BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM = = = = = = HOÀNG HẢI YẾN ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HƯỚNG TỚI SẢN XUẤT SẠCH HƠN TẠI NHÀ MÁY G
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
= = = = = =
HOÀNG HẢI YẾN
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HƯỚNG TỚI SẢN XUẤT SẠCH HƠN TẠI NHÀ MÁY GIẤY ĐẾ VÀ BỘT GIẤY NA HANG, TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
= = = = = =
HOÀNG HẢI YẾN
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HƯỚNG TỚI SẢN XUẤT SẠCH HƠN TẠI NHÀ MÁY GIẤY ĐẾ VÀ BỘT GIẤY NA HANG, TUYÊN QUANG
CHUYÊN NGÀNH : KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS HOÀNG THÁI ĐẠI
HÀ NỘI, 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Hoàng Hải Yến
Trang 4Đặc biệt tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy PGS.TS Hoàng Thái Đại và thầy Cao Trường Sơn là hai người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn các anh chị giám đốc, quản lí ở các phân xưởng thuộc Nhà máy giấy đế và bột giấy Na Hang, Tuyên Quang và đơn vị chủ quản là Công ty Cổ phần xây dựng tổng hợp Tuyên Quang đã nhiệt tình giúp đỡ tôi thực hiện đề tài này
Cuối cùng tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè, những người đã khích lệ và giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình thực hiện luận văn Tôi xin cam đoan những kết quả trong báo cáo này là sự thật
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Hoàng Hải Yến
Trang 51.1.1 Sự hình thành và phát triển của ý tưởng Sản xuất sạch hơn 4 1.1.2 Điều kiện và yêu cầu khi thực hiện sản xuất sạch hơn 6 1.1.4 Các bước cơ bản trong thực hiện sản xuất sạch hơn 6
1.2 Tình hình áp dụng sản xuất sạch hơn trên thế giới và ở Việt Nam 12 1.2.1 Tình hình áp dụng sản xuất sạch hơn trên thế giới 12 1.2.2 Tình hình áp dụng sản xuất sạch hơn ở Việt Nam 15 1.3 Tổng quan ngành công nghiệp giấy và bột giấy ở Việt Nam 20 1.3.1 Giới thiệu về ngành công nghiệp giấy và bột giấy ở Việt Nam 20 1.3.2 Giới thiệu công nghệ sản xuất giấy và bột giấy nói chung 22 1.3.3 Tình hình ô nhiễm nước thải của ngành giấy hiện nay 23 1.4 Tổng quan tình hình nghiên cứu SXSH ngành giấy và bột giấy 25
Trang 62.3 Phương pháp nghiên cứu 31
2.3.6 Phương pháp đánh giá các đề xuất sản xuất sạch hơn 33
3.1 Giới thiệu về Nhà máy giấy đế và bột giấy Na Hang 35
3.1.2 Hoạt động sản xuất chính của Nhà máy giấy đế và bột giấy Na Hang 39 3.1.3 Giới thiệu công nghệ sản xuất chính của Nhà máy 39 3.2 Phân tích các công đoạn sản xuất của Nhà máy giấy đế và bột giấy Na hang 40
3.2.2 Nguyên nhiên liệu sử dụng trong sản xuất của Nhà máy 42
3.2.3 Đánh giá các nguồn thải phát sinh tại Nhà máy giấy đế và bột giấy Na Hang 47
3.4 Các cơ hội sản xuất sạch hơn trong các công đoạn của Nhà máy 58 3.5 Lựa chọn các cơ hội sản xuất sạch hơn có thể thực hiện đối với Nhà
3.6.1 Đánh giá tính khả thi đối với giải pháp lắp hệ thống tuyển nổi 66 3.6.2 Đánh giá tính khả thi đối với giải pháp làm bể đánh tơi 70
Trang 7DANH MỤC BẢNG
1.1 Kết quả áp dụng SXSH của một số nước trên thế giới 14 1.2 Kết quả áp dụng SXSH của một số ngành công nghiệp ở Việt Nam 17 1.3 Các nguồn thải từ các công đoạn và thiết bị khác nhau 24 1.4 Các thông số nước thải trước khi xử lý bên ngoài của các nhà máy giấy 25 1.5 Kết quả thu được sau một năm thực hiện SXSH tại nhà máy giấy và
1.6 Công ty sản xuất giấy thương mại Phong Châu, Công ty giấy Bãi Bằng 29
3.2 Cân bằng vật chất cho cả quy trình sản xuất của Nhà máy khi sản xuất
3.3 Kết quả phân tích môi trường không khí xung quanh Nhà máy 47 3.4 Kết quả phân tích môi trường không khí trong Nhà máy 48 3.5 Địa điểm tiến hành quan trắc môi trường không khí 49 3.6 Kết quả phân tích các mẫu nước thải từ các công đoạn sản xuất của
3.7 Các thông số nước thải của Nhà máy giấy đế và bột giấy Na Hang 52 3.8 Chi phí bên trong của Nhà máy khi sản xuất ra 1 tấn sản phẩm 54 3.9 Chi phí bên ngoài của Nhà máy khi sản xuất ra 1 tấn sản phẩm 54
3.11 Các cơ hội sản xuất sạch hơn của Nhà máy giấy đế và bột giấy Na hang 58
3.14 Bảng đánh giá tính khả thi về mặt kinh tế của giải pháp làm bể đánh tơi 72
Trang 8DANH MỤC HÌNH
1.1 Sơ đồ tổng quát một quá trình sản xuất công nghiệp 4 1.2 Các bước cơ bản trong thực hiện sản xuất sạch hơn 6
1.5 Sơ đồ công nghệ tổng quát sản xuất bột giấy và giấy từ gỗ, tre, nứa 23 1.6 Sơ đồ tóm tắt các giải pháp thực hiện SXSH cho ngành giấy 28
3.2 Vị trí địa lý Nhà máy giấy đế và bột giấy Na Hang 38 3.3 Sơ đồ dòng quy trình sản xuất của nhà máy giấy đế và bột giấy Na
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt : Diễn giải
BTNMT : Bộ Tài nguyên Môi trường
BVMT : Bảo vệ môi trường
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
Thuế GTGT : Thuế giá trị gia tăng
UBND : Ủy ban Nhân dân
UNDP : A United Nations Development Programme
(Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc)
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Hiện nay, cùng với sự gia tăng dân số thì nhu cầu tiêu dùng của con người cũng ngày càng tăng Để đáp ứng nhu cầu của con người thì nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất đã ra đời và phát triển mạnh mẽ để đáp ứng các nhu cầu đó Tuy nhiên, việc phát triển các khu công nghiệp lại nảy sinh các vấn đề về môi trường, lượng chất thải từ các khu công nghiệp có thành phần phức tạp và khó xử lý đã đi vào môi trường và gây ô nhiễm môi trường một cách trầm trọng Theo số liệu điều tra cho thấy, hiện cả nước có trên 200 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động, lượng chất thải rắn phát sinh tại các khu công nghiệp lên tới 2,3 triệu tấn/năm, trong đó chất thải nguy hại chiếm khoảng 20% Với lượng chất thải phát sinh như vậy nhưng chỉ có 60% doanh nghiệp vận hành hệ thống xử lý trong khu công nghiệp nhưng hiệu quả xử lý còn thấp
Để quản lý chất thải này đã có nhiều biện pháp khác nhau, tuy nhiên sản xuất sạch hơn vẫn được xem là biện pháp có hiệu quả và đem lại nhiều lợi ích nhất Việc áp dụng quy trình sản xuất sạch hơn sẽ hạn chế được sự phát sinh chất thải ra môi trường đồng thời đem lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp như giảm chi phí xử lý, giảm chi phí về nguyên vật liệu, nâng cao hiệu quả kinh tế, v.v…
Một trong những thách thức đang đặt ra đối với ngành sản xuất bột giấy và giấy
là vấn đề môi trường và sức khỏe của người lao động, của cộng đồng dân cư đang
bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ hoạt động sản xuất Nhà máy
