Trong điều kiện nguồn tài nguyên đất đai để sản xuất nông nghiệp có hạn, mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác theo hướng sản xuất hàng hóa trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-
HOÀNG THỊ HÒA
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG
SỬ DỤNG ĐẤT THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA
TẠI HUYỆN YÊN MỸ, TỈNH HƯNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
HÀ NỘI - 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-
HOÀNG THỊ HÒA
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG
SỬ DỤNG ĐẤT THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA
TẠI HUYỆN YÊN MỸ, TỈNH HƯNG YÊN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất
cứ công trình nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Hòa
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình, sự đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể
Trước hết, tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Nguyễn Ích Tân đã tận tình
hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự góp ý chân thành của các Thầy, Cô giáo Khoa Quản lý đất đai, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện và hoàn thành đề tài
Tôi xin trân trọng cám ơn Uỷ ban nhân dân huyện Yên Mỹ, tập thể phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Thống kê, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cấp uỷ, chính quyền và bà con nhân dân các xã trên địa bàn huyện đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài trên địa bàn
Tôi xin cám ơn đến gia đình, người thân và bạn bè đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Hòa
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN ··· i
LỜI CẢM ƠN ··· ii
MỤC LỤC ··· iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ··· vi
DANH MỤC BẢNG ··· vii
DANH ĐỒ THỊ, HÌNH ··· ix
MỞ ĐẦU ··· 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài ··· 1
1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài ··· 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ··· 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU ··· 3
1.1 Một số lý luận cơ bản về sử dụng đất nông nghiệp ··· 3
1.1.1 Đất nông nghiệp ··· 3
1.1.2 Sử dụng đất nông nghiệp bền vững ··· 4
1.2 Cơ sở thực tiễn về sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ··· 6
1.2.1 Hàng hóa và sản xuất hàng hóa ··· 6
1.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp hàng hoá ··· 12
1.3 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ··· 15
1.3.1 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế: ··· 16
1.3.2 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội ··· 17
1.3.3 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường··· 17
1.4 Nghiên cứu về sử dụng đất nông nghiệp theo hướng hàng hóa trên thế giới và Việt Nam ··· 18
Trang 61.4.1 Nghiên cứu về sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng
hoá trên thế giới ··· 18
1.4.2 Nghiên cứu về sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá ở Việt Nam ··· 19
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHUƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ··· 25
2.1 Đối tuợng, địa điểm nghiên cứu ··· 25
2.2 Nội dung nghiên cứu ··· 25
2.2.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội liên quan đến sử dụng đất và sản xuất nông nghiệp huyện Yên Mỹ ··· 25
2.2.2 Xác định các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu trên địa bàn huyện Yên Mỹ ··· 25
2.2.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ··· 25
2.2.4 Định hướng và đề xuất các giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng hàng hóa đến năm 2020 ··· 26
2.3 Phuơng pháp nghiên cứu ··· 26
2.3.1 Phương pháp chọn điểm ··· 26
2.3.2 Phuơng pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp ··· 26
2.3.3 Phuơng pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp ··· 27
2.3.4 Phương pháp điều tra thực địa ··· 27
2.3.5 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu ··· 27
2.3.6 Phương pháp tính hiệu quả ··· 27
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ··· 29
3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội liên quan đến sử dụng đất và sản xuất nông nghiệp huyện Yên Mỹ ··· 29
3.1.1 Điều kiện tự nhiên ··· 29
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội ··· 33
3.1.3 Đánh giá chung ··· 41
Trang 73.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Yên Mỹ ··· 42
3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất ··· 42
3.2.2 Cơ cấu sử dụng đất năm 2014 ··· 42
3.2.3 Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Yên Mỹ ··· 43
3.2.4 Tình hình biến động đất nông nghiệp ··· 44
3.3 Hiện trạng cây trồng và các loại hình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Mỹ ··· 45
3.3.1 Tình hình sản xuất một số cây trồng chính của huyện ··· 45
3.3.2 Tình hình tiêu thụ nông sản ··· 48
3.3.3 Thực trạng các loại hình sử dụng đất của huyện Yên Mỹ ··· 50
3.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp··· 54
3.4.1 Hiệu quả kinh tế ··· 54
3.4.2 Hiệu quả xã hội ··· 65
3.4.3 Hiệu quả về môi trường ··· 68
3.4.4 Nhận xét chung ··· 72
3.5 Đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp theo hướng hàng hóa huyện Yên Mỹ đến năm 2020 ··· 73
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ··· 80
1 Kết luận ··· 80
2 Kiến nghị ··· 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO ··· 83
PHỤ LỤC ··· 86
Trang 8IRRI : The International Rice Research Instiute (Viện
nghiên cứu lúa quốc tế KHKT : Khoa học kỹ thuật
LUT : Loại hình sử dụng đất
STT : Số thứ tự
TNHH : Thu nhập hỗn hợp
USD : United States dollar (Đô la Mỹ)
FAO : Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực thế giới
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Stt Tên bảng Trang
Bảng 3.1 Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện thời kỳ
2010 - 2014 ··· 34
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động của huyện qua 3 năm 2012-2014 ··· 40
Bảng 3.3 Cơ cấu sử dụng đất huyện Yên Mỹ năm 2014 ··· 43
Bảng 3.4 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Yên Mỹ năm 2014 ··· 43
Bảng 3.5 Tình hình biến động diện tích đất nông nghiệp giai đoạn 2010-2014 của huyện Yên Mỹ ··· 45
Bảng 3.6 Tình hình sản xuất một số loại cây trồng chính trên địa bàn huyện Yên Mỹ qua các năm 2010-2014 ··· 46
Bảng 3.7 Tỷ lệ hàng hóa và phương thức tiêu thụ các nông sản chính huyện Yên Mỹ ··· 49
Bảng 3.8 Thực trạng các loại hình sử dụng đất trên địa bàn huyện Yên Mỹ năm 2014 ··· 51
Bảng 3.9 Tình hình sản xuất một số cây trồng hàng hóa của huyện Yên Mỹ năm 2014 ··· 53
Bảng 3.10 Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất nông nghiệp ··· 54
Bảng 3.11 Hiệu quả kinh tế của một số cây trồng tiểu vùng 1 tính trên 1ha/vụ năm 2014 ··· 55
Bảng 3.12 Hiệu quả kinh tế của một số cây trồng tiểu vùng 2 tính trên 1ha/vụ năm 2014 ··· 57
Bảng 3.13 Hiệu quả kinh tế của một số cây trồng tiểu vùng 3 tính trên 1ha/vụ năm 2014 ··· 58
Bảng 3.14 Hiệu quả các kiểu sử dụng đất vùng 1 ··· 60
Bảng 3.15 Hiệu quả các kiểu sử dụng đất vùng 2 ··· 62
Bảng 3.16 Hiệu quả các kiểu sử dụng đất vùng 3 ··· 63
Trang 10Bảng 3.17 Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội các loại hình sử
dụng đất nông nghiệp ··· 66 Bảng 3.18 Hiệu quả xã hội các loại hình sử dụng đất nông nghiệp huyện
Yên Mỹ ··· 66 Bảng 3.19 So sánh mức đầu tư phân bón với tiêu chuẩn cân đối và hợp lý · 70 Bảng 3.20 Mức độ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên một số loại cây trồng · 71 Bảng 3.21 Đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất ··· 72 Bảng 3.22 Quy hoạch sử dụng đất huyện Yên Mỹ đến năm 2020 ··· 75 Bảng 3.23 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện Yên Mỹ đến năm 2020 · 76
Trang 11DANH ĐỒ THỊ, HÌNH
Stt Tên hình Trang Hình 3.1 Sơ đồ vị trí địa lý huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên ··· 29 Hình 3.2 Cơ cấu kinh tế huyện Yên Mỹ năm 2014 ··· 34 Hình 3.3 Hiện trạng sử dụng đất năm 2014 của huyện Yên Mỹ ··· 42
