Tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại khi áp dụng trong thực tế như: Quy định về miễn đào tạo nghề công chứng không khắc phục được tình trạng những công chứng viên được miễn đào tạo và tập sự
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
HOÀNG NAM PHONG
CẢI CÁCH THỦ TỤC CÔNG CHỨNG
TẠI TỈNH HẢI DƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ : 60.34.04.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS NGUYỄN VĂN SONG
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đều đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 06 tháng 6 năm 2015
Tác giả
Hoàng Nam Phong
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài này tôi đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều cơ quan, cá nhân, cán bộ quản lý các địa phương, các thầy cô giáo và bạn bè Trước hết tôi xin gửi tới các thày, cô Khoa Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Học viện Nông nghiệp Việt Nam lời chào trân trọng, lời chúc sức khỏe và lời cảm ơn sâu sắc Với sự quan tâm dạy dỗ, chỉ bảo tận tình chu đáo của thày cô, đến nay tôi đã có thể hoàn thành luận văn, đề tài “Cải cách thủ tục công chứng tại tỉnh Hải Dương”
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thày giáo - GS.TS Nguyễn Văn Song đã quan tâm giúp đỡ, hướng dẫn tôi hoàn thành tốt luận văn này trong thời gian qua
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến lãnh đạo Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Khoa Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ môn Kinh tế tài nguyên môi trường, các khoa, phòng, ban chức năng đã trực tiếp và gián tiếp giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Không thể không nhắc đến sự quan tâm, tạo điều kiện của Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương; Hội Công chứng tỉnh Hải Dương; Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thành phố Hải Dương; Phòng Công chứng số 1, số 2 tỉnh Hải Dương; Văn phòng công chứng Thành Đông, Thành Đô, Bình Minh, Bạch Đằng, Sinh Phúc, An Phú cùng sự giúp đỡ nhiệt tình của đồng chí Chánh Văn phòng Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương, Chủ tịch Hội Công chứng tỉnh Hải Dương, Trưởng phòng
và các anh em viên chức Phòng Công chứng số 1 tỉnh Hải Dương cho tôi được thuận lợi nhất trong suốt thời gian công tác, điều tra, thu thập số liệu
Với thời gian cũng như kinh nghiệm còn hạn chế của một học viên, luận văn này không thể tránh được những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thày cô để tôi có điều kiện bổ sung, nâng cao ý thức của mình, phục vụ tốt hơn công tác thực tế sau này
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn đến tất cả mọi người, sự giúp đỡ đóng góp đó tạo nên sự thành công của đề tài!
Hà Nội, ngày 06 tháng 6 năm 2015
Tác giả
Hoàng Nam Phong
Trang 52.1.1 Một số khái niệm liên quan, mục tiêu, nhiệm vụ cải cách thủ
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến cải cách thủ tục công chứng 20
2.2.1 Thực trạng cải cách thủ tục công chứng thế giới 21 2.2.2 Thực trạng cải cách thủ tục công chứng tại Việt Nam 24 2.2.3 Kinh nghiệm của một số tỉnh, thành phố về cải cách thủ tục công chứng 30 2.2.4 Bài học kinh nghiệm rút ra từ tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn cho quá trình nghiên cứu về cải cách thủ tục công chứng 32
Trang 63.1.1 Điều kiện tự nhiên tỉnh Hải Dương 33
3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu phân tích và xử lý số liệu 43
4.1 Thực trạng cải cách thủ tục công chứng tại tỉnh Hải Dương 47
4.1.3 Cải cách hệ thống tổ chức hành nghề công chứng tại tỉnh Hải Dương: 67 4.1.4 Đội ngũ công chứng viên, nhân viên tổ chức hành nghề công chứng: 69
4.1.6 Về hiện đại hóa tổ chức hành nghề công chứng: 78 4.1.7 Một số yếu tố khác ảnh hưởng đến cải cách thủ tục công chứng 82
4.4.3 Nhiệm vụ, giải pháp cải cách thủ tục công chứng 92
Trang 9DANH MỤC BẢNG
3.1 Số lượng mẫu điều tra các địa bàn nghiên cứu 42 4.1 Đánh giá về việc sử dụng mẫu hợp đồng, giao dịch 49 4.2 Đánh giá về việc nộp hồ sơ, giấy tờ theo quy định pháp luật 49 4.3 Đánh giá về việc nộp bản sao giấy tờ trong hồ sơ công chứng 50 4.4 Đánh giá về nội dung hợp đồng, giao dịch có phù hợp với pháp luật, đạo
4.5 Đánh giá về việc có được giải thích các quyền và nghĩa vụ trong hợp
4.6 Đánh giá thẩm quyền công chứng hợp đồng, giao dịch về bất động sản 51 4.7 Đánh giá về số lần đi lại để làm thủ tục công chứng 52 4.8 Cơ cấu các hợp đồng, giao dịch được công chứng trong và ngoài trụ sở
4.17 Đánh giá về thời gian giải quyết thủ tục công chứng theo quy định 58
Trang 104.19 Số hợp đồng giao dịch về bất động sản được công chứng 60 4.20 Số hợp , giao dịch về động sản được công chứng 61 4.21 Số hợp đồng vay tiền, thế chấp tài sản, cầm cố tài sản, hợp đồng bảo
4.22 Số di chúc và các giao dịch về thừa kế khác được công chứng 63 4.23 Đánh giá mức độ phối hợp giữa TCHNCC với các cơ quan Nhà nước
4.24 Đánh giá mức độ công khai đầy đủ; đơn giản, dễ kê khai các quy định
4.25 Đánh giá mức độ thuận tiện trong thực hiện quy trình công chứng và
4.26 Đánh giá của người yêu cầu công chứng về việc giải quyết phản ánh,
kiến nghị của các tổ chức hành nghề công chứng 67 4.27 Số lượng và phân bố các tổ chức hành nghề công chứng 68 4.28 Số lượng công chứng viên trên địa bàn tỉnh Hải Dương 70 4.29 Số công chứng viên được đào tạo và không được đào tạo nghề
4.30 Đánh giá thái độ giao tiếp; mức độ tận tình; mức độ rõ ràng và mức độ thành thạo của cán bộ giải quyết thủ tục công chứng 73 4.31 Đánh giá về việc trả các khoản chi phí phải nộp theo quy định 74 4.32 Đánh giá về việc trả các khoản chi phí khác mà người yêu cầu công
4.33 Số phí công chứng thu được trên địa bàn tỉnh Hải Dương 75 4.34 Số tiền nộp vào ngân sách nhà nước của các tổ chức hành nghề
Trang 114.38 Độ tuổi người yêu cầu công chứng 82
4.41 Đánh giá mức độ hài lòng khi tiếp cận dịch vụ công chứng 84 4.42 Đánh giá mức độ hài lòng đối với toàn bộ quá trình giải quyết thủ tục
4.43 Đánh giá ý kiến cải tiến việc giải quyết thủ tục công chứng của người
4.44 Tổ chức hành nghề công chứng được thanh tra theo kế hoạch năm 2012 86 4.45 Thống kê số liệu công tác thanh tra và xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực công chứng của Thanh tra Bộ Tư pháp 87
Trang 12DANH MỤC BIỂU ĐỒ
2.1 Sự phát triển của các tổ chức hành nghề công chứng sau 6 năm thi hành
2.2 Sự phát triển đội ngũ công chứng viên sau 6 năm thi hành Luật Công
2.6 Cơ cấu công chứng viên phòng công chứng và công chứng viên văn
2.7 Cơ cấu văn phòng công chứng có 01 công chứng viên và văn phòng
công chứng có từ 02 công chứng viên trở lên năm 2013 29 4.1 Cơ cấu phòng công chứng và văn phòng công chứng 68 4.2 Các tổ chức hành nghề công chứng có 01 công chứng viên và từ 02
4.3 Số công chứng viên trong độ tuổi lao động và công chứng viên ngoài độ
Trang 13PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Luật Công chứng năm 2006 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2007 sau một thời gian thi hành Luật Công chứng đã đi vào cuộc sống đóng góp cho sự phát triển của kinh tế - xã hội của đất nước, tạo lập môi trường thuận lợi và tin cậy cho các hoạt động dân sự, kinh doanh, thương mại, bảo đảm an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch, góp phần vào cải cách hành chính, cải cách tư pháp nói chung và góp phần vào cải cách thủ tục công chứng nói riêng Tuy nhiên, khi áp dụng trong thực tiễn, Luật Công chứng còn tồn tại nhiều điểm không phù hợp với thực tiễn (Bộ Tư pháp, 2013)
Ngày 20/6/2014 Quốc hội đã ban hành Luật Công chứng có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 thay thế cho Luật Công chứng năm 2006, đã khắc phục được phần nào một số tồn tại, bất cập mà Luật Công chứng 2006 không khắc phục được Tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại khi áp dụng trong thực tế như: Quy định
