BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ĐỖ THÀNH TÀI ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA CÁC GIỐNG HÀNH CỦ ĐỊA PHƯƠNG VÀ NHẬP NỘI TRONG ĐIỀU KIỆN
Trang 1BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
ĐỖ THÀNH TÀI
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA CÁC GIỐNG HÀNH CỦ ĐỊA PHƯƠNG VÀ NHẬP NỘI TRONG ĐIỀU KIỆN TRÁI VỤ TẠI GIA LÂM – HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2015
Trang 2BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
ĐỖ THÀNH TÀI
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA CÁC GIỐNG HÀNH CỦ ĐỊA PHƯƠNG VÀ NHẬP NỘI TRONG ĐIỀU KIỆN TRÁI VỤ TẠI GIA LÂM – HÀ NỘI
Trang 3Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa tường ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện Luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Học viên thực hiện Luận văn
Đỗ Thành Tài
Trang 4Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page ii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian làm Luận văn tốt nghiệp, để hoàn thành Luận văn, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ tận tình và tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn của các thầy cô giáo trong
bộ môn Rau- Hoa- Quả thuộc khoa Nông học trường Đại học nông nghiệp Hà Nội Nhân đây tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các thầy cô đã giúp đỡ
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến cô giáo TS Trần Thị Minh Hằng đã chỉ bảo tận tình, dìu dắt và hướng dẫn chuyên môn cho tôi trong suốt thời gian làm Luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới gia đình và bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi trong học tập và quá trình làm Luận văn tốt nghiệp
Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng bản luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Vì vậy tôi rất mong được sự quan tâm đóng góp của thầy cô và các bạn để bản báo cáo này được hoàn thiện hơn
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Học viên
Đỗ Thành Tài
Trang 5Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
2 AVRDC Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau châu Á
Trang 6Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iv
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích, yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 3
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Chương 1:TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Nguồn gốc, phân bố, phân loại của cây hành củ và hành Wakegi 4
1.1.1 Nguồn gốc 4
1.1.2 Phân loại 5
1.1.3 Giá trị dinh dưỡng và giá trị y học 11
1.2 Tình hình sản xuất hành ở Việt Nam và trên thế giới 12
1.2.1 Tình hình sản xuất hành trên thế giới 12
1.2.1 Tình hình sản xuất hành ở Việt Nam 13
1.2 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của cây hành củ và hành Wakegi 17
1.2.1 Hệ rễ 17
1.2.2 Thân, lá 18
1.2.3 Hoa, quả, hạt 18
1.3 Yêu cầu ngoại cảnh đối với sinh trưởng và phát triển cây hành củ và hành wakegi 19
1.3.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ 19
1.3.2 Ảnh hưởng của ánh sáng 20
1.3.3 Ảnh hưởng của nước 21
1.3.4 Ảnh hưởng của đất và dinh dưỡng 21
Trang 7Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page v
1.4 Tình hình thu thập nguồn di truyền và đánh giá giống hành củ và hành
wakegi trên thế giới và ở Việt Nam 22
1.4.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 22
1.4.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ta 29
Chương 2: VẬT LIỆU,NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31 2.1 Vật liệu, thời gian và địa điểm nghiên cứu 31
2.1.1 Vật liệu 31
2.1.2 Thời gian và địa điểm 32
2.2 Nội dung nghiên cứu 32
2.3 Phương pháp nghiên cứu 32
2.3.1.Phương pháp bố trí thí nghiệm 32
2.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi 32
2.3.3 Phương pháp xử lí số liệu 34
2.4 Kỹ thuật trồng và chăm sóc 34