Trang 12MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp là hoạt động sản xuất cổ nhất và cơ bản nhất của loài người (Đường Hồng Dật, 1994) Hiện tại cũng như tương lại, nông nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội loài người, không ngành nào có thể thay thế được Trên 40% số lao động trên thế giới đang tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp Đảm bảo an ninh lương thực là mục tiêu phấn đấu của mỗi quốc gia góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế xã hội
Ở nước ta, một nước đang thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong khi phần đông dân số sống nhờ vào nông nghiệp, thì đất đai càng trở thành nguồn lực quan trọng Sản xuất nông nghiệp không những cung cấp lương thực thực phẩm mà còn sản xuất ra những mặt hàng có giá trị xuất khẩu, tăng thêm nguồn thu ngoại tệ Tuy nhiên vấn đề đặt ra cho nông nghiệp Việt Nam hiện nay là tình trạng khan hiếm các nguồn tài nguyên đất, nước, sinh vật, tài chính, vật tư… Diện tích đất cho sản xuất nông nghiệp bị hạn chế và manh mún không tập trung thành vùng chuyên canh lớn khó tạo ra được giá trị cao, trong khi đó dân số đông, nhu cầu xã hội về nông sản là vô hạn Một trong những cách giải quyết hữu hiệu đang được xác định đối với cả nước hiện nay đó là phải mở rộng sản xuất hàng hóa để tạo ra giá trị kinh tế và từng bước nâng cao cải thiện đời sống nông hộ mới có thể tạo đà cho phát triển nông nghiệp bền vững
Yên Mỹ là một huyện nằm ở trung điểm phía Bắc của tỉnh Hưng Yên, với tổng diện tích đất tự nhiên là 9.250,14ha, trong đó đất nông nghiệp là 5.767,19 ha
(chiếm 62,35% diện tích tự nhiên của huyện) Với diện tích đất canh tác trên đầu
người thuộc loại thấp, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ dẫn đến diện tích đất nông nghiệp giảm nhiều ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của người dân Với điều kiện tự nhiên, đất đai màu mỡ của huyện cho phép phát triển nông nghiệp với nhiều loại cây trồng, vậy làm thế nào để tận dụng những thế mạnh của nông
nghiệp đang là một câu hỏi đặt ra Việc tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá
hiện trạng và định huớng sử dụng đất theo huớng sản xuất hàng hoá tại huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên” là cần thiết
Trang 131.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
- Đề xuất các giải pháp sản xuất nông nghiệp hàng hoá phù hợp với điều kiện thực tiễn của vùng nghiên cứu
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số lý luận cơ bản về sử dụng đất nông nghiệp
1.1.1 Đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp là đất được dùng cho các mục đích sản xuất ngư nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản hoặc
nông-lâm-sử dụng cho nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp
Ở nước ta, tổng diện tích đất tự nhiên được chia thành 3 nhóm: Nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp, nhóm đất chưa sử dụng Nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất: Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa, đất đồng
cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác; Đất trồng cây lâu năm; Đất rừng phòng hộ; Đất rừng đặc dụng; Đất nuôi trồng thủy sản; Đất làm muối; Đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ (Luật Đất đai 2013)
Đất đai có vai trò vô cùng quan trọng, nó tham gia vào hoạt động tất cả các ngành của xã hội, tuy nhiên đối với ngành sản xuất nông nghiệp thì đất đai có
vị trí đặc biệt quan trọng, là tư liệu sản xuất chủ yếu và không thể thay thế được Đất đai vừa là tư liệu lao động, vừa là đối tượng lao động Là tư liệu lao động vì đất đai chịu sự tác động trực tiếp của con người trong quá trình sản xuất như: cày bữa, cuốc, xới Là tư liệu lao động vì có đất đai con người mới thực hiện được quá trình sản xuất nông nghiệp, không có đất thì không có sản xuất nông nghiệp Năng suất diện tích cây trồng phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng của đất đai Diện tích, chất lượng đất tạo thành lợi thế so sánh của mỗi vùng, mỗi địa phương Việc sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả sẽ góp phần làm tăng thu nhập, ổn định kinh tế và chính trị
Lịch sử thế giới đã chứng minh bất kỳ nước nào dù là nước phát triển hay đang phát triển thì sản xuất nông nghiệp đều có vị trí quan trọng trong nền kinh
tế quốc dân, tạo ra sự ổn định xã hội và đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Đối với các nước đang phát triển, sản phẩm nông nghiệp còn là nguồn tạo ra thu nhập ngoại tệ Ở nước ta 70% dân số làm trong ngành nông nghiệp cho nên vấn
đề phát triển nông nghiệp được coi là mặt trận hàng đầu tạo cơ sở vững chắc cho
Trang 15sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Lê Phong Du, 2007)
Theo P Buringh, toàn bộ đất có khả năng canh tác nông nghiệp của thế giới 3,3 tỉ hecta (chiếm 22% tổng số đất liền) còn 11,7 tỉ hecta (chiếm 78% tổng số đất liền) không dùng cho sản xuất nông nghiệp được Ðất trồng trọt trên thế giới chỉ có 1,5 tỉ hecta (chiếm 10,8% tổng số đất đai, bằng 46% đất có khả năng nông nghiệp) còn 1,8 tỉ hecta (54%) đất có khả năng nông nghiệp chưa được khai thác
Mặt khác theo FAO, một phần tư diện tích đất đai trên toàn thế giới đã bị thoái hóa nặng nề cùng với đó là sự biến đổi về khí hậu cùng với các kỹ năng canh tác lạc hậu đã góp phần làm giảm sản lượng của diện tích đất canh tác trên toàn thế giới trong khi đó dân số thế giới không ngừng tăng (ước tính đến năm
2050 dân số thế giới khoảng 9 tỷ người), tạo sức ép lớn về nhu cầu lương thực, thực phẩm (Quang Minh, 2011) Vì vậy vấn đề sử dụng đất nông nghiệp đang rất được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu
Ngày nay, sự phát triển của kinh tế - xã hội, sự gia tăng dân số công với quá trình đô thị hóa mạnh mẽ đã tạo rất nhiều áp lực lên việc sử dụng đất, làm cho quỹ đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp Trong điều kiện nguồn tài nguyên đất đai để sản xuất nông nghiệp có hạn, mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác theo hướng sản xuất hàng hóa trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh của vùng là hết sức cần thiết (Nguyễn Thị Phương Anh, 2012)
Hiện nay nhiều vùng đất màu mỡ ở nước ta bị thoái hóa nghiêm trọng, hiện tượng xói mòn rửa trôi… thêm vào đó là các hoạt động cải tạo đất chưa được quan tâm đúng mức và hậu quả là làm cho đất đai và các yếu tố tự nhiên khác bị thay đổi theo chiều hướng ngày càng xấu đi Vì vậy để đảm bảo cho cuộc sống của con người hiện tại cũng như tương lai cần phải sử dụng đất đầy đủ và hợp lý, sử dụng hết và mọi diện tích nông nghiệp đều được bố trí, sử dụng phù hợp với đặc điểm của từng loại đất để vừa nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi vừa duy trì được độ phì nhiêu của đất
1.1.2 Sử dụng đất nông nghiệp bền vững
Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hóa mối quan hệ người – đất trong tổ hợp với nguồn tài nguyên thiên nhiên khác với môi trường
Trang 16Quy luật phát triển kinh tế-xã hội cùng với yêu cầu bền vững về mặt môi trường cũng như hệ sinh thái quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng đất hợp lý, phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới lợi ích sinh thái, kinh tế,
xã hội cao nhất (Bùi Nữ Hoàng Anh, 2013)
Tại Hội thảo “Sử dụng đất bền vững và hiệu quả” được tổ chức bởi Liên
hiệp các Hội Khoa học - Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Đất Việt Nam “Sử dụng đất bền vững là giảm suy thoái đất và nước đến mức tối thiểu, giảm chi phí sản xuất bằng cách sử dụng thông các nguồn tài nguyên bên trong và áp dụng hệ thống quản lý phù hợp Sử dụng đất bền vững trong nông nghiệp liên quan trực tiếp đến hệ thống canh tác cụ thể nhằm duy trì và nâng cao thu nhập, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và thức đẩy phát triển nông thôn”
Hiện nay sử dụng đất bền vững trở thành chiến lược quan trọng, có tính toàn cầu Trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học, các tổ chức nghiên cứu vấn đề