về miễn đào tạo nghề công chứng không khắc phục được tình trạng những công chứng viên được miễn đào tạo và tập sự nghề khi hành nghề gặp rất nhiều lúng túng, điều này sẽ dẫn đến chất lượng đội ngũ công chứng viên không cao, và hệ quả kéo theo là các sản phẩm văn bản công chứng chất lượng thấp, đã có phát sinh những tranh chấp dân sự trong một số vụ việc từ hoạt động công chứng trong thời gian qua, hệ quả này sẽ còn kéo dài bởi phát sinh tranh chấp từ các văn bản công chứng không chỉ xảy ra trong một vài năm mà còn phát sinh nhiều năm sau đó; Luật Công chứng không quy định độ tuổi hành nghề công chứng, điều này không phù hợp vì yêu cầu nghề nghiệp đòi hỏi phải có trình độ, sức khỏe và
kỹ năng thao tác công vệc nhanh, chính xác nếu công chứng viên cao tuổi bị hạn chế sức khỏe sẽ không đảm đương được công việc; về thủ tục công chứng hợp đồng, giao quy định số điểm còn chung chung về các giấy tờ nộp, quy định về địa điểm công chứng cũng vậy, có nhiều cách hiểu khác nhau nên áp dụng trong thực tế mỗi tổ chức hành nghề công chứng thưc hiện một cách khác nhau; về
Trang 14trình tự các bước công chứng cũng không phù hợp với thực tế, còn mâu thuẫn các bước, không khoa học, làm tốn kém thời gian và công sức của người yêu cầu công chứng; không quy định về một số trường hợp cụ thể, như công chứng hợp đồng thế chấp; quy định về trình tự lưu trữ hồ sơ công chứng cũng không khoa học chưa phục vụ tốt cho việc thanh tra, kiểm tra, thống kê hồ sơ giấy tờ; quy định về thù lao công chứng thì lại cho phép các bên tự thỏa thuận giữa tổ chức hành nghề công chứng với người yêu cầu công chứng nên các tổ chức hành nghề công chứng thường lợi dụng về điểm này để mưu cầu mục đích riêng của tổ chức mình; việc quy định giải quyết khiếu nại trong Luật Công chứng cũng vậy, chưa
cụ thể (Phương Linh, 2012)
Các Luật điều chỉnh lĩnh vực công chứng cũng vẫn còn điểm mâu thuẫn, chồng chéo, các khái niệm về một vấn đề đôi khi khác nhau, nên khi tổ chức thực hiện giữa các tổ chức hành nghề công chứng với chi cục thuế, văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã gặp nhiều khó khăn, lúng túng Mỗi tổ chức hành nghề công chứng áp dụng pháp luật một cách khác nhau, gây nghi ngờ, mất uy tín, phí tổn vật chất, tinh thần cho các
tổ chức, cá nhân đến yêu cầu công chứng, kìm hãm sự phát triển kinh tế, xã hội (Nguyễn Thị Thanh Hà, 2014)
Từ những bất cập trong thể chế và trong thực tiễn hoạt động công chứng hợp đồng, giao dịch nêu trên, em thấy cần phải nghiên cứu đề tài này để đánh giá, phân tích tình hình tìm ra nguyên nhân, đề ra các giải pháp hữu hiệu, khắc phục những khiếm khuyết của chính sách về công chứng, cải cách thủ tục công chứng theo hướng rút gọn, khoa học nhưng vẫn bảo đảm an toàn pháp lý, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh tế, xã hội được thúc đẩy, phát triển đúng hướng đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở kết quả đánh giá thực trạng các thủ tục công chứng đề xuất một
số giải pháp nhằm cải cách thủ tục công chứng nâng cao hiệu quả trong việc
Trang 15chứng nhận các hợp đồng, giao dịch tại các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Hải Dương
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về cải cách thủ tục công chứng;
- Đánh giá thực trạng cải cách thủ tục công chứng và phân tích những nguyên nhân ảnh hưởng tới cải cách thủ tục công chứng trên địa bàn tỉnh Hải Dương;
- Đề xuất các giải pháp nhằm cải cách thủ tục công chứng trên địa bàn tỉnh Hải Dương
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu trực tiếp là các hoạt động cải cách thủ tục công chứng tại tỉnh Hải Dương;
- Đối tượng nghiên cứu gián tiếp là các chính sách, cơ chế, cá nhân, tổ chức
có liên quan đến các hoạt động cải cách thủ tục công chứng tại tỉnh Hải Dương
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Cải cách các thủ tục công chứng hợp đồng, giao dịch tại các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Hải Dương
- Phạm vi về thời gian: từ ngày 01/01/2012 đến 31/12/2014 Đề tài sử dụng
số liệu thứ cấp năm 2012-2014, số liệu sơ cấp thu thập từ phiếu điều tra người yêu cầu công chứng tại các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong năm 2014
- Phạm vi về không gian: Do hạn chế về thời gian và chi phí nên nghiên cứu chủ yếu thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng của thành phố Hải Dương, thị xã Chí Linh, huyện Kinh Môn và huyện Thanh Miện
Trang 16PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận về cải cách thủ tục công chứng
2.1.1 Một số khái niệm liên quan, mục tiêu, nhiệm vụ cải cách thủ tục công chứng
2.1.1.1 Một số khái niệm liên quan
- Cải cách: Hoàng Chí Bảo (2008) nêu rõ “Cải cách là thay đổi những bộ phận
cũ không hợp lý cho thành mới, đáp ứng yêu cầu của tình hình khách quan Cải cách bao gồm tập hợp của nhiều cải tiến, sáng kiến, biến đổi Cải cách còn được xem là một biện pháp giải quyết những đòi hỏi của thực tiễn với mục tiêu rõ ràng, chương trình cụ thể và yêu cầu phải hoàn tất trong một thời gian nhất định”
- Thủ tục: Khách (2008) nêu rõ “Những việc cụ thể phải làm theo một trật
tự quy định, để tiến hành một công việc có tính chất chính thức”
- Công chứng: Quốc hội (2014) nêu rõ “là việc công chứng viên của một tổ
chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”
- Rút ra khái niệm thủ tục công chứng: là trình tự những việc phải làm theo
một trật tự nhất định theo quy định pháp luật về việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng
- Từ đây ta có thể rút ra khái niệm cải cách thủ tục công chứng: là sự cắt
giảm, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, thay thế trình tự giải quyết, tiến hành các thủ tục công chứng, các thủ tục khác liên quan đến việc việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác bằng văn bản mà
Trang 17theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng cho đúng với quy định của pháp luật, phù hợp với thực tế
- Công chứng viên: Quốc hội (2014) nêu rõ “là người có đủ tiêu chuẩn theo
quy định của Luật Công chứng năm 2014, được Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm
để hành nghề công chứng”
- Người yêu cầu công chứng: Quốc hội (2014) nêu rõ “là cá nhân, tổ chức
Việt Nam hoặc cá nhân, tổ chức nước ngoài có yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch theo quy định của Luật Công chứng năm 2014”
- Văn bản công chứng: Quốc hội (2014) nêu rõ “là hợp đồng, giao dịch,
bản dịch đã được công chứng viên chứng nhận theo quy định của Luật Công chứng năm 2014”
- Tổ chức hành nghề công chứng: Quốc hội (2014) nêu rõ “bao gồm Phòng
công chứng và Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan”
- Chức năng xã hội của công chứng viên: Quốc hội (2014) nêu rõ “Công
chứng viên cung cấp dịch vụ công do Nhà nước ủy nhiệm thực hiện nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng, giao dịch; phòng ngừa tranh chấp; góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; ổn định và phát triển kinh tế - xã hội”
- Nguyên tắc hành nghề công chứng: Khi chứng nhận hợp đồng, giao dịch
công chứng viên phải tuân thủ các nguyên tắc: Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; Khách quan, trung thực; Tuân theo quy tắc đạo đức hành nghề công chứng; Chịu trách nhiệm trước pháp luật và người yêu cầu công chứng về văn bản công chứng (Quốc hội, 2014)
- Giá trị pháp lý của văn bản công chứng: Văn bản công chứng có hiệu lực
kể từ ngày được công chứng viên ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng; Hợp đồng, giao dịch được công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan, trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác; Hợp