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 Đánh giá đặc điểm sinh trưởng, phát triển và khả năng tạo củ trong điều kiện trái vụ tại Gia Lâm – Hà Nội của các mẫu giống hành củ địa phương và nhập nội 35
3.1.1 Đặc điểm sinh trưởng thân lá của các mẫu giống hành củ địa phương và nhập nội 39
3.1.2 Khả năng tạo củ và đặc điểm củ của các mẫu giống hành củ địa phương và nhập nội trong điều kiện trái vụ: 59
3.1.3 Tình hình sâu bệnh hại trên các mẫu giống hành củ địa phương và nhập nội 65
3.1.4 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các mẫu giống hành củ địa phương và nhập nội 69
Trang 8Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vi
3.2 Đánh giá đặc điểm sinh trưởng, phát triển và khả năng tạo củ trong điều
kiện trái vụ tại Gia Lâm – Hà Nội của các mẫu giống hành Wakegi 72
3.2.1 Đặc điểm sinh trưởng thân lá của các mẫu giống hành Wakegi 72
3.2.2 Khả năng tạo củ và đặc điểm củ của các mẫu giống hành Wakegi 78
3.2.3 Tình hình sâu bệnh hại trên các mẫu giống hành Wakegi 80
3.2.4 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các mẫu hành Wakegi 80
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 82
A Kết luận 82
B Đề nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 9Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Thành phần hóa học của 100g hành củ 11Bảng 1.2 Diện tích, sản lượng, năng suất hành của các châu lục năm 2013 12Bảng 1.3 Diện tích, năng suất, sản lượng hành tỏi của 10 nước đứng đầu năm
2013 13Bảng 1.4 Diện tích, năng suất, sản lượng hành tươi ở các vùng miền ở Việt
Nam 15Bảng 2.1: Danh sách tập đoàn mẫu giống hành củ 31Bảng 3.1: Thời gian sinh trưởng của các mẫu hành củ địa phương và nhập nội
vụ Xuân Hè và Hè Thu 2014 36Bảng 3.2: Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các mẫu giống hành củ 40địa phương và nhập nội vụ Xuân hè 2014 40Bảng 3.3: Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các mẫu giống hành 41địa phương và nhập nội vụ Hè thu 2014 42Bảng 3.4 : Động thái đẻ nhánh của các mẫu giống hành củ địa phương và
nhập nội vụ Xuân hè 2014 45Bảng 3.5: Động thái đẻ nhánh của các mẫu giống hành củ địa phương và nhập
nội vụ Hè thu 2014 47Bảng 3.6: Động thái ra lá của các mẫu giống hành củ địa phương và nhập nội
vụ Xuân hè 2014 50Bảng 3.7: Động thái ra lá của các mẫu giống hành củ địa phương và nhập nội
vụ Hè thu 2014 52Bảng 3.8: Một số đặc điểm sinh trưởng thân lá của các mẫu giống hành củ địa
phương và nhập nội 54Bảng 3.9: Một số đặc điểm sinh trưởng thân lá của các mẫu giống hành củ 57địa phương và nhập nội vụ Hè thu 2014 57Bảng 3.10: hình thái cấu trúc củ của các mẫu giống hành củ vụ Xuân hè 2014 60
Trang 10Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page viii
Bảng 3.11: Hình thái cấu trúc củ của các mẫu giống hành củ địa phương và
nhập nội trong vụ Hè thu 2014 63Bảng 3.12: Đánh giá tình hình sâu, bệnh hại các mẫu giống hành củ địa
phương và nhập nội vụ Xuân hè 2014 66Bảng3.13: Đánh giá tình hình sâu, bệnh hại trên các mẫu hành giống địa
phương và nhập nội vụ Hè thu 2014 68Bảng 3.14 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các mẫu giống
hành củ địa phương và nhập nội vụ Trong điều kiện trái vụ 2014 70Bảng 3.15 Một số đặc điếm sinh trưởng thân lá của các mẫu giống hành
wakegi vụ Xuân hè 2014 77Bảng 3.16 Một số đặc điểm cấu tạo củ của các mẫu giống hành lá trồng trái
vụ năm 2014 79Bảng 3.17 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các mẫu giống
hành wakegi trồng trái vụ 2014 81
Trang 11Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page ix
DANH MỤC ĐỒ THỊ
Đồ thị 3.1 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của một số giống hành trong
vụ Xuân hè 2014 địa phương và nhập nội vụ Hè thu 2014 43
Đồ thị 3.3 : Động thái đẻ nhánh của các mẫu giống hành củ địa phương và
Đồ thị 3.8: Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các mẫu giống hành