sử dụng đất bền vững, mục tiêu chung trong việc sử dụng đất bền vững cần đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Duy trì, nâng cao sản lượng (hiệu quả sản xuất)
- Giảm rủi ro sản xuất (an toàn)
- Bảo vệ tiềm năng các nguồn lợi tự nhiên và ngăn chặn sự thái hóa chất lượng đất, nước (bảo vệ)
- Có hiệu quả lâu dài (tính lâu bền)
- Có thể chấp nhận được về mặt xã hội (tính chấp nhận)
Có thể thấy rằng việc sử dụng đất không chỉ đơn giản bảo vệ được môi trường tự nhiên mà còn phải đáp ứng được các mục tiêu về kinh tế và xã hội Điều này đòi hỏi các nhà quản lý phải hướng tới mục tiêu đạt được hiệu quả kinh
tế tối đa, giảm thiểu chi phí đầu vào và vừa không làm tổn hại đến môi trường, duy trì, bảo vệ được tài nguyên cho thế hệ mai sau
Theo Đào Thế Tuấn (2007): Nông nghiệp bền vững có sức sống về mặt kinh tế, môi trường và công bằng về xã hội, nghĩa là phải đáp ứng nhu cầu về thức ăn, nước uống sạch cho con người, tạo ra việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống nhưng không làm tổn hại đến nguồn lợi tự nhiên và cho các thế hệ
Trang 17tương lai Nông nghiệp bền vững không chỉ tiếp thu những tri thức, kỹ thuật của nền nông nghiệp khác mà còn phải kế thừa kinh nghiệm của nền nông nghiệp truyền thống Nông nghệp Việt Nam nên phát triển theo hướng bền vững hơn là nông nghiệp sinh thái
Tại Việt Nam việc sử dụng đất bền vững thể hiện trong 3 yêu cầu (Bùi Nữ Hoàng Anh, 2013):
- Bền vững về mặt kinh tế: Cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao và được thị
trường chấp nhận Hệ thống sử dụng đất phải cho năng suất sinh học cao trên mức bình quân vùng Sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ tại địa phương, trong nước, xuất khẩu tùy mục tiêu của từng vùng
- Bền vững về mặt xã hội: thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống
người dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển Sản phẩm phải đảm bảo cái ăn, cái mặc và nhu cầu sống hàng ngày của người nông dân
- Bền vững về mặt môi trường: Loại hình sử dụng đất bảo vệ được độ màu
mỡ của đất, ngăn chặn sự xói mòn, thoái hóa đất và bảo vệ môi trường sinh thái
Các yêu cầu bền vững trên là điều kiện để xem xét, đánh giá và lựa chọn các loại hình sử dụng đất phù hợp với điều kiện của mỗi địa phương
1.2 Cơ sở thực tiễn về sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa
1.2.1 Hàng hóa và sản xuất hàng hóa
Trong kinh tế chính trị Mac-Lênin, hàng hóa được định nghĩa là sản phẩm của lao động thông qua trao đổi mua bán
Sản xuất hàng hoá là quá trình sản xuất ra sản phẩm để trao đổi, để bán, không phải để tự tiêu dùng bởi chính người sản xuất ra sản phẩm đó
Trong sản xuất hàng hóa, ngay từ khi tiến hành sản xuất, mục đích sản xuất ra sản phẩm để bán đã được khẳng định; sản phẩm trở thành hàng hóa đã được xác định từ trước khi quá trình sản xuất diễn ra, nó là quá trình tất nhiên, không phải là sự ngẫu nhiên (Nguyễn Thế Nhã, Vũ Đình Thắng, 2004)
Sự ra đời và phát triển của sản xuất hàng hóa dựa trên cơ sở phát triển các phương thức sản xuất và sự phân công lao động xã hội
Trang 18Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa cần có 2 điều kiện cơ bản là: có sự phân công lao động xã hội, và có nhiều người chủ sở hữu khác nhau
về tư liệu sản xuất và sản phẩm làm ra (sự tách biệt về kinh tế)
Do sự phân công lao động xã hội nên việc trao đổi sản phẩm trở thành tất yếu Khi có sự phân công lao động xã hội mỗi người chỉ sản xuất một hoặc một vài thứ sản phẩm nhất định nhưng nhu cầu của cuộc sống đòi hỏi họ phải có nhiều loại sản phẩm khác nhau do đó họ cần đến sản phẩm của nhau, buộc phải trao đổi với nhau Phân công lao động xã hội, chuyên môn hóa sản xuất đồng thời làm cho năng suất lao động tăng lên, sản phẩm thặng dư ngày càng nhiều nên càng lúc càng thúc đẩy sự trao đổi sản phẩm Sự phân công lao động càng cao, càng sâu sắc, trình độ chuyên môn hóa cao thì sản xuất hàng hóa càng phát triển, đời sống của người dân ngày được nâng lên
Do sự tách biệt tương đối về mọi mặt kinh tế giữa những người sản xuất tức
là những người sản xuất trở thành những chủ thể có sự độc lập nhất định với nhau
Do đó sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu của các chủ thể kinh tế, người này muốn tiêu dùng sản phẩm lao động của người khác cần phải thông qua trao đổi, mua bán hàng hóa Trong lịch sử, sự tách biệt này do chế độ tư hữu về tư hữu tư liệu sản xuất quy định Trong chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất thì tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của mỗi cá nhân và kết quả là sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu của họ
Hai điều kiện trên cho thấy, phân công lao động xã hội làm cho những người sản xuất phụ thuộc lẫn nhau còn sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa người sản xuất lại chia rẽ họ làm cho họ độc lập với nhau Đây là một mâu thuẫn, mâu thuẫn này được giải quyết thông qua trao đổi, mua bán sản phẩm của nhau Đó là hai điều kiện cần và đủ của sản xuất hàng hóa Cả hai điều kiện không thiếu một điều kiện nào, nếu thiếu một trong hai điều kiện đó sẽ không có sản xuất hàng hóa
Như vậy sản xuất nông nghiệp hàng hóa là sản xuất ra các sản phẩm nông nghiệp (nông sản) để bán nhằm đáp ứng các nhu cầu của thị trường
Nền kinh tế thị trường đã tạo ra mối quan hệ cung cầu trong các ngành kinh tế, đối với nông nghiệp thì nguồn cung là các loại nông sản như lúa ngô,
Trang 19khoai, sắn, rau còn cầu của sản xuất nông nghiệp là các yếu tố đầu vào như giống cây trồng, phân bón thuốc bảo vệ thực vật Đối với các hộ nông dân sống dựa vào nông nghiệp và lấy nguồn thu từ nông nghiệp thì việc đầu tư thâm canh, tăng vụ, thay đổi giống cây trồng, là thiết yếu để tồn tại và phát triển Hiện nay, nếu hộ nông dân không chuyên môn hóa cao trong việc sản xuất kinh doanh, không thay đổi giống và thâm canh tăng vụ thì kết quả sản xuất cũng chỉ để thỏa mãn nhu cầu của mình mà không có sản phẩm mang ra bán ở thị trường, hoặc sản phẩm không đáp ứng được nhu cầu của thị trường và sẽ không có tích lũy để đề phòng rủi ro Trong sản xuất hàng hóa rủi ro về thị trường luôn là mối lo ngại nhất của người sản xuất
Theo Nguyễn Duy Bột (2001), thị trường và hoạt động tiêu thụ nông sản phẩm ở nước ta nổi lên một số vấn đề sau:
- Hầu hết các sản phẩm nông nghiệp thường bị tồn đọng, nhất là vào vụ thu hoạch
- Trong tất cả các kênh phân phối liên quan đến sản xuất nông nghiệp đều
có sự tham gia rất phổ biến của tư thương Phân phối qua nhiều khâu trung gian
đã làm chậm quá trình lưu thông sản phẩm, thậm chí gây ách tắc dẫn đến tồn đọng giả tạo
- Hệ thống kinh doanh thương mại Nhà nước đang lâm vào thế lúng túng Thị trường đầu ra không ổn định gây khó khăn thường xuyên cho nông nghiệp trong việc bao mua sản phẩm và bao cung tư liệu sản xuất
- Đối với nông dân, trong sản xuất nông nghiệp vẫn phổ biến là ”bán cái mình có chứ chưa phải bán cái thị trường cần”, hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu sử dụng cái sẵn có chứ chưa chủ động khai thác các yếu tố của nền kinh
tế thị trường
Như vậy xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa và tìm kiếm thị trường và những giải pháp sản xuất, đầu tư hợp lý để sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa có hiệu quả cao, ổn định là rất cần thiết
Theo Nguyễn Ích Tân, Nguyễn Tài Kiên (2010): Định hướng phát triển nông nghiệp nông thôn toàn diện phải coi trọng đảm bảo an ninh lương thực và
Trang 20tăng nhanh nông sản hàng hóa phục vụ tiêu dùng và xuát khẩu Chú trọng công tác giống, thủy lợi, đưa tiến bộ kỹ thuật đến người dân nhằm nâng cao năng suất, sản lượng và chất lượng nông sản; Phát triển nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa cây trồng, trên cơ sở chuyển đổi cơ cấu thời vụ, luân canh cây trồng hợp lý, phá thế độc canh chuyển dần sang thâm canh, tăng vụ phù hợp với hệ sinh thái, nhu cầu thị trường nhằm tăng năng suất, thu nhập trên một đơn vị diện tích