Trang 18đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ, những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu; Bản dịch được công chứng có giá trị sử dụng như giấy tờ, văn bản được dịch (Quốc hội, 2014)
- Tiếng nói và chữ viết dùng trong công chứng: Quốc hội (2014) nêu rõ
“Tiếng nói và chữ viết dùng trong công chứng là tiếng Việt”
- Công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng không được thực hiện các hành vi sau đây: Tiết lộ thông tin về nội dung công chứng, trừ trường hợp
được người yêu cầu công chứng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác, sử dụng thông tin về nội dung công chứng để xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; Thực hiện công chứng trong trường hợp mục đích và nội dung của hợp đồng, giao dịch, nội dung bản dịch vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội, xúi giục, tạo điều kiện cho người tham gia hợp đồng, giao dịch thực hiện giao dịch giả tạo hoặc hành vi gian dối khác; Công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch có liên quan đến tài sản, lợi ích của bản thân mình hoặc của những người thân thích là vợ hoặc chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi của vợ hoặc chồng; con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể; ông, bà; anh chị em ruột, anh chị em ruột của vợ hoặc chồng; cháu là con của con đẻ, con nuôi; Từ chối yêu cầu công chứng mà không có lý do chính đáng; sách nhiễu, gây khó khăn cho người yêu cầu công chứng; Nhận, đòi hỏi tiền hoặc lợi ích khác từ người yêu cầu công chứng ngoài phí công chứng, thù lao công chứng và chi phí khác đã được xác định, thỏa thuận; Nhận, đòi hỏi tiền hoặc lợi ích khác từ người thứ ba để thực hiện hoặc không thực hiện việc công chứng gây thiệt hại cho người yêu cầu công chứng và cá nhân, tổ chức có liên quan; Ép buộc người khác
sử dụng dịch vụ của mình; Cấu kết, thông đồng với người yêu cầu công chứng và những người có liên quan làm sai lệch nội dung của văn bản công chứng, hồ sơ công chứng; Gây áp lực, đe dọa hoặc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội để giành lợi thế cho mình hoặc cho tổ chức mình trong việc hành nghề công chứng; Quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng về công chứng viên và tổ chức mình; Tổ chức hành nghề công chứng mở chi nhánh, văn phòng đại diện, cơ sở, địa điểm giao dịch khác ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề
Trang 19công chứng; Thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ngoài phạm vi hoạt động đã đăng ký; Công chứng viên đồng thời hành nghề tại hai tổ chức hành nghề công chứng trở lên hoặc kiêm nhiệm công việc thường xuyên khác; Công chứng viên tham gia quản lý doanh nghiệp ngoài tổ chức hành nghề công chứng; thực hiện hoạt động môi giới, đại lý; tham gia chia lợi nhuận trong hợp đồng, giao dịch mà mình nhận công chứng; Vi phạm pháp luật, vi phạm quy tắc đạo đức hành nghề công chứng (Quốc hội, 2014)
- Cá nhân, tổ chức không được thực hiện các hành vi sau đây: Giả mạo người
yêu cầu công chứng; Người yêu cầu công chứng cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật; Sử dụng giấy tờ, văn bản giả mạo hoặc bị tẩy xóa, sửa chữa trái pháp luật để yêu cầu công chứng; Người làm chứng, người phiên dịch có hành vi gian dối, không trung thực; Cản trở hoạt động công chứng (Quốc hội, 2014)
- Cơ sở dữ liệu công chứng: Quốc hội (2014) nêu rõ “Cơ sở dữ liệu công
chứng bao gồm các thông tin về nguồn gốc tài sản, tình trạng giao dịch của tài sản và các thông tin về biện pháp ngăn chặn được áp dụng đối với tài sản có liên quan đến hợp đồng, giao dịch đã được công chứng”
- Hồ sơ công chứng: Hồ sơ công chứng bao gồm phiếu yêu cầu công chứng,
bản chính văn bản công chứng, bản sao các giấy tờ mà người yêu cầu công chứng
đã nộp, các giấy tờ xác minh, giám định và giấy tờ liên quan khác; Hồ sơ công chứng phải được đánh số theo thứ tự thời gian phù hợp với việc ghi trong sổ công chứng (Quốc hội, 2014)
- Chế độ lưu trữ hồ sơ công chứng: Tổ chức hành nghề công chứng phải
bảo quản chặt chẽ, thực hiện biện pháp an toàn đối với hồ sơ công chứng; Bản chính văn bản công chứng và các giấy tờ khác trong hồ sơ công chứng phải được lưu trữ ít nhất là 20 năm tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng; trường hợp lưu trữ ngoài trụ sở thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của Sở Tư pháp; Trong trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền có yêu cầu bằng văn bản về việc cung cấp hồ sơ công chứng phục vụ cho việc giám sát, kiểm tra, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án liên quan đến việc đã công chứng thì tổ chức hành nghề công chứng có trách nhiệm cung cấp bản sao văn bản công chứng và các
Trang 20giấy tờ khác có liên quan Việc đối chiếu bản sao văn bản công chứng với bản chính chỉ được thực hiện tại tổ chức hành nghề công chứng nơi đang lưu trữ hồ
sơ công chứng; Việc kê biên, khám xét trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng phải thực hiện theo quy định của pháp luật và có sự chứng kiến của đại diện Sở Tư pháp hoặc đại diện tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên tại địa phương; Trường hợp Phòng công chứng được chuyển đổi thành Văn phòng công chứng thì hồ sơ công chứng do Văn phòng công chứng được chuyển đổi quản lý; Trường hợp Phòng công chứng bị giải thể thì hồ sơ công chứng phải được chuyển cho một Phòng công chứng khác hoặc một Văn phòng công chứng do Sở Tư pháp chỉ định; Trường hợp Văn phòng công chứng chấm dứt hoạt động thì Văn phòng công chứng đó phải thỏa thuận với một Văn phòng công chứng khác về việc tiếp nhận hồ sơ công chứng; nếu không thỏa thuận được hoặc Văn phòng công chứng chấm dứt hoạt động do toàn bộ công chứng viên hợp danh chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì Sở Tư pháp chỉ định một Phòng công chứng hoặc một Văn phòng công chứng khác tiếp nhận hồ sơ công chứng (Quốc hội, 2014)
- Phí công chứng và thù lao công chứng
+ Phí công chứng bao gồm phí công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch, phí lưu giữ di chúc, phí cấp bản sao văn bản công chứng; Người yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch, lưu giữ di chúc, cấp bản sao văn bản công chứng phải nộp phí công chứng; Mức thu, chế độ thu, nộp, sử dụng và quản lý phí công chứng được thực hiện theo quy định của pháp luật (Quốc hội, 2014) + Người yêu cầu công chứng phải trả thù lao khi yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng thực hiện việc soạn thảo hợp đồng, giao dịch, đánh máy, sao chụp, dịch giấy tờ, văn bản và các việc khác liên quan đến việc công chứng; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành mức trần thù lao công chứng áp dụng đối với các tổ chức hành nghề công chứng tại địa phương Tổ chức hành nghề công chứng xác định mức thù lao đối với từng loại việc không vượt quá mức trần thù lao công chứng do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành và niêm yết công khai các mức thù lao tại trụ sở của mình Tổ chức hành nghề công chứng thu thù lao cao hơn mức trần thù lao và mức thù lao đã niêm yết thì bị xử lý theo quy định của pháp luật; Tổ chức
Trang 21hành nghề công chứng có trách nhiệm giải thích rõ cho người yêu cầu công chứng
về thù lao công chứng (Quốc hội, 2014)
+ Trường hợp người yêu cầu công chứng đề nghị xác minh, giám định hoặc thực hiện công chứng ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng thì người yêu cầu công chứng phải trả chi phí để thực hiện việc đó; Mức chi phí do người yêu cầu công chứng và tổ chức hành nghề công chứng thỏa thuận Tổ chức hành nghề công chứng không được thu chi phí cao hơn mức chi phí đã thỏa thuận; Tổ chức hành nghề công chứng phải niêm yết rõ nguyên tắc tính chi phí khác và có trách nhiệm giải thích rõ cho người yêu cầu công chứng về các chi phí cụ thể đó (Quốc hội, 2014)