Wakegi trong vụ Hè thu 2014 74
Đồ thị 3.9 Động thái ra nhánh của các mẫu giống hành wakegi trong vụ Xuân
Trang 12Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Nhắc đến cây rau gia vị chúng ta không thể không nhắc đến cây trồng đã gắn
bó với con người hơn 5000 năm qua, đó là hành tỏi Trong họ hành tỏi Alliaceae, chi Allium là chi lớn nhất với trên 500 loài phân bố rộng rãi trên khắp thế giới
(Rabinowitch & Brewster, 1990) Hành tỏi được sử dụng ăn tươi và là nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thực phẩm Hành tỏi được trồng ở 175 quốc gia trên thế
giới (FAO) và diện tích trồng ngày càng gia tăng Hành củ (Allium cepa L
Aggregatum group) có mặt trong hầu hết các bữa ăn của con người Trong hành củ chất béo và các chất rắn hòa tan chiếm một hàm lượng lớn (khoảng 16-33% khối lượng chất khô), chất khô hành củ chiếm 70-85% hydratcacbon, trong đó chủ yếu là fructans, glucose, fructose và sucrose Ngoài ra trong hành củ còn có chứa các loại vitamin như: C, B1, B2,… các chất khoáng, các axit hữu cơ (Hồ Hữu An và cs, 2000)
Hành củ không chỉ được sử dụng làm thực phẩm mà còn được xem là thuốc quý Trong hành củ chứa nhiều chất diệt khuẩn, đó là hợp chất có chứa lưu huỳnh - allicin Hành củ có thể chữa được nhiều loại bệnh như cảm cúm, viêm nhiễm, đau đầu, đau mắt, chống xơ cứng động mạch, kích thích hoạt động của tim mạch, thận
và đường tiêu hóa, làm giảm lượng cholesteron trong máu… Với tầm quan trọng
như vậy nên các loài Allium đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm và
nghiên cứu nhiều nghiên cứu đã tập trung vào chọn tạo giống chất lượng cao, thích ứng với điều kiện sinh thái của từng vùng, phát triển và cải tiến các biện pháp kĩ thuật trồng trọt…
Ở Việt Nam, hành củ được trồng cách đây hàng thế kỷ và được thâm canh nhiều hơn bất cứ giống hành nào Do vòng đời phát triển ngắn chỉ có 3 tháng, nó thường được trồng luân canh với lúa và cây trồng khác trên đồng ruộng Hoặc được trồng xen canh với cây thảo dược,rau ăn lá hoặc hoa ở vườn nhà Nó được bán tươi hoặc phơi ở hầu hết các chợ ở vùng cao, đồng bằng trên khắp cả nước (Phạm Thị
Minh Phượng et al., 2006)
Trang 13Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 2
Mặc dù khí hậu đồng bằng sông Hồng thích hợp để hành củ sinh trưởng và phát triển và tạo củ nhưng chỉ trồng được trong chính vụ đông (tháng 10, 11, 12) Trồng vụ xuân hè (tháng 2) đển giữ giống Cơ bản các giống hành củ đang trồng tại đồng bằng sông Hồng năng suất và chất lượng vẫn còn thấp, khả năng chống chịu với sâu bệnh hại kém Một trong những nguyên nhân là do thiếu giống tốt cho năng suất cao và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt Những giống được đem trồng chủ yếu là do người dân tự sản xuất và để giống qua nhiều năm nên giống dễ bị thoái hóa cho năng suất thấp, khả năng chống chịu sâu bệnh kém nên dễ bị thoái hóa nguồn gen Nhưng do hành củ được trồng ở nhiều địa phương nên rất phong phú đa dạng về mặt di truyền Trong đó nhiều giống có khả năng thích nghi cao, cho năng suất chất lượng tốt cung cấp nguồn gen quan trọng cho công tác chọn tạo giống mà chưa được khảo sát, phát hiện Việc thu thập và đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của các mẫu giống hành địa phương và nhập nội để tìm ra mẫu giống hành củ tiềm năng để cung tập nguồn vật liệu và cơ sở dữ liệu các mẫu giống hành củ phục
vụ cho công tác chọn tạo giống hành củ chịu nhiệt trong sản xuất trái vụ ở đồng bằng sông hồng Trên cơ sở tập đoàn mẫu giống được thu thập trên khắp các địa phương trên cả nước và các mẫu giống hành nhập nội của TS Trần Thị Minh Hằng
và thành viên trong bộ Môn Rau Hoa Quả - Học viện Nông nghiệp Việt Nam, tôi
tiến hành đề tài: “ Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống hành
củ địa phương và nhập nội trong điều kiện trái vụ tại Gia Lâm – Hà Nội”
