BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM DƯƠNG VĂN YÊN NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG MẬT ĐỘ MẠ NÉM VÀ LIỀU LƯỢNG ĐẠM ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
DƯƠNG VĂN YÊN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG MẬT ĐỘ MẠ NÉM VÀ LIỀU LƯỢNG ĐẠM ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA KHANG DÂN 18
TẠI TÂN YÊN - BẮC GIANG
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ: 60.62.01.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS TĂNG THỊ HẠNH
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ một công trình khoa học nào khác Các thông tin trích dẫn sử dụng trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Dương Văn Yên
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Tăng Thị Hạnh, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô khoa Nông học,
Bộ môn Cây lượng thực- Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ
và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy, cô đã tham gia giảng dạy chương trình cao học cùng toàn thế bạn bè, đồng nghiệp, người thân và gia đình đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất nong nhận được những ý kiến đóng góp của đồng nghiệp và bạn đọc
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Dương Văn Yên
Trang 41.1.4 Tình hình sản xuất và cơ cấu giống lúa ở huyện Tân Yên- Bắc
1.2 Các kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của phân đạm đến sinh trưởng
1.2.3 Một số kết quả nghiên cứu về dinh dưỡng đạm cho cây lúa 16
1.4 Nghiên cứu về mối tương quan giữa phân bón và mật độ cấy 25
Trang 5CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1 Ảnh hưởng mật độ mạ ném và liều lượng đạm đến sinh trưởng,
3.1.1 Ảnh hưởng mật độ mạ ném và liều lượng đạm đến thời gian sinh
3.1.2 Ảnh hưởng mật độ mạ ném và liều lượng đạm đến động thái tăng
3.1.3 Ảnh hưởng mật độ mạ ném và liều lượng đạm đến động thái đẻ
3.2 Ảnh hưởng mật độ mạ ném và liều lượng đạm đến một số chỉ
3.2.1 Ảnh hưởng mật độ mạ ném và liều lượng đạm đến chỉ số diện
3.2.2 Ảnh hưởng mật độ mạ ném và liều lượng đạm đến khối lượng
3.2.3 Ảnh hưởng của mật độ mạ ném và liều lượng đạm đến tốc độ tích
Trang 63.2.4 Ảnh hưởng mật độ mạ ném và liều lượng đạm đến hiệu suất
quang hợp thuần của giống lúa Khang dân 18 (HSQHT) 53 Kết quả tổng hợp ảnh hưởng của từng yếu tố mật độ và liều lượng đạm
3.2.5 Ảnh hưởng mật độ mạ ném và liều lượng đạm đến mức độ gây
hại của một số loại sâu, bệnh hại trên giống lúa Khang dân 18 55 3.3 Ảnh hưởng mật độ mạ ném và liều lượng đạm đến năng suất và
các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa Khang dân 18 57 3.4 Ảnh hưởng mật độ mạ ném và liều lượng đạm đến năng suất sinh
vật học và hệ số kinh tế của giống lúa Khang dân 18 63 3.5 Ảnh hưởng mật độ mạ ném và liều lượng đạm đến một số chỉ
3.6 Tương quan giữa năng suất hạt và các yếu tố liên quan ở các giai
3.6.1 Tương quan giữa năng suất thực thu và chỉ số diện tích lá (LAI) 66 3.6.2 Tương quan giữa năng suất thực thu và tốc độ tích lũy chất khô 68
Trang 7NSLT : Năng suất lý thuyết
NSTT : Năng suất thực thu
NSSVH : Năng suất sinh vật học
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới giai đoạn 2006 - 2013 4 1.2 Tình hình sản xuất lúa tại Việt Nam giai đoạn 2006 - 2013 7 1.3 Tình hình sản xuất lúa tại tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2005 - 2012 8 1.4 Tình hình sản xuất lúa tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 10 1.5 Cơ cấu giống lúa vụ xuân, vụ mùa năm 2012 của huyện Tân Yên 11 1.6 Tình hình sử dụng phân bón cho lúa tại tỉnh Tân Yên- Bắc Giang
3.1 Ảnh hưởng mật độ mạ ném và liều lượng đạm qua các giai đoạn
sinh trưởng của giống lúa Khang dân 18 tại Tân Yên- Bắc Giang 36 3.2a Ảnh hưởng tương tác mật độ mạ ném và liều lượng đạm đến
động thái tăng trưởng chiều cao cây của giống lúa Khang dân 18
3.2b Ảnh hưởng tương tác mật độ mạ ném và liều lượng đạm đến
động thái tăng trưởng chiều cao của giống lúa Khang dân 18
3.2c Ảnh hưởng của từng yếu tố mật độ mạ ném, liều lượng đạm đến
chiều cao cây của giống lúa Khang dân 18 tại Tân Yên- Bắc
3.3a Ảnh hưởng tương tác mật độ mạ ném và liều lượng đạm đến
động thái đẻ nhánh và tỷ lệ đẻ nhánh hữu hiệu của giống lúa
3.3b Ảnh hưởng của từng yếu tố mật độ mạ ném, liều lượng đạm đến
số nhánh tối đa/m2 và tỷ lệ đẻ nhánh hữu hiệu của giống lúa
Trang 93.4a Ảnh hưởng tương tác mật độ mạ ném và liều lượng đạm đến chỉ số
diện tích lá (LAI) của giống lúa Khang dân 18 tại Tân Yên- Bắc
3.4b Ảnh hưởng của từng yếu tố mật độ mạ ném và liều lượng đạm đến
chỉ số diện tích lá (LAI) của giống lúa Khang dân 18 tại Tân Yên-
3.5a Ảnh hưởng tương tác mật độ mạ ném và liều lượng đạm đến khối
lượng chất khô tích lũy của giống lúa Khang dân 18 tại Tân Yên-
3.5b Ảnh hưởng của từng yếu tố mật độ mạ ném và liều lượng đạm
đến khối lượng chất khô tích lũy của giống lúa Khang dân 18 tại
3.6a Ảnh hưởng tương tác mật độ mạ ném và liều lượng đạm đến tốc
độ tích lũy chất khô của giống lúa Khang dân 18 tại Tân Yên-
3.6b Ảnh hưởng của từng yếu tố mật độ mạ ném và liều lượng đạm
đến tốc độ tích lũy chất khô của giống lúa Khang dân 18 tại Tân
3.7a Ảnh hưởng tương tác mật độ mạ ném và liều lượng đạm đến hiệu
suất quang hợp thuần của giống lúa Khang dân 18 tại Tân Yên-
3.7b Ảnh hưởng của từng yếu tố mật độ mạ ném và liều lượng đạm
đến hiệu suất quang hợp thuần của giống lúa Khang dân 18 tại
3.8 Ảnh hưởng mật độ mạ ném và liều lượng đạm đến mức độ gây
hại của một số loại sâu, bệnh hại trên giống lúa Khang dân 18 tại
Trang 103.9a Ảnh hưởng tương tác mật độ mạ ném và liều lượng đạm đến
năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa Khang dân 18 trong vụ Xuân năm 2014 tại Tân Yên- Bắc Giang 58 3.9b Ảnh hưởng tương tác mật độ mạ ném và liều lượng đạm đến
năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa Khang
3.9c Ảnh hưởng từng yếu tố mật độ mạ ném và liều lượng đạm đến
năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa Khang dân 18 trong vụ Xuân năm 2014 tại Tân Yên- Bắc Giang 61 3.9d Ảnh hưởng từng yếu tố mật độ mạ ném và liều lượng đạm đến
năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa Khang dân 18 trong vụ Mùa năm 2014 tại Tân Yên- Bắc Giang 63 3.10 Ảnh hưởng mật độ mạ ném và liều lượng đạm đến năng suất sinh
vật học và hệ số kinh tế của giống lúa Khang dân 18 tại Tân Yên-
3.11 Ảnh hưởng mật độ mạ ném và liều lượng đạm một số chỉ tiêu
3.12 Hiệu quả kinh tế mật độ mạ ném và liều lượng đạm khác nhau
trên giống lúa Khang dân 18 tại Tân Yên- Bắc Giang 69
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
3.1 Tương quan giữa năng suất thực thu và chỉ số diện tích lá 67 3.2 Tương quan giữa năng suất thực thu và tốc độ tích lũy chất khô 68
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây lúa (Oryza sativa L.) là một trong những cây trồng cung cấp nguồn lương
thực quan trọng nhất của loài người, với 40% dân số thế giới sử dụng lúa gạo làm thức
ăn chính và có ảnh hưởng đến đời sống của ít nhất 65% dân số thế giới
Trước tình hình dân số ngày càng tăng, trong khi đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá, nhiều nông dân bỏ ruộng hoang vì hiệu quả thu được từ lúa thấp Bên cạnh đó cây lúa hiện nay không cạnh tranh được với các một số cây trồng khác như: Đỗ tương, ngô do chi phí sản xuất lúa quá cao Vấn đề đặt ra hiện nay đối với sản xuất lúa là tìm giải pháp giảm chi phí sản xuất, tăng thu nhập trên đơn vị diện tích Để làm được điều này người dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang đã áp dụng nhiều công nghệ sản xuất lúa, trong
đó có công nghệ mạ ném học hỏi ở hai tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến (Trung Quốc) từ nhiều năm nay
Theo kinh nghiệm người dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang mạ ném với mật độ 777 khay/ha, mật độ 777 khay/ha là cao so với giống lúa thuần trên thực tế lúa là loại cây có khả năng tự điều chỉnh trong quần thể, nếu ném mạ với mật độ quá cao cây lúa sẽ ít hoặc không đẻ nhánh, tỷ lệ nhánh hữu hiệu thấp Trên một đơn