2.1.1.2 Mục tiêu
- Xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế công chứng nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển hệ thống công chứng tỉnh Hải Dương đóng góp vào phát triển chung hệ thống công chứng toàn quốc (Chính phủ, 2011)
- Tạo môi trường công chứng bình đẳng, thông thoáng, thuận lợi, minh bạch nhằm giảm thiểu chi phí về thời gian và kinh phí của các doanh nghiệp, cá nhân đến công chứng (Chính phủ, 2011)
- Xây dựng hệ thống các tổ chức hành nghề công chứng thông suốt, trong sạch, vững mạnh, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, tăng tính dân chủ và pháp quyền trong hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng (Chính phủ, 2011)
- Bảo đảm thực hiện trên thực tế quyền dân chủ của các cá nhân, tổ chức đến công chứng (Chính phủ, 2011)
- Xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức làm việc trong các tổ chức hành nghề công chứng có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước (Chính phủ, 2011)
Trang 22các tổ chức hành nghề công chứng, bảo đảm điều kiện cho nền kinh tế của đất nước phát triển nhanh, bền vững (Chính phủ, 2011)
- Cải cách thủ tục công chứng giữa các tổ chức hành nghề công chứng và giữa các tổ chức hành nghề công chứng với các tổ chức có liên quan và trong nội
- Đặt yêu cầu cải cách thủ tục công chứng ngay trong quá trình xây dựng thể chế, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tăng cường đối thoại giữa các tổ chức hành nghề công chứng với doanh nghiệp và cá nhân (khách hàng công chứng);
Mở rộng dân chủ, phát huy vai trò của các tổ chức và chuyên gia tư vấn độc lập trong việc xây dựng thể chế, chuẩn mực quốc gia về thủ tục công chứng; giảm mạnh các thủ tục con trong thủ tục công chứng hiện hành; Công khai các chuẩn mực, các quy định công chứng để tổ chức, cá nhân giám sát việc thực hiện (Chính phủ, 2011)
- Tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về các quy định công chứng để hỗ trợ việc nâng cao chất lượng các quy định công chứng và giám sát việc thực hiện thủ tục công chứng của các tổ chức hành nghề công chứng (Chính phủ, 2011)
2.1.2 Thủ tục công chứng hợp đồng, giao dịch
2.1.2.1 Thủ tục chung về công chứng
- Công chứng hợp đồng, giao dịch đã được soạn thảo sẵn: Hồ sơ yêu cầu
công chứng được lập thành một bộ, gồm các giấy tờ sau đây: Phiếu yêu cầu công chứng, trong đó có thông tin về họ tên, địa chỉ người yêu cầu công chứng, nội dung cần công chứng, danh mục giấy tờ gửi kèm theo; tên tổ chức hành nghề
Trang 23công chứng, họ tên người tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng, thời điểm tiếp nhận hồ sơ; Dự thảo hợp đồng, giao dịch; Bản sao giấy tờ tùy thân của người yêu cầu công chứng; Bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc bản sao giấy tờ thay thế được pháp luật quy định đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng trong trường hợp hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản đó; Bản sao giấy tờ khác có liên quan đến hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định phải có (Quốc hội, 2014)
Quốc hội (2014) nêu rõ “Bản sao quy định tại hồ sơ yêu cầu công chứng là bản chụp, bản in hoặc bản đánh máy có nội dung đầy đủ, chính xác như bản chính và không phải chứng thực”
Quốc hội (2014) nêu rõ “Công chứng viên kiểm tra giấy tờ trong hồ sơ yêu cầu công chứng Trường hợp hồ sơ yêu cầu công chứng đầy đủ, phù hợp với quy định của pháp luật thì thụ lý và ghi vào sổ công chứng”
Quốc hội (2014) nêu rõ “Công chứng viên hướng dẫn người yêu cầu công chứng tuân thủ đúng các quy định về thủ tục công chứng và các quy định pháp luật có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng, giao dịch; giải thích cho người yêu cầu công chứng hiểu rõ quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của họ, ý nghĩa
và hậu quả pháp lý của việc tham gia hợp đồng, giao dịch”
Quốc hội (2014) nêu rõ “Trong trường hợp có căn cứ cho rằng trong hồ sơ yêu cầu công chứng có vấn đề chưa rõ, việc giao kết hợp đồng, giao dịch có dấu hiệu bị đe dọa, cưỡng ép, có sự nghi ngờ về năng lực hành vi dân sự của người yêu cầu công chứng hoặc đối tượng của hợp đồng, giao dịch chưa được mô tả
cụ thể thì công chứng viên đề nghị người yêu cầu công chứng làm rõ hoặc theo
đề nghị của người yêu cầu công chứng, công chứng viên tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định; trường hợp không làm rõ được thì có quyền từ chối công chứng”
Quốc hội (2014) nêu rõ “Công chứng viên kiểm tra dự thảo hợp đồng, giao dịch; nếu trong dự thảo hợp đồng, giao dịch có điều khoản vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội, đối tượng của hợp đồng, giao dịch không phù hợp với quy định của pháp luật thì công chứng viên phải chỉ rõ cho người yêu cầu công chứng để
Trang 24sửa chữa Trường hợp người yêu cầu công chứng không sửa chữa thì công chứng viên có quyền từ chối công chứng”
Quốc hội (2014) nêu rõ “Người yêu cầu công chứng tự đọc lại dự thảo hợp đồng, giao dịch hoặc công chứng viên đọc cho người yêu cầu công chứng nghe theo đề nghị của người yêu cầu công chứng”
Người yêu cầu công chứng đồng ý toàn bộ nội dung trong dự thảo hợp đồng, giao dịch thì ký vào từng trang của hợp đồng, giao dịch Công chứng viên yêu cầu người yêu cầu công chứng xuất trình bản chính của các giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 40 Luật Công chứng để đối chiếu trước khi ghi lời chứng, ký vào từng trang của hợp đồng, giao dịch (Quốc hội, 2014)
- Công chứng hợp đồng, giao dịch do công chứng viên soạn thảo theo đề nghị của người yêu cầu công chứng
Người yêu cầu công chứng nộp một bộ hồ sơ theo quy định công chứng hợp đồng, giao dịch đã được soạn thảo sẵn nêu trên và nêu nội dung, ý định giao kết hợp đồng, giao dịch (Quốc hội, 2014)
Công chứng viên thực hiện các việc như quy định như công chứng hợp đồng, giao dịch đã được soạn thảo sẵn nêu trên; Trường hợp nội dung, ý định giao kết hợp đồng, giao dịch là xác thực, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội thì công chứng viên soạn thảo hợp đồng, giao dịch (Quốc hội, 2014)
Quốc hội (2014) nêu rõ “Người yêu cầu công chứng tự đọc dự thảo hợp đồng, giao dịch hoặc công chứng viên đọc cho người yêu cầu công chứng nghe Trường hợp người yêu cầu công chứng đồng ý toàn bộ nội dung trong dự thảo hợp đồng, giao dịch thì ký vào từng trang của hợp đồng, giao dịch Công chứng viên yêu cầu người yêu cầu công chứng xuất trình bản chính của các giấy tờ quy định như công chứng hợp đồng, giao dịch đã được soạn thảo sẵn nêu trên để đối chiếu trước khi ghi lời chứng, ký vào từng trang của hợp đồng, giao dịch”
- Phạm vi công chứng hợp đồng, giao dịch về bất động sản: Quốc hội (2014)
nêu rõ “Công chứng viên của tổ chức hành, nghề công chứng chỉ được công chứng hợp đồng, giao dịch về bất động sản trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở, trừ trường hợp công chứng di
Trang 25chúc, văn bản từ chối nhận di sản là bất động sản và văn bản ủy quyền liên quan đến việc thực hiện các quyền đối với bất động sản”
- Thời hạn công chứng
Quốc hội (2014) nêu rõ “Thời hạn công chứng được xác định kể từ ngày thụ lý hồ sơ yêu cầu công chứng đến ngày trả kết quả công chứng Thời gian xác minh, giám định nội dung liên quan đến hợp đồng, giao dịch, niêm yết việc thụ lý công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận di sản, dịch giấy tờ, văn bản không tính vào thời hạn công chứng”
Quốc hội (2014) nêu rõ “Thời hạn công chứng không quá 02 ngày làm việc; đối với hợp đồng, giao dịch có nội dung phức tạp thì thời hạn công chứng có thể kéo dài hơn nhưng không quá 10 ngày làm việc”