1.2 Mục đích, yêu cầu
1.2.1 Mục đích
Đánh giá khả năng thích ứng của các mẫu giống hành củ trong điều kiện trái
vụ tại Gia Lâm – Hà Nội
Chọn được mẫu giống hành củ có khả năng sinh trưởng, phát triển và tạo củ trong điều kiện vụ Xuân hè, vụ Hè thu tại Gia Lâm – Hà Nội Để phục vụ cho công tác chọn tạo giống hành củ chịu nhiệt thích hợp cho gieo trồng trái
vụ ở Đồng bằng sông Hồng
Trang 14Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 3
Trang 15Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 4
Chương 1:TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Nguồn gốc, phân bố, phân loại của cây hành củ và hành Wakegi
1.1.1 Nguồn gốc
Hành tỏi là một loại cây trồng lâu năm có nguồn gốc ở Tây Á , ngoài ra còn được tìm thấy ở rừng nhiệt đới Nam Mỹ, Châu Âu, Bắc Phi, Đông Nam Châu Á… Chúng là loại cây gia vị lâu đời trên thế giới, được phát hiện lần đầu tiên tại vùng núi Turkmenia, Uzbekistan, Taijkistan và Bắc Iran (Brewster, 2005)
Hành củ và hành wakegi được thu thập trong các hòn đảo chính của Indonesia, và ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia, Thái Lan và Bangladesh Các phân tích Isozyme, phosphoglucomutase (PGM), glutamate oxaloacetate (GOT), glutamate dehydrogenase (GDH), esterase (EST) và peroxidase (POX) đã được sử dụng để chứng minh sự khác biệt giữa các giống trong một loài Một sơ đồ hình cây tách gia 189 giống thu nhập được 25 loại hành wakegi và 18 loại hành củ Tất cả các giống nhập của Nhật Bản, Hàn Quốc
và Đài Loan đã được xác định là hành wakegi, trong khi mẫu giống của Bangladesh, Malaysia và Thái Lan là hành củ Hai mươi sáu trong số 165 mẫu giống nhập Indonesia chỉ có hành wakegi phân bố ở Sumatra, tỉnh Tây Java và
đảo Sulawesi Điều này khẳng định rằng có canh tác chung của hai loài Allium,
không có sự phân biệt giữa chúng Nhật Bản và Indonesia đã có tương ứng 12 và tám loại độc đáo của hành wakegi, trong khi Hàn Quốc chỉ có một loại West Java cho thấy các loại khác nhau nhất của hành wakegi, trong khi đó phía Đông Nam Á có nhiều loại hành củ Hành củ thu thập từ Bangladesh rõ ràng có sự khác biệt với các loại hành củ của Đông Nam Á (Arifin and Okudo, 1996)
Về nguồn gốc và đặc điểm giống, hành wakegi được các chuyên gia định
dạng thuộc họ Allium, có tên khoa học là Allium wakegi Theo các chuyên gia nghiên cứu về hành tỏi, cây hành Allium wakegi được trồng chủ yếu ở Nhật Bản,
Trung Quốc và các quốc gia vùng Đông Nam Châu Á Là cây nhân giống điển
Trang 16Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 5
hình, hành Allium wakegi mang nhiều đặc điểm hình thái trung gian giữa hành củ (Allium ascalonicum) và hành hoa (Allium fistulonicum) Năm 1981, Yosuke Tashiro đã tiến hành phân tích bộ genom của loài Allium wakegi bằng cách lai giữa cây tứ bội Allium wakegi (2n=32) với cây hành củ lưỡng bội (2n=16) và với
cây hành hoa lưỡng bội (2n=16) thu được hai dạng con lai tam bội Khi quan sát hình thái và số lượng nhiễm sắc thể kỳ trung gian I ở tế bào mẹ hạt phấn của hai dạng con lai tam bội đều thấy xuất hiện tám cặp lưỡng trị và tám nhiễm sắc thể
kép, điều đó cho thấy Allium wakegi là một thể lưỡng bội khác loài có bộ genom (2n=16) gồm tám nhiễm sắc thể của hành củ (A ascalonicum) và tám nhiễm sắc thể của hành hoa (A fistulosum) (Bahnasawy et al, 2002)
1.1.2 Phân loại
Họ Hành (danh pháp khoa học: Alliaceae) là một danh pháp thực vật của một họ thực vật có hoa Có rất ít các nhà phân loại học công nhận họ này, phần lớn coi các loài cây trong họ này thuộc về họ Loa kèn (Liliaceae)
Tuy nhiên, hệ thống APG II năm 2003 lại công nhận họ này và đặt nó trong bộ Măng tây (Asparagales) Cũng lưu ý rằng cả APG và APG II đều cho rất ít các loài trước đây đã từng nằm trong họ Alliaceae vào trong họ
Themidaceae Chi quan trọng nhất trong họ này là Allium, nó bao gồm một vài loài cây có giá trị thương phẩm, như hành tây (Allium cepa), hành tăm (A