Để quản lý chất thải của ngành sản xuất bột giấy và giấy đã có nhiều biện pháp khác nhau, tuy nhiên sản xuất sạch hơn vẫn được xem là biện pháp có hiệu quả và đem lại nhiều lợi ích nhất Sản xuất sạch hơn giúp tiết kiệm năng lượng và tài nguyên, giảm chất thải và ô nhiễm, thậm chí loại bỏ các dòng chất thải và hiệu suất tiêu thụ nguyên liệu tiến tới 100%
Hiện nay trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về việc áp dụng các giải pháp SXSH cho ngành sản xuất bột giấy và giấy nhằm giảm thiểu những tác động xấu cho môi trường, tiết kiệm được lượng nước đầu vào và giảm tải lượng ô nhiễm…
Trang 11Việt Nam tính đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về áp dụng SXSH cho ngành giấy, tuy nhiên phạm vi áp dụng còn nhỏ hẹp và có nhiều hạn chế do trình độ kỹ thuật, phần lớn họ ngại thay đổi, ngại phải đối mặt với các vấn đề về môi trường Đây là vấn đề nan giải với Nhà máy sản xuất
Tuyên Quang là một trong những tỉnh thành đang phát triển trên cả nước với
sự xuất hiện của nhiều nhà máy giấy và bột giấy trong đó phải kể đến Công ty CP Giấy và bột giấy An Hòa, Nhà máy giấy đế và bột giấy Na hang thuộc Công ty CPXD Tổng hợp Tuyên Quang Sản xuất các sản phẩm bột giấy và giấy đế phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu sang thị trường Đài Loan … Nhà máy sản xuất bột giấy và giấy phát triển kèm theo các vấn đề môi trường đang đe doạ cuộc sống nơi đây Trong quá trình sản xuất Nhà máy giấy đế và bột giấy Na hang còn
xử dụng quá nhiều tài nguyên như : nước, củi, điện dẫn đến lãng phí tài nguyên
Từ thực trạng hoạt động của Nhà máy cho thấy, nếu muốn Nhà máy duy trì phát triển bền vững và hiệu quả thì nhất thiết phải có các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường
Nắm được thực trạng đó, Tôi đã chọn hướng nghiên cứu sản xuất sạch hơn cho Nhà máy giấy đế và bột giấy Na hang Nhằm giúp họ tiết kiệm chi phí sản xuất, chi phí xử lý nước thải, vừa giảm thiểu tác động xấu đến môi trường xung quanh Sản xuất sạch hơn là phương pháp đúng đắn nhằm tối ưu hóa nguồn tài nguyên, tiết kiệm sản xuất là hướng đi mà Nhà máy phải hướng đến Tuy nhiên, còn nhiều khó khăn trong việc áp dụng sản xuất sạch hơn do thiếu điều kiện về cơ sở hạ tầng kinh
tế chính vì vậy Tôi xin chọn đề tài : "Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp
hướng tới sản xuất sạch hơn tại Nhà máy giấy đế và bột giấy Na Hang , Tuyên Quang''
Trang 12- Đề xuất và đánh giá tính khả thi các giải pháp sản xuất sạch hơn có thể áp dụng cho nhà máy giấy đế và bột giấy Na Hang, Tuyên Quang
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan về sản xuất sạch hơn
1.1.1 Sự hình thành và phát triển của ý tưởng Sản xuất sạch hơn
Hình 1.1: Sơ đồ tổng quát một quá trình sản xuất công nghiệp
Thái độ, cách ứng xử của con người đối với chất thải của các ngành công nghiệp phụ thuộc vào điều kiện, trình độ và điều kiện kinh tế - xã hội Trải qua thời gian, chúng ta có thể thấy các chiến lược của con người đối với quản lý chất thải đã
có sự thay đổi: từ chiến lược mang tính chất thụ động như pha loãng – phân tán, các chiến lược mang tính chất ứng phó lại với chất thải phát sinh như các biện pháp xử
lý cuối đường ống, rồi các chiến lược mang tính phòng ngừa
Phớt lờ ô nhiễm (1950s): Không quan tâm đến ô nhiễm do ô nhiễm chưa
thực sự nghiêm trọng, mức độ phát triển của các ngành công nghiệp còn nhỏ lẻ, hay thậm chỉ vì lý do lợi nhuận mà các doanh nghiệp cũng thường né tránh vấn đề ô nhiễm do hoạt động sản xuất của họ gây ra Đôi khi việc phớt lờ ô nhiễm cũng có thể xuất phát từ nguyên nhân là do chúng ta chưa nhận thức được ảnh hưởng của vấn đề ô nhiễm tại thời điểm đó
Pha loãng và phát tán (1960s): Chiến lược này đã xuất hiện ngay từ thời
cổ xưa và đến nay vẫn phổ biến ở nhiều nơi Pha loãng là dùng nước để pha loãng nước thải trước khi đổ và nguồn tiếp nhận/xả thải Phát tán là nâng chiều cao ống khói để phát tán khí thải Tuy nhiên, đối với pha loãng và phát tán thì
Trang 14tổng lượng chất thải đưa vào môi trường là không đổi Thuỷ quyển và khí quyển không phải là bãi rác cho mọi chất thải: các kim loại nặng, PCB (polychlorinated biphenyls: bền và độc hại có trong biến thế, tụ điện)… đã tuần hoàn và tích luỹ trong trầm tích, sinh khối
Xử lý cuối đường ống (1970s): Đến đầu thế kỷ 20, chiến lược “pha loãng
– khuếch tán” đã thực sự tiến đến giới hạn thực tế của nó và một quan niệm mới đã được ra đời đó là “cô cạn và nén ép” Tuy nhiên, xử lý cuối đường ống thường nảy sinh các vấn đề như: gây nên sự chậm trễ trong việc tìm ra giải pháp xử lý; Không thể áp dụng với các trường hợp có nguồn thải phân tán như nông nghiệp; Đôi khi sản phẩm phụ sinh ra khi xử lý lại là các nhân gây ô nhiễm thứ cấp; Chi phí đầu tư và sản xuất sẽ tăng thêm do chi phí xử lý
Phòng ngừa chất thải phát sinh/Sản xuất sạch hơn (1980s): Ngăn chặn
phát sinh chất thải ngay tại nguồn bằng cách sử dụng năng lượng và nguyên vật liệu một cách có hiệu quả nhất, nghĩa là có thêm một tỷ nguyên vật liệu nữa được chuyển vào thành phẩm thay vì loại bỏ Tiếp cận này bắt đầu xuât hiện từ những năm 1980 với những cách gọi khác nhau như “phòng ngừa ô nhiễm”,
“giảm thiểu chất thải” Ngày nay thuật ngữ “sản xuất sạch hơn” được sử dụng phổ biến trên thế giới để chỉ cách tiếp cận này, mặc dù các thuật ngữ tương đương vẫn còn ưa thích ở vài nơi
Như vậy thái độ và cách tiếp cận của con người đối với vấn đề xử lý chất thải đã có những chuyển biến từ phớt lờ ô nhiễm, rồi pha loãng và phát tán chất thải, đến kiểm soát cuối đường ống và cuối cùng sản xuất sạch hơn là quá trình phát triển khách quan, tích cực có lợi cho môi trường, kinh tế cho các doanh nghiệp nói riêng và toàn xã hội nói chung Ba cách ứng phó đầu là những cách tiếp cận quản lý chất thải bị động Như vậy, sản xuất sạch hơn là cách tiếp cận
“nhìn xa, tiên liệu và phòng ngừa” Nguyên tắc “phòng bệnh hơn chữa bệnh” bao giờ cũng là chân lý Tuy nhiên điều này không có nghĩa là việc xem nhẹ biện pháp xử lý cuối đường ống phòng ngừa và và ngăn chặn ô nhiễm là biện nguyên tắc chủ đạo và phải kết hợp với xử lý ô nhiễm ( Luơng Đức Anh, 2009) ( Phạm Khắc Liệu, 2008)
Trang 151.1.2 Điều kiện và yêu cầu khi thực hiện sản xuất sạch hơn