vị diện tích nếu mật độ càng cao thì số bông càng nhiều Trong một giới hạn nhất định, nếu tăng số bông/khóm sẽ không làm giảm số hạt/bông và khối lượng 1000 hạt, nhưng nếu tăng số bông/khóm vượt qua giới hạn nhất định thì số hạt/bông, khối lượng
1000 hạt sẽ giảm dần do sự cạnh tranh dinh dưỡng và ánh sáng, vì vậy khi ném mạ quá cao năng suất sẽ giảm nghiêm trọng Nếu mật độ ném quá thưa đối với giống có thời gian sinh trưởng ngắn ngày khó đạt được số bông tối ưu
Đạm là yếu tố dinh dưỡng ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây lúa (Wada và cs, 1969; Vũ Hữu Yêm, 1995) Các giống có thời gian sinh trưởng khác nhau thì khả năng sử dụng N cũng khác nhau (Yoshida, 1981) Thiếu N làm cho cây sinh trưởng rất kém, diệp lục không hình thành, đẻ nhánh và phân cành kém, giảm sút hoạt động quang hợp và tích lũy, giảm năng suất nghiệm trọng (Hoàng Minh
Trang 13Tuấn và cs, 2006)
Tuy nhiên, thừa N ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến sinh trưởng, phát triển và hình thành năng suất của cây trồng Cây sinh trưởng quá mạnh, thân lá tăng trưởng nhanh mà mô cơ giới kém hình thành nên cây rất yếu và gây nên hiện tượng lốp đổ, giảm năng suất nghiêm trọng và có nhiều trường hợp không cho thu hoạch (Hoàng Minh Tuấn và cs, 2006)
Tân Yên có diện tích gieo cấy lúa trên 13000 ha/năm, là huyện thuần nông, đất bạc màu, năng suất lúa bình quân 5,47 tấn/ha (năm 2012) Với mức đạm bón cho lúa khoảng 120 kg N/ha, mức đạm bón 120 Kg N/ha là cao so với giống lúa thuần Việc sử dụng nhiều phân đạm và mật độ cao không những không làm tăng năng suất lúa mà còn làm tăng áp lực sâu bệnh hại trên đồng ruộng, tình trạng lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật gia tăng dẫn đến gây ô nhiễm môi trường
Như vậy, việc nghiên cứu tìm ra mật mạ ném và liều lượng phân đạm cho cây lúa là hết sức cần thiết, xây dựng đươc công thức bón đạm cho cây ở mật độ mạ ném phù hợp, tạo điều kiện cho sinh trưởng và phát triển của cây lúa, đồng thời cũng mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất là một vấn đề cần thiết
Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên tôi tiến hành đề tài: "Nghiên cứu ảnh
hưởng mật độ mạ ném và liều lượng đạm đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa Khang dân 18 tại Tân Yên- Bắc Giang "
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định ảnh hưởng của mật độ mạ ném và liều lượng đạm đến các chỉ tiêu sinh sinh trưởng như đẻ nhánh, chỉ số diện tích lá, khối lượng chất khô tích lũy, tốc
độ tích lũy chất khô, hiệu suất quang hợp thuần, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất hạt của giống lúa Khang dân 18 tại Tân Yên - Bắc Giang
- Xác định loại mật độ mạ ném và liều lượng đạm ảnh hưởng đến năng suất
và chất lượng giống lúa Khang dân 18 trong vụ Xuân và vụ Mùa 2014 tại Tân Yên- Bắc Giang
- Xác định ảnh hưởng của mật độ mạ ném và liều lượng phân đạm khác nhau đến mức độ nhiễm sâu bệnh của giống lúa Khang dân 18 tại Tân Yên- Bắc Giang
Trang 14- Xác định ảnh hưởng của mật độ mạ ném và liều lượng phân đạm khác nhau đến hiệu quả kinh tế của giống lúa Khang dân 18 trong vụ Xuân và vụ Mùa năm
2014
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp xác định được ảnh hưởng các loại mật độ
mạ ném và liều lượng đạm khác nhau đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống lúa Khang dân 18 trong vụ Xuân và vụ Mùa tại Tân Yên- Bắc Giang
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Tìm ra mật độ mạ ném và liều lượng đạm thích hợp cho năng suất, chất lượng của giống lúa Khang dân 18 trong vụ Xuân và vụ Mùa năm 2014 tại Tân Yên
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và Việt Nam
1.1.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới
Cây lúa thuộc loại cây ngũ cốc có lịch sử lâu đời, trải qua quá trình chọn lọc và bến đổi từ cây lúa hoang dại thành cây lúa như ngày nay Lúa gạo có nguồn gốc nhiệt đới, do khả năng thích ứng rộng nên có thể trồng ở nhiều vùng khí hậu khác nhau và được phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới Theo nghiên cứu của nhiều tác giả ở nhiều nước như: Liên Xô (cũ), Ấn Độ, Việt Nam, Nhật Bản, Trung Quốc… đã cho thấy nguồn gốc cây lúa thuộc vùng đầm lầy Đông Nam Á và hiện nay được phân bố rộng rãi trên khắp thế giới trải dài từ 530 Bắc tới 400 Nam, nhưng tập chung chủ yếu ở Châu
Á chiếm tỷ lệ 61,2% diện tích trồng lúa thế giới, Châu Mỹ chiếm 6,3%, Châu Phi 3,1%, Châu Úc 1% Trong đó, Ấn Độ là nước có diện tích trồng lúa lớn nhất thế giới với diện tích 37 triệu ha, tiếp theo là Trung Quốc 30,1 triệu ha Bên cạnh đó, cũng có những nước có diện tích trồng lúa nhỏ như Jamaica 1 ha, Swaziland 35 ha
Châu Á có diện tích trồng và sản lượng lớn nhất nhưng năng suất cao nhất lại
là ở Châu Âu và Châu Đại Dương Trong lịch sử phát triển thì cây lúa là loại cây trồng có tốc độ phát triển tương đối nhanh về cả diện tích, năng suất và sản lượng Dưới đây là bảng số liệu về diện tích, năng suất và sản lượng lúa toàn thế giới giai đoạn 2006 – 2013
Bảng 1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới giai đoạn 2006 - 2013
Trang 16Qua bảng số liệu 1.1 cho thấy được tình hình sản xuất lúa trên thế giới có nhiều biến động
Diện tích trồng lúa có nhiều thay đổi từ 155,3 triệu ha năm 2006 xuống còn 155,0 triệu ha năm 2007, nhưng sau năm 2008 thì diện tích có xu hướng tăng đều qua các năm
Năng suất lúa có xu hướng tăng và khá ổn định qua các năm Năng suất lúa thấp nhất là 4,13 tấn/ha vào năm 2006 Sau đó tăng khá đều qua các năm và đạt cao nhất là 4,55 tấn/ha vào năm 2012, năm 2013 năng suất đạt 4,53 tấn/ha giảm 0,2 tấn/ha so với năm 2012
1.1.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam
Việt nam là một nước nông nghiệp với đa số người dân sinh sống bằng nông nghiệp Trải qua 4000 năm lịch sử cây lúa luôn gắn liền với sự phát triển của dân tộc Nước ta nằm ở tọa độ 8030’- 23023’ vĩ tuyến bắc và 102010’- 109029’ kinh tuyến đông, thuộc vùng khí hậu nhiệt đới Với đặc điểm khí hậu này đã phần nào khẳng định tiềm năng về sự phát triển cây lúa
Cây lúa là cây lương thực chính trong mục tiêu phát triển nông nghiệp của Việt Nam để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu Lúa ở Việt Nam trải dài từ Bắc vào Nam và có 3 vùng trồng lúa chủ yếu là ĐB Sông Hồng, ĐB Sông Cửu Long và ĐB Duyên hải miền Trung Trong đó, ĐB Sông Cửu Long (2,1 triệu ha) và ĐB Sông Hồng (1,7 triệu ha) được coi là 2 vựa lúa chính của cả nước
Về giá cả, Bộ công thương cho biết: Mặc dù bối cảnh chung thị trường xuất khẩu gạo gặp nhiều khó khăn, nhưng xuất khẩu gạo của Việt Nam những tháng đầu năm 2013 vẫn tăng mạnh về số lượng, lúa hàng hóa được tiêu thụ với mức giá tốt nhất, không ảnh hưởng tiêu cực đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Thị trường xuất khẩu gạo được mở rộng do Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và uy tín lúa gạo Việt Nam trên thị trường Thế giới được cải thiện Quá trình hội nhập sâu vào kinh tế Thế giới và Khu vực, bên cạnh thách thức, lúa gạo Việt Nam cũng có nhiều cơ hội để mở rộng thị trường xuất khẩu Trong khi đó nhu cầu gạo trên thị trường Thế giới và khu vực 5 năm
Trang 17tới dự báo tiếp tục sôi động do cầu vẫn tăng Việt Nam và các nước như Indonesia, Philippin, Nhật Bản đã có sự phối hợp trong các hoạt động xuất khẩu gạo với các nước trên thị trường Thế giới
Bên cạnh những thuận lợi thì xuất khẩu gạo Việt Nam cũng gặp những thách thức không nhỏ vì Việt Nam là thành viên của WTO nên thị trường nông sản nói chung, thị trường lúa gạo nói riêng sẽ mở rộng cửa cho hàng nhập khẩu từ các nước Hàng rào thuế quan và sự bảo hộ của Nhà nước đối với sản xuất và xuất khẩu gạo sẽ dần hạn chế và tiến tới bãi bỏ Gạo Thái Lan, Mỹ, Trung Quốc, Pakistan… và các nước khác có chất lượng cao, giá rẻ hơn sẽ tràn vào thị trường Việt Nam với thuế nhập khẩu không đáng kể (94% hàng hoá Mỹ nhập vào Việt Nam hưởng thuế suất 15%, trong đó hàng lương thực gạo, ngô không đáng kể) Do đó lúa gạo Việt Nam phải chịu sức ép cạnh tranh gay gắt ngay trên sân nhà, trong khi đó cơ sở vật chất
