1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm điện thoại di động của công ty tnhh samsung electronics trên thị trường việt nam

135 1,4K 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM --- --- ĐOÀN THỊ THU HÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG CỦA CÔNG TY TNHH SAMSUNG ELE

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

- -

ĐOÀN THỊ THU HÀ

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG CỦA CÔNG TY TNHH SAMSUNG ELECTRONICS TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH : QUẢN TRỊ KINH DOANH

MÃ SỐ : 60.34.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS BÙI BẰNG ĐOÀN

HÀ NỘI, 2015

Trang 2

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi Số liệu và kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được sử dụng trong bất cứ luận văn, luận án nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc

Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày tháng 06 năm 2015

Người cam đoan

Đoàn Thị Thu Hà

Trang 3

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page ii

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Bùi Bằng Đoàn đã dành nhiều thời gian trực tiếp hướng dẫn, chỉ đạo tận tình cho tôi hoàn thành quá trình nghiên cứu đề tài này

Qua đây tôi xin trân trọng cảm ơn toàn thể cán bộ công nhân viên Công

ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam và các đơn vị trực thuộc đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tiếp cận và thu thập những thông tin cần thiết cho đề tài Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Trong quá trình nghiên cứu, dù đã có nhiều cố gắng nhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Tôi rất mong nhận được sự thông cảm và đóng góp ý kiến của các thầy cô và các đồng chí học viên

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng 06 năm 2015

Học viên

Đoàn Thị Thu Hà

Trang 4

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page iii

2.2.1 Bài học kinh nghiệm về nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm 35 2.2.2 Một số công trình nghiên cứu liên quan 43 PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP

3.1 Khái quát về Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam 46

Trang 5

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page iv

3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển công ty 46 3.1.2 Cơ cấu tổ chức và chế độ phúc lợi của Công ty 50 3.1.3 Các sản phẩm sản xuất chủ yếu của Công ty 55

3.2.2 hương pháp thu thập và xử lý số liệu 60 3.2.3 hương pháp tổng hợp và phân tích thông tin 61 3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu năng lực cạnh tranh của sản phẩm

4.1 Tình hình sản xuất sản phẩm điện thoại đi động của Công ty 65 4.1.1 Tình hình đầu tư thiết bị và công nghệ sản xuất 65 4.1.2 Kết quả sản xuất sản phẩm điện thoại di động của Công ty 71 4.1.3 Tình hình tiêu thụ ĐTDĐ của SEV trên thị trường Việt Nam 74 4.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm ĐTDĐ của SEV trên thị

4.2.1 Cơ cấu chủng loại, mẫu mã bao bì của sản phẩm 76

4.2.4 Kênh phân phối ĐTDĐ Samsung trên thị trường Việt Nam 83 4.2.5 Hoạt động quảng cáo và xúc tiến bán hàng 85 4.2.6 Thị phần tiêu thụ sản phẩm điện thoại di động của SEV 87 4.3 Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh sản phẩm

Trang 6

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page v

4.5 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm điện thoại di động

4.5.1 Nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm 110 4.5.2 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và cải thiện môi trường làm việc 112 4.5.3 Tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản xuất 114 4.5.4 Đầu tư đối mới công nghệ và đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ 115

Trang 7

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page vi

CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

ĐT/ ĐTDĐ Điện thoại/ Điện thoại di động

SEV Samsung Electronics Vietnam

SWOT Strengths-Weaknesses- Opportunities- Threats

SXKD Sản xuất kinh doanh

Trang 8

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page vii

DANH MỤC CÁC BẢNG

4.1 Doanh thu các lĩnh vực kinh doanh của SEV 71 4.2 Tổng hợp ý kiến khách hàng về sự đa dạng chủng loại 77 4.3 Ý kiến của khách hàng về hình dáng mẫu mã của sản phẩm 78 4.4 Ý kiến của khách hàng về độ bền bao bì của sản phẩm 79 4.5 Ý kiến của khách hàng về chất lượng của sản phẩm 80 4.6 Ý kiến của khách hàng về giá cả của các sản phẩm ĐTDĐ Samsung 82

Trang 9

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page viii

DANH MỤC HỘP

4.1 Nhận xét của khách hàng về mẫu mã bao bì sản phẩm 79 4.2 Nhận xét của khách hàng về chất lượng sản phẩm 81

Trang 10

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page ix

DANH MỤC SƠ ĐỒ

3.2 Doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh của SEV qua 4 năm 57 3.3 Khung phân tích năng lực cạnh tranh của các sản phẩm ĐTDĐ của

4.1 Quy trình sản xuất điện thoại di động tại Samsung 66

Trang 11

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page x

DANH MỤC HÌNH

4.1 Cơ cấu sản phẩm điện thoại di động tại SEV 73

4.3 Số lượng sản phẩm ĐTDĐ tiêu thụ trên thị trường Việt Nam 754.4 Thị phần tiêu thụ sản phẩm ĐTDĐ của SEV trên thị trường Tp

Trang 12

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 1

PHẦN I

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Xu hướng quốc tế hóa nền kinh tế đã mở ra cho nhân loại cánh cửa giao lưu đầy triển vọng Không một quốc gia nào có thể phát triển trong sự tách biệt với thế giới bên ngoài và hiện nay các quốc gia đó đều đang đi theo xu hướng của “ Thế giới phẳng” Không nằm ngoài xu hướng đó, Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế quốc tế Trong thời đại mới, sự phát triển rực rỡ của công nghệ thông tin là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ở nước

ta đã góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH Một trong những công cụ, phương tiện kết nối của thời đại kỹ thuật số đó chính là sản phẩm điện thoại di động Nó cho phép chúng ta dễ dàng liên lạc, chia sẻ thông tin, hình ảnh và hành động trên cơ sở những thông tin này theo phương thức hoàn toàn mới, kéo theo hàng loạt sự thay đổi về các thói quen truyền thống, phong cách và thậm chí cả cách nhìn các giá trị trong cuộc sống

Cùng với xu hướng phát triển mạnh mẽ đó, thị trường điện thoại di động đã không ngừng phát triển để đáp ứng nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống Không chỉ các thương hiệu nhỏ, mà ngay cả các thương hiệu nổi tiếng trên thế giới cũng ồ ạt xuất hiện tại thị trường Việt Nam và tung ra hàng loạt mẫu điện thoại có ưu thế về công nghệ cao, giá bán, chất lượng, dịch vụ đã

Trang 13

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 2

tạo nên sự cạnh tranh khốc liệt trong ngành Hiện nay, thị trường điện thoại di động đang diễn ra cuộc cạnh tranh gay gắt từ các hãng sản xuất, nhà phân phối đến các chi nhánh, cửa hàng bán lẻ Các nhà sản xuất điện thoại di động

bị ảnh hưởng trực tiếp và đã gặp không ít khó khăn về năng lực cạnh tranh so với các đối thủ khác trên thị trường Bởi lý do đó, việc nghiên cứu và áp dụng các biện pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm điện thoại di động là một việc làm cần thiết mà công ty TNHH Samsung Electronics phải quan tâm chú trọng Xuất phát từ nhu cầu thực tế đó, chúng tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm điện thoại di động của Công ty TNHH Samsung Electronics trên thị trường Việt Nam”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm điện thoại di động, đề xuất các biện pháp góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm điện thoại di động của công ty TNHH Samsung Electronics trên thị trường Việt Nam

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh sản phẩm

và nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm trong doanh nghiệp;

- Nghiên cứu, phân tích thực trạng năng lực canh tranh của sản phẩm

điện thoại di động của Công ty TNHH Samsung Electronics trên thị trường

Việt Nam;

- Để xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh đối với sản phẩm điện thoại di động của Công ty nhằm tăng thị phần của sản phẩm này trên thị trường Việt Nam

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các vấn đề liên quan đến năng lực cạnh tranh của các sản phẩm

Trang 14

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 3

ĐTDĐ của Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh

- Các sản phẩm ĐTDĐ của công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam và khả năng cạnh tranh của chúng

- Tác nhân tham gia trong các khâu: sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng

- Các nhân tố liên quan đến thị trường tiêu thụ sản phẩm ĐTDĐ: chất lượng, giá cả, hệ thống kênh phân phối, hoạt động Marketing…

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các sản phẩm ĐTDĐ của Công ty TNHH Samsung Electronics trên thị trường Việt Nam Cụ thể tại 2 thành phố lớn là Tp.Hà Nội, Tp.Hồ Chí Minh

- Phạm vi không gian nghiên cứu: Đề tài được tập trung nghiên cứu tại Công

ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh

- Phạm vi thời gian nghiên cứu:

+ Số liệu thông tin thứ cấp được thu thập qua 4 năm, từ năm 2011 đến năm 2014, số liệu sơ cấp được thu thập, điều tra vào năm 2014

+ Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 05/2014 đến tháng 05/2015

Trang 15

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 4

PHẦN II

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Những vấn đề cơ bản về cạnh tranh

2.1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh

Cùng với quá trình hội nhập kinh tế, thuật ngữ cạnh tranh, năng lực cạnh tranh được đề cập nhiều trong nghiên cứu, nhất là từ khi Việt Nam bắt đầu hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế Do vậy, có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ cạnh tranh và các cấp độ áp dụng, có thể ở cấp độ quốc gia, cấp độ ngành, doanh nghiệp hoặc sản phẩm

