 1 + 3: Tránh né, gạt đỡ, hoá giải thành công đòn tấn công củađối phương và lập tức phản công đánh ngã đối phương hợp lệ

1.4.2 Thi đấu biểu diễn quyền thuật (Seni)

* Thi đấu biểu diễn bài quy định cá nhân (Tungan)

Thi đấu biểu diễn bài quy định cá nhân là hình thức thi đấu biểu diễn

mà một Persilat thể hiện kỹ năng của mình thông qua việc thực hiện bàiquyền cá nhân do Liên đoàn Pencak Silat Quốc tế quy định (gồm 2 phần,tay không và binh khí: dao và côn một cách chính xác, mạnh mẽ và cómức độ biểu cảm cao

Trang 38

* Thi đấu biểu diễn bài quy định tập thể (Regu)

Thi đấu biểu diễn bài quy định tập thể (Regu) là hình thức thi đấuđồng đội của một nhóm 3 Persilat trong cùng một đội thông qua việc thểhiện một cách chính xác, mạnh mẽ, có mức độ biểu cảm và đồng đều bàiquyền tập thể do Liên đoàn Pencak Silat Quốc tế quy định Bài biểu diễntập thể này chỉ có phần tay không

* Thi đấu biểu diễn bài đối luyện tự chọn (Ganda)

Thi đấu biểu diễn bài đối luyện tự chọn (Ganda) là hình thức thi đấubài đối luyện tự chọn của 2 Persilat trong cùng một đội thông qua sự thểhiện một cách phong phú các kỹ thuật tấn công và phòng thủ của PencakSilat Các đòn thế được sử dụng trong bài biểu diễn phải được 2 Persilatquy định trước và đảm bảo tính hiệu quả, tính thẩm mỹ cao, đồng thời thểhiện được sức mạnh trong từng tổ hợp đòn thế và nhịp điệu của động tác.Bài biểu diễn đối luyện tự chọn cũng gồm 2 phần là kỹ thuật đối luyện taykhông và binh khí

1.5 Đặc điểm các tố chất thể lực trong môn võ Pencak Silat

Các tố chất thể lực hay còn gọi là tố chất vận động bao gồm: sức mạnh,sức nhanh, sức bền, mềm dẻo và khéo léo (năng lực phối hợp vận động)

1.5.1 Tố chất sức mạnh

Sức mạnh là khả năng khắc phục lực đối kháng bên ngoài, hoặc đề khánglại nó bằng sự nỗ lực cơ bắp Cơ bắp có thể sinh ra lực trong các trường hợpnhư: không thay đổi độ dài của cơ (chế độ tĩnh), giảm độ dài của cơ (chế độkhắc phục), tăng độ dài của cơ (chế độ nhượng bộ) Trong chế độ hoạt độngnhư vậy cơ bắp sản sinh ra các lực cơ học, các trị số khác nhau, cho nên cóthể coi chế độ hoạt động của cơ là cơ sở phân biệt các loại sức mạnh Bằngthực nghiệm và phân tích khoa học, các tác giả đã đi đến một số kết luận có ýnghĩa cơ bản trong phân loại sức mạnh [35][36][42][53]

Trang 39

Trị số lực sinh ra trong các động tác chậm hầu như không khác biệt vớicác trị số lực phát huy trong điều kiện đẳng trường Trong chế độ nhượng bộkhả năng sinh lực của các cơ là lớn nhất, đôi khi gấp hai lần lực phát huytrong điều kiện tĩnh Trong các động tác nhanh trị số lực giảm dần theo chiềutăng của tốc độ Khả năng sinh lực trong các động tác nhanh tuyệt đối (tốc độ)

và khả năng sinh lực trong các động tác tĩnh tối đa (sức mạnh tĩnh) không cótương quan với nhau Trên cơ sở sức mạnh được phân chia thành sức mạnhđơn thuần (khả năng sinh lực trong các động tác chậm hoặc tĩnh), sức mạnh -tốc độ (khả năng sinh lực trong các động tác nhanh) Sức mạnh tốc độ cònđược chia nhỏ tuỳ theo chế độ vận động thành sức mạnh động lực và sứcmạnh hoãn xung [35][36][42][53]

Trong vận động thể thao, sức mạnh luôn có quan hệ với các tố chất thểlực khác, cụ thể là sức nhanh và sức bền Do đó năng lực sức mạnh được phânchia thành ba hình thức: năng lực sức mạnh tối đa, năng lực sức mạnh nhanh(sức mạnh - tốc độ) và năng lực sức mạnh bền Đồng thời các năng lực sứcmạnh này rất có ý nghĩa trong hoạt động thể dục thể thao, có vai trò quyếtđịnh đến thành tích của hoạt động Song năng lực sức mạnh - tốc độ, sứcmạnh bền, đặc trưng cho phần lớn các môn thể thao nói chung và môn PencakSilat nói riêng Đặc điểm sức mạnh của vận động viên Pencak Silat thể hiện ởsức nặng của đòn đấm và đòn đá khi ra đòn

1.5.2 Tố chất sức nhanh

Sức nhanh là khả năng thực hiện động tác trong khoảng thời gian ngắnnhất Nó là một tổ hợp thuộc tính chức năng của con người Nó quy địnhchủ yếu và trực tiếp tính tốc độ động tác cũng như thời gian phản ứng vậnđộng [35][36][42][53]

Sức nhanh biểu hiện qua các hình:

- Thời gian tiềm phục của phản ứng vận động

Trang 40

- Tốc độ động tác đơn (với lực đối kháng bên ngoài nhỏ).