- Địa điểm công chứng: Việc công chứng phải được thực hiện tại trụ sở của
tổ chức hành nghề công chứng, trừ các trường hợp việc công chứng có thể được thực hiện ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng trong trường hợp người yêu cầu công chứng là người già yếu, không thể đi lại được, người đang bị tạm giữ, tạm giam, đang thi hành án phạt tù hoặc có lý do chính đáng khác không thể đến trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng (Quốc hội, 2014)
- Chữ viết trong văn bản công chứng: Chữ viết trong văn bản công chứng
phải rõ ràng, dễ đọc, không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, không được viết xen dòng, viết đè dòng, không được tẩy xoá, không được để trống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; Thời điểm công chứng phải được ghi cả ngày, tháng, năm; có thể ghi giờ, phút nếu người yêu cầu công chứng đề nghị hoặc công chứng viên thấy cần thiết Các con số phải được ghi cả bằng số và chữ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (Quốc hội, 2014)
- Lời chứng của công chứng viên: Quốc hội (2014) nêu rõ “Lời chứng của
công chứng viên đối với hợp đồng, giao dịch phải ghi rõ thời điểm, địa điểm công chứng, họ, tên công chứng viên, tên tổ chức hành nghề công chứng; chứng nhận người tham gia hợp đồng, giao dịch hoàn toàn tự nguyện, có năng lực hành
vi dân sự, mục đích, nội dung của hợp đồng, giao dịch không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ trong hợp đồng, giao dịch
Trang 26đúng là chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của người tham gia hợp đồng, giao dịch; trách nhiệm của công chứng viên đối với lời chứng; có chữ ký của công chứng viên và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng”
- Người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch
Người yêu cầu công chứng là cá nhân phải có năng lực hành vi dân sự; Trường hợp người yêu cầu công chứng là tổ chức thì việc yêu cầu công chứng được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo
ủy quyền của tổ chức đó; Người yêu cầu công chứng phải xuất trình đủ giấy tờ cần thiết liên quan đến việc công chứng và chịu trách nhiệm về tính chính xác, tính hợp pháp của các giấy tờ đó (Quốc hội, 2014)
Trường hợp người yêu cầu công chứng không đọc được, không nghe được, không ký, điểm chỉ được hoặc trong những trường hợp khác do pháp luật quy định thì việc công chứng phải có người làm chứng; Người làm chứng phải là người từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và không có quyền, lợi ích hoặc nghĩa vụ liên quan đến việc công chứng; Người làm chứng do người yêu cầu công chứng mời, nếu người yêu cầu công chứng không mời được thì công chứng viên chỉ định; Trường hợp người yêu cầu công chứng không thông thạo tiếng Việt thì họ phải có người phiên dịch (Quốc hội, 2014)
Người phiên dịch phải là người từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân
sự đầy đủ, thông thạo tiếng Việt và ngôn ngữ mà người yêu cầu công chứng sử dụng; Người phiên dịch do người yêu cầu công chứng mời và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc phiên dịch của mình (Quốc hội, 2014)
- Ký, điểm chỉ trong văn bản công chứng: Người yêu cầu công chứng,
người làm chứng, người phiên dịch phải ký vào hợp đồng, giao dịch trước mặt công chứng viên; Trong trường hợp người có thẩm quyền giao kết hợp đồng của
tổ chức tín dụng, doanh nghiệp khác đã đăng ký chữ ký mẫu tại tổ chức hành nghề công chứng thì người đó có thể ký trước vào hợp đồng; công chứng viên phải đối chiếu chữ ký của họ trong hợp đồng với chữ ký mẫu trước khi thực hiện việc công chứng; Việc điểm chỉ được thay thế việc ký trong trường hợp người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch không ký được do
Trang 27khuyết tật hoặc không biết ký Khi điểm chỉ, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch sử dụng ngón trỏ phải; nếu không điểm chỉ được bằng ngón trỏ phải thì điểm chỉ bằng ngón trỏ trái; trường hợp không thể điểm chỉ bằng hai ngón trỏ đó thì điểm chỉ bằng ngón khác và phải ghi rõ việc điểm chỉ đó bằng ngón nào, của bàn tay nào; Việc điểm chỉ cũng có thể thực hiện đồng thời với việc ký trong các trường hợp sau đây: (Công chứng di chúc; Theo đề nghị của người yêu cầu công chứng; Công chứng viên thấy cần thiết để bảo vệ quyền lợi cho người yêu cầu công chứng) (Quốc hội, 2014)
- Việc ghi trang, tờ trong văn bản công chứng: Quốc hội (2014) nêu rõ “Văn
bản công chứng có từ hai trang trở lên thì từng trang phải được đánh số thứ tự Văn bản công chứng có từ hai tờ trở lên phải được đóng dấu giáp lai giữa các tờ”
- Sửa lỗi kỹ thuật trong văn bản công chứng: Lỗi kỹ thuật là lỗi do sai sót
trong khi ghi chép, đánh máy, in ấn trong văn bản công chứng mà việc sửa lỗi đó không làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của người tham gia hợp đồng, giao dịch; Việc sửa lỗi kỹ thuật trong văn bản công chứng được thực hiện tại tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng đó Trường hợp tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng chấm dứt hoạt động, chuyển đổi, chuyển nhượng hoặc giải thể thì tổ chức hành nghề công chứng đang lưu trữ
hồ sơ công chứng thực hiện việc sửa lỗi kỹ thuật; Công chứng viên thực hiện việc sửa lỗi kỹ thuật có trách nhiệm đối chiếu từng lỗi cần sửa với các giấy tờ trong hồ sơ công chứng, gạch chân chỗ cần sửa, sau đó ghi chữ, dấu hoặc con số
đã được sửa vào bên lề kèm theo chữ ký của mình và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng Công chứng viên có trách nhiệm thông báo việc sửa lỗi kỹ thuật đó cho người tham gia hợp đồng, giao dịch (Quốc hội, 2014)
- Công chứng việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch: Việc công
chứng sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng chỉ được thực hiện khi có sự thỏa thuận, cam kết bằng văn bản của tất cả những người đã tham gia hợp đồng, giao dịch đó; Việc công chứng sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng được thực hiện tại tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng đó và do công chứng viên tiến
Trang 28hành Trường hợp tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng chấm dứt hoạt động, chuyển đổi, chuyển nhượng hoặc giải thể thì công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng đang lưu trữ hồ sơ công chứng thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch; Thủ tục công chứng việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng được thực hiện như thủ tục công chứng hợp đồng, giao dịch bình thường (Quốc hội, 2014)
- Người có quyền đề nghị Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu:
Quốc hội (2014) nêu rõ “Công chứng viên, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền đề nghị Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu khi có căn cứ cho rằng việc công chứng có vi phạm pháp luật”
2.1.2.2 Thủ tục công chứng một số hợp đồng, giao dịch, nhận lưu giữ di chúc
- Công chứng hợp đồng thế chấp bất động sản
+ Quốc hội (2014) nêu rõ “Việc công chứng hợp đồng thế chấp bất động sản phải được thực hiện tại tổ chức hành nghề công chứng có trụ sở tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có bất động sản”
+ Quốc hội (2014) nêu rõ “Trường hợp một bất động sản đã được thế chấp
để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ và hợp đồng thế chấp đã được công chứng
mà sau đó được tiếp tục thế chấp để bảo đảm cho một nghĩa vụ khác trong phạm
vi pháp luật cho phép thì các hợp đồng thế chấp tiếp theo phải được công chứng tại tổ chức hành nghề công chứng đã công chứng hợp đồng thế chấp lần đầu Trường hợp tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng chấm dứt hoạt động, chuyển đổi, chuyển nhượng hoặc giải thể thì công chứng viên của