kỹ thuật phục vụ sản xuất, chế biến gạo của ta còn lạc hậu
Dân số Việt Nam vẫn tăng nhanh, đạt xấp xỉ 90,5 triệu người năm 2014 trong khi quỹ đất dành cho trồng lúa có hạn, năng suất lúa nhiều vùng, nhất là ĐB sông Hồng gần như việc tăng năng suất thêm nữa là rất khó khăn Tập quán sản xuất nhỏ, quy mô gia đình, tự cung tự cấp, chạy theo năng suất xem nhẹ chất lượng gạo vẫn phổ biến trong hầu hết các hộ gia đình Trình độ Khoa học, Công nghệ và Kiến thức thị trường của nông dân còn nhiều hạn chế
Đứng trước tình hình đó, chiến lược sản xuất lúa của Việt Nam trong thời gian tới là: Phấn đấu đạt và duy trì sản lượng lúa hàng năm là 40 triệu tấn/năm, đẩy mạnh sản xuất các giống lúa có chất lượng cao, dành 1 triệu ha để sản xuất lúa phục
vụ mục tiêu xuất khẩu, duy trì, chọn lọc, lai tạo và nhập khẩu các giống lúa có chất lượng cao phục vụ cho yêu cầu của sản xuất là một nhiệm vụ sống còn và phải đạt thành chương trình cấp quốc gia và phải huy động cả “4 nhà” (Nhà nước, nhà khoa học, nhà nông và nhà doanh nghiệp) cùng tham gia thì mới hy vọng đạt được kết quả như mong đợi
Qua Bảng 1.2 cho thấy: Diện tích trồng lúa của nước ta giữ ở mức ổn định từ 7,2 – 7,6 triệu ha, từ năm 2006 – 2008 diện tích có xu hướng giảm: 7,3 triệu ha
Trang 18giảm xuống 7,2 triệu ha, từ năm 2009 – 2013 diện tích có xu hướng tăng từ 7,4 triệu
ha tăng lên 7,9 triệu ha Năng suất qua các năm trở lại đây có chiều hướng tăng: 5,23 tấn/ha (2009) tăng lên 5,57 tấn/ha (2013), năng suất chỉ tăng 0,1 tấn/ha Sản lượng cũng theo đó tăng lên đạt mức 42 triệu tấn/năm
Sản lương thực của nước ta không ngừng tăng trong những năm qua Nhưng
để đối phó với diễn biến bất thường của thời tiết, sự gia tăng dân số, sự giảm dần diện tích gieo cấy do chuyển đổi mục đích sử dụng mà vẫn đảm bảo an ninh lương thực và giữ vững vị thế là một trong những nước xuất khẩu lúa gạo hàng đầu thế giới thì điều kiện cần thiết là phải tiếp tục đầu tư thâm canh tăng vụ, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thật nhằm giảm chi phí sản xuất, nâng cao thu nhập cho người trồng lúa…
Bảng 1.2 Tình hình sản xuất lúa tại Việt Nam giai đoạn 2006 - 2013
(Triệu tấn) (Triệu ha) (Tấn/ha)
(nguồn: FAOSTAT | © FAO Statistics Division 2014)
1.1.3 Tình hình sản xuất lúa tại tỉnh Bắc Giang
Bắc Giang là tỉnh có truyền thống sản xuất lúa từ rất lâu đời và hiện nay lúa vẫn là cây lương thực chủ lực của tỉnh Bắc Giang khi tái lập là tỉnh còn thiếu lương thực, hiện nay đã bảo đảm an ninh lương thực, có dự trữ và hướng tới sản xuất lương thực hàng hóa
Trang 19Bảng 1.3 Tình hình sản xuất lúa tại tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2005 - 2012
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bắc Giang 2013)
Qua bảng số liệu 1.3 cho thấy, từ năm 2005 đến 2009 diện tích canh tác lúa tại tỉnh Bắc Giang giảm 2643 ha Nguyên nhân là do tỉnh dành một số quỹ đất nông nghiệp cho phát triển một số khu công nghiệp như: Khu công nghiệp Đình Trám, khu công nghiệp Quang Châu huyện Việt Yên, các khu công nghiệp ở huyện Hiệp Hòa, Yên Thế, Tân Yên và Yên Dũng Mặt khác cũng do quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng có hiệu quả kinh tế cao hơn như: Trồng ớt, trồng rau, lạc, hoa màu Tuy nhiên sang năm 2010 diện tích lúa lại tăng 887 ha so với năm 2009 Nguyên nhân là do một số cây trồng không có hiệu quả cho nên nông dân đã chuyển sang canh tác lúa
Mặc dù diện tích lúa giảm nhưng năng suất và sản lượng lúa ở Bắc Giang đều tăng lên qua các năm Từ năm 2005-2012 năn suất tăng 4,88 tấn/ha đến 5,61 tấn/ha Sản lượng tăng từ 556534,7 tấn lên 629189,6 tấn Nguyên nhân do việc tăng cường du nhập một số giống lúa mới, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
1.1.4 Tình hình sản xuất và cơ cấu giống lúa ở huyện Tân Yên- Bắc Giang
1.1.4.1 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý: Tân Yên là huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Bắc Giang,
có diện tích tự nhiên 20660,86 ha Tân Yên nằm sát thành phố Bắc Giang, cách thủ
đô Hà Nội 60 km về phía Tây, cách thành phố Thái Nguyên 50 km về phía Tây Bắc Phía Bắc giáp huyện Yên Thế;
Trang 20Phía Đông giáp huyện Lạng Giang;
Phía Nam giáp huyện Việt Yên và thành phố Bắc Giang;
Phía Tây giáp huyện Hiệp Hoà và tỉnh Thái Nguyên
Điều kiện khí hậu: huyện Tân Yên chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm Đặc điểm chính về khí hậu thời tiết của huyện như sau:
- Nhiệt độ bình quân cả năm 23,70C, trong đó nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 29,40C, nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 15,90C; tổng tích ôn đạt trên
85000C
- Lượng mưa bình quân hằng năm 1476 mm nhưng phân bố không đồng đều Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 cho đến tháng 10, lượng mưa chiếm khoảng 85% tổng lượng mưa cả năm, đặc biệt tập trung vào các tháng 7; 8; 9 nên thường gây úng ngập cục bộ ở các vùng thấp trũng Các tháng 11 đến tháng 4 lượng mưa ít, chiếm 15% lượng mưa cả năm
Đất đai: Tân Yên, đất hình thành do phong hoá đá mẹ và do phù sa sông bồi
tụ Tổng diện tích tự nhiên của Tân Yên hiện nay là 20660,86 ha, trong đó được phân thành các nhóm đất
- Nhóm đất phù sa: Chủ yếu ở vùng trũng, thấp, được bồi đắp bởi phù sa của sông Thương có diện tích 2431 ha chiếm 11,77% diện tích tự nhiên, gồm các loại đất chính sau: Đất phù sa không được bồi trung tính ít chua; Đất phù sa không được bồi chua; Đất phù sa gley; Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng
- Nhóm đất xám, bạc màu: Có 8882 ha chiếm 42,99% diện tích tự nhiên Điển hình có: Đất bạc màu phát triển trên đất phù sa; Đất dốc tụ bạc màu có Feralitic;
- Nhóm đất Feralitic: với 4705 ha chiếm 22,77% diện tích tự nhiên Phân bố chủ yếu ở địa hình đồi núi, được phát triển trên nền phù sa cổ, dăm cuội kết và cát kết, phiến thạch sét Gồm: Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa; Đất nâu vàng trên phù
sa cổ; Đất nâu tím phát triển trên phiến thạch sét, Đất Feralitic vàng đỏ phát triển trên sa thạch cuội kết, dăm kết…
Trang 211.1.4.2 Tình hình sản xuất lúa tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
Bảng 1.4 Tình hình sản xuất lúa tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bắc Giang 2013)
Qua bảng 1.4 cho thấy từ năm 2005 đến 2009 theo chủ trương của tỉnh về sử dụng quỹ đất nông nghiệp cho phát triển công nghiệp, do đó diện tích đất nông nghiệp tại huyện giảm 774 ha Mặt khác diện tích giảm là do nông dân của huyện tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong đó chủ lực là ớt suất khẩu
Từ năm 2009 đến 2010 diện tích đất nông nghiệp tăng lên 340 ha, nguyên nhân là do cây ớt trồng không có hiệu quả kinh tế, nông dân chuyển sang trồng lúa Năm 2012 diện tích đất nông nghiệp toàn huyện giảm còn 13573 ha Mặc du diện tích trồng lúa giảm nhưng năng suất lúa lại tăng do huyện áp dụng các giống lúa mới trong đó có giống Thiên ưu 8 chiếm đến 11,35 % trong vụ Xuân và 14,89% trong vụ mùa trển tổng sản lượng lúa của toàn huyện Mặc dù diện tích giảm nhưng
từ năm 2005-2011 năng suất và sản lượng lúa lại tăng lên qua các năm Riêng năm
2012 năng suất lúa giảm 676,2 tấn so với năm 2011, nguyên nhân là năng suất lúa năm 2012 tăng nhưng diện tích lúa giảm 34 ha so với năm 2011 do vậy sản lượng lúa giảm
1.1.4.3 Cơ cấu giống lúa của huyện Tân Yên
Qua bảng số liệu 1.5 cho thấy cơ cấu giống lúa của huyện khá đa dạng, phong phú Nhìn chung cơ cầu lúa vụ Xuân và vụ Mùa không chênh lệch nhau nhiều Thực hiện chủ trương của huyện về chuyển dịch cơ cấu cây trồng, trong đó đưa lúa Thiên ưu 8 vào sản xuất Năm 2012 giống lúa Thiên ưu 8 chiếm 11,35% cơ cấu giống lúa ở vụ Xuân và 14,89% cơ cấu giống lúa ở vụ Mùa, cơ cấu giống của
Trang 22Bảng 1.5: Cơ cấu giống lúa vụ xuân, vụ mùa năm 2012 của huyện Tân Yên
Cây trồng Diện tích
(ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (tấn)
Tỷ lệ (%) A- LÚA VỤ XUÂN 2012 6315,0 5,54 34985,10 100,00
(Nguån: Phßng NN&PTNT huyÖn)
Trong các giống lúa thuần thì giống Khang dân 18 là giống được trồng phổ biến nhất, chiếm 57,9% cơ cấu giống lúa trong toàn huyện ở vụ Xuân và 57,08% ở vụ Mùa Mặc dù huyện có chủ trương đưa lúa lai vào sản xuất và thí điểm tại một số xã như: Phúc Sơn, Việt Ngọc, tuy nhiên lúa lai đòi hỏi kỹ thuật thâm canh cao, do vậy nông đa
số nông dân trong toàn huyện vẫn chọn giống lúa Khang dân 18 đưa vào sản xuất
1.1.4.4 Tình hình sử dụng phân bón và mật độ mạ ném cho lúa tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
Bên cạnh đó kỹ thuật gieo thẳng (sạ lúa) mang lại nhiều lợi ích: Giảm công cấy tới 80% (cả công gieo mạ, công cấy), năng suất có thể còn cao hơn lúa cấy tới
Trang 235-8% Nhưng điều kiện đầu tiên để áp dụng kỹ thuật gieo thẳng phải là chân ruộng chủ động tưới, tiêu Như vậy, còn khá nhiều diện tích không thể gieo thẳng được
So sánh thấy, nếu cấy lúa thủ công, một lao động nữ cấy 1 sào lúa hết khoảng 12 giờ đồng hồ thì ném 1 sào mạ chỉ hết khoảng 15-20 phút, mà cả nam nữ đều làm được; năng suất lúa cũng tương đương Rõ ràng, kỹ thuật mạ ném đã giải quyết rất
cơ bản vấn đề lao động thời vụ căng thẳng (Nguyễn Tiến Chinh, 2007)
So với các biện pháp kỹ thuật khác như cấy bằng mạ sân thì kỹ thuật mạ ném
có ưu thế hơn hẳn Tốn ít bùn và thóc giống hơn, đỡ tốn công lao động hơn, và điều quan trọng hơn là dễ làm và đảm bảo thời vụ gieo cấy (Nguyễn Tiến Chinh, 2007)
Mặt khác Sử dụng phương pháp mạ ném để canh tác cây lúa nước là một trong những tiến bộ kỹ thuật quan trọng, đang được các cơ quan chuyên môn khuyến cáo và được nhiều bà con nông dân tiếp nhận Bởi vì công nghệ này đảm
bảo cho bà con "4 giảm, 2 tăng, 1 tranh thủ" Ðó là:
- Giảm lượng giống, giảm diện tích ruộng mạ, giảm công lao động và giảm chi phí sản xuất
- Tăng năng suất từ 8 - 10% và tăng hiệu quả kinh tế/đơn vị diện tích
- Do mạ được gửi trên khay nên đã tranh thủ được thời vụ từ 12 - 20 ngày nhằm đảm bảo thời vụ gieo cấy ( Nguyễn Thị Phương Thúy, 2011)
Theo kinh nghiệm về gieo mạ khay ở Tân Yên- Bắc Giang khi áp dụng công nghệ mạ khay giảm 50% công cấy, tiết kiệm được 30-40% cây lúa sau cấy (ném), sinh trưởng, phát triển khỏe hơn do không bị dập, nát, đứt rễ, rút ngắn thời gian sinh trưởng được từ 5-7 ngày, khi ném 1 sào đất lúa 360m2 cần chuẩn bị 777 khay/ha (Hồng Huyên, 2012)
Với mật độ mạ ném 777 khay/ha là cao, khi ném mạ với mật độ cao không những không làm tăng năng suất lúa mà còn làm tăng áp lực sâu bệnh hại trên đồng ruộng, tình trạng lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật gia tăng dẫn đến gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe con người
Theo kết quả điều tra của Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Tân Yên năm 2012 cho thấy các loại phân hoá học được sử dụng bón cho lúa như: đạm, NPK, Phân lân Lâm Thao, Kali Phân đạm dùng để bón lót, bón thúc và bón
Trang 24đón đòng cho lúa, mức bón đã tăng dần từ 110 kg N/ha năm 2008 lên đến 120 kg N/ha năm 2012
Bảng 1.6 Tình hình sử dụng phân bón cho lúa tại tỉnh Tân Yên- Bắc Giang
trong những năm gần đây
Phân hữu cơ (Kg/ha) 600-700 600-700 600-700 600-700 600-700
(Nguån: Phßng NN&PTNT huyÖn)
Theo khuyến cáo của Phòng NN & PTNT huyện, liều lượng phân bón cho lúa
1.2 Các kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của phân đạm đến sinh trưởng và năng suất lúa
1.2.1 Vai trò của đạm
Theo Bùi Huy Đáp (1980), đạm là yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lúa, cây
có đủ đạm thì các yếu tố khác mới phát huy hết được tác dụng Đạm (N) là yếu tố vô cùng quan trọng đối với cơ thể sinh vật vì nó là thành phần cơ bản của của protein, nucleotit, AND, ARN và enzym; Đạm còn là yếu tố cơ bản tham gia vào quá trình đồng hoá cacbon, kích thích sự phát triển của bộ rễ và việc hấp thu các chất dinh dưỡng khác Cây lúa cần đạm trong suốt quá trình sống đặc biệt là gia đoạn sinh trưởng sinh dưỡng Do vậy, việc sử dụng phân bón đặc biệt là phân đạm trong sản xuất lúa là rất cần thiết nhưng phải bón đủ, bón hợp lý, cân đối và đúng cách Nếu bón phân không cân đối và hợp lý sẽ làm giảm 20 - 50% năng suất (Nguyễn Thị Lan
Trang 25và cs, 2007) Cây trồng được bón đủ đạm lá có màu xanh sẫm, sinh trưởng khỏe và cho năng suất cao, tuy nhiên trong sản xuất không nên bón thừa đạm
Đạm có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của cây lúa Đạm giữ vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất, là một yếu tố cơ bản trong quá trình phát triển của tế bào, là một trong những nguyên tố hóa học quan trọng của các cơ quan như rễ, thân, lá, hoa và hạt Khi tăng liều lượng đạm bón, năng suất của các gống lúa đều tăng Năng suất hạt ở các mức bón phân đạm khác nhau có tương quan thận với LAI, CGR trong giai đoạn đầu sinh trưởng (Phạm Văn Cường, 2004)
Đạm là yếu tố ảnh hưởng đến năng suất của cây lúa, cây có đủ đạm thì các yếu tố khác mới được phát huy tác dụng Nhu cầu về đạm cho cây lúa có tính chất liên tục từ đầu thời kỳ sinh trưởng tới lúc chín Tuy nhiên, trong các thời kỳ sinh trưởng của cây lúa có thời kỳ cần nhiều đạm, có thời kỳ cần ít đạm, đỉnh cao của nhu cầu dinh dưỡng đó là 2 thời kỳ đẻ nhánh rộ và làm đòng (Bùi Huy Đáp, 1980) Lúa yêu cầu đạm ngay từ lúc nảy mầm và gần như đến cuối cùng của thời kỳ sinh trưởng sinh thực Tỷ lệ đạm trong cây so với trọng lượng chất khô ở các thời
kỳ như sau: thời kỳ mạ 1,54%, đẻ nhánh 3,65%, làm đòng 3,06%, cuối làm đòng 1,95%, trỗ bông 1,17% và chín 0,4% (Lê Văn Căn, 1968)
Cường độ quang hợp có tương quan thuận chặt với hàm lượng N trong lá Nếu hấp thu N tốt, cường độ quang hợp sẽ tăng (Trần Anh Tuấn và cs, 2008) Khi cây được bón đủ đạm nhu cầu của tất cả các yếu tố dinh dưỡng khác như lân và kali đều tăng (Lê Văn Tiền, 1986)
Thời kỳ đẻ nhánh cây lúa hút nhiều đạm nhất Thông thường lúa hút 70% lượng đạm cần thiết trong thời gian đẻ nhánh (Bùi Huy Đáp, 1980), theo S Yoshida (1985) đạm quyết định tới 74% năng suất Đạm làm tăng diện tích lá rõ rệt, diện tích lá tăng thì quang hợp tăng làm cho chất khô cũng tăng lên tuy nhiên hiệu suất quang hợp chỉ tăng theo lượng phân đạm bón cho lúa lúc lá còn thấp, khi hệ số lá đã cao đạt trị số cực đại thừa đạm vào lúc này sẽ làm giảm hiệu suất quang hợp và có ảnh hưởng đến năng suất và tính chống chịu
Thời kỳ phân hóa đòng và hình thành bông, tạo bộ phận sinh sản cây lúa cũng cần đạm Tuy nhiên lượng đạm cần ít hơn so với giai đoạn đẻ nhánh Thời kỳ
Trang 26này cây lúa hút 10-15% lượng đạm, đây là thời kỳ bón đạm có hiệu quả cao nhất Nếu bón đạm đầy đủ ở thời kỳ này sẽ làm tăng số ré/bông, số hạt chắc/bông và trọng lượng 1000 hạt (Đào Thế Tuấn, 1970)
Phân tích các bộ phận còn non của cây trồng, người ta thấy trong các bộ phận non hàm lượng đạm nhiều hơn bộ phận già, (Bùi Huy Đáp, 1980) Hàm lượng đạm trong các mô còn non từ 5,5-6,5%, vì vậy trong thực tế cây lúa cần nhiều đạm trong những thời kỳ đầu (Lê Văn Chi, 1992)
Thiếu đạm cây lúa thấp, đẻ kém, phiến lá nhỏ, lúc đầu lá hơi vàng, đặc điểm
là các bộ phận già bị vàng trước, do vậy làm cho số bông và số hạt ít, lúa trỗ sớm, năng suất bị giảm Bón thừa đạm làm tăng hô hấp, tăng lượng gluxit tiêu hao, lá to
và dài, phiến là mỏng, đẻ nhánh vô hiệu nhiều, lúa trỗ muộn, cây cao vóng sẽ dẫn đến hiện tượng đổ non, khả ngăng chống chịu kém từ đó giảm năng suất
1.2.2 Các dạng phân đạm dùng bón cho lúa
Phân đạm có nhiều loại, phổ biến nhất là urea (CO(NH2)2) có 46% đạm nguyên chất, đạm a môn nitrat (NH4NO2 - còn gọi là đạm 2 lá) có 30 - 40% đạm nguyên chất, đạm sunfat ((NH4)2SO4 - còn gọi là SA) có 19 - 21% đạm nguyên chất, đạm clorua a môn (NH4Cl) có 22 - 24% đạm nguyên chất Ngoài ra còn có một số đạm không phổ biến rộng như dung dịch amoniac (NH3), canxi xianmit (CaCN2), a môn bicacbonat (NH4HCO3), a môn cacbonat (NH4)2CO3), đạm trong phân phốt phát DAP
Dù có nhiều loại nhưng phân đạm chỉ có 2 dạng, dạng a môn (NH4) và dạng nitrat (NH3), cây đồng thời sử dụng cả 2 dạng đạm này, theo Nguyễn Văn Bộ (1999) cho biết để có năng suất 1 tấn thóc (kèm theo cả rơm rạ), cây lúa lấy đi từ đất và phân bón 2,22 Kg N, trong đó 14,6 Kg N trong hạt và 7,6 Kg N trong rơm rạ.
Để có năng suất 6 tấn/ha, cây lúa cần là 162 kgN/ha, trong đó có 115 kg N
từ phân bón, 2 kg N từ nước mưa, 5 kg N từ nước tưới, và 40 kg N từ cố định khí
N2 Tất nhiên cây chỉ sử dụng 63 kg N cho hạt lúa, 40 kg N cho rơm rạ, còn lại 60
kg N bị thất thoát, trong đó thất thoát do trực di chiếm 10 kg và thất thoát do bay hơi chiếm 50 kg Với dạng đạm nitrat, quá trình bay hơi theo đường khử nitrat: NO3
- NO2 - N2O - N2 Với dạng đạm a môn, quá trình bay hơi khí NH4 - NH3
Trang 27Trong tổng sản lượng các loại phân đạm thì urea chiếm đến 70%, trong đó
có đến 55% dùng cho cây lương thực Bởi phân đạm có lượng dùng lớn như vậy nên sự thất thoát của phân urea được thế giới nghiên cứu nhiều nhất Quan sát cho thấy phân urea thất thoát nhiều bởi chúng tan quá nhanh trong môi trường nước, ở nhiệt độ 10oC thì sau 7 ngày 100% urea đã tan hoàn toàn, ở nhiệt 26oC thì sau 4 ngày đã tan hết Việc làm cho phân chậm tan là một hướng nghiên cứu cải tiến và cho ra đời các sản phẩm urea chậm tan như áo hạt phân bằng một màng mỏng, viên thành cục lớn bón dúi sâu vào gốc Tuy nhiên các cải tiến trên không phổ biến rộng rãi vì hiệu quả không cao
Về cơ chế bay hơi của đạm các nghiên cứu cho thấy do trong môi trường
tự nhiên luôn tồn tại men ureaza, dưới tác dụng của men này thì NH4 trong urea được giải phóng nhanh quá, cây không hấp thu kịp nên một phần chuyển thành dạng
NH3 bay hơi, phần khác chuyển sang dạng NO3, từ đấy chuyển sang dạng NO2 rồi
N2 bay vào không khí Bởi vậy việc hạn chế hoạt động của men ureaza được coi là chìa khoá để hạn chế việc thất thoát phân urea
1.2.3 Một số kết quả nghiên cứu về dinh dưỡng đạm cho cây lúa
Trong đất Việt Nam, hàm lượng đạm thấp nhất là đất bạc màu (0,042%) và cao nhất là đất lầy thụt (0,62%) Đất có hàm lượng đạm trung bình là đất phù sa sông Hồng (0,21%) Hàm lượng đạm trong đất ít phụ thuộc vào đá mẹ mà phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện hình thành đất (Vũ Hữu Yêm,1995)
Hàm lượng đạm tổng số trong một số loại đất chính ở miền Bắc biến thiên khá rộng, từ 0,3-2,05 g N/kg đất tùy thuộc vào loại đất phát sinh và hàm lượng chất hữu cơ trong đất Hàm lượng đạm tổng số cao ở trên đất phù sa không được bồi đắp hàng năm của hệ thống sông Hồng (1,25-2,05 g/kg đất), thấp nhất ở ven biển (0,135-0,630 g/kg đất) (Trần Thúc Sơn, 1999)
Đạm có vai trò quan trọng trong việc hình thành đòng và các yếu tố cấu thành năng suất khác: Số hạt/bông, trọng lượng 1000 hạt và tỷ lệ hạt trắc Đạm còn làm tăng hàm lượng protein trong gạo nên làm tăng chất lượng gạo Lượng đạm cần thiết để tạo ra 1 tấn thóc từ 17 đến 25 kg N Trung bình 22,2 kg N Ở các mức năng suất cao, lượng đạm tạo ra 1 tấn thóc ngày càng cao (Phạm Văn Cường và cs, 2005)
Trang 28Bón lượng đạm cao (120 N, 90 N) cho số nhánh hữu hiệu, sự tích luỹ chất khô và các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất thực thu cao hơn so với lượng đạm 60 N (Phạm Văn Cường và cs, 2009)
Với số bông/m2 vai trò của lượng bón cũng đồng biến với kết quả là cao nhất
số bông/m2 đạt được khi bón 120 kg N và thấp nhất là không bón N Nhưng số hạt/bông và tỷ lệ hạt chắc chỉ tăng khi lượng bón từ 0 - 90 kg N/ha, còn khi tăng đến 120 kg N/ha các chỉ tiêu này bắt đầu giảm (Nguyễn Thị Lan và cs, 2009) Với giống lúa thuần Xi23 cấy trong vụ xuân 2008 đạm có tác dụng làm tăng
số bông/m2, tổng số hạt/bông, số hạt chắc/bông và năng suất thực thu khi lượng đạm bón tăng Nhưng mức bón 120 N là hiệu quả nhất (Nguyễn Thị Lan, Nguyễn Văn Duy, 2009)
Theo Nguyễn Như Hà, (2005), nhu cầu về đạm của cây lúa có tính chất liên tục trong suốt thời gian sinh trưởng Theo Vũ Hữu Yêm, (1995), hàm lượng đạm trong cây và sự tích luỹ đạm qua các giai đoạn phát triển của cây lúa cũng tăng rõ rệt khi tăng liều lượng đạm bón Nhưng nếu quá lạm dụng đạm thì cây trồng sẽ phát triển mạnh về thân lá, tăng số nhánh vô hiệu, trỗ muộn đồng thời dễ bị sâu bệnh và lốp đổ Ngược lại, thiếu đạm cây lúa còi cọc, đẻ nhánh kém, phiến lá nhỏ, trỗ sớm
Theo De Datta S.K, (1981), cho rằng đạm là yếu tố hạn chế năng suất lúa có tưới, Như vậy, để tăng năng suất cho lúa nước cần tạo điều kiện cho cây lúa hút được nhiều đạm Sự hút đạm của cây lúa không phụ thuộc vào nồng độ đạm xung quanh rễ mà được quyết định bởi nhu cầu đạm của cây
Theo Yoshida, (1985), lượng đạm cây hút ở thời kỳ đẻ nhánh quyết định tới 70% năng suất lúa Bón đạm nhiều làm cho cây lúa đẻ nhánh khoẻ và tập trung tăng
số bông /m2, số hạt trên bông, nhưng trọng lượng nghìn hạt ít thay đổi
Nghiên cứu tác động của phân đạm với cây lúa, Tanaka và cs, (1965), đã kết luận: Phân đạm làm tăng hàm lượng diệp lục trong lá, tăng hiệu suất quang hợp, tăng diện tích lá, tăng khả năng tích luỹ chất khô và tăng năng suất hạt
Khi sử dụng đạm hợp lý, năng suất lúa được tăng lên nhờ số dảnh hữu hiệu tăng, chiều dài bông tăng, tăng số hạt trên bông, tăng trọng lượng nghìn hạt (Yoshida S, 1976)
Trang 29Theo kết quả nghiên cứu của Sinclari (1989), hiệu suất bón đạm cho lúa rất khác nhau 1 kg N cho từ 3,1 -23 kg thóc
Bùi Huy Đáp, (1970) cho rằng mỗi giống lúa khác nhau, lượng đạm thích ứng là khác nhau trong phạm vi đó lượng đạm tăng thì năng suất cũng tăng, cần bón đạm vào thời kỳ đẻ nhánh rộ và giảm dần khi lúa đứng cái
Theo Võ Minh Kha, (1996), xác đinh lượng đạm bón cho cây phụ thuộc nhiều vào loại cây trồng và thời tiết khí hậu vụ trồng hơn là phụ thuộc vào đất Không thiết cần phải phân tích đất để định lượng phân đạm cần bón
Tìm hiểu hiệu suất phân đạm đối với lúa Iruka thấy: bón đạm với lượng cao thì hiệu suất cao nhất bón vào lúc lúa đẻ nhánh, sau đó giảm dần, với liều lượng thấp thì bón vào lúc lúa đẻ nhánh và trước trỗ 10 ngày có hiệu quả cao (Yoshida, 1985) Theo Nguyễn Thị Lẫm, (1994), khi nghiên cứu về phân đạm cho lúa cạn đã kết luận: liều lượng đạm thích hợp cho các giống có nguồn gốc địa phương là 60 kg N/ha Đối với những giống thâm canh cao như Ck 136 thì lượng đạm thích hợp là từ
90 kg – 120 kg N/ha
Theo Bùi Đình Dinh, (1993), cây lúa cần nhiều đạm trong thời kỳ phân hoá đòng và phát triển đòng thành bông, tạo bộ phận sinh sản Thời kỳ này quyết định
cơ cấu sản lượng: số hạt/ bông, khối lượng 1000 hạt
Theo Phạm Văn Cường và cs, (2005), Trong giai đoạn đẻ nhánh đến đẻ nhánh rộ, hàm lượng đạm trong thân lá cao, sau đó giảm dần, nhưng cần tập trung đạm vào giai đoạn này
Theo Lê Văn Căn, (1968), do hiện tượng đạm bị rửa trôi, nên chia lượng đạm
ra làm nhiều lần Bón vào các thời kỳ bón lót, đẻ nhánh và làm đòng Tuy theo thời
kỳ sinh trưởng của cây lúa mà bón sớm hay muộn, nhưng khi bón lót phải dựa vào tình hình thời tiết và khí hậu
Yoshida, (1985) cho rằng: ở các nước nhiệt đới các chất dinh dưỡng cần để tạo ra một tấn thóc trung bình là: 20,5 kg N; 5,1 kg P2O5 và 4,4 kg K2O Trên nền phối hợp 90 P2O5 - 60 K2O thì hiệu suất phân đạm và năng suất lúa tăng nhanh ở các mức bón từ 40-120 kg N/ha
Phân đạm đối với lúa lai là rất quan trọng Lúa lai có bộ rễ khá phát triển,
Trang 30khả năng huy độ từ đất là rất lớn nên ngay trường hợp không bón năng suất lúa lai vẫn cao hơn lúa thuần Các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã kết luận: Cùng một mức năng suất, lúa lai hấp thu đạm cao hơn lúa thuần 4,8% Với ruộng lúa cao sản thì lúa lai hấp thu đạm cao hơn lúa thuần 10% (Phạm Văn Cường, 2005, 2007)
Kết quả thí nghiệm trong chậu cho thấy trên đất phù sa sông Hồng, bón đạm đơn độc làm tăng năng suất lúa lai 48,7%, trong khi đó năng suất giống CR203 chỉ tăng 23,1% với thí nghiệm đồng ruộng, bón đạm, lân cho lúa lai có kết quả rõ rệt Nhiều thí nghiệm trong phòng cũng như ngoài đồng ruộng cho thấy, 1 kg N bón cho lúa lai tăng năng suất 9-18 kg thóc, so với lúa thuần thì tăng 2-13 kg thóc Như vậy, trên các loại đất có vấn đề như đất bạc màu, đất glây, khi các yếu tố khác chưa được khắc phục về độ chua, lân, kali thì vai trò của phân đạm không phát huy được, nên năng suất lúa lai tăng có 17,7% trên đất bạc màu và 11,5% trên đất glây (Phạm Văn Cường, 2005 và cs)
Cây lúa cần đạm ở tất cả các thời kỳ sinh trưởng, nhưng chủ yếu bón vào thời kỳ bón lót, bón thúc đẻ nhánh và bón khi lúa bước vào thời kỳ đòng Tùy theo thời kỳ sinh trưởng của cây lúa mà bón, khi bón phải dựa vào thời tiết, khi hậu, mùa
vụ Cần tập trung lượng đạm bón vào thời kỳ đẻ nhánh vì đây là thời kỳ khủng hoảng đạm lớn nhất của cây lúa Nếu bón đạm tập trung vào thời kỳ đẻ nhánh sẽ kích thích cây lúa đẻ nhiều và tập trung, do đó số nhánh hữu hiệu tăng lên, đây là yếu tố quyết định đến năng suất của cây lúa (Bùi Đình Dinh, 1995)
Như vậy, phân đạm có vai trò quan trọng trong quá trình thâm canh lúa Phân đạm cây lúa cần nhiều trong giai đoạn đầu là để mở rộng diện tích quang hợp và khả năng đẻ nhánh của cây lúa Tuy nhiên, hiệu suất quang hợp và tỷ lệ nhánh hữu hiệu chỉ tăng được đến một giới hạn nhất định sau đó có chiều hướng giảm dần, nếu thiếu đạm cây sẽ phát triển kém năng suất thấp, nếu thừa đạm dễ lốp đổ, sâu bệnh cũng làm giảm năng suất lúa nghiêm trọng Nhu cầu sử dụng phân đạm của cây lúa phụ thuộc vào đặc tính của từng giống, phụ thuộc vào điều kiện sinh thái khác nhau Chính vì vậy việc nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và tìm ra liều lượng đạm phù hợp là rất cần thiết
Trang 311.3 Các kết quả nghiên cứu về mật độ cấy đối với lúa
Mật độ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng quang hợp của cá thể
và quần thể ruộng lúa, ảnh hưởng đến khả năng tiếp nhận ánh sáng, diện tích lá và chỉ số diện tích lá thích hợp cho cá thể và quần thể ruộng lúa, ảnh hưởng đến khả năng đẻ nhánh và số nhánh hữu hiệu/khóm, khả năng chống chịu sâu bệnh từ đó ảnh hưởng mạnh mẽ đến năng suất lúa
Trong những yếu tố kỹ thuật để tăng năng suất cây trồng, ngoài phân bón
và cách bón phân, thì mật độ quần thể ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng của cây trồng Sự cạnh tranh quần thể cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của cây lúa, khi cây lúa phải sống trong điều kiện chật hẹp, thiếu ánh sáng làm cây lúa trở nên yếu
ớt sâu bệnh dễ tấn công và dịch bệnh phát triển mạnh (Nguyễn Trường Giang và
cs, 2010)
Xác định mật độ gieo cấy căn cứ vào các yếu tố sau:
Mật độ gieo cấy lúa phụ thuộc vào đặc điểm của giống lúa định gieo cấy: Giống lúa chịu thâm canh càng cao, tiềm năng năng suất lớn thì mật độ gieo cấy càng dày và ngược lại, giống lúa chịu thâm canh thấp mật độ gieo cấy thưa hơn Ví
dụ mật độ gieo cấy giống lúa lai CV1 chịu thâm canh cao, tiềm năng năng suất lớn
sẽ cao hơn mật độ gieo cấy các giống lúa nếp chịu thâm canh kém, tiềm năng năng suất trung bình
Những giống lúa có bộ lá gọn, góc lá nhỏ, thế lá đứng gieo cấy mật độ dày hơn những giống lúa có phiến lá to, góc lá lớn Ví dụ giống lúa lai D ưu 527 có góc lá nhỏ, thế lá đứng gieo cấy dày hơn giống lúa lai TH3-3, phiến lá to, mềm, góc lá lớn hay bị lướt
Mật độ gieo cấy lúa phụ thuộc vào tuổi mạ: Tuổi mạ càng ngắn (mạ non) khả năng đẻ cao cấy thưa hơn mạ già, tuổi mạ cao
Xác định mật độ gieo cấy lúa hợp lý căn cứ vào độ phì của đất, khả năng thâm canh của hộ nông dân: Đất tốt, khả năng thâm canh cao mật độ gieo cấy thưa hơn loại đất xấu, khả năng thâm canh thấp
Xác định mật độ cấy hợp lý cũng là một biện pháp kỹ thuật rất quan trọng đối với mỗi giống lúa mới Mật độ cấy hợp lý sẽ tạo nên cấu trúc quần thể tốt nhất,
Trang 32góp phần nâng cao hiệu suất quang hợp, khai thác tối ưu lượng bức xạ mặt trời và dinh dưỡng trong đất (Tăng Thị Hành và cs, 2014)
Trên một đơn vị diện tích cấy, nếu mật độ càng cao thì số bông càng nhiều song số hạt/bông càng ít (bông bé) Tốc độ giảm số hạt/bông mạnh hơn tốc độ tăng của mật độ Tuy nhiên, nếu cấy với mật độ quá thưa đối với các giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn rất khó hoặc không đạt được số bông tối ưu Do đó, nên bố trí các khóm lúa theo kiểu hàng sông, hàng con trong đó hàng sông rộng hơn hàng con
để có khoảng cách giữa các khóm lúa theo kiểu hình chữ nhật là tốt nhất Mật độ cấy dày trên 40 khóm/m2 thì để đạt 7 bông hữu hiệu/khóm cần cấy 3 rảnh (Nguyễn Văn Hoan, 2002)
Khi sử dụng mạ non để cấy (mạ chưa đẻ nhánh) thí sau cấy, lúa thường đẻ nhánh sớm và nhanh Nếu cần đạt 9 bông hữu hiệu/khóm với mật độ 40 khóm/m2, chỉ cần cấy 3-4 dảnh, mỗi dảnh đẻ 2 nhánh là đủ Nếu cấy nhiều hơn,
số dảnh đẻ có thể tăng nhưng tỷ lệ đẻ nhánh hữu hiệu giảm (Nguyễn Công Tạn
và cs, 2002)
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của số dảnh và mật độ cấy đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa Việt lai 20 của Tăng Thị Hạnh (2003) cho thấy, mật độ cấy ảnh hưởng không nhiều đến thời gian sinh trưởng, số lá và chiều cao cây Nhưng mật độ có ảnh hưởng đến khả năng đẻ nhánh (hệ số đẻ nhánh giảm khi tăng mật độ cấy) Mật độ cấy tăng thì diện tích lá và khả năng tích lũy chất khô tăng lên ở thời kỳ đầu, đến giai đoạn chín sữa khả năng tích lũy chất khô giảm khi tăng mật độ cấy
Theo Nguyễn Văn Hoan (1994, 1995, 2000), các kết quả thí nghiệm về mật
độ thực hiện ở giống Bắc ưu 64 cho thấy ở mật độ 35 khóm/m2 thì số bông đạt được
320 bông/m2 và số hạt trung bình một bông là 130 hạt Khi tăng mật độ lên 70 khóm/m2 thì cũng chỉ đạt 400 bông/m2, khi dó số hạt trên bông giảm xuống chỉ còn
73 hạt như vậy, nếu tăng mật độ lên gấp đôi thì chỉ tăng được 1,25 lần số bông trên nhưng số hạt/ bông thì lại giảm tới 1,78 lần Vì vậy, để xác định được mật độ cây phù hợp người sản xuất căn cứ vào hai thông số, số bông cần đạt /m2 và số bông hữu hiệu/ khóm
Trang 33Mật độ (khóm/m2 ) = số bông/m
2
số bông hữu hiệu/khóm Nhiều kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học với các giống lúa khác nhau đều kết luận rằng khi các khâu kỹ thuật khác được duy trì thì chọn một mật độ vừa phải là phương án tối ưu để đạt được số lượng hạt thóc nhiều nhất trên một đơn vị diện tích gieo cấy
Để tăng số bông/đơn vị diện tích gieo cấy có thể tăng mật độ cấy đến mật độ tối ưu hay tăng số dảnh cấy/khóm Theo Nguyễn Văn Hoan, (1995), để có cùng số bông trên đơn vị diện tích nên cấy ít dảnh nhiều khóm tốt hơn cấy ít khóm nhiều dảnh Không nên cấy quá nhiều dảnh vì khi đó cây lúa đẻ ra nhiều nhánh quá nhỏ,
yếu, tỷ lệ bông hữu hiệu thấp, số hạt/ bông ít dẫn đến năng suất không đạt yêu cầu
Dựa trên sự phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành năng suất, Đinh Văn Lữ, (1978), đã đưa ra lập luận: các yếu tố cấu thành năng suất có liên quan chặt chẽ với nhau, muốn năng suất cao phải phát huy đầy đủ các yếu tố mà không ảnh hưởng lẫn nhau Theo Ông, số bông tăng lên đến một phạm vi mà số hạt/bông và tỷ
lệ hạt chắc giảm ít thì năng suất đạt cao, nhưng nếu số bông tăng quá cao, số hạt/bông và tỷ lệ hạt chắc giảm nhiều thì năng suất thấp Trong 4 yếu tố cấu thành năng suất: số bông/m2, số hạt/bông, tỷ lệ hạt chắc và khối lượng 1000 hạt thì 2 yếu
tố đầu giữ vai trò quan trọng và thay đổi theo cấu trúc quần thể còn khối lượng 1000 hạt của mỗi giống ít biến động
Nghiên cứu về khả năng đẻ nhánh theo S Yoshida, (1985), đã khẳng định trong ruộng lúa cấy việc đẻ nhánh chỉ xẩy ra đến mật độ 300 cây/m2, nếu tăng số dảnh cấy lên nữa thì chỉ có dảnh chính thành bông Năng suất hạt tăng lên khi mật độ cấy tăng lên 182- 224 dảnh /m2 Số bông trên đơn vị diện tích cũng tăng theo mật độ nhưng lại giảm số hạt trên bông Mật độ cấy thực tế là vấn đề tương quan giữa số dảnh cấy và sự
đẻ nhánh Thường gieo cấy thưa thì lúa đẻ nhánh nhiều còn dầy thì đẻ nhánh ít
Theo Matsumo và Togari, (1997), các giống khác nhau phản ứng với mật độ cấy khác nhau, giống thấp cây khi cấy dày cho năng suất tăng rõ rệt và giống cao cây thì ngược lại Vấn đề giữa mật độ và năng suất có rất nhiều rác giả trong và ngoài nước nghiên cứu và đề cập Nói chung, các tác giả đều cho rằng việc tăng mật
Trang 34độ ở một giới hạn nhất định thì năng suất tăng nhưng vượt qua giới hạn đó năng suất sẽ không tăng mà giảm đi
Theo Benito S.Vergana, Nghiên cứu về khoảng cách cấy có ảnh hưởng đến
sự đẻ nhánh, khi cấy với khoảng cách 50x50 cm thì số nhánh đạt được trên 1 m2 là
122 nhánh, với khoảng cách 10x10 cm thì số nhánh đạt được là 300 nhánh/1 m2 từ
đó Ông rút ra kết luận:
- Khả năng đẻ nhánh có thể đạt được bằng cách cấy thưa trên đất giàu dinh dưỡng, nhưng trong thực tế không thể đạt được số nhánh tối đa
- Số nhánh trên một cây tăng cùng với việc tăng khoảng cách giữa các cây
- Số nhánh có thể giảm do cấy quá thưa
Kết quả nghiên cứu của Đào thế Tuấn, (1970), cho rằng số bông có quan hệ nghịch với số hạt trên bông và trọng lượng nghìn hạt, còn số hạt trên bông và trọng lượng nghìn hạt có quan hệ thuận Trong bốn yếu tố cấu thành năng suất thì số bông biến động mạnh nhất, sau đó đến số hạt trên bông và cuối cùng là trọng lượng nghìn hạt biến động ít hơn
Theo tác giả Đào Thế Tuấn, (1970), cho rằng lúc đầu khi số bông tăng lên một giới hạn nào đó thì số hạt trên bông và trọng lượng hạt giảm, nhưng giảm chậm hơn sự tăng số bông nên năng suất vẫn tăng đến một mức độ nào đó, khi số bông tăng cao số hạt và trọng lượng nghìn hạt lại giảm mạnh dẫn đến năng suất không tăng mà còn giảm
Theo kinh nghiệm tổng kết từ các vùng có kỹ thuật thâm canh cao như Song phượng (Đan Phượng - Hà Tây), Nguyên Xá (Đông Hưng - Thái Bình) thì với dạng
mạ thông thường như nông dân vẫn gieo cấy hiện nay (bao gồm mạ dược và mạ sân) thì khoảng cách phổ biến là 20x12 cm hoặc 20x15cm với đất tốt, 18x12cm hoặc 20x10 cm với đất trung bình và đất xấu Tuy nhiên trong thực tế thâm canh lúa xuân và lúa mùa ngắn ngày trong 20 năm qua thì khoảng cách giữa các hàng lúa nên
là 20cm, 25cm hoặc 30cm (Nguyễn Văn Hoan, 1995,2000)
Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy và liều lượng đạm tới sinh trưởng của lúa ngắn ngày thâm canh, Nguyên Như Hà, (1999) , kết luận: Tăng mật độ cấy thì khả năng đẻ nhánh của một khóm giảm So sánh số dảnh/khóm của mật độ cấy thưa
Trang 35với 45 khóm/m2 và mật độ cấy dày 85 khóm/m2 cho thấy số dảnh đẻ/ khóm lúa ở công thức cấy thưa hơn 0,9 dảnh (14,8%) so với công thức cấy dày ở vụ xuân và lên tới 1,9 dảnh(25%) ở vụ Mùa Tỷ lệ nhánh hữu hiệu tăng tỷ lệ thuận với mật độ cho đến 65 khóm/m2 ở vụ Mùa và 75 khóm/m2 ở vụ Xuân
Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy đến năng suất của giống tám thơm đột biến trong vụ mùa trên đất nghèo dinh dưỡng vùng trung du và miền núi Nghệ An, thấy rằng: khi mật độ từ 80; 90; 100 và 110 dảnh/m2 thì tính chống đổ, số dảnh thành bông, số bông/m2 đều tăng và cuối cùng năng suất cũng đạt cao nhất ở mức cấy 110 dảnh/m2 (Nguyễn Công Minh và CS, 2001)
Kết quả nghiên cứu của Bùi Huy Đáp, (1980), cho rằng năng suất lúa được quyết định bởi số bông/m2 và những yếu tố này phụ thuộc vào các yếu tố như mật
độ cấy và khả năng đẻ nhánh hữu hiệu, thí nghiệm của ông nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy đến tỷ lệ đẻ nhánh hữu hiệu ở Tuyên Quang với giống Tứ thì đã cho kết quả lúa cấy bốn dảnh với khoảng cách 20 cm x20 cm có tỷ lệ nhánh hữu hiệu là 54%, với khoảng cách 15 cm x 15 cm tỷ lệ nhánh hữu hiệu cho 61% do vậy, muốn đạt được số bông trên đơn vị diện tích như mong muốn phải tác động vào hai yếu tố mật độ và khả năng đẻ nhánh hữu hiệu của ruộng lúa
Theo Nguyễn Hữu Tề và cs, (1997), thì giống lúa nhiều bông nên cấy 200 -
250 dảnh cơ bản/m2, giống to bông cấy 180 - 200 dảnh cơ bản/m2 Số dảnh cấy /khóm là 3 - 4 dảnh ở vụ Mùa và 4 - 5 dảnh ở vụ Chiêm xuân
Nguyễn Thạch Cương, (2002), đã làm thí nghiệm với tổ hợp Bồi tạp sơn thanh trên đất phù sa sông Hồng và đã đi đến kết luận:
- Trong vụ Xuân: với mật độ 55 khóm/m2 trên đất phù xa sông Hồng cho năng suất cao nhất đạt 82,2 tạ/ha Trên đất phù sa ven biển cho năng suất 83,5 tạ/ha,
ở vùng đất bạc mài rìa đồng bằng mật độ 55 - 60 khóm/m2 cho năng suất 77,9 tạ/ha
- Trong vụ Mùa với mật độ 50 khóm/m2 trên đất phù sa sông Hồng cho năng suất cao nhất đạt 74,5 tạ/ha, trên đất phù sa ven biển cho năng suất 74 tạ/ha, mật độ
55 - 60 khóm/m2 trên đất bạc màu cho năng suất 71,4 tạ/ha
Như vậy, các kết quả nghiên cứu đều cho thấy rằng mật độ cấy khác nhau thì
có ảnh hưởng đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của quần thể ruộng
Trang 36lúa, do vậy, trong sản xuất lúa phải bố trí mật độ cấy hợp lý nhất để cho năng suất cao nhất đem lại lợi ích kinh tế tốt nhất cho người sản xuất