Thực tế cho thấy đối với các nước đang phát triển và kém phát triển thì sản xuất nông nghiệp càng đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp, đất đai manh mún, trong khi diện tích đất nông nghiệp hàng năm luôn có xu hướng giảm do chuyển sang đất phi nông nghiệp Điều này đã đặt ra thách thức cho chúng ta tìm ra giải pháp phát triển nền nông nghiệp hiệu quả, bền vững và hướng đi đúng đắn đối với phát triển nông nghiệp nước ta là chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ, tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa
Ở nước ta, kim ngạch xuất khẩu nông sản đã chiếm tới 40 - 50% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước các sản phẩm nông sản điển hình như cao su, cà phê, hồ tiêu, chè, lúa, Tuy nhiên, năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa Việt Nam còn thấp so với các nước trong khu vực và các nước trên thế giới Điều đó làm cho các sản phẩm hàng hóa khó tiêu thụ, ảnh hưởng đến thu nhập của người sản xuất Nguyên nhân sâu xa của tình trạng trên là do bố trí cây trồng, vật nuôi chủ yếu dựa vào tiềm năng tự nhiên mà chưa dựa vào các luận cứ khoa học, chưa tổ chức tốt việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật Một trong những nguyên nhân của việc xuất khẩu hàng hóa sụt giảm là ”chúng ta chưa có tập quán sản xuất nông nghiệp chất lượng cao để cạnh tranh với thị trường thế giới” Mặt khác, số đông nông dân còn thiếu những hiểu biết về kinh tế thị trường, thiếu năng lực, bản lĩnh và trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh nông nghiệp hàng hóa
Do đó, sản xuất hàng hóa còn mang tính tự phát, thiếu ổn định và thiếu định hướng thị trường Vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với phát triển sản xuất nông nghiệp hiện nay là phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa có định hướng
và thị trường ổn định
Trang 21Đảng ta xác định: Xây dựng nền nông nghiệp theo hướng hiện đại; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội nông thôn gắn với phát triển các đô thị; nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho cư dân nông thôn, nhất là vùng miền núi, vùng dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn; đổi mới cơ chế chính sách, huy động các nguồn lực; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của nhà nước về phát triển nông nghiệp nông thôn… Trong đó hai nhóm giải pháp quan trọng và là đổi mới tình thức tổ chức dịch vụ, sản xuất, quy hoạch vùng sản xuất nông sản hàng hóa dựa trên thế mạnh của từng vùng Phát triển nhanh nghiên cứu khoa học- công nghệ, chuyển giao ứng dụng vào thực tiễn đời sống nông thôn để tạo ra nhiều nông phẩm hàng hóa, tăng giá trị thu nhập trên đơn vị đất đai của người nông dân là những nhóm giải pháp quan trọng và then chốt Đó là cách tốt nhất và nhanh nhất để giúp người nông dân giảm nghèo nhanh, bền vững và sống sung túc trên mảnh đất sinh kế của mình Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, trong đó vai trò của khoa học công nghệ có tính then chốt là một định hướng quan trọng Vai trò của kinh tế nông nghiệp trong tương lai vẫn mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nước ta trên đường đổi mới và phát triển
Chuyển sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa là sự tiến hóa hợp quy luật, đó là quá trình chuyển nền nông nghiệp truyền thống, lạc hậu sang nền nông nghiệp hiện đại phù hợp với cơ chế thị trường định hướng XHCN Sản xuất hàng hóa là quy luật khách quan của mọi hình thái kinh tế xã hội, nó phản ánh trình độ phát triển sản xuất của xã hội đó (Nguyễn Duy Tính, 1995)
Nền sản xuất hàng hoá có đặc trưng là cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, trình độ khoa học kỹ thuật, trình độ văn hoá của người lao động cao Đó là nền sản xuất nông nghiệp có cơ cấu hợp lý, được hình thành trên cơ sở khai thác tối
đa lợi thế, thế mạnh sản xuất nông nghiệp của từng vùng Đây là nền nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao, khối lượng hàng hoá nhiều với chủng loại phong phú, đa dạng
Sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp thể hiện rõ nét đó là nền sản xuất lớn, đẩy mạnh thâm canh, chuyên môn hóa cao; sử dụng ngày càng nhiều máy
móc, vật tư nông nghiệp, công nghệ mới (trước thu hoạch và sau thu hoạch),
Trang 22nông nghiệp gắn liền với công nghiệp chế biến và dịch vụ nông nghiệp; hình thành các vùng chuyên môn hóa, hướng mạnh ra xuất khẩu
Việc đưa nền nông nghiệp sang phát triển sản xuất hàng hóa là quá trình lâu dài và có nhiều khó khăn, phức tạp Do vậy, cần phải nhanh chóng hình thành các vùng sản xuất tập trung chuyên canh, thâm canh ngày càng cao phải gắn nông nghiệp với công nghệ, chế biến, được thực hiện thông qua việc phân công lại lao động, xã hội hoá sản xuất, ứng dụng các tiến bộ công nghệ mới vào sản xuất
Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, cũng như xuất phát từ những yêu cầu về sinh thái, về thị trường, về tài chính của doanh nghiệp, nên các vùng chuyên canh trong nông nghiệp thường phải kết hợp với phát triển đa dạng một cách hợp lý Sự kết hợp đó phải tuân thủ nguyên tắc là: không được cản trở sự phát triển của sản phẩm chuyên môn hoá và tốt nhất là tạo điều kiện cho sản phẩm chuyên môn hoá phát triển (Nguyễn Thế Nhã, Vũ Đình Thắng, 2004)
* Các chỉ tiêu phản ánh trình độ của sản xuất hàng hóa gồm:
Chỉ tiêu tỷ suất sản phẩm hàng hóa, chỉ tiêu tỷ suất giá trị sản phẩm hàng hóa, chỉ tiêu quy mô giá trị sản phẩm hàng hóa, chỉ tiêu cơ cấu giá trị nông sản hàng hóa
- Chỉ tiêu tỷ suất sản phẩm hàng hóa: Do sản xuất hàng hoá là quá trình sản xuất ra sản phẩm để trao đổi, để bán, nên chỉ tiêu quan trọng nhất phản ánh trình độ của sản xuất hàng hoá là chỉ tiêu tỷ suất sản phẩm hàng hoá trong tổng sản phẩm của người sản xuất: Chỉ tiêu tỷ suất sản phẩm hàng hóa là mối quan hệ
tỷ lệ giữa tổng sản phẩm hàng hóa được sản xuất ra so với tổng sản phẩm trong thời kỳ nhất định
Tỷ suất sản phẩm hàng hóa = Tổng hàng hóa/Tổng sản phẩm *100
Chỉ tiêu này có thể tính bằng hiện vật hoặc giá trị Chỉ tiêu tỷ suất sản phẩm hàng hóa là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá trình độ sản xuất hàng hóa Tuy nhiên chỉ tiêu này chưa phản ánh được quy mô sản xuất hàng hóa Nếu tính bằng hiện vật thì tính cho từng sản phẩm cụ thể, nếu tính bằng giá trị là tính chung cho nhiều loại sản phẩm hàng hóa và được tính theo giá cố định hoặc giá hiện hành
- Chỉ tiêu tỷ suất giá trị sản phẩm hàng hóa: Đây là chỉ tiêu phổ biến khi
Trang 23nghiên cứu trình độ sản xuất hàng hóa của một đơn vị, cơ sở kinh doanh hoặc một vùng kinh tế Việc tính chỉ tiêu này, có thể so sánh giữa tổng sản phẩm hàng hóa nói chung với tổng giá trị sản lượng của doanh nghiệp Nếu để so sánh trình độ sản xuất hàng hóa của các đơn vị trong cùng năm người ta thường dùng giá hiện hành
Việc phân tích trình độ sản xuất hàng hóa chủ yếu dựa vào chỉ tiêu tỷ suất sản phẩm hàng hóa, tuy nhiên trong nhiều trường hợp nếu chỉ sử dụng chỉ tiêu này
sẽ chưa phản ánh được trình độ sản xuất của người sản xuất là cao hay thấp
- Chỉ tiêu quy mô giá trị sản phẩm hàng hóa: Chỉ tiêu này được dùng để khắc phục hạn chế của chỉ tiêu tỷ suất sản phẩm hàng hóa Thông thường khi sử dụng chỉ tiêu tỷ suất sản phẩm hàng hóa sẽ đi kèm chỉ tiêu quy mô giá trị sản phẩm hàng hóa
- Chỉ tiêu cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hóa: Chỉ tiêu này tính theo giá trị hiện hành có ý nghĩa lớn: Nếu tỷ suất cao, khối lượng lớn, cơ cấu hợp lý thì nó phản ánh được thế mạnh của ngành, đơn vị sản xuất thể hiện được trình độ sản xuất hàng hóa
1.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp hàng hoá
1.2.2.1 Nhóm yếu tố điều kiện tự nhiên
Điều kiện này bao gồm vị trí địa lý, địa hình thổ nhượng, khí hậu, thời tiết,
hệ sinh thái, tài nguyên đất, nước, rừng,…
Theo C.Mác, điều kiện tự nhiên là cơ sở hình thành địa tô chênh lệch I Theo N.Borlang người được giải Nobel về giải quyết lương thực cho các nước phát triển cho rằng: yếu tố duy nhất, quan trọng nhất, hạn chế năng suất cây trồng