tổ chức hành nghề công chứng đang lưu trữ hồ sơ công chứng hợp đồng thế chấp tiếp theo đó”
- Công chứng hợp đồng ủy quyền
+ Quốc hội (2014) nêu rõ “Khi công chứng các hợp đồng ủy quyền, công chứng viên có trách nhiệm kiểm tra kỹ hồ sơ, giải thích rõ quyền và nghĩa vụ của các bên và hậu quả pháp lý của việc ủy quyền đó cho các bên tham gia”
Trang 29+ Quốc hội (2014) nêu rõ “Trong trường hợp bên ủy quyền và bên được ủy quyền không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng thì bên ủy quyền yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng nơi họ cư trú công chứng hợp đồng ủy quyền; bên được ủy quyền yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng nơi họ cư trú công chứng tiếp vào bản gốc hợp đồng ủy quyền này, hoàn tất thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền”
- Công chứng di chúc
+ Quốc hội (2014) nêu rõ “Người lập di chúc phải tự mình yêu cầu công chứng di chúc, không ủy quyền cho người khác yêu cầu công chứng di chúc” + Trường hợp công chứng viên nghi ngờ người lập di chúc bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình hoặc có căn cứ cho rằng việc lập di chúc có dấu hiệu bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng
ép thì công chứng viên đề nghị người lập di chúc làm rõ, trường hợp không làm rõ được thì có quyền từ chối công chứng di chúc đó; Trường hợp tính mạng người lập
di chúc bị đe dọa thì người yêu cầu công chứng không phải xuất trình đầy đủ giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật Công chứng nhưng phải ghi rõ trong văn bản công chứng (Quốc hội, 2014)
+ Quốc hội (2014) nêu rõ “Di chúc đã được công chứng nhưng sau đó người lập di chúc muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ
di chúc thì có thể yêu cầu bất kỳ công chứng viên nào công chứng việc sửa đổi,
bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ đó Trường hợp di chúc trước đó đang được lưu giữ tại một tổ chức hành nghề công chứng thì người lập di chúc phải thông báo cho tổ chức hành nghề công chứng đang lưu giữ di chúc biết việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đó”
- Công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản
+ Những người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc mà trong di chúc không xác định rõ phần di sản được hưởng của từng người thì có quyền yêu cầu công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản; Trong văn bản thỏa thuận phân chia di sản, người được hưởng di sản có thể tặng cho toàn bộ hoặc một phần di sản
mà mình được hưởng cho người thừa kế khác (Quốc hội, 2014)
Trang 30+ Trường hợp di sản là quyền sử dụng đất hoặc tài sản pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong hồ sơ yêu cầu công chứng phải có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản của người để lại di sản đó; Trường hợp thừa kế theo pháp luật, thì trong hồ sơ yêu cầu công chứng phải có giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người được hưởng di sản theo quy định của pháp luật về thừa kế Trường hợp thừa kế theo di chúc, trong
hồ sơ yêu cầu công chứng phải có bản sao di chúc (Quốc hội, 2014)
+ Công chứng viên phải kiểm tra để xác định người để lại di sản đúng là người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản và những người yêu cầu công chứng đúng là người được hưởng di sản; nếu thấy chưa rõ hoặc có căn cứ cho rằng việc để lại di sản và hưởng di sản là không đúng pháp luật thì từ chối yêu cầu công chứng hoặc theo đề nghị của người yêu cầu công chứng, công chứng viên tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định; Tổ chức hành nghề công chứng có trách nhiệm niêm yết việc thụ lý công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản trước khi thực hiện việc công chứng (Quốc hội, 2014)
+ Quốc hội (2014) nêu rõ “Văn bản thỏa thuận phân chia di sản đã được công chứng là một trong các căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký việc chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản cho người được hưởng di sản”
- Công chứng văn bản khai nhận di sản: Quốc hội (2014) nêu rõ “Người
duy nhất được hưởng di sản theo pháp luật hoặc những người cùng được hưởng
di sản theo pháp luật nhưng thỏa thuận không phân chia di sản đó có quyền yêu cầu công chứng văn bản khai nhận di sản”
- Công chứng văn bản từ chối nhận di sản: Quốc hội (2014) nêu rõ “Người
thừa kế có thể yêu cầu công chứng văn bản từ chối nhận di sản Khi yêu cầu công chứng văn bản từ chối nhận di sản, người yêu cầu công chứng phải xuất trình bản sao di chúc trong trường hợp thừa kế theo di chúc hoặc giấy tờ chứng minh quan
hệ giữa người để lại di sản và người yêu cầu công chứng theo pháp luật về thừa kế; giấy chứng tử hoặc giấy tờ khác chứng minh người để lại di sản đã chết”
- Nhận lưu giữ di chúc: Người lập di chúc có thể yêu cầu tổ chức hành nghề
công chứng nhận lưu giữ di chúc của mình Khi nhận lưu giữ di chúc, công
Trang 31chứng viên phải niêm phong bản di chúc trước mặt người lập di chúc, ghi giấy nhận lưu giữ và giao cho người lập di chúc; Đối với di chúc đã được tổ chức hành nghề công chứng nhận lưu giữ nhưng sau đó tổ chức này chấm dứt hoạt động, chuyển đổi, chuyển nhượng hoặc giải thể thì trước khi chấm dứt hoạt động, chuyển đổi, chuyển nhượng hoặc giải thể, tổ chức hành nghề công chứng phải thỏa thuận với người lập di chúc về việc chuyển cho tổ chức hành nghề công chứng khác lưu giữ di chúc Trường hợp không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được thì di chúc và phí lưu giữ di chúc phải được trả lại cho người lập di chúc; Việc công
bố di chúc lưu giữ tại tổ chức hành nghề công chứng được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự (Quốc hội, 2014)
2.1.2.3 Một số văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến cải cách thủ tục công chứng
- Luật Công chứng năm 2006 quy định về công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng, việc hành nghề công chứng, thủ tục công chứng và quản lý nhà
nước về công chứng (Quốc hội, 2006)
- Luật Công chứng năm 2014 quy định về phạm vi công chứng, công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng, thủ tục công chứng và quản lý nhà nước về công chứng (Quốc hội, 2014)
- Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng 2014 (Chính phủ, 2015)
- Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng 2006 về công chứng viên, tổ chức và hoạt động công chứng và quản
lý nhà nước về công chứng (Chính phủ, 2013)
- Thông tư hướng dẫn thực hiện một số nội dung về công chứng viên, tổ chức
và hoạt động công chứng, quản lý nhà nước về công chứng (Bộ Tư pháp, 2011)
- Thông tư liên tịch hướng dẫn mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử
dụng phí công chứng (Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, 2012)
- Nghị định về bán đấu giá tài sản quy định về nguyên tắc, trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản; đấu giá viên; tổ chức bán đấu giá tài sản và quản lý nhà nước đối với hoạt động bán đấu giá tài sản (Chính phủ, 2010)
Trang 32- Nghị định quy định trình tự, thủ tục đăng ký cung cấp thông tin về giao dịch bằng tài sản (sau đây gọi chung là đăng ký giao dịch bảo đảm); tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm và quản lý nhà
nước về đăng ký giao dịch bảo đảm (Chính phủ, 2010)
- Nghị quyết ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020 (Chính phủ, 2011)
- Nghị định về tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về
quy định hành chính (Chính phủ, 2008)
- Nghị quyết về việc đơn giản hóa 258 thủ tục hành chính thuộc phạm vi
chức năng quản lý của bộ, ngành (Chính phủ, 2010)
- Nghị quyết về việc đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp (Chính phủ, 2010)
