1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu giải pháp cung ứng dịch vụ logistics tại công ty cổ phần giao nhận tiếp vận quốc tế

108 664 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Theo Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 Điều 233: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyể

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được

sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi cũng xin cam kết rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn

đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 18 tháng 04 năm 2015

Tác giả luận văn

Đỗ Thị Phương Mỹ

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập nghiên cứu và viết luận văn thạc sỹ, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều phòng, ban, ngành và cá nhân Trước hết cho phép tôi cảm ơn đến các thầy cô giáo Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn đã dạy và giúp đỡ tôi trong suốt khoá học thạc sỹ này Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn GS.TS Đỗ Kim Chung, các thầy cô trong bộ môn Kinh tế Nông nghiệp và Chính sách, Học viện Nông Nghiệp Việt Nam đã tận tình đóng góp ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn Thạc sỹ

Tôi xin chân thành cảm ơn Công ty Cổ phần Giao nhận Tiếp vận Quốc tế, các phòng, ban của công ty đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và những người thân đã

hỗ trợ, giúp đỡ tôi thực hiện luận văn này

Hà nội, ngày 12 tháng 5 năm 2015

Tác giả luận văn

Đỗ Thị Phương Mỹ

Trang 5

MỤC LỤC

2.2 Cơ sở thực tiễn về cung ứng dịch vụ logistics tại Công ty Interlogistics 21 2.2.1 Đặc điểm kinh tế kĩ thuật và quá trình phát triển của ngành dịch vụ

2.2.2 Thực trạng phát triển ngành dịch vụ logistics ở Việt Nam hiện nay 22

2.2.4 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ logistics tại một số nước ASEAN 43

Trang 6

3.2.3 Phương pháp chọn mẫu 58

4.1 Thực trạng cung ứng dịch vụ logistics tại Công ty Cổ Phần Giao

4.2 Yếu tố ảnh hưởng tới cung ứng dịch vụ logistics tại Công ty Cổ

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Trang 9

DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ

Trang 10

đã được chuyên môn hóa và phát triển trở thành một trong những ngành dịch vụ “cơ sở hạ tầng” hoặc “dịch vụ có giá trị gia tăng cao” trong nền kinh tế quốc dân và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, phát triển kinh tế nhanh và bền vững kinh tế xã hội ở mỗi quốc gia

Trên thế giới, logistics được áp dụng trong nhiều lĩnh vực khách nhau của đời sống xã hội như quân sự, sản xuất, công nghiệp, nông nghiệp,

du lịch Và đã phát triển đến trình độ cao như quản trị logistics, logistics

hệ thống, E-logistics

Tại Việt Nam, ngành dịch vụ logistics đã trải qua hơn hai thập niên phát triển và đã đạt được những thành công nhất định Tuy nhiên, còn nhiều hạn chế về mặt năng lực của các doanh nghiệp Đó là vốn, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, công nghệ quản trị hiện đại Bên cạnh đó, các yếu

tố pháp luật, thể chế về logistics cũng cần được bổ sung cho phù hợp với đà phát triển của hệ thống logistics quốc gia

Nằm trong chương trình phát triển chung của cả nước, đó là xây dựng các trung tâm logistics tại ba miền Bắc – Trung – Nam Công ty Cổ phần giao nhận tiếp vận Quốc tế

Trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động và những yếu tố ảnh

hưởng tới dịch vụ logistics tại ICD Tiên Sơn, học viên đã chọn đề tài “

Nghiên cứu giải pháp cung ứng dịch vụ logistics tại Công ty Cổ Phần

Trang 11

giao nhận tiếp vận Quốc Tế” thực hiện với hi vọng sẽ tìm ra các giải

pháp khả thi để phát triển loại hình dịch vụ này, làm bài học kinh nghiệm cho các Cảng nội địa của Việt Nam

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu chung

` Nghiên cứu giải pháp cung ứng dịch vụ logistics tại Công ty cổ phần giao nhận tiếp vận Quốc tế

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Góp phần hệ thống hóa cung ứng dịch vụ logistics cho doanh nghiệp

- Đánh giá thự trạng dịch vụ logistics tại Công ty Cổ phần giao nhận tiếp vận Quốc tế

- Đề xuất giải pháp cung ứng dịch vụ logistics tại Công ty Cổ phần giao nhận tiếp vận Quốc tế

Đề tài sử dụng số liệu của Công ty Cổ phần giao nhận tiếp vận Quốc

tế với thời gian từ năm 2012 đến năm 2014

- Thời gian thu thập số liệu từ ngày

- Thời gian thực tập đề tài từ tháng 05/2014 đến tháng 5/2015

1.3.3 Đối tượng nghiên cứu

Trang 12

PHẦN II

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS

2.1 Tổng quan về dịch vụ logistics

2.1.1 Khái niệm dịch vụ logistics

2.1.1.1 Khái niệm dịch vụ logistics

Logistics là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến tại nhiều quốc gia, song hiện nay chưa có một khái niệm (định nghĩa) chính xác về thuật ngữ này Có nhiều quan điểm về logistics như sau:

- Theo tài liệu của Đào Đình Bình (2011): Logistics là hoạt động quản lý dòng lưu chuyển và lưu kho nguyên vật liệu, quá trình sản xuất thành phẩm xử lý các thông tin liên quan… từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ cuối cùng theo yêu cầu của khách hàng

- Theo Ủy ban Quản lý logistics của Hoa Kỳ: Logistics là quá trình lập kế hoạch, chọn phương án tối ưu để thực hiện việc quản lý, kiểm soát việc di chuyển, bảo quản có hiệu quả về chi phí và ngắn nhất về thời gian đối với nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm, cũng như các thông tin tương ứng từ giai đoạn tiền sản xuất cho đến khi hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng (Đào Đình Bình, 2011)

- Theo Hội đồng quản trị logistics Hoa Kỳ-1988: Logistics là quá trình lên kế hoạch, thực hiện và kiểm soát hiệu quả, tiết kiệm chi phí của dòng lưu chuyển và lưu trữ nguyên vật liệu, hàng tồn, thành phẩm và các thông tin liên quan từ điểm xuất xứ đến điểm tiêu thụ, nhằm mục đích thỏa mãn những yêu cầu của khách hàng

- Trong lĩnh vực quân sự:logistics được định nghĩa là khoa học của việc lập kế hoạch, tiến hành di chuyển và tập trung các lực lượng, … các

Trang 13

mặt trong chiến dịch quân sự liên quan tới việc thiết kế và phát triển, mua lại, lưu kho, di chuyển, phân phối, tập trung, sắp đặt và di chuyển khí tài, trang thiết bị

- Theo Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 (Điều 233): “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao.”

Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự hỗ trợ đắc lực của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới, khối lượng hàng hóa và sản phẩm vật chất được sản xuất ra ngày càng nhiều Do khoảng cách trong các lĩnh vực cạnh tranh truyền thống như chất lượng hàng hóa hay giá cả ngày càng thu hẹp, các nhà sản xuất đã chuyển sang cạnh tranh về quản lý hàng tồn kho, tốc

độ giao hàng, hợp lý hóa quá trình lưu chuyển nguyên nhiên vật liệu và bán thành phẩm, … trong cả hệ thống quản lý phân phối vật chất của doanh nghiệp Trong quá trình đó, logistics có cơ hội phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn trong lĩnh vực kinh doanh Trong thời gian đầu, logistics chỉ đơn thuần được coi là một phương thức kinh doanh mới, mang lại hiệu quả cao cho các doanh nghiệp Cùng với quá trình phát triển, logistics đã được chuyên môn hóa và phát triển trở thành một ngành dịch vụ đóng vai trò rất quan trọng quan trọng trong giao thương quốc tế (Hoàng Văn Châu, 2009)

Trang 14

- Logistics không chỉ liên quan đến nguyên vật liệu mà còn liên quan tới tất cả các nguồn tài nguyên, đầu vào cần thiết để tạo ra sản phẩm hay dịch vụ phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng Đó là vật tư, vốn, nhân lực, công nghệ thông tin, chiến lược

- Logistics là quá trình hoạch định và kiểm soát dòng chu chuyển và lưu kho bãi của hàng hóa và dịch vụ từ điểm đầu tiên tới khách hàng và

Các nhà cung cấp vận tư

Các nhà cung cấp vận tư

Quá trình sản xuất

Trung gian

Trung gian

Khách hàng

Khách hàng

Khách hàng

LOGISTICS

Trang 15

thỏa mãn nhu cầu của khách hàng Logistics bao gồm cả các chu chuyển đi vào, đi ra, bên trong, bên ngoài của nguyên vật liệu thô và thành phẩm

- Logistics bao trùm cả hai cấp độ hoạch định và tổ chức

Cấp độ thứ nhất các vấn đề được đặt ra là: Vị trí- phải lấy nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, dịch vụ ở đâu? khi nào? và vận chuyển đi đâu?

Cấp độ thứ hai là quan tâm tới vận chuyển và lưu trữ: làm thế nào để vận chuyển được các yếu tố trên từ điểm xuất phát tới điểm cuối cùng của dây truyền cung ứng

Toàn bộ quá trình vận động của nguyên vật liệu qua sản xuất, lưu thông đáp ứng nhu cầu thị trường đều gắn liền với hoạt động giao nhận vận tải Vì thế người ta cho rằng, logsitics chính là sự phát triển cao, hoàn thiện của vận tải giao nhận; là sự phát triển toàn diện và khéo léo của vận tải đa phương thức

Theo đó, logistics là quá trình tối ưu hóa luồng vận động của vật chất

và thông tin về vị trí, thời gian, chi phí, yêu cầu của khách hàng và hướng tới tối ưu hóa lợi nhuận

2.1.1.2 Đặc điểm kinh tế kĩ thuật của các dịch vụ logistics

- Dịch vụ logistics là một hệ thống các hoạt động nhằm tối ưu hoá mọi công việc, mọi thao tác từ khâu cung ứng , sản xuất, phân phối và tiêu dùng sản phẩm chứ không phải chỉ là "kho" và "vận", "giao" và "nhận" như một số người lầm tưởng Đây là một chuỗi các dịch vụ chứ không phải là một dịch vụ đơn thuần (Triệu Hồng Cẩm, 2006)

- Dịch vụ logistics hỗ trợ hoạt động của các doanh nghiệp: dịch vụ logistics hỗ trợ toàn bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp từ cung ứng các yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất cho tới phân phối các sản phẩm đầu ra, ngay cả khi sản phẩm đã ra khỏi dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp và đến tay người tiêu dùng Doanh nghiệp cung ứng có thể kết hợp

Trang 16

bất cứ yếu tố nào của các dịch vụ logistics với nhau hay tất cả các yếu tố logistics tuỳ theo yêu cầu của khách hàng

- Dịch vụ logistics là sự phát triển cao, hoàn chỉnh của dịch vụ vận tải giao nhận, vận tải giao nhận gắn liền và nằm trong logistics

Cùng với quá trình phát triển của mình, các dịch vụ logistics đã làm

đa dạng hóa khái niệm vận tải giao nhận truyền thống Từ chỗ chỉ thay mặt khách hàng để thực hiện các khâu rời rạc như nhận hàng, bao gói, bảo quản, làm thủ tục thông quan, vận chuyển hàng hoá cho đến cung cấp dịch vụ trọn gói Từ chỗ đóng vai trò đại lý, người uỷ thác trở thành một chủ thể chính trong các hoạt động vận tải giao nhận với khách hàng, chịu trách nhiệm trước các nguồn luật điều chỉnh Ngày nay, người giao nhận vận tải trở thành người cung ứng dịch vụ logistics thực hiện một loạt các nghiệp vụ, quản lý một hệ thống đồng bộ từ giao nhận tới vận tải, cung ứng nguyên vật liệu phục vụ sản xuất kinh doanh, bảo quản hàng hoá trong kho, phân phối hàng hoá đúng nơi, đúng lúc, sử dụng thông tin điện tử để theo dõi kiểm tra

- Các dịch vụ trong chuỗi dịch vụ logistics là một chuỗi công việc có tính chất liên hoàn, số lượng công việc nhiều, tính chất công việc phức tạp, thời gian thực hiện kéo dài

2.1.2 Vai trò của dịch vụ logistics

Logistics có vị trí ngày càng quan trọng trong các nền kinh tế hiện đại và có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế của các quốc gia và toàn cầu Phần giá trị gia tăng do ngành logistics tạo ra ngày càng lớn Trên thực tế, vai trò của hoạt động logistics được đánh giá trên cả hai cấp độ: vĩ mô và vi mô

2.1.2.1 Dưới góc độ vĩ mô (nền kinh tế)

Logistics tuy là ngành công nghiệp ra đời khá muộn nhưng lại là một trong những động lực phát triển kinh tế của nhiều quốc gia Logistics có

ảnh hưởng sâu rộng đến toàn xã hội

Trang 17

Thứ nhất, logistics phát triển, nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của

một quốc gia, đóng góp nhiều cho ngân sách Nhà nước

Theo nghiên cứu của Trường đại học Quốc gia Michigan (Hoa Kỳ) Logistics đóng góp vào GDP của các nước lớn ở Châu Âu bắc Mỹ và một

số nền kinh tế ở Châu Á - Thái Bình Dương khoảng từ 10% đến 15% (Trịnh Thị Thu Hương, 2007)

Logistics là công cụ tạo ra mối liên kết kinh tế xuyên suốt gần như toàn bộ quá trình sản xuất, lưu thông, phân phối hàng hóatạo ra chuỗi giá trị toàn cầu (GVC – Global Value Chain) Khi thị trường toàn cầu phát triển với các tiến bộ về công nghệ, đặc biệt là việc mở cửa thị trường ở các nước đang và chậm phát triển, logistics được các nhà quản lý coi như là công cụ, một phương tiện liên kết các lĩnh vực khác nhau của chiến lược doanh nghiệp Logistics tạo ra sự hữu dụng về thời gian và địa điểm cho các hoạt động của doanh nghiệp Sự phát triển logistics làm cho nền kinh tế mỗi nước gắn với nền kinh tế khu vực và thế giới, tạo ra sự hội nhập

Thứ hai, logistics phát triển góp phần mở rộng thị trường trong

thương mại quốc tế, nâng cao mức hưởng thụ của người tiêu dùng, đồng thời góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Sản xuất có mục đích là phục vụ tiêu dùng Vì vậy, trong sản xuất, kinh doanh, vấn đề thị trường luôn là vấn đề quan trọng và luôn được các nhà sản xuất kinh doanh quan tâm Các nhà sản xuất kinh doanh muốn chiếm lĩnh và mở rộng thị trường cho sản phẩm của mình cần có

sự hỗ trợ của dịch vụ logistics

Dịch vụ logistics có tác dụng như chiếc cầu nối trong việc chuyển dịch hàng hóa trên các tuyến đường mới đến các thị trường mới đúng yêu cầu về thời gian và địa điểm đặt ra Dịch vụ logistics phát triển có tác dụng rất lớn trong việc khai thác và mở rộng thị trường kinh doanh cho các

Trang 18

doanh nghiệp, đặc biệt trong việc nâng cao mức hưởng thụ của người tiêu dùng, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Thứ ba, dịch vụ logistics có tác dụng tiết kiệm và giảm chi phí trong

quá trình phân phối và lưu thông hàng hóa.Giá cả hàng hóa trên thị trường chính bằng giá cả ở nơi sản xuất cộng với chi phí lưu thông Chi phí lưu thông hàng hóa, chủ yếu là phí vận tải chiếm một bộ phận không nhỏ và là

bộ phận cấu thành giá cả hàng hóa trên thị trường đặc biệt là hàng hóa trong buôn bán quốc tế Vận tải cũng là yếu tố quan trọng nhất trong hệ thống logistics nên dịch vụ logistics ngày càng hoàn thiện và hiện đại sẽ tiết kiệm chi phí lưu thông Nếu tính cả chi phí vận tải, tổng chi phí logistics ( bao gồm đóng gói, lưu kho, vận tải, quản lý …) ước tính chiếm tới 20% tổng chi phí sản xuất ở các nước phát triển, trong khi đó nếu chỉ tính riêng chi phí vận tải có thể chiếm tới 40% giá trị xuất khẩu của một số nước không có đường biển Dịch vụ logistics phát triển sẽ làm giảm chi phí lưu thông trong hoạt động phân phối, từ đó tăng tính hiệu quả của nền kinh

tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Đối với nước ta, việc phát triển hệ thống logistics hiện đại theo hướng bền vững có vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết ùn tắc và giảm tai nạn giao thông, nhất là ở các thành phố lớn (Đoàn Thị Hồng Vân, 2006)

Thứ tư, logistics phát triển góp phần giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu

chuẩn hóa chứng từ trong kinh doanh quốc tế.Trong thực tế, một giao dịch trong buôn bán quốc tế thường phải tiêu tốn các loại giấy tờ, chứng từ Các dịch vụ logistics đơn lẻ, trọn gói đã có tác dụng giảm rất nhiều các chi phí cho giấy tờ, chứng từ trong buôn bán quốc tế Dịch vụ vận tải đa phương thức do người kinh doanh dịch vụ logistics cung cấp đã loại bỏ đi rất nhiều chi phí cho giấy tờ, thủ tục, nâng cấp và chuẩn hóa chứng từ, cũng như giảm khối lượng công việc văn phòng trong lưu thông hàng hóa, từ đó nâng cao hiệu quả buôn bán quốc tế Đặc biệt khi thương mại điện tử ra đời cùng

Trang 19

với việc xuất hiện Logistics 5PL thì các khoản chi phí kể trên cùng với chi phí về mặt thời gian càng được tiết kiệm hơn

Thứ năm, dịch vụ logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và

tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia.Theo nhiều kết quả nghiên cứu về logistics ở các hãng sản xuất, trong cơ cấu giá bán sản phẩm, chi phí sản xuất thường chiếm 48%, marketing chiếm 27%, logistics chiếm 21%, còn lại là phần lợi nhuận 4% Điều này cho thấy chi phí logistics là rất lớn Do

đó, việc hình thành và phát triển dịch vụ logistics sẽ giúp các doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế giảm được chi phí trong chuỗi logistics, làm cho qua trình sản xuất, kinh doanh đạt hiệu quả hơn, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của quốc gia và doanh nghiệp trên thị trường (Trịnh Thị Thu Hương, 2007)

Ngoài ra, cùng với việc phát triển logistics điện tử (electronic logistics) sẽ tạo ra cuộc cách mạng trong dịch vụ vận tải và logistics, chi phí cho giấy tờ, chứng từ trong lưu thông hàng hóa càng được giảm tới mức tối đa, chất lượng dịch vụ logistics ngày càng được nâng cao sẽ thu hẹp hơn nữa cản trở về mặt không gian và thời gian trong dòng lưu chuyển nguyên vật liệu và hàng hóa Các quốc gia sẽ xích lại gần nhau hơn trong hoạt động sản xuất và lưu thông

2.1.2.2 Dưới cấp độ vi mô (doanh nghiệp)

Thứ nhất, logistics giải quyết cả đầu vào lẫn đầu ra của doanh nghiệp

một các hiệu quả, giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp Trên cơ sở góp phần nâng cao trình độ kỹ thuật của sản xuất, sử dụng hợp lý và tiết kiệm các nguồn lực, chủ động tìm ngồn cung cấp nguyên vật liệu, chủ động trong việc lên kế hoạch sản xuất, quản lý hàng tồn kho (Nguyễn Như Tiến, 2006)

Logistics còn góp phần giảm chi phí cho doanh nghiệp thông qua việc tiêu chuẩn hóa chứng từ

Trang 20

Thứ hai, logistics đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo yếu tố

đúng thời gian, đúng địa điểm (JIT – Just In Time), nhờ đó đảm bảo cho quá trình sản xuất, kinh doanh diễn ra theo nhịp độ đã định, góp phần nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm, sử dụng hiệu quả vốn kinh doanh của các doanh nghiệp Quá trình toàn cầu hóa kinh tế đã làm cho hàng hóa

và sự vận động của chúng phong phú và phức tạp hơn nhiều lần so với thời

kỳ trước, đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ và đặt ra yêu cầu mới đối với dịch vụ vận tải và giao nhận Đồng thời để tránh hàng tồn kho doanh nghiệp phản tính toán để lượng hàng tồn kho là nhỏ nhất Kết quả là hoạt động lưu thông nói chung và hoạt động logistics nói riêng phải đảm bảo yêu cầu giao hàng đúng lúc, kịp thời, mặt khác phải đảm bảo mục tiêu khống chế lượng hàng tồn kho ở mức tối thiểu

Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin cho phép kết hợp chặt chẽ quá trình cung ứng, sản xuất, lưu kho hàng hóa, tiêu thụ với vận tải, giao nhận làm cho cả quá trình này trở nên hiệu quả hơn, nhanh chóng hơn, làm gia tăng sự hài lòng và giá trị cung cấpcho khách hàng Đây cũng

là một công cụ để đạt được lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp

Thứ ba, logistics hỗ trợ nhà quản lý ra quyết định chính xác trong

hoạt động sản xuất, kinh doanh Nhà quản trị doanh nghiệp luôn phản giải quyết nhiều bài toán hóc búa về nguồn nguyên liệu cung ứng, số lượng và thời điểm để bổ sung hiệu quả nguồn nguyên liệu, phương tiện và hành trình vận tải, địa điểm, thời gian giao nhận và kho bãi chứa thành phẩm, bán thành phẩm … Để giải quyết những vấn đề này một cách hiệu quả không thể thiếu vai trò của logistics vì nó cho phép nhà quản lý kiểm soát

và ra quyết định chính xác về các vấn đề nêu trên để giảm tối đa chi phí phát sinh, bảo đảm hiệu quả trong hoạt động sản xuất, kinh doanh

Thứ tư: Logistics góp phần gia tăng giá trị kinh doanh của doanh

nghiệp thông qua việc thực hiện các dịch vụ lưu thông bổ sung (các dịch vụ

Trang 21

tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu phân phối, lưu thông) Logistics là loại hình dịch vụ có quy mô mở rộng và phức tạp hơn nhiều so với hoạt động vận tải giao nhận thuần túy Trước kia người kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận chỉ cung cấp cho khách hàng những dịch vụ đơn giản, thuần túy và đơn

lẻ Ngày nay, do sự phát triển của sản xuất, lưu thông, các chi tiết của một sản phẩm của doanh nghiệp có thể tiêu thụ tại nhiều quốc gia, nhiều thị trường khác nhau, vì vậy dịch vụ mà khách hàng yêu cầu từ các nhà phân phối, các doanh nghiệp kinh doanh vận tải giao nhận phải đa dạng, phong phú Người vận tải giao nhận ngày nay phải triển khai thực hiện nhiều dịch

vụ nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế ngày càng tăng của khách hàng

Thứ năm: Logistics hỗ trợ đắc lực cho hoạt động marketing, đặc biệt

là marketing hỗn hợp Thể hiện ở sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng khi hàng hóa được giao đúng thời gian, địa điểm, đúng sản phẩm yêu cầu với giá cả hợp lý nhất

2.1.3 Nội dung, nghiên cứu về giải pháp cung ứng dịch vụ logistics

Trang 22

+ Những thủ tục tiến hang những công việc thuộc quan hệ của cơ quan nhà nước đối với công dân và các tổ chức xã hội

Nhiệm vụ thủ tục Hải quan

Giám sát, quản lý mọi hàng hóa, hành lý, tiền tệ, kim khí quý, đá quý, ngọc trai, bưu phẩm, bưu kiện, phương tiện vận tải khi xuất hay nhập cảng Thi hành chính sách thuế xuất nhập cảng và có thể thu những sắc thuế khác được ủy nhiệm

Kiểm soát để ngăn ngừa những hành vi vi phạm luật lệ hải quan, những hành vi buôn bán, tàng trữ, vận chuyển các loại hàng xuất nhập trái phép,

kể các ma túy, thuốc phiện

Phát hiện ngăn ngừa các hiện tượng tổn thất làm ảnh hưởng đến hàng xuất nhập cảng thuộc tài sản của nhà nước còn nằm trong phạm vi giám sát, quản lý của Hải quan

Quy trình thực hiện hải quan

Bước 1: Doanh nghiệp thực hiện khai tờ khai hải quan điện tử, tờ khai trị giá (nếu cần) theo đúng tiêu chí và khuôn dạng chuẩn và gửi tới hệ thống của cơ quan hải quan

Bước 2: Doanh nghiệp nhận thông tin phản hồi từ cơ quan hải quan về số tờ khai hải quan, kết quả phân luồng và thực hiện một trong các nội dung sau:

+ Luồng xanh: Miễn kiểm tra hồ sơ giấy và miễn kiểm tra thực tế hàng hóa Lô hàng được cơ quan hải quan chấp nhận thông quan thì chuyển sang bước 4

+ Luồng vàng: Kiểm tra hồ sơ hải quan Nếu được yêu cầu sửa đổi,

bổ sung hồ sơ hải quan thì doanh nghiệp thực hiện theo yêu cầu và xuất trình hồ sơ giấy để cơ qaun hải quan kiểm tra Nếu lô hàng được chấp nhận thông quan thì thực hiện tiếp bước 4, nếu cơ quan hải quan yêu cầu kiểm tra htực tế hàng hóa thì chuyển sang bước 3

Trang 23

Bước 3: Luồng đỏ: Doanh nghiệp xuất trình hồ sơ giấy và hàng hóa

để cơ quan hải quan kiểm tra

Bước 4: Doanh nghiệp in tờ khai trên hệ thống của mình để đi lấy hàng Bước 5: Nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật

2.1.3.2 Dịch vụ kho bãi

Dịch vụ kho bãi là một hệ thống của Logistics, là nơi lưu giữ nguyên liệu và thành phẩm, Những nhà sản xuất tiến hành sản xuất hàng hóa, sau đó cung cấp thông tin về tình trạng, điều kiện lưu giữ và vị trí các hàng hóa được lưu kho (Đoàn Thị Hồng Vân, 2012)

Nhiệm vụ kho bãi

Hoạt động kho bãi là một bộ phận của hệ thống logistics, là nơi cất giữ nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm trong suốt quá trình chu chuyển từ điểm đầu cho tới điểm cuối của dây chuyền cung ứng, đồng thời cung cấp các thông tin về tình trạng điều kiện dữ liệu và vị trí của các hàng hóa được lưu kho

Hoạt động logistics này là hoạt động chiến lược ảnh hưởng tới quá trình vận chuyển, chất lượng dịch vụ khách hàng, tốc độ lưu chuyển hàng góa và tất nhiên ảnh hưởng tới toàn bộ dây chuyền cung ứng vị trí kho hàng được quyết định dựa trên các điều kiện cơ bản sau: gần các trung tâm bán hàng lớn, cơ sở hạ tầng tốt, thủ tục làm đơn giản (đặc biệt là thủ tục thông quan đối với các kho ngoại quan), có đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, có tình hình chính trị xã hội ổn định

Hoạt động lưu kho có qua hệ mật thiết với hoạt động vận tải trong chuỗi hệ thống logistics Thiết kế hệ thống cơ sở sản xuất và kho hàng khoa học, hợp lý cho phép tiết kiệm được chi phí vận tải ở cả đầu vào lẫn đầu ra của hệ thống logistics

Trang 24

2.1.3.3 Dịch vụ vận tải

Vận tải là một hoạt động kinh tế có mục đích của con người nhằm thay đổi vị trí của hàng hóa và bản thân con người từ nơi này đến nơi khác bằng các phương tiện vận tải (Đoàn Thị Hồng Vân, 2012)

Nhiệm vụ vận tải hàng hóa

Hoạt động vận chuyển đóng vai trò vô cùng quan trọng trong chuỗi dịch vụ logistics Thương nhân kinh doanh dịch vụ logicstics thông thường

là người kinh doanh dịch vụ vận chuyển kinh doanh nội địa hoặc người kinh doanh vận tải đa phương thức Họ tiến hành các hoạt động vận chuyển nguyên vật liệu từ nơi cung ứng cho đến nơi sản xuất, vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất cho đến nơi tiêu dùng có thể bằng phương tiện của chính mình hoặc do thuê mướn, hay trên cơ sở một hợp đồng phụ mà họ thay mặt cho chủ hàng ký kết với người vận chuyển

2.1.3.4 Dịch vụ gom hàng lẻ

Khái niệm: Gom hàng (Consolidation) là việc biến các lô hàng lẻ

thành hàng nguyên gửi đi nhằm tiết kiệm chi phí vận tải, là một dịch vụ không thể thiếu được trong vận tải container Dịch vụ này cũng có thể do người chuyên chở (hãng tàu) hoặc người giao nhận hoặc một người khác đảm nhiệm, gọi là người gom hàng (Consolidator) (Đào Đình Bình, 2011)

Nhiệm vụ gom hàng lẻ

Thay mặt người ủy thá, phối hợp với cảng và các cơ quan liên quan

để thực hiện tốt nhiệm vụ: bốc xếp giao nhận hàng hóa xuấ nhập khẩu, đại lya và các dịch vụ hàng hải khác, thu ngoại tệ về cho đất nước và bảo vệ quyền lợi chính đâng cho người ủy thác

Xây dựng phương án đóng góp vào sự phát triển chung của Đại lý hàng hải Việt Nam, tham gia tốt vào các tổ chức quốc tế Duy trì và mở rộng các hoạt động vận tải truyền thống Nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học kỹ thuật vào lĩnh vực hàng hải cũng như luật hàng hải Phát

Trang 25

triển các dịch vụ tăng cao như đại lý vận tải, dịch vụ xuất hàng hóa đạt tiêu chuẩn Quốc tế

Quy trình gom hàng lẻ diễn ra như sau

Người gom hàng nhận hàng lẻ từ các chủ hàng và họ sẽ cấp cho người gửi một chứng từ gọi là vận đơn gom hàng (House B/L)

Người gom hàng đóng các hàng lẻ vào container và gửi nguyên container cho người chuyên chở thực (hãng tàu)

Hãng tàu nhận container và sẽ cấp cho người gom hàng một vận đơn gọi là vận đơn chủ (Master B/L) Hãng tàu vận chuyển container đến cảng đến, dỡ khỏi tàu và giao nguyên container cho đại lý của người gom hàng tại cảng đến trên cơ sở các người nhận đó xuất trình Master B/L

Đại lý của người gom hàng, bằng chi phí của mình, dỡ hàng ra khỏi container và giao hàng cho người nhận trên cơ sở các người nhận đó xuất trình House B/L

Trách nhiệm Người vận chuyển hàng lẻ

Có thể là người vận chuyển thực sự (effective carrier) tức hãng tàu hoặc có thể là người thầu vận chuyển hàng lẻ nhưng lại không có tàu (NVOCC: Non Vessel Operating Common Carrier)

- Người vận chuyển thực sự (hãng tàu) vận chuyển hàng lẻ với tư cách người gom hàng, ký phát vận đơn thực (Master B/L) cho người gửi hàng, xếp hàng lên tàu, chuyên chở đến cảng đích và dỡ hàng xuống cảng, giao hàng cho người nhận tại trạm CFS cảng đến

- Người thầu vận chuyển hàng lẻ (NVOCC) thường do công ty giao nhận đảm trách với tư cách người gom hàng, là người chuyên chở theo hợp đồng vận chuyển (Contracting Carrier) chứ không phải là đại lý (agent) Người thầu vận chuyển hàng lẻ chịu trách nhiệm suốt quá trình vận chuyển hàng từ khi nhận hàng tại cảng gửi đến khi giao trả hàng xong tại cảng đích Vận đơn họ ký phát cho người gửi hàng có thể là vận đơn tập thể (

Trang 26

House Bill of Lading) hoặc vận đơn do Hiệp hội những người giao nhận quốc tế soạn thảo (FIATA Bill of Lading) nếu họ là thành viên của hội này

2.1.3.5 Dịch vụ phát triển doanh nghiệp

Đây là dịch vụ Doanh nghiệp được khách hàng chỉ định từ đầu nước ngoài hoặc là khách của agent các công ty logistics giao nhận hàng cho khách hàng theo giá đã được chỉ định của 2 bên Dịch vụ này nhằm phát triển cho doanh nghiệp, tạo sự liên kết với agent và khách hàng Đây có thể coi là sự trao đổi hàng giữa doanh nghiệp và agent của mình để có nhiều hàng hóa, nhiều tuyến consol được mở ra

2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới giải pháp cung ứng dịch vụ logistics

Các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí logistics là tập hợp điều kiện, những yếu tố bên ngoài và bên trong có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc cung ứng các dịch vụ logistics của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics Có thể chia các nhân tố ảnh hưởng đến các chi phí logistics thành hai nhân tố: nhóm nhân tố bên ngoài và nhóm các nhân tố bên trong thuộc các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics

2.1.4.1 Nhóm nhân tố bên ngoài doanh nghiệp

Đây là các nhân tố nằm ngoài tầm kiểm soát của các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics, do đó có ảnh hưởng lớn tới dịch vụ logistics

a Yếu tố kinh tế

Các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến kết quả và hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp cung ứng dịch vụ nói riêng Các yếu tố kinh tế bao gồm một phạm vi rất rộng từ các yếu tố tác động đến nhu cầu sử dụng dịch vụ logistics và các yếu tố liên quan đến việc huy động và sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp kinh doanh dịch

vụ logistics để cung ứng các dịch vụ logistics cho khách hàng Các yếu tố

cơ bản nhất ảnh hưởng đến các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics

và các dịch vụ logistics là: Tốc độ tăng trưởng GDP, lãi suất tiền vay, tiền

Trang 27

gửi ngân hàng, tỷ lệ lạm phát, tỷ giá hối đoái, mức độ thất nghiệp, cán cân thanh toán, chính sách tài chính, tín dụng, kiểm soát về giá cả, tiền lương tối thiểu, tiềm năng phát triển và gia tăng đầu tư,… Các yếu tố này ảnh hưởng đến phương thức và cách thức kinh doanh của các doanh nghiệp Sự thay đổi của các yếu tố này và tốc độ thay đổi, chu kỳ thay đổi tạo ra cơ hội hoặc nguy cơ đối với các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Thậm chí còn có thể làm thay đổi cả mục tiêu, phương hướng và cả chiến lược của doanh nghiệp

b Yếu tố công nghệ

Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, việc áp dụng các tiến bộ này vào sản xuất kinh doanh làm cho hiệu quả ngày càng cao hơn Các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics nghiên cứu và áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ không những cho chính doanh nghiệp mình mà còn nhằm thực hiện dịch vụ tư vấn cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh Sự phát triển của thương mại điện tử đã đưa các doanh nghiệp tiến đến việc ứng dụng thương mại điện tử vào hoạt động kinh doanh của mình Điều đó đã làm cho chi phí logistics giảm đi đáng kể, đồng thời chất lượng dịch vụ logistics của doanh nghiệp cung ứng tăng lên rõ rệt và sẽ mang lại sức cạnh tranh cao cho các doanh nghiệp có ứng dụng dịch vụ mới vào kinh doanh

c Yếu tố cơ sở hạ tầng và điều kiện tự nhiên

Đối với hoạt động của các dịch vụ logistics thì sự phát triển của cơ

sở hạ tầng và điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn Cơ sở hạ tầng bao gồm hệ thống giao thong vận tải (đường, phương tiện, bến bãi,…), hệ thống thông tin, hệ thống bến cảng nhà kho, điện nước,… hệ thống cơ sở

hạ tầng tốt là điều kiện thuận lợi cho phát triển logistics, đặc biệt là dịch vụ vận tải

Trang 28

Điều kiện tự nhiên là yếu tố cần được các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics đặc biệt quan tâm Bởi các yếu tố như nắng, mưa, hạn hán, lụt, dịch bệnh,… ảnh hưởng trực tiếp đến việc cung ứng dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ vận tải đường biển vì điều kiện không thuận lợi thì sẽ không thuận lợi thì sẽ không thực hiện được dịch vụ này, thậm chí còn gây thiệt hại lớn bởi rủi ro trong vận tải là rất cao Bên cạnh đó cũng phải kể đến ảnh hưởng của sự khan hiếm của nguyên vật liệu, sự gia tăng chi phí năng lượng (Lê Triệu Dũng, 2011)

2.1.4.2 Nhóm nhân tố bên trong doanh nghiệp

Đây là những yếu tố chủ quan mà doanh nghiệp có thể kiểm soát được, bao gồm các nhân tố: tiềm lực doanh nghiệp, hệ thống thông tin , nghiên cứu và phát triển,…

a Tiềm lực doanh nghiệp

Tiềm lực doanh nghiệp thể hiện ở nhiều mặt: Quy mô của doanh nghiệp; cơ sở vật chất kỹ thuật; cơ cấu tở chức bộ máy lãnh đạo; tài năng, trình độ chuyên môn và kinh nghiệm quản lý của các nhà lãnh đạo; trình độ tay nghề, sự thành thạo kỹ thuật, nghiệp vụ của lao động; tiềm lực tài chính, khả năng huy động vốn

Doanh nghiệp có quy mô lớn thì có khả năng cung ứng dịch vụ logistics với nhiều loại hình dịch vụ, đảm bảo chất lượng của dịch vụ, có thể hoạt động trên phạm vi thị trường lớn, cung ứng dịch vụ cho nhiều khách hang khác nhau cùng lúc

Đầu tư cơ sỏ vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp hợp lý thì mới có thể đảm bảo cho việc tối ưu chi phí, đồng thời cung cấp cho khách hang những dịch vụ mà khách hàng yêu cầu với chất lượng tốt Với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics thì các cơ sở vật chất kỹ thuật phải

kể đến là: phương tiện vận tải, kho bãi, máy móc thiết bị phục vụ cho đóng gói, bảo quản hàng hóa,…

Trang 29

Người lãnh đạo doanh nghiệp có tài năng, trình độ quản lý sẽ dẫn dắt kinh doanh đi lên ngày càng phát triển Ngược lại, doanh nghiệp sẽ ngày càng đi xuống, thậm chí phá sản

Đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics, nhân viên là những người trực tiếp cung ứng dịch vụ cho khách hàng Vì vậy, đây là yếu

tố rất quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp cũng như sự phát triển dịch vụ logistics

Tài chính có thể coi là yếu tố hàng đầu ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp logistics cũng như sự phát triển của dịch vụ logistics Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics cần một nguồn tài chính lớn để đầu tư vào cơ sở hạ tầng: phương tiện vận tải, kho bãi,… có nguồn tài chính lớn của doanh nghiệp mới có thể mở rộng quy mô, đa dạng các dịch

vụ cung ứng cho khách hàng

b Hệ thống thông tin

Doanh nghiệp phải xây dựng hệ thống thu nhập thông tin về các yếu

tố thuộc môi trường vĩ mô, khách hàng, đối thủ cạnh tranh, nguồn hàng,… Đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics thì yếu tố thông tin là quan trọng Thu thập được thông tin thiết thực, kịp thời giúp doanh nghiệp lắm bắt được nhiều cơ hội tốt trong kinh doanh Cũng từ đó có các quyết định, các chính sách và chiến lược kinh doanh thích hợp

c Nghiên cứu và phát triển

Việc đầu tư vào nghiên cứu và phát triển luôn đem lại kết quả ngoạn mục nhất Nó giúp doanh nghiệp đổi mới, đa dạng hóa và phát triển các lại hình dịch vụ logistics, và phương thức ứng dụng dịch vụ cho khách hàng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho lao động,… Các doanh nghiệp cần nắm vững được tầm quan trọng của yếu tố này để đầu tư thích

đáng và thu được than công trong hoạt động kinh doanh của mình

Trang 30

2.2 Cơ sở thực tiễn về cung ứng dịch vụ logistics tại Công ty Interlogistics

2.2.1 Đặc điểm kinh tế kĩ thuật và quá trình phát triển của ngành dịch

vụ logistics ở Việt Nam

2.2.1.1 Quá trình phát triển ngành dịch vụ logistics ở Việt Nam

Logistics được phát minh và ứng dụng đầu tiên không phải trong hoạt động thương mại mà là lĩnh vực quân sự Chỉ đến sau chiến tranh thế giới thứ hai, hoạt động logistics mới thực sự được ứng dụng và triển khai trong lĩnh vực thương mại Trải qua dòng chảy lịch sử, logistics được nghiên cứu và áp dụng ngày càng nhiều vào sản xuất kinh doanh và mang lại những kết quả cao trong kinh doanh của các doanh nghiệp trên thế giới tiêu biểu như: Nhật Bản, Mỹ, Hà Lan, Thuỵ Điển, Đan Mạch (Lê Triệu Dũng, 2011)

Những kiến thức về logistics và các hoạt động logistics mới thâm nhập vào Việt Nam trong những năm gần đây, trước hết và chủ yếu thông qua hoạt động của các công ty vận tải giao nhận nước ngoài và một số người được đào tạo tại nước ngoài

Ban đầu, các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực giao nhận vận tải là chủ yếu Các doanh nghiệp này đều là các doanh nghiệp Nhà nước

Số lượng các doanh nghiệp trong lĩnh vực này là rất ít Cho đến Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VIII đề ra nghị quyết về cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước, một loạt các doanh nghiệp Nhà nước đã thực hiện chủ trương cổ phần hóa và có thêm rất nhiều các doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong lĩnh vực này ra đời Số lượng các doanh nghiệp kinh doanh các dịch vụ giao nhận vận tải ngày càng nhiều ở mọi thành phần kinh tế Vài năm trở lại đây, nhiều doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giao nhận vận tải

do ảnh hưởng xu thế phát triển các công ty dịch vụ logistics trên thế giới đã

và đang xâm nhập vào thị trường Việt Nam đã mở rộng thêm kinh doanh

Trang 31

các dịch vụ logistics đáp ứng nhu cầu cung ứng các dịch vụ logistics đồng thời cũng và đổi tên thành công ty kinh doanh dịch vụ logistics.Năm 2005,

cả nước có khoảng 500 doanh nghiệp logistics Năm 2006, cả nước có khoảng 700-800 doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics Và đến năm

2007, cả nước có gần 1000 doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực này Đến nay, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics của Việt Nam đã

và đang cung ứng các dịch vụ logistics cho khách hàng nhưng chưa hình thành một chuỗi các dịch vụ logistics Các dịch vụ cung ứng còn nhỏ lẻ, gián đoạn Thực tế, ngành dịch vụ logistics của Việt Nam vẫn chưa hoàn thiện và vẫn đang ở giai đoạn phôi thai, chưa thực sự có được dịch vụ logistics của riêng mình, chưa trở thành ngành dịch vụ theo đúng nghĩa là chuỗi dịch vụ logistics (Trần Anh Dũng, 2006)

2.2.2 Thực trạng phát triển ngành dịch vụ logistics ở Việt Nam hiện nay

Mặc dù dịch vụ logistics đã và đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới nhưng ở Việt Nam còn khá mới mẻ Cùng với quá trình hội nhập, logistics

và dịch vụ logistics đã theo chân những nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Hàng loạt các công ty, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam đã ra đời và cung ứng các dịch vụ logistics cho các khách hàng trong và ngoài nước Thời gian qua, ngành dịch vụ logistics của Việt Nam

đã có những bước phát triển mạnh mẽ bên cạnh đó cũng còn những hạn chế, những khó khăn cần khắc phục Để có những biện pháp hữu hiệu nhằm phát triển ngành dịch vụ logistics của Việt Nam trong thời gian tới thì trước hết cần thấy được thực trạng của ngành dịch vụ logistics trong thời gian qua

Do nhận biết dịch vụ logistics là một lĩnh vực hoạt động đặc biệt, có thể mang lại lợi nhuận siêu ngạch, nên thời gian gần đây, ở Việt Nam, đặc biệt ở các thành phố lớn, đã xảy ra hiện tượng" nhà nhà đăng ký kinh doanh dịch vụ logistics, người người đăng ký kinh doanh logistics" Theo sở Kế

Trang 32

hoạch và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh, trung bình mỗi tuần có một công

ty kinh doanh dịch vụ logistics được cấp phép hoạt động hoặc bổ sung chức năng dịch vụ logistics Chính sự đăng ký ồ ạt đã tạo nên ảo tưởng ngành dịch vụ logistics Việt Nam phát triển nhanh chóng: từ một vài doanh nghiệp giao nhận quốc doanh vào cuối thế kỷ XX đến cuối năm 2007, cả nước đã có khoảng gần 1000 công ty kinh doanh dịch vụ logistics, nhưng chỉ có khoảng 800-900 doanh nghiệp thực sự có tham gia hoạt động Số lượng các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics thì tăng lên nhanh chóng nhưng nếu xét về chất lượng thì các doanh nghiệp logistics Việt Nam còn rất nhỏ yếu (Đào Đình Bình, 2011)

Về cơ cấu thành phần kinh tế, theo ông Nguyễn Thâm- Phó Chủ

tịch Hiệp hội Giao nhận kho vận Việt Nam, hiện nay ở mọi thành phần kinh tế đều có các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics, trong đó doanh nghiệp nhà nước chiếm khoảng 20%; công ty TNHH, doanh nghiệp

cổ phần chiếm khoảng 70%; còn 10% là các gia đình, tư nhân làm nhỏ lẻ, tham gia làm từng phần, từng công đoạn (Hiệp hội các doanh nghiệp dịch

vụ logistics Việt Nam, 2013)

Quy mô các doanh nghiệp: Các doanh nghiệp kinh doanh logistics

Việt Nam ngoại trừ một số doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần tương đối lớn thì hầu hết đều có qui mô vừa và nhỏ , thậm chí có doanh nghiệp chỉ đăng ký 300-500 triều đồng (tương đương 18.750-31.250 USD), vốn trung bình chỉ đạt 1,5 tỷ VND.Một số doanh nghiệp Nhà nước sau khi cổ phần hoá đã nâng được mức vốn điều lệ lên 5 tỷ VND (312.500 USD), một số thì đi ngược lại qui luật

"tích tụ vốn" và phát triển Kể cả những doanh nghiệp nhà nước trước đây đã được đầu tư vốn, trang bị kĩ thuật, đất đai, nhà kho, tài chính và nhân lực Chỉ có một số công ty lớn như: Vietrans, Viconship, Vinalines, Vinatrans, Vinafco, Vinashin, hãng hàng không Việt Nam Airlines, nhưng cũng chưa có năng lực

đủ mạnh để tham gia hoạt động logistics toàn cầu (Hiệp hội các doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam, 2013)

Trang 33

Qui mô doanh nghiệp còn thể hiện ở số nhân viên của công ty Ngoại trừ vài chục doanh nghiệp quốc doanh và cổ phần tương đối lớn có từ 200-

300 nhân viên như Vinafco, Vinashin, Sotrans, Vinalines,…số còn lại trung bình có dưới 100 nhân viên, chủ yếu là từ 30-40 nhân viên, thậm chí có những doanh nghiệp chỉ có 3-5 nhân viên đáp ứng những công việc đơn giản của khách hàng, khi khách hàng hết việc , doanh nghiệp cũng hết việc làm và phải đóng cửa là điều tất yếu (Hiệp hội các doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam, 2013)

Về tổ chức bộ máy, do vốn và nhân lực ít nên việc tổ chức bộ máy

của các doanh nghiệp này rất đơn giản, tính chuyên sâu của các doanh nghiệp trong dịch vụ logistics không có Hầu hết các doanh nghiệp logistics Việt Nam chưa có văn phòng đại diện của chính công ty mình đặt tại nước ngoài Các thông tin từ nước ngoài, công việc phải giải quyết ở nước ngoài của một số công ty lớn đều do hệ thống đại lý thực hiện, cung cấp

Về các lĩnh vực dịch vụ logistics được thực hiện ở các doanh nghiệp

kinh doanh dịch vụ logistics Việt Nam có thể thấy rằng: Ở Việt Nam dịch

vụ logistics chưa được các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics cung cấp đầy đủ như đúng bản chất của dịch vụ (một chuỗi các dịch vụ) mà chỉ mới cung cấp một số dịch vụ trong chuỗi dịch vụ logistics mà thôi Các dịch vụ logistics chủ yếu mà các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics Việt Nam cung ứng cho khách hàng là dịch vụ kho bãi, vận tải hàng hoá, giao nhận hàng hoá, bốc xếp, dịch vụ phân loại, đóng gói bao bì, lưu kho còn các dịch vụ khác trong chuỗi dịch vụ logistics mặc dù cũng có một số doanh nghiệp cung ứng nhưng số lượng không nhiều và chưa thực

sự được quan tâm phát triển

Trong các dịch vụ logistics chủ yếu được cung ứng bởi các doanh nghiệp logistics của Việt Nam thì dịch vụ giao nhận vận tải và kinh doanh kho bãi là phát triển nhất

Trang 34

- Dịch vụ vận tải giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu

Kể từ khi đất nước mở cửa cùng với quá trình “container hoá” trong vận tải biển, hoạt động kinh doanh vận tải giao nhận xuất nhập khẩu thực

sự phát triển mạnh Ở Việt Nam hiện nay, vận tải giao nhận chủ yếu phát triển trên lĩnh vực đường biển và đường hàng không, trong đó vận tải đường biển chiếm ưu thế tuyệt đối hơn cả vì hàng hoá xuất nhập khẩu chủ yếu đi bằng đường biển Lượng hàng hoá thông qua các cảng biển ngày càng gia tăng và trải rộng ở nhiều cảng, nhiều cửa khẩu khác nhau chứ không chỉ được thực hiện ở một số cảng chính như trước kia, trong đó có nhiều cảng mới, cảng chuyên dụng được xây dựng Tại các cảng hiện nay, ngoài dịch vụ vận tải giao nhận đơn thuần còn có các dịch vụ trợ giúp như: lưu kho bảo quản hàng hoá, tái chế, đóng gói, kẻ ký mã hiệu, thu gom hàng hoá xuất khẩu Cơ sở vật chất kĩ thuật tại các cảng biển được tăng cường đặc biệt là hệ thống cầu cảng, trang thiêt bị xếp dỡ và hệ thống kho bãi đây là những yếu tố cơ bản làm tăng chất lượng dịch vụ vận tải giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu tại cảng Theo cục hàng hải Việt Nam, năm

2007 là năm hàng hoá thông qua các cảng biển tăng mạnh nhất trong 10 năm trở lại đây Cả năm có 88.619 lượt tàu biển ra vào cảng với tổng dung tích là 320,176 triệu GT, tăng 18,02% so với năm 2006 Sản lượng hàng hoá thông qua các cảng biển Việt Nam đạt 181,116 triệu tấn, bằng 117,23%

so với năm 2006, trong đó hàng container đạt 4.489.165 TEUs, tăng 31,24%; hàng khô đạt 79,444 triệu tấn, tăng 17,24%; hàng qua cảnh đạt 17,113 triệu tấn, tăng 16,13% Đội tàu biển Việt Nam đã vận tải được 61,350 triệu tấn, tăng gần 20% Những khu vực kinh tế trọng điểm, khối lượng hàng hoá tăng rất nhanh như: Hải Phòng tăng 47,3%, TP HCM tăng 17,4% Giai đoạn 2001-2005, khối lượng hàng hoá thông qua cảng Việt Nam đạt 575.286.000 tấn, trong đó hàng container là 10.452.870 TEUs, hàng lỏng là 170.962.000 tấn, hàng khô là 244.481.000 tấn (Hiệp hội các doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam, 2013)

Trang 35

Dịch vụ vận tải hàng hoá bằng đường hàng không cũng tăng mạnh tại các cửa khẩu Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng Các mặt hàng được vận chuyển chủ yếu là mặt hàng có giá trị cao, hàng điện tử, máy vi tính Mạng lưới vận tải bằng đường hàng không từ Việt Nam tới các quốc gia ngày càng được mở rộng tới các nước Châu Âu, Nhật Bản, Úc và New Zeland Hoạt động kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường sắt, đường ôtô cũng dần được phát triển nhưng với sản lượng không nhiều và chủ yếu là hàng hóa ra vào Việt Nam từ các nước lân cận như Trung Quốc, Lào, Campuchia

- Dịch vụ vận tải giao nhận nội địa và phân phối hàng

Vận tải giao nhận nội địa ở Việt Nam thời gian qua chủ yếu là đường sắt và đường ôtô vì đường sắt và đường ôtô có cơ sở hạ tầng, hệ thống bến bãi tương đối hoàn chỉnh Hàng hoá vận chuyển nội địa chủ yếu là các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, nông sản, hàng rời, nguyên vật liệu cho sản xuất

và xây dựng nên xe thùng được sử dụng phổ biến hơn cả Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải đều có đội xe để tham gia vận tải nội địa, đồng thời để vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu từ các cảng, các sân bay

về kho của khách hàng và ngược lại từ kho của khách hàng ra cảng, sân bay để bắt đầu hành trình Những năm qua, cơ sở hạ tầng giao thông vận tải được cải thiện cho nên vận tải giao nhận hàng hoá bằng container nội địa cũng được phát triển.Ngoài các đội xe chuyên dụng truyền thống thông thường, các doanh nghiệp đã trang bị xe chuyên dụng chở container từ Hải Phòng đi các tỉnh phía Bắc, Đà Nẵng đi các tỉnh miền Trung và Sài Gòn đi các tỉnh đồng bằng Nam bộ Ngoài ôtô, ngành đường sắt cũng tổ chức chuyên chở hàng hoá học tuyến Bắc Nam tạo sự liên kết chặt chẽ các địa phương, các vùng, các miền trong lưu thông hàng hoá và tích cực tham gia chuyên chở hàng hoá xuất nhập khẩu Từ chỗ chưa có toa xe chuyên dụng chở container đến nay xe chuyên dụng của đường sắt đã đáp ứng yêu cầu vận chuyển container của khách hàng trên toàn tuyến

Trang 36

Về phân phối hàng hoá, các doanh nghiệp lớn có thế mạnh trong việc cung ứng dịch vụ vận chuyển hàng hoá có khối lượng lớn, hàng theo kế hoạch, hàng siêu trường, siêu trọng thì các doanh nghiệp nhỏ lại có lợi thế trong cung ứng dịch vụ vận chuyển hàng thông thường như hàng bách hoá, hàng rời, hàng container có khối lượng nhỏ và đặc biệt là thầu việc phân phối các sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ trong nội địa cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hoặc vận chuyển máy móc, thiết bị, hàng công trình ra vào các cảng Việt Nam theo yêu cầu của khách hàng

- Dịch vụ phân loại và đóng gói bao bì hàng hóa

Dịch vụ phân loại và đóng gói bao bì hàng hoá cũng là một trong các dịch vụ thuộc chuỗi dịch vụ logistics mà các doanh nghiệp logistics Việt Nam cung ứng cho khách hàng Khi các doanh nghiệp có nhu cầu thuê dịch

vụ phân loại và đóng gói bao bì thì doanh nghiệp logistics sẽ triển khai thực hiện sao cho tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp khách hàng Đối với hàng phi mậu dịch, hàng hội chợ, triển lãm, hàng có khối lượng nhỏ, nguồn hàng không thường xuyên, hàng của các văn phòng đại diện hay các cơ quan ngoại giao, sứ quán các doanh nghiệp logistics thường sử dụng các nguyên vật liệu phục vụ đóng gói bao bì bằng những thứ có sẵn trong nước như: giấy, gỗ, bao nylon, nhựa tái chế để giảm chi phí Ngoài ra tuỳ theo yêu cầu cũng như đặc điểm của hàng hoá, các nguyên liệu cao cấp sản xuất tại chỗ cũng được đưa vào sử dụng: bao xốp khí, kệ xốp để đóng gói những sản phẩm có giá trị cao như hàng công nghiệp, hàng điện tử của các khu công nghiệp, khu chế xuất Đối với hàng mậu dịch có khối lượng lớn, nhu cầu xuất nhập khẩu thường xuyên, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở các khu công nghiệp, khu chế xuất thường sử dụng trọn gói các dịch vụ logistics do các doanh nghiệp logistics cung cấp, từ việc đóng gói bao bì, kiểm đếm cho đến việc làm thủ tục hải quan hàng hoá

Trang 37

- Dịch vụ kinh doanh kho bãi

Hệ thống kho bãi của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics Việt Nam phần lớn tập trung ở các doanh nghiệp lớn thuộc nhà nước hay các bộ, còn các doanh nghiệp tư nhân hay doanh nghiệp cổ phần cũng có nhưng rất nhỏ và hạn chế Các kho bãi này chủ yếu tập trung ở các cảng biển lớn, phần còn lại có thể nằm sâu trong đất liền Các chủ hàng xuất nhập khẩu rất ít có kho bãi cho riêng mình để thực hiện lưu trữ hàng hoá, vì vậy thường phải thuê kho bãi của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kho bãi Hệ thống kho bãi ở các cảng lớn như Sài Gòn, Đà Nẵng, Hải Phòng

là phát triển nhất, còn các cảng khác quy mô kho bãi còn rất khiêm tốn.Theo tạp chí hàng hải Việt Nam số 10/2007 thì đến hết năm 2006 cả nước đã có tổng diện tích đất dành cho kho bãi và hoạt động cảng lên tới 14 triệu m2

Loại hình kho bãi kinh doanh ở Việt Nam cũng khá đa dạng và phong phú, điển hình là một số loại như:

+ Bãi container: nơi tập kết container để xếp hàng xuống tàu vận

chuyển hoặc giao cho chủ hàng Tại đây, người ta tiến hành làm thủ tục cho hàng hoá xuất nhập khẩu Ngoài ra còn là nơi lưu giữ container

+ Kho hàng lẻ: hiện nay ở Việt Nam có khoảng gần 25 doanh nghiệp

kinh doanh loại hình này Đây là nơi làm kho lưu trữ, thực hiện nghiệp vụ gom hàng lẻ để chuyên chở bằng container hoặc phân phối hàng lẻ cho chủ hàng

+ Kho ngoại quan: Việc thành lập và kinh doanh kho ngoại quan phải

được Tổng cục hải quan cho phép Kho ngoại quan là nơi chứa và bảo quản hàng hoá khi thủ tục cho hàng xuất nhập khẩu chưa hoàn tất, hoặc hàng hoá quá cảnh, hàng tạm tái xuất góp phần giảm những chi phí do lưu tầu, lưu container quá hạn Kho ngoại quan ở Việt Nam hiện nay chủ yếu bố trí tại các cửa khẩu lớn như: Sài Gòn, Đà Nẵng, Hải Phòng hay ở một số ga đường sắt liên vận quốc tế

Trang 38

+ Các loại hình kho bãi khác: đó là các loại hình kho bãi truyền thống

như kho hàng rời, kho hàng bách hoá, kho chuyên dụng hay kho đặc biệt

Ngoài các dịch vụ điển hình trên, các doanh nghiệp kinh doanh dịch

vụ logistics còn cung ứng một loạt các dịch vụ khác thuộc chuỗi dịch vụ logistics như: cung ứng nguyên vật liệu đầu vào; tư vấn quy trình sản xuất, công nghệ sản xuất, kênh phân phối, xúc tiến bán hàng ; ghi ký mã hiệu, dán nhãn nhưng các dịch vụ này chưa được quan tâm phát triển mà mới chỉ là các dịch vụ đi kèm những dịch vụ chính ở trên mà thôi

Về thị trường của ngành dịch vụ logistics Việt Nam: Theo đánh giá

của các chuyên gia trong ngành dịch vụ logistics Việt Nam thì ngành dịch

vụ logistics Việt Nam mới giới hạn ở thị trường nội địa, các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics Việt Nam hầu như mới chỉ giới hạn đáp ứng nhu cầu logistics cho các doanh nghiệp khách hàng trong nước chứ hầu như chưa có khả năng đáp ứng nhu cầu logistics thế giới Một số doanh nghiệp logistics Việt Nam có cung ứng dịch vụ logistics ra thị trường thế giới nhưng đó cũng chỉ là làm thuê cho các đại lý logistics nước ngoài chứ chưa thực sự tự mình cung ứng, nếu là tự mình cung ứng thì cũng chỉ sang thị trường Lào, Campuchia, Trung Quốc chứ chưa vươn được xa hơn

Theo nghiên cứu của viện Nomura - Nhật Bản, các doanh nghiệp logistics Việt Nam mới chỉ đáp ứng được khoảng 25% nhu cầu thị trường logistics trong nước Trong đó theo tính toán mới nhất của cục Hàng hải Việt Nam, lĩnh vực quan trọng nhất trong dịch vụ logistics là vận tải biển thì doanh nghiệp trong nước mới chỉ đáp ứng chuyên chở được 18% tổng lượng hàng hoá xuất nhập khẩu, phần còn lại đang bị chi phối bởi các doanh nghiệp nước ngoài Điều này cho thấy thực trạng ngành dịch vụ logistics của Việt Nam còn yếu kém bởi có đến 90% hàng hoá xuất nhập khẩu vào Việt Nam được vận chuyển bằng đường biển (Đoàn Thị Hồng Vân, 2012)

Trang 39

Mặc dù giá cả dịch vụ logistics của Việt Nam tương đối rẻ hơn so

với một số nước khác, nhưng chất lượng chưa cao và phát triển chưa bền vững Cạnh tranh về giá cả của những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ logistics không lành mạnh Có trường hợp cùng một khách hàng nhưng mỗi công ty về logistics lại chào với những mức giá khác nhau Hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ khá manh mún, chụp giựt và hạ giá dịch vụ để lôi kéo khách hàng, trong khi chất lượng dịch vụ không rõ ràng, tạo nên tiền lệ xấu trong hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics

Một điều đáng nói nữa là hiện nay, cơ sở hạ tầng của ngành dịch vụ

logistics Việt Nam còn nghèo nàn, qui mô nhỏ, bố trí bất hợp lý Hệ thống

cơ sở hạ tầng giao thông của Việt Nam bao gồm trên 17.000Km đường nhựa, hơn 3.200 Km đường sắt, 42.000 Km đường thuỷ, 266 cảng biển và

20 sân bay Tuy nhiên chất lượng của hệ thống này là không đều, có những chỗ chưa đảm bảo về mặt kĩ thuật Các trục đường bộ không được thiết kế theo đúng tiêu chuẩn để có thể kết hợp tốt giữa các phương tiện vận tải bằng đường biển, đường sắt, đường sông, đường hàng không.Chẳng hạn các quốc lộ chỉ được thiết kế cho xe tải trọng tải không quá 30 tấn lưu thông, trong khi đó theo tiêu chuẩn quốc tế trọng lượng một container 40 feet đầy hàng đã là 34,5 tấn Hiện tại, chỉ có khoảng 20 cảng biển có thể tham gia việc vận tải hàng hoá quốc tế, các cảng đang trong quá trình container hoá nhưng chỉ có thể tiếp nhận các đội tàu nhỏ và chưa trang bị được các thiết bị xếp dỡ container hiện đại, còn thiếu kinh nghiệm trong điều hành xếp dỡ container Cho tới hiện nay, Việt Nam vẫn chưa có cảng trung chuyển quốc tế mà vẫn phải qua các cảng trung chuyển của nước ngoài Về thực trạng đội tàu của Việt Nam ông Nguyễn Vũ Hải- Trưởng phòng Tàu biển Cục đăng kiểm cho biết, tính đến ngày 31/8/2007 Việt Nam đã có 1.194 tàu biển với tổng dung tích hơn 2,5 triệu tấn đăng ký và trọng tải toàn phần hơn 4 triệu tấn; trong đó có 432 tàu hoạt động tuyến

Trang 40

quốc tế với tổng dung tích gần 1,95 triệu tấn đăng ký và trọng tải toàn phần gần 2,86 triệu tấn Tuy nhiên, chất lượng đội tàu biển Việt Nam còn nhiều bất cập Tuổi trung bình của cả đội tàu là 14,5 năm Tàu lớn tuổi nhất hoạt động tuyến quốc tế của Việt Nam hiện nay là 45 tuổi Và hệ quả của vấn đề này dẫn đến nhiều tàu Việt Nam bị lưu giữ ở nước ngoài (Trịnh Thị Thu Hương, 2011)

Theo đánh giá của VIFFAS, trình độ công nghệ logistics của Việt

Nam so với thế giới còn nhiều yếu kém: đa số các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics Việt Nam mới chỉ thực hiện việc mua bán cước tàu biển, cước máy bay, đại lý khai quan và dịch vụ vận tải, dịch vụ kho bãi Trong vận tải đa phương thức vẫn chưa thể kết hợp một cách hiệu quả các phương tiện, chưa tổ chức tốt các điểm chuyển tải; Trình độ cơ giới hoá trong khâu bốc xếp còn yếu kém, công tác lưu kho còn lạc hậu so với yêu cầu phát triển logistics toàn cầu, thủ tục giấy tờ còn rườm rà, chưa áp dụng được thương mại điện tử một cách hữu hiệu trong quá trình cung ứng các dịch vụ logistics cho khách hàng Trình độ công nghệ của các doanh nghiệp logistics Việt Nam còn kém xa các doanh nghiệp logistics thế giới

Về nhân lực trong ngành dich vụ logistics: Do phát triển nóng nên

nguồn nhân lực cung cấp cho thị trường logistics tại Việt Nam hiện nay trở nên thiếu hụt trầm trọng bên cạnh đó chất lượng nguồn nhân lực chưa cao Theo VIFFAS, hiện chưa có thống kê chính xác toàn bộ số nhân viên làm việc trong ngành dịch vụ logistics Nếu chỉ tính riêng các công ty thành viên Hiệp hội (có đăng ký chính thức), tổng số nhân viên vào khoảng 5000 người Đây là lực lượng được coi là chuyên nghiệp Ngoài ra ước tính có khoảng 4000–5000 người thực hiện dịch vụ giao nhận vận tải bán chuyên nghiệp hoặc chuyên nghiệp khác nhưng chưa tham gia hiệp hội Như vậy, ở Việt Nam có khoảng hơn 10.000 người làm việc trong ngành dịch vụ logistics Khoảng 50% số nhân viên này chưa qua đào tạo, số còn lại được

Ngày đăng: 19/09/2015, 01:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 Dịch vụ logistics - nghiên cứu giải pháp cung ứng dịch vụ logistics tại công ty cổ phần giao nhận tiếp vận quốc tế
Hình 1.1 Dịch vụ logistics (Trang 14)
Hình 2.1. Bản đồ vị trí ICD Sotran - nghiên cứu giải pháp cung ứng dịch vụ logistics tại công ty cổ phần giao nhận tiếp vận quốc tế
Hình 2.1. Bản đồ vị trí ICD Sotran (Trang 50)
Hình 3.1 Tổ chức nhân sự của công ty Interlogistics - nghiên cứu giải pháp cung ứng dịch vụ logistics tại công ty cổ phần giao nhận tiếp vận quốc tế
Hình 3.1 Tổ chức nhân sự của công ty Interlogistics (Trang 63)
Bảng 4.1 Bảng so sánh doanh thu hải quan - nghiên cứu giải pháp cung ứng dịch vụ logistics tại công ty cổ phần giao nhận tiếp vận quốc tế
Bảng 4.1 Bảng so sánh doanh thu hải quan (Trang 70)
Bảng 4.2 Bảng so sánh doanh thu kho bãi - nghiên cứu giải pháp cung ứng dịch vụ logistics tại công ty cổ phần giao nhận tiếp vận quốc tế
Bảng 4.2 Bảng so sánh doanh thu kho bãi (Trang 74)
Bảng 4.3 Bảng so sánh doanh thu vận tải nội địa - nghiên cứu giải pháp cung ứng dịch vụ logistics tại công ty cổ phần giao nhận tiếp vận quốc tế
Bảng 4.3 Bảng so sánh doanh thu vận tải nội địa (Trang 76)
Bảng 4.4 Bảng so sánh số khối (CBM) tại Hà Nội - nghiên cứu giải pháp cung ứng dịch vụ logistics tại công ty cổ phần giao nhận tiếp vận quốc tế
Bảng 4.4 Bảng so sánh số khối (CBM) tại Hà Nội (Trang 79)
Bảng 4.5 Bảng so sánh số khối (CBM) của HCM - nghiên cứu giải pháp cung ứng dịch vụ logistics tại công ty cổ phần giao nhận tiếp vận quốc tế
Bảng 4.5 Bảng so sánh số khối (CBM) của HCM (Trang 80)
Bảng 4.6. Bảng so sánh doanh thu của Hà Nội - nghiên cứu giải pháp cung ứng dịch vụ logistics tại công ty cổ phần giao nhận tiếp vận quốc tế
Bảng 4.6. Bảng so sánh doanh thu của Hà Nội (Trang 81)
Bảng 4.7 Bảng so sánh doanh thu của HCM - nghiên cứu giải pháp cung ứng dịch vụ logistics tại công ty cổ phần giao nhận tiếp vận quốc tế
Bảng 4.7 Bảng so sánh doanh thu của HCM (Trang 83)
Bảng 4.8 Bảng so sánh doanh thu phòng PTĐL - nghiên cứu giải pháp cung ứng dịch vụ logistics tại công ty cổ phần giao nhận tiếp vận quốc tế
Bảng 4.8 Bảng so sánh doanh thu phòng PTĐL (Trang 85)
Hình 4.1 Hệ thống quản lý phương tiện vận tải - ESys - nghiên cứu giải pháp cung ứng dịch vụ logistics tại công ty cổ phần giao nhận tiếp vận quốc tế
Hình 4.1 Hệ thống quản lý phương tiện vận tải - ESys (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w