Theo giáo trình kinh tế chính trị Mác-Lênin (2003), “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất – kinh doanh với nhau nhằm giành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất – kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình Mục tiêu của cạnh tranh là giành lợi ích, lợi nhuận lớn nhất, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của chủ thể tham gia cạnh tranh”

Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995) định nghĩa “Cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung – cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất”

Vũ Trọng Lân (2006) cho rằng “Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích, đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu

Trang 16

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 5

dùng và sự tiện lợi”

Cạnh tranh liên quan đến hàng hóa được trao đổi trên thị trường quốc tế

là sản phẩm nào đó của một quốc gia hay của một doanh nghiệp có được tỷ lệ đáng kể người tiêu dùng trên thế giới ưa thích hơn sản phẩm cùng loại từ các nhà cung cấp khác Sự ưu thích này có thể do giá bán thấp hơn, chất lượng cao hơn, sản phẩm có đặc tính khác biệt hoặc do khả năng tiếp thị hiệu quả hơn và các dịch vụ tốt hơn

Tổng hợp và trình bày nội dung các quan niệm khác nhau về cạnh tranh của một số tác giả, cho thấy: trong quan niệm của mỗi tác giả do đứng ở các góc độ nghiên cứu khác nhau nên một số nội hàm của khái niệm có sự khác nhau Song trong tất cả các khái niệm đó đều có những nội dung chủ yếu, tương đồng hoặc giống nhau, đó là:

- Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh cùng một loại sản phẩm hàng hóa và cùng tiêu thụ trên một thị trường

- Mục đích cuối cùng là tìm kiếm được lợi nhuận mong muốn để tồn tại

và phát triển doanh nghiệp hoặc ngành, sản phẩm Để đạt được mục đích cơ bản cuối cùng đó, cuộc ganh đua trong kinh doanh phải tạo cho được những điều kiện, cơ hội tốt nhất nhằm giành được thị trường và mở rộng thị trường

để tăng thị phần, trên cơ sở hạ thấp chi phí sản xuất–tiêu thụ và các hoạt động

có liên quan, không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm hoặc cung cấp các sản phẩm có sự khác biệt Đó là các tiêu chí quan trọng nhất phản ánh năng lực cạnh tranh

Cạnh tranh là một phạm trù kinh tế phản ánh hiện thực khách quan về cuộc ganh đua giữa các nhà kinh doanh trên thị trường và chịu tác động của quan hệ cung cầu sản phẩm

Như vậy về bản chất, cạnh tranh là mối quan hệ giữa người với người trong việc giải quyết lợi ích kinh tế Bản chất kinh tế của cạnh tranh thể hiện ở mục đích lợi nhuận và chi phối thị trường Bản chất xã hội của cạnh tranh bộc lộ

Trang 17

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 6

đạo đức kinh doanh và uy tín kinh doanh của mỗi chủ thể cạnh tranh trong mối quan hệ với những người lao động trực tiếp tạo ra tiềm lực cạnh tranh cho doanh nghiệp và trong mối quan hệ với người tiêu dùng và đối thủ cạnh tranh khác

Cạnh tranh là một trong những quy luật của nền kinh tế thị trường, nó chịu nhiều chi phối của quan hệ sản xuất giữ vị trí thống trị trong xã hội, nó

có quan hệ hữu cơ với các quy luật kinh tế khác như quy luật giá trị, quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật cung cầu…đây là một đặc trưng gắn với bản chất của cạnh tranh Quy luật cạnh tranh chỉ ra cách thức làm cho giá trị cá biệt thấp hơn giá trị xã hội, do đó nó làm giảm giá cả thị trường, nó tạo ra sức ép làm gia tăng hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất, nó chỉ ra ai là người sản xuất kinh doanh thành công nhất

2.1.1.2 Vai trò của cạnh tranh

Từ thế kỷ 18, Adam Smith, nhà kinh tế học cổ điển vĩ đại của Anh đã chỉ

ra vai trò quan trọng của cạnh tranh tự do trong tác phẩm “Của cải của các dân tộc” (1776), Ông cho rằng sức ép cạnh tranh buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm công việc của mình một cách chính xác và do đó nó tạo ra sự cố gắng lớn nhất Kết quả của sự cố gắng đó là lòng hăng say lao động, sự phân phối các yếu tố sản xuất một cách hợp lý và tăng của cải cho xã hội Cho tới nay, cạnh tranh được coi là phương thức hoạt động để tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp, không có cạnh tranh thì không thể có sự tăng trưởng kinh tế

Vai trò của cạnh tranh được thể hiện ở hai mặt tích cực và hạn chế sau đây:

a Mặt tích cực

- Đối với nền kinh tế: Cạnh tranh làm sống động nền kinh tế, thúc đẩy quá trình lưu thông các yếu tố sản xuất Thông qua cạnh tranh, các nguồn tài nguyên được phân phối hợp lý hơn dẫn đến sự điều chỉnh kết cấu ngành, cơ cấu lao động được thực hiện mau chóng và tối ưu

Trang 18

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 7

Cạnh tranh là đòn bẩy mạnh mẽ nhất đẩy nhanh quá trình luân chuyển vốn, luân chuyển các yếu tố sản xuất, phân phối lại tài nguyên, tập trung sản xuất và tích lũy tư bản

Đồng thời cạnh tranh còn là cơ chế điều tiết việc phân phối lợi nhuận giữa các ngành và trong nền kinh tế do chịu ảnh hưởng của quy luật bình quân hóa lợi nhuận

- Đối với chủ thể kinh doanh: Do động lực tối đa hóa lợi nhuận và áp lực phá sản nếu dừng lại, cạnh tranh buộc các chủ thể kinh tế phải không ngừng tăng cường thực lực của mình bằng các biện pháp đầu tư mở rộng sản xuất, thường xuyên sáng tạo cải tiến kỹ thuật, công nghệ, tăng năng suất lao động, tăng chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất…Qua đó cạnh tranh nâng cao trình độ mọi mặt của người lao động, nhất là đội ngũ quản trị kinh doanh, đồng thời sàng lọc va đào thải những chủ thể kinh tế không thích nghi được với sự khắc nghiệt của thị trường

- Đối với người tiêu dùng: Cạnh tranh cho thấy những hàng hóa nào phù hợp nhất với yêu cầu và khả năng thanh toán của người tiêu dùng bởi cạnh tranh làm cho giá cả có xu hướng ngày càng giảm, lượng hàng hóa trên thị trường ngày càng tăng, chất lượng tốt, hàng hóa đa dạng, phong phú Như vậy cạnh tranh làm lợi cho người tiêu dùng và đảm bảo cả người sản xuất và người tiêu dùng đều không thể dùng sức mạnh áp đặt ý muốn chủ quan cho người khác Nên nói cách khác, cạnh tranh còn có vai trò là một lực lượng điều tiết thị trường

Như vậy, cùng với tác động của các quy luật kinh tế khách quan khác, cạnh tranh đã giúp các doanh nghiệp trả lời các câu hỏi: sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào một cách thỏa đáng nhất Vận dụng quy luật cạnh tranh, Nhà nước và doanh nghiệp có điều kiện hoạch định các chiến lược phát triển một cách khoa học mà vẫn đảm bảo tính thực tiễn, chủ động hơn trong đối phó với mọi biến động của thị trường

Trang 19

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 8

ra những hậu quả kinh tế xã hội như thất nghiệp gia tăng, mất ổn định xã hội Cạnh tranh là quá trình kinh tế mà các chủ thể sử dụng mọi biện pháp trong đó có cả những thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh để giành chiến thắng trên thương trường như gian lận, quảng cáo lừa gạt khách hàng, tình trạng cá lớn nuốt cá bé, lũng đoạn thị trường Cuối cùng cạnh tranh có xu hướng dẫn đến độc quyền làm cho nền kinh tế phát triển theo chiều hướng không tốt

Tuy nhiên do cạnh tranh đã, đang và sẽ luôn là phương thức hoạt động của kinh tế thị trường nên chúng ta cần nhận thức được các vai trò tích cực và hạn chế của cạnh tranh để vận dụng quy luật này sao cho hiệu quả nhất

2.1.1.3 Phân loại cạnh tranh

a Căn cứ tính chất cạnh tranh trên thị trường

- Cạnh tranh hoàn hảo là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có rất nhiều người bán và người mua, mỗi người bán chỉ cung ứng một lượng hàng rất nhỏ trong tổng cung của thị trường Họ luôn bán hết số hàng mà họ muốn bán với giá thị trường Bất cứ doanh nghiệp nào gia nhập hoặc rút lui khỏi thị trường cũng không gây ảnh hưởng tới giá cả thị trường Để tối đa hóa lợi nhuận họ chỉ còn có thể tìm mọi cách để giảm chi phí sản xuất Trong thị trường này mọi thông tin đều đầy đủ và không có hiện tượng cung cầu giả tạo

- Cạnh tranh không hoàn hảo là hình thức cạnh tranh mà mỗi doanh nghiệp đều có sức mạnh thị trường (dù nhiều hay ít), họ có quyền định giá bán của mình, qua đó tác động đến giá cả thị trường

Trang 20

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 9

+ Cạnh tranh độc quyền (cạnh tranh có tính độc quyền) là thị trường

có nhiều người bán và nhiều người mua, sản phẩm của các doanh nghiệp có thể thay thế cho nhau ở một góc độ nào đó Bằng các biện pháp như thay đổi mẫu mã, chất lượng, kiểu dáng, quảng cáo thương hiệu, uy tín…các doanh nghiệp cố gắng khác biệt sản phẩm, chiến lược giá cả và chính sách đối với khách hàng của mình để cạnh tranh và thu hút khách hàng