- Kế hoạch Thực hiện cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2015 (Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương, 2010)
- Hướng dẫn triển khai Phương pháp đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (Bộ Nội vụ, 2014)
- Các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan do các cơ quan có thẩm quyền ban hành
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến cải cách thủ tục công chứng
- Môi trường vật chất và môi trường kinh tế: việc gia tăng dân số và cạn kiệt về tài nguyên, ô nhiễm môi trường, sự khan hiếm về nguồn lực làm cho sự cạnh tranh giữa các vùng, các quốc gia, các công ty nói chung và với các tổ chức hành nghề công chứng nói riêng, thậm trí các cá nhân với nhau ngày càng trở nên khốc liệt hơn Sự tăng trưởng kinh tế và tốc độ lạm phát đều có ảnh hưởng đến thu nhập và các giao dịch dân sự qua đó ảnh hưởng đến thủ tục công chứng của các tổ chức hành nghề công chứng
- Môi trường công nghệ - kỹ thuật, thông tin: Kỹ thuật hiện đại và công nghệ sản xuất mới đòi hỏi công chứng viên và nhân viên của các tổ chức hành nghề công chứng phải được trang bị những kiến thức và kỹ năng mới Thêm vào
đó, phải có đào tạo lại, bồi dưỡng, nâng cao trình độ và giải quyết những người
Trang 33dôi ra Khoa học kỹ thuật hiện đại đã làm cho môi trường thông tin ngày càng phát triển và thông tin trở thành một nguồn lực mang tính chất sống còn đối với
tổ chức, trong đó có các tổ chức hành nghề công chứng
- Môi trường chính trị: Các tổ chức hành nghề công chứng sẽ ngày càng
có tác động mạnh mẽ hơn tới môi trường chính trị thông qua các văn bản công chứng do họ tạo ra đối với xã hội Ngược lại môi trường chính trị có ảnh hưởng mạnh mẽ như là sự ổn định các chính sách kinh tế., thông qua việc ban hành pháp luật về công chứng
- Môi trường văn hoá - xã hội: Xã hội phân chia thành nhiều nhóm quyền lợi giữa các tổ chức hành nghề công chứng hay giữa nội bộ của tổ chức hành nghề công chứng và các nhóm này sẽ quan tâm đến những sản phẩm mang tính kinh tế như là lợi nhuận… làm ảnh hưởng đến quá trình thực hiện thủ tục công chứng
Thêm vào đó là lối sống, nhu cầu, cách nhìn nhận về giá trị con người cũng thay đổi Những thay đổi này có ảnh hưởng đến cách tư duy và các chính sách và quản lý nhà nước đối với lĩnh vực công chứng
2.2 Cơ sở thực tiễn cải cách thủ tục công chứng
2.2.1 Thực trạng cải cách thủ tục công chứng thế giới
Công chứng thế giới đã trải qua 03 mô hình: Mô hình công chứng La tinh tương ứng với hệ thống luật La Mã - còn gọi là mô hình pháp luật dân sự (Civil Law); Mô hình công chứng Anglo-Saxon tương ứng với hệ thống pháp luật Anglo-Saxon (Common Law); Mô hình công chứng tập thể (Collectiviste) tương ứng với
hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa (Sovietique) (Lê Thị Phương Hoa, 2005)
- Mô hình công chứng La tinh gồm có công chứng của các nước, ở châu
Âu, châu Mỹ, châu Phi và châu Á Công chứng viên thực hiện tại đất nước mình các chức năng giống như các công chứng viên của Pháp; quy chế, các công chứng viên có quy chế tương đối khác nhau tùy theo từng nước; hầu hết, đó là những người hành nghề tự do, họ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm và không được chuyển nhượng hay để thừa kế văn phòng của mình; để được làm nghề này cần phải theo học luật từ 3 đến 5 năm bằng cao học luật hoặc bằng cấp tương đương, ở Italia phải có bằng tiến sỹ; Tùy từng quốc gia, công
Trang 34chứng viên có vai trò khác nhau từng lĩnh vực: ở Tây Ban Nha, công chứng viên
là các luật gia có trình độ rất cao, thường là giảng viên ở trường đại học Ở một
số nước, công chứng viên có những hoạt động quan trọng bên ngoài lĩnh vực mà pháp luật quy định bắt buộc phải công chứng Ở Pháp và Bỉ, công chứng viên thực hiện giám định và môi giới về bất động sản Các công chứng viên ở Hà Lan
có vai trò quan trọng là tư vấn cho doanh nghiệp Trong những lĩnh vực không phải là độc quyền của mình, các công chứng viên phải cạnh tranh với các luật sư (Lê Thị Phương Hoa, 2005)
+ Ưu điểm: Công chứng viên được coi như công chức, sử dụng con dấu
mang hình quốc huy; Được tự chủ về tài chính và huy động nguồn vốn cá nhân
để phát triển Phòng Công chứng, được mua bảo hiểm nghề nghiệp; Phí công chứng do Nhà nước quy định bình đẳng cho mọi công dân; Văn bản công chứng
có giá trị chứng cứ, giá trị cưỡng chế thi hành, là chứng cứ viết được lưu giữ lâu dài, bảo đảm phòng ngừa tranh chấp vi phạm pháp luật; Công chứng viên phải soạn thảo hợp đồng và kiểm tra về thông tin khách hàng, tình trạng pháp lý của tài sản; Người yêu cầu công chứng luôn được bảo vệ lợi ích, bảo đảm an toàn về mặt pháp lý; Công chứng viên phải tìm hiểu ý chí đích thực của các bên tham gia
giao dịch để tránh xảy ra tranh chấp (Lê Thị Phương Hoa, 2005)
+ Nhược điểm: Quy định nặng tính hình thức, dẫn đến kéo dài thời gian
công chứng; Khả năng ứng biến với tình hướng cụ thể không cao, dễ làm mất đi
cơ hội của NYCCC (Lê Thị Phương Hoa, 2005)
- Mô hình công chứng Anglo-saxon: Thể chế công chứng ở các nước Anglo-sacxon không được thừa nhận, không bổ nhiệm công chứng viên chuyên nghiệp, được trao một số quyền thay mặt Nhà nước xác thực cho các hợp đồng, văn bản; chức năng công chứng được giao cho luật sư, hộ tịch viên hoặc cố vấn pháp lý của nhà thờ thực hiện theo phương thức kiệm nhiệm; nhân viên ngoại giao cũng được giao thực hiện một số việc công chứng ở nước ngoài như các nước Anh, các nước trong Liên hiệp Anh; Hoa Kỳ (trừ bang Louisane), Đan Mạch, Canada (trừ Bang Quebec), Ấn Độ, Hàn Quốc, Singapor, Thái Lan, Đài Loan Khi tiến hành công chứng, người tiến hành công chứng nhận diện đúng
Trang 35khách hàng, xác định đúng thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, ghi lại sự kiện pháp lý hoặc thoả thuận của các bên hoặc ý chí của người yêu cầu công chứng, không quan tâm đến việc xác định tình trạng pháp lý của đối tượng hợp đồng, không cần biết thoả thuận có trái pháp luật, đạo đức xã hội hay không, không chịu trách nhiệm nếu có điều khoản nào đó trong hợp đồng bất lợi cho một bên hoặc gây thiệt hại cho người thứ ba (chỉ chú trọng tính xác thực về mặt hình thức); NYCCC được trợ giúp bởi cố vấn của mình, không quan tâm đến thiệt hại của đối phương, do vậy mang lại sự an toàn pháp lý thấp, dễ xảy ra tranh chấp Các nước có hệ công chứng Anglo-saxon đang cải cách theo hướng khuôn mẫu công chứng La tinh (Lê Thị Hoài Ân, 2011)
+ Ưu điểm: Cơ chế thực dụng, rất mềm dẻo, dễ thích ứng với các hoàn cảnh
cụ thể của từng hợp đồng, giao dịch; Có trình tự thủ tục đơn giản, thời gian công chứng nhanh Người yêu cầu công chứng, nhất là các doanh nhân có nhiêu cơ hội kinh doanh kịp thời hơn; Tính năng động, khả năng độc lập được các bên tham gia giao dịch tự quyết, chủ động (Lê Thị Hoài Ân, 2011)
+ Nhược điểm: Nhà nước không có vai trò nổi bất trong quản lý các hoạt
động công chứng, không có chế độ kiểm tra chặt chẽ đối với các hoạt động công chứng, cũng không quy định mức lệ phí mà khách hàng phải trả cho những người kiêm chức năng công chứng viên, người tiến hành thủ tục công chứng có quyền
tự do thỏa thuận với khách hàng về mức thù lao áp dụng cho mỗi vụ việc công chứng; Dịch vụ công chứng như một sản phẩm của thị trường, không tạo ra môi trường bình đẳng dịch vụ công chứng giữa người có nhiều tiền và người có ít tiền; Giá trị của văn bản công chứng không cao, không đạt được sức mạnh cưỡng chế như văn bản của cơ quan Nhà nước; Người tiến hành công chứng ít khi phải chịu trách nhiệm vật chất; Tranh chấp thường xảy ra, phí tổn cho xã hội qua đó bị tăng cao để giải quyết khiếu kiện (Lê Thị Hoài Ân, 2011)
