1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề quản lí làng xã huyện khoái châu, hưng yên qua hương ước cải lương thời pháp thuộc

112 430 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ ba, chính sách cải lương hương chính của Pháp cũng như vấn đềquản lý làng xã Việt Nam thời Pháp thuộc đã có một số công trình nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau nhưng vấn đề quản l

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

Trang 2

TR ƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI NG Đ I H C S PH M HÀ N I ẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI ỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI Ư ẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI ỘI

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Ngọc Cơ

Phản biện 1:

Phản biện 2:

Lu n văn đ ận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp ược bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp c b o v t i H i đ ng ch m lu n văn th c sĩ h p ảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp ệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp ại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp ội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp ồng chấm luận văn thạc sĩ họp ấm luận văn thạc sĩ họp ận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp ại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp ọp

t i ại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp

Tr ường Đại học Sư phạm Hà Nội ng Đ i h c S ph m Hà N i ại ọc Sư phạm Hà Nội ư ại ội

Vào h i gi ngày tháng năm 2014 ồi giờ ngày tháng năm 2014 ờ ngày tháng năm 2014

Có th tìm hi u lu n văn t i: ể tìm hiểu luận văn tại: ể tìm hiểu luận văn tại: ận văn tại: ại:

Trang 3

- Trung tâm thông tin - Th vi n tr ư ệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp ường Đại học Sư phạm Hà ng Đ i h c S ph m Hà ại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp ọp ư ại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp

N i ội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS TS Nguyễn Ngọc Cơ, người đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo, động viên và hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này.

Tác giả xin trân trọng cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong Khoa Lịch sử đặc biệt là Tổ bộ môn Lịch Sử Việt Nam, Phòng sau đại học trường Đại học

Sư Phạm Hà Nội đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình lựa chọn và hoàn thiện đề tài luận văn.

Cuối cùng, xin gửi lời biết ơn chân thành đến gia đình, bạn bè đã luôn ủng hộ, giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn.

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 7 năm 2014

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thoan

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BCH : Ban chấp hànhNXB : Nhà xuất bản

GS TS : Giáo sư Tiến sĩ

PTS : Phó tiến sĩ

TS : Tiến sĩThs : Thạc sĩVHTT : Văn hóa thông tin

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.Lớ do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiờn cứu vấn đề 3

3 Đối tượng, phạm vi nghiờn cứu và nhiệm vụ của đề tài 6

4 Nguồn tư liệu và phương phỏp nghiờn cứu 8

5 Đúng gúp của đề tài 8

6 Bố cục của luận văn 9

NỘI DUNG 10

CHƯơng 1: Khái quát về huyện Khoái Châu, HƯng Yên và công cuộc cải lƯơng hƯơng chính của thực dân Pháp10 1.1 Khỏi quỏt về huyện Khoỏi Chõu, Hưng Yờn trước cỏch mạng thỏng Tỏm năm 1945 10

1.1.1 Vị trớ địa lớ, điều kiện tự nhiờn 10

1.1.2 Lịch sử hỡnh thành huyện Khoỏi Chõu 14

1.1.3 Truyền thống yờu nước, đấu tranh chống giặc ngoại xõm 16

1.1.4 Vài nột về tỡnh hỡnh kinh tế, chớnh trị, xó hội và dõn cư Khoỏi Chõu trước năm 1945 18

1.2 Cụng cuộc cải lương hương chớnh của thực dõn Phỏp ở Việt Nam 25

1.2.1 Khỏi quỏt về quỏ trỡnh xõm lược Việt Nam của thực dõn Phỏp 25

1.2.2 Qỳa trỡnh thiết lập bộ mỏy cai trị của thực dõn Phỏp ở Việt Nam 28

1.2.3 Mục đớch và nội dung cụng cuộc cải lương hương chớnh của Phỏp 29

1.2.3.1 Mục đớch của việc lập hương ước 30

1.2.3.2 Nội dung cụng cuộc cải lương hương chớnh của Phỏp 34

Tiểu kết chương 1 39

ChƯơng 2: Vấn đề quản lí làng xã huyện Khoái Châu qua hƯơng Ước cải lƯơng thời Pháp thuộc (1922 – 1942) 1942)40 2.1 Tổ chức bộ mỏy quản lớ làng xó 42

2.1.1 Những quy định về việc bầu bỏn chức vụ, ngụi thứ trong tổ chức quản lớ làng xó 43

2.1.2 Về tổ chức và nhiệm vụ của bộ mỏy quản lớ làng xó 48

Trang 7

2.1.3 Những quy định về chi phí phục vụ công cán việc làng xã của các chức

dịch 51

2.2 Về tuần tra canh phòng bảo vệ an ninh làng xã 52

2.2.1 Đối tượng tham gia vào lực lượng tuần tra canh phòng 52

2.2.2 Những quy định về hiệu lệnh báo động và khí cụ trong tuần tra canh phòng bảo vệ trật tự an ninh làng xã 54

2.2.3 Nhiệm vụ và quyền lợi của người tuần tra canh phòng 54

2.3 Quy định của làng xã về thuế khóa tài chính 57

2.3.1 Quy định của làng xã về tài chính 58

2.32 Quy định của làng xã về thuế khóa 61

2.4 Về sự giao thiệp trong làng và với bên ngoài 63

2.5 Quy định về trừ gian lậu 66

2.6 Về quản lí của công 67

2.7 Những quy định của làng xã về vệ sinh, y tế và giáo dục 68

2.7.1 Những quy định về vệ sinh, y tế 68

2.7.2 Những quy định về giáo dục 70

Tiểu kết chương 2 71

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG LÀNG XÃ HUYỆN KHOÁI CHÂU SAU KHI CHÍNH QUYỀN THUỘC ĐỊA THỰC HIỆN CẢI LƯƠNG HƯƠNG CHÍNH 72

3.1 Thực trạng làng xã huyện Khoái Châu sau công cuộc cải lương hương chính 72

3.2 Một số nhận xét, đánh giá về công cuộc cải lương hương chính ở huyện Khoái Châu của thực dân Pháp 81

Tiểu kết chương 3 90

KẾT LUẬN 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94 PHỤ LỤC

Trang 8

MỞ ĐẦU 1.Lí do chọn đề tài

Trong lịch sử dân tộc, làng xã là một vấn đề lịch sử rất quan trọng cầnđược quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu Việc nghiên cứu làng xã là một nhân tốgóp phần nghiên cứu toàn diện lịch sử dân tộc Sự hình thành và phát triểncủa làng xã là nét đặc thù trong lịch sử Việt Nam Làng xã là một đơn vị hànhchính cấp cơ sở trong hệ thống tổ chức quản lí đất nước Trong bất cứ mộtthời đại nào, chế độ nào, việc quản lí làng xã có vai trò rất quan trọng Nó làmột trong những nhân tố quyết định đến sự ổn định, thống nhất quốc gia.Trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta không chỉ gắn liềnvới các cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm mà còn gắn liền với quá trìnhxây dựng hệ thống hành chính quốc gia Thời phong kiến trong việc từngbước xây dựng bộ máy nhà nước quân chủ trung ương tập quyền của quốc giađộc lập tự chủ từ trung ương đến địa phương, nhà nước đã có những biệnpháp bước đầu can thiệp vào làng xã Đến thời nhà Lê thì việc quản lí làng xãngày càng hệ thống, chặt chẽ hơn, đặc biệt từ thời vua Lê Thánh Tông sau khiông thực hiện cuộc cải cách quy mô lớn, tạo ra sự thống nhất từ trung ươngđến địa phương Từ đó nhằm ổn định, thống nhất quốc gia, chống phân tán cát

cứ, góp phần quan trọng trong công cuộc chống ngoại xâm, bảo vệ toàn vẹnlãnh thổ của dân tộc

Đến giữa thế kỉ XIX, thực dân Pháp tiến hành xâm lược nước ta nhằmbiến thành thuộc địa của chúng Đầu thế kỉ XIX, nhà Nguyễn thành lập, caiquản một vùng lãnh thổ rộng lớn Với một vùng đất rộng lớn, triều đại đượcthành lập trong hoàn cảnh đặc biệt đã khiến cho nhà Nguyễn gặp phải nhiềukhó khăn trong vấn đề quản lí, trong đó quản lí làng xã được nhà Nguyễnquan tâm Cũng như các triều đại phong kiến Việt Nam, sau khi thành lập, các

vị vua nhà Nguyễn đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm ổn định tình hình,thống nhất quốc gia Một trong những biện pháp quan trọng là cải cách hành

Trang 9

chính, xây dựng hệ thống chính quyền thống nhất từ Trung ương đến địaphương Sang đầu thế kỉ XX sau khi bình định được các cuộc đấu tranh củanhân dân ta, cùng với các hoạt động đầu tư khai thác thuộc địa đại quy mô vềkinh tế, chính quyền thực dân cũng bắt đầu tấn công mạnh vào tính chất tự trị,

khép kín, độc lập của làng xã – những “hương đảng, tiểu triều đình”, phá vỡ

“pháo đài bất khả xâm phạm” của người Việt nhằm quản lí đến tận làng xã,

phục vụ mục đích thống trị của chủ nghĩa thực dân Để thực hiện mục đích,

âm mưu đó thực dân Pháp đã thông qua chính sách cải lương hương chính từđầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng Tám năm 1945 trên toàn lãnh thổ ViệtNam Chính sách cải lương hương chính là một bộ phận quan trọng trongchính sách cai trị và nô dịch của thực dân Pháp nhằm can thiệp sâu vào mọimặt của đời sống làng xã Chính sách cải lương hương chính của Pháp có ảnhhưởng lớn đến thiết chế chính trị cổ truyền và đời sống, tục lệ ở nông thôn.Tìm hiểu về chính sách cải lương hương chính cũng như tác động của nó sẽgóp phần hiểu sâu sắc, thấu đáo bức tranh toàn cảnh của làng Việt trong thời

kì Pháp thuộc Đây là một cơ sở quan trọng để hiểu một cách toàn diện, đầy

đủ về lịch sử Việt Nam thời cận đại

Thực dân Pháp thực hiện chính sách cải lương hương chính ở ba kì củanước ta Bên cạnh những nét chung thì mỗi kì lại mang những đặc điểm riêng.Đặc biệt là làng xã Bắc Kì, một điển hình cho tính tự trị, khép kín của làng xãViệt Nam mà chính quyền Trung ương khó có thể quản lý, can thiệp vào đờisống làng xã Chính vì vậy, thực dân Pháp rất quan tâm, để mắt đến việc thựchiện chính sách cải lương hương chính ở khu vực này Khoái Châu, HưngYên là một khu vực gần Bắc Thành, giàu truyền thống lịch sử nên thực dânPháp đặc biệt coi trọng việc thực hiện chính sách cải lương hương chính ởđây Một loạt các bản hương ước cổ của các làng xã trong huyện bị thay đổitheo văn bản hương ước cải lương do thực dân Pháp quy định Chính sách cảilương hương chính được thực dân Pháp thực hiện trên tất cả các mặt: tổ chức

Trang 10

bộ máy quản lí làng xã, thuế khóa, tài chính, vệ sinh, y tế, giáo dục Việc tìmhiểu vấn đề quản lí làng xã ở huyện Khoái Châu, Hưng Yên thông qua hươngước cải lương thời Pháp thuộc có giá trị khoa học và thực tiễn.