Có sự tham gia của công nhân vận hành: Những người giám sát vận hành cần được tham gia tích cực ngay từ khi bắt đầu đánh giá SXSH Công nhân vận hành là những người đóng góp nhiều vào việc xác định và thực hiện các giải SXSH Làm việc theo nhóm: Để đánh giá SXSH thành công, không thể tiến hành độc lập, mà phải có sự đóng góp ý kiến của các thành viên trong nhóm SXSH
Phương pháp luận khoa học: Để SXSH bền vững và có hiệu quả, cần phải
áp dụng và tuân thủ các bước của phương pháp luận đánh giá SXSH
1.1.4 Các bước cơ bản trong thực hiện sản xuất sạch hơn
Đánh giá SXSH là một quy trình liên tục, bao gồm 6 bước cơ bản minh họa trong hình dưới đây:
(Nguồn: Trung tâm Sản xuất sạch Việt Nam, 2009)
Hình 1.2: Các bước cơ bản trong thực hiện sản xuất sạch hơn
Trang 16(Nguồn: Trung tâm Sản xuất sạch Việt Nam, 2009)
Hình 1.3: 18 bước cơ bản thực hiện sản xuất sạch hơn
SXSH là một quá trình liên tục, sau khi kết thúc bằng một cuộc đánh giá SXSH thì cần thực hiện bước tiếp theo để cải tiến nhiều hơn hoặc tiếp tục với một khu vực trọng tâm khác
BƯỚC 1: BẮT ĐẦU
Nhiệm vụ 1: Thành lập nhóm SXSH
Nhiệm vụ 2: Liệt kê các bước công nghệ
Nhiệm vụ 3: Xác định các công đoạn gây thải
BƯỚC 2: PHÂN TÍCH CÁC BƯỚC CÔNG NGHỆ
Nhiệm vụ 4: Lập sơ đồ công nghệ sản xuất
Nhiệm vụ 5: Xây dựng cân bằng vật chất và năng lượng
Nhiệm vụ 6: Tính toán các chi phí dòng thải
Nhiệm vụ 7: Xác định nguyên nhân gây thải
BƯỚC 6: DUY TRÌ SẢN XUẤT SẠCH HƠN
Nhiệm vụ 17: Duy trì các giải pháp SXSH
Nhiệm vụ 18: Lựa chọn các công đoạn tiếp theo
BƯỚC 5: THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP SXSH
Nhiệm vụ 14: Chuẩn bị thực hiện
Nhiệm vụ 15: Thực hiện các giải pháp SXSH
Nhiệm vụ 16: Giám sát và đánh giá kết quả
BƯỚC 3: ĐỀ XUẤT CÁC CƠ HỘI SXSH
Nhiệm vụ 8: Hình thành các cơ hội SXSH
Nhiệm vụ 9: Lựa chọn các cơ hội SXSH
BƯỚC 4: LỰA CHỌN CÁC GIẢI PHÁP SXSH
Nhiệm vụ 10: Đánh giá khả thi về kỹ thuật
Nhiệm vụ 11: Đánh giá khả thi về kinh tế
Nhiệm vụ 12: Đánh giá các khía cạnh môi trường
Nhiệm vụ 13: Lựa chọn các giải pháp
Trang 171.1.3 Phân loại các giải pháp
Với mỗi đối tượng khi thực hiện SXSH đều có nhiều giải pháp khác nhau Tuy nhiên các giải pháp SXSH có thể chia thành 4 nhóm như sau:
Hình 1.4: Sơ đồ phân loại các giải pháp SXSH
(Nguồn: Trung tâm Sản xuất sạch Việt Nam, 2009)
Giảm chất thải tại nguồn
- Quản lý nội vi: Đây là kỹ thuật phòng ngừa các chỗ rò rỉ, chảy tràn thông
qua bảo dưỡng phòng ngừa và kiểm tra thiết bị thường xuyên, cũng như kiểm soát việc thực hiện đúng hướng dẫn công việc hiện có thông qua đào tạo và giám sát phù
PHÂN LOẠI CÁC GIẢI PHÁP SXSH
Giảm chất thải tại nguồn
Quản lý nội vi
Kiểm soát quá trình tốt hơn
Thay đổi công nghệ mới
Thay đổi nguyên liệu đầu vào
Cải tiến thiết bị
Thay đổi bao bì
Thay đổi quy trình
Trang 18hợp Là một loại giải pháp đơn thuần nhất của SXSH Quản lý nội vi không đòi hỏi chi phí đầu tư và có thể được thực hiện ngay sau khi xác định các giải pháp
Thay đổi quy trình
- Thay đổi nguyên vật liệu đầu vào: Là việc thay thế các nguyên liệu đang
sử dụng bằng các nguyên liệu tái tạo, ít độc hại hoặc dùng các nguyên liệu phụ trợ
có tuổi thọ hữu ích dài hơn
- Kiểm soát quá trình tốt hơn: Theo dõi việc tuân thủ thông số vận hành
của quy trình thiết kế, sửa đổi các quy trình làm việc, các hướng dẫn vận hành thiết
bị để đạt hiệu quả tối ưu, giảm lãng phí và phát thải
- Cải tiến các thiết bị: Là việc thay đổi thiết bị đã có để nguyên liệu tổn thất
ít hơn Việc cải tiến các thiết bị có thể là điều chỉnh tốc độ máy, là tối ưu kích thước kho chứa, … nhằm vận hành các quy trình với hiệu quả cao hơn và giảm phát thải
- Thay đổi công nghệ: Thay thế công nghệ, trình tự trong quy trình và/hoặc
cách thức tổng thể nhằm giảm thiểu lãng phí và phát thải trong quá trình sản xuất Giải pháp này yêu cầu chi phí đầu tư cao hơn các giải pháp SXSH khác Mặc dù vậy, tiềm năng tiết kiệm và cải thiện chất lượng có thể cao hơn
Tuần hoàn và tái sử dụng
- Thu hồi và tái sử dụng tại chỗ: Là việc thu gom nguyên liệu bị lãng phí
và sử dụng lại cho một công đoạn của quá trình sản xuất, một ứng dụng hữu ích
- Tạo ra các sản phẩm phụ hữu dụng: Là việc thu gom và xử lý các dòng thải để có thể tái sử dụng hay trở thành một sản phẩm mới hoặc để bán ra ngoài
Cải tiến sản phẩm
- Thay đổi sản phẩm: Là việc cải thiện chất lượng sản phẩm và các yêu cầu
đối với sản phẩm đó để làm giảm ô nhiễm Cải thiện thiết kế sản phẩm có thể tiết kiệm được lượng nguyên liệu và hoá chất độc hại sử dụng
- Thay đổi về bao bì: Là việc giảm thiểu lượng bao bì sử dụng, đồng thời vẫn bảo vệ tốt được sản phẩm (Nguồn: Trung tâm Sản xuất sạch Việt Nam, 2009)
Trang 191.1.4 Các lợi ích và rào cản khi áp dụng SXSH
a) Lợi ích
SXSH có ý nghĩa đối với tất cả các doanh nghiệp, không kể qui mô lớn hay nhỏ SXSH giúp các doanh nghiệp tăng lợi nhuận, giảm chất Các lợi ích này có thể tóm tắt như sau:
- Giảm chi phí sản xuất: SXSH giúp làm giảm việc sử dụng lãng phí nguyên
vật liệu, năng lượng trong qui trình sản xuất, thông qua việc sử dụng nguyên vật liệu và năng lượng một cách hiệu quả hơn
Ngoài ra áp dụng SXSH còn có nhiều khả năng thu hồi và tái tạo, tái sử dụng các phế phẩm, tiết kiệm được nguyên vật liệu đầu vào và chi phí xử lý
- Giảm chi phí xử lý chất thải: SXSH sẽ làm giảm khối lượng nguyên vật
liệu thất thoát đi vào dòng thải và ngăn ngừa ô nhiễm tại nguồn, do đó sẽ làm giảm khối lượng và tốc độ độc hại của chất thải cuối đường ống vì vậy chi phí liên quan đến xử lý chất thải sẽ giảm và chất lượng môi trường của công ty cũng được cải thiện
- Cơ hội thị trường mới được cải thiện: Nhận thức về các vấn đề môi trường
của người tiêu dùng ngày càng tăng về các vấn đề môi trường, tạo nên nhu cầu về các sản phẩm xanh trên thị trường quốc tế Điều này mở ra một cơ hội thị trường mới và sản xuất ra sản phẩm có chất lượng cao với giá thành cạnh tranh hơn nếu tập trung nỗ lực vào SXSH
SXSH sẽ tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14000, chứng chỉ ISO 14000 mở ra một thị trường mới và khả năng tiếp cận thị trường xuất khẩu tốt hơn
- Cải thiện hình ảnh doanh nghiệp: SXSH phản ánh bộ mặt của doanh
nghiệp Một doanh nghiệp áp dụng SXSH sẽ được xã hội và các cơ quan chức năng
có cái nhìn thiện cảm hơn vì đã quan tâm đến vấn đề môi trường
- Tiếp cận các nguồn tài chính tốt hơn: Các dự án đầu tư cho SXSH bao
gồm các thông tin về tính khả thi về kỹ thuật, kinh tế, môi trường Đây là cơ sở cho
Trang 20việc tiếp nhận các hỗ trợ của ngân hàng hoặc các quỹ môi trường Các cơ quan tài chính quốc tế đã nhận thức rõ các vấn đề bảo vệ môi trường và xem xét các đề nghị vay vốn từ góc độ môi trường