+ Độc quyền tập đoàn là trường hợp trên thị trường chỉ có một số hãng lớn bán các sản phẩm đồng nhất hoặc không đồng nhất Họ kiểm soát gần như toàn bộ lượng cung trên thị trường nên có sức mạnh thị trường khá lớn Các hãng trong tập đoàn có tính chất phụ thuộc lẫn nhau nên quyết định giá và sản lượng của mỗi hãng đều ảnh hưởng trực tiếp đến hãng khác trong tập đoàn và giá thị trường Vì vậy họ thường cấu kết với nhau để thu lợi nhuận siêu ngạch

- Độc quyền hoàn toàn là hình thái thị trường đối lập với cạnh tranh hoàn hảo Chỉ có một người bán (hoặc mua) duy nhất trên thị trường, hàng hóa là độc nhất nên không có hàng thay thế gần gũi nên họ có sức mạnh thị trường rất lớn Doanh nghiệp độc quyền luôn quyết định giá và sản lượng sao cho thu được lợi nhuận siêu ngạch

b Căn cứ theo chủ thể tham gia thị trường

Đây là sự cạnh tranh trong khâu lưu thông hàng hóa nhằm tối đa hóa lợi ích cho những chủ thể tham gia cạnh tranh

- Cạnh tranh giữa người bán và người mua với đặc trưng nổi bật là người mua luôn muốn mua rẻ và người bán luôn muốn bán đắt Hai lực lượng này hình thành hai phía cung cầu trên thị trường Kết quả sự cạnh tranh trên là hình thành giá cân bằng thị trường, đó là giá mà cả hai phía đều chấp nhận được

- Cạnh tranh giữa những người mua là sự cạnh tranh do ảnh hưởng của quy luật cung cầu Khi lượng cung một hàng hóa quá thấp so với lượng cầu làm cho người mua phải cạnh tranh nhau để mua được hàng hóa mà mình cần dẫn tới giá

cả tăng vọt Kết quả là người bán thu được lợi nhuận cao hơn còn người mua phải

Trang 21

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 10

mất thêm một số tiền Như vậy sự cạnh tranh này làm cho người bán được lợi và người mua bị thiệt

- Cạnh tranh giữa những người bán là sự cạnh tranh nhằm tăng sản lượng bán trên thị trường Do sản xuất ngày càng phát triển, thị trường mở cửa, lượng cung tăng nhanh trong khi lượng cầu tăng chậm dẫn tới người bán (các doanh nghiệp) phải cạnh tranh khốc liệt để giành thị trường và khách hàng Kết quả là giá cả không ngừng giảm xuống và người mua được lợi Doanh nghiệp nào thắng trong cuộc cạnh tranh này mới có thể tồn tại và phát triển

c Căn cứ cấp độ cạnh tranh

Đây là sự cạnh tranh diễn ra trong lĩnh vực sản xuất

- Cạnh tranh giữa các sản phẩm là sự cạnh tranh về mẫu mã, kiểu dáng, chất lượng, giá cả, phương thức bán hàng…Sản phẩm nào phù hợp nhất với yêu cầu của khách hàng thì sản phẩm đó sẽ đảm bảo được khả năng tiêu thụ, kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm và tạo cơ hội thu thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp

- Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành (cạnh tranh nội bộ ngành) là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất một loại hàng hóa nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch Trong nền kinh tế thị trường, theo quy luật, doanh nghiệp nào có hao phí lao động cá biệt nhỏ hơn hao phí lao động

xã hội cần thiết sẽ thu lợi nhuận siêu ngạch Các doanh nghiệp sẽ áp dụng các biện pháp như cải tiến sức cạnh tranh cho sản phẩm Doanh nghiệp nào có nhiều sản phẩm có sức cạnh tranh cao sẽ cạnh tranh thắng lợi trong ngành

- Cạnh tranh giữa các ngành là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất ở các ngành khác nhau nhằm tìm nơi đầu tư có lợi nhất Giữa các ngành kinh tế, do điều kiện tự nhiên, kỹ thuật và một số nhân tố khách quan khác (tâm lý, thị hiếu, kỳ vọng, mức độ quan trọng…) nên cùng với một lượng vốn, đầu tư vào ngành này có thể mang lại tỷ suất lợi nhuận cao hơn ngành khác Nhà sản xuất ở những ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp có xu hướng di chuyển nguồn lực sang những ngành có tỷ suất lợi nhuận cao Kết quả là

Trang 22

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 11

trong những ngành có thêm nhiều doanh nghiệp tham gia thì lượng cung tăng vượt quá cầu, giá giảm dẫn tới tỷ suất lợi nhuận của ngành cũng giảm Ngược lại, những ngành có nhiều doanh nghiệp rút lui sẽ có lượng cung nhỏ hơn lượng cầu, giá tăng và tỷ suất lợi nhuận của ngành lại tăng

Như vậy cạnh tranh giữa các ngành dẫn tới sự cân bằng cung cầu sản phẩm trong mỗi ngành và bình quân tỷ suất lợi nhuận, đảm bảo sự bình đẳng cho việc đầu tư vốn giữa các ngành, tạo nhân tố tích cực cho sự phát triển

- Cạnh tranh giữa các quốc gia: Là các hoạt động nhằm duy trì và cải thiện vị trí của nền kinh tế quốc gia trên thị trường thế giới một cách lâu dài

để thu được lợi ích ngày càng cao cho nền kinh tế quốc gia đó Tuy nhiên chủ thể trực tiếp tham gia cạnh tranh là các doanh nghiệp Nên nếu quốc gia nào

có nhiều doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao thì quốc gia đó cũng có năng lực cạnh tranh tốt hơn

Cạnh tranh là một quy luật khách quan của nền sản xuất hàng hoá, là một yếu tố trong cơ chế vận động của thị trường Sản xuất hàng hoá càng phát triển, hàng hoá bán ra càng nhiều, số lượng người cung ứng càng đông thì cạnh tranh càng gay gắt hơn Kết quả trong cạnh tranh sẽ là có một số doanh nghiệp bị thua cuộc và bị gạt ra khỏi thị trường, trong khi đó một số doanh nghiệp sẽ tồn tại và phát triển hơn nữa Nhờ sự cạnh tranh không ngừng mà nền kinh tế thị trường vận động theo hướng ngày càng nâng cao năng suất lao động xã hội Đó cũng là yếu tố đảm bảo cho sự thành công của mỗi quốc gia trên con đường phát triển

2.1.1.4 Các công cụ cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp

Trong hoạt động cạnh tranh trên thị trường, doanh nghiệp có thể sử dụng các công cụ cạnh tranh khác nhau để chiếm lĩnh thị trường, tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng thị phần Các công cụ thường được các doanh nghiệp

sử dụng:

Trang 23

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 12

Một là, chất lượng sản phẩm

Chất lượng sản phẩm là một phạm trù khá rộng và phức tạp phản ánh tổng hợp các nội dung kinh tế, kỹ thuật và xã hội Về phía khách hàng hoặc người tiêu dùng chất lượng sản phẩm được định nghĩa là sự phù hợp và thỏa mãn nhu cầu hoặc mục đích sử dụng của họ Về phía doanh nghiệp hoặc nhà sản xuất thì chất lượng sản phẩm là sự hoàn hảo và phù hợp của sản phẩm với một tập hợp các yêu cầu hoặc tiêu chuẩn quy cách đã xác định trước Nếu chỉ xét từ một loại sản phẩm thì chất lượng sản phẩm được phản ánh bởi các thuộc tính đặc trưng của sản phẩm đó Những thuộc tính đó phản ánh công dụng hoặc giá trị sử dụng của sản phẩm và biểu hiện ở những chỉ tiêu chất lượng cụ thể Nếu xét trên góc độ giá trị, chất lượng sản phẩm được hiểu là đại lượng đo bằng tỷ số giữa lợi ích thu được từ tiêu dùng sản phẩm với chi phí phải bỏ ra để có được lợi ích đó Dựa trên nghiên cứu các định nghĩa trên,

tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa (ISO) đã đưa ra định nghĩa về chất lượng sản phẩm trong bộ tiêu chuẩn ISO 9000 như sau: “Chất lượng sản phẩm là một tập hợp các thuộc tính của sản phẩm, tạo cho sản phẩm đó khả năng thỏa mãn yêu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn” Định nghĩa trên cho thấy sự thống nhất giữa các thuộc tính nội tại của sản phẩm, các nhu cầu của khách hàng, giữa các yêu cầu của người tiêu dùng và người sản xuất, giữa nhu cầu hiện tại và

kỳ vọng trong tương lai của khách hàng về sản phẩm Chất lượng sản phẩm là một trong những căn cứ quan trọng khi người tiêu dùng quyết định lựa chọn sử dụng sản phẩm Theo M.Porter thì năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp được thể hiện thông qua hai chiến lược cơ bản là phân biệt hóa sản phẩm (chất lượng) và chi phí thấp Vì vậy chất lượng sản phẩm trở thành một trong những công cụ quan trọng nhất làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Chất lượng sản phẩm thể hiện khả năng thỏa mãn nhu cầu khách hàng của doanh nghiệp Sản lượng tiêu thụ sẽ tăng cùng với sự gia tăng mức độ thỏa mãn của khách hàng Đặc biệt khi trình độ xã hội ngày càng cao, văn minh, thị hiếu của