- Tần số động tác

Các hình thức đơn giản của sức nhanh tương đối độc lập với nhau Đặcbiệt những chỉ số về thời gian phản ứng vận động hầu như không tương quanvới tốc độ động tác Những hình thức trên là thể hiện các năng lực tốc độkhác nhau [35][36][42][53]

Trong nhiều động tác thực hiện với tốc độ tối đa người ta quan sát thấyhai giai đoạn

+ Giai đoạn tăng tốc độ

+ Giai đoạn tốc độ ổn định tương đối

Đặc điểm của giai đoạn thứ nhất là chuyển động nhanh dần hay chuyểnđộng có gia tốc Khi tốc độ không tăng thêm được nữa thì chuyển sang giaiđoạn hai, giai đoạn chuyển động đều [35][36][42][53]

Theo quan điểm sinh lý thời gian tiềm phục của phản ứng vận động gồmnăm thành phần:

+ Xuất hiện hưng phấn thần kinh trong cơ quan cảm thụ

+ Dẫn truyền hưng phấn vào hệ thần kinh trung ương

+ Truyền hưng phấn trong tổ chức lưới hình thành tín hiệu ly tâm

+ Truyền tín hiệu từ hệ thần kinh trung ương tới cơ

+ Hưng phấn cơ và cơ hoạt động tich cực

Trong các giai đoạn thì giai đoạn thứ ba chiếm nhiều thời gian nhất.Những động tác được thực hiện với tốc độ tối đa khác với động tác chậm vềđặc điểm sinh lý Nguyên do của sự khác biệt thể hiện cơ bản ở chỗ: Khithực hiện với tốc độ tối đa thì khả năng điều chỉnh bằng cảm giác trong tiếntrình thực hiện động tác sẽ gặp nhiều khó khăn Do đó, với tốc độ cao khó cóthể thực hiện động tác thật chính xác trong các động tác nhanh và thực hiệnvới tần số cao Trong các động tác với tốc độ lớn, hoạt động của cơ diễn ra trong