Thứ nhất, góp phần tìm hiểu, nghiên cứu sâu sắc, toàn diện hơn về chínhsách cải lương hương chính của Pháp, tình hình làng xã ở huyện Khoái Châu,Hưng Yên nói riêng và làng xã Việt Nam thời cận đại nói chung Từ đó gópphần hiểu toàn diện về lịch sử dân tộc thời cận đại

Thứ hai, việc nghiên cứu về vấn đề quản lí làng xã thông qua hương ướccải lương ở huyện Khoái Châu, Hưng Yên còn góp phần cho công tác nghiêncứu và giảng dạy lịch sử địa phương

Thứ ba, chính sách cải lương hương chính của Pháp cũng như vấn đềquản lý làng xã Việt Nam thời Pháp thuộc đã có một số công trình nghiên cứu

ở các khía cạnh khác nhau nhưng vấn đề quản lí làng xã huyện Khoái Châu,Hưng Yên qua hương ước cải lương thời Pháp thuộc chưa có một công trìnhnghiên cứu chuyên sâu, hệ thống, toàn diện

Chính vì vậy, xuất phát từ những lí do trên đồng thời nhận thấy đây là

một vấn đề lịch sử cần tập trung nghiên cứu Tôi quyết định chọn đề tài “Vấn

đề quản lý làng xã huyện Khoái Châu, Hưng Yên qua hương ước cải lương thời Pháp thuộc (1922 – 1942)” làm luận văn tốt nghiệp.

Bùi Xuân Đính trong cuốn “Về một số hương ước làng Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ”, 1998 nghiên cứu chính sách cải lương hương chính và những

tác động của nó ở Bắc Bộ được cụ thể trong các bản hương ước cải lương mà

Trang 11

thực dân Pháp thống nhất soạn thảo cho các làng vận dụng Điểm mới là tácgiả chỉ ra những thay đổi mang tính tích cực của các nhà cai trị Pháp đối vớicác bản hương ước cải lương.

Công trình “Hương ước và quản lí làng xã” NXB Khoa học xã hội, Hà

Nội, 1998 của Bùi Xuân Đính, Vũ Duy Mền không nghiên cứu về hệ thốngcác hương ước cải lương mà chủ yếu tập trung nghiên cứu các hương ước cổcủa làng xã đồng bằng Bắc Bộ Chính vì lẽ đó, công trình chuyên khảo vềhương ước này cũng thiếu vắng đi những nội dung nghiên cứu về một loạihình hương ước nữa của làng xã Việt Nam được tạo ra do tác động từ quátrình cai trị của thực dân Pháp

Công trình “Hương ước làng xã Bắc Bộ Việt Nam với luật làng Kanto Nhật Bản (thế kỉ XVII – XIX)” của Vũ Duy Mền do Viện sử học xuất bản,

2001 là công trình nghiên cứu kĩ càng nhất về nội dung của hương ước Ôngđưa ra những nhận định về hương ước với những mặt tích cực cũng như tiêucực của nó Các tác giả cho rằng, tính chất tự trị, tự quản là nét tương đồngcũng là nét đặc trưng của hương ước làng xã ở vùng đồng bằng Bắc Bộ ViệtNam với luật làng Kanto của Nhật Bản cổ truyền Đồng thời công trình cũngcho thấy sự khác nhau căn bản của hương ước so với luật làng để từ đó dẫnđến hệ quả lịch sử khác nhau trong quá trình chuyển đổi, phát triển lịch sử

Năm 2006, cuốn “Làng Việt đa nguyên và chặt” của khoa Lịch sử trường

Đại học khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội, NXB Đại học quốc gia Hà Nội

là các bài viết tiêu biểu của Giáo sư Phan Đại Doãn trong sự nghiệp nghiêncứu về làng xã cùng với các bài viết khác của tác giả khác Tác phẩm này gópphần quan trọng giúp người viết có thêm cơ sở để hiểu hơn về sự hình thành

và phát triển của làng xã trong lịch sử

Trong cuốn “Kinh nghiệm tổ chức quản lí nông thôn trong lịch sử” do

Phan Đại Doãn chủ biên, 1994 có hai bài viết liên quan đến vấn đề này

Nguyễn Hồng Phong với tác phẩm “Xã thôn Việt Nam” in trong những

công trình nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, năm 2005 có trình bày đẳng

Trang 12

cấp và bộ máy quản lý xã thôn từ thời phong kiến đến thời Pháp thuộc tác giả đềcập đến những thay đổi trong bộ máy quản trị làng xã trước và sau đợt cải lươnghương chính của Pháp, phân tích tính chất của bộ máy ấy căn bản nằm trong taygiai cấp phong kiến như thời kì trước nhưng chức dịch của nó biến đổi, trở thành

“cán bộ” của nhà nước thực dân phong kiến.

Trong “Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận đại” Dương Trung Quốc có bài viết “Bộ máy quản lý làng xã Việt Nam thời kì cận đại qua các văn bản cải lương hương chính của chính quyền thực dân Pháp” Tác giả

trình bày khái quát nội dung của 7 nghị định, đạo dụ của chính quyền thựcdân và chính quyền Nam triều qua đó rút ra một số nhận xét, trong đó nhấnmạnh một số đặc điểm khác biệt và đồng nhất của bộ máy quản lí làng xãgiữa ba kỳ sau lần cải tổ

Dương Kinh Quốc với tác phẩm “Chính quyền thuộc địa ở Việt Nam trước cách mạng tháng Tám 1945”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1988.

Tác phẩm trình bày lịch sử xã hội và hệ thống chính quyền thuộc địa ở ViệtNam thời kì thực dân Pháp thống trị cho đến trước cách mạng tháng Tám năm

1945 Tác giả đi sâu trình bày về quá trình can thiệp của chính quyền thực dânPháp vào tổ chức quản lí cấp xã ở Việt Nam

Bên cạnh những công trình nghiên cứu trên còn có các công trình nghiêncứu khác như Luận án,Luận văn, các bài đăng trên tạp chí nghiên cứu lịch sử,tạp chí Dân tộc học như:

Luận văn có các đề tài: “Hương ước cải lương huyện Yên Lạc, Vĩnh Phúc (1921 – 1942)” của Bùi Thị Huyền, Đại học sư phạm Hà Nội, 2010;

“Hương ước cải lương huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang (1923 – 1942)” của

Nguyễn Thị Hương, Đại học sư phạm Hà Nội, 2009; Lê Thị Luyến với

“Hương ước cải lương huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc (1922 – 1942)”, Đại

học sư phạm Hà Nội, 2008…

Một số bài viết đăng trên tạp chí: “Kho hương ước cải lương hương

Trang 13

chính ở Bắc Kỳ” của Cao Văn Biền đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử,

số 3, 1998; Trong bài viết “Một vài nhận xét về chủ trương cải lương hương chính ở Bắc Kỳ 1921 của thực dân Pháp” của Trần Trọng Mạch

đăng trên tạp chí Dân tộc học, số 2 năm 1982 tác giả đã phân tích nội dung

cơ bản của chủ trương cải lương hương chính ở Bắc Kỳ qua nghị định củathống sứ Bắc Kỳ 12/8/1921, đưa ra một số kiến giải về những thất bại củachủ trương cải lương hương chính Tuy nhiên tác giả chưa nêu được nhữngthành công bước đầu của thực dân Pháp

Như vậy có thể thấy rằng, đến nay việc nghiên cứu hương ước như mộttrong những tư liệu quan trọng khi tìm hiểu về làng xã chưa được quan tâmđúng mức, đặc biệt là việc nghiên cứu hương ước cải lương ở các địa phương

cụ thể mà huyện Khoái Châu, Hưng Yên là một trong những địa phương chưa

có công trình nghiên cứu nào Tuy nhiên những công trình nghiên cứu kể trêncũng cho thấy hương ước có vị trí quan trọng để thông qua đó nghiên cứu vềquá trình phát sinh, phát triển của làng xã Vì vậy, những công trình nghiêncứu nói trên về hương ước nói chung và hương ước cải lương nói riêng lànguồn tài liệu vô cùng quý giá để tác giả tham khảo, góp phần nghiên cứu đềtài Luận văn tốt nghiệp

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tập trung đi sâu nghiên cứu về vấn đềquản lí làng xã ở huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên thông qua hương ước cảilương thời Pháp thuộc từ 1922 – 1942 Nội dung đề tài nghiên cứu các vấn đềsau: Khái quát huyện Khoái Châu, Hưng Yên và công cuộc cải lương hươngchính của thực dân Pháp, vấn đề quản lí làng xã huyện Khoái Châu, HưngYên qua hương ước cải lương thời Pháp thuộc, thực trạng làng xã huyệnKhoái Châu, Hưng Yên sau khi thực hiện chính sách cải lương hương chính

và ảnh hưởng của hương ước cải lương đối với vấn đề quản lí làng xã ở địa

Trang 14

phương hiện nay.

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu về không gian của đề tài là tập trung đi sâu nghiêncứu về vấn đề quản lí làng xã trên địa bàn huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yênngày nay gồm 25 xã

Phạm vi thời gian nghiên cứu của đề tài được giới hạn từ năm 1922khi thực dân Pháp bắt đầu thực hiện chính sách cải lương hương chính ởhuyện Khoái Châu, Hưng Yên cho đến năm 1942 kết thúc chính sách cảilương hương chính ở đây

3.3 Nhiệm vụ của đề tài

Luận văn “Vấn đề quản lí làng xã huyện Khoái Châu, Hưng Yên qua hương ước cải lương thời Pháp thuộc (1922 – 1942)” trình bày toàn diện và

hệ thống về tình hình huyện Khoái Châu, Hưng Yên trước năm 1945 và côngcuộc cải lương hương chính của thực dân Pháp Đặc biệt đề tài tập trung đisâu nghiên cứu về vấn đề quản lí làng xã ở huyện Khoái Châu qua các bảnhương ước cải lương do thực dân Pháp thực hiện trên tất cả các mặt tổ chức

bộ máy quản lí làng xã, tuần tra canh phòng bảo vệ an ninh làng xã, thuếkhóa, tài chính, y tế, giáo dục… Đồng thời đề tài còn tìm hiểu về thực trạng,

sự thay đổi của làng xã huyện Khoái Châu sau chính sách cải lương hươngchính của thực dân Pháp Từ đó đánh giá sự thành công hay thất bại, thực chấtcủa chính sách cải lương hương chính mà thực dân Pháp thực hiện ở làng xãhuyện Khoái Châu, Hưng Yên nói riêng và làng xã Việt Nam nói chung.Cũng thông qua việc nghiên cứu đề tài giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về làng

xã Việt Nam trong lịch sử, cụ thể là tình hình làng xã Việt Nam dưới thờiPháp thuộc

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tư liệu

Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài luận văn tôi sử dụng nguồn tư

Trang 15

liệu gốc là các bản hương ước cải lương được lưu trữ tại Viện thông tin khoahọc xã hội Đồng thời kế thừa tài liệu và lí luận của các công trình đi trước cóliên quan đến đề tài Nguồn tư liệu này gồm sách tham khảo, tạp chí, luận văn,luận án… được lưu giữ tại thư viện quốc gia Việt Nam, thư viện trường Đạihọc sư phạm Hà Nội, thư viện trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn,phòng tư liệu Khoa Lịch sử trường Đại học sư phạm Hà Nội, Viện Thông tinKhoa học xã hội Việt Nam, Thư viện tỉnh Hưng Yên Ngoài ra trong quá trìnhthực hiện đề tài, tôi còn sử dụng nguồn tư liệu điền dã từ địa phương, thu thậptài liệu, nhân chứng lịch sử.

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Xuất phát từ bộ môn khoa học lịch sử, để thực hiện luận văn tôi đã vậndụng phương pháp nghiên cứu lịch sử và phương pháp logic được xác định làphương pháp cơ bản để nghiên cứu nhưng chủ yếu vẫn là phương pháp lịch

sử Ngoài ra tôi còn sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích tư liệu.Phương pháp này được sử dụng để phân tích, đối chiếu, so sánh tài liệu nhằmđảm bảo tính khoa học, khách quan của luận văn Luận văn còn sử dụngphương pháp điền dã về các làng xã ở huyện Khoái Châu, Hưng Yên để sưutầm, khai thác và tìm nguồn tư liệu Từ đó rút ra nhận xét, đánh giá bước đầu

5 Đóng góp của đề tài

Đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu có hệ thống về vấn đề quản lí làng

xã huyện Khoái Châu, Hưng Yên qua hương ước cải lương thời Pháp thuộc (

1922 – 1942) Từ kết quả nghiên cứu đạt được, công trình nghiên cứu chothấy được những vấn đề về tổ chức, điều hành, quản lí ở làng xã huyệnKhoái Châu, Hưng Yên dưới thời Pháp thuộc đặc biệt là giai đoạn từ 1922– 1942 khi thực dân Pháp thực hiện chính sách cải lương hương chính.Những chuyển biến của làng xã huyện Khoái Châu, Hưng Yên trước tácđộng của chính sách cai trị của thực dân Pháp thông qua hương ước cảilương Đồng thời chỉ ra được những điểm tích cực cũng như hạn chế củacách thức quản lí làng xã dưới thời Pháp thuộc Từ đó góp phần vào quá

Trang 16

trình nghiên cứu lịch sử Việt Nam thời cận đại.