- Mô hình công chứng Collectiviste: Trường phái công chứng này phát triển mạnh vào các năm 70 của Thế kỷ XX đến trước những năm 1990 ở Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, các nước xã hội chủ nghĩa Cuba, Trung Quốc, Việt Nam Ở hình thức công chứng này công chứng viên là công chức nhà
Trang 36nước; việc công chứng được giao cho cả các công chức không phải là công chứng viên đảm nhiệm; công chứng viên không có chứng chỉ hành nghề, không phải chịu trách nhiệm dân sự trước khách hàng, chỉ phải chịu trách nhiệm hành chính trước Nhà nước về những sai phạm trong hoạt động của mình Đến nay hình thức công chứng này đã lỗi thời nhưng nước ta vẫn bị ảnh hưởng bởi mô hình này tính cho đến nay (Ủy ban thường vụ Quốc hội-Viện nghiên cứu lập pháp, 2013)
2.2.2 Thực trạng cải cách thủ tục công chứng tại Việt Nam
- Trần Xuân Tấn, (2013) nêu rõ “Hoạt động công chứng ở nước ta xuất hiện
từ rất sớm Từ năm 1858 đến 1954, đã tồn tại thể chế công chứng Pháp tại Đông Dương, trong đó có Việt Nam Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công và thiết lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa năm 1945, bằng việc Hồ Chủ tịch ban hành Sắc lệnh số 59/SL ngày 15/11/1945 về việc ấn định thể lệ thị thực các giấy
tờ và Sắc lệnh số 85/SL ngày 29/02/1952 quy định thể lệ trước bạ về việc mua, bán, cho, đổi nhà cửa, ruộng đất đã chính thức đặt nền móng cho hoạt động công chứng, chứng thực ở nước ta Sau năm 1954 ở Miền Nam, chính quyền Sài Gòn vẫn còn duy trì mô hình công chứng của Pháp tại Việt Nam và tổ chức lại từ 3 Phòng công chứng cũ của người Pháp thành một Phòng Công chứng và bổ nhiệm các công chứng viên là người Việt Nam thay các công chứng viên là người Pháp Phòng Công chứng được đặt dưới sự quản lý của Bộ Tư pháp Phòng Công chứng này hoạt động cho đến trước ngày miền Nam được giải phóng (30/4/1975) Ngay từ khi thành lập nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngày 15/11/1945, Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã ban hành Sắc lệnh số 59/SL về việc ấn định thể lệ thị thực các giấy tờ”
- Tuấn Đạo Thanh, (2011) nêu rõ “Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp hướng dẫn công tác công chứng nhà nước là văn bản pháp lý đầu tiên đặt nền móng cho chế định công chứng hiện đại của nước ta Sau một thời gian đúc rút kinh nghiệm từ những địa phương đã tiến hành thành lập phòng công chứng nhà nước, chúng ta đã quyết định xây dựng mạng lưới các phòng công chứng nhà nước trong phạm vi toàn quốc và đánh dấu cho sự kiện
Trang 37này chính là việc Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/02/1991, quy định về tổ chức và hoạt động của công chứng nhà nước, đặt nền móng pháp lý cho việc hoàn thiện hệ thống phòng công chứng nhà nước rộng khắp trên phạm vi toàn quốc Tiếp đó, Chính phủ đã lần lượt ban hành Nghị định
số 31/CP ngày 18/05/1996 về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước; Nghị định số 75/2000/NĐ-CP về công chứng, chứng thực để điều chỉnh lĩnh vực bổ trợ
tư pháp này”
- Luật Công chứng 2006 có hiệu lực từ ngày 01/7/2007 đến thời điểm hiện nay đã bị thay thế bởi Luật Công chứng 2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 đã tạo ra khung pháp lý quan trọng cho hoạt động công chứng, bảo đảm an toàn cho
các giao dịch, hợp đông Tính đến năm 2013 sau hơn 6 năm thi hành Luật Công
chứng 2006, thực hiện chính sách chủ trương xã hội hóa công chứng được quy định trong Luật Công chứng đã có 63/63 tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương thành lập phòng công chứng, 61/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có văn phòng công chứng Số tổ chức hành nghề công chứng trong cả nước tăng từ 84 lên 704 tổ chức hành nghề công chứng (tăng hơn 8 lần) Số lượng công chứng viên tăng từ 393 lên 1.327 người (tăng 3,4 lần) Không chỉ tăng nhanh về số lượng tổ chức hành nghề công chứng và số lượng công chứng viên, chất lượng và tính chuyên nghiệp trong hoạt động hành nghề công chứng cũng từng bước được nâng cao Sau 6 năm thi hành Luật công chứng, các tổ chức hành nghề công chứng trên cả nước đã công chứng được gần 7 triệu việc, với doanh thu gần 2.780 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước gần 1.000 tỷ đồng Với những kết quả đã đạt được, hoạt động công chứng trong thời gian qua đã đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đảm bảo tính an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch, đáp ứng nhu cầu của nhân dân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi và tin cậy cho các hoạt động đầu tư kinh doanh, thương mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần quan trọng vào tiến trình cải cách hành chính và cải cách tư pháp (Bộ Tư pháp, 2013)
Trang 38Tốc độ phát triển các tổ chức hành nghề công chứng trên toàn quốc nhanh, (Xem biểu đồ 2.1)
0 200 400 600 800
năm 2007 là 84 TCHNCC
năm 2013 là 704 TCHNCC
84
704
Số TCHNCC toàn quốc
Nguồn: Bộ Tư pháp năm 2013
Biểu đồ 2.1 Sự phát triển của các tổ chức hành nghề công chứng sau 6 năm
thi hành Luật Công chứng năm 2006
Thống kê về tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương toàn quốc năm 2013 (xem phụ lục 1)
- Một số bất cập, hạn chế sau hơn 6 năm thi hành Luật Công chứng 2006,
cụ thể là: Còn quy định hẹp, nhiều lỗ hổng pháp luật, chưa phù hợp với tính chất nghề công chứng, lãng phí nguồn nhân lực; Giá trị văn bản công chứng chưa cao trong việc thi hành, quyền, nghĩa vụ của các bên còn bị xâm hại, tạo kẽ hở phát sinh tranh chấp, gây tốn kém tiền bạc, công sức, ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý nhà nước; Số lượng CCV phát triển quá nóng, nhanh chỉ sau 6 năm thi hành Luật Công chứng năm 2006 đã tăng hơn gấp 3 lần (Bộ Tư pháp, 2013) (Xem biểu đồ 2.2)
0 200 400 600 800 1000 1200 1400
Số CCV năm 2007 là 393 Số CCV năm 2013 là 1327
393
1327
Số CCV
Trang 39Nguồn: Bộ Tư pháp năm 2013
Biểu đồ 2.2 Sự phát triển đội ngũ công chứng viên sau
6 năm thi hành Luật Công chứng năm 2006
- Đội ngũ công chứng viên tuy phát triển nhanh về số lượng nhưng chất lượng chưa đồng đều, một số CCV trình độ yếu, kém, một số lại vi phạm nghiêm trọng đạo đức nghề nghiệp, vi phạm pháp luật Số lượng công chứng viên tuổi cao (trên 55 tuổi đối với nữ, 60 tuổi đối với nam tương đối nhiều), thậm chí có nhiều người đề nghị bổ nhiệm công chứng viên lần đầu gần 70 tuổi Đa phần các công chứng viên của các tổ chức hành nghề công chứng là văn phòng công chứng tư nhân đều cao tuổi, chuyển từ các ngành khác sang nên không qua tập
sự, thiếu kinh nghiệm đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến sai sót trong thủ tục công chứng (Bộ Tư pháp, 2013)
(Xem biểu đồ 2.3)
Nguồn: Bộ Tư pháp năm 2013
Biểu đồ 2.3 Cơ cấu công chứng viên qua đào tạo và công chứng viên miễn đào tạo, tập sự năm 2013
Các tổ chức hành nghề công chứng trên toàn quốc có sự phát triển nhanh về
số lượng, chủ yếu là phát triển văn phòng công chứng, (xem biểu đồ 2.4)
Trang 40Nguồn: Bộ Tư pháp năm 2013
Biểu đồ 2.4 Cơ cấu phòng công chứng và văn phòng công chứng toàn quốc năm 2013
Tỉnh Hải Dương cũng rơi vào tình trạng tương tự của toàn quốc về thực trạng các tổ chức hành nghề công chứng và công chứng viên, (xem biểu đồ 2.5
Nguồn: Bộ Tư pháp năm 2013
Biểu đồ 2.5 Cơ cấu phòng công chứng và văn phòng công chứng
tỉnh Hải Dương năm 2013
8 CCV PCC chiếm 30,8%
18 CCV VPCCchiếm
69,2%
CCV PCC CCV VPCC
Nguồn: Bộ Tư pháp năm 2013
Biểu đồ 2.6 Cơ cấu công chứng viên phòng công chứng và công chứng viên
văn phòng công chứng tỉnh Hải Dương năm 2013
- Có một số lượng không nhỏ tổ chức hành nghề công chứng hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân (Văn phòng công chứng do một công chứng viên thành lập) (chiếm khoảng 74%) nên thiếu tính ổn định, bền vững, khi công chứng viên chết, ốm đau dài ngày hoặc nghỉ việc thì không có công chứng viên để tiếp