Ngày đăng: 19/09/2015, 09:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aulic V.I (1982 ), Đánh giá trình độ luyện tập thể thao, NXB TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá trình độ luyện tập thể thao
Nhà XB: NXB TDTT
3. Dương nghiệp Chí ( 1991 ), Đo lường thể thao, NXB TDTT, Hà Nội 4. Dương Nghiệp Chí, Phan Hồng Minh (2000), “Khoa học hoáHLTT”, Bản tin KHKT TDTT, 12 , tr11 – 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đo lường thể thao," NXB TDTT, Hà Nội4. Dương Nghiệp Chí, Phan Hồng Minh (2000), “Khoa học hoáHLTT
Tác giả: Dương nghiệp Chí ( 1991 ), Đo lường thể thao, NXB TDTT, Hà Nội 4. Dương Nghiệp Chí, Phan Hồng Minh
Nhà XB: NXB TDTT
Năm: 2000
5. Dương Nghiệp Chí, Nguyễn Danh Thái (2002), Công nghệ đào tạo VĐV trình độ cao, NXB TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ đào tạoVĐV trình độ cao
Tác giả: Dương Nghiệp Chí, Nguyễn Danh Thái
Nhà XB: NXB TDTT
Năm: 2002
7. Đàm quốc Chính ( 2000 ), Nghiên cứu khả năng phù hợp tập luyện (dưới góc độ sư phạm ) nhằm góp phần nâng cao hiệu quả tuyển chọn và dự báo thành tích của VĐV trẻ chạy 100m ở Việt Nam , Luận án tiến sĩ giáo dục học, Viện KHTDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng phù hợp tập luyện(dưới góc độ sư phạm ) nhằm góp phần nâng cao hiệu quả tuyểnchọn và dự báo thành tích của VĐV trẻ chạy 100m ở Việt Nam
11. Nguyễn Ngọc Cừ ( 1998 ): “ Khoa học tuyển chọn tài năng thể thao”, Tài liệu giảng dạy cao học và NCS, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học tuyển chọn tài năng thểthao”", Tài liệu giảng dạy cao học và NCS
12. Nguyễn Ngọc Cừ, Nguyễn Kim Minh ( 1999 ), Các phương pháp y sinh học kiểm tra đánh giá lượng vận động của bài tập, Viện KHTDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Các phương pháp ysinh học kiểm tra đánh giá lượng vận động của bài tập
13. Dazoxki V. M ( 1978 ), Các tố chất thể lực cho VĐV, NXB TDTT, Dịch Bùi Từ Liêm, Phạm Xuân Lâm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tố chất thể lực cho VĐV
Nhà XB: NXB TDTT
14. Oelchlegen.G, Legơ.K ( 1985 ), Bốn nhân tố nâng cao thành tích tập luyện, NXB TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Bốn nhân tố nâng cao thành tích tậpluyện
Nhà XB: NXB TDTT
2. Báo cáo kết quả công tác (2013) Văn hóa, thể thao, du lịch và gia đình năm 2013; Phương hướng, nhiệm vụ năm 2014 tỉnh Hà Giang Khác
6. Đàm Quốc Chính, Đặng Văn Dũng Trường ĐHTDTT I (1999), Tuyển tập nghiên cứu khoa học TDTT, NXB TDTT, Hà Nội Khác
8. Chiến lược số 17/UB-CLTDTT ngày 17/03/2005 của UBND tỉnh Hà Giang 9. Chỉ thị số 36 - CT/TW ngày 24/3/1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng 10. Bảo cáo kết quả thực hiện Chỉ thị số 17-CT/TW của Ban Bí thư Trungương về công tác phát triển TDTT tỉnh Hà Giang Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Thực trạng phong trào TDTT Hà Giang năm 2005 – 2013 - Lựa chọn biện pháp nâng cao hiệu quả huấn luyện thể lực chuyên môn cho nam vận động viên pencak silat tỉnh hà giang lứa tuổi 15 – 16
Bảng 1.1. Thực trạng phong trào TDTT Hà Giang năm 2005 – 2013 (Trang 25)
Bảng 2.1. Thực trạng các điều kiện đảm bảo cho công tác huấn luyện - Lựa chọn biện pháp nâng cao hiệu quả huấn luyện thể lực chuyên môn cho nam vận động viên pencak silat tỉnh hà giang lứa tuổi 15 – 16
Bảng 2.1. Thực trạng các điều kiện đảm bảo cho công tác huấn luyện (Trang 47)
Bảng 2.2. Kết quả phỏng vấn lựa chọn test đánh giá trình độ thể lực của nam VĐV Pencak Silat - Lựa chọn biện pháp nâng cao hiệu quả huấn luyện thể lực chuyên môn cho nam vận động viên pencak silat tỉnh hà giang lứa tuổi 15 – 16
Bảng 2.2. Kết quả phỏng vấn lựa chọn test đánh giá trình độ thể lực của nam VĐV Pencak Silat (Trang 49)
Bảng 2.3. Hệ số tương quan giữa các test lựa chọn với hiệu xuất thi đấu - Lựa chọn biện pháp nâng cao hiệu quả huấn luyện thể lực chuyên môn cho nam vận động viên pencak silat tỉnh hà giang lứa tuổi 15 – 16
Bảng 2.3. Hệ số tương quan giữa các test lựa chọn với hiệu xuất thi đấu (Trang 52)
Bảng 3.1. Kết quả phỏng vấn lựa chọn biện pháp nâng cao hiệu quả huấn luyện TLCM của nam VĐV Pencak Silat lứa tuổi 15 – 16 tỉnh Hà Giang TT Tên biện pháp - Lựa chọn biện pháp nâng cao hiệu quả huấn luyện thể lực chuyên môn cho nam vận động viên pencak silat tỉnh hà giang lứa tuổi 15 – 16
Bảng 3.1. Kết quả phỏng vấn lựa chọn biện pháp nâng cao hiệu quả huấn luyện TLCM của nam VĐV Pencak Silat lứa tuổi 15 – 16 tỉnh Hà Giang TT Tên biện pháp (Trang 61)
Bảng 3.2. So sánh sự phát triển  TLCM của  nam VĐV Pencak Silat  lứa tuổi 15 tỉnh Hà Giang trước và sau khi áp dụng các nhóm biện pháp - Lựa chọn biện pháp nâng cao hiệu quả huấn luyện thể lực chuyên môn cho nam vận động viên pencak silat tỉnh hà giang lứa tuổi 15 – 16
Bảng 3.2. So sánh sự phát triển TLCM của nam VĐV Pencak Silat lứa tuổi 15 tỉnh Hà Giang trước và sau khi áp dụng các nhóm biện pháp (Trang 70)
Bảng 3.4. Nhịp tăng trưởng TLCM của nam VĐV Pencak Silat lứa tuổi - Lựa chọn biện pháp nâng cao hiệu quả huấn luyện thể lực chuyên môn cho nam vận động viên pencak silat tỉnh hà giang lứa tuổi 15 – 16
Bảng 3.4. Nhịp tăng trưởng TLCM của nam VĐV Pencak Silat lứa tuổi (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w