ở tầm cỡ thế giới trong các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nông dân thiếu vốn là độ phì đất
Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng quan trọng đối với nông nghiệp hàng hóa Quá trình sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp gắn liền với quá trình sinh học và gắn bó chặt chẽ với nhân tố tự nhiên Trong quá trình sản xuất, người lao động không thể ngăn cản quy luật sinh vật và không được can thiệp thô bạo vào trong quá trình sinh vật, trái lại phải nghiên cứu và nhận thức được các quy luật của sinh vật đó để bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với vùng sinh thái
Sự khác biệt về điều kiện tự nhiên giữa các vùng lãnh thổ đã hình thành nên các vùng thổ nhưỡng, vùng khí hậu, vùng sinh thái và vùng sinh vật, đây là
cơ sở tự nhiên tạo nên lợi thế giữa các vùng sản xuất cho từng loại cây, vật nuôi;
Trang 24hình thành những người lao động chuyên môn hóa, ngành chuyên môn hóa, doanh nghiệp chuyên môn hóa,…
1.2.2.2 Khoa học kỹ thuật
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật ngày càng đóng góp to lớn trong mọi lĩnh vực của đời sống Đối với ngành nông nghiệp ngày nay thì khoa học kỹ thuật càng có ý nghĩa to lớn Điều này thể hiện ở việc ứng dụng công nghiệp sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh Cho đến giữa thế kỷ 21, quy trình kỹ thuật có thể góp phần đến 30% của năng suất kinh tế, trong nền nông nghiệp nước ta
Khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp được biểu hiện ở một số mặt cơ bản như là ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất; hoàn thiện hệ thống quy trình công nghệ bảo quản và chế biến sản phẩm; kỹ thuật trong việc sử dụng và cải tạo đất, sử dụng nguồn nước phục vụ nông nghiệp, nông thôn và bảo vệ môi trường;
kỹ thuật trong việc sử dụng các chất hóa học như phân bón, thuốc bảo vệ cây trồng vật nuôi, thuốc kích thích tăng trưởng, vật liệu hóa học
Phát triển nông nghiệp hàng hóa gắn liền với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại mà trước hết là công nghệ sinh học, tiến bộ kỹ thuật gen, nuôi cây
tế bào Những thành tựu này, một mặt mở ra khả năng, hướng đi mới, từ ứng dụng và chuyển giao công nghệ tạo ra những giống cây, con có năng suất, chất lượng cao, tăng khả năng cạnh tranh; mặt khác đòi hỏi chúng ta phải cân nhắc, lựa chọn, quy hoạch ứng dựng các công nghệ mới đó một cách hợp lý với điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội trong nước
1.2.2.3 Chính sách nông nghiệp hàng hóa của chính phủ
Chính sách là phương thức hành động được một chủ thể hay tổ chức khẳng định và tổ chức thực hiện nhằm giải quyết những vấn đề lặp đi lặp lại Nếu chính sách nông nghiệp đúng đắn, thích hợp nó sẽ phát huy được tính năng động của các chủ thể sản xuất - kinh doanh, khai thác tốt nhất mọi tiềm năng thế mạnh của đất nước, thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp hàng hóa và ngược lại nếu các chính sách nông nghiệp của Nhà nước không đúng đắn, không thích hợp nó sẽ trở thành yếu tố kìm hãm sự phát triển nông nghiệp hàng hóa
Trang 25Trong nền kinh tế thị trường, nhà nước thông qua các chính sách để khắc phục những khuyết tật của thị trường, cụ thể như: chính sách đất đai, chính sách đầu tư
và tín dụng, chính sách khoa học - công nghiệp, chính sách tiêu thụ nông sản… các chính sách này vừa tạo phân công lao động xã hội, vừa tạo điều kiện môi trường để thúc đẩy sự hình thành và phát triển nông nghiệp hàng hóa
Các chính sách kinh tế có ảnh hưởng lớn đến sản xuất hàng hóa của nông dân
Đó là công cụ để Nhà nước can thiệp vào sản xuất nhằm khuyến khích hoặc hạn chế sản xuất các loại nông sản hàng hóa (Phan Sỹ Mẫn, Nguyễn Việt Anh, 2001)
Thực tiễn cho thấy ở nhiều nước trên thế giới, mặc dù điều kiện tự nhiên không được thuận lợi nhưng nông nghiệp hàng hóa đạt được tốc độ phát triển cao, là do các nước đó có được các chính sách nông nghiệp đúng đắn, Nhà nước
đã tạo được môi trường kinh doanh thuận lợi cho các chủ thể kinh tế hoạt động như: phát triển khoa học - công nghệ, cung cấp dịch vụ thông tin, cung cấp các loại hàng hóa công cộng (hệ thống đường giao thông, điện, thủy lợi, hệ thống thông tin liên lạc…), cung cấp vốn, tín dụng, điều chỉnh lãi suất hợp lý có lợi cho người sản xuất nông nghiệp… những vấn đề này thể hiện sự can thiệp và trợ giúp của Nhà nước có vai trò hết sức quan trọng và là nhân tố không thể thiếu được trong phát triển nông nghiệp hàng hóa
1.2.2.4 Nhóm các yếu tố xã hội
Nhóm yếu tố này bao gồm :
- Điều kiện về thị trường: Do sản xuất hàng hoá và chuyên môn hoá sản xuất nông nghiệp có mục đích chính là sản xuất ra nông sản hàng hoá, nên điều kiện về thị trường, tuy là nhân tố bên ngoài của doanh nghiệp, của vùng chuyên môn hoá nông nghiệp nhưng lại giữ vị trí quyết định đến sự tồn tại và phát triển của người sản xuất hàng hoá, vùng chuyên môn hoá sản xuất nông nghiệp Điều kiện về thị trường bao gồm cả thị trường các yếu tố đầu vào của sản xuất nông nghiệp và thị trường sản phẩm đầu ra (Nguyễn Thế Nhã, Vũ Đình Thắng, 2004)
- Những kinh nghiệm, tập quán sản xuất nông nghiệp
- Lực lượng lao động trong nông nghiệp: là yếu tố năng động và cách mạng nhất của lực lượng sản xuất, nó quyết định hiệu quả hoạt động kinh doanh
Trang 26Trình độ dân trí, khả năng lao động, kỹ năng nghề nghiệp, tính cần cù, thông minh,… là những yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành và phát triển nền nông nghiệp hàng hóa Trong thực tế, trình độ sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp hàng hóa phải cao hơn người sản xuất trong nền kinh tế tự nhiên, phải tự bỏ tập quán và thói quen sản xuất theo kiểu tự cung, tự cấp, dám bỏ sức và tiền của vào sản xuất cái gì có khả năng nhất, hiệu quả nhất
1.3 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Hiệu quả là một thuật ngữ mà con người thường dùng để chỉ mục tiêu cho mọi hành động có chủ đích Và sau này trong ngôn ngữ học phát triển, cụm từ
“hiệu quả” được hiểu như một phạm trù triết học Trước kia khi nhận thức còn hạn chế, người ta thường quan niệm kết quả và hiệu quả là một Về sau xã hội càng văn minh, nhận thức của con người phát triển lên thì dần đi đến sự phân biệt kết quả và hiệu quả Có nhiều quan niệm khác nhau về hiệu quả, được đề cập đến mọi đối tượng, dù là quản lý hay lao động chân tay Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi và hướng tới; nó có nội dung khác nhau ở những lĩnh vực khác nhau Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, là năng suất Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận Trong lao động nói chung, hiệu quả lao động là năng suất lao động, được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc là bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian
Ta có thể thấy bản chất của hiệu quả xuất phát từ mục đích của sản xuất
và phát triển kinh tế xã hội là đáp ứng ngày càng cao về nhu cầu đời sống vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội Cho nên mỗi cá nhân và tổ chức đều phải có bổn phận nâng cao hiệu quả hoạt động của mình
Theo Thái Phiên (2000), việc tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất hợp lý,
có hiệu quả theo quan điểm sinh thái đang trở thành một vấn đề hết sức quan trọng của mỗi quốc gia, mỗi địa phương
Sử dụng đất hợp lý, hiệu quả cao và bền vững phải quan tâm tới cả ba hiệu quả trên, trong đó hiệu quả kinh tế là trọng tâm, không có hiệu quả kinh tế thì không có điều kiện nguồn lực để thực thi hiệu quả xã hội và môi trường, ngược
Trang 27lại, không có hiệu quả xã hội và môi trường thì hiệu quả kinh tế sẽ không bền vững (Quyền Đình Hà, 1993)
1.3.1 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế:
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động sản xuất Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu biểu hiện kết quả của hoạt động sản xuất, nói rộng ra là của hoạt động kinh hoạt động kinh doanh, phản ánh tương quan giữa kết quả lao động, vật tư, tài chính Đó là chỉ tiêu phản ánh trình