Trang 24

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 13

người tiêu dùng đòi hỏi những sản phẩm có chất lượng cao về mọi mặt chứ không đơn giản như trước kia là tốt–bền–đẹp Như vậy chất lượng và cạnh tranh

là hai phạm trù luôn đi cùng và gắn bó chặt chẽ với nhau, chất lượng làm tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và ngược lại năng lực cạnh tranh cao lại tạo cơ sở tài chính và vật chất cần thiết cho nâng cao chất lượng sản phẩm

Mặt khác trong nền kinh tế thị trường mở cửa như hiện nay, khi tham gia các tổ chức thương mại quốc tế (AFTA, WTO…) cùng với các cơ hội kinh doanh là việc mỗi nước phải dỡ bỏ khá nhiều các hàng rào thuế quan để hàng ngoại tràn vào thị trường tự do ngay trên sân nhà Tuy vậy, không một quốc gia nào lại không tìm cách bảo hộ nền sản xuất trong nước và một hàng rào mới lại được dựng lên Đó là những tiêu chuẩn khắt khe về chất lượng sản phẩm như giấy chứng nhận về mức độ phóng xạ cho phép đối với hàng thực phẩm, chất lượng đóng gói, bao bì, nhãn mác, giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa…Các doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm không chỉ để đảm bảo cạnh tranh thắng lợi trên sân nhà mà còn nhằm hướng tới khả năng vươn ra thị trường quốc tế Để sử dụng có hiệu quả công cụ chất lượng sản phẩm nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp cần làm tốt công tác quản

lý chất lượng sản phẩm Quản lý chất lượng sản phẩm bao gồm toàn bộ các hoạt động từ việc xây dựng các quy trình đảm bảo chất lượng, thiết lập các văn bản xác định trình tự và tương tác các quy trình, đảm bảo nguồn lực và thông tin cần thiết, theo dõi kiểm tra và phân tích các quá trình nhằm đảm bảo mục tiêu chất lượng đã đề ra Đây là một hoạt động không thể thiếu đối với mỗi doanh nghiệp để phát huy được lợi thế cạnh tranh đích thực từ sản phẩm

Trên cơ sở nhận thức đầy đủ hơn về vai trò của chất lượng sản phẩm và quản lý chất lượng, các doanh nghiệp cần xây dựng và tổ chức triển khai các hoạt động đẩy nhanh quá trình cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm, tận dụng tốt nhất công cụ này cho nâng cao năng lực cạnh tranh

Trang 25

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 14

Hai là giá cả sản phẩm

Giá cả là một phạm trù kinh tế khách quan phát sinh, phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của sản xuất hàng hóa Giá cả không chỉ là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa, nó còn biểu hiện tổng hợp các quan hệ kinh tế như cung cầu hàng hóa, tích lũy, tiêu dùng… Vì vậy giá cả hình thành thông qua quan hệ cung cầu hàng hóa, thông qua sự thỏa thuận giữa người mua và người bán, giá được chấp nhận là giá mà cả hai bên đều đồng ý và có lợi Trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì giá bán sản phẩm là một trong những công cụ quan trọng thường được sử dụng Bởi giá bán sản phẩm có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hấp dẫn của sản phẩm và sản lượng tiêu thụ Hai hàng hóa có cùng công dụng chất lượng như nhau, khách hàng sẽ mua hàng hóa nào có giá thấp hơn Có nhiều chính sách giá khác nhau được doanh nghiệp

sử dụng phù hợp với sản phẩm, mục tiêu, tình hình thị trường và khả năng thanh toán của khách hàng Trong quá trình hình thành và xác định giá bán, doanh nghiệp có thể tham khảo một số chính sách giá sau:

- Chính sách giá thấp: Là chính sách doanh nghiệp đưa ra mức giá thấp hơn giá thị trường Có hai cách áp dụng chính sách này:

+ Thứ nhất: Định giá thấp hơn giá thị trường nhưng vẫn cao hơn giá thành sản phẩm Doanh nghiệp sử dụng chính sách này khi đưa sản phẩm mới thâm nhập thị trường, doanh nghiệp cần thu hút sự chú ý của khách hàng Trường hợp này doanh nghiệp sẽ thu được lợi nhuận thấp

+ Thứ hai: Chính sách định giá thấp hơn giá thị trường và thấp hơn giá thành phẩm Trường hợp này doanh nghiệp không có lợi nhuận nhưng sẽ đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ tăng nhanh vòng quay của vốn, làm cơ sở cho chính sách định giá cao sau này

- Chính sách định giá cao: Doanh nghiệp áp dụng mức giá cao hơn giá thị trường và cao hơn giá thành sản phẩm trong trường hợp sản phẩm mới tung ra thị trường, chưa có đối thủ cạnh tranh, người tiêu dùng chưa biết rõ về

Trang 26

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 15

sản phẩm và chưa có cơ hội so sánh về giá Trong giai đoạn này doanh nghiệp

sẽ tranh thủ chiếm lĩnh thị trường sau đó sẽ hạ dần đến mức bằng hoặc thấp hơn giá thị trường nhưng vẫn đảm bảo thu lợi nhuận

- Chính sách ổn định giá: Theo chính sách này, doanh nghiệp sẽ chọn một mức giá vừa phải và áp dụng trong thời gian dài để tạo uy tín và củng cố niềm tin của khách hàng về sự ổn định của sản phẩm Nó giúp sản phẩm có những nét độc đáo khác biệt với đối thủ cạnh tranh, từ đó doanh nghiệp có điều kiện giữ vững và mở rộng thị trường

- Chính sách bán phá giá: Là chính sách doanh nghiệp bán hàng với mức giá rất thấp, không có lợi nhuận, thậm chí không bù đắp được chi phí sản xuất làm cho đối thủ không thể cạnh tranh được về giá và phải tự rút lui khỏi thị trường Khi đó doanh nghiệp độc chiếm thị trường và lại chủ động nâng giá lên Chính sách này rất nguy hiểm, ít được sử dụng vì nó là con dao hai lưỡi Hiện nay bán phá giá được coi là phương thức cạnh tranh không lành mạnh và bị cấm sử dụng trên thị trường

- Chính sách phân biệt giá: Là chính sách đưa ra những mức giá khác nhau đối với cùng một loại sản phẩm khi bán cho những đối tượng khác nhau, cho những khu vực thị trường khác nhau Chính sách này giúp doanh nghiệp thỏa mãn được nhiều đối tượng khách hàng có nhu cầu và khả năng thanh toán khác nhau, tạo nên sự linh hoạt về giá để hấp dẫn khách hàng đồng thời vẫn đảm bảo bù đắp được những chi phí phát sinh do sản xuất những sản phẩm có chất lượng cao hơn hoặc do vận chuyển sản phẩm đến những địa điểm khác nhau Để có thể vận dụng thắng lợi chiến lược giá cả trong cạnh tranh cần chú

ý một số vấn đề sau:

+ Không nhất thiết phải giảm giá hoặc tăng giá trong mọi trường hợp

có biến động

+ Việc định giá phải gắn liền với chính sách chiếm giữ thị phần

+ Chiến lược định giá phải gắn liền với chiến lược cắt giảm chi phí

Trang 27

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 16

+ Chiến lược giá cả phải dựa trên cơ sở cạnh tranh

+ Chiến lược giá cả phải gắn với chiến lược phân khúc thị trường + Thực hiện chính sách đặt giá cao đối với những sản phẩm có nhóm khách hàng sẵn sàng chấp nhận giá cao để được sử dụng những sản phẩm có chất lượng cao và nhãn hiệu nổi tiếng

+ Cần xây dựng hệ thống đo lường để đánh giá kết quả công tác định giá Tóm lại mỗi doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ các chiến lược giá và hoạch định chiến lược giá cả sao cho phù hợp với biến động của thị trường và mục tiêu phát triển của doanh nghiệp

Ba là hệ thống kênh phân phối

Kênh phân phối là một tập hợp các cá nhân và tổ chức tham gia vào quá trình làm cho sản phẩm tới được khách hàng Nếu doanh nghiệp lựa chọn kênh phân phối không hợp lý có thể sẽ làm giảm sản lượng tiêu thụ rất nhiều

và gặp thất bại trong cạnh tranh Nhất là trong giai đoạn hiện nay kênh phân phối càng thể hiện vai trò quan trọng của nó vì:

- Chi phí vận chuyển thường tăng lên sau mỗi lần biến động giá nhiên liệu Điều đó thúc đẩy mỗi doanh nghiệp tìm ra phương thức vận chuyển hợp

lý nhất, tiết kiệm nhất

- Mặc dù khoa học kỹ thuật đang phát triển mạnh mẽ nhưng lợi thế cạnh tranh dựa vào công nghệ dễ bị đối thủ bắt chước Hơn nữa hiệu quả sản xuất không thể tăng vô hạn, nó gần như đã đạt được điểm tối đa nên các doanh nghiệp khó hy vọng vượt trội ở mặt này do đó phải đặt hy vọng vào kênh phân phối