Thông qua việc nghiên cứu vấn đề quản lí làng xã qua hương ước cảilương của thực dân Pháp còn cho chúng ta hiểu thêm phần nào về cách thứcquản lí xã thôn của Pháp nói riêng và của phương Tây nói chung

Việc nghiên cứu đề tài góp phần vào quá trình khôi phục và xây dựngđời sống mới tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc mà Đảng và nhân dân ta đangtiến hành Góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển, bảo vệ đất nước.Luận văn hoàn thành cũng sẽ là tư liệu phục vụ cho nghiên cứu lịch sửcận đại Việt Nam và công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử địa phương

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn gồm có ba chương:Chương 1: Khái quát về huyện Khoái Châu, Hưng Yên và công cuộc cảilương hương chính của thực dân Pháp

Chương 2: Vấn đề quản lí làng xã huyện Khoái Châu qua hương ước cảilương thời Pháp thuộc (1922 – 1942)

Chương 3: Thực trạng làng xã huyện Khoái Châu sau khi chính quyềnthuộc địa thực hiện cải lương hương chính

Trang 17

NỘI DUNG CH¦¬ng 1: Kh¸i qu¸t vÒ huyÖn Kho¸i Ch©u, H¦ng Yªn vµ c«ng cuéc c¶i l¦¬ng h¦¬ng chÝnh cña thùc d©n Ph¸p

1.1 Khái quát về huyện Khoái Châu, Hưng Yên trước cách mạng tháng Tám năm 1945

1.1.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý: Tỉnh Hưng Yên thời Pháp thuộc nằm ở giữa miền trung

châu Bắc Kỳ, ba phía liền sông, có nhiều sông đào, nhiều đường bộ giaothông, rất thuận lợi cho việc canh nông và thương mại Hưng Yên Bắc giápBắc Ninh, Đông giáp Hải Dương, có sông Đào và sông Cửu Yên phân chiađịa giới, phía Nam cách sông Luộc là tỉnh Thái Bình, phía Tây có sông Nhị Hà

một bên là Hưng Yên, một bên là Hà Đông “Hưng Yên là đất ở giữa các tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Dương, Nam Định, có các sông Đằng, sông Luộc, sông Nghĩa Trụ làm dải vạt áo, bốn phương tám hướng đều thông suốt, không bị núi rừng ngăn trở, buôn bán đi lại bằng đường sông đường bộ đều thích hợp, vì thế cho nên trải các đời đặt kho thương, ắt đều chọn ở nơi này”[45; 18]

Khoái Châu nằm trong hệ thống sông Hồng, là hệ thống sông lớn nhất ởBắc Kỳ, do có nguồn nước phù sa bồi đắp đáp ứng nhu cầu về phát triển kinh

tế và dân sinh của nhân dân trong vùng từ những buổi đầu sơ khai Sau cuộccải cách hành chính Minh Mạng (1831), tỉnh Hưng Yên được thành lập,huyện Khoái Châu thuộc phủ Khoái Châu Phủ Khoái Châu, phía Đông giáphuyện Mỹ Hào tỉnh Hải Dương, phía Tây và phía Nam giáp sông Nhị Hà đốidiện với hai huyện Thanh Trì và Thượng Phúc của Hà Nội, bắc giáp huyệnVăn Giang của Bắc Ninh

Diện tích của tỉnh Hưng Yên năm 1934 là 82200 ha Trong đó diện tíchphủ Khoái Châu là 13030 ha [43; 13], chiếm 15,8 % diện tích toàn tỉnh HưngYên lúc đó

Điều kiện tự nhiên: Khoái Châu nằm ở đồng bằng châu thổ sông

Trang 18

Hồng, có địa hình tương đối bằng phẳng, không có diện tích rừng núi,không có diện tích bờ biển Đồng đất Khoái Châu thích hợp cho việcphát triển nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa nước Ngoài ra còn thíchhợp trồng các cây nông nghiệp khác như ngô, khoai, sắn, cây ăn quả,một số loại cây công nghiệp… Đây là khu vực có đất ruộng phì nhiêu,bằng phẳng nhất trong tỉnh.

Khí hậu Khoái Châu nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng

ẩm, có nguồn nước dồi dào “Suốt bốn tháng đầu năm, chỉ những mưa phùn, không khí ẩm thấp, đồ đạc quần áo meo mốc, các côn trùng mà nhất là ruồi muỗi càng sản xuất ra nhiều Hết thời kì mưa phùn cho đến cuối năm, khí hậu điều hòa, không nóng lắm mà cũng không rét nhiều” [43;12] Thời tiết trong

vùng theo sự thay đổi thời tiết, một năm chia ra làm ba mùa: mùa hanh, mùamưa phùn, mùa mưa to Mùa hanh từ mùng 1 tháng 11 năm trước đến 15tháng 1 năm sau Mùa mưa phùn từ 15 tháng giêng đến mùng 1 tháng 5 Mùamưa to từ tháng 5 đến tháng 11, mùa này thường hay có giông tố hoặc bão.Một năm có hai mùa nước, mùa nước lũ từ tháng 6 đến tháng 11, mùa nướcnhỏ từ thàng 11 đến tháng 6 Với nền khí hậu như vậy, bên cạnh những thuậnlợi, nhân dân trong vùng cũng gặp không ít khó khăn do thiên tai gây ra

“Nhiều khi gặp kì đại hạn, nắng thiêu đồng mạ, hư lụi vườn rau hoặc gặp mưa nhiều, cây cối thối nát, mùa màng rất là tai hại” [43;12].

Đây là khu vực có hệ thống sông ngòi, ao, hồ dày đặc Phía Tây huyện

có sông Nhị Hà chảy qua, đây là con sông lớn nhất của Bắc Kỳ Sông QuảngLãng và sông Kim Ngưu chảy qua khu vực này Sông Quảng Lãng do hai chilưu của sông Hoan Ái hợp thành Sông Quãng Lãng chảy ra sông Cửu Yên.Các sông đào ở phía Tây huyện hợp lại thành sông Kim Ngưu Trên địa bànhuyện, sông Nhị Hà là con sông to nhất, sức nước rất mạnh, đã gây ra nhiều

cảnh tượng tang thương “Nước sông Nhị Hà và sông Luộc thường bị nước thủy triều ngoài bể cản lại, nên dòng sông ứ trệ, rất hại cho hai bên bờ sông”

Trang 19

[43;14] Từ khi hình thành, vùng đất Khoái Châu thường xuyên năm nào cũng

bị hạn hán và lũ lụt Thời Lý triều đình bắt đầu đắp đê sông Hồng nhưngkhông chống được lũ lớn Đến thời Trần, triều đình đã huy động quân dân đắp

đê Đỉnh Nhĩ suốt từ đầu nguồn đến cửa biển để giữ nước lụt tràn ngập VuaTrần Nhân Tông năm 1238 đặt chức quan Hà đê chánh phó sứ coi việc đêđiều Triều đại nhà Lê, dưới thời Lê sơ và đầu thời Lê Trung Hưng, các vuanhà Lê quan tâm đến đê điều Đời Lê Ý Tông, năm Cảnh Trị thứ 2 (1581)phân định ra đắp đê đại công trình, trung công trình, tiểu công trình Đại côngtrình do nhà vua sai quan đắp, trung công trình do quan trấn chỉ huy đắp, tiểucông trình do quan phủ, huyện chỉ huy đắp Triều đại đại Tây Sơn tuy chỉ tồntại có 13 năm (1789 – 1802) nhưng khối lượng đắp đê rất lớn suốt cả một dảiNhị Hà (trong đó có Khoái Châu) đều được đắp đê hoàn chỉnh và lấp hết cáccửa cống Thời Nguyễn (1802 – 1806) việc đắp đê không được quan tâm nênnăm nào đê sông Hồng ở Khoái Châu, Văn Giang cũng vỡ Năm 1807 lụt lớndân Bắc Thành chỉ còn 195589 suất, cuối triều Lê là 268990 suất [46; 12].Năm 1826 triều đình nhà Nguyễn bãi bỏ Nha đê chính không còn có ngườitrông coi đê điều Tháng 7 năm Minh Mệnh thứ 14 (1833) đê Sài Quất, NhuếDương (Đông Yên) vỡ, lụt Năm Minh Mệnh thứ 16 (1835) sai Đặng VănHòa đào sông Cửu Yên, đắp đê ở hai bên bờ nhưng chất lượng đắp đê xấu Từnăm 1836 – 1844 năm nào đê sông Hồng và đê sông Cửu Yên cũng vỡ, cảtỉnh Hưng Yên ngập sâu từ 2 – 2,5m nước [46;12] Năm 1847 đê sông Hồng ởBắc Ninh, Hưng Yên vỡ khiến Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh lụt Năm

1859, Hưng Yên, Hải Dương hạn hán nặng, lúa chết khô Thời Thiệu Trị triềuđình bàn lại việc bỏ hay giữ đê nêu ra từ thời Gia Long, triều đình định bỏ đênhưng khi vua ra Kinh Lý ở Hưng Yên, dân phủ Khoái Châu đón đường kêuxin mới để lại đê nhưng không cho tu bổ Từ đó công việc về đê, cống, khơisông không được thực hiện nên đê ở Bắc Bộ trong đó có đê sông Hồng trênđịa phận Hưng Yên, Bắc Ninh năm nào cũng gặp cảnh ngập lụt

Trang 20

Năm 1865, 1871 đê Phi Liệt ở Văn Giang, đê ở huyện Đông Yên, KimĐộng vỡ Tháng 7/1873 nhiều đoạn đê xung yếu ở Sài Thị, Sài Quất (ĐôngYên), Phi Liệt (Văn Giang) vỡ Tính từ năm 1865 – 1883 năm nào đê Phi Liệtcũng vỡ Tháng 7/1888 đê Văn Giang lại vỡ, đê Cửu Yên vỡ, tháng 8/1890 đê

Đa Hòa (Đông Yên) vỡ, đến tháng 9/1890 bão to, nước lớn Dưới thời Phápthuộc đê sông Hồng cũng không được bảo vệ, không được xây các công trìnhtưới, tiêu nước Cả một tuyến sông Hồng của huyện chỉ có một cống lấy nướcrộng 1m, 1 cống tiêu nước rộng 0,6m [46;13]

Năm 1892 vỡ đê Hoàng Xá cả tỉnh Hưng Yên lụt Năm 1896 đầu nămhạn nặng, lúa thất thu, giữa năm lụt Năm 1898, tháng 7 vỡ đê sông Đuống(Bắc Ninh), ba tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương bị tàn phá nặng nề, nơikhông bị lụt thì sâu, chuột hoành hành Năm 1915 một nửa nước sông Hồng

đổ vào ba tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh khiến cho đồng ruộng, làngmạc bị tàn phá nặng nề Năm 1921 bão lớn, tiếp đó hạn hán, tháng 8 nướcsông Hồng lên to uy hiếp đê Tháng 9, tháng 10 lúa mùa ngập nước quá nửanên bị thất thu Năm 1923 ở Bắc Kì vụ chiêm hạn hán lúa mất quá nửa, vụmùa lụt cảnh đói khổ không sao kể xiết Năm 1924 vừa gặt chiêm thì đê VănGiang vỡ, Hưng Yên trở thành biển nước mênh mông, phủ Khoái Châu và cáchuyện Yên Mỹ, Phù Cừ, Kim Động, Ân Thi nước ngập Tháng 7/1926 nướcsông Hồng và sông Thái Bình lên cao, đê Kẻ Sặt vỡ, gặp luôn trận bão cuốitháng gây thiệt hại cho toàn tỉnh Năm 1932 đê Phi Liệt vỡ gây ngập lụt phíaBắc tỉnh Hưng Yên Tháng 9/ 1937 Hưng Yên lụt lớn nhấn chìm 38000 mẫuruộng làm cho hàng trăm nghìn người trở nên đói rách, thiệt hại tới 600000frăng [46;14] Nỗi thống khổ của nhân dân phủ Khoái Châu được thể hiện

trong câu “Oai oái như phủ Khoái xin lương”.

Khoái Châu nằm trên trục đường Thăng Long – Phố Hiến nổi tiếngphồn hoa cuối thế kỉ XVII đầu thế kỉ XVIII, nằm bên tả ngạn sông Hồng làđường giao thông thủy quan trọng từ biển đông qua cửa biển Ba Lạt để tới

Trang 21

Thăng Long, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai Trước cách mạngtháng Tám, với vị trí địa lý thuận lợi, hệ thống sông, ngòi thuận lợi cho nhândân trong vùng đi lại sinh sống, buôn bán, giao thương giữa nhân dân trongvùng và với bên ngoài.

1.1.2 Lịch sử hình thành huyện Khoái Châu

Qua câu chuyện dân gian truyền tụng từ đời này qua đời khác và khắpmọi vùng đã khẳng định người Khoái Châu dựng làng, lập xã giữa vùng châuthổ sông Hồng từ thuở vua Hùng Vùng đất Khoái Châu đã có nhiều lần thayđổi địa giới hành chính qua các thời kì lịch sử Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831)Minh Mạng tiến hành một cuộc cải cách hành chính quy mô lớn ở trung ương

và địa phương Ở địa phương xóa bỏ các tổng trấn, đổi các dinh trấn thành tỉnh,chia cả nước thành 30 tỉnh, trong đó có tỉnh Hưng Yên Tỉnh Hưng Yên bắt đầu

từ đó có tên trên bản đồ Việt Nam Sau cuộc cải cách của Minh Mạng, các trấnphía Bắc được đổi thành 18 tỉnh, dưới tỉnh là phủ, huyện, châu và tổng, xã.Tỉnh Hưng Yên có phủ Khoái Châu và 5 huyện (Đông An, Kim Động, ThiênThi, Phù Dung, Tiên Lữ) Cải tổ lại hệ thống các quan lại đứng đầu tỉnh, bãi bỏcác chức cũ mà đặt các chức mới như Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, Án sát,Lãnh binh ở các tỉnh Sau nhiều lần thay đổi, mỗi triều đại đều có cải cách,canh tân bộ máy hành chính từ trung ương đến cơ sở cho phù hợp với hoàncảnh lịch sử và thuận bề cho việc cai trị, điều hành, quản lí đất nước

Tháng 12/1890 toàn quyền Piquet kí nghị định thành lập đạo Bãi Sậy có

4 huyện mới, cắt của huyện Đông Yên 3 tổng là Khóa Nhu, Tử Dương, YênPhú để cùng với các tổng khác cắt từ Văn Giang (Bắc Ninh), Đường Hào (HảiDương), Ân Thi (Hưng Yên) để thành lập huyện Yên Mỹ Phủ Khoái Châu có

10 tổng là Đại Quan, Mễ Sở, Yên Cảnh, Yên Lạc, Yên Vĩnh, Yên Lịch, PhúKhê, Đông Kết, Bình Dân, Ninh Tập và 76 xã

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, chính phủ bỏ cấp phủ thìphủ Khoái Châu gọi là huyện Khoái Châu Ngày 14/4/1946 chính phủ ra sắc

Trang 22

lệnh số 63 về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và xã, huyện Khoái Châu cũngtiến hành hợp nhất 76 xã nhỏ thành 22 xã lớn, các xã đó tồn tại đến năm 1955gồm: Mễ Sở, Dạ Trạch, Cấp Tiến, Ông Đình, Tân Dân, An Vĩ, Kim Ngưu, TứDân, Đông Kinh, Liên Khê, Chí Tân, Mạn Trù châu, Đại Tập, Đông Ninh,Phùng Hưng, Đại Hưng, Dân Tiến, Việt Tiến, Đồng Tiến, Phú Nham, NguyễnHuệ, Vĩnh Long Sau đó đổi tên một số xã Việt Tiến thành Việt Hòa, chuyểnthôn Vân Trì thượng về xã Dân Tiến, chuyển thôn Lôi Cầu từ xã Hiệp Hòa củahuyện Kim Động về xã Việt Hòa, xã Mạn Trù châu đổi là xã Tân Châu, xã VĩnhLong đổi là xã Bình Kiều, xã An Vĩ đổi là xã Quảng Châu, đến khi sửa sai đổilại là xã An Vĩ, xã Ông Đình đổi là xã Đông Châu, đến sửa sai lại đổi là xã ÔngĐình, xã Cấp Tiến đổi là xã Đông Tảo, xã Đông Kinh đổi là xã Đông Kết, chia

xã Mễ Sở là hai xã Mễ Sở và Bình Minh, chuyển xã Mễ Sở về Văn Giang, xãBình Minh thuộc huyện Khoái Châu Xã Dạ Trạch chia làm hai xã là xã DạTrạch và xã Thái Hòa, xã Thái Hòa nay là xã Hàm Tử [46; 6]

Ngày 24/7/1999 Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam raNghị định số 60 – NĐ/CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính và chia cáchuyện Mỹ Văn và Châu Giang thành 5 huyện: Yên Mỹ, Mỹ Hào, Văn Lâm,Văn Giang, Khoái Châu Chia huyện Châu Giang thành hai huyện KhoáiChâu và Văn Giang Huyện Khoái Châu gồm 25 xã: Đông Tảo, Dạ Trạch,Hàm Tử, Ông Đình, Bình Minh, An Vĩ, Đông Kết, Bình Kiều, Tân Dân, TứDân, Tân Châu, Đông Ninh, Đại Tập, Liên Khê, Nhuế Dương, Chí Tân, ĐạiHưng, Thuần Hưng, Thành Công, Phùng Hưng, Việt Hòa, Đồng Tiến, HồngTiến, Dân Tiến và thị trấn Khoái Châu

1.1.3 Truyền thống yêu nước, đấu tranh chống giặc ngoại xâm

Khoái Châu nằm ở phía Nam kinh thành Thăng Long, cách biển không

xa nên Khoái Châu giữ vị trí hết sức quan trọng về quân sự Xưa thủy quângiặc thường từ biển đông vào cửa Ba Lạt rồi theo sông Hồng đánh chiếmđồng bằng Bắc Bộ Từ thời Hùng Vương thứ 18, nhà vua đã phái tướng Đỗ

Trang 23

Mục đóng đồn binh ở Bối Khê, tướng Nguyễn Minh đóng đồn ở tổng ĐôngKết để ngăn chặn quân Thục và quân Chiêm Thành theo đường kinh thànhđánh lên kinh đô Phong Châu Năm 40 Hai Bà Trưng đóng quân ở Đình Gò(Phụng Công, Văn Giang) đã sai một nữ tướng đóng quân ở Đa Hòa (BìnhMinh) Xã Phùng Hưng ngày nay là nơi chiến đấu của bà Bạt Kiếm chống MãViện và cũng là nơi bà hi sinh, hiện làng Tiểu Quan còn đền thờ bà Nhân dân

xã Ông Đình cùng nhân dân trong huyện gia nhập đội quân chống giặc ĐôngHán của hai bà Nguyệt Thai, Nguyệt Độ, sau đó gia nhập nghĩa quân của Hai

Bà Trưng Năm 547 Triệu Quang Phục đưa 20000 quân sĩ về đóng ở đầm DạTrạch và các tiền đồn An Vĩ, Đa Hòa, Bùi Xá để từ đó mở rộng địa bàn hoạtđộng ra các tỉnh [46;23] Năm 548 Triệu Quang Phục nghe tin Lý Nam Đếmất liền lên ngôi vua, hiệu là Triệu Việt Vương đánh đuổi quân Lương rakhỏi bờ cõi Năm 767, thủy quân Chà Và, Côn Lôn (quần đảo Mã Lai) đềutheo cửa Ba Lạt, ngược sông Hồng đánh vào miền duyên hải Giao Châu, tiếnlên bao vây phủ thành Tống Bình (Hà Nội) Năm 981, vua Lê Đại Hành xâydựng trận địa đánh quân Tống ở bến Tây Kết, một người là Quách Đại Dong(xã Ông Đình) đã chiêu mộ nhân dân trong vùng thành lập đội quân giúp nhà

vua, vận động nhân dân thực hiện kế hoạch “Tĩnh vi nông, động ư binh”

[46;23] Vọng gác và nơi tập luyện của quân đội ứng nghĩa của Quách ĐạiDong nay vẫn còn di tích ở đường Ái Quân ta thắng lớn ở Tây Kết, bắt sốngcác tướng Trần Khâm Tộ, Quách Quân Biện, Triệu Phục Huân Quách ĐạiDong được phong là Duy Vương được nhân dân Ông Đình tôn làm Thànhhoàng làng Năm 1010 Lý Thái Tổ rời kinh đô từ Hoa Lư ra Thăng Long saiKhuông Tín hầu Nguyễn Văn Lang đóng ở Thiết Trụ nay vẫn còn đền thờ.Vua Lý Thần Tông (1128 – 1138) sai Ngũ Nhạc đại vương về đóng ở tổngYên Lịch Tể tướng Đỗ Anh Vũ thời Lý Anh Tông có công dẹp giặc ThânLợi (1141) và bình Chiêm Thành xâm phạm bờ cõi, về đóng quân ở xã HồngTiến ngày nay Trong ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông triều đình

Trang 24

đều rút quân về đóng ở sông Thiên Mạc (Khoái Châu) Nhân dân KhoáiChâu đã cùng triều đình nhà Trần và quân dân cả nước đánh bại các cuộcxâm lược của Mông Nguyên.

Tháng 9/1409 Trần Qúy Kháng sai tướng Nguyễn Thế Môi chỉ huy

20000 quân giữ cửa Hàm Tử Trương Phụ, Phương Chính, Trần Húc đemthủy quân đến đánh Nghĩa quân có 600 chiến thuyền dàn trên sông, cọc đóng

ở phía Nam sông, dựng trại trên bờ sông [46;26] Trận đánh diễn ra quyết liệtnhưng đang gió Tây bắc lợi cho quân Minh, quân Trần thua to phải rút Năm

1410 nhân dân Khoái Châu lại theo Phạm Tuân khởi nghĩa Tháng 11 PhạmTuân bị giặc bắt, nhân dân Khoái Châu vẫn tiếp tục kháng chiến Năm 1419Nguyễn Đặc khởi nghĩa ở Khoái Châu Nguyễn Đặc đã cùng Nguyễn Đa Cấu

ở Hoàng Giang thấy thành Đông Quan suy yếu, trống rỗng nên kéo nhau cùngnổi dậy, xông thẳng đến Nhị Hà đánh phá cầu phao Nhưng cuộc tiến công đó

bị Lý Bân đánh lui Cuối năm 1425 Lê Lợi phái hai đạo quân ra Bắc trong đó

có một cánh quân do Bùi Bị, Lưu Nhân Chú tiến ra vùng Khoái Châu, BắcGiang, Lạng Giang

Tháng 3/1883 Đổng quân vụ Đinh Gia Quế ở làng Thọ Bình, tổng Bình

Dân dựng cờ “Nam Đạo Cần Vương, Bình Tây phạt tội” [46;26], lập căn cứ

Bãi Sậy đánh Pháp Hầu hết các thôn, xã ở huyện Khoái Châu đều là làngchiến đấu, trận địa, đều là kho lương, nơi sản xuất vũ khí của nghĩa quân Rấtnhiều tướng lĩnh ở Khoái Châu xuất hiện như Nguyễn Đình Mai quê ở ThọBình, ba anh em Chánh lãnh binh Nguyễn Đình Tính, Nguyễn Đình Chính,Lãnh binh Ba Sành ở An Vĩ chiêu mộ quân đánh Pháp Lãnh binh Dương VănĐiện ở Phù Sa đưa cả họ Dương và dân ba làng Phù Sa vào nghĩa quân, vợchồng lãnh binh Nguyễn Đình Túc ở Đa Hòa, Lãnh binh Vũ Đức Thành ởÔng Đình kiên cường đánh Pháp Tháng 9/1885 Đinh Gia Quế lâm bệnhnặng thì Bắc Kì hiệp thống quân vụ đại thần Nguyễn Thiện Thuật về trực tiếplãnh đạo cuộc khởi nghĩa đưa cuộc khởi nghĩa lên cao

Trang 25

Năm 1892 cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy thất bại nhiều nghĩa quân Bãi Sậylên Yên Thế tham gia cuộc khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnhđạo như Đàm Tuân ở xã Thành Công, Nguyễn Đình Khiêm, Hoàng VănThành ở Đồng Tiến, Nguyễn Hữu Nghị ở Đông Kết Trong một trận đánh cụNghị bị giặc Pháp bắt đưa về Khoái Châu hành hình.

Nhân dân Khoái Châu còn tham gia nhiều cuộc khởi nghĩa chống Pháp,chống Mĩ của cả nước làm nên nhiều chiến thắng đánh bại cuộc xâm lượccủa đế quốc Pháp và đế quốc Mĩ

1.1.4 Vài nét về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và dân cư Khoái Châu trước năm 1945

Chính trị: Từ năm 1884 tỉnh Hưng Yên cũng như các tỉnh khác ở xứ Bắc

Kỳ thuộc quyền nước Pháp bảo hộ, có quan lại ta cai trị dưới quyền kiểm đốccủa chính phủ bảo hộ [43;54] Ngay từ khi mới đánh chiếm được tỉnh lị HưngYên (4/1883) thực dân Pháp đặt Hưng Yên dưới chế độ quân quản, sau đó làchế độ cai trị dân sự Ở tỉnh có công sứ Pháp, giúp việc cho công sứ có Giámbinh, chỉ huy một đại đội lính khố xanh Quan Nam triều có dinh Tuần phủ.Năm 1885 chúng thăng Hoàng Cao Khải chức án sát làm tổng đốc ba tỉnhHưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh kiêm chức Tiểu phủ sứ đánh phá nghĩaquân Bãi Sậy thì dinh Tuần phủ được tôn lên làm dinh Tổng đốc Giúp việctổng đốc có lãnh binh chỉ huy một đại đội lính cơ, toà án Nam triều HưngYên có hai phủ là Mỹ Hào, phủ Khoái Châu Phủ Khoái Châu kiêm lý 5huyện Đông Yên, Kim Động, Ân Thi, Phù Cừ, Tiên Lữ Khi Pháp cai trịchúng bỏ chức tri huyện Đông Yên mà quan phủ Khoái Châu kiêm nhiệmchức tri huyện Đông Yên Giúp việc tri phủ, tri huyện có hai thừa phái, mộtlục sự Riêng phủ Khoái Châu có một đồn binh do viên quản chỉ huy mộttrung đội lính khố xanh Vào đầu những năm 20 của thế kỉ XX Khoái Châu cóthêm một huấn đạo coi việc học, một cai trạm coi việc bưu điện

Tri huyện có hai chức năng hành chính và tư pháp Dưới huyện là cấp

Trang 26

tổng, có chánh tổng, phó tổng nhưng không có thực quyền Mọi công việc triphủ, tri huyện làm việc thẳng với lí trưởng của xã Giúp việc lí trưởng có phó

lý, trưởng bạ, thư kí, trương tuần Xã còn có Hội đồng dân biểu do chánh hội,phó hội đứng đầu, có con dấu riêng Mỗi xã còn có Hội đồng kỳ mục, đứngđầu là tiên chỉ, thứ chỉ, tộc biểu

Về kinh tế: Ruộng đất huyện Khoái Châu tuy nhiều nhưng trước cách

mạng tháng Tám năm 1945 đều nằm trong tay chủ ấp, địa chủ người Việt vàngười Pháp Phủ Khoái Châu năm 1934 diện tích hai thứ ruộng là 11800 ha.Trong đó ruộng một mùa diện tích là 11700 ha, gặt được từ 11 đến 12,5 tạ;ruộng hai mùa là 100 ha [43;30] Những tên chiếm nhiều ruộng đất như: ấpCựu Hiên do tên thực dân người Pháp Dade chiếm 516 mẫu, ấp Bá Tôn ở VânTrì chiếm trên 300 mẫu, ấp Rochat ở Đông Tảo chiếm 200 mẫu, ấp Hàn Đắc

ở xã Phùng Hưng chiếm 158 mẫu, Chỉ Mạch ở Mạn Trù chiếm 140 mẫu, ĐộiChâu ở Yên Lịch chiếm 100 mẫu, Lý Nghi ở Đa Hòa chiếm 75 mẫu, Chánh

Hệ ở Sài Thị chiếm 100 mẫu, Chánh Tảo ở Yên Vĩnh chiếm 60,5 mẫu, LýBình ở An Dân 45 mẫu, Chánh Bình ở Lạc Thủy 40 mẫu, Chánh An ở An Lạc

40 mẫu [46; 32]

Đồng đất Khoái Châu do phù sa sông Hồng kiến tạo nên phì nhiêu thuậnlợi cho phát triển nông nghiệp nhưng do triều đình nhà Nguyễn và thực dânPháp không quan tâm đến công tác trị thủy vì thế năm nào cũng xảy ra lụt lộivào vụ mùa, hạn hán vào vụ chiêm Cùng với kĩ thuật canh tác lạc hậu nênnăng suất cây trồng thấp Năm 1939 tỉnh Hưng Yên được mùa lớn toàn tỉnhcũng chỉ thu được 129000 tấn thóc với sản lượng bình quân cả năm khoảng1,5 tấn/ha [46;33]

Ngoài trồng lúa là cây lương thực chính, nhân dân trong huyện còn trồngcác loại cây lương thực khác như: ngô, dâu, thầu dầu, đậu, nhãn… Ngô đượctrồng ở chỗ đất cao ráo, gần các bờ đê có đất phù sa Khắp vùng Khoái Châuđều trồng ngô Đây là khu vực trồng nhiều ngô nhất trong tỉnh Sản lượng ngô

Trang 27

không những đủ cung cấp cho nhân dân trong tỉnh mà còn để xuất cảng bán rabên ngoài Ngoài ra, cây đậu thường được trồng xen với cây ngô Khoái Châu

là khu vực trồng nhiều đậu hơn cả, còn các huyện khác chỉ trồng đủ ăn Câydâu thường được trồng ở dọc sông Nhị Hà và sông Luộc Năm 1934 toàn tỉnh

có 730 mẫu dâu, trong đó Phủ Khoái Châu có 550 mẫu [43;30] chiếm 75,3%diện tích trồng dâu toàn tỉnh Lá dâu được dùng để nuôi tằm Ở Khoái châu cónghề chăn tằm kéo tơ phát triển Xã Phú Trạch và Quan Xuyên nuôi tằm kéo

tơ, dệt sồi Sồi được đem bán ở ngoài Hà Nội

Trong lĩnh vực chăn nuôi, nhân dân trong huyện thường nuôi trâu, bò,lợn, gà… phục vụ đời sống nhân dân So với các huyện khác trong tỉnh,Khoái Châu là nơi có nghề chăn nuôi phát triển nhất Phủ Khoái Châu, nổitiếng với cá đầm Kênh Khê, có tiếng là thịt ngon

Bảng 1.1: Bảng kê súc mục phủ Khoái Châu năm 1932 – 1933 [43;53]

và Quan Xuyên

Do Khoái Châu nói riêng, tỉnh Hưng Yên nói chung ngành thủ côngnghiệp ít nên việc thông thương với bên ngoài chưa thực sự phát triển, các sảnphẩm đem bán ra bên ngoài ít, còn chỉ đáp ứng nhu cầu của nhân dân trongtỉnh Hàng năm xuất cảng các mặt hàng nông sản là chủ yếu như thóc, gạo,ngô, đậu… Việc buôn bán thường diễn ra ở những nơi thuận lợi về giao thôngđường bộ và đường thủy ( sông Nhị Hà, sông Luộc, sông Lực Điền) hayđường hỏa Văn Lâm, Nghi Xuyên và Phú Thị ( Khoái Châu) Các sản phẩm

Trang 28

được đem bán chủ yếu ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định.

Buôn bán trong tỉnh thường diễn ra ở những nơi thuận đường giao thôngnhiều người đi lại, đông dân cư như gần các những đường lớn, dọc sông Nhị

Hà Trong phủ Khoái Châu thời đó có các chợ lớn như: Chợ Phủ (Yên Vỹ),chợ Phú Thị (Phú Thị), chợ Giàn (Sài Thị), chợ Bái (Bối Khê), chợ Hang(Thọ Nham), chợ An Lạc (An Lạc), chợ Nội (Nhuế Dương) Mỗi chợ đềuquy định những ngày phiên chợ theo lịch âm Ví dụ, chợ Phủ họp vào cácngày mùng 1, 3, 6, 8, 11, 13, 16, 18, 21, 23, 26, 28 Trong các chợ thườngbán các thứ như thóc, gạo, đậu, trâu bò, ngựa, lợn, gà, mắm, muối, thịt, cá,các dụng cụ lao đông như chài, lưới, điền khí… phục vụ nhu cầu đời sốngcủa nhân dân

Về giao thông, trong tỉnh thời Pháp thuộc có nhiều đường giao thông,gồm đường bộ và đường thủy Khoái Châu có đường 205 đi từ Tiểu Quan,đường rải đá và từ Khoái Châu đi Đại Hạnh, đường đất Hệ thống giao thôngđường thủy có sông Nhị Hà, có nhiều tàu bè Hà Nội, Hải Phòng… chạy qua.Dọc sông Nhị Hà, sông Cửu Yên trên địa phận huyện Khoái Châu có nhiềubến đò phục vụ đi lại, buôn bán, vận chuyển hành hóa như: phà Mạn Xuyên,phà Phú Thị, bến đò Sài Thị… Hàng năm nhân dân trong vùng thực hiệnnhiều biện pháp đắp, tu bổ đường, đê, đào, khơi sông, ao hồ để xây dựng hệthống giao thông, phục vụ nhu cầu người dân

Dân cư: Theo thống kê tỉnh Hưng Yên năm 1934 có 446.199 người

[43;53] Người dân ở Khoái Châu đều là người Việt, chỉ có một số ít ngườiHoa Người Hoa sống lâu đời ở đây, họ làm ăn, sinh sống, lấy vợ người AnNam nên không còn di tích của người Hoa Họ theo các phong tục tập quán,lối làm ăn cùng với nhân dân trong vùng Do vị trí địa lí, điều kiện tự nhiênnằm ở vùng trung châu Bắc Kỳ, nhân dân chỉ trông vào nghề nông sinh nhai,lại hay gặp thiên tai, ruộng đất không đủ làm cho nhân dân có cuộc sống sungtúc, các ngành thủ công nghiệp ít nên có nhiều người dân phải ra ngoài kiếm

Trang 29

kế sinh nhai Hàng năm một số đông đàn ông, đàn bà, con trẻ đi làm thuê, điđến các đồn điền mỏ than… ở Hà Nội, Quảng Ninh, xuống Nam Kỳ.

Bảng 1.2: Bảng kê dân số phủ Khoái Châu ( 1934) [43;61]

Phủ, huyện và

tổng Dân số

Diện tích(km2 ) Số người/km

Xã hội: Trước cách mạng tháng Tám đời sống nhân dân Khoái Châu vốn

đã gặp nhiều khó khăn do thiên tai, lại gặp phải cảnh “một cổ hai tròng” của

thực dân và phong kiến nên cuộc sống của nhân dân hết sức khốn khổ, điêuđứng Bên cạnh việc chiếm đoạt ruộng đất thực dân Pháp còn đặt ra nhiều thứthuế bòn rút miếng cơm, manh áo của người nông dân Năm 1884 thực dânPháp đã rút bớt diện tích một mẫu thời Nguyễn từ 4970 m2 xuống còn 3600

m2 để thu được nhiều tiền thuế Thuế điền thổ chia làm 4 loại: nhất đẳng điền:1,2 đồng/mẫu, nhị đẳng điền: 1 đồng/ mẫu, tam đẳng điền là 0,8 đồng/mẫu, tứđẳng điền là 0,4đồng/mẫu Thuế khóa không giảm mà ngày càng một tăng.Năm 1943 thu bằng thóc, mỗi mẫu thu 100 kg, năm 1944 tăng lên tới 200 kgthóc [46;33]

Thuế thổ trạch ở Khoái Châu năm 1924 như sau: nhà hạng nhất, khu thứnhất có gác thu 0,96 đồng/m2/năm, khu thứ hai thu 0,86 đồng/m2/năm; nhàhạng nhì, khu thứ nhất thu 0,64 đồng/m2/năm, khu thứ hai thu 0,42 đồng/

m2/năm, khu thứ ba thu 0,24 đồng/m2/năm; nhà hạng ba, khu thứ nhất thu

Trang 30

0,24 đồng/m2/năm, khu thứ hai thu 0,21 đồng/m2/năm; hạng tư đất không làmnhà như vườn, ao thu 0,20 đồng/m2/năm Thuế thân quy định nam giới từ 18tuổi trở lên phải nộp tiền để lĩnh thẻ mỗi năm 2 đồng, tương đương với 40kgthóc [46;33].

Thuế đinh chia làm 3 loại: thẻ đỏ là hương lý, kì hào 2,1 đồng, thẻ vàng

là trung gian 2,2 đồng, thẻ xanh là cùng đinh từ 4,1 đồng đến 5,5 đồng 1 suấtNgày 13/9/1932 Thống sứ Bắc Kì ra nghị định từ năm 1933 thuế đinhtăng từ 10 – 25% Thuế điền, thuế thổ cư đều tăng 15%, thuế gia tộc tăng25% Vì thế thuế đinh 1 suất từ 2,5 đồng tăng lên 2,8 – 3 đồng Khi Nhật vàoĐông Dương tăng 1 suất thuế đinh thêm 0,4 đồng nữa [46;33] Nhân dânĐông Dương còn phải nộp các loại thuế đóng góp cho ngân sách ĐôngDương, xứ, tỉnh, huyện, tổng, xã Đó là chưa kể hào lí phụ thu, lạm bổ, khaikhống diện tích, người chết đầu năm cuối năm vẫn phải đóng thuế

Hàng năm cứ đến vụ thu thuế là tiếng trống thúc, tiếng la hét bắt ngườinộp thuế chậm, tiếng kêu xin khất thuế ầm ĩ cả xóm làng Nhiều người phảichạy vạy bán lúa non, vay nợ, thậm chí bán vợ, đợ con để lấy tiền nộp thuế.Những người không có tiền nộp thuế bị đánh đập ở sân đình, bị trói giải lênhuyện làm lao dịch, vợ con phải chạy vạy, cầm cố đồ đạc, nhà cửa để lấy tiềnnộp thuế, người bị bắt mới được tha

Nông dân bị chiếm đoạt ruộng đất, phải chịu tô cao, thuế nặng, bị các tệ tụctrói buộc, bị chính sách chia rẽ lương giáo, phân biệt kẻ giàu người nghèo, bị tróibuộc trong lễ giáo phong kiến thần quyền, mê tín dị đoan nên đời sống ngườidân vô cùng cực khổ điêu đứng Những năm khủng hoảng kinh tế và trong chiếntranh thế giới thứ 2 đời sống người dân càng khốn khổ hơn khi lũ lụt, mất mùa.Cường hào, địa chủ còn lợi dụng lúc nông dân đói kém cho vay nặng lãi, cầm cố

đồ đạc, nhà cửa thậm chí cả ruộng công được chia để làm ăn sinh sống

Sự bóc lột tàn khốc của phát xít Nhật, đế quốc Pháp, quan lại Nam triều,địa chủ, tư sản mại bản, các liên đoàn thóc gạo khiến cho giá cả càng tăng vọt

Trang 31

Năm 1939 giá 1 tạ gạo có 11 đồng, cuối năm 1944 đầu năm 1945 tăng lên 42đồng/1 tạ, ngô từ 3 đồng/tạ tăng lên 10 đồng/tạ Muối từ 3 đồng/tạ tăng lên 30đồng/tạ [46;34-35] Các hàng thực phẩm và nhu yếu phẩm khác cũng tăng vọt

đã đẩy nhân dân ta đến thảm cảnh đói rét, bệnh tật Từ năm 1942 đến trướccách mạng tháng Tám năm 1945 có khoảng 186 người bị Pháp bắt đi phu ởNam Kì, ở Lào Xã Tân Dân có trên 50 người đi phu đồn điền ở Nam Kì trong

đó chỉ có ông Huấn sống sót trở về Trong chiến tranh thế giới thứ nhất(1914–1918) Pháp còn bắt lính người Việt sang Pháp để đánh Đức trong đó

xã Ông Đình có 39 người, rất nhiều người bị chết ở bên Pháp Ông NguyễnTrọng Kí 10 năm sau mới được trở về Vào những năm 1925–1935 Pháp cònđưa hàng trăm người đi phu ở các đồn điền cao su Nam Kì, chỉ riêng làng ĐạiQuan đã có hàng chục người

Bọn thống trị Pháp và Nam triều không chú ý tới đời sống văn hóa, xãhội cho nhân dân Các hoạt động văn hóa do nhà nước bảo trợ hầu như không

có Về y tế đến sau năm 1930 cả huyện mới có một phòng phát thuốc, mộtnhà hộ sinh nhưng chỉ phục vụ quan chức và nhà giàu Tai họa còn giángxuống đầu người dân khi có các dịch đậu mùa, thương hàn, tiêu chảy, sốt rét

Về giáo dục huyện Khoái Châu chỉ có một trường Kiêm bị dạy bậc tiểu học

Ở một số xã lớn có trường làng do các hương sư dạy từ lớp đồng ấu cho đếnlớp 3 (tương đương với lớp 4 ngày nay) Trong khi đó các hủ tục ma chay,cưới xin, khao vọng, bán quan, mua tước đặt ra nặng nề, tốn kém Lệ làngcũng rất ngặt nghèo, bắt buộc mọi người phải tuân thủ Các thôn ở xã TânDân con gái lấy chồng phải nộp treo cho làng hai mâm đồng Sau đó chứcdịch bán đấu giá để lấy tiền chè chén Từ sau phong trào cải lương thì bánmâm để mua gạch xây đường làng Sau thành lệ, con gái đi lấy chồng nộptreo khao chức sắc Ở Đại Quan, Thuần Lễ nếu không khao thì cả đời bị bạchđinh Nhiều người phải bán ruộng để khao Trai lấy vợ phải nộp 3 đồng tiềntương đương 10 thùng thóc treo lễ cho nhà gái Con gái đi lấy chồng phải nộp

Trang 32

cho làng 2 – 3 đôi hoành phi, câu đối hoặc mâm, thau Nạn cờ bạc, rượu chè,hát cô đầu ở làng xã nào cũng có.

Sưu cao thuế nặng, bị áp bức đến cùng cực, “con người không bằng con trâu, con bò, bị đánh đập, tra tấn” [100] Nhưng với tinh thần yêu nước,

không chịu làm nô lệ, nhân dân Khoái Châu đã đoàn kết đi theo Đảng làmcách mạng để giải phóng khỏi ách đô hộ của thực dân và phong kiến, giảiphóng quê hương đất nước

1.2 Công cuộc cải lương hương chính của thực dân Pháp ở Việt Nam

1.2.1 Khái quát về quá trình xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp

Từ nửa sau thế kỉ XIX, các nước tư bản phương Tây phát triển mạnh mẽ,trở thành những nước đế quốc chủ nghĩa phát triển Do nhu cầu ngày càng lớn

về nhân công, nguyên liệu, thị trường các nước đế quốc ngày càng ráo riếtchạy đua mở rộng xâm lược các nước phương Đông Những vùng đất chưa bịthôn tính, trong đó có Việt Nam đều bị đe dọa nghiêm trọng

Âm mưu xâm lược Việt Nam của tư bản Pháp hình thành từ sớm, lâu dài

và liên tục, bắt nguồn từ những năm đầu thế kỉ XVII và ngày càng được xúctiến mạnh mẽ đặc biệt từ giữa thế kỉ XIX Đến năm 1858 thực dân Pháp tấncông Đà Nẵng mở đầu cho công cuộc xâm lược Việt Nam Từ Đà Nẵng làmbàn đạp tấn công vào nội địa tiêu diệt phong trào đấu tranh của nhân dân ta,buộc triều đình Huế phải đầu hàng, đặt ách cai trị lên đất nước ta Nhưng kế

hoạch “đánh nhanh thắng nhanh” của địch tại Đà Nẵng đã bị thất bại Sau đó

thực dân Pháp tấn công vào Gia Định (2-1859) mở đầu cho công cuộc xâmchiếm các tỉnh Nam Kì (1859 – 1867) Phong trào chống Pháp của nhân dânmiền Nam dấy lên từ miền Đông, sau đó lan rộng ra toàn miền, khiến cho kẻthù khiếp sợ Nhưng trong triều đình Huế, ý kiến được nhiều người tán thành

là chủ hòa Điều đó khẳng định một thực tế là ngay từ đầu đại bộ phận hàngngũ phong kiến cầm quyền đã mang nặng tư tưởng thất bại chủ nghĩa, đã có

tư tưởng sợ giặc Trong thời kì đầu, vì quyền lợi giai cấp bị trực tiếp đụng

Trang 33

chạm, nên họ có phản ứng lại Nhưng vì bất đắc dĩ phải chống cự lại quân thùnên sức chống cự rất hạn chế, để rồi đầu hàng từng bước trước kẻ thù, cuốicùng dâng toàn bộ lãnh thổ cho chúng [18;20]

Sau khi đánh chiếm các tỉnh Nam Kì, thực dân Pháp mở cuộc xâm lược

ra Bắc Kì Cuộc xâm lược Bắc Kì lần thứ nhất của Pháp diễn ra từ năm

1873-1874 Trong lúc quân ta đang giành thắng lợi ở trận Cầu Giấy làm cho kẻ thùkhiếp sợ, muốn bỏ thành chạy Bọn thực dân hiếu chiến ở Nam Kì cũng hốthoảng Còn quân dân ta ở các nơi thì vô cùng phấn khởi, sẵn sàng quét sạchquân địch Nhưng triều đình Huế lại hèn nhát, thỏa hiệp với giặc, bản điềuước được kí kết ngày 3/1874 tại Sài Gòn với những điều khoản rất có hại cho

ta Điều ước 1874 đánh dấu bước mới trong quá trình đầu hàng của triềuNguyễn, làm cho nhân dân cả nước hết sức phẫn nộ Với điều ước 1874, Pháp