độ, chất lượng sử dụng của các yếu tố sản xuất kinh doanh nhằm đạt được kết quả kinh tế tối đa với chi phí tối thiểu Tuỳ theo mục đích đánh giá ta có thể đánh giá hiệu quả kinh tế bằng những chỉ tiêu khác nhau như: năng suất sử dụng vốn, hàm lượng vật tư của sản phẩm, lợi nhuận so với vốn, thời gian thu lại vốn… Bản chất của hiệu quả kinh tế sử dụng đất là: trên một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất, với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội Xuất phát từ lý do này mà trong quá trình đánh giá đất nông nghiệp cần phải chỉ ra được loại hình sử dụng đất có hiệu quả kinh tế cao
Đây là hiệu quả được quan tâm hàng đầu, khâu trung tâm để đạt các loại hiệu quả khác và được thể hiện bằng các chỉ tiêu kinh tế, tài chính
Để đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp tôi áp dụng một số chỉ tiêu chính sau đây:
Hiệu quả tính trên 1 ha đất nông nghiệp
- Giá trị sản xuất (GTSX): Giá trị sản xuất là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất
và dịch vụ được quy ra tiền tạo ra trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm)
- Chi phí trung gian (CPTG): Chi phí trung gian là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ sử dụng trong quá trình sản xuất (giống, phân bón, thuốc bảo
vệ thực vật )
- Thu nhập hỗn hợp (TNHH): là phần thu nhập thuần túy của người sản xuất gồm cả công lao động của một gia đình và lợi nhuận có thể nhận được trong năm
- Hiệu quả đồng vốn (HQĐV): HQĐV = TNHH/CPTG (lần)
Trang 28Các chỉ tiêu phân tích được đánh giá định lượng (giá trị tuyệt đối) bằng tiền theo thời giá hiện hành, định tính (giá trị tương đối) được tính bằng mức độ cao, thấp Các chỉ tiêu đạt được mức càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn
1.3.2 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế, nó thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người Chỉ tiêu hiệu quả xã hội trong sử dụng đất thể hiện ở việc đảm bảo được nhu cầu lương thực, thực phẩm cho người dân
ở địa phương, thu hút được lao động địa phương, đảm bảo đời sống cho người dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển Sử dụng hiệu quả nguồn lực của địa phương, tăng thu nhập bình quân đầu người
1.3.3 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường trong sử dụng đất nông nghiệp được thể hiện qua đánh giá hiệu quả môi trường của các loại hình sử dụng đất là việc xem xét thực trạng và nguyên nhân gây ra sự suy thoái chất lượng môi trường nhằm loại trừ các loại hình sử dụng đất có khả năng gây ra tác động xấu đến môi trường sinh thái Các tác động ảnh hưởng tới chất lượng môi trường đất đai cần phân tích tập trung vào một số vấn đề sau:
+ Khả năng duy trì và cải thiện độ phì đất như khả năng che phủ đất, giảm thiểu xói mòn rửa trôi, trả lại cho đất tàn dư cây trồng để cải thiện hàm lượng hữu cơ và duy trì cải thiện độ phì đất
+ Chế độ luân canh ảnh hưởng đến tính chất hóa, lý và việc cải tạo đất (độ mặn, phèn)
+ Mức độ sử dụng hợp lý, cân đối phân bón và các loại thuốc bảo vệ thực vật + Mức độ ảnh hưởng về ô nhiễm đất
Theo Đỗ Nguyên Hải (1999), chỉ tiêu đánh giá chất lượng của môi trường trong quản lý sử dụng đất đai bền vững ở vùng nông nghiệp được tưới là:
- Quản lý đối với đất đai rừng đầu nguồn
- Đánh giá các nguồn tài nguyên nước bền vững
- Đánh giá quản lý đất đai
- Đánh giá hệ thống sản xuất cây trồng
Trang 29- Đánh giá tính bền vững đối với việc duy trì độ phì của đất và bảo vệ cây trồng
- Đánh giá về quản lý bảo vệ tự nhiên
- Sự thích hợp với môi trường đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất
Việc xác định hiệu quả về mặt môi trường của quá trình sử dụng đất nông nghiệp là vấn đề rất phức tạp, rất khó định lượng, đòi hỏi phải được nghiên cứu, phân tích trong thời gian dài Trong phạm vi tài nghiên cứu, tôi chỉ đánh giá hiệu quả môi trường thông qua việc đánh giá ảnh hưởng của các cây trồng đối với đất đai hiện tại, thông qua kết quả điều tra về đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật
và kết quả phỏng vấn nông hộ về nhận xét của họ đối với các loại hình sử dụng đất hiện tại
Theo Nguyễn Đình Hợi (1993): Đánh giá hiệu quả sử dụng đất cần kết hợp chặt chẽ giữa ba hệ thống chỉ tiêu kinh tế- xã hội và môi trường trong một thể thống nhất Tuy nhiên, tuỳ từng điều kiện cụ thể mà ta có thể nhấn mạnh từng
cơ sở cho sự phát triển Tuy nhiên bước vào thế kỷ XXI với sự bùng nổ về dân
số, nhu cầu lương thực, thực phẩm ngày càng gia tăng cùng với đó là những thách thức về khí hậu, môi trường sinh thái đã tạo ra những sức ép cho ngành sản xuất nông nghiệp Để đảm bảo an ninh lương thực thì việc nghiên cứu các biện pháp để phát triển ngành sản xuất nông nghiệp bền vững đang là vấn đề được các quốc gia quan tâm
Trang 30Nông nghiệp trên thế giới đã có những bước tiến vượt bậc, với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học công nghệ đã tạo ra những đột phá trong sản xuất nông nghiệp, thay đổi, hiện đại hóa về công cụ sản xuất, sử dụng
cơ giới hóa để thay thế sức người, gia súc , ứng dụng rộng rãi khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chuyển từ sản xuất cá lẻ sang sản xuất quy mô lớn có tính chuyên môn hóa cao
Các nhà khoa học trên thế giới đã tập trung cho việc tìm ra những giống cây trồng mới, những công thức luân canh mới, kỹ thuật canh tác mới trong sản xuất nông nghiệp Viện nghiên cứu lúa quốc tế IRRI đã tạo ra các loại giống lúa
có năng suất và chất lượng cao đã giúp nhiều quốc gia như Philippin, Ấn Độ có
đủ lương thực và dư thừa để xuất khẩu được Ngoài ra các giống lúa, các kỹ thuật canh tác trên các loại đất, chống chịu trong điều kiện thời tiết khắc nhiệt cũng được IRRI nghiên cứu và đưa ra sản xuất ở khắp các châu lục
Công nghệ sinh học đã góp phần đẩy nhanh sự phát triển về mặt năng suất
và chất lượng cây trồng Trong lĩnh vực giống cây trồng là việc tạo ra các giống cây trồng biến đổi gene với các đặc tính kháng được thuốc trừ cỏ, kháng sâu bệnh Diện tích cây trồng biến đổi gene (GMC) trên thế giới liên tục tăng hàng năm, một số quốc gia đi đầu trong lĩnh vực này là Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước châu Âu
Hiện nay, vấn đề sử dụng đất nông nghiệp để sản xuất hàng hóa luôn được các quốc gia quan tâm đầu tư phát triển, cũng như sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới làm thế nào để nghiên cứu ra các giống cây trồng mới, những công nghệ sản xuất và chế biến, Như vậy xu hướng chung trên thế giới là tập trung mọi nỗ lực nghiên cứu cải tiến hệ thống cây trồng trên những vùng đất bằng cách đưa thêm một số loại cây trồng vào hệ thống canh tác nhằm tăng sản lượng lương thực, thực phẩm trên một đơn vị diện tích trong một năm (Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, 2006)
1.4.2 Nghiên cứu về sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá ở Việt Nam
Trang 31Ðất tự nhiên ở Việt Nam có diện tích 33 triệu hecta trong đó đất có khả năng sản xuất nông nghiệp chỉ có 6,9 triệu hecta (chiếm 21 % diện tích đất tự nhiên) và phân bố không đồng đều ở các vùng sinh thái khác nhau Bên cạnh đó đặc điểm của đất nông nghiệp ở nước ta là tình trạng manh mún, không tập trung, diện tích đất bình quân trên đầu người thấp và có xu hướng giảm dần Theo số liệu của Tổng cục Quản lý đất, Bộ Tài nguyên Môi trường, bình quân mỗi năm đất nông nghiệp giảm gần 100 nghìn hécta, đặc biệt năm 2007 giảm 120 nghìn hécta Cùng với đó là sự gia tăng dân số ở Việt Nam trong những năm vừa qua nhất là dân số ở vùng nông thôn làm cho bình quân đất sản xuất trên đầu người ngày càng giảm mạnh Năm 2000 trung bình diện tích đất nông nghiệp tính trên đầu người là 680m2, năm 2005: 630m2, năm 2011: 437m2 Thực trạng này đã đặt
ra cho ngành nông nghiệp nước ta phải tìm ra các giải pháp để nâng cao năng suất, chất lượng nông sản đảm bảo an ninh lương thực quốc gia cũng như góp phần vào phát triển nền kinh tế quốc dân