Mật độ cấy là một trong những biện pháp quan trọng, nó tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên, dinh dưỡng, trình độ thâm canh Việc bố trí mật độ cấy phù hợp nhằm tận dụng tối đa nguồn năng lượng ánh sáng mặt trời, hạn chế sâu bệnh, tạo tiền đề cho năng suất cao, ngoài ra việc bố trí mật độ hợp lý còn làm giảm được cỏ dại, tiết kiệm được hạt giống và một số các chi phí khác góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói riêng
1.4 Nghiên cứu về mối tương quan giữa phân bón và mật độ cấy
Trong điều kiện dựa vào phân: cấy càng dày diện tích dinh dưỡng của các cá thể càng bị thu hẹp, trọng lượng trung bình của bộ rễ từng cây lúa giảm Muốn cho
cá thể sinh trưởng và phát triển tốt cần tăng lượng phân bón tương ứng với mật độ cấy Mật độ cao, bón phân nhiều là hai biện pháp bổ xung cho nhau làm cho quần thể phát triển mạnh (Đinh Dĩnh, 1970, Đào Thế Tuấn, 1970, Đinh Văn Lữ, 1978, Bùi Huy Đáp, 1980, Yoshida, 1985)
Mối quan hệ giữa mật độ cấy và bón phân có khả năng chịu ảnh hưởng của các yếu tố khác, trong đó có tuổi mạ Mạ non hơn thích hợp cấy thưa hơn, khả năng
đẻ nhánh của mạ non tốt hơn mạ già (Nguyễn Văn Hoan, 2000)
Khi mật độ cấy quá dày không phù hợp với lượng phân bón, cây lúa tự điều tiết quá trình đẻ, số dảnh đẻ tuy không ảnh hưởng tới năng suất, nhưng tốn công, tốn mạ vô ích (Đinh Dĩnh, 1970, Đào Thế Tuấn, 1970, Bùi Huy Đáp, 1980) Trường hợp cấy quá thưa lúa sẽ đẻ nhánh mạnh hơn nhưng vì bị giới hạn của khóm nên mặc dù quần thể ruộng lúa chưa đạt tới giới hạn sinh vật dinh dưỡng đạm vẫn thừa, lúa bị lốp đổ Vì vậy, khả năng tự điều tiết của quần thể ruộng lúa chỉ có thể phát huy khi mật độ cấy hợp lý (Đào Thế Tuấn, 1970, Bùi Huy Đáp,
1980, Nguyễn Vy, 1980)
Mật độ cấy có ảnh hưởng tới khả năng chịu phân của giống Trong các nghiên cứu của nhiều tác giả (Trần Danh Thìn, 1991, Bùi Huy Hiền và cs, 1993, Trần Trúc Sơn và cs, 1995) Giống CR203, trong cùng điều kiện vụ Xuân trên đất phù sa sông Hồng có khả năng chịu phân N do động từ 80 kg N/ha đến trên 150 kg N/ha tương
Trang 37ứng với năng suất từ 4,0 -5,3 tấn/ha do được cấy ở các mật độ khác nhau
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa mật độ cấy và mức phân bón N cho các giống lúa ngắn ngày được tiến hành trên giống NN 8 (Bùi Huy Đáp, 1980), thấy ở mức bón N dưới 100 kg/ha, mật độ cấy thích hợp là 35- 40 khóm/m2 Theo Nguyễn Hữu Tề và CS (1986) trong điều kiện thâm canh cao (bón 180- 200kg N/ha, năng suất 7-8 tấn/ha/vụ) mật độ cấy thích hợp là 50 -55 khóm
Theo Nguyễn Như Hà (1999), ảnh hưởng của mật độ cấy và ảnh hưởng của liều lượng đạm tới sinh trưởng của giống lúa ngắn ngày thâm canh cho thấy: Tăng liều lượng đạm bón ở mật độ cấy dày có tác dụng tăng tỷ lệ nhánh hữu hiệu Các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã kết luận: cùng một mức năng suất, lúa lai hấp thu lượng đạm thấp hơn lúa thuần 4,8%, hấp thu lân cao hơn 18,2% nhưng hấp thu kali cao hơn 30% Với ruộng lúa cao sản thì lúa lai hấp thu cao hơn lúa thuần 10%, hấp thu kali cao hơn 45% còn hấp thu lân thì bằng lúa thuần (Phạm Văn Cường, và cs 2005)
Như vậy, ảnh hưởng của liều lượng đạm và mật độ mạ ném tác động đến hiệu suất sử dụng đạm, cũng như ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đạm Do vậy, cần nghiên cứu mối tương quan giữa liều lượng phân đạm, mật độ mạ ném và năng suất để tìm ra mức bón đạm hiệu quả phù hợp với mật độ mạ ném cho lúa như những nghiên cứu đã khẳng định là rất cần thiết để đạt được hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất lúa
Trang 38CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu nghiên cứu
- Giống lúa Khang dân 18 Đây là giống lúa được trồng phổ biến tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang trong những năm gần đây
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Thí nghiệm được tiến hành tại xã Song vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
2.3 Thời gian nghiên cứu
Thí nghiệm được bố trí trong 02 vụ :
-Vụ xuân năm 2014 (Từ tháng 1/2014 đến tháng 6/2014);
-Vụ mùa năm 2014 (Từ tháng 6/2014 đến tháng 10/2014)
2.4 Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu ảnh hưởng mật độ mạ ném và liều lượng đạm đến sinh trưởng, phát triển và khả năng chống chịu của giống lúa Khang dân 18
- Ảnh hưởng của mật độ ném mạ và mức phân đạm khác nhau đến năng suất
và các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa Khang dân 18
- Hiệu quả kinh tế của các công thức mạ ném và mức phân đạm khác nhau
2.5 Phương pháp nghiên cứu
M3: 777 khay/ha: (Đ/c) đây là mật độ mạ ném phổ biến tại Tân Yên- Bắc Giang
Yếu tố liều lượng đạm gồm có 3 công thức
N1: 60 kg N/ha
N2: 90 kg N/ha
N3: 120 kg N/ha (Đ/c) đây là lượng đạm phổ biến tại Tân Yên- Bắc Giang Thí nghiệm tiến hành trên nền phân chuồng, phân lân và phân kali đồng nhất với số lượng như sau: Phân chuồng 10 tấn + 70 kg P2O5/ha + 90 kg K2O/ha
Trang 392.5.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm
- Thí nghiệm được bố trí theo kiểm Spit-Plot (ô lớn-ô nhỏ) với 3 lần nhắc lại
- Tổng số ô: 27 ô nhỏ và 9 ô lớn, các ô được đắp bờ, che phủ nilon
- Diện tích mỗi ô nhỏ thí nghiệm là: 4m x 5m =20 m2
- Diện tích thí nghiệm: 540 m2 (không kể diện tích bảo vệ)
Trang 40Thóc giống: Lượng thóc giống cần gieo là 54-58 g/1 khay
Ngâm, ủ và làm mạ: Trước khi ngâm ủ cần xử lý thóc giống để loại bỏ lửng lép bằng dung dịch nước muối tỷ trọng 1,1 và xử lý mầm bệnh bằng nước nóng
54oC hoặc nước vôi 1% Thời gian ngâm ủ tùy thuộc vào mùa vụ, vụ Xuân ngâm 36-40 giờ; vụ Mùa ngâm 20-24 giờ Trong quá trình ngâm phải thay nước từ 4-6 lần Khi ủ, nếu thấy hạt giống khô cần tưới nước bổ sung (vụ Xuân dùng nước ấm
để tưới) Đối với vụ Xuân, khi mầm dài bằng 1/2 chiều dài hạt thóc; đối với vụ Mùa, khi hạt nứt nanh thì đem gieo
Chuẩn bị ruộng đặt khay gieo mạ: Chọn khu đất trồng màu hoặc chân ruộng cao, không bị ngập úng, gần nguồn nước tưới và thuận lợi cho vận chuyển mạ, để làm nơi đặt khay gieo mạ Trước khi đặt khay cần làm tơi đất, lên luống rộng 1,5 m rồi san phẳng mặt luống, tưới đậm nước hoặc đổ một lớp bùn nhuyễn lên trên mặt luống Đặt khay lên đỉnh luống rồi ấn ngập 1/3 chiều cao lỗ khay
Chuẩn bị đất gieo mạ: Lượng bùn bằng 2/3-3/4 so với gieo mạ sân Cho bùn vào xô, chậu, bóp nhuyễn thành bùn loãng, múc bùn đổ lên mặt khay, gạt hết bùn xuống các lỗ khay Trước khi múc đổ bùn qua rổ, sảo để lọc bớt lá cây, đất đá có kích thước lớn
Gieo mạ: gieo như gieo mạ sân, gieo đều, gieo xong dùng bẹ chuối hoặc dùng chổi tre gạt nhẹ cho hạt thóc lọt hết xuống các lỗ khay Che đậy nilon tránh rét vào
Trong 1-2 ngày sau khi ném mạ có thể điều chỉnh chỗ quá dầy hoặc quá thưa trong ô Sau đó rắc thuốc trừ cỏ và chăm sóc như lúa cấy