đã chiếm được Nam Kì nhưng vẫn không đáp ứng đòi hỏi của chúng là phảichiếm được toàn bộ Việt Nam Thực hiện âm mưu đó, năm 1882, thực dânPháp mang quân ra đánh chiếm Bắc Kì Trong lúc triều đình Huế không cómột chủ trương kế hoạch rõ ràng thì quân và dân ta vô cùng phấn khởi xônglên tiêu diệt địch Thắng lợi trong trận Cầu Giấy lần thứ 2 làm cho bọn Pháphết sức hoang mang lo sợ Trog khi đó, triều đình Huế vẫn tiếp tục hãm mìnhtrong thế bị động thương thuyết, nuôi ảo tưởng sau trận này Pháp sẽ tiếp tụcđiều đình

Chớp thời cơ lúc triều đình nhà Nguyễn đang rối loạn, thực dân Phápquyết định đánh thẳng vào Huế buộc triều đình nhà Nguyễn đầu hàng Sángngay 18- 8 – 1883, hạm đội Pháp tiến vào cửa biển Thuận An cuộc chiếnđấu giữa quân ta với Pháp diễn ra quyết liệt Được tin Thuận An rơi vào tayPháp, triều đình Huế vội xin đình chiến Thực dân Pháp buộc triều đình Huế

kí bản điều ước đã được thảo sẵn theo các điều kiện của chúng ngày 25-

8-1883 Điều ước Hácmăng là sự phản bội tệ hại nhất của triều đình Huế đốivới nhân dân nên bị nhân dân chống đối quyết liệt Phong kiến nhà Nguyễn

Trang 34

đã đi sâu hơn một bước trên con đường đầu hàng Pháp Về căn bản, từ nayViệt Nam đã mất quyền tự chủ trên phạm vi toàn quốc, triều đình Huế đãchính thức thừa nhận sự bảo hộ của nước Pháp, mọi công việc chính trị, kinh

tế, ngoại giao của Việt Nam đều do Pháp nắm [18;55] Trên đà thắng thế,chính phủ Pháp cử Patơnốt đến Huế ép triều đình kí điều ước mới ngày 6-6-

1884 (Điều ước Patơnốt) Điều ước Patơnốt đã xác lập quyền đô hộ lâu dài

và chủ yếu của Pháp vào Việt Nam Đến đây Nhà nước phong kiến Nguyễn

đã đầu hàng hoàn toàn thực dân Pháp xâm lược Đất nước ta trở thành nướcthuộc địa nửa phong kiến

1.2.2 Qúa trình thiết lập bộ máy cai trị của thực dân Pháp ở Việt Nam

Sau khi hoàn thành quá trình xâm lược việt Nam, thực đân Pháp từngbước thiết lập bộ máy cai trị Năm 1897, thực dân pháp thành lập Liên bangĐông Dương tiến hành chia đặt các vùng lãnh thổ và thiết lập lại bộ máy cai trị.Chúng chia nước ta làm 3 kì với 3 chế độ chính trị khác nhau Đứng đầu Liênbang là một tên toàn quyền người Pháp Giúp việc cho Toàn quyền là một tênTổng thư kí và một thượng hội đồng Trong mỗi xứ ở Đông Dương có một bộmáy cai trị riêng và một ngân sách riêng Toàn quyền Đông Dương quản língân sách chung của 4 xứ gồm các khoản chi tiêu về quân sự, thuế bưu chính,thuế gián thu, thương chính và quan chức phủ Toàn quyền Ngân sách nướcPháp chỉ đài thọ một phần phí tổn về quân sự, còn thì lấy ở các khoản đóng gópcủa ngân sách hàng xứ [5;191] Dưới Toàn quyền là Thống đốc Nam Kì,Thống sứ Bắc kì và Khâm sứ ở Trung Kì Các tỉnh Nam Kì là Chủ tỉnh, Trung

Kì và Bắc Kì là Công sứ Ở Kì có Hội đồng Kì do người Pháp đứng đầu TriềuNguyễn trị vì Trung Kì chỉ là danh nghĩa, thực quyền nằm trong tay Khâm sứngười Pháp Khâm sứ đồng thời là Chủ tịch Hội đồng Trung Kì

Ở tỉnh có Hội đồng tỉnh cũng do người Pháp là Chủ tỉnh, Công sứ nắm giữ.Dưới tỉnh là phủ, huyện, châu Đứng đầu các cấp chính quyền này là triphủ, tri huyện, châu là tổng do chánh tổng, phó tổng cai quản Dưới tổng là xã,

Trang 35

thôn – đơn vị nhỏ nhất trong hệ thống chính quyền của thực dân Pháp ở ViệtNam Xã thôn do lí trưởng và hội đồng kì hào cai quản.

Từ cấp tỉnh trở lên, thực dân Pháp trực tiếp nắm mọi quyền hành Bọnquan lại người Việt chỉ là bù nhìn, tay sai cho Pháp Toàn quyền người Phápđứng đầu Đông Dương, điều hành mọi mặt chính trị, kinh tế, quân sự, dân sự,ngoại giao

Bên cạnh hệ thống chính quyền được thiết lập chặt chẽ, thực dân Pháp tổchức lực lượng vũ trang lớn mạnh Ngoài lực lượng lính Âu Phi là lực lượngquân người bản xứ dưới sự chỉ huy của các sĩ quan Pháp

Thực dân Pháp còn xây dựng hệ thống luật pháp hà khắc gồm cảnh sát,tòa án, nhà tù từ trung ương đến cấp huyện

Thực dân Pháp thực hiện triệt để ở Việt Nam chính sách “chia để trị” kết hợp thực hiện chính sách “hợp tác” với giai cấp địa chủ người bản xứ.

Ngoài việc chia nước ta làm ba xứ với chế độ chính trị, luật pháp riêng biệtchúng còn chia rẽ tôn giáo, dân tộc nhằm phá hoại khối đoàn kết chiến đấucủa dân tộc trong đấu tranh chống kẻ thù

Bộ máy cai trị của thực dân Pháp và phong kiến tay sai chủ yếu dựa vàosức mạnh quân sự, dùng vũ lực đàn áp cuộc đấu tranh đòi tự do, giành độc lập

của nhân dân ta Chính sách “hợp tác”, “Pháp – Việt đề huề” mà chúng ra sức

cơ sở trên toàn lãnh thổ Việt Nam

1.2.3 Mục đích và nội dung công cuộc cải lương hương chính của Pháp

Trong quá trình thiết lập bộ máy cai trị ở Việt Nam thực dân Pháp rất coi

Trang 36

trọng việc cai trị ở làng xã – “pháo đài bất khả xâm phạm” của người Việt

qua nhiều thế kỉ Để quản lí từ trung ương đến tận thôn, xã, một trong nhữngchính sách mà thực dân Pháp thực hiện ở nước ta là chính sách cải lươnghương chính Công cuộc cải lương hương chính của Pháp bắt đầu từ năm

1921 Đây là thời điểm quan trọng đánh dấu sự thay đổi lớn trong lịch sử pháttriển hương ước Việt Nam Bởi lẽ, trong năm này Thống sứ Bắc Kì đã banhành Nghị định số 1949 (8/1921) nhằm thay đổi Hội đồng kỳ mục bằng Hộiđồng tộc biểu, mở đầu cho quá trình can thiệp sâu hơn vào làng xã ngườiViệt Hương ước trong thời gian này được gọi là hương ước cải lương Vìchúng được thành lập theo các Nghị định, Quy định, Chỉ dụ về cải cách hànhchính cấp làng xã ở Bắc Kì của thực dân Pháp

Cải lương hương chính là một cuộc cải tổ nhằm tác động vào bộ máyquản trị làng xã một cách sâu sắc và rõ nét để thay bộ máy quản trị cũ bằngmột bộ máy mới có lợi cho thực dân Pháp Vậy, mục đích việc lập hương ước

và nội dung công cuộc cải lương hương chính của Pháp là gì?

1.2.3.1 Mục đích của việc lập hương ước

Công cuộc cải lương hương chính của Pháp được lập sớm nhất ở Bắc Kìvào năm 1904 Sau đó Pháp mở rộng ra cả Trung Kì và Bắc Kì Cần lưu ýrằng không phải ngay từ đầu khi đặt chân đến Việt Nam hay khi bắt đầu thiếtlập bộ máy cai trị ở nước ta chính quyền thực dân đã chủ trương can thiệpviệc quản lí làng xã Làng xã Việt Nam là một đơn vị tự quản, có tính tự trị rấtcao và tương đối độc lập với chính quyền trung ương Chính vì vậy, trong giaiđoạn đầu, thực dân Pháp có cái nhìn khác, chúng lợi dụng điều đó để cai trịnông thôn nước ta Đối với xã thôn lúc đầu chúng hoàn toàn không đụng đến

Vì chúng cho rằng “chế độ làng xã tự quản” nước ta “một chế độ phức tạp như thế, một tổ chức mà trong đó không bao giờ thấy một viên kỳ mục nào hành động đơn độc cả, một tổ chức đã tồn tại theo truyền thống từ thời rất xa xưa, tổ chức đó chúng ta không nên đụng chạm tới kẻo làm dân chúng bất

Trang 37

bình, xứ sở rối loạn” [32;40] Như vậy, trong xã, thôn, quan lại và cường hào

nắm quyền chi phối và lũng đoạn cuộc sống làng xã Duy trì chế độ cai trịlàng xã như cũ có lợi cho thực dân Pháp Ngay từ năm 1874, trong cuốn

“Giáo trình về tổ chức cai trị hành chính của người Việt Nam” tác giả Luy –

rô cũng đã nhận định về cái mà hắn gọi là chế độ “làng xã tự quản” ở nước ta như sau: “Công cụ cũ kĩ nhưng tốt, phù hợp với dân chúng Vậy thì có lợi ích

gì mà chúng ta lại thay đổi nó?” [30;198]

Đến đầu thế kỉ XX, vào năm 1905, sau 5 năm rưỡi giữ chức Toàn quyền

Đông Dương Pôn Đume đã xuất bản cuốn “Đông Dương thuộc Pháp” trong

đó có nhận định về tổ chức quản lí cấp xã như sau ở Việt Nam: “Theo tôi, duy trì trọn vẹn, thậm chí tăng cường cách tổ chức cũ kĩ mà chúng ta đã thấy đó

là một điều tốt Theo cách tổ chức này thì mỗi làng xã sẽ là một nước cộng hòa nhỏ, độc lập trong giới hạn những quyền lợi địa phương Đó là một tập thể được tổ chức rất chặt chẽ, rất có kỉ luật và rất có trách nhiệm đối với chính quyền cấp trên về những cá nhân thành viên của nó, những cá nhân mà chính quyền cấp trên có thể không cần biết tới, điều đó rất thuận lợi cho công việc của chính quyền” [30;198- 199], “Việc tổ chức làng xã của người An Nam, nếu như nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc duy trì trật tự và bảo đảm cho những hoạt động mang tính chất lợi ích xã hội mà chúng ta đã được làng

xã gánh đỡ, thì nó cũng có tác dụng làm giảm bớt khó khăn và giảm bớt tốn kém trong việc thu các loại thuế trực thu nữa Về điểm này cũng vậy, trước chúng ta sẽ là tập thể những người phải đóng thuế, chứ không phải là từng cá nhân những người đóng thuế Thay vì việc phải lập sổ thuế cho từng cá nhân, chúng ta chỉ cần ấn định mức thuế chung cho từng xã ” [30;199] “Làng xã

là một nước cộng hòa nhỏ phải cống nạp Chúng ta xác định mức cống nạp tùy theo sự giàu có tổng thể của từng xã, còn chính làng xã phải tìm cách thu cống phẩm ” [30;199] “Phương pháp này là thuận lợi đối với chúng ta và dường như đây là một phương pháp tốt, nó tạo cho tổ chức làng xã một sức

Trang 38

mạnh lớn, tránh được một sự tiếp xúc trực tiếp giữa chính quyền của người Pháp với dân chúng ” [30;199] Với những quan điểm như thế rõ ràng chính

quyền thực dân đã thấy những lợi ích to lớn về chính trị, kinh tế, xã hội mà tổchức làng xã cổ truyền Việt Nam đem lại Bọn thống trị thực dân đã bộc lộ rõ

ý đồ duy trì hình thức quản lí cấp xã và sử dụng bộ phận quản lí cấp xã đã bị

chế độ phong kiến bản địa làm biến chất, đã bị “cường hào hóa” để làm công

cụ thống trị và bóc lột của chúng ở cấp xã Đây là thủ đoạn thâm độc màchính quyền thực dân Pháp thực hiện ở làng xã Việt Nam trong suốt 30 nămđầu tiên đặt ách đô hộ lên đất nước ta

Tuy nhiên, những năm đầu thế kỉ XX tình hình thế giới và Việt Nam cónhiều thay đổi đã phần nào làm thay đổi quan niệm, cách thức cai trị của Pháp

ở Việt Nam, vấn đề quản lí làng xã như trước kia tỏ ra không còn phù hợp.Sau chiến tranh, để bù đắp thiệt hại, Pháp đẩy mạnh khai thác thuộc địa trênquy mô lớn Ở Việt Nam, Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai

Để tăng cường bóc lột thuộc địa với đa phần dân cư là nông dân, chính quyềnthực dân bắt đầu tấn công mạnh vào tính chất tự trị, khép kín của làng xã,chấm dứt tình trạng phó mặc cho người Việt quản lí làng xã trước kia [11;38].Tiếp theo phải nói đến là phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc bùng lênmạnh mẽ khắp cả nước, lan rộng vào làng xã Làng xã trở thành những pháođài khép kín, kiên cố chống Pháp xâm lược Điều này làm cho chính quyềnthực dân hết sức lo sợ, buộc Pháp phải tìm cách đối phó Hơn nữa, đến nhữngnăm sau chiến tranh thế giới thứ nhất, bộ máy quản lí làng xã quá lỏng lẻo,tùy tiện, kém hiệu quả không phục vụ đắc lực cho công cuộc thống trị củathực dân Pháp Những chính sách của nhà nước thực dân phong kiến đối vớilàng xã bị bê trễ Tình trạng ẩn lậu về dân đinh và điền thổ vẫn tiếp tục diễn radẫn đến sự thất thoát trong nguồn thu sưu thuế của chính quyền thực dân Chế

độ tự quản cũng sinh ra những rắc rối trong việc phân chia thứ bậc xã hội,

Trang 39

mâu thuẫn, chia rẽ, tranh giành ngôi thứ và tệ mua quan bán tước làm mất

hiệu lực của bộ máy chính quyền Thêm vào đó, làng đã lấy “lệ làng” để không thực hiện “phép nước” Chế độ tự quản đã bị quan lại lợi dụng biến

làng xã thành các tiểu vương quốc tự trị tha hồ sách nhiễu, bóc lột nhân dân.Một tình trạng khá nghiêm trọng nữa là sự thối nát của bộ máy quản trị làng

xã Dưới thời phong kiến, tình trạng này đã trở thành phổ biến, nay lại càngthậm tệ hơn Tình trạng đó khiến đời sống nhân dân vô cùng khổ cực, chịu

cảnh “một cổ hai tròng” của thực dân và phong kiến Sự thực xảy ra ở các xã

thôn như vậy cũng khiến chính một số quan lại, trí thức trung thành với Pháp

cũng phải thốt lên: “Nếu các quan cai trị hiểu tiếng An Nam, nghe được những người dân nói chuyện với nhau ban đêm trong các nhà tranh, chắc rằng chúng không khen chúng ta” [22;29] Như vậy, chính quyền thực dân đã

nhận thấy rõ sự bất ổn định ở các làng xã Việt Nam, không thể tiếp tục duy trìmột tổ chức làng xã người Việt như cũ Người Pháp buộc phải nghĩ tới việctrực tiếp can thiệp vào bộ máy chức dịch chốn hương thôn, từng bước phá vỡ

tính truyền thống của nó, để lập lại trật tự trong làng xã, làm cho làng xã “có trật tự và có minh bạch” trong việc quản lí các công việc chung và nhằm duy

trì quyền lợi, ách thống trị lâu dài của Pháp ở Việt Nam Thực dân Pháp chorằng: vì không có ai kiểm soát cho nên Hội đồng hương chức không còn thực

sự là một hội đồng quản trị nữa, chỉ là một bọn người quan trị các việc trong

xã mà không có chút chức quyền nào của quan trên cho, người dân không baogiờ được tham dự vào các công việc chung của thôn xã Những tiền thu lấycho công dân thì bổ một cách hà lạm và chi tiêu cũng không hợp phép, ngườidân không được bàn đến những việc công và những khoản tiền họ đóng góp.Bởi vậy, thực dân Pháp cho nhân đinh được cử đại biểu để dự việc hươngchính và kiểm soát Nhưng mục đích chính của việc thay đổi Hội đồng kì mụctrong công cuộc cải lương hương chính không phải muốn đem lại nền dân chủ

Trang 40

cho nhân dân ta, thực chất vì hội đồng này làm việc không có sự chỉ đạo,giám sát trực tiếp của chính quyền thực dân [30;206] Thực dân Pháp muốn

hất cẳng bộ máy cũ với những thành phần “cứng đầu cứng cổ”, có thế lực đang nắm quyền chi phối trong các làng xã thay thế vào “đó là công khai đưa giai cấp địa chủ phong kiến đã được “tân học hóa” lên cương vị thống trị độc tôn ở khắp miền nông thôn nước ta để thay thế cho tầng lớp nho sĩ địa chủ hóa trước kia” [30;206], đặt bộ máy đó vào hệ thống chính quyền

thống nhất từ trung ương đến địa phương, can thiệp sâu vào đời sống làng

xã, kiểm soát, xóa bỏ những quy định cổ truyền, đặt làng xã theo nhữngquy định của nhà nước bảo hộ, dễ bề cai trị nhân dân ta

Như vậy, thực dân Pháp nhận thấy vai trò hết sức quan trọng có tínhcách truyền thống của tổ chức làng xã trong đời sống xã hội Việt Nam,thực dân Pháp từng bước tìm cách thâm nhập và thay đổi bộ máy, cáchthức quản lí làng xã theo chiều hướng biến nó thành công cụ thống trị phục

vụ cho những lợi ích thực dân

1.2.3.2 Nội dung công cuộc cải lương hương chính của Pháp.

Cuộc cải lương hương chính của Pháp được triển khai trên cả nước.Nam Kì là nơi tiến hành đợt đầu tiên và cũng là nơi diễn ra lần cải lươnghương chính cuối cùng trước cách mạng tháng Tám Trong 40 năm (1904 –1944), 7 đợt cải lương hương chính đã được thực hiện ở 3 kì Mục đích củacuộc cải lương hương chính là tăng cường sự kiểm soát của chính quyềnthực dân từ trung ương đến cấp cơ sở, biến bộ máy chức dịch làng xã thànhcông cụ tay sai đắc lực cho chính sách cai trị của thực dân Mục đích đócủa Pháp được thể hiện rõ qua công cuộc cải lương hương chính ở 3 kì nóichung và ở Bắc Kì nói riêng Việc can thiệp vào tổ chức quản lí cấp xã củachính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam được thực hiện thông qua một số

văn bản lập quy chính mang tên “Việc tổ chức lại bộ máy hành chính xã”

Ngày đăng: 19/09/2015, 09:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Nguyễn Thế Anh (1970), Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ, NXB Lửa Thiêng, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ
Tác giả: Nguyễn Thế Anh
Nhà XB: NXB Lửa Thiêng
Năm: 1970
2. Toan Ánh ( 1999), Làng xóm Việt Nam, NXB Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng xóm Việt Nam
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
3. Phan Kế Bính (1990), Việt Nam phong tục, NXB Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1990
4. Cao Văn Biền (1994), Mấy nét về tình hình các làng xã tỉnh Bắc Ninh thời kỳ 1921 – 1945 qua hương ước, Tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy nét về tình hình các làng xã tỉnh Bắc Ninh thời kỳ 1921 – 1945 qua hương ước
Tác giả: Cao Văn Biền
Năm: 1994
5. Nguyễn Ngọc Cơ (2010), Giáo trình Lịch sử Việt Nam (Tập IV) từ 1858 đến 1918, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lịch sử Việt Nam (Tập IV) từ 1858 đến 1918
Tác giả: Nguyễn Ngọc Cơ
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2010
6. Phan Đại Doãn (2001), Làng xã Việt Nam – một số vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng xã Việt Nam – một số vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
7. Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc (1994), Kinh nghiệm tổ chức quản lí nông thôn Việt Nam trong lịch sử, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm tổ chức quản lí nông thôn Việt Nam trong lịch sử
Tác giả: Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1994
8. Phan Đại Doãn (2006), Làng Việt Nam đa nguyên và chặt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng Việt Nam đa nguyên và chặt
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
9. Bùi Xuân Đính (1996), Về một số hương ước làng Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ, Luận án PTS Khoa học Lịch sử, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một số hương ước làng Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ
Tác giả: Bùi Xuân Đính
Năm: 1996
10. Bùi Xuân Đính (1998), Hương ước và quản lí làng xã, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hương ước và quản lí làng xã
Tác giả: Bùi Xuân Đính
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1998
12. Dương Hà Hiếu (2003), Vấn đề quản lí làng xã huyện Thanh Sơn trước năm 1945 (qua hương ước), Tạo chí Nghiên cứu lịch sử, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề quản lí làng xã huyện Thanh Sơn trước năm 1945 (qua hương ước)
Tác giả: Dương Hà Hiếu
Năm: 2003
13. Nguyễn Thu Hồng (2003), Bước đầu tìm hiểu cải lương hương chính ở Bắc Kỳ, Khóa luận tốt nghiệp, Khoa Lịch sử, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu cải lương hương chính ở Bắc Kỳ
Tác giả: Nguyễn Thu Hồng
Năm: 2003
15. Vũ Thị Minh Hương (1999), Địa danh và tài liệu lưu trữ về làng xã Bắc Kỳ, Viện viễn đông bác cổ, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa danh và tài liệu lưu trữ về làng xã Bắc Kỳ
Tác giả: Vũ Thị Minh Hương
Năm: 1999
16. Nguyễn Thị Hương (2009), Hương ước cải lương huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang (1923 – 1942), Luận văn Ths Khoa học Lịch sử, Trường Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hương ước cải lương huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang (1923 – 1942)
Tác giả: Nguyễn Thị Hương
Năm: 2009
17. Nguyễn Phúc Lai (2001), Hưng Yên 170 năm, Sở VHTT Hưng Yên, Hưng Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hưng Yên 170 năm
Tác giả: Nguyễn Phúc Lai
Năm: 2001
18. Đinh Xuân Lâm (2006), Đại cương lịch sử Việt Nam (Tập 2), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử Việt Nam
Tác giả: Đinh Xuân Lâm
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
19. Ngô Vi Liễn (1999), Tên làng xã và địa dư các tỉnh Bắc Kỳ , NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tên làng xã và địa dư các tỉnh Bắc Kỳ
Tác giả: Ngô Vi Liễn
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 1999
20. Ngô Vi Liễn (19??), Danh mục thôn xã Bắc Kỳ, Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh mục thôn xã Bắc Kỳ
21. Lê Thị Luyến (2008), Hương ước cải lương huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc (1922 – 1942), Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hương ước cải lương huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc (1922 – 1942)
Tác giả: Lê Thị Luyến
Năm: 2008
22. Trần Trọng Mạch (1982), Một vài nhận xét về chủ trương cải lương hương chính ở Bắc Kì 1921 của thực dân Pháp, Tạp chí Dân tộc học, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài nhận xét về chủ trương cải lương hương chính ở Bắc Kì 1921 của thực dân Pháp
Tác giả: Trần Trọng Mạch
Năm: 1982

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2: Bảng kê dân số phủ Khoái Châu ( 1934) [43;61] - Vấn đề quản lí làng xã huyện khoái châu, hưng yên qua hương ước cải lương thời pháp thuộc
Bảng 1.2 Bảng kê dân số phủ Khoái Châu ( 1934) [43;61] (Trang 27)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w