Tại Việt Nam đã có rất nhiều công trình, dự án nghiên cứu về đất nông nghiệp trên các vùng đất khác nhau, trong những điều kiện khác nhau, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu khoa học như: Lương Xuân Quỳ (1996), Những biện pháp tổ chức và quản lý để phát triển kinh tế nông nghiệp hàng hóa
và đổi mới kinh tế nông nghiệp, nông thôn Bắc Bộ Hà Thị Thanh Bình, Đào Đức Mẫn (2005) – Bước đầu tìm hiểu hiệu quả sử dụng đất canh tác theo hướng nông nghiệp hàng hóa huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương Nguyễn Khắc Thời, Bùi Thị Phúc (2010) - Nghiên cứu ảnh hưởng của dồn đổi ruộng đất đến hiệu quả sử dụng đất của hộ nông dân huyện Ứng Hòa, TP Hà Nội , Các nghiên cứu cho thấy phát triển nông nghiệp là hướng đi đúng đắn và phù hợp với điều kiện và yêu cầu phát triển ngành nông nghiệp Việt Nam
Những nghiên cứu về các giống cây trồng vật nuôi cho năng suất, chất lượng cao để phục vụ cho phát triển nông nghiệp hàng hóa Có thể kể đến như:
- Giai đoạn 1963 - 1978 Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam đã đưa ra hàng chục giống mới: lúa, ngô, đậu đỗ, khoai tây, khoai lang,
Trang 32mía, chè, cam, quýt, vải, Giai đoạn 1990 - 2004, có khoảng 105 giống trong
đó 55 giống thuộc 14 loại cây trồng đạt tiêu chuẩn Quốc gia: lúa, đậu tương, lạc, khoai lang, khoai tây, khoai sọ, sắn,… có năng suất cao có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt đã được đưa vào sản xuất rộng rãi ở những vùng sinh thái góp phần thay đổi cơ cấu mùa vụ, thâm canh nâng cao hiệu quả sử dụng đất Trong giai đoạn 2006 - 2012, Viện đã được công nhận 391 giống cây trồng mới; 19 kỹ thuật tiến bộ và 27 biện pháp kỹ thuật khác được công nhận thử nghiệm trong hầu hết các lĩnh vực
- Những thành tựu của Học viện Nông nghiệp Việt nam trong nghiên cứu chuyển giao khoa học công nghệ Các giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt được nghiên cứu, triển khai vào sản xuất như: giống lúa lai VL20, VL24, TH3-3; TH3-5; TH7-2 , Giống lúa thuần T65, Bắc Thơm 7 kháng bạc lá, Giống lúa lai hai dòng TH7-2, giống lúa lai ba dòng TH 17, giống lúa thuần Hương Cốm 3, giống lúa nếp cẩm ĐH6) các giống cà chua thương hiệu HT , công nghệ sản xuất khoai tây sạch bệnh bằng công nghệ khí canh, phân viên nén nhả chậm cho các loại cây trồng
Vùng đồi núi Việt Nam chiếm 3/4 diện tích tự nhiên của cả nước, phân bổ
từ Bắc vào Nam Quá trình canh tác con người đã tác động xấu đến đất đai như khai thác rừng bừa bãi, phá rừng, đốt rừng làm nương rẫy, không thực hiện tốt các biện pháp chống xói mòn dẫn đến hậu quả là nhiều diện tích đất bị thoái hoá nghiêm trọng Tình trạng đất đất trống đồi núi trọc diễn ra ở nhiều nơi Để khắc phục tình trạng trên đã có nhiều công trình được nghiên cứu và triển khai đưa vào sử dụng tại vùng đất đồi núi ở nước ta:
Miền bắc chủ yếu trồng sắn trên các vùng đất dốc, và kỹ thuật canh tác còn đơn giản nên năng suất sắn đạt rất thấp Viện KHKT nông nghiệp Việt Nam đã tiến hành chọn tạo và nghiên cứu ra nhiều giống sắn mới phù hợp với điều kiện đất đai này như KM94, KM98-7, KM21-10 và KM21-12 Năng suất củ tươi đạt 30-40 tấn/ha, tỷ lệ chất khô trong sắn cao 39-40%, hàm lượng tinh bột 29-30%
Những nghiên cứu về sử dụng đất nông nghiệp bền vững, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tạo điều kiện phát triển cây trồng hàng hóa
Đề tài: “Nghiên cứu áp dụng các giải pháp kỹ thuật và thị trường nhằm
Trang 33nâng cao hiệu quả sản xuất ngô và đậu tương hàng hóa tại một số tỉnh miền núi phía Bắc” tại 3 tỉnh Yên Bái, Sơn La và Cao Bằng với các phương pháp nghiên cứu: Che phủ đất bằng vật liệu hữu cơ (tàn dư thực vật), tạo tiểu bậc thang và trồng xen các loại cây trồng họ đậu, họ cỏ trên diện tích đất có độ dốc lớn (> 200), kết hợp với bón phân cân đối, hợp lý Kỹ thuật che phủ đất bằng vật liệu hữu cơ (tàn dư thực vật) là việc sử dụng chính thân cây trồng đã thu hoạch: Rơm
rạ, thân cây ngô hoặc cỏ rác, xác thực vật khô Việc che phủ không chỉ ngăn chặn xói mòn của đất mà còn giúp duy trì độ ẩm, khống chế cỏ dại Khi lớp che phủ phân huỷ sẽ tạo ra độ mùn và tăng cường hoạt tính sinh học cho đất Kết quả sau 3 năm triển khai cho thấy: năng suất ngô trên diện tích đất sử dụng biện pháp che phủ tăng 30 - 60% so với diện tích đất không che phủ Kỹ thuật trồng xen những loại cây họ đậu, như: Đậu tương, lạc, đậu mèo, cỏ Stylo, cỏ Ruzi, lạc lưu niên, muồng lá tròn kép đã giảm xói mòn của đất từ 71 - 86,9%, năng suất tăng từ 59 - 125% so với không trồng xen Kỹ thuật tạo tiểu bậc kết hợp che phủ đã giúp hạn chế xói mòn rửa trôi từ 100% xuống còn 6,3%, năng suất tăng từ 27,3 - 57,3%, thuận lợi trong quá trình canh tác (Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (2011)
Anh Phương (2014), "Dự án nghiên cứu hệ thống nông nghiệp vùng núi phía Bắc Việt Nam - " do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (VASI), tiếp đó là Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc (NOMAFSI) và Trung tâm hợp tác quốc tế về nghiên cứu nông nghiệp vì sự phát triển của Cộng hoà Pháp (CIRAD) cùng Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) hợp tác thực hiện Chương trình đã nghiên cứu và áp dụng thành công nhiều biện pháp kỹ thuật đa dạng,hiệu quả và dễ được nông dân chập nhận có thể kể đến: + Cải tạo đất đã bị thoái hoá ở những vùng đất trồng đồi trọc bằng các loài cây che phủ có bộ rễ khoẻ và cây họ đậu cố định đạm
+ Hạn chế xói mòn trên đất dốc bằng cây phủ đất
+ Thay thế cày bừa làm đất cơ giới bằng các biện pháp sinh học
+ Xen canh và luân canh (Luân canh đậu mèo xuân và cây trồng vụ hè, xen canh ngô xuân với đậu mèo, mùa ngô xen đậu mèo, ngô hoặc lúa trồng xen cây lạc lưu niên, trồng sắn xen lạc, kết hợp chăn nuôi với trồng trọt, trồng rừng)…
Trang 34Ở nước ta cũng đã hình thành các vùng sản xuất chuyên canh cây trồng phù hợp với điều kiện của từng địa phương và phát huy được lợi thế sẵn có: Vùng chuyên canh chè Thái nguyên, chuyên canh cây lúa, chuyên canh cây rau màu Một số vùng sản xuất rau an toàn tập trung tại xã Văn Ðức, huyện Gia Lâm với diện tích 250 ha, sản lượng đạt 12.500 tấn/năm; tại xã Duyên Hà, huyện Thanh Trì với diện tích 57 ha, sản lượng đạt 2.850 tấn/năm; tại xã Thanh Ða, huyện Phúc Thọ với diện tích 50 ha, sản lượng rau đạt 2.500 tấn/năm Giá trị sản xuất tại các vùng trồng rau an toàn tập trung đạt từ 400 đến 500 triệu đồng/ha/năm, nơi cao đạt 700 đến 800 triệu đồng/ha/năm Toàn thành phố hiện nay đã xây dựng được hơn 30 vùng sản xuất lúa hàng hóa chất lượng cao, tập trung tại 11 huyện, diện tích gần 11 nghìn ha với hơn 71 nghìn hộ tham gia sản xuất, năng suất bình quân đạt 5,4 tấn/ha/vụ Giá trị sản xuất lúa hàng hóa chất lượng cao đã đạt hơn 518 tỷ đồng, tăng 195 tỷ đồng so với giống lúa thường Bên cạnh đó đã hình thành một số vùng sản xuất hoa tập trung như vùng hoa hồng tại
xã Văn Khê, huyện Mê Linh, quy mô 41,3 ha; cho thu nhập từ 400 đến 500 triệu đồng/ha, tạo việc làm cho hơn 1.300 lao động Mô hình sản xuất hoa ly, hoa loa kèn chịu nhiệt tại Sóc Sơn, Phúc Thọ, Gia Lâm cho thu nhập từ 500 đến 700 triệu đồng/ha Vùng chè giá trị kinh tế cao như vùng bưởi Quế Dương, bưởi Diễn
ở Hoài Ðức, Ðan Phượng, Chương Mỹ cho thu nhập từ 500 đến 700 triệu đồng/ha/năm; Vùng trồng cam Canh tại các xã Kim An, Cao Viên, huyện Thanh Oai cho thu nhập một tỷ đồng/ha/năm; vùng nhãn chín muộn ở xã Ðại Thành, huyện Quốc Oai và xã An Thượng, huyện Hoài Ðức; vùng trồng chuối tiêu hồng tại xã Văn Khê, huyện Mê Linh và xã Cổ Bi, huyện Gia Lâm; Vùng chè chất lượng cao tại xã Ba Trại, huyện Ba Vì, diện tích 75 ha
Vùng chuyên canh tại Hưng Yên: Cánh đồng chuyên canh trồng bí đỏ với tổng diện tích 350 ha ở các xã Nhân La, Vĩnh Xá (Kim Động); Hồ Tùng Mậu (Ân Thi), Quang Hưng, Nhật Quang, Phan Sào Nam (Phù Cừ), giá trị thu được 2 triệu đồng/sào, tương đương 56 triệu đồng/ha Cánh đồng trồng dưa chuột có diện tích
20 ha trên địa bàn xã Phú Thịnh (Kim Động) cho thu nhập 5,5 - 7 triệu đồng/sào Cánh đồng trồng đậu tương với diện tích 30 ha ở các xã Phú Thịnh (Kim Động),