- Các sản phẩm ngày càng đa dạng và phong phú về mẫu mã, chất lượng, kích thước, vì vậy các công ty dễ gặp khó khăn khi muốn giao hàng cho khách hàng đúng sản phẩm vào đúng thời điểm mà họ cần Nhiệm vụ này lại đặt lên vai của bộ phận phân phối

- Đã có nhiều thay đổi lớn trong phương pháp quản lý tồn kho Hiện nay thay vì để hàng hóa tồn kho với số lượng lớn dẫn tới tăng chi phí bảo

Trang 28

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 17

quản và lưu kho, các doanh nghiệp có xu hướng giảm tồn kho xuống mức cần thiết tối thiểu để giảm thiểu chi phí

- Để xây dựng hoặc thay đổi được một kênh phân phối cần rất nhiều thời gian và công sức vì nó còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố khách quan chứ không chỉ phụ thuộc mong muốn chủ quan của doanh nghiệp Vì vậy chọn kênh phân phối hợp lý sẽ đảm bảo khả năng tiêu thụ và duy trì sức cạnh tranh trong doanh nghiệp

Tuy có rất nhiều hình thức tiêu thụ sản phẩm nhưng đa số các sản phẩm đều thông qua một số kênh chủ yếu như bán trực tiếp, bán thông qua các công

ty bán buôn của mình và các hãng bán buôn độc lập, sử dụng mạng lưới bán

lẻ của hãng, bán qua các cửa hàng, các hãng bán lẻ độc lập hoặc bán hàng qua điện thoại, qua mạng Việc lựa chọn và xây dựng kênh phân phối phải dựa trên các kết quả nghiên cứu các đặc điểm thị trường bao gồm đặc điểm của nhóm khách hàng (cá nhân, tổ chức, khách hàng mục tiêu, khách hàng tiềm năng…), đặc tính sản phẩm (tính dễ hư hỏng, tính thời vụ, đặc điểm kỹ thuật của sản phẩm…), đặc điểm môi trường (điều kiện kinh tế, khả năng quản lý, điều kiện địa lý, các ràng buộc pháp lý…)

Bốn là tính độc đáo của sản phẩm

Mọi sản phẩm khi xuất hiện trên thị trường đều mang một chu kỳ sống nhất định, đặc biệt vòng đời của nó rút ngắn khi xuất hiện sự cạnh tranh Để kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm, các doanh nghiệp dùng nhiều biện pháp trong đó

có biện pháp là cải tiến mọi mặt sản phẩm, tạo ra nét độc đáo riêng, liên tiếp tung

ra thị trường những sản phẩm mới thay thế sản phẩm cũ Trong điều kiện doanh nghiệp chưa đủ sức tạo ra tính độc đáo của sản phẩm mới thì có thể sử dụng nhãn hiệu của một sản phẩm đang được uy tín trên thị trường thông qua hình thức liên doanh Sự thay đổi thường xuyên về mẫu mã, nhãn hiệu hàng hóa cũng như việc không ngừng nâng cao chất lượng, tính năng hàng hóa sẽ tạo điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp hiện nay

Trang 29

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 18

Năm là áp dụng khoa học kỹ thuật và quản lý hiện đại

Sức cạnh tranh hàng hoá của doanh nghiệp sẽ tăng lên khi giá cả hàng hoá cá biệt của họ thấp hơn giá trung bình trên thị trường Để có lợi nhuận đòi hỏi các doanh nghiệp phải tập trung các nguồn lực để tăng năng suất lao động,

hạ giá thành chi phí đầu vào, nâng cao chất lượng hàng hoá nhằm làm cho giá trị hàng hoá cá biệt của mình thấp hơn giá trị xã hội Muốn vậy, các doanh nghiệp phải thường xuyên cải tiến công cụ lao động, hợp lý hoá sản xuất, nhanh chóng ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật và quản lý hiện đại vào trong quá trình sản xuất kinh doanh Thực tiễn đã chứng minh các doanh nghiệp tồn tại và phát triển được cần có dây chuyền công nghệ mới, hiện đại, phương pháp tổ chức khoa học

Sáu là chữ tín

Trong quá trình kinh doanh các doanh nghiệp sử dụng nhiều biện pháp nhằm giành giật khách hàng về phía mình, đặc biệt thực hiện linh hoạt trong khâu hợp đồng, thanh toán như: qui ước về giá cả, số lượng, kích cỡ, mẫu mã bằng văn bản hoặc bằng miệng, hay việc thanh toán với các hình thức như bán trả góp, bán chịu Những hành vi này sẽ thực hiện tốt hơn khi giữa doanh nghiệp và khách hàng có lòng tin với nhau Do vậy, chữ tín trở thành công cụ sắc bén trong cạnh tranh, nó giúp cho quá trình buôn bán diễn ra nhanh chóng tiện lợi Hơn nữa, công cụ này còn tạo cơ hội cho nhiều người ít vốn có điều kiện tham gia kinh doanh, do đó mở rộng được thị phần hàng hoá tạo sức mạnh cho doanh nghiệp

Bảy là sự mạo hiểm rủi ro

Trong kinh doanh, lợi nhuận doanh nghiệp thường tỷ lệ thuận với sự mạo hiểm rủi ro trong kinh doanh Các chủ thể kinh doanh có khuynh hướng đầu tư kinh doanh (kể cả đầu tư nghiên cứu khoa học) vào những mặt hàng mới, lĩnh vực mới mà rủi ro ở đó thường cao Đây là khuynh hướng khách quan vì nó hy vọng thu được lợi nhuận cao trong tương lai Mặt khác nó giảm

Trang 30

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 19

được áp lực từ phía các đối thủ cạnh tranh hiện tại Sự mạo hiểm chấp nhận rủi ro nhằm thu được lợi nhuận lớn bằng cách đi đầu trong kinh doanh là công

cụ cạnh tranh hiệu quả, nhưng cũng nguy hiểm trong quá trình cạnh tranh Việc sử dụng hiệu quả công cụ này đòi hỏi doanh nghiệp phải thực sự có tài

năng và bản lĩnh

Như vậy, các công cụ cạnh tranh mà các doanh nghiệp hiện nay sử dụng có thể khái quát lại như sau: lấy chất lượng, rẻ, thông tin, nhanh, mới, linh hoạt, lòng tin, nổi tiếng, thúc đẩy liên doanh, độc đáo, mạo hiểm và bán chịu để thắng trong cạnh tranh

2.1.2 Những vấn đề cơ bản về năng lực cạnh tranh

Trong quá trình nghiên cứu về cạnh tranh người ta sử dụng khái niệm năng lực canh tranh Năng lực cạnh tranh được xem xét ở các góc độ khác nhau như năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh của ngành, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ…

2.1.2.1 Năng lực cạnh tranh quốc gia

Năng lực cạnh tranh đã trở thành một trong những quan tâm của chính phủ và các ngành sản xuất trong mỗi quốc gia Một số cho rằng năng lực cạnh tranh của quốc gia là một hiện tượng kinh tế vĩ mô, chịu ảnh hưởng của các nền kinh tế vĩ mô như chính sách, tỷ giá hối đoái, lãi suất… Một số khác cho rằng năng lực cạnh tranh là một hàm số của lao động dồi dào với mức lương thấp Kết quả của năng lực cạnh tranh là sự tăng trưởng ổn định của năng suất

và cải thiện mức sống của cư dân nước đó

Micheal E Porter với mô hình Kim cương (Diamond Model) trong phân tích lợi thế cạnh tranh lại cho rằng các yếu tố (các mũi nhọn của Kim cương) tạo nên sự cạnh tranh của một quốc gia gồm có (i) chiến lược, cơ cấu công ty/doanh nghiệp, sự cạnh tranh (ii) điều kiện cần (iii) các điều kiện nguồn lực cho sản xuất và (iv) các ngành công nghiệp hỗ trợ Các yếu tố trên

có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, tuy nhiên yếu tố chính phủ và sự thay đổi

Trang 31

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 20

cũng được đưa vào ảnh hưởng đến cả bốn yếu tố trên Mô hình này thường dùng để phân tích đánh giá sức cạnh tranh của một quốc gia trong một ngành công nghiệp nhất định, hoặc sức cạnh tranh của một địa phương cho một ngành sản xuất nhất định

Trong lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia được đề xuất bởi M.Porter, chúng ta thấy ông đã tập trung vào việc giải thích những vấn đề trên Với lý thuyết này, M.Porter cho rằng sự gia tăng mức sống và sự thịnh vượng của quốc gia phụ thuộc chủ yếu vào khả năng đổi mới, khả năng tiếp cận nguồn vốn và hiệu ứng lan truyền công nghệ của nền kinh tế Nói tổng quát hơn, sức cạnh tranh của một quốc gia phụ thuộc chủ yếu vào sức cạnh tranh của ngành trong nền kinh tế Sức cạnh tranh của một ngành lại xuất phát từ năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành: khả năng đổi mới công nghệ, sản phẩm, cung cách quản lý của ngành và môi trường kinh doanh Các đầu vào quan trọng đối với hoạt động sản xuất của nền kinh tế không phải chỉ thuần là lao động, vốn, tài nguyên thiên nhiên mà còn là những đầu vào do chính doanh nghiệp hoặc chỉnh phủ tạo ra Với cách nhìn nhận như vậy, M.Porter cho rằng bốn yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranh của một quốc gia gồm:

Một là chiến lược của doanh nghiệp, cơ cấu và sự cạnh tranh: Những ngành có chiến lược và cơ cấu phù hợp với các định chế và chính sách của quốc gia, hoạt động trong môi trường cạnh tranh trong nước căng thẳng hơn

sẽ có tính cạnh tranh quốc tế mạnh mẽ hơn

Hai là các điều kiện về phía cầu: Những ngành phải có cạnh tranh mạnh

ở trong nước thì mới có khả năng cạnh tranh quốc tế tốt hơn Thị trường trong nước với số cầu lớn, có nhiều khách hàng đòi hỏi cao và môi trường cạnh tranh trong ngành khốc liệt hơn sẽ có khả năng cạnh tranh cao hơn

Ba là các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan tính cạnh tranh của một ngành phụ thuộc vào sức mạnh của các nhà cung cấp và các dịch vụ hỗ trợ Các nhà cung cấp có khả năng trên toàn cầu có thể mang lại cho doanh

Trang 32

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 21

nghiệp, khách hàng của họ lợi thế về chi phí và chất lượng Các ngành có quan hệ ngang cũng mang lợi thế cạnh tranh thông qua sự lan truyền công nghệ Sự hiện diện cụm công nghiệp tạo ra cho doanh nghiệp lợi thế kinh tế theo quy mô

Bốn là các điều kiện về các yếu tố sản xuất bao gồm chất lượng lao động, vốn và lao động rẻ, cơ sở hạ tầng mạnh và công nghệ cao sẽ ảnh hưởng đến tính cạnh tranh của ngành và của các quốc gia Ở đây chúng ta nhấn mạnh đến chất lượng các yếu tố đầu vào được tạo ra chứ không phải là nguồn lực sẵn có ban đầu

Một quốc gia có lợi thế cạnh tranh trong những ngành mà người ta tìm thấy bốn yếu tố cơ bản trên khá mạnh Đây là những khu vực mà chính phủ nên tập trung nỗ lực của họ nhằm thúc đẩy lợi thế cạnh tranh của các quốc gia

2.1.2.2 Năng lực cạnh tranh của một ngành sản xuất và của doanh nghiệp

Một trong các yếu tố trọng tâm chúng ta quan tâm là giải thích vì sao các công ty trong một nước lại có thể cạnh tranh một cách thành công với các công ty nước ngoài trong cùng một ngành sản xuất Hay ngành công nghiệp của nước này lại thành công so với nước khác khi tham gia trên thị trường quốc tế Năng lực cạnh tranh của một ngành chịu sự ảnh hưởng của sự cộng tác và phối hợp giữa các doanh nghiệp trong ngành đó

Vậy để cạnh tranh, các doanh nghiệp trong ngành phải có lợi thế cạnh tranh dưới dạng (i) chi phí thấp hơn (ii) tạo ra sự khác biệt trong sản phẩm mà

có thể bán với giá cao hơn

Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp/hãng là khả năng doanh nghiệp/hãng đó có thể duy trì và củng cố vị trí của nó trên thị trường nội địa

và quốc tế Năng lực cạnh tranh liên quan đến các vấn đề về nguồn lực và chất lượng của các nguồn lực này và cách thức tổ chức sử dụng chúng

Các hãng đạt được lợi thế cạnh tranh thông qua các hành động đổi mới công nghệ mới và cách thức quản lý, làm việc mới Kết quả của sự đổi mới

Trang 33

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 22

này là thiết kế sản phẩm mới, quy trình sản xuất mới, phương pháp tiếp thị mới hay một cách thức mới trong đào tạo Đôi khi sự đổi mới thường liên quan đến các đầu tư vào kỹ năng, kiến thức tài sản, nguồn lực và thương hiệu sản phẩm Trong một số trường hợp, sự đổi mới tạo ra sự cạnh tranh qua việc nhận thức được một cơ hội thị trường hoàn toàn mới hay một phân khúc thị trường mà các đối thủ cạnh tranh khác không để ý tới Nếu doanh nghiệp nào nắm bắt nhanh hơn cơ hội này thì sự đổi mới này đã tạo ra tính cạnh tranh cho chính doanh nghiệp đó

Một khi doanh nghiệp/công ty đạt được lợi thế cạnh tranh thông qua đổi mới, nó có thể duy trì lợi thế này bằng cách cải tiến không ngừng vì sự đổi mới này thường bị các đối thủ khác làm theo Do vậy cách thức duy nhất duy trì lợi thế cạnh tranh là nâng cấp lợi thế này, chuyển sang các loại sản phẩm dịch vụ tinh tế hơn và phức tạp hơn

2.1.2.3 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm và các yếu tố quyết định

Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là khả năng sản phẩm đó tiêu thụ được nhanh trong khi có nhiều người cùng bán loại sản phẩm đó trên thị trường Hay nói một cách khác, năng lực cạnh tranh của sản phẩm được đo bằng thị phần của sản phẩm đó

Một sản phẩm được coi là có sức cạnh tranh và có thể đứng vững khi

có mức giá thấp hơn hoặc khi cung cấp các sản phẩm tương tự với chất lượng hay dịch vụ ngang bằng hay cao hơn

Theo lý thuyết thương mại truyền thông, năng lực cạnh tranh được xem xét qua lợi thế so sánh về chi phí sản xuất và năng suất lao động Theo M.Porter, năng lực cạnh tranh phụ thuộc vào khả năng khai thác các năng lực độc đáo của mình để tạo sản phẩm có giá phí thấp và sự khác biệt sản phẩm của sản phẩm Muốn nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải xác định lợi thế cạnh tranh của mình Lợi thế cạnh tranh của sản phẩm được

Trang 34

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 23

hiểu là những thế mạnh mà sản phẩm có hoặc có thể huy động để đạt thắng lợi trong cạnh tranh Có hai nhóm lợi thế cạnh tranh:

- Lợi thế về chi phí tạo ra sản phẩm có chi phí thấp hơn đối thủ cạnh tranh Các nhân tố sản xuất như đất đai, vốn và lao động thường được xem là nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh

- Lợi thế về sự khác biệt hóa dựa vào sự khác biệt của sản phẩm làm tăng giá trị cho người tiêu dùng hoặc giảm chi phí sử dụng cho sản phẩm hoặc nâng cao tính hoàn thiện khi sử dụng sản phẩm Lợi thế này cho phép thị trường chấp nhận mức giá thậm chí cao hơn đối thủ cạnh tranh

Thông thường việc xác định khả năng cạnh tranh của sản phẩm dựa vào

4 tiêu chí sau:

- Tính cạnh tranh về chất lượng và mức độ đa dạng hóa sản phẩm;

- Tính cạnh tranh về giá cả;

- Khả năng thâm nhập thị trường mới;

- Khả năng khuyến mãi, lôi kéo khách hàng và phương thức kinh doanh ngày càng phong phú, đa dạng hơn

Nhìn chung đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm cần phải xem xét các mặt: chất lượng sản phẩm, chủng loại sản phẩm, tính đa dạng, mẫu

mã, bao bì sản phẩm, uy tín thương hiệu của sản phẩm, nguồn hàng cung cấp

ổn định, giá cả sản phẩm và công tác Marketing sản phẩm

2.1.2.4 Sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh

Nâng cao năng lực cạnh tranh là đánh giá thực tế năng lực cạnh tranh của quốc gia, doanh nghiệp, sản phẩm dịch vụ đó thông qua các tiêu chí để có những nhận định, biện pháp, chiến lược nhằm đưa doanh nghiệp có đủ sức cạnh tranh trên thị trường Hay nâng cao năng lực cạnh tranh là thay đổi mối tương quan giữa thế và lực của doanh nghiệp về mọi mặt của quá trình sản xuất kinh doanh

Trang 35

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 24

Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một quy luật khách quan của nền sản xuất hàng hóa, là một nội dung trong cơ chế vận động của thị trường Sản xuất hàng hóa càng phát triển, hàng hóa dịch vụ bán ra càng nhiều, số lượng cung cấp càng đông thì cạnh tranh càng gay gắt Nhưng cũng chính nhờ

sự cạnh tranh mà nền kinh tế thị trường vận động theo chiều hướng ngày càng nâng cao năng xuất lao động xã hội Cạnh tranh trở thành một quy luật quan trọng thúc đẩy sự phát triển Mọi ngành, doanh nghiệp đều phải tự mình vận động để đứng vững trong cơ chế thị trường này Cơ chế thị trường mở đường cho các doanh nghiệp nào biết nắm bắt thời cơ, biết phát huy tối đa thế mạnh của mình và hạn chế được tối thiểu những bất lợi để giành thắng lợi trong cạnh tranh

Hiện nay nền kinh tế nước ta đang hội nhập với nền kinh tế thế giới đã tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, song cũng buộc các doanh nghiệp có những đổi mới để nâng cao sức cạnh tranh trên thương trường, hội nhập kinh tế chính là khơi thông các dòng chảy nguồn lực trong nước và nước ngoài, tạo điều kiện mở rộng thị trường chuyển giao công nghệ và các kinh nghiệm quản lý

Thách thức hàng đầu khi hội nhập kinh tế thế giới là tính cạnh tranh ngày càng khốc liệt và thị trường trong và ngoài nước do các hàng rào thuế quan bảo

hộ cũng như các chính sách ưu đãi đang dần bị loại bỏ Chính vì vậy cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm của các doanh nghiệp là một yêu cầu tất yếu khách quan

2.1.3 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm

Để lựa chọn các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm cần có các tiêu chí định lượng và định tính để đo lường và đánh giá khả năng cạnh tranh Việc đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm cần dựa vào các tiêu chí sau:

Thứ nhất, chất lượng sản phẩm Trên thị trường nếu có nhiều hàng hóa

có công dụng như nhau, giá cả bằng nhau thì người tiêu dùng sẽ sẵn sàng mua

Trang 36

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 25

hàng hóa nào có chất lượng cao hơn Tuy nhiên chất lượng của hàng hóa phụ thuộc vào điều kiện kỹ thuật của từng đơn vị sản xuất, từng ngành, từng vùng

và từng quốc gia

Trong điều kiện hiện tại, chất lượng là yếu tố quan trọng bậc nhất mà doanh nghiệp lớn thường sử dụng trong cạnh tranh vì nó đem lại khả năng chiến thắng Đó cũng chính là con đường mà doanh nghiệp muốn thu hút khách hàng, giữ và tạo dựng chữ tín cao nhất

Thứ hai, giá cả hàng hóa Hai hàng hóa có cùng công dụng, chất lượng

như nhau thì người tiêu dùng sẽ mua hàng hóa nào có giá rẻ hơn Giá cả hàng hóa được quyết định bởi giá trị hàng hóa Song sự vận động của giá còn phụ thuộc vào khả năng thanh toán của người tiêu dùng Mức sống còn thấp, người tiêu dùng sẽ tìm mua những hàng hóa có giá rẻ Trong kinh doanh để cạnh tranh về giá, một số doanh nghiệp chấp nhận lời ít, bán giá thấp nhưng dùng số nhiều để thu lại Ngược lại, khi mức sống cao hơn người tiêu dùng quan tâm nhiều đến hàng hóa có chất lượng tốt, chấp nhận giá cao

Thứ ba, cơ cấu chủng loại và mẫu mã, bao bì của sản phẩm Khi tiếp

cận với sản phẩm, điều đầu tiên mà người tiêu dùng có thể cảm nhận được đó

là bao bì, mẫu mã và sự hấp dẫn của nó Điều này góp phần đưa người tiêu dùng đi đến quyết định mua hay không mua sản phẩm đó Tuy nhiên trước yêu cầu ngày càng cao và đa dạng của khách hàng thì doanh nghiệp phải thường xuyên đổi mới và nâng cao chất lượng, kiểu dáng, mẫu mã tạo những nét riêng, độc đáo cho sản phẩm của mình, thu hút người mua Đây cũng là yếu tố quan trọng để bảo vệ nhãn hiệu, uy tín sản phẩm trong điều kiện ngày càng có nhiều sản phẩm được coi là “hàng nhái” đang lưu hành trên thị trường ảnh hưởng trực tiếp đến sản phẩm của doanh nghiệp Cùng với việc thiết kế bao bì sản phẩm cho phù hợp, doanh nghiệp còn phải lựa chọn cơ cấu sản phẩm cho phù hợp Cơ cấu thường thay đổi theo sự thay đổi của thị trường, nhu cầu thị trường về chủng loại sản phẩm ngày càng đa dạng, phong phú Do

Trang 37

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 26

vậy doanh nghiệp nào càng nhiều chủng loại sản phẩm thì khả năng cạnh tranh càng cao

Thứ tư, phương thức phục vụ và thanh toán Đây là phương tiện cạnh

tranh khá quan trọng Ai nắm bắt được công cụ này sẽ thắng lợi trong cạnh tranh bởi chúng tạo ra sự tiện lợi cho khách hàng Phân phối là yếu tố đem đến cho khách hàng những giá trị gia tăng và cách đưa hàng tới tay người tiêu dùng thông qua những dịch vụ khách hàng Trong xu thế tiêu dùng hiện đại, phương thức phục vụ và thanh toán là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự hài lòng của khách hàng, nếu mức độ hài lòng của khách hàng cao hơn so với đối thủ cạnh tranh sẽ quyết định khả năng chiếm lĩnh thị trường tức là quyết định thắng lợi trong cạnh tranh Phương thức phục vụ và thanh toán được thể hiện ở 3 giai đoạn của quá trình bán hàng: trước, trong và sau khi bán hàng Trước khi bán hàng, các doanh nghiệp thực hiện các động tác như: quảng cáo, giới thiệu, hướng dẫn thị hiếu khách hàng, các hoạt động triển lãm, trưng bày sản phẩm Những tác động này nhằm hấp dẫn, lôi cuốn khách hàng đến với sản phẩm của doanh nghiệp mình Trong quá trình bán hàng, khâu quan trọng nhất là nghệ thuật mời khách hàng, lịch sự, ân cần và chu đáo Sau khi bán hàng, phải có các dịch vụ như bao bì và giao hàng đến tận tay người tiêu dùng và các dịch vụ bảo hành, sửa chữa sản phẩm hàng hóa…Những dịch vụ này tạo ra sự tin tưởng, uy tín của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng Sau nữa, phương thức phục vụ trên sẽ phát huy tác dụng khi đảm bảo được các yêu cầu các dịch vụ phải nhanh, chính xác…Phương thức thanh toán phải linh hoạt, đa dạng bao gồm các loại như: thanh toán một lần, thanh toán chậm, bán trả góp, bán có thưởng, …

Thứ năm, thương hiệu của doanh nghiệp Trong quá trình phát triển sản

xuất và lưu thông, các nhà sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ đã xác định đặc định hàng hóa của mình bằng cách sử dụng những dấu hiệu dưới hình thức nào đó để thể hiện Những dấu hiệu đó gọi là nhãn hiệu, được nhà sản xuất hoặc cung ứng

Trang 38

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 27

dịch vụ sử dụng trong thương mại nhằm ám chỉ sự liên quan giữa hàng hóa và dịch vụ với người có quyền sử dụng dấu hiệu đó với tư cách là người chủ sở hữu hoặc đăng ký thương hiệu

Nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu dùng phân biệt hàng hóa, dịch

vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau, Nhãn hiệu hàng hóa có thể là từ ngữ, hình ảnh, biểu trưng hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc Nhãn hiệu tạo ra nhận thức và niềm tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung ứng Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao cũng có nghĩa là họ đã xây dựng được thương hiệu mạnh, thương hiệu đó luôn được khách hàng nhớ và nhận biết rõ ràng Một thương hiệu mạnh là một thương hiệu có thể tạo được

sự thích thú cho khách hàng mục tiêu, làm cho họ tiêu dùng và tiếp tục tiêu dùng nó Qua việc xây dựng thương hiệu thành công người ta có thể đánh giá được về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đó vì:

- Thương hiệu làm cho khách hàng tin tưởng vào chất lượng, yên tâm

và tự hào khi sử dụng thương hiệu

- Thương hiệu tốt giúp tạo dựng hình ảnh của công ty, thu hút khách hàng mới, vốn đầu tư, thu hút nhân tài

- Thương hiệu tốt giúp phân phối sản phẩm dễ dàng hơn, tạo thuận lợi khi tìm thị trường mới

- Uy tín của thương hiệu tạo lòng trung thành của khách hàng đối với sản phẩm, đem lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, giúp cho việc triển khai khuếch trương sản phẩm dễ dàng hơn, đồng thời giảm chi phí tiếp thị, giúp doanh nghiệp có điều kiện phòng thủ, chống lại sự cạnh tranh quyết liệt về giá

Thứ sáu, thị phần và tốc độ tăng của thị phần

Cùng với thương hiệu, thị phần cũng là một chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Thị phần của doanh nghiệp là tỷ trọng giữa số

Trang 39

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 28

hàng hóa của doanh nghiệp so với tổng số hàng hóa được bán trên thị trường Hoặc là tỷ trọng giữa doanh thu của doanh nghiệp về một loại sản phẩm hàng hóa nào đó so với tổng doanh thu của sản phẩm đó trên thị trường Thị phần tương đối là tỷ trọng so sánh giữa doanh thu của doanh nghiệp với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất Nó cho biết vị thế của doanh nghiệp trên thị trường Doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao sẽ chiếm được thị phần tương ứng với năng lực cạnh tranh đó và có nhiều khả năng tăng thị phần Thị phần là một loại tài sản vô hình của doanh nghiệp, để giành và giữ vững được thị phần đòi hỏi doanh nghiệp phải nỗ lực không ngừng trong việc sản xuất các sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường, làm tốt công tác marketing và đảm bảo chất lượng sản phẩm

Thứ bảy, sản phẩm mới Bất kỳ một cái gì mới của sản phẩm đều

được coi là đổi mới Thực chất đổi mới là sự hoàn thiện về các sản phẩm Đổi mới được coi là yếu tố cơ bản của lợi thế cạnh tranh Trên thực tế nhiều doanh nghiệp đã đưa ra sản phẩm mới và đã thu được nhiều lợi nhuận từ những đổi mới đó Sản phẩm mới đã tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp đi đầu Các doanh nghiệp có sản phẩm mới thành công sẽ trở thành nhà cung cấp độc quyền về sản phẩm đó Vì vậy có thể tính giá cao hơn đối với những sản phẩm mới này Đến thời điểm mà các đối thủ cạnh tranh bắt chước mới theo thì doanh nghiệp đã xây dựng được uy tín

va sự trung thành với sản phẩm mới đó Như vậy, sản phẩm mới có thể đem lại khả năng cạnh tranh cao trên thị trường

2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh

Năng lực cạnh tranh của sản phẩm chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô, các nhân tố thuộc nội bộ ngành cũng như các yếu tố trong bản thân nội tại của doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm

Trang 40

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 29

2.1.4.1 Các yếu tố thuộc mội trường vĩ mô ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm

Thứ nhất là các yếu tố kinh tế: Các yếu tố kinh tế thuộc môi trường vĩ

mô như: tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân đầu người, lãi suất ngân hàng, tỷ giá hối đoái…có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm

Lãi suất ngân hàng: Lãi suất ngân hàng có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm Tỷ lệ lãi suất là rất quan trọng khi người sản xuất cũng như người tiêu dùng thường xuyên vay tiền để thanh toán các khoản mua bán hàng hóa của mình Đồng thời, lãi suất còn quyết định mức chi phí về vốn và do đó quyết định mức đầu tư Nếu lãi suất ngân hàng cho vay cao sẽ dẫn đến chi phí đầu vào tăng lên, giá thành sản phẩm cũng vì thế tăng lên Do đó năng lực cạnh tranh của hàng hóa sẽ giảm đi nhất là khi đối thủ cạnh tranh có tiềm lực mạnh về vốn Và ngược lại, nếu lãi suất ngân hàng thấp sẽ làm giảm chi phí đầu vào, giá thành sản phẩm hạ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có khả năng mở rộng sản xuất và cạnh tranh với các đối thủ khác trên thị trường bằng công cụ giá

Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái là sự so sánh về giá trị của đồng tiền trong nước với đồng tiền của quốc gia khác Thay đổi tỷ giá hối đoái có tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm đặc biệt đối với các sản phẩm phải nhập khẩu nguyên liệu đầu vào hay các sản phẩm có lợi thế về xuất khẩu Nếu đồng nội tệ lên giá, sẽ khuyến khích nhập khẩu vì hàng nhập khẩu sẽ giảm và như vậy khả năng cạnh tranh của các sản phẩm trong nước sẽ

bị giảm ngay trên thị trường trong nước; đồng thời xuất khẩu sẽ giảm do sản phẩm trong nước tăng giá Và ngược lại, khi đồng nội tệ giảm giá thì khả năng cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường nội địa và thị trường xuất khẩu cũng sẽ tăng lên

Ngày đăng: 19/09/2015, 01:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Các Mác (1978), Mác – Ăng ghen toàn tập, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mác – Ăng ghen toàn tập
Tác giả: Các Mác
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1978
3. Nguyễn Nguyên Cự, Hoàng Ngọc Bích (2001), Marketing nông nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marketing nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Nguyên Cự, Hoàng Ngọc Bích
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
6. Hải Đăng (2007), “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” Chương trình giảng dạy kinh tế fulbright, niên khoá 2006 – 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lợi thế cạnh tranh quốc gia
Tác giả: Hải Đăng
Năm: 2007
7. Nguyễn Văn Điệp (2008), Luận văn thạc sỹ kinh tế "Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm gốm của làng nghề Phù Lãng huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh" Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm gốm của làng nghề Phù Lãng huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh
Tác giả: Nguyễn Văn Điệp
Nhà XB: Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2008
9. Michael Porter (1985), “Lợi thế cạnh tranh”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lợi thế cạnh tranh
Tác giả: Michael Porter
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1985
10. Michael Porter (1990), “Lợi thế cạnh tranh quốc gia”, NXB Hồng Đức, Trường Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lợi thế cạnh tranh quốc gia
Tác giả: Michael Porter
Nhà XB: NXB Hồng Đức
Năm: 1990
11. Vũ Trọng Lân (2006), Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, NXB Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Vũ Trọng Lân
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2006
12. Philip Koler (1999), “Marketing căn bản”, NXB Thống kê Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marketing căn bản
Tác giả: Philip Koler
Nhà XB: NXB Thống kê Hà Nội
Năm: 1999
14. Lê Minh Quốc (1998), “ Các vị tổ ngành nghề Việt Nam”, NXB trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vị tổ ngành nghề Việt Nam
Tác giả: Lê Minh Quốc
Nhà XB: NXB trẻ
Năm: 1998
16. Mai Thuỳ Trang (2006), “Phân tích ma trận SWOT trong việc hình thành chiến lược kinh doanh”, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích ma trận SWOT trong việc hình thành chiến lược kinh doanh
Tác giả: Mai Thuỳ Trang
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2006
17. Trung tâm biên soạn Từ điển Bách Khoa Việt Nam (1995) – Từ điển Bách khoa Việt Nam tập I – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Bách khoa Việt Nam tập I
Tác giả: Trung tâm biên soạn Từ điển Bách Khoa Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1995
21. Http://www.samsung.com 22. Http://baobacninh.com.vn 23. Http://www.bacninh.gov.vn 24. Http://www.izabacninh.gov.vn 25. Http://www.thegioididong.com Link
26. Http://www.dairyvietnam.com/chien-luoc-canh-tranh-cua-vinamilk/ Link
2. Chu Văn Cấp, Phạm Quang Phan, Trần Bình Trọng (2003), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác-Lênin (Khối ngành kinh tế - quản trị kinh doanh), Bộ giáo dục và đào tạo, Hà Nội Khác
4. Nguyễn Quốc Dũng (2000), Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
5. Trần Minh Đạo (2009), Marketing căn bản, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Khác
8. Đỗ Thị Huyền (2004), Nâng cao năng lực cạnh tranh một số sản phẩm chủ yếu tại công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Nông nghiệp – Hà Nội Khác
13. P. A. Samuelson và W.D.Nordhous (1989), Kinh tế học (tập 2), Viện Quan hệ Quốc tế, Hà Nội Khác
15. Ngô Kim Thanh, Lê Văn Tâm Đồng (2010), Giáo trình quản trị doanh nghiệp, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nộ Khác
18. VCCI phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, Báo cáo điều tra cộng đồng doanh nghiệp về các vấn đề hội nhập / ngành TCMN Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Tình hình lao động của công ty - nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm điện thoại di động của công ty tnhh samsung electronics trên thị trường việt nam
Bảng 3.1. Tình hình lao động của công ty (Trang 63)
Bảng 3.2. Bảng mã hiệu ĐT thông minh Samsung - nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm điện thoại di động của công ty tnhh samsung electronics trên thị trường việt nam
Bảng 3.2. Bảng mã hiệu ĐT thông minh Samsung (Trang 67)
Sơ đồ 3.2. Doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh - nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm điện thoại di động của công ty tnhh samsung electronics trên thị trường việt nam
Sơ đồ 3.2. Doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh (Trang 68)
Sơ đồ 3.3. Khung phân tích năng lực cạnh tranh của các sản phẩm - nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm điện thoại di động của công ty tnhh samsung electronics trên thị trường việt nam
Sơ đồ 3.3. Khung phân tích năng lực cạnh tranh của các sản phẩm (Trang 71)
Sơ đồ 4.1: Quy trình sản xuất điện thoại di động tại Samsung - nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm điện thoại di động của công ty tnhh samsung electronics trên thị trường việt nam
Sơ đồ 4.1 Quy trình sản xuất điện thoại di động tại Samsung (Trang 77)
Bảng 4.1. Doanh thu các lĩnh vực kinh doanh của SEV - nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm điện thoại di động của công ty tnhh samsung electronics trên thị trường việt nam
Bảng 4.1. Doanh thu các lĩnh vực kinh doanh của SEV (Trang 82)
Hình 4.1. Cơ cấu sản phẩm điện thoại di động tại SEV - nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm điện thoại di động của công ty tnhh samsung electronics trên thị trường việt nam
Hình 4.1. Cơ cấu sản phẩm điện thoại di động tại SEV (Trang 84)
Hình 4.2. Tỉ lệ người dùng điện thoại ở Việt Nam - nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm điện thoại di động của công ty tnhh samsung electronics trên thị trường việt nam
Hình 4.2. Tỉ lệ người dùng điện thoại ở Việt Nam (Trang 85)
Hình 4.3. Số lượng sản phẩm ĐTDĐ tiêu thụ trên thị trường Việt Nam - nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm điện thoại di động của công ty tnhh samsung electronics trên thị trường việt nam
Hình 4.3. Số lượng sản phẩm ĐTDĐ tiêu thụ trên thị trường Việt Nam (Trang 86)
Hình 4.4: Thị phần tiêu thụ sản phẩm ĐTDĐ của SEV - nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm điện thoại di động của công ty tnhh samsung electronics trên thị trường việt nam
Hình 4.4 Thị phần tiêu thụ sản phẩm ĐTDĐ của SEV (Trang 99)
Hình 4.5: Thị phần tiêu thụ sản phẩm ĐTDĐ của SEV trên thị trường - nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm điện thoại di động của công ty tnhh samsung electronics trên thị trường việt nam
Hình 4.5 Thị phần tiêu thụ sản phẩm ĐTDĐ của SEV trên thị trường (Trang 100)
Hình 4.6.Các hãng tham gia thị trường Việt Nam - nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm điện thoại di động của công ty tnhh samsung electronics trên thị trường việt nam
Hình 4.6. Các hãng tham gia thị trường Việt Nam (Trang 107)
Bảng 4.7. Phân tích Ma trận SWOT của SEV - nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm điện thoại di động của công ty tnhh samsung electronics trên thị trường việt nam
Bảng 4.7. Phân tích Ma trận SWOT của SEV (Trang 118)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w