- Môi trường làm việc tốt hơn: Bên cạnh các lợi ích kinh tế và môi trường,
SXSH còn cải thiện các điều kiện an toàn, sức khỏe nghề nghiệp cho nhân viên Các điều kiện làm việc thuận lợi làm tăng ý thức và thúc đẩy nhân viên quan tâm kiểm soát chất thải tránh lãng phí, gây ô nhiễm làm mất mỹ quan ảnh hưởng đến sức khoẻ người sản xuất
- Tuân thủ các qui định, luật môi trường tốt hơn: SXSH giúp việc xử lý
chất thải hiệu quả và rẻ tiền hơn do lưu lượng và tải lượng các chất thải giảm hoặc loại bỏ nguyên nhân gây ra các chất thải Điều này có ý nghĩa đối với môi trường đồng thời dễ dàng đáp ứng, thoả mãn các tiêu chuẩn, qui định của luật môi trường
đã ban hành (Trần Văn Nhân và Đinh Văn Sâm, 2005)
b) Rào cản
Thực hiện SXSH là một biện pháp tiếp cận tích cực để tăng lợi nhuận cải thiện môi trường làm việc và giảm thiểu ô nhiễm môi trường Tuy nhiên trong quá trình áp dụng lại phát sinh các rào cản sau:
Về Nhận Thức Của Các Doanh Nghiệp
- Nhận thức của các cấp lãnh đạo nhà máy về SXSH còn hạn chế, nghĩ SXSH là việc rất khó thực hiện, áp dụng tốn kém nhiều
- Ngại tiết lộ thông tin ra ngoài, không muốn thay đổi quá trình sản xuất
- Hồ sơ ghi chép về sản xuất còn nghèo nàn
- Thường tập trung vào xử lý cuối đường ống
- Chưa đánh giá cao về giá trị của tài nguyên thiên nhiên
- Việc tiếp cận các nguồn tài chính đầu tư cho SXSH còn nhiều thủ tục phiền hà, rắc rối
- Xem SXSH như là một dự án chứ không phải là một chiến lược được thực hiện liên tục của công ty
Trang 21Về Phía Tổ Chức – Quản Lý Của Các Cơ Quan Nhà Nước
- Thiếu hệ thống qui định có tính chất pháp lý khuyến khích, hỗ trợ việc BVMT nói chung và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, áp dụng SXSH nói riêng
- Thiếu sự quan tâm về SXSH trong chiến lược và chính sách phát triển công nghiệp và thương mại
- Chưa tổ chức thúc đẩy SXSH đi vào thực tiển hoạt động công nghiệp
- Luật MT chưa có tính nghiêm minh, việc cưỡng chế thực hiện luật môi trường chưa chặt chẽ Các qui định về môi trường còn quá tập trung vào xử
Các Cơ Quan Tư Vấn:
Thiếu các chuyên gia tư vấn về SXSH cho các ngành công nghiệp khác nhau (Trần Văn Nhân và Đinh Văn Sâm, 2005)
1.2 Tình hình áp dụng sản xuất sạch hơn trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Tình hình áp dụng sản xuất sạch hơn trên thế giới
Năm 1989, chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc (UNEP) đã đưa ra sáng kiến về SXSH, các hoạt động SXSH của UNEP đã dẫn đầu phong trào và động viên các đối tác quãng bá khái niệm SXSH trên toàn thế giới
Năm 1990 tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đã xây dựng các hướng hoạt động về SXSH trên cơ sở chương trình hợp tác với UNEP về “ Công nghệ và Môi trường ”
Trang 22Năm 1994, có hơn 32 Trung tâm SXSH được thành lập, trong đó có Việt Nam Năm 1998, UNEP chuẩn bị tuyên ngôn Quốc tế về SXSH, chính sách tuyên bố cam kết về chiến lược và thực hiện SXSH (Phạm Khắc Liệu, 2008)
SXSH đã được áp dụng thành công ở các nước như Lithuania, Trung Quốc,
Ấn Độ, Cộng Hoà Séc, Tanzania, Mêhico,….Và đang được công nhận là một cách tiếp cận chủ động, toàn diện trong quản lý môi trường công nghiệp
Ở Lithuania, vào những năm 1950 chỉ có 4% các công ty triển khai SXSH, con số này đã tăng lên 30% vào những năm 1990
Ở Cộng hoà Séc, 24 trường hợp nghiên cứu áp dụng SXSH đã cho thấy chất thải công nghiệ phát sinh đã giảm gần 22.000 tấn/năm, bao gồm cả 10.000 tấn chất thải nguy hại Nước thải đã giảm 12.000 m3/năm Lợi ích kinh tế ước tính khoảng
Ở Ấn Độ áp dụng SXSH cũng rất thành công, điển hình như hai công ty: công ty liên doanh HERO HONDA Motors (Ấn Độ: 55%, Nhật:45%) và công ty Tehri Pulp and Perper Limited (bang Musaffarnagar), sau khi áp dụng SXSH đã giảm hơn giảm hơn 50% nước tiêu thụ, giảm 26% năng lượng tiêu thu, giảm 10% lượng hơi tiêu thụ….Với tổng số tiền tiết kiệm trên 500.000USD (Heinz Leuenberger, 2000)
Trang 23Bảng 1.1 Kết quả áp dụng SXSH của một số nước trên thế giới
TT Doanh nghiệp
(ngành) Quốc gia Tiết kiệm Đầu tư
Thời gian hoàn vốn
421.700 USD
Tiết kiệm chi phí: 51.000 USD Trong đó:
- Giảm lượng nước thải và COD:
9741USD
- Giảm nước tiêu thụ: 4.876 USD
- Hao hụt sản phẩm: 36.522 USD
10.000 USD
Tiết kiệm hàng năm: 117.000 USD Giảm chi phí:
< 3 tháng
Nguồn: UNEP, 1995
Trang 241.2.2 Tình hình áp dụng sản xuất sạch hơn ở Việt Nam
Khái niệm sản xuất sạch hơn đã được giới thiệu và thử nghiệm áp dụng trong công nghiệp đầu tiên ở nước ta từ năm 1995 qua hai dự án do quốc tế tài trợ là:
“Sản xuất sạch hơn trong công nghiệp Giấy” (1995−1997) và “giảm thiểu chất thải
trong công nghiệp Dệt” ở Hà Nội (1995−1996) do UNEP/NIEM (United nations
environment programme/Network for Industrial Environmental Management − Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc/Mạng lưới quản lý môi trường công
nghiệp) tại Bangkok (Thái Lan) và CIDA−IDRC (Cultural Industries Development
Agency – International Development Research Centre, Cơ quan Phát triển Quốc tế
Canada − Trung tâm nghiên cứu phát triển quốc tế Canada) tài trợ Vào ngày 22 tháng 9 năm 1999, Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này Bộ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (trước đây) Chu Tuấn Nhạ đã ký Tuyên ngôn Quốc tế về Sản xuất sạch hơn, khẳng định các cam kết của Chính phủ Việt Nam với
Chiến lược Phát triển bền vững (Phạm Khắc Liệu, 2008)
Chiến lược Sản xuất sạch hơn trong công nghiệp đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 07 tháng 9 năm 2009 với mục tiêu phổ biến rộng rãi công cụ này vào các cơ sở sản xuất tại Việt Nam nhằm tăng cường hiệu quả sản xuất công nghiệp, đồng thời giảm thiểu chất thải và tác động của các cơ sở sản xuất
đến môi trường và sức khoẻ con người (Nguyễn Thị Lâm Giang, 2010)
Trong chương trình của Hợp phần CPI, có bốn cán bộ làm công tác thanh tra tại Sở Tài nguyên và Môi trường và Sở Công thương được chọn đào tạo kiến thức
về “Lồng ghép quản lý môi trường và sản xuất sạch hơn trong thanh tra môi trường
tại các doanh nghiệp” (Lan Phương, 2011)
Hợp phần “Sản xuất sạch hơn trong công nghiệp” (CPI − cleaner production
in industry) là một trong 6 hợp phần của Chương trình Hợp tác phát triển Việt Nam – Đan Mạch trong lĩnh vực môi trường giai đoạn 2006 – 2010, được triển khai dưới
sự giúp đỡ của Vương quốc Đan Mạch tại 5 tỉnh, mục tiêu gồm: Phú Thọ, Thái Nguyên, Nghệ An, Quảng Nam và Bến Tre Sau 5 năm triển khai, kết quả bước đầu
đã làm thay đổi đáng kể nhận thức của các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa
và nhỏ trong việc áp dụng sản xuất sạch hơn bảo vệ môi trường, đồng thời tạo sức
Trang 25lan toả rộng Trong 6 năm CPI đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, với 85 chuyên gia sản xuất sạch hơn được đào tạo trong 3 năm; 104 cán bộ của các Sở Công thương tham dự khoá đào tạo giảng viên sản xuất sạch hơn; 68 cán bộ, chuyên gia tham dự khoá đào tạo giảng viên nâng cao; CPI cũng tổ chức được 6 diễn đàn doanh nghiệp sản xuất sạch hơn cho các doanh nghiệp trình diễn Ngoài ra, CPI cũng xây dựng hệ thống hướng dẫn chung về sản xuất sạch hơn cho các doanh nghiệp; 61 đánh giá sản xuất sạch hơn đã được hoàn thiện cho các doanh nghiệp tại các tỉnh mục tiêu Một công tác rất quan trọng đó là CPI đã thực hiện thành công 45 dự án trình diễn có hỗ trợ đầu tư tại các tỉnh mục tiêu Các mô hình trình diễn này đã đem lại hiệu quả rõ rệt: Tiết kiệm trung bình tại các dự án trình diễn: 11% nước, 12% điện, 21% than, 14% FO, 23% hóa chất; Lợi ích môi trường thông qua giảm tiêu thụ nguyên liệu/năng lượng và đồng thời giảm các phát thải; Ghi nhận tại các doanh nghiệp tham gia trình diễn cho thấy các ca nghỉ việc do ốm thấp hơn; Số doanh nghiệp tại các tỉnh mục tiêu áp dụng sản xuất sạch hơn tăng hàng năm Theo tính toán của các dự án và kết quả đánh giá nhanh 3 dự án hoàn thành sau 2 năm vận hành, lợi ích từ các dự án trình diễn hoàn thành và đưa vào sử dụng mang lại là rất lớn Trung bình hàng năm đã giảm phát thải: lượng CO2 1814,8 tấn, nước thải
58476 m3, bụi 71,6 tấn, bụi chì 31 tấn, SO2 1250 tấn, giảm lượng nước sử dụng là
57000 m3; thu hồi được 373 tấn bột giấy; tiết kiệm được trên 4 tỉ đồng, điều kiện
làm việc của người lao động được cải thiện rõ rệt (Minh Cường, 2011)
Năm 2011 dự án đã thu hút được 44 tỉnh thành, 2 hiệp hội, 4 viện nghiên cứu
và 6 cơ quan truyền thông tham gia đề xuất những nhiệm vụ nhằm từng bước thực hiện 4 nội dung của đề án Đến nay, với sự hỗ trợ tích cực của CPI, ngoài 5 tỉnh mục tiêu đã có gần 40 tỉnh thành phê duyệt chương trình hành động triển khai thực hiện Quyết định 1419 của Thủ tướng, 100% các tỉnh thành đã có cán bộ tham gia tập huấn, đào tạo nâng cao nhận thức và năng lực tổ chức triển khai thực hiện đề án
Từ năm 2008 đến nay đã có 20000 lượt người tham gia khoá đào tạo, tập huấn, hội
thảo, diễn đàn doanh nghiệp về sản xuất sạch hơn (Mai Nguyễn, 2011)
Mục tiêu của nước ta hiện nay là phấn đấu đến năm 2015 có 50% các cơ sở sản xuất công nghiệp nhận thức được lợi ích của việc áp dụng sản xuất sạch hơn
Trang 26trong công nghiệp, 25% cơ sở sản xuất công nghiệp áp dụng sản xuất sạch hơn (các
cơ sở sản xuất công nghiệp áp dụng sản xuất sạch hơn tiết kiệm được từ 5 – 8 % mức tiêu thụ năng lượng, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu trên đơn vị sản phẩm), 70% các sở Công Thương có cán bộ chuyên trách đủ năng lực hướng dẫn áp dụng sản xuất sạch hơn cho các cơ sở sản xuất công nghiệp Phấn đấu giai đoạn từ năm
2016 – 2020 có 90% cơ sở sản xuất công nghiệp nhận thức được lợi ích của việc áp dụng sản xuất sạch hơn trong công nghiệp, 50% cơ sở sản xuất công nghiệp áp dụng sản xuất sạch hơn (các cơ sở công nghiệp áp dụng sản xuất sạch hơn tiết kiệm được
từ 8 – 13% mức tiêu thụ năng lượng, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu trên đơn vị sản phẩm; 90% doanh nghiệp vừa và lớn có bộ phận chuyên trách về sản xuất sạch hơn), 90% các sở Công Thương có cán bộ chuyên trách đủ năng lực hướng dẫn áp dụng sản xuất sạch hơn (Quyết định số 1419/QĐ-TTg)
Kết quả áp dụng SXSH của một số ngành công nghiệp ở Việt Nam được thể hiện trong bảng dưới đây
Bảng 1.2 Kết quả áp dụng SXSH của một số ngành công nghiệp ở Việt Nam
Tiết kiệm 115.000 USD, giảm tới 14% ÔNKK, 14% các khí gây hiệu ứng nhà kính (GHG), 20% sử dụng hóa chất,
14% điện và 14% tiêu thụ dầu DO
TpHCM Tiết kiệm được 12,77 tỷ đồng về điện
và dầu FO, giảm thải ra môi trường 10.780 tấn CO2
Tiết kiệm 55.000 USD, giảm tới 13% ÔNKK, 78% (GHG), 34% chất thải rắn,40% hóa chất sử dụng, 78% tiêu thụ điện và 13% tiêu thụ than
Trang 27Mì 1 Tp.HCM Tiết kiệm 300.000 USD, các lợi ích
khác chưa được đánh giá
Đường
khác chưa được đánh giá
Nhà máy dầu Tân Binh-TpHCM
Lượng nước cần cho một tấn sản phẩm giảm từ 6-8 m3 xuống còn 3-4 m3; giảm 700-800 m3 nước cần phải xử lí trong ngày, lượng dầu FO sử dụng giảm khoảng 1-1,5 tấn/ngày nên lượng ô nhiễm khí thải ra môi trường cũng giảm
Hồ Chí Minh
Tiết kiệm 334.000 USD, giảm tới 35%
ô nhiễm không khí, góp phần vào việc giảm phát thải 950 tấn CO2/năm, giảm 20% thất thoát sơ sợi, 30% nước thải,
20% tiêu thụ điện và than…
Bột giấy 6
Phú Thọ, Hòa Bình, Tp.HCM
Tiết kiệm 370.000 USD, giảm tới 42% nước thải, 70% tải lượng ô nhiễm COD
Công ty giấy Việt trì Phú thọ
Tiết kiệm 2.226 triệu đồng/năm, giảm 6% lượng bột giấy, 29% hóa chất tẩy, 15% nước sử dụng giảm 550.000 m3
Trang 28nước thải, 30% tải lượng hữu cơ
Cao su
1
Cơ sở chế biến cao su
Tấn Thành
Giảm lượng nước thải phải xử lý ở khâu tách tạp chất và thay nước ở bể làm sạch nguyên liệu là 23.5 m3/ngày, tương đuơng 86.950 VND/ngày và lượng nước tiêu thụ giảm 20%, tiết kiệm chi phí cho điện năng 900.000 VND/tháng
Tiết kiệm 249.000 USD, giảm 2%
clinker, 14% thạch cao và 7,4% điện
Tấm lợp
Công ty cổ phần Bạch Đằng
Tiết kiệm 252 tấn amiăng /năm, 350 tấn ximăng/năm; giảm tỷ lệ sản phẩm
hư hỏng từ 1% - 0.3%, giảm tỷ lệ sản phẩm chất lượng thấp từ 5% - 3%; tiết kiệm 247.000 USD/ năm
Công ty gạch ốp lát
Hà Nội
Giảm phát thải 344 tấn khí CO2/ năm
Nam Định Lớp rỉ sau ủ mỏng hơn khoảng 50%,
giảm 39% lượng axit HCl, giảm 39% lượng sản phẩm kém chất lượng, tiết kiệm được 139 triệu/năm
giá
Nguồn: Trung tâm sản xuất sạch hơn Việt Nam, 2009
Trang 291.3 Tổng quan ngành công nghiệp giấy và bột giấy ở Việt Nam
1.3.1 Giới thiệu về ngành công nghiệp giấy và bột giấy ở Việt Nam
Giấy là một sản phẩm của nền văn minh nhân loại với lịch sử lâu đời hàng nghìn năm.thành phần chính của giấy là xenluloza, một loại polyme mạch thẳng và dài có trong gỗ, bông, và các loại cây khác Để tách xenluloza ra khỏi mạnh polymer đó người ta phải sử dụng phương pháp nghiền cơ học hoặc xử lý hóa học
(Nguồn: Trung tâm Sản xuất sạch Việt Nam, 2009)
Ngành giấy là một trong những ngành được hình thành từ rất sớm tại Việt Nam, khoảng năm 284 Từ giai đoạn này đến đầu thế kỷ 20, giấy được làm bằng phương pháp thủ công để phục vụ cho việc ghi chép, làm tranh dân gian, vàng mã… Năm 1912, nhà máy sản xuất bột giấy đầu tiên bằng phương pháp công nghiệp đi vào hoạt động với công suất 4.000 tấn giấy/năm tại Việt Trì Trong thập niên 1960, nhiều nhà máy giấy được đầu tư xây dựng nhưng hầu hết đều có công suất nhỏ (dưới 20.000 tấn/năm) như Nhà máy giấy Việt Trì; Nhà máy bột giấy Vạn Điểm; Nhà máy giấy Đồng Nai; Nhà máy giấy Tân Mai, v.v Năm 1975,tổng công suất thiết kế của ngành giấy Việt Nam là 72.000 tấn/năm nhưng do ảnh hưởng của chiến tranh và mất cân đối giữa sản lượng bột giấy và giấy nên sản lượng thực tế chỉ đạt 28.000 tấn/năm Năm 1982, Nhà máy giấy Bãi Bằng do Chính phủ Thụy Điển tài trợ đã đi vào sản xuất với công suất thiết kế là 53.000 tấn bột giấy/năm và 55.000 tấn giấy/năm, dây chuyền sản xuất khép kín, sử dụng công nghệ cơ-lý và tự động hóa Nhà máy cũng xây dựng được vùng nguyên liệu, cơ sở hạ tầng, cơ sở phụ trợ như điện, hóa chất và trường đào tạo nghề phục vụ cho hoạt động sản xuất Ngành giấy có những bước phát triển vượt bậc, sản lượng giấy tăng trung bình 11%/năm trong giai đoạn 2000 – 2006; tuy nhiên, nguồn cung như vậy vẫn chỉ đáp ứng được gần 64% nhu cầu tiêu dùng (năm 2008) phần còn lại vẫn phải nhập khẩu Mặc dù đã có sự tăng trưởng đáng kể tuy nhiên, tới nay đóng góp của ngành trong tổng giá trị sản xuất quốc gia vẫn rất nhỏ
Trong 4 tháng năm 2011, ngành giấy đã khởi sắc nhưng vẫn chưa đạt mức ổn định cần thiết Sản lượng giấy, bìa các loại tháng 4 ước đạt 178 nghìn tấn, tăng
Trang 3012,6% so với tháng 3 và tăng 28,3% so với tháng 4/2010 Nếu tính chung 4 tháng ước đạt 627 nghìn tấn, tăng 13,8% so với cùng kỳ (tháng 1 tăng 9,5%; tháng 2 tăng 8,3%; tháng 3 tăng 8,7%)
Bên cạnh đó, tình trạng sản lượng và chất lượng than dùng cho sản xuất chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất giấy; các dự án nguyên liệu phục vụ sản xuất đều triển khai chậm so với tiến độ phê duyệt; vốn vay đầu tư các dự án lớn gặp khó khăn; vốn để phát triển sản xuất bị hạn chế; là những khó khăn mà ngành giấy cần phải tiếp tục khắc phục trong thời gian tới
Thị trường tiêu thụ khó khăn, sự cạnh tranh gay gắt của các sản phẩm nhập khẩu, chi phí đầu vào cao, lượng tồn kho của tổng công ty còn nhiều… đã làm tình hình sản xuất, kinh doanh của ngành giấy năm 2012 gặp rất nhiều khó khăn Theo báo cáo của Tổng công ty Giấy Việt Nam, năm 2011 là năm đầy sóng gió của ngành giấy, do sự biến động bất lợi của thị trường, hoạt động sản xuất kinh doanh của các
DN ngành giấy gặp không ít khó khăn Tổng công ty Giấy Việt Nam là một ví dụ điển hình, giá trị sản xuất công nghiệp của tổng công ty chỉ đạt 91% kế hoạch năm (2.883 tỷ đồng), sản phẩm giấy các loại chỉ đạt 279.050 tấn, bằng 88% kế hoạch, lợi nhuận của tổng công ty đạt 114 tỷ đồng, bằng 99% so với cùng kỳ năm trước và đặc biệt là lượng tồn kho của tổng công ty hiện còn rất lớn, hơn 19.000 tấn
Nguyên nhân của tình trạng trên là do năm 2011, tình hình thị trường có nhiều biến động bất lợi, giá cả vật tư, nhiên liệu, nguyên liệu đầu vào như: gỗ, bột giấy, điện than, hoá chất… tăng khá nhiều, riêng giá than đã tăng gấp đôi so với năm 2010 Vốn vay cho đầu tư, phát triển rất hạn chế, không đáp ứng được tiến độ đầu tư và nhu cầu của các đơn vị do đó ảnh hưởng nhiều đến việc thực hiện kế hoạch đầu tư, xây dựng cơ bản và sản xuất của DN Hơn nữa, do thời tiết của năm 2011 không thuận lợi, mưa nhiều vào các tháng đầu năm làm ảnh hưởng không nhỏ tới tiến độ khai thác
gỗ nguyên liệu Nhưng có lẽ nguyên nhân quan trọng nhất chính là sự cạnh tranh trên thị trường giấy ngày càng khốc liệt do sản phẩm giấy nhập khẩu ngày một tràn ngập trên thị trường…
Đặc trưng của ngành giấy việt nam là quy mô nhỏ,có tới 46% doanh
Trang 31nghiệp có công suất dưới 1.000 tấn/năm, 42% có công suất từ 1.000-10.000 tấn/năm, và chỉ có 4 doanh nghiệp có công suất 50.000 tấn/năm, số doanh nghiệp có công suất lớn hơn 50.000 tấn/năm năm sẽ ngày càng gia tăng do quá trình đầu tư tăng trong giai đoạn 2006-2007 Với quy mô nhỏ làm ảnh hưởng đến khía cạch sản xuất chất lượng thấp,chi phí sản xuất và xử lý môi trường cao Hiện tại ngành giấy việt nam nói chung bên cạch những khó khăn về chủ động nguồn bột giấy,ngành còn đang đối mặt với các thách thức về quy mô, quy trình công nghệ và các vấn đề về xử lý môi trường
So với nhiều ngành công nghiệp sản xuất khác, ngành giấy có mức độ ô nhiễm cao và dễ gây tác động đến con người và môi trường xung quanh do ô nhiễm
từ nguồn nước thải
Nguyên nhân là công nghệ sản xuất giấy ở Việt Nam còn rất lạc hậu Đa số các nhà máy giấy có quy mô sản xuất nhỏ (46% doanh nghiệp công suất dưới 1.000 tấn/năm, 42% công suất từ 1.000 -10.000 tấn/ năm), chỉ có 4 doanh nghiệp công suất trên 50.000 tấn/năm, dẫn đến đến tính cạnh tranh sản phẩm vì chất lượng thấp, chi phí sản xuất và xử lý môi trường cao Để sản xuất ra một tấn giấy thành phẩm, các nhà máy phải sử dụng khoảng 2 tấn gỗ và 100 - 350 m3 nước, trong khi các nhà máy giấy hiện đại của thế giới chỉ sử dụng 7-15 m3/tấn giấy Sự lạc hậu này không chỉ gây lãng phí nguồn nước ngọt, tăng chi phí xử lý nước thải mà còn đưa ra sông, rạch lượng nước thải khổng lồ Đặc biệt, tẩy trắng là công đoạn gây ô nhiễm lớn nhất (chiếm 50 - 70% tổng lượng nước thải và từ 80 - 95% tổng lượng dòng thải ô nhiễm) Nước thải, lignin là những vấn đề môi trường chính đối với ngành giấy Bên cạnh đó trung bình một tấn giấy sản xuất còn phát sinh từ 45m - 48 kg chất thải rắn, chưa tính lượng phế liệu đã được tái chế
1.3.2 Giới thiệu công nghệ sản xuất giấy và bột giấy nói chung
Quy trình sản xuất giấy sử dụng nguyên liệu gỗ hay một số thực vật khác như tre, rơm, cỏ, bã mía… được tóm tắt theo sơ đồ sau:
Trang 32Hình 1.5: Sơ đồ công nghệ tổng quát sản xuất bột giấy và giấy từ gỗ, tre, nứa
- Công đoạn sản xuất bột giấy: là giai đoạn tách thành phần xơ sợi từ nguyên
liệu gỗ hay các nguyên liệu khác bằng phương pháp hóa học hay cơ học Tùy theo
yêu cầu cụ thể mà bột giấy có thể không tẩy hoặc tẩy trắng ở mức độ khác nhau
- Công đoạn sản xuất giấy: là giai đoạn tạo hình tờ giấy từ bột giấy – còn gọi
là công đoạn xeo giấy Ở công đoạn này sẽ có một số xử lý cơ học (như quá trình
nghiền) hay hóa học (như sử dụng một số phụ gia) để phát triển liên kết xơ sợi
nhằm có được những tính chất cần thiết cho một sản phẩm giấy (Nguyễn Thị Ngọc
Bích, 2003).
1.3.3 Tình hình ô nhiễm nước thải của ngành giấy hiện nay
Ngành công nghiệp sản xuất bột giấy và giấy là ngành tiêu thụ lượng nước lớn và do đó cũng thải ra một lượng nước thải đáng kể Các nguồn thải chính trong quá trình sản xuất có thể tóm tắt trong bảng sau:
Trang 33Bảng 1.3: Các nguồn thải từ các công đoạn và thiết bị khác nhau
Chuẩn bị nguyên liệu thô
• Ngưng tụ từ các bình nhựa thông
• Rò rỉ và rơi vãi các dịch đen
• Nước làm lạnh đệm từ các máy tinh chế
• Tuyển bột không tẩy
• Các vật thải chứa nồng độ sợi, sạn hay cát cao
• Nước lọc từ quá trình làm đặc bột Tẩy • Nước tẩy chứa chlorolignin
Chuẩn bị nguyên liệu đầu vào
và máy xeo
• Rò rỉ và rơi vãi hóa chất và chất phụ gia
• Sàn và nước rửa sàn
• Rơi vãi bột giấy
• Các chất thải chứa sợi, sạn hoặc cát
• Nước thải chứa sợi
• Dòng tràn nước trắng Các khâu hỗ trợ • Xả nồi hơi
• Các mức thải tái tạo từ máy làm mềm sợi
Thu hồi hóa chất
• Nước ngưng tụ
• Dịch loãng từ các cặn máy tuyển
• Dịch loãng từ máy tuyển bùn
• Nước làm mát đệm và hơi nước ngưng tụ
• Nước ngưng tụ có chất bẩn
(Nguồn: UNEP, nd)
Trong quy trình sản xuất giấy có sử dụng các chất phụ gia như các hợp chất định cỡ hay láng phủ, làm tăng quá trình tạo ra BOD Quá trình xeo giấy thường có hàm lượng chất rắn lơ lửng cao và một lượng các chất hữu cơ hòa tan Các chất ô
Trang 34nhiễm dạng lơ lửng hầu hết là sợi, hay thành phần sợi (dạng mịn), thành phần chất độn và phụ gia, chất bẩn, cát…, và các chất gây ô nhiễm ở dạng hòa tan chứa các chất gỗ keo, thuốc nhuộm, hồ và các chất phụ gia khác Tổng lượng nước thải và tải lượng ô nhiễm của nhà máy giấy được trình bày trong bảng sau:
Bảng 1.4: Các thông số nước thải trước khi xử lý bên ngoài
của các nhà máy giấy
lớn hiện đại
Các nhà máy quy mô trung bình
Các nhà máy nhỏ và cũ
1.4 Tổng quan tình hình nghiên cứu SXSH ngành giấy và bột giấy
1.4.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Ngày nay, sản xuất sạch hơn đã và đang xâm nhập rất nhiều vào lĩnh vực sản xuất cả trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Nhiều giải pháp, công nghệ SXSH đã được ứng dụng hiệu quả
Chương trình môi trường của Liên Hiệp Quốc (UNEP, 1998) đã xây dựng
một Tài liệu hướng dẫn sản xuất sạch trong các nhà máy bột giấy và giấy Trong tài liệu đã đưa ra các cơhội SXSH tại một số công đoạn của quá trình sản xuất bột giấy
và giấy Bên cạnh đó UNEP còn trình bày chi tiết các cản trở đối với sản xuất sạch
và đưa ra các cách giải quyết những cản trở đó Đặc biệt quan tâm là UNEP trình bày về khái niệm xây dựng mức chuẩn và các số chỉ thị về sản xuất sạch Đây là một khái niệm khá mới mẻ, đòi hỏi nhiều thời gian nghiên cứu, nhưng lại giúp cho các doanh nghiệp có thể đánh giá đúng mức về tình hình sản xuất hiện tại để có thể
áp dụng các giải pháp SXSH phù hợp Tài liệu đã minh họa một trường hợp áp dụng SXSH điển hình tại nhà máy giấy ở Ấn Độ và đã đạt được kết quả to lớn về môi trường và kinh tế, được tóm tắt dưới bảng sau:
Trang 35Bảng 1.5: Kết quả thu được sau một năm thực hiện SXSH
tại nhà máy giấy và bột giấy Ashoka, Ấn Độ
Aquatech (1997) đã từng trình bày vấn đề mức chuẩn cho việc áp dụng SXSH
trong một báo cáo trình cho Tập đoàn bảo vệ môi trường Australia Aquatech nhận định mức chuẩn có tiềm năng tạo điều kiện đánh giá khách quan các kết quả của SXSH Mức chuẩn cho phép so sánh hiệu suất giữa các ngành công nghiệp với nhau trong cùng một khu vực thực hiện theo một thời gian nhất định Aquatech đã thực hiện SXSH và áp dụng các chỉ số đo mức chuẩn, theo đó hiệu suất ngành giấy của Australia được so sánh với các nước cụ thể khác như Canada, Mỹ, và Đức Kết quả là có thể rút
ra được các nhận xét về các mặt ưu, khuyết của từng công đoạn sản xuất, từ đó có giải pháp cải tiến quy trình sản xuất hay thay đổi công nghệ sản xuất phù hợp
Ngoài ra còn nhiều dự án áp dụng SXSH khác cho ngành giấy ở các nước như Trung Quốc, Canada…
1.4.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo các chuyên gia, ngành sản xuất giấy có nhiều thuận lợi áp dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn để vừa mang lại hiệu quả kinh tế vừa bảo vệ được môi trường nếu, đáp ứng được yêu cầu về sản xuất xanh trên thị trường quốc tế Đồng thời có cơ hội tiếp cận dễ dàng hơn tới các nguồn tài chính, cải thiện môi trường làm việc; tham gia vào công cuộc bảo tồn tài nguyên, bảo tồn nguồn nước và bảo tồn năng lượng Nếu làm tốt thì một cơ sở sản xuất quy mô vừa và nhỏ cũng có thể tiết kiệm từ 6-15% nguyên liệu thô (xơ và hóa chất tẩy), mang lại lợi ích khoảng 4 tỷ đồng mỗi năm Theo số liệu từ Trung tâm sản xuất sạch Việt Nam, chỉ tính trên 9 doanh nghiệp sản xuất giấy và bột
Trang 36giấy tham gia chương trình đã giảm khối lượng tiêu thụ nguyên liệu thô 700 tấn tre, nứa mỗi năm; giảm tiêu thụ nhiên liệu than 217 tấn/năm; dầu FO giảm trên 788 nghìn lít; giảm 1.850 m3 nước/năm đồng thời giảm khối lượng nước thải 1.850.000 m3; lượng khí
CO2 giảm 5.890 tấn/năm Số tiền các công ty tiết kiệm hàng năm là trên 10 tỷ đồng tương đương 720.000 USD trong khi tổng số tiền đầu tư cho sản xuất sạch hơn chỉ là 3,3
tỷ đồng với thời gian hoàn vốn ngắn dưới 1 năm
Như vậy, nếu tính cả ngành công nghiệp sản xuất giấy và bột giấy, tiềm năng tiết kiệm nước khoảng từ 15-20%, tương đương với khoản tiền chi phí mỗi năm là 275 triệu đồng Hiện nay, chi phí năng lượng trong ngành đang ở mức từ 12-15% tổng chi phí Chỉ cần áp dụng các biện pháp đơn giản và chi phí thấp, sẽ giảm được từ 2 tới 3%; còn nếu thực hiện các giải pháp thay đổi công nghệ, có thể đạt tới mức bảo tồn năng lượng từ 20 - 25% Điều này được minh chứng rõ ràng, nếu so sánh mức độ tiêu thụ tài nguyên trong sản xuất giấy và bột giấy ở nước ta với các nước trên thế giới
Riêng lĩnh vực sản xuất bột giấy là nơi gây ô nhiễm nhiều nhất (chiếm khoảng 80% tải lượng ô nhiễm) lại càng có cơ hội áp dụng sản xuất sạch hơn nhất Bao gồm từ việc thay thế nguyên liệu thô, cải tiến công nghệ và tuần hoàn nước Theo tính toán, nếu thực hiện các giải pháp quản lý nội vi, thay đổi công nghệ, chỉ cần giảm 1% một số hóa chất, thu hồi từ 20 – 45 kg xơ, tiết kiệm từ 20 - 60 m3nước, giảm năng lượng hơi từ 0,2 - 0,6 tấn và tăng năng suất bột giấy từ 5 - 7 %, thì mỗi tấn giấy đã có thể giảm chi phí từ 9 tới 18,5 USD Nếu tỉnh tổng sản lượng của ngành giấy là 1,38 triệu tấn vào năm 2010 thì con số này sẽ rất lớn, chưa kể những lợi ích to lớn về môi trường do sự tiết giảm tiêu hao tài nguyên mang lại
Tại Việt Nam, chương trình SXSH hiện đã được phổ biến khá rộng rãi Nhiều nhà máy đã ứng dụng SXSH và đạt được lợi ích kinh tế - môi trường cao, như nhà máy giấy Linh Xuân, hay công ty giấy Xuân Đức, Vĩnh Huê… Bên cạnh đó cũng có nhiều nghiên cứu nhằm tìm kiếm các giải pháp SXSH thích hợp và đạt hiệu quả cao
Viện công nghiệp giấy và xenlulô có nhiều đề tài về chủ đề này như:
• “Nghiên cứu sản xuất bột giấy bằng công nghệ sạch hơn đồi với nguyên
liệu là cây ngắn ngày” – Đề tài cấp bộ năm 1996
• “Nghiên cứu công nghệ tẩy trắng bột giấy sử dụng ôxy – kiềm” – Đề tài cấp nhà nước năm 2000 – 2001
• “Nghiên cứu công nghệ sản xuất bột giấy, linhin và đường xyloza từ
Trang 37nguyên liệu bã mía và rơm lúa sử dụng môi trường dung môi hữu cơ và chất xúc tác” – Đề tài cấp bộ năm 2001
Nhìn chung, các giải pháp SXSH cho ngành giấy được tóm tắt trong sơ đồ sau:
Hình 1.6: Sơ đồ tóm tắt các giải pháp thực hiện SXSH cho ngành giấy
(Nguồn: UNEP, nd)
SẢN XUẤT SẠCH HƠN
Thu hồi và sử
dụng tại chỗ phẩm có ích Tạo ra phế quy trình Thay đổi
Bảo dưỡng tốt hàng ngày
• Sử dụng sợi ngắn/thải làm bìa
• Tạo biogas
từ chất thải hữu cơ
• Sử dụng phế liệu từ khâu làm sạch nguyên liệu làm nhiên liệu nồi hơi
- Sản xuất các loại giấy
có sản lượng cao
• Sản xuất giấy không tẩy thay cho giấy tẩy
• Sửa chữa tất cả rò rỉ
• Đóng chặt tất cả van/vòi khi không
sử dụng
• Che các sàn lọc rung, tránh rơi vãi
• Loại bỏ cặn vân trong sàng lưới và vòi phun nước
• Thay đổi nguyên liệu đầu vào:
Dùng thuốc nhuộm không độc
Tẩy bằng hydrogen peroxide
• Kiểm soát các quy trình tốt hơn:
Tối ưu hóa quy trình nấu Tinh chế ớ mức ổn định bột cao nhất có thể
• Cải biến thiết bị:
Lắp vòi phun nước hiệu quả
Có bể thổi kích cỡ hợp lý, tránh rơi vãi bột
Cung cấp máy nghiền bột vụn
Dùng bộ thu gom sợi có áp lực cao trong máy làm sạch
ly tâm
Dùng các bộ điện dung để nâng cao hệ số điện năng Cung cấp các bộ nạo hốc có kích cỡ hợp lý
Lắp bộ điều chỉnh bộ ổn định
• Thay đổi công nghệ:
Cái biến quy trình nghiền bột
Cân nhắc các quy trình nghiền bột thay thế
Cải biến quy trình rửa và khử nước
Dùng các quy trình tẩy thay thế, như tẩy oxy/tẩy ozone
Trang 38Kết quả ứng dụng SXSH ngành giấy và bột giấy ở một số công ty được thể hiện qua các bảng sau:
Bảng 1.6: Công ty sản xuất giấy thương mại Phong Châu,
Công ty giấy Bãi Bằng
Các giải pháp Lợi ích kỹ thuật Lợi ích
kinh tế Lợi ích môi trường
1 Làm mái che cho
khu nhiên liệu
Giảm tiêu thụ điện năng 65.000 kwh/năm Giảm tiêu thụ than 214 tấn/năm
Tương đương 365 triệu VNĐ/năm
Giảm nhiệt độ môi trường làm việc và bệnh nghề nghiệp, cải thiện sức khỏe của người lao động
2 Xây dựng hệ thống
xử lý hóa chất thu hồi
bột giấy và tuần hoàn
nước thải xeo
Giảm tiêu thụ nguyên liệu
100 tấn/năm Thu hồi bột giấy trong nước thải 750 tấn/năm
Giảm tiêu thụ 210.000 m3 nước/năm nhờ tuần hoàn nước thải xeo
Tương đương 617 triệu VNĐ/năm
Giảm 1000 tấn bột giấy thải/năm
Giảm 210.000 m3 nước thải/năm
3 Chuyển từ lò hơi
đốt than sang lò hơi
đốt biomass thải của
Công ty giấy Bãi Bằng
Chuyển từ đốt than sang đốt Biomass thải
Giảm tiêu hao nguyên vật liệu 3% (190 tấn/năm)
Đem lại lợi ích kinh tế 3,66 tỷ VNĐ/năm
Giảm 3267 tấn CO2/năm và 3,4 tấn SO2/năm
Tạo không khí thông thoáng trong các phân xưởng sản xuất
1 Sửa chữa và bảo
ôn các ống dẫn hơi
Giảm tiêu thụ điện năng 1.676.936 kwh/năm
Khoảng 2 tỷ/năm
Lượng phát thải khí nhà kính giảm hẳng năm 8.298 tấn/năm
Lượng nước thải giảm hằng năm 3.727.390 m3/năm
Tương đương 3 tỷ/năm
Trang 39Công ty Cổ phần giấy xuất khẩu Thái Nguyên (sản phẩm giấy vàng mã):
Tiết kiệm 616,1 triệu đồng/năm
Giảm 125 tấn CO2/năm
2 Giải pháp đầu
tư lớn:
Thu hồi 5.031 tấn bột giấy/năm
Giảm 4.658 tấn sản phẩm hỏng
Giảm tiêu thụ 114.430 m3/năm nước
Tiết kiệm 1,5
tỷ VNĐ/năm
Giảm 5,19 tấn bụi/năm
Giảm 114.400 m3/năm nước thải
Trang 40Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Quy trình sản xuất giấy đế và bột giấy của nhà máy
- Các giải pháp SXSH cho Nhà máy sản xuất giấy
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về không gian: Nhà máy sản xuất giấy đế và bột giấy Na Hang, Huyện Na Hang, Tỉnh Tuyên Quang – thuộc Công ty Cổ phần xây dựng tổng hợp Tuyên Quang
Phạm vi về thời gian: từ 1/2014 đến 3/2015
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm và tình hình sản xuất tại nhà máy giấy đế và bột giấy
Na Hang ,Tuyên Quang
- Phân tích các công đoạn sản xuất chính của nhà máy giấy đế và bột giấy Na Hang,Tuyên Quang
- Xác định và đánh giá các nguồn thải chính của nhà máy giấy đế và bột giấy
Na Hang,Tuyên Quang
- Đề xuất và lựa chọn các cơ hội sản xuất sạch hơn cho nhà máy giấy đế và bột giấy Na Hang , Tuyên Quang
- Đánh giá tính khả thi của các biện pháp lựa chọn
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập số liệu thứ cấp từ các công trình nghiên cứu, các báo cáo, bài báo khoa học và các số liệu thống kê sẵn có liên quan tới đề tài, bao gồm:
- Tình hình áp dụng sản xuất sạch hơn trên thế giới và ở Việt Nam
- Các vấn đề môi trường ngành công nghiệp sản xuất giấy
- Tình hình áp dụng SXSH ở ngành công nghiệp giấy