Trang 35Phùng Hưng (Khoái Châu); cánh đồng trồng ngô nếp với diện tích 140 ha, tập trung ở các xã Văn Nhuệ, Đặng Lễ (Ân Thi), Thuần Hưng, Việt Hòa (Khoái Châu), trung bình mỗi mô hình có diện tích 20 ha Những mô hình này cho thu nhập trung bình khoảng 3,5 - 4 triệu đồng/sào, tương đương với 84 triệu đồng/ha Phạm Hà (2015)
Trên địa bàn tỉnh Hưng Yên cũng đã hình thành nhiều vùng chuyên canh cây ăn quả cho hiệu quả cao, khẳng định được thương hiệu như: Nhãn, vải, cam, quýt, chuối… Vùng chuyên canh nhãn được phát triển tập trung ở các địa phương như: Thành phố Hưng Yên, các huyện Tiên Lữ, Khoái Châu, Kim Động Đến nay diện tích nhãn có khoảng trên 3 nghìn ha, thu nhập bình quân đạt hơn 200 triệu đồng/ha/năm Cây có múi như cam, quýt, bưởi có 2 nghìn ha, thu nhập trung bình
300 triệu đồng/ha/năm Vùng chuyên canh trồng cam, quýt, bưởi được phát triển ở các xã như: Đông Tảo, Dạ Trạch (Khoái Châu); Tân Tiến, Liên Nghĩa, Mễ Sở (Văn Giang); Yên Phú, Việt Cường (Yên Mỹ)… Cây chuối tăng nhanh về diện tích, năng suất, sản lượng Đến nay diện tích chuối có trên 1,47 nghìn ha, tập trung
ở các huyện như: Yên Mỹ, Kim Động, Khoái Châu và thành phố Hưng Yên Ở các cánh đồng chuyên canh trồng chuối, nông dân đã áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất, sử dụng nhiều giống chuối nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô cho năng suất cao, giảm sâu bệnh, ra quả đều, Đào Ban (2014)
Vùng Tây Bắc: Hiện nay Tây Bắc đã hình thành một số vùng sản xuất hàng hóa tập trung như: Cây chè đạt diện tích 74 nghìn ha; cây ăn quả 180 nghìn ha; cà-phê hơn 15 nghìn ha Dự án trồng cây cao-su tiếp tục được triển khai, mở rộng ở những vùng có điều kiện sinh thái phù hợp, sử dụng giống chịu lạnh, cải tiến quy trình canh tác, đưa diện tích toàn vùng đạt hơn 62 nghìn ha Các vùng chuyên canh tập trung gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm tiếp tục phát triển
và mang lại hiệu quả khá cao Nông - lâm - ngư nghiệp của toàn vùng đã phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa
Trang 36Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHUƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tuợng, địa điểm nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đất nông nghiệp và các loại hình sử dụng đất nông nghiệp có tính hàng hóa
- Địa điểm nghiên cứu: Huyện Yên Mỹ - Tỉnh Hưng Yên
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội liên quan đến sử dụng đất
và sản xuất nông nghiệp huyện Yên Mỹ
- Đánh giá điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, điều kiện khí hậu, địa hình
- Phân tích, đánh giá điều kiện kinh tế - xã hội của huyện
- Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội Từ đó rút ra những thuận lợi và hạn chế trong sản xuất nông nghiệp nói chung và trong phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa nói riêng của huyện
2.2.2 Xác định các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu trên địa bàn huyện Yên Mỹ
- Hiện trạng và biến động sử dụng đất nông nghiệp huyện Yên Mỹ
- Thực trạng các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của huyện
+ Hiện trạng cây trồng, diện tích, cơ cấu các loại hình sử dụng đất
+ Các sản phẩm nông nghiệp chủ lực
+ Các cây trồng hàng hóa chính của huyện Yên Mỹ
2.2.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa
2.2.3.1 Hiệu quả kinh tế
2.2.3.2 Hiệu quả xã hội
2.2.3.3 Hiệu quả môi trường
2.2.3.4 Đánh giá chung hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của các loại hình sử dụng đất
Trang 372.2.4 Định hướng và đề xuất các giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng hàng hóa đến năm 2020
- Xác định các loại hình sử dụng đất theo hướng sản xuất hàng hóa
- Định hướng sử dụng đất nông nghiệp theo hướng hàng hóa
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp huyện Yên Mỹ theo hướng sản xuất hàng hóa
2.3 Phuơng pháp nghiên cứu
Vùng 1 gồm 4 xã: Yên Phú, Hoàn Long, Yên Hoà, Việt Cường với đặc thù trồng cây ăn quả và rau màu các loại, xã được chọn là xã Hoàn Long
Vùng 2 gồm 8 xã: Minh Châu, Đồng Than, Thanh Long, Ngọc Long, Thị trấn Yên Mỹ Tân Lập, Liêu Xá, Giai Phạm, Nghĩa Hiệp, xã được chọn là xã Thanh Long
Vùng 3 gồm 5 xã: Trung Hoà, Tân Việt, Lý Thường Kiệt, Trung Hưng, Minh Châu xã được chọn là xã Lý Thường Kiệt
2.3.2 Phuơng pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp
Thu thập thông qua điều tra nông hộ bằng mẫu phiếu hỏi chuẩn bị sẵn Tại
03 xã được chọn, mỗi xã điều tra ít nhất 30 hộ, tổng số phiếu điều tra là 90 phiếu Nội dung phiếu điều tra gồm 5 phần: phần 1 thông tin chung về hộ gia đình; phần
2 tình hình sản xuất nông nghiệp của hộ như tình hình sử dụng đất nông nghiệp, hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp; phần 3 tình hình tiêu thụ sản phẩm; phần 4 bao gồm các vấn đề môi trường; phần 5 gồm các vấn đề về xã hội
Trang 382.3.3 Phuơng pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập các số liệu thứ cấp liên quan đến nội dung nghiên cứu gồm: điều kiện tự nhiên, kiện kinh tế - xã hội; hiện trạng, biến động đất đai, tình hình sản xuất các cây trồng trên địa bàn huyện từ các cơ quan nhà nước như: phòng Tài nguyên - Môi trường, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện, phòng Thống kê huyện, số liệu của các ban, ngành ở xã
2.3.4 Phương pháp điều tra thực địa
Trên cơ sở phiếu điều tra chuẩn bị sẵn, tiến hành đi thực địa để điều tra xem tại các tiểu vùng trồng những giống cây trồng nào và xác định những cây trồng hàng hóa tại các tiểu vùng
2.3.5 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu
Số liệu, tài liệu được thu thập qua các năm và được tiến hành tổng hợp, phân tích để thấy được quy luật của các yếu tố liên quan trong quá trình sử dụng đất làm cơ sở đưa ra những giải pháp sử dụng đất hiệu quả hơn Số liệu được xử
lý bằng phần mềm Excel
2.3.6 Phương pháp tính hiệu quả
- Phân tích hiệu quả kinh tế
Các chỉ tiêu kinh tế sử dụng cho đánh giá bao gồm:
- Giá trị sản xuất (GTSX): là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất, dịch vụ được tạo ra trong một thời kỳ nhất định
- Chi phí trung gian (CPTG): là toàn bộ chi phí vật chất được sử dụng trong quá trình sản xuất bao gồm các khoản chi phí nguyên vật liệu, giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật
- Thu nhập hỗn hợp (TNHH): là phần thu nhập thuần túy của người sản xuất bao gồm cả công lao động của một gia đình và lợi nhuận có thể nhận được trong năm
TNHH = GTSX – CPGT
- Hiệu quả đồng vốn (HQĐV): HQĐV = TNHH/CPTG (lần)
Các chỉ tiêu phân tích được đánh giá định lượng (giá trị tuyệt đối) bằng tiền theo thời giá hiện hành, định tính (giá trị tương đối) được tính bằng mức độ cao, thấp Các chỉ tiêu đạt được mức càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn (Nguyễn Đình Hợi, 1993)
Trang 39- Phân tích hiệu quả xã hội
Các chỉ tiêu xã hội gồm:
+ Giá trị ngày công lao động
+ Khả năng thu hút lao động và giải quyết việc làm cho người dân địa phương + Khả năng tiêu thụ sản phẩm (Quyền Đình Hà, 1993)
- Phân tích hiệu quả môi trường
Thông qua các chỉ tiêu:
+ Mức độ sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật
Trang 40Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội liên quan đến sử dụng đất và sản xuất nông nghiệp huyện Yên Mỹ
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Yên Mỹ nằm về phía Tây Bắc của tỉnh Hưng Yên trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ ( Hà Nội – Hưng Yên – Hải Dương – Hải Phòng – Quảng Ninh)
Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 92.50 km2, mật độ dân số trung bình
1508 người/km2 Huyện có 17 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 16 xã và 01 thị trấn Tọa độ địa lý : 20o50’ – 20o57’ vĩ độ Bắc ; 105o57’ – 106o05’ kinh độ Đông
Phía Bắc giáp huyện Văn Lâm và huyện Mỹ Hào,
Phía Nam giáp huyện Khoái Châu và huyện Ân Thi,
Phía Đông giáp huyện Mỹ Hào và huyện Ân Thi
Phía Tây giáp huyện Văn Giang và huyện Khoái Châu
Hình 3.1 Sơ đồ vị trí địa lý huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên