BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM --- DƯƠNG THỊ THÚY AN ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ GÀ THỊT ĐƯỢC SẢN XUẤT THEO HƯỚNG AN TOÀN SIN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-
DƯƠNG THỊ THÚY AN
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ
GÀ THỊT ĐƯỢC SẢN XUẤT THEO HƯỚNG AN TOÀN SINH HỌC CỦA HỘ NÔNG DÂN Ở HUYỆN CHƯƠNG MỸ, HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-
DƯƠNG THỊ THÚY AN
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ
GÀ THỊT ĐƯỢC SẢN XUẤT THEO HƯỚNG AN TOÀN SINH HỌC CỦA HỘ NÔNG DÂN Ở HUYỆN CHƯƠNG MỸ, HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ : 60.34.04.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN VIẾT ĐĂNG
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là trung thực khách quan và chưa từng dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm
Tác giả luận văn
Dương Thị Thúy An
Trang 4Tôi xin chân thành cảm ơn Ban quản lý đào tạo, các thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Bộ môn Kinh tế Nông nghiệp và Chính sách - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi hoàn thiện cuốn luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ, công chức, viên chức phòng kinh
tế huyện Chương Mỹ - Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực tập hoàn thiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ của Chi cục Thú y Hà Nội, Trung tâm phát triển chăn nuôi Hà Nội và các hộ chăn nuôi đã giúp đỡ tôi trong việc thu thập số liệu phục vụ nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ công nhân viên Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập tại Học viện và hoàn thiện luận văn này
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, người thân những người đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thiện khóa học này
Hà Nội, ngày 20 tháng 7 năm 2015
Tác giả
Dương Thị Thúy An
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ x
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Các khái niệm cơ bản 4
2.1.2 Lý luận về chăn nuôi gà an toàn sinh học 11
2.1.3 Nội dung nghiên cứu về sản xuất và tiêu thụ gà thịt được sản xuất theo hướng an toàn sinh học 14
2.1.4 Đặc điểm của sản xuất và tiêu thụ gà thịt sản xuất theo hướng an toàn sinh học 19
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ gà thịt sản xuất theo hướng an toàn sinh học 22
2.2 Cơ sở thực tiễn về sản xuất và tiêu thụ gà thịt trên thế giới và Việt Nam 23
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ gà thịt trên thế giới 23
Trang 62.2.2 Kinh nghiệm sản xuất và tiêu thụ gà thịt sản xuất theo hướng an toàn
sinh học ở một số địa phương trong nước 30
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 34
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 34
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 37
3.2 Phương pháp nghiên cứu 46
3.2.1 Phương pháp chọn điểm, chọn mẫu nghiên cứu 46
3.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu 46
3.2.3 Phương pháp tổng hợp, xử lý thông tin 47
3.2.4 Phương pháp phân tích thông tin 47
3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 48
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 50
4.1 Thực trạng sản xuất và tiêu thụ gà thịt sản xuất theo hướng an toàn sinh học ở huyện Chương Mỹ, Hà Nội 50
4.1.1 Khái quát tình hình chăn nuôi gà ở huyện ChươngMỹ 50
4.1.2 Tình hình sản xuất gà thịt sản xuất theo hướng an toàn sinh học của các hộ điều tra 55
4.1.3 Thực trạng tiêu thụ gà thịt sản xuất theo hướng an toàn sinh học của hộ nông dân ở huyện Chương Mỹ 81
4.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất và tiêu thụ gà thịt sản xuất theo hướng an toàn sinh học của huyện Chương Mỹ 87
4.2.1 Yếu tố đầu vào 87
4.2.2 Yếu tố thị trường 90
4.2.3 Thu nhập của người tiêu dùng 91
4.2.4 Thông tin thị trường 92
4.2.5 Dân số 92
4.2.6 Giá cả của hàng hóa liên quan 93 4.3 Một số giải pháp phát triển sản xuất và tiêu thụ gà thịt sản xuất theo
Trang 74.3.1 Định hướng, mục tiêu phát triển sản xuất và tiêu thụ gà thịt được sản
xuất theo hướng an toàn sinh học ở huyện Chương Mỹ 94
4.3.2 Một số giải pháp phát triển sản xuất và tiêu thụ gà thịt được sản xuất theo hướng an toàn sinh học ở huyện Chương Mỹ 94
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 101
5.1 Kết luận 101
5.2 Kiến nghị 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHỤ LỤC 106
Trang 8TTCN Tập trung chăn nuôi
TTCN - XDCB Tiêu thủ công nghiệp – xây dựng cơ bản
Trang 9DANH MỤC BẢNG
2.1 Sản lượng thịt hơi gia cầm toàn cầu 2000 – 2014 24
2.2 Sản lượng gà thịt ở Châu Á giai đoạn 2000 - 2014 26
2.3 Tiêu dùng thịt gia cầm trên thế giới (kg / người / năm) 29
3.1 Tình hình sử dụng đất tại huyện Chương Mỹ giai đoạn 2011 - 2013 39
3.2 Tình hình nhân khẩu và lao động của huyện Chương Mỹ qua các năm 2011 - 2013 41
3.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp của huyện Chương Mỹ qua các năm (2011 -2013) 45
3.4 Phân bổ mẫu điều tra tại huyện Chương Mỹ 46
4.1 Tổng hợp các hộ chăn nuôi của huyện Chương Mỹ 2012 – 2014 52
4.2 Thống kê số lượng gà nuôi của huyện Chương Mỹ, 2012 -2014 53
4.3 Thông tin chung của các chủ hộ và hộ điều tra 56
4.4 Tình hình về cơ sở vật chất, chuồng trại trong sản xuất gà thịt theo hướng an toàn sinh học ở các hộ điều tra 60
4.5 Thông tin chung về con giống trong sản xuất gà thịt theo hướng an toàn sinh học ở các hộ điều tra 62
4.6 Tình hình chuẩn bị thức ăn, nước uống trong sản xuất gà thịt theo hướng an toàn sinh học ở các hộ điều tra 64
4.7 Tình hình quản lý nuôi dưỡng, điều kiện vệ sinh thú y trong sản xuất gà thịt theo hướng an toàn sinh học ở các hộ điều tra 68
4.8 Quy mô sản xuất, sản lượng theo giống gà nuôi theo hướng an toàn sinh học ở các nhóm hộ điều tra 70
4.9 Chi phí đầu tư sản xuất gà thịt theo hướng an toàn sinh học của các hộ điều tra sử dụng giống gà trắng CP707 do CP cung cấp (tính bình quân cho 1000 gà/lứa/hộ) 73
Trang 104.10 Chi phí đầu tư sản xuất gà thịt theo hướng an toàn sinh học của các hộ điều tra sử dụng giống gà lai mía 76 4.11 Hiệu quả kinh tế sản xuất gà thịt theo hướng an toàn sinh học của các hộ điều tra sử dụng giống gà trắng CP707 do CP cung cấp 78 4.12 Hiệu quả kinh tế sản xuất gà thịt theo hướng an toàn sinh học của các hộ điều tra sử dụng giống gà lai mía (tính bình quân cho 1000 gà/lứa/hộ) 80 4.13 Giá bán gà thịt sản xuất theo hướng an toàn sinh học của các hộ điều tra năm 2014 86 4.14 Nguồn vốn sản xuất gà thịt của các nhóm hộ điều tra 90
Trang 11DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
2.1 Các kênh tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi 7
2.2 Hoạt động của quá trình tiêu thụ sản phẩm 17
4.1 Các kênh tiêu thụ gà thịt theo hướng an toàn sinh học 83
Số biểu đồ Tên biểu đồ Trang 2.1 Sản lượng gà thịt ở Trung Quốc, 1990 – 2014 25
2.2 Công nghiệp gà thịt ở Ấn Độ, 1900 – 2014 27
2.3 Sản lượng gà thịt của Thái Lan, 1990 - 2014 28
2.4 Sản lượng gà thịt của Thổ Nhĩ Kỳ, 1990 - 2014 28
Trang 12PHẦN I MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử, nền nông nghiệp nước ta vốn đã là nền nông nghiệp trồng lúa nước, chăn nuôi chưa được chú trọng phát triển như là một ngành sản xuất độc lập, mà mới được coi là một hoạt động sản xuất phụ nhằm hỗ trợ cho ngành trồng trọt Mục đích chính của chăn nuôi lấy thịt, trứng sữa không được người sản xuất nhắc đến mà dường như người ta chỉ hướng tới mục tiêu về cung cấp sức kéo làm đất và cung cấp phân bón cho cây trồng
Sau ngày hoà bình và thống nhất đất nước, nền kinh tế bước vào giai đoạn phục hồi và phát triển – vị trí và vai trò của ngành chăn nuôi đã được nhìn nhận và đánh giá đúng với mục tiêu phấn đấu đưa chăn nuôi thành một ngành sản xuất chính trong nông nghiệp Nhờ đó, ngành chăn nuôi ở nước ta đã có bước chuyển biến tích cực so với năm 1975 giá trị sản xuất ngành chăn nuôi (tính theo giá cố định năm 1994) năm 2000 tăng gấp 3.93 lần trong khi đó giá trị sản xuất ngành trồng trọt tăng 3.08 lần Tỷ trọng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi trong giá trị sản xuất nông nghiệp tăng từ 14,62% năm 1975 lên 19,7% năm 2000 (Trần Văn Tâm, 2013)
Trong quá trình hội nhập ngành chăn nuôi của nước ta đã phát triển nhanh chóng đồng thời theo đà hội nhập quốc tế, thương mại, du lịch Mà Chăn nuôi là ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam, là nguồn cung cấp thực phẩm chủ yếu cho người dân Đây cũng là ngành kinh tế giúp cho nông dân tăng thu nhập, giải quyết được nhiều công ăn việc làm cho người lao động
Theo báo cáo của Cục Chăn nuôi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho biết, sản lượng nông nghiệp, chăn nuôi trong nước năm 2012 "được mùa" Tuy nhiên sức mua kém dẫn đến tình trạng giá thịt gà, thịt gà giảm mạnh Một thống kê mới đây của Cục Chăn nuôi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy, hiện giá bán lợn và gà tại các thành phố giảm 30-40% so với những tháng đầu năm 2012, sức mua hạ 50% khiến người chăn nuôi lao đao (Trần Văn Tâm, 2013)
Trang 13Chăn nuôi gà là nghề sản xuất truyền thống lâu đời và chiếm vị trí quan trọng thứ hai (sau chăn nuôi lợn) trong toàn ngành chăn nuôi của Việt Nam Hàng năm, cung cấp khoảng 350-450 ngàn tấn thịt và hơn 2,5-3,5 tỷ quả trứng Tuy nhiên, chăn nuôi gà của nước ta vẫn trong tình trạng sản xuất nhỏ, phân tán, lạc hậu, năng suất thấp, dịch bệnh nhiều, sản phẩm hàng hoá còn nhỏ bé Bình quân sản lượng thịt xẻ, trứng/người chỉ đạt 4,5-5,4kg/người/năm và 35 trứng/người/năm (Trần Xuân Công, 2009)
Để chăn nuôi gia cẩm phát triển bền vững và đem lại hiệu quả kinh tế cao, Trung tâm khuyến nông Hà Nội đã truyền đạt và trao đổi một số nội dung chính trong chăn nuôi gà an toàn sinh học tại một số địa phương nhằm khuyến cao người dân nuôi gia cầm theo hướng tập trung có kiểm soát, đảm bảo an toàn dịch bệnh để giảm rủi ro cho người chăn nuôi Tuy nhiên chăn nuôi của Việt Nam vẫn trong tình trạng sản xuất nhỏ, phân tán, gặp nhiều vướng mắc trong quá trình tiêu
thụ sản phẩm Xuất phát từ vấn đề trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ gà thịt được sản xuất theo hướng an toàn sinh học của hộ nông dân ở huyện Chương Mỹ, Hà Nội”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ gà thịt được sản xuất theo hướng
an toàn sinh học của hộ nông dân trên địa bàn huyện Chương Mỹ, từ đó đề xuất những giải pháp cụ thể có tính khả thi nhằm phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
gà thịt sản xuất theo hướng an toàn sinh học của huyện Chương Mỹ trong thời gian tới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về sản xuất, tiêu thụ gà thịt sản xuất theo hướng an toàn sinh học
Đánh giá thực trạng phát triển sản xuất và tiêu thụ gà thịt sản xuất theo hướng
an toàn sinh học của hộ nông dân ở huyện Chương Mỹ trong những năm qua
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ gà thịt sản xuất theo hướng an toàn sinh học của hộ nông dân huyện Chương Mỹ trong thời gian tới
Trang 14Đề xuất định hướng, giải pháp nhằm phát triển sản xuất và tiêu thụ gà thịt
sản xuất theo hướng an toàn sinh học của hộ nông dân trong những năm tới 1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm trả lời các câu hỏi sau đây liên quan đến sản xuất và tiêu thụ gà thịt được sản xuất theo hướng an toàn sinh học của hộ nông dân ở huyện Chương Mỹ:
- Tình hình sản xuất và tiêu thụ gà thịt được sản xuất theo hướng an toàn sinh học của hộ nông dân huyện Chương Mỹ hiện đang diễn ra như thế nào?
- Các chính sách của Đảng và Nhà nước hiện nay ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm gà thịt sản xuất theo hướng an toàn sinh học của hộ nông dân ở huyện Chương Mỹ?
- Nhu cầu thị trường ảnh hưởng như thế nào tới hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm gà thịt an toàn sinh học của hộ nông dân ở huyện Chương Mỹ?
- Giải pháp nào để phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm gà thịt sản xuất theo hướng an toàn sinh học của hộ nông dân ở huyện Chương Mỹ?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu những yếu tố có liên quan đến phát triển sản xuất và tiêu thụ
gà thịt sản xuất theo hướng ATSH của các hộ nông dân trong huyện Chương Mỹ,
Trang 15PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Các khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Khái niệm về sản xuất
a Khái niệm về sản xuất
Sản xuất là quá trình phối hợp và điều hòa các yếu tố đầu vào để tạo ra sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ đầu ra (Mai Ngọc Cường, 1995) Nếu giả thiết sản xuất sẽ diễn biến một cách có hệ thống với trình độ sử dụng các đầu vào hợp lý, người ta mô tả mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra bằng một hàm số sản xuất:
Q = f(X1,X2,X3… ,Xn)
Trong đó: Q là số lượng một loại sản phẩm nhất định;
X1,X2,X3… ,Xn là lượng của một số yếu tố đầu vào
b Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất
Theo Mai Ngọc Cường, (1995) thì các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sản
xuất gồm có:
Thứ nhất là vốn sản xuất: Vốn đối với quá trình sản xuất là vô cùng quan trọng Trong điều kiện năng suất lao động không đổi khi tăng tổng số vốn sẽ dẫn tới tăng thêm sản lượng sản phẩm hàng hóa
Thứ hai là lực lượng lao động: Là yếu tố đặc biệt quan trọng của quá trình sản xuất Mọi hoạt động sản xuất đều do lao động của con người quyết định, nhất
là người lao động có trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm và kỹ năng lao động Do đó chất lượng lao động quyết định kết quả và hiệu quả sản xuất
Thứ ba là đất đai: Là yếu tố sản xuất không chỉ có ý nghĩa quan trọng với ngành nông nghiệp, mà còn rất quan trọng trong nghành sản xuất công nghiệp và dịch vụ Đất đai là yếu tố cố định lại bị giới hạn bởi quy mô, nên người ta phải đàu tư thêm vốn và lao động trên một đơn vị diện tích nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng đất đai
Thứ tư là khoa học và công nghệ: Quyết định đến sự thay đổi năng suất lao động và chất lượng sản phẩm Những phát minh sáng tạo mới được ứng dụng trong
Trang 16sản xuất đã giải phóng được lao động nặng nhọc, độc hại cho người lao động và tạo
ra sự tăng trưởng nhanh chóng, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội
Ngoài ra còn một số yếu tố khác: Quy mô sản xuất, các hình thức tổ chức sản xuất, mối quan hệ cân đối tác động qua lại lẫn nhau giữa các ngành, các thành phần kinh tế, các yếu tố về thị trường nguyên liệu, thị trường tiêu thụ sản phẩm,…cũng có tác động đến quá trình sản xuất
2.1.1.2 Khái niệm về tiêu thụ sản phẩm
a Khái niệm tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối của quá trình sản xuất Qua giai đoạn này người sản xuất mới đánh giá được kết quả sản xuất kinh doanh của mình Do
đó hoạt động tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa rất quan trọng đối với bất kỳ người sản xuất nào khi tham gia vào thị trường, đây cũng là cơ sở để người sản xuất đưa ra giải pháp khắc phục và định hướng cho phát triển của mình (Mai Ngọc Cường, 1995) Theo Lê Thụ , (1993) có thể hiểu hoạt động tiêu thụ sản phẩm theo hai nghĩa sau:
- Theo nghĩa mở rộng: Hoạt động tiêu thụ sản phẩm là một quá trình kinh tế bao gồm nhiều khâu, nó có quan hệ mật thiết với nhau như: nghiên cứu thị trường, xác định nhu cầu khách hàng, đặt hàng và tổ chức sản xuất, thực hiện các nghiệp vụ tiêu thụ, xúc tiến bán hàng nhằm mục đích đạt hiệu quả cao nhất
- Theo nghĩa hẹp: Hoạt động tiêu thụ là việc chuyển quyền sở hữu sản phẩm cho khách hàng (người mua) và thu được tiền từ hoạt động này Hoạt động tiêu thụ sản phẩm là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa để thỏa mãn lợi ích của người sản xuất cũng như thỏa mãn nhu cầu sử dụng hàng hóa của khách hàng
Dù hiểu theo nghĩa nào thì hoạt động thiêu thụ sản phẩm nói chung được cấu thành bởi các yếu tố sau:
+ Các chủ thể kinh tế tham gia: người mua và người bán
+ Đối tượng đem trao đổi: sản phẩm hàng hóa
Trang 17b Thị trường tiêu thụ sản phẩm
Doanh nghiệp tiêu thụ hàng hóa phải thông qua thị trường, thị trường được coi là một nơi mà ở đó có người bán người mua tự tìm đến nhau để thỏa thuận nhu cầu của cả hai bên
Chức năng của thị trường: chức năng thừa nhận hoặc chấp nhận hàng hóa, dịch vụ; chức năng thực hiện; chức năng điều tiết kích thích sản xuất và tiêu dùng xã hội; chức năng thông tin (Nguyễn Nguyên Cự, 2005)
Các quy luật của thị trường: quy luật cung – cầu, quy luật giá trị, quy luạt cạnh tranh, quy luật giá trị thặng dư (V.I Lênin Toàn tập, Tập 1)
c Kênh phân phối sản phẩm
Kênh tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi: là tập hợp những cá nhân hay những cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập và phụ thuộc lẫn nhau, tham gia vào quá trình tạo dòng vận chuyển sản phẩm chăn nuôi từ người sản xuất đến người tiêu dùng Có thể nói đây là một nhóm các tổ chức và cá nhân thực hiện các hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu của người mua và tiêu dùng sản phẩm chăn nuôi của người chăn nuôi Tất cả những người tham gia vào kênh tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi được gọi là các thành viên của kênh, các thành viên nằm giữa người sản xuất và người người tiêu dùng là những trung gian thương mại, các thành viên này tham gia nhiều kênh tiêu thụ và thực hiện các chức năng khác nhau (Nguyễn Văn Cự, 2005)
Các loại kênh tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi
Các tổ chức tham gia vào kênh tiêu thụ với những cách thức liên kết khác nhau hình thành nên những cấu trúc kênh khác nhau Cấu trúc kênh phân phối được xác định qua chiều dài và bề rộng của hệ thống kênh Do đó mà các kênh phân phối của sản phẩm chăn nuôi được thể hiện qua Sơ đồ 2.1
Trang 18Sơ đồ 2.1: Các kênh tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi
(Nguồn: Phạm Thị Huân, 2009)
- Kênh 1: kênh tiêu thụ trực tiếp: Hộ chăn nuôi → người giết mổ → người tiêu dùng Đây là kênh mà người chăn nuôi trực tiếp bán cho người giết mổ mà không thông qua một trung gian nào Đặc điểm của kênh này là người chăn nuôi chỉ bán với số lượng ít chủ yếu là người trong cùng địa bàn
- Kênh 2: Người chăn nuôi → thợ giết mổ → người bán lẻ → người tiêu dùng Ở kênh này người bán lẻ lấy sản phẩm của người giết mổ để bán cho người tiêu dùng
- Kênh 3: Người chăn nuôi → người giết mổ → người bán buôn → người bán
lẻ → người tiêu dùng Kênh này sản phẩm đến được tay người tiêu dùng phải thông qua hai trung gian thương mại là người bán buôn và người bán lẻ
Hộ chăn nuôi
Người thu gom
Người giết mổ
Người bán buôn
Người bán lẻ
Người tiêu dùng
Trang 19- Kênh 4: Hộ chăn nuôi → người thu gom → người giết mổ → người bán buôn → người bán lẻ → người tiêu dùng Kênh này thường tập hợp tất cả các sản phẩm chăn nuôi để bán cho các lò giết mổ Đặc điểm của kênh này là khối lượng lưu chuyển thường lớn, đôi khi người chăn nuôi bị ép giá (Phạm Thị Huân, 2009)
d Các yếu tố ảnh hưởng tới tiêu thụ sản phẩm
Một là, quá trình sản xuất: Muốn tiêu thụ được thuận lợi thì khâu sản xuất phải đảm bảo số lượng một cách hợp lý, chất lượng sản phẩm cao, giá thành hạ
và được cung ứng đúng thời gian
Thứ hai là, thị trường tiêu thụ: Mục tiêu của doanh nghiệp là lợi nhuận, để đạt được mục đích đó thì các doanh nghiệp phải tiêu thụ được mặt hàng của mình sản xuất ra trên thị trường Do đó thị trường tiêu thụ ảnh hưởng trực tiếp đến công tác tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp và còn ảnh hưởng đến cả quá trình sản xuất kinh doanh
Thứ ba là, giá cả mặt hàng: Giá cả được xem như là một tín hiệu đáng tin cậy phản ánh tình hình biến động của thị trường Trong nền kinh tế thị trường giá
cả là một tín hiệu phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa người mua và người bán, giữa các nhà sản xuất kinh doanh và thị trường xã hội
Thứ tư là chất lượng sản phẩm hàng hóa: Chất lượng sản phẩm hàng hóa
là một trong những yếu tố cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp (Lê Trọng, 1998)
Thứ năm là, hành vi của người tiêu dùng: Mục tiêu của người tiêu dùng là tối đa hóa độ thỏa dụng, vì thế trên thị trường người mua lựa chọn sản phẩm hàng hóa xuất phát từ sở thích, quy luật cầu và nhiều nhân tố khác Trong quá trình tiêu thụ sản phẩm thì hành vi người tiêu dùng có ảnh hưởng rất lớn (Mai Ngọc Cường, 1995)
Thứ sáu là, chính sách của Nhà nước trong hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm: Các chính sách trong hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm cũng tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Thứ bảy là, sự cạnh tranh của các đối thủ trên thị trường: Mức độ canh tranh phụ thuộc vào số lượng doanh nghiệp tham gia vào sản xuất kinh doanh
Trang 20mặt hàng đó Vì vậy, doanh nghiệp phải có đối sách phù hợp trong cạnh tranh để tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm của mình
e Các biện pháp hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm
Quảng cáo
Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện thông tin để truyền tin cho các phần tử trung gian hoặc cho khách hàng cuối cùng trong khoảng không gian và thời gian nhất định (Đặng Đình Đào, 1999)
Thực chất của quảng cáo là thông tin đến công chúng, người tiêu dùng về sản phẩm và doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm ấy Mục tiêu của quảng cáo là đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ cũng như làm tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, lôi kéo ngày càng nhiều khách hàng về phía doanh nghiệp, tạo lập
uy tín cho doanh nghiệp Quảng cáo nhằm giới thiệu những sản phẩm mới hoặc những sản phẩm được cải tiến cho khách hàng, làm cho khách hàng biết được những điểm khác biệt tốt hơn của doanh nghiệp, góp phần tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp so với các đối thủ Phương tiện quảng cáo rất đa dạng và phong phú, cụ thể những phương tiện quảng cáo ngoài mạng lưới tiêu thụ bao gồm:
- Báo chí, là phương tiện quảng cáo nhằm vào đối tượng trên phạm vy rộng, nội dung quảng cáo báo chí thường gồm 3 bộ phận hợp thành: chữ, trang vẽ quảng cáo, tên và địa chỉ cơ sở sản xuất kinh doanh
- Đài phát thanh: là phương tiện quảng cáo thông dụng, có khả năng thông báo nhanh, rộng rãi Để nâng cao hiệu quả quảng cáo bằng radiô cần chú ý tới thời điểm thông tin, số lần lặp lại thông tin và thời gian dành cho một thông tin (Lê Thụ, 1993)
- Vô tuyến truyền hình: là phương tiện quảng cáo thông dụng nhất hiện nay, thông qua hình ảnh sản phẩm ở góc độ có lợi nhất (nhờ kỹ xảo điện ảnh) để các hộ gia đình bị kích thích, lôi cuốn và quan tâm đến sản phẩm, nhất là sản phẩm mới
- Áp phích: là hình thức cho phép khai thác tối đa, lợi về kích thước hình ảnh, màu sắc, vị trí, chủ đề quảng cáo áp phích quảng cáo gồm bảng quảng cáo
Trang 21- Bao bì và nhãn hiệu hàng hóa: Đây là phương tiện quảng cáo hàng hóa quan trọng và thông dụng, có hiệu quả cao Phương tiện quảng cáo này làm khách hàng tập trung chú ý ngày vào hàng hóa Nó vừa góp phần nâng cao chất lượng hàng hóa vừa bảo đảm giá trị sử dụng của hàng hóa (Trần Minh Đạo, 2000)
- Quảng cáo bằng bưu điện: Đây là quảng cáo mà doanh nghiệp liên hệ với khách hàng quan trọng, gửi cho họ catalog, thư chúc tết quảng cáo, mẫu hàng
và các ấn phẩm quảng cáo qua bưu điện Hiệu quả của phương tiện này không lớn do chỉ tập trung vào một số lượng khách hàng cụ thể (Lê Thụ, 1993)
Những hình thức quảng cáo bên trong mạng lưới thương mại
- Biển đề tên cơ sở sản xuất kinh doanh: yêu cầu tên cơ sở phải rõ ràng, đẹp, viết bằng chữ lớn đảm bảo cho người qua đường bằng phương tiện cơ giới
có thể nhìn thấy được và đặt chính giữa lối vào cửa chính cơ quan (Nguyễn Duy Bột, 1997)
- Tủ kính quảng cáo: là hình thức quảng cáo chính và phổ biến của hệ thống cửa hàng giới thiệu sản phẩm Tủ kính có nhiều loại: tủ kính cửa sổ, tủ kính giữa gian mỗi loại phù hợp với một vị trí và có tác dụng riêng
- Bày hàng ở nơi bán hàng: là hình thức quảng cáo phổ biến trong mọi loại hình thương nghiệp có quy mô cơ cấu mặt hàng và địa điểm doanh nghiệp khác nhau Nó thích hợp cho cả mạng lưới thương nghiệp bán buôn và bán lẻ (Đặng Đình Đào, 1999)
- Quảng cáo thông qua người bán hàng thông báo cho khách hàng bằng miệng và bằng chữ về hàng hóa, nội quy bán hàng, phương thức bán và phương thức thanh toán Người bán hàng phải có kiến thức về hàng hóa, biết nghệ thuật chào hàng, biết trình bày sản phẩm và những kiến thức cần thiết khác về thị trường hàng hóa (Đặng Đình Đào, 1999)
Các hoạt động hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm khác
- Tổ chức hội nghị khách hàng, hội thảo chuyên đề, mời ăn, tặng quà với mục đích xây dựng mối quan hệ cộng đồng, mối quan hệ thân thiện giữa doanh nghiệp và khách hàng, gây lòng tin cho khách hàng đối với doanh nghiệp Từ đó tạo sự ủng hộ của khách hàng đối với doanh nghiệp trên khía cạnh nào đó tạo sự ràng buộc giữa khách hàng với doanh nghiệp (Nguyễn Duy Bột, 1997)
Trang 22- Chiêu hàng: là biện pháp được doanh nghiệp sử dụng để khuyến khích tiêu thụ sản phẩm Phương pháp chiêu hàng thường dùng là tặng quà cho khách hàng
- Chào hàng: sử dụng nhân viên bán hàng đến giới thiệu và bán trực tiếp sản phẩm cho khách hàng
- Hội trợ triển lãm nhằm giới thiệu sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp với khách hàng và công chúng Hội chợ là nơi các doanh nghiệp gặp gỡ nhau trao đổi và tìm kiếm nguồn hàng mới, bạn hàng mới và ký kết hợp đồng mua bán ( Lê Thụ, 1993)
- Xúc tiến bán hàng: là tập hợp các biện pháp có thể làm tăng lượng hàng bán ra nhờ tạo ra được một lợi ích vật chất bổ xung cho người mua Các biện pháp xúc tiến bán hàng được áp dụng là trích thưởng cho người bán với số lượng bán hàng vượt mức quy định, gửi phiếu mẫu hàng, bán với giá ưu đãi đặc biệt cho một lô hàng, cho khách hàng mua hàng có phiếu mua hàng giảm giá hoặc quay số mở thưởng (Lê Thụ, 1993)
- Khuyến mãi, khuyếch trương nhằm thúc đẩy tiêu thụ, mở rộng thị trường Các kỹ thuật sử dụng thường bao gồm: bán có thưởng, bốc thăm, bán trả góp, quà tặng
- Phương thức thanh toán linh hoạt: Ngoài việc hỗ trợ chi phí vận chuyển khách hàng còn được tỉ lệ chiết khấu nhất định theo từng loại sản phẩm và theo tổng sản phẩm mua của 1 quý, một năm Ngoài ra cho các đại lý trả chậm, thanh toán chuyển đổi hàng - hàng…
2.1.2 Lý luận về chăn nuôi gà an toàn sinh học
Khái niệm về an toàn sinh học trong chăn nuôi: An toàn sinh học đối với
các cơ sở chăn nuôi là việc thực hiện đồng bộ các biện pháp vệ sinh thú y nhằm ngăn chặn mầm bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào các cơ sở chăn nuôi và tiêu diệt mầm bệnh tồn tại ở bên trong của cơ sở chăn nuôi đó
Khái niệm an toàn sinh học trong chăn nuôi gia cầm: Là các biện pháp
kỹ thuật nhằm ngăn ngừa và hạn chế sự lây nhiễm của các tác nhân sinh học xuất hiện tự nhiên hoặc do con người tạo ra gây hại đến con người, gia súc và
Trang 23Một số quy định về kỹ thuật trong chăn nuôi gà ATSH
Chuồng trại: Chuồng trại phải được xây dựng ở nơi cao ráo, có vành đai chắn tính từ tường rào đến chuồng nuôi Chuồng trại phải thoáng, mát và phải
có khu cách ly mới nhập hay bệnh Vị trí xây chuồng trại phải cách biệt khu dân cư xa các trại chăn nuôi khác, xa công trình công cộng đặc biệt phải cách xa chợ, cơ sở giết mổ động vật ; có tường rào bao quanh, chiều cao tối thiểu khoảng 2m Các cơ sở hành chính của trại phải cách biệt khu chăn nuôi (Bùi Văn Phúc, 2009)
Giống: Chỉ nhập giống ở những trại có uy tín, không mang mầm bệnh
Đàn giống mới nhập về phải có thời gian cách ly để theo dõi sau đó mới cho vào chuồng nuôi Loại thải triệt để những con giống nhiễm bệnh để tránh làm lây lan mầm bệnh cho những con gia cầm khoẻ khỏe trong trại Thực hiện quy trình “cùng vào - cùng ra” trên cùng một dãy chuồng hay trong trại Không nuôi “gối đầu” dễ làm lây truyền mầm bệnh từ lứa này sang lứa khác Nuôi riêng biệt từng loại gia cầm: Khu ấp nở xuất bán; khu gà mới nở, gà con, gà hậu bị, gà đẻ ; phải có khu riêng để nuôi gà mới nhập về; không nuôi nhiều loại
gà, vịt, ngan, ngỗng, lợn trong cùng một trại (Nguyễn Hoài Châu, 2006)
Tăng sức đề kháng trên cơ thể vật nuôi: Tiêm phòng vắc xin đúng lịch một
số loại bệnh truyền nhiễm thường gặp trên vật nuôi Tăng sức đề kháng trên cơ thể vật nuôi bằng cách cho ăn đủ đầy dinh dưỡng Nước uống phải luôn sạch và đầy đủ Bổ sung thuốc tăng lực tăng sức Cần chú ý vào thời điểm giao mùa, và những giai đoạn thường xảy ra stress cho vật nuôi (như tiêm phòng, cai sữa, lẻ bầy, chuyển chuồng, ồn ào, tiếng động đột ngột…), (Lê Việt Anh, 2003)
Giảm mật độ mầm bệnh từ môi trường nuôi: Thực hiện việc vệ sinh
chuồng trại nuôi mỗi ngày Định kỳ phun thuốc sát trùng chuồng trại và đàn gia cầm Không đưa sản phẩm vật nuôi từ bên ngoài vào chuồng trại (thịt, trứng …) Khi gia cầm chết do bệnh, hay chết đột ngột không rõ nguyên nhân phải được tiêu hủy Không được giết mổ bán thịt Không bán chạy gia cầm bệnh, hay đang điều trị bệnh Khách tham quan, thăm viếng, xe chuyên chở ra vào trại nuôi phải
vệ sinh sát trùng kỹ lưỡng Đối với hộ chăn nuôi gia đình nên tự thực hiện công
Trang 24tác thú y Chỉ tham khảo ý kiến, báo với cán bộ thú y khi có dịch bệnh xảy ra (QCVN – 15:2010/BNNPTNT)
Gà ta thả vườn tự do nên dùng lưới quây lại thành khu riêng biệt để vệ sinh, khử trùng như đối với một trại kín
Đối với con người: Phải hạn chế mức thấp nhất khách viếng thăm trại; công nhân chăn nuôi bố trí ăn ở tại trại (đặc biệt giai đoạn có nguy cơ phát dịch cao) trước khi vào trại phải tắm rửa, vệ sinh, khử trùng, thay quần áo, mũ, ủng đặc biệt gia đình công nhân không nên chăn nuôi gia cầm ở gia đình mình; cán
bộ thú y, nhân viên kiểm tra phải tuân thủ các điều kiện khi ra vào trại; mọi công việc nên tiến hành từ đàn gia cầm nhỏ đến đàn gia cầm lớn tuổi hơn; cán bộ thú y làm ở trại không hành nghề thú y bên ngoài (Bùi Văn Phúc, 2009)
Đối với gia cầm và sản phẩm gia cầm: Gia cầm giống đưa vào trại phải khỏe mạnh, lấy từ đàn đã được kiểm tra không nhiễm vi rút cúm hoặc các bệnh truyền nhiễm khác Gia cầm mới nhập phải nuôi cách ly tối thiểu 3 tuần để theo dõi và cần thiết gửi mẫu xét nghiệm (Bùi Văn Phúc, 2009)
Cần kiểm tra chặt chẽ không mang thịt, sản phẩm gia cầm vào trại để sử dụng Trứng gia cầm đưa vào trại ấp phải lấy từ những cơ sở đã được xét nghiệm không nhiễm vi rút cúm (Nguyễn Hoài Châu, 2006)
Phương tiện vận chuyển: Bố trí phương tiện vận chuyển nội bộ riêng trong trại; các xe vận chuyển trước khi vào trại phải được phun xịt khử trùng bằng hóa chất (đặc biệt ở bánh xe, gầm xe)
Dụng cụ chăn nuôi: Mỗi khu trại chăn nuôi phải sử dụng riêng Trường hợp luân chuyển dụng cụ phải vệ sinh khử trùng
Vệ sinh, tiêu độc, khử trùng đối với tất cả những người có liên quan đến quản lý, chăn nuôi trước khi ra vào trại
Thức ăn phải sử dụng từ những cơ sở cung cấp đảm bảo sạch bệnh, không
sử dụng thức ăn bán trôi nổi hoặc sang nhượng thức ăn từ các cơ sở không rõ nguồn gốc (Lê Việt Anh, 2003)
Nước uống phải sử dụng từ nguồn nước ngầm, nước máy đảm bảo, nên
Trang 25Phải có hố sát trùng, dụng cụ; phun xịt trước cổng vào trại Vào khu chăn nuôi phải có các khay đựng thuốc sát trùng
Định kỳ hàng tuần phải vệ sinh tiêu độc toàn khu vực trại, phát quang, khơi thông cống rãnh, rắc vôi bột, phun xịt thuốc sát trùng Thu dọn, xử lý kỹ chất thải trong trại (Nguyễn Hoài Châu, 2006)
Sau khi rửa, để khô nền chuồng và tường, sau đó quét bằng nước vôi nồng
độ 20% Hoặc phun xịt bằng các loại hóa chất thích hợp Vệ sinh dụng cụ chăn nuôi hàng ngày (xô, xẻng )
Tiêu diệt và ngăn chặn các loại động vật gây hại trực tiếp với gia cầm như chuột, chim hoang dã
Khi có gia cầm chết phải xử lý kỹ bằng cách đào hố sâu, đổ dầu đốt, rắc vôi bột và lấp kỹ Tuyệt đối không được vứt xác chết bừa bãi làm ô nhiễm môi trường và lây lan mầm bệnh (Bùi Văn Phúc, 2009)
Nên nuôi nhốt gia cầm ở mật độ thấp (bằng 50% mật độ gia cầm/m2) Thức ăn phải đảm bảo chất lượng, đủ thành phần dinh dưỡng, đảm bảo vệ sinh thú y Bổ sung chất khoáng, vitamin, các chất điện giải để chống stress Cung cấp đầy đủ nước uống sạch trong quá trình chăn nuôi
Sử dụng đầy đủ các loại vaccin bệnh truyền nhiễm như dịch tả, Gumboro theo đúng quy trình cho các loại gia cầm Chỉ sử dụng vắc xin cúm gia cầm khi có hướng dẫn của Cục thú y
Cần tạo mối quan hệ thật tốt với các gia đình xung quanh để có ý thức cùng bảo vệ đàn gia cầm và bảo vệ môi trường sạch bệnh Thường xuyên nắm bắt thông tin kịp thời để xử lý các tình huống, đặc biệt khi có dịch bệnh (Bùi Văn Phúc, 2009)
2.1.3 Nội dung nghiên cứu về sản xuất và tiêu thụ gà thịt được sản xuất theo hướng ATSH
2.1.3.1 Sản xuất gà thịt theo hướng ATSH
a Phát triển chăn nuôi gà ATSH theo hướng trang trại, tập trung, công nghiệp Chăn nuôi gà tập trung xa khu dân cư là việc chăn nuôi gà xa khu vực dân cư sinh sống, tập trung tại một điểm nào đó đã quy hoạch của địa phương, việc chăn nuôi ít ảnh hưởng tới môi trường sống của khu dân cư
Trang 26Để đảm bảo chăn nuôi thành công thì một trong những yếu tố quan trọng
là phải đảm bảo vệ sinh ATSH Chăn nuôi gia cầm tập trung xa khu dân cư theo quy mô trang trại sẽ tạo điều kiên tốt hơn cho các hộ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, phòng trừ dịch bệnh, quản lí kinh tế tốt hơn (Nguyễn Hoài Châu, 2006) Chăn nuôi gà trong những năm gần đây phát triển mạnh, nhưng hầu hết các hộ chăn nuôi quy mô lớn lại nuôi trong khu vực dân cư và chính sự gia tăng mạnh về đầu con gia cầm trong khu vực dân cư đã gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường, dịch bệnh tái phát liên tục khó kiểm soát
Để giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong khu dân cư, khắc phục tình trạng lây lan dịch bệnh và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm phải sớm có biện pháp chuyển chăn nuôi gà tập trung xa khu dân cư (Nguyễn Hoài Châu, 2006)
Để phát triển chăn nuôi ATSH tập trung xa khu dân cư một cách nhanh chóng và hiệu quả thì vấn đề quy hoạch khu chăn nuôi tập trung là yếu tố then chốt
Quy hoạch chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gà nói riêng của huyện Chương Mỹ phải nằm trong quy hoạch tổng thể của huyện và được thành phố phê duyệt, đây là cơ sở pháp lý để triển khai các dự án phát triển chăn nuôi Trong quy hoạch chăn nuôi có quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết trên cơ sở đó huyện có chiến lược phát triển chăn nuôi phù hợp với từng vùng để phát huy thế mạnh và lợi thế so sánh, việc quy hoạch phải đảm bảo diện tích trước mắt cũng như lâu dài khi quy mô chăn nuôi của hộ ngày càng mở rộng Việc quy hoạch chăn nuôi tập trung tạo ra các khu chăn nuôi có đầy đủ cơ
sở hạ tầng về điện, nước, giao thông, xử lý ô nhiễm môi trường, phòng ngừa dịch bệnh và quản lý tốt hơn tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ chăn nuôi có điều kiện
mở rộng sản xuất nâng cao hiệu quả chăn nuôi tạo ra những sản phẩm chăn nuôi sạch đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, góp phần bảo vệ môi trường và phòng chống dịch bệnh tốt hơn (Lê Việt Anh, 2003)
Trên cơ sở quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế, xã hội, địa phương cần triển khai quy hoạch lâu dài, ổn định các vùng chăn nuôi công nghiệp, tập trung,
Trang 27quỹ đất để giao đất, cho thuê đất đối với các tổ chức, cá nhân có dự án đầu tư khả thi được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Chuyển đổi diên tích đất canh tác kém hiệu quả, nhất là các vùng trung du, gò đồi, khu đất sản xuất kém hiệu quả sang phát triển chăn nuôi trang trại (Bùi Văn Phúc, 2009)
b Nội dung về phát triển sản xuất gà thịt ATSH ở nông hộ
Phát triển sản xuất gà thịt theo hướng ATSH ở nông hộ được hiểu là:
- Quá trình tăng lên về quy mô, bao gồm: tăng về sản lượng, tăng giá trị sản xuất, tăng về năng suất, tăng về quy mô nuôi
- Quá trình tăng về cơ cấu:
+ Cơ cấu theo giống nuôi: những giống nuôi chủ yếu và thích hợp nhất được tăng lên để đem lại lợi ích lớn nhất
+ Cơ cấu theo kỹ thuật, công nghệ: muốn phát triển sản xuất tốt nhất là phải áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ mới nhất, phù hợp nhất để đem lại hiệu quả kinh tế tốt nhất
- Quá trình nâng cao chất lượng sản phẩm: người tiêu dùng ngày càng có
xu thế đòi hỏi các sản phẩm có chất lượng tốt nhất Vì vậy trong quá trình sản xuất phải tuân thủ nghiêm ngặt yêu cầu kỹ thuật đặt ra trong quá trình công nghệ sản xuất
2.1.3.2 Tiêu thụ gà thịt sản xuất theo hướng ATSH
Tiêu thụ là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của quá trình sản xuất Thông qua tiêu thụ thì giá trị sử dụng của sản phẩm được thực hiện Theo quan niệm trên thì tiêu thụ là một quá trình chuyến hoá quyền sử dụng hàng hoá tiền tệ giữa các chủ thể của nền kinh tế (Nguyễn Tấn Bình, 2000) Chính vì vậy
mà hoạt động tiêu thụ sản phẩm được cấu thành bởi các yếu tố khác nhau, thường bao gồm:
- Chủ thể tham gia
- Đối tượng (hàng hoá và tiền tệ)
- Thị trường (nơi gặp gỡ giữa người mua và người bán)
Trang 28Sơ đồ 2.2: Hoạt động của quá trình tiêu thụ sản phẩm
( Nguồn: Trịnh Thị Thanh Thuỷ, 2008)
Việc tiêu thụ sản phẩm là quá trình thực hiện giá trị và giá trí sử dụng của hàng hoá Qua tiêu thụ hàng hoá được chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ và vòng chuy chuyển vốn của người sản xuất được hoàn thành Từ đó tạo
cơ sở thu hồi chi phí và tích luỹ để thực hiện tái sản xuất mở rộng Các đơn vị sản xuất kinh doanh phải thực hiện chắc năng cơ bản là đảm bảo sản xuất, cung cáp khối lượng sản phẩm nhất định với những yêu cầu về chất lượng, chủng loại cho nhu cầu tiêu dùng của xã hội Chức năng này được biểu hiện củ thể qua quá trình tiêu thụ sản phẩm (Đặng Thu Hằng, 2005)
Đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh thì tiêu thụ là khâu hết sức quan trọng Qua tiêu thụ thì sản phẩm hàng hoá mới xác định được giá trị và giá trị
sử dụng của nó Tiêu thụ sản phẩm nhanh hay chậm trực tiếp tác động đến chu
kỳ sản xuất sau, đến thời gian lưu chuyển vốn, hiệu suất sử dụng đồng vốn Tiêu thụ phản ánh kết quả kinh doanh cuối cùng, khẳng định được sự có mặt của hàng hoá cũng như sự chấp nhận của thị trường Việc tiêu thụ sản phẩm tác động đến việc thu hẹp hay mở rộng thị trường của một hàng hoá nào đó thông qua các mối quan hệ của người sản xuất và khách hàng, sự chiếm lĩnh thị phần của hàng hoá trên thị trường (Trịnh Thị Thanh Thuỷ, 2008)
Nội dung của quá trình tiêu thụ sản phẩm
Nghiên cứu thị trường: Khâu này rất quan trọng đối với quá trình sản xuất kinh doanh, nó mở rộng đượng cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà
Trang 29nắm được nhu cầu tiêu dùng của hàng hoá và khả năng thanh toán của khách hàng, mức độ thu nhấp và triển cọng mở rộng thị trường tiêu thụ (Trịnh Thị Thanh Thuỷ, 2008)
Để đạt được những mong muốn hay đưa ra được những quyết đinh đúng đắn trong sản xuất đòi hỏi người sản xuất phải thu thập, xử lý các thông tin về thị trường một cách khách quan, chính xác và phù hợp với thực tiễn
Xây dựng, lựa chọn chiến lược sản phẩm, chiến lược thị trường
- Chiến lược sản phẩm là tìm hiểu xem sản phẩm mình sản xuất ra có được người tiêu dùng và thị trường chấp nhận không? Chủng loại và chất lượng sản phẩm, mẫu mã, kiểu dáng như thế nào? Nếu không thì phải tiến hành đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao chất lượng, giảm chi phí
- Chiến lược thị trường là phải xác định được đặc điểm chủ yếu của thị trường tiêu thụ, xác định được những thuận lợi và khó khăn, giá cả chủng loại sản phẩm và những chi phí có liên quan đến thị trường (Đặng Thu Hằng, 2005) Công tác hỗ trợ tiêu thụ: Bên cạnh việc tổ chức nghiên cứu thị trường, lựa chọn chiến lược sản phẩm thì việc tổ chức các hoạt động hỗ trợ trong công tác tiêu thụ có ý nghĩa rất lớn đối với tiêu thụ sản phẩm Đó là các hình thức giới thiệu sản phẩm, tham gia hộ trợ, triển lãm, quảng cáo, tiếp thị và nhiều hoạt động khác (Trịnh Thị Thanh Thuỷ, 2008)
Lựa chọn phương án tiêu thụ: Phương án tiêu thụ sản phẩm thực chất là hệ thống các phương pháp và biện pháp mang tính kỹ thuật nhằm tối đa hoá khối lượng sản phẩm bán ra Theo Đặng Thu Hằng, (2005) có nhiều phương pháp tiêu thụ sản phẩm khác nhau như
- Tiêu thụ trực tiếp: hàng hoá được bán ra trực tiếp từ tay người sản xuất đến tay người tiêu dùng
- Tiêu thụ gián tiếp: hàng hoá được chuyển qua trung gian là các nhà buôn, người thu gom, người bán lẻ rồi mới đến tay người tiêu dùng Hình thức tiêu thụ gián tiếp có thể một hoặc nhiều khâu trung gian
- Tiêu thụ hỗn hợp: Là hình thức phối hợp hai hình thức tiêu thụ trên
Trang 302.1.4 Đặc điểm của sản xuất và tiêu thụ gà thịt sản xuất theo hướng ATSH
2.1.4.1 Đặc điểm sản xuất gà thịt sản xuất theo hướng ATSH
Chăn nuôi an toàn sinh học là một trong những biện pháp tiết kiệm chi phí
và nâng cao hiệu qủa sản xuất chăn nuôi An toàn sinh học không chỉ giúp người chăn nuôi hạn chế đựơc dịch bệnh cho vật nuôi, tiết kiệm đựơc chi phí công tác thu y mà còn tăng được năng suất chăn nuôi, sản xuất ra nguồn sản phẩm có chất lượng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, tăng thêm uy tín, thương hiệu cho cơ
sở sản xuất Đầu ra cho sản phẩm đựơc ổn định Đặc biệt trong xu thế chất lượng cuộc sống của người dân luôn được nâng cao thi sản phẩm của chăn nuôi an toàn sinh học đựơc người dân chú trọng tiêu dùng từ đó lợi nhuận được nâng lên, vì sản phẩm của chăn nuôi an toàn sinh học không ảnh hưởng đến sức khoẻ của cộng đồng, môi trường trong vùng chăn nuôi luôn luôn đựơc đảm bảo Trong thời kỳ hội nhập hiện nay chăn nuôi an toàn sinh học là tiền đề tạo cho ngành nông nghiệp nói chung và ngành chăn nuôi phát triển bền vững (Nguyễn Hoài Châu, 2006)
Nhìn chung, việc thực hiện an toàn sinh học trong chăn nuôi không đòi hỏi chi phí lớn Để thực hiện tốt an toàn sinh học, những người làm việc trong trại chăn nuôi cần nhận thức rõ tầm quan trọng của nó để thực hiện một cách tự giác và nghiêm ngặt những quy định trong từng khâu sản xuất và liên hoàn trong toàn hoạt động của trại Thực tế đã chứng tỏ nhiều trại chăn nuôi ở nước ta do thực hiện tốt an toàn sinh học đã tồn tại và vượt qua được các đợt dịch bệnh trong khi các cơ sở chăn nuôi xung quanh bị thiệt hại nặng nề Kết quả điều tra hiện trạng vệ sinh môi trường ở một số trại chăn nuôi tập trung do Viện Công nghệ môi trường Việt Nam thực hiện ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng cho thấy phần lớn các trại chăn nuôi đã nắm được những yêu cầu cơ bản và trên thực tế đã triển khai các biện pháp an toàn sinh học thiết yếu nhất Đến nay chăn nuôi an toàn sinh học đã mang lại những kết quả nhất định trong phòng chống dịch bệnh, tiêu biểu như ở Trung tâm Nghiên cứu gia cầm Thụy Phương thường xuyên nuôi giữ an toàn trên 20.000 con gia cầm giống gốc của quốc gia đặc biệt coi trọng
Trang 31nhiều nơi, sự hiểu biết của các chủ trại về an toàn sinh học thường chưa toàn diện
và thấu đáo nên các biện pháp phòng chống dịch bệnh chưa được thực hiện đồng
bộ và có khi không phù hợp với điều kiện thực tế của trại nuôi (Nguyễn Hoài Châu, 2006)
Để đảm bảo đi đến thành công trong phòng chống dịch bệnh trong chăn nuôi, cần thực hiện tốt biện pháp sử dụng an toàn sinh học kết hợp với tiêm vắc xin cho vật nuôi Thực tế chăn nuôi ở nước ta hiện nay đang còn nhiều tồn tại, đòi hỏi các cơ quan chuyên môn cần đầu tư hơn nữa trong nghiên cứu hoàn thiện nâng cao hiệu quả an toàn sinh học bằng cách ứng dụng những thành tựu mới nhất của khoa học, công nghệ Mặt khác các nhà chăn nuôi cần coi an toàn sinh học như cẩm nang phòng bệnh, hết sức tranh thủ sự giúp đỡ của các cơ quan chuyên môn xây dựng hệ thống quy định an toàn sinh học cho trại của mình, hàng năm xem xét bổ sung, hiệu chỉnh và tổ chức huấn luyện an toàn sinh học định kỳ cho toàn bộ nhân viên
Không còn nghi ngờ gì nữa, để hình thành và phát triển các trại chăn nuôi tập trung quy mô lớn, đạt hiệu quả kinh tế cao, điều quan trọng hàng đầu đối với các nhà chăn nuôi nuớc ta hiện nay là cần thực hiện các biện pháp phòng dịch tích cực nhất để loại trừ các khả năng bệnh dịch xâm nhập từ ngoài và ngăn chặn các yếu tố làm nảy sinh dịch bệnh từ bên trong trại chăn nuôi (Bùi Văn Phúc, 2009)
2.1.4.2 Đặc điểm tiêu thụ gà thịt sản xuất theo hướng ATSH
Trên 95% sản phẩm bán là tươi sống và hoàn toàn tiêu thụ trong nước Gà sống và sản phẩm được bán khắp nơi, trong các chợ nông thôn, chợ phiên, chợ nông sản và các chợ thành thị Sản phẩm không chế biến bao gói, không đảm bảo
vệ sinh an toàn thực phẩm
- Thói quen tiêu thụ gà là gà sống và một phần nhỏ đã giết mổ sẵn chủ yếu bằng phương tiện thủ công, bán công nghiệp và công nghiệp Do thói quen của người tiêu dùng nước ta thích sủa dụng sản phẩm tươi sống, nên thị trường thịt gà bảo quản lạnh hoặc đã qua chế biến công nghiệp chưa phát triển Đây là trong
Trang 32những nguyên nhân gây khủng hoảng thừa hoặc thiếu sản phẩm thịt gà vào các mùa vụ chăn nuôi trong năm
Trước tình hình đó một số tỉnh, thành phố đã tăng cường quản lý và có chính sách hỗ trợ, khuyến khích ổn định thị trường Một số doanh nghiệp đã đầu
tư xây dựng các cơ sở giết mổ, chế biến tập trung, cung cấp cho thị trường một lượng sản phẩm đảm bảo vệ sinh nhất định, bước đầu tạo niềm tin và thói quen
sử dụng sản phẩm qua chế biến, giết mổ cho người tiêu dùng
Tuy nhiên trong thời gian gần đây việc quản lý buôn bán sản phẩm nhiều nơi bị buông lỏng, xu hướng vận chuyển buôn bán, sử dụng gà sống nhất là các vùng nông thôn đang có chiều hướng phát triển trở lại cũng là nguyên nhân làm các nhà đầu tư e ngại trong việc xây dựng các cơ sở giết mổ chế biến tập trung công nghiệp
Mặt khác, thịt gà công nghiệp đa số được các hàng quán chế biến thành món ăn cho khách vãng lai, công nhân viên, sinh viên Do vậy, ở những tỉnh, thành phố lớn, nơi có nhiều người đến làm việc và học tập cũng chính là thị trường tiêu thụ mạnh Các tỉnh Đông Nam Bộ là khu vực đô thị hóa nhanh nên đã trở thành thị trường tiêu thụ nhiều gà công nghiệp Nhưng chính từ đặc điểm đó
đã tạo nên tính chất mùa vụ cho thị trường này Thực tế, khoảng một tháng trước
và sau tết là thời gian rất khó khăn cho việc tiêu thụ gà công nghiệp do khách vãng lai về quê, các gia đình không sử dụng gà công nghiệp trong dịp tết Điều này ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả chăn nuôi vì gà công nghiệp không thể kéo dài thời gian nuôi như gà thả vườn Nếu những dịp như thế có doanh nghiệp thu mua giết mổ và trữ đông thì thị trường gà công nghiệp sẽ ổn định, người chăn nuôi không phải bán đổ bán tháo với giá quá rẻ, tránh bị lỗ
Bên cạnh đó, khối lượng thịt gia súc gia cầm nhập khẩu quá lớn, cạnh tranh với sản phẩm gà công nghiệp trong nước Hơn nữa, thói quen tiêu dùng của người dân trong nước sử dụng đùi, cánh gà đã ủng hộ thịt nhập khẩu và làm khó khăn thêm cho việc tiêu thụ gà công nghiệp trong nước (thị trường nước ngoài xem đùi, cánh là phụ phẩm gà công nghiệp nên có giá thấp)
Trang 332.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ gà thịt sản xuất theo hướng ATSH
Trong quá trình sản xuất đây là tập hợp tất cả các chi phí nguồn lực đầu vào và các yếu tô ảnh hưởng đến các nguồn lực đó Các chi phí cơ bản phục vụ sản xuất thường có: con giống, sức lao động, thức ăn, thuốc thú y Tuy nhiên, chi phí mỗi nguồn lực lại chịu rất nhiều các yếu tố khác nhau cụ thể là:
- Các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí nguyên vật liệu như: giá mua con giống, chất lượng con giống, giá thức ăn và thuốc thú y, điều kiện tự nhiên của vùng thu mua, thời gian thu mua, đối tượng cung cấp, hình thức vận chuyển
- Các yếu tố ảnh hưởng đến khấu hao tài sản cố định như: đặc điểm vùng sinh thái, tính hiện đại của công nghệ, giá thành lắp ráp, thời gian sử dụng, nhà cung cấp
- Chi phí lao động phục vụ sản xuất chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như: sức lao động, trình độ lao động, thị trường lao động, chiến lược đào tạo, sử dụng của nhà sản xuất
- Chi phí sản xuất chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như: chính sách thuế của nhà nước, mặt hàng của doanh nghiệp sản xuất, thị trường bán sản phẩm của doanh nghiệp
Như vậy có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế Tuy nhiên mực ảnh hưởng của nó phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, chính sách và cơ chế quản lý của quốc gia, trình độ năng lực của nhà sản xuất và lực lượng lao động, mức độ phát triển của khoa học công nghệ, tập quán tiêu dùng
Giá trị sản phẩm của quá trình sản xuất phụ thuộc vào 2 yếu tố là giá bán
và sản lượng hàng hoá các loại sản phẩm sản xuất bán ra
- Các yếu tố ảnh hưởng đến giá bán như: Thị phần của sản phẩm, chất lượng sản phẩm, thời điểm bán sản phẩm, kênh tiêu thụ sản phẩm, qui cách, tính chất của sản phẩm, chiến lược của nhà sản xuất, thị hiếu người tiêu dùng, chính sách phát triển sản xuất của đất nước cũng như của các đối thủ cạnh tranh…
- Các yếu tố ảnh hưởng đến khối lượng sản phẩm: số lượng gà giống, chất lượng giống, chất lượng thức ăn, điều kiện tự nhiên, kĩ thuật chăm sóc nuôi dưỡng, hình thức bảo quản…
Trang 342.2 Cơ sở thực tiễn về sản xuất và tiêu thụ gà thịt trên thế giới và Việt Nam
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ gà thịt trên thế giới
2.2.1.1 Ch âu Á
Thịt gà đại diện cho khoảng 88% sản lượng thịt gia cầm toàn cầu FAO ước tính sản lượng thịt gia cầm trên toàn thế giới sẽ lên tới khoảng 108,7 triệu tấn trong năm 2014, thịt gà từ 95,5 và 96 triệu tấn
Từ năm 2000 đến 2012, số lượng gà giết mổ trên toàn thế giới đã tăng từ 40,635 triệu đến 59.861 triệu con, trong khi mức trung bình trọng lượng mổ thịt mỗi con tăng từ 1,44kg đến 1,55kg
Số lượng gia cầm giết thịt ở châu Á đã tăng từ 14,687 triệu đến 24,723 triệu con trong giai đoạn này Trọng lượng thịt mổ tăng từ khoảng 1,3 kg ở vùng này, nhưng ở châu Mỹ nó tăng từ 1,67kg lên 1,93kg
Các phân tích khu vực sản xuất thịt gà bản địa toàn cầu (Bảng 2.1) cho thấy, trong năm 2012 - dữ liệu mới nhất của FAO, thì Mỹ chiếm 43% trong tổng
số gần 93 triệu tấn, châu Á chiếm 34%, Châu Âu gần 17%, Châu Phi 5% và châu Đại Dương <1%
Từ năm 2000 đến năm 2012, sản xuất thịt gà ở châu Á tăng thêm 4,5% mỗi năm, nhanh hơn so với trung bình toàn cầu là 3,9% (Bảng 2.1) và đó là lý do tại sao khu vực này chiếm 31,8-33,9% đầu ra Tuy nhiên, sự gia tăng đã giảm trong năm 2013 và 2014, còn khoảng 1%/năm
Trang 35Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 24
Bảng 2.1 Sản lượng thịt hơi gia cầm toàn cầu 2000 – 2014
Ghi chú: Sản xuất gia cầm bản địa ở đây từ các loại gia cầm nuôi nông hộ và lượng thịt gia cầm bán con sống
F 2014 = Dự báo của USDA về sản lượng thịt gà thịt (broiler)
Số liệu của các vùng có thể không được dùng để làm tròn tổng thế giới
(Nguồn: FAO cho số liệu gà, USDA cho số liệu gà thịt năm 2014)
Trang 36Sản xuất chủ yếu là Trung Quốc, trong năm 2012, chiếm gần 12,7 triệu tấn hoặc hơn 40% của tổng số khu vực 31,4 triệu tấn Bảng 3 cho thấy tám quốc gia khác, mỗi nước sản xuất hơn một triệu tấn một năm, đã có một kết hợp của một số lượng 12,7 triệu tấn chiếm thêm 40,5% của tổng số
Sản xuất chủ yếu là Trung Quốc, trong năm 2012, chiếm gần 12,7 triệu tấn hoặc hơn 40% của tổng số khu vực 31,4 triệu tấn, trong đó bao gồm ước tính cho cả năm
2013 và 2014 (Bảng 2.2)
Biểu đồ 2.1: Sản lượng gà thịt ở Trung Quốc, 1990 – 2014
(ĐVT: triệu tấn), (Nguồn: FAO)
Sản lượng thịt của Trung Quốc bùng nổ hơn 8% mỗi năm từ năm 1990 đến năm 2012 Tuy nhiên, một đợt bùng phát cúm gia cầm tháng 3 năm 2013 đã
có một tác động đáng kể vào nguồn cung cấp, trong đó mũi tụt dốc từ mức đỉnh năm 2012 là 13,7 triệu tấn lên 13,4 triệu tấn trong năm sau và hơn nữa để ước tính khoảng 12,7 triệu tấn vào năm 2014
Trang 37Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 26
Bảng 2.2 Sản lượng gà thịt ở Châu Á giai đoạn 2000 - 2014
Trang 38Ấn Độ, nước sản xuất lớn thứ hai ở châu Á và thứ tư trên thế giới, là một trong những mở rộng ngành công nghiệp thịt nhanh nhất trên thế giới với tốc độ tăng trưởng trung bình 13% một năm kể từ năm 1990
Ngành công nghiệp đi qua một giai đoạn khó khăn trong năm 2012 với mức tăng trưởng trượt đến 9% cũng khi mà chi phí thức ăn nâng cao kỷ lục trùng hợp với một thị trường dư thừa, do “hậu quả” lợi nhuận cao có được năm 2010 và năm 2011
Đã có những nỗ lực của các nhà sản xuất… tạo nên sự cân bằng hơn về cung/ cầu và
sự cải thiện đáng kể đã đạt được trong năm 2013
Biểu đồ 2.2: Công nghiệp gà thịt ở Ấn Độ, 1900 – 2014
Trang 39Biểu đồ 2.3: Sản lượng gà thịt của Thái Lan, 1990 - 2014
(ĐVT: 1000 tấn), (Nguồn: FAO)
Do đó, sản xuất giảm bởi 33% tức 900.000 tấn trong năm đó (Sơ đồ 2.6)
Kể từ đó, ngành công nghiệp đã phục hồi với dự toán cho năm này đứng ở mức
Trang 402.2.1.2 Châu Mỹ
Năm 2009, việc tiêu thụ thịt gia cầm trung bình/mỗi người ở châu Mỹ khoảng 36 kg, so với 5,5 kg ở châu Phi, nên tổng khối lượng của gia cầm thịt tiêu thụ ở châu Mỹ là 33,2 triệu tấn, gấp 6 lần so với 5,5 triệu tấn ở châu Phi
Bảng 2.3 Tiêu dùng thịt gia cầm trên thế giới (kg / người / năm)
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Châu phi 4,2 4,3 4,5 4,7 4,6 4,7 4,8 5,2 5,4 5,5 Châu Mỹ 31,8 32,1 33 33,3 34,9 34,3 35,3 36,1 37 35,9 Châu Á 6,7 6,6 6,8 7,0 7,0 7,5 7,7 8,2 8,6 8,8 Châu Âu 16 18,6 18,6 18,3 19,0 19,3 19,2 20,3 21,1 21,9 Thái Bình
Dương 30,2 32,4 32,4 33,6 33,5 35,7 35,8 37,0 35,5 35,7 Thế Giới 11,1 11,3 11,6 11,8 12,1 12,3 12,6 13,1 13,6 13,6
(Nguồn: FAO năm 2010)
Xu hướng tiêu thụ / đầu người, chỉ ra rằng vào năm 2014 mức tiêu thụ ở châu
Mỹ vượt quá 40kg so với mức15kg của thế giới Theo nghĩa rộng hấp thụ thịt gà là khoảng 88 phần trăm của các con số thịt gia cầm đưa trung bình cho châu Mỹ vào khoảng 34kg, so với con số toàn cầu tại 13 kg
Số liệu trên mỗi quốc gia châu Mỹ về tiêu thụ thịt gia cầm thể hiện trong thời gian 2000 - 2009 (Bảng 2.3) cho thấy mức tiêu thụ “mạnh” trong toàn châu lục này: 23 trong 50 quốc gia tiêu thụ hơn 30kg, và số còn lại ít hơn 20kg trong năm 2009
Cùng với sự gia tăng dân số, tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, giảm chi phí chăn nuôi và vì thế giảm giá tương đối so với các đối thủ khác, là những yếu tố quan trọng để kích cầu
Tiêu thụ thịt gà ở Mỹ giảm mạnh từ 46kg/ đầu người trong năm 2006 xuống còn 42kg trong năm 2009 – tính theo thịt mổ Sau đó tăng đến gần 44kg