schoenoprasum ), tỏi (A sativum) và tỏi tây (A porrum)
Khi APG II bị thay thế bằng hệ thống APG III năm 2009 thì các định nghĩa tùy chọn đã bị loại bỏ và họ Alliaceae sensu stricto trước đây được coi là phân họ Allioideae của họ Amaryllidaceae sensu lato mở rộng (Rabinowitch and Curah, 2002)
Củ thường lớn hơn và đơn lẻ Hoa đặc trưng không hoàn chỉnh, hầu hết chúng đều nhân giống bằng hạt Đây là họ lớn với khoảng 30 chi, trong đó chi Hành
(Allium) có khoảng 1.250 loài (Hồ Hữu An và cộng sự, 2000) Chi Hành (Allium) là
một trong những chi quan trọng nhất, nó bao gồm một vài loài cây có giá trị thương
Trang 17Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 6
phẩm, như hành tây (Allium cepa), hành hoa (A fistulosum), hành củ ta (Allium
cepa L Aggregatum group), tỏi ta (A sativum) và tỏi tây (A porrum)
Trong một thời gian dài hành tỏi được xếp vào họ Liliaceae ( Melchior, 1964) do hoa của chúng thuộc loại bầu thượng Nhưng sau đó một số nhà thực vật học đổi thành họ Amaryllidaceae (Amryllis) – họ thủy tiên, do hoa được sinh ra ở lá
bắc, hình tán ở ngọn cán hoa Gần đây để tránh sự xáo trộn, J.G Agrad đã phân loại
họ hành tỏi vào họ Alliaceae Họ này có tới 30 chi và có 600 loài
Họ hành tỏi rất lớn có tới 600 loài, nhưng phổ biến trong sản xuất và được
sử dụng rộng rãi chỉ có khoảng 7-8 loài Một số loài được dung để trang trí hoặc
dùng làm chất kích thích như: A christop hii.traut; A.giganteum…
Trong số những cây thuộc chi Allium, hành củ (A cepa L Aggregatum
Group) có khả năng thích ứng cao nhất ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới
(Astley et al., 1982) Trong nhiều khu vực, hẹ là quan trọng hơn so với hành tây
vì hương vị cay nồng của nó và khả năng chống bệnh địa phương (Buijsen, 1990;
Hanelt, 1990; Permadi và van der Meer, 1994; Tashiro et al., 1982) Hành củ
thường được giao dịch tươi, khô, hoặc ngâm Hơn nữa, không chỉ có các củ,
nhưng cũng có thể dùng lá và cuống hoa sử dụng như rau hoặc thuốc (Phạm et
al., 2006)
Nhóm Comom onion là nhóm có ý nghĩa kinh tế nhất trong chi Allium
Chúng bao gồm các giống tự thụ phấn tự do, con lai F1 và các giống địa phương Nhóm này có thể nhân giống bằng các hạt hoặc bằng nhánh với năng suất cao Chúng có tính đa dạng cao, phân bố ở nhiều nơi trên thế giới: Miền bắc Ấn Độ,
Nga, Châu Âu, và Trung Á, một phần Địa Trung Hải (Asley et al., 1982) Điển
hình nhóm này là hành tây Hành tây là một loại cây rau có tầm kinh tế đáng kể
ở New Zealand và nhiều nước trên thế giới Năm 1995, New Zealand sản xuất được 154600 tấn hành có giá trị 65 triệu đô la xuất khẩu (Anon, 1996)
Nhóm Aggregatum ( hành củ) có đặc điểm là trên cây mẹ có nhiều củ hành nhỏ hoặc chồi con, những cây hành nhỏ thường rất nhiều, có thể sử dụng để nhân giống Cây hành con riêng rẽ có những cán hoa nên có thể sinh sản sinh
Trang 18Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 7
dưỡng qua các nhánh hoặc sinh sản hữu tính qua hoa Nhóm này có tầm quan trọng trong sản xuất rau có hiệu quả kinh tế cao Nhóm này được trồng chủ yếu trong các khu vườn nhỏ ở Châu Âu, Mỹ và châu Á Diện tích canh tác lớn ở Pháp, Hà Lan, Anh và Scandinavia, Argentina và một số vùng nhiệt đời khác, ví
dụ như: Tây Phi, Thái Lan, Sri Lanka và các quốc gia đông nam Á khác, khu vực Caribbean Ở Pháp và các nước Châu Âu khác, cũng như ở Mỹ hành củ được ưa chuộng vị hương vị đặc biệt của cây rau gia vị này Nhóm hành này được trồng thay thế các nhóm hành khác bởi vì khả năng kháng bệnh và chu kỳ sản xuất ngắn, và có lẽ là nhóm này có khả năng kháng bệnh cao Sự đa dạng trong nhóm này nhưng vẫn chưa xây dựng được bộ ngân hàng gen Trong bộ ngân hàng gen này có những gen có khác năng kháng virut tiềm ẩn thật bất ngờ Khối lượng củ hành là quan trọng nhất và chỉ tiêu này đánh giá mức độ sản xuất thương mại của giống các nhóm giống có hành dạng cụm nhỏ với thân hình trứng hoặc bóng đèn, hình quả lê và củ thường có màu đỏ nâu (màu đồng) (Rabinowitch, 1990)
Nhóm Proliferum: var.proliferum Targioni - Tozzetti (Syn var
bulbeliferum Bailey; var viviparum (Metz)Alef) Trong nhóm này có loài đôi khi
nhầm lẫn là hành tây, củ phát triển kém Nhưng củ này có khả năng sản sinh ra
lá, cây con và trục hoa, thường không có hạt nên chỉ nhân giống thông qua sinh sản sinh dưỡng
A.cepa L là loại rau ăn thân (thân giả), một số loài có quan hệ với hành tây và được sử dụng rộng rãi là: A ampeloprasum (tỏi ta, tỏi tây và kurrat) nhóm
có lá bản gồm các loài rất khác nhau Nhìn chung lá bằng phẳng, hình bản, trên
lá được phủ một lớp sáp mỏng điển hình là cây tỏi Khối lượng củ thay đổi từ củ
lớn như tỏi ta đến không có củ Đó là A.chenesne G.D; A.fistolusum
A cepa L là một loại rau có giá trị dinh dưỡng cao được trồng từ thời cổ
đại Ở Ai Cập khoảng 3000 năm trước một bức tranh tường đã mô tả củ hành Vì vậy có thể suy luận, hành là một nguồn thực phẩm quan trọng cho người Ai Cập
cổ đại Từ “onion” xuất phát từ tiếng latinh có nghĩa là “ngọc trai lớn” A cepa L
được so sánh như 1 viên ngọc trai không chỉ là hình dạng giống mà còn do chất
Trang 19Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 8
lượng dinh dưỡng có giá trị cao của nó A cepa L được trồng trên nhiều nước
Tại Ai Cập, hành tây đứng thứ tư sau bông, gạo và cây có múi và là cây trồng xuất khẩu Tổng diện tích gieo trồng năm 1999 là 15.184,3ha và sản lượng 305.201 tấn (CAPMS, 2000) Chính sách của chính phủ Ai Cập là hướng xuất khẩu hành tây sang Châu Âu Để đạt được mục tiêu như vậy cần áp dụng công nghệ sau thu hoạch và chọn tạo ra giống hành tây có năng suất và chất lượng cao (Bahnasawy et al, 2004)
Tất cả hành tỏi thông thường đều có có bộ nhiễm sắc thể 2n=16, 24 và 32
Có 2 loại hành củ: Hành tăm và hành tây Hành tăm là một loại rau quốc
tế Tên Latin cho hành ta là Allium Cepa L Aggregatum Hành tăm thuộc về gia
đình lily Hiện có hơn 500 loài phụ khác nhau Ngoài hành tăm, hành tây, tỏi và
tỏi tây cũng thuộc chi Allium Hành tăm có thể được giới thiệu vào châu Âu
trong khoảng thế kỷ thứ 10 khi quân viễn chinh mang chúng trở về từ châu Á
Có sự khác biệt đáng kể giữa hành tăm ở nhiều nước Một số khác biệt có liên quan đến truyền thống hoặc phong tục địa phương Ở châu Á hành tăm chủ yếu là nhỏ và tròn với màu đỏ đậm, tím trong khi ở Pháp nơi sản xuất hành tăm lớn của châu Âu, thích hành mà kéo dài hơn và màu nâu đỏ trong màu sắc Ở Hà Lan và Bỉ hành tăm da màu vàng được sử dụng rất phổ biến
Các hành tăm đã được tham gia trong những năm gần đây bởi nhiều cái nhìn Ví dụ Echalions hoặc tăm chuối, "Cuissen", "hành tây Thổ Nhĩ Kỳ" Tuy
nhiên, mặc dù họ là thành viên của gia đình Allium rộng rãi, nhưng họ đang có
trong hành thực tế và có một hương vị khác nhau
Ở Châu Âu hành tây được chia thành 3 nhóm: hành cay, hành cay vừa và hành ngọt Hành cay được trồng phổ biến, kích thước củ bé hơn, chắc, dễ vận chuyển Hành ngọt củ to lá dày, ít chắc Hành tây thường bị bênh thối mềm do vi khuẩn Toàn bộ phận của cây hành có thể bị ảnh hưởng bời bệnh này và có thể bị bệnh trong bất kỳ giai đoạn nào của cây trồng
Hành tăm trồng tự nhiên phụ thuộc vào số giờ chiếu sáng Các khu vực sản xuất chính ở phía tây là Pháp, Hà Lan, Hoa Kỳ và Vương quốc Anh Giống
Trang 20Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 9
hành tăm gọi là "giống ngày dài" được trồng ở các nước này Những giống này phát triển chậm hơn, vững chắc hơn và do đó là có thể được lưu trữ lâu hơn Họ
Endang etal, 2002; Ochse, 1931; Permadi and van der Meer, 1994; Tashiro et al.,
1982) Ở Thái Lan, có loại hành trắng tên là “Hom Khaao” được canh tác ở miền bắc và vùng đông bắc và loại hành cam tên là “hom bua” ở miền bắc (Buijsen, 1990) Loại hành trắng được trồng ở Indonesia được dùng làm vòng đeo cổ hoặc
là bùa ngải Loại hành này có đặc tính hình thái học giống hành đỏ, ngoại trừ màu của củ, lá, bao phấn Sau khi phân tích về gên ông Endang et al, 2002 đã kết luận rằng giống hành này thuộc nhóm hành củ Họ cho rằng giống hành trắng có nguồn gốc từ hành đỏ thông qua quá trình đột biến tự nhiên
Noor Sugiharto Arifin và cộng sự, 2000 đã sử dụng chỉ thị phân tử RAPD
để nghiên cứu sự đa dạng di truyền giữa giống hành củ (Allium cepavar ascalonicum) và Allium x wakegi bằng cách phân tích RFLP bộ gen lạp thể Qua
nghiên cứu này, Noor Sugiharto Arifin đã chứng minh rằng có khoảng cách di
truyền lớn giữa giống hành củ và giống hành Allium x wakegi Đồng thời, ông
phát hiện rằng sự biến dị di truyền lớn giữa các giống hành wakegi ở tây Indonesia chứng tỏ đây có thể là một trong những trung tâm khởi nguyên của giống hành wakegi Từ những phân tích RFLP khi nhân dòng gen matK của
Java-cpDNA đã chứng minh được Allium wakegi có nguồn gốc từ phép lai thuận
Trang 21Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 10
nghịch giữa giống hành củ (Allium ascalonicum) và giống hành hoa (Allium
fistulosum) (Asili et al., 2000)
Trong các vùng trồng hành (Allium cepa var ascalonicum) thường được
trồng ở những nơi khó khăn trong việc trồng hành tây, hoặc vì khí hậu ẩm ướt và hành tây thường bị ở các bệnh tấn công mà hành địa phương có thể chịu được, hoặc vì khó khăn trong nguồn giống sản xuất hành tây (Currah&Proctor, 1990)
Năm 1990, Hanelt đề xuất nhòm hành (Allium cepa var ascalonicum) có nguồn gốc từ Trung á, trong khi Cochran (1942) cho rằng hành (Allium cepa var
ascalonicum) có nguồn gốc từ Tiểu Á vì cho rằng ascalonicum bắt đầu bằng từ Ascalon, là một thị trấn ở Syria Một loài khác A x Wakegi, được tin là có nguồn gốc lai tự nhiên giữa các loài Avar cepa Ascalonicum và A Fstulosum (Tashiro, 1981, 1984) Giống Wakegi đã được trồng vô tính ở tây Nhật Bản, Trung Quốc và các nước Đông nam á từ thời cổ đại (Inden & Asahira 1990) Năm 1984, Tishiro đã chứng minh giả thiết này bằng cách lấy mẫu ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Myanmar và Italy Trong khi okubo và Fujieda (1989) cũng đã
có kết luận này ở Đài Loan và Indonesia Như hành và các loài tương tự thường
là cây thụ phấn tự do và đã được trồng trong thời gian dài, và trồng trên nhiều loại đất khác nhau Các giống lai tự nhiên hoặc một loài hay giữa các loài có thể đang gia tăng Thực trạng này giúp cho việc làm phong phú thêm các thông tin
về nguồn gen và lai tạo nhân giống mới (Arifin and Okudo, 1996)
Ở Việt Nam, hành wakegi là cây rau gia vị được trồng khá phổ biến ở vùng đồng bằng sông Hồng đặc biệt là ở Đại Phúc - Bắc Ninh và Tây Tựu - Hà Nội, hành wakegi cho thu nhập cao, có mùi vị thơm ngon đặc trưng khi chế biến,
dễ dàng bảo quản và vận chuyển vì vậy rất được ưa chuộng (Nguyễn Thị Hường, 2004)
Trang 22Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 11
1.1.3 Giá trị dinh dưỡng và giá trị y học
Nguồn: USDA Nutrient Data Base
Trong hành củ, chất béo và các chất rắn hòa tan chiếm một hàm lượng lớn (chếm tới 16 – 33% khối lượng chất khô), trong khi đó trong hành tây chỉ chiếm 7 – 15% (Cuarh và Protor, 1990) Chất khô trong hành củ có chứa tới 70 – 85% hydratcacbon, trong đó chủ yếu là Fructans, glucose, fructose và sucrose Ngoài ra trong hành củ còn có các loại vitamin như C, B1, B2, B6…, các chất khoảng, các hơp chất phenolic, các axits hữu cơ… Là những chất rất cần thiết cho sự pháp triển của cơ thể (Breu, 1996) Bên cạnh những giá trị dinh dưỡng to lớn giúp bổ sung nhiều dưỡng chất thiết yếu cho cơ thể thì hành củ và hành wakegi còn có ý nghĩa rất lớn về mặt y học Giá trị dược liệu của hành của là do sự có mặt của các hợp chất hữu cơ chứa lưu huỳnh quan trọng nhất là amino axit systeine và các dẫn xuất của
Trang 23Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 12
nó, đặc biệt là systeine sulphoxides và γ - Glutamyl peptides (Bren, 1996) Hành củ cũng như các loại hành tỏi nói chung từ lâu đã được nhân dân ta sử dụng như một bài thuốc dân gian để điều trị các bệnh cảm cúm, viêm nhiễm…
1.2 Tình hình sản xuất hành ở Việt Nam và trên thế giới
1.2.1 Tình hình sản xuất hành trên thế giới
Hành là loại cây trồng tuy được chấp nhận như một loại thực phẩm và có lịch
sử phát triển tương đối sớm và hiệu quả kinh tế và giá trị sử dụng cao Theo FAO (2013), trên thế giới có 175 nước trồng hành tỏi Diện tích, sản lượng, năng suất hành tỏi trên thế giới như sau:
Diện tích: 230.179,7 (ha)
Năng suất: 1.860,08 (tạ/ha)
Sản lượng: 4281.531 (1.000 tấn)
Bảng 1.2 Diện tích, sản lượng, năng suất hành của các châu lục năm 2013
Tên châu lục Diện tích
(1.000ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (1.000 tấn)
Nguồn: FAOSTAT | © FAO Statistics Division 2013
Theo bảng 1.2 thì năm 2013, Châu Á có diện tích trồng hành tỏi (130,058 nghìn ha) lớn nhất thế giới Tuy nhiên, Châu Úc có năng suất (457,480 tấn/ha) lớn nhất thế giới
Trang 24Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 13
Bảng 1.3 Diện tích, năng suất, sản lượng hành tỏi của 10 nước đứng đầu năm 2013
(1.000ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (1.000 tấn)
Nguồn: FAOSTAT | © FAO Statistics Division 2013
Theo số liệu (FAOs) Các nước có diện tích lớn chủ yếu nằm ở khu vực Châu Á và Nam Mỹ Nước có diện tích nhiều nhất là Trung Quốc (26,250 nghìn Ha) tiếp theo đó là các nước Nhật Bản (24,488 nghìn Ha); Thổ Nhĩ Kỳ (21,230 nghìn Ha); Irap (18,286 nghìn Ha)…Các nước có năng suất cao nhất là Israel 600 tấn/ha, tiếp theo đó là New Zealand (458,602 tấn/ha); Autralia (457,480 tấn/ha); Đức (434,827 tấn/ha); Trung Quốc (356,152 tấn/ha); Nhật Bản (300,000 tấn/ha) Qua số liệu của (FAOs, 2013) ta thấy diện tích trồng hành chủ yếu tập trung
ở Châu Á do điều kiện khí hậu phù hợp cho sản xuất hành Nhưng với những nước
có nền khoa học công nghệ tiên tiến như Israel, Nhật, Đức, Autralia… lại là những nước có trình độ thâm canh cao và năng suất rất lớn so với các nước đang phát triển
1.2.1 Tình hình sản xuất hành ở Việt Nam
Ở Việt Nam, hành củ đã được trồng và tiêu thụ trong nhiều thế kỷ và phát
triển rộng rãi hơn Cây Allium khác (Tashiro et al., 2002) Do vòng đời sinh trưởng
ngắn chỉ có 3 tháng, nó thường được trồng luân canh với lúa và các cây trồng khác trên đồng ruộng Hoặc được trồng xen canh với các cây thảo dược, rau hoặc hoa
Trang 25Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 14
trong vườn nhà Hành củ được bán tươi hoặc phơi ở hầu hết các chợ ở vùng cao và đồng bằng trên khắp cả nước Đối với nhu cầu ăn kiêng nó thường được tiêu thụ dưới dạng rau gia vị, dưa muối, hoặc là thuốc để giảm sốt và chữa trị vết thương Các vùng canh tác chính là đồng bằng Sông Hồng ở miền bắc và đồng bằng sông
Cửu Long ở miền nam và một số tỉnh miền trung (Phạm Thị Minh Phượng, et al.,
2006)
Đồ thị 1.1 Các loại rau trồng chính ở Việt Nam năm 2012
Qua đồ thị 1.1, ta thầy hành tươi chiếm 5,4% trong tổng số các loại rau sản xuất tại Việt Nam Hành tươi là một cây trồng chính có diện tích sản xuất lớn Tổng diện tích hành tươi trong năm 2012 là 46.160,2 ha Hành tươi được coi là một loại rau chính của Việt Nam
Trang 26Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 15
Bảng 1.4 Diện tích, năng suất, sản lượng hành tươi ở các vùng miền ở Việt Nam
Diện tích (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
Diện tích (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
Diện tích (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
Diện tích (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
CẢ NƯỚC 39,515.6 143.6 567,453.5 37,023.2 138.0 510,877.7 38,021.7 154.2 586,269.0 44,160.2 148.1 654,173.1 MIỀN BẮC 14,144.9 98.3 139,020.2 14,444.5 109.1 157,562.8 9,740.0 113.0 110,105.2 15,385.3 115.5 177,648.3
ĐB sông Hồng 7,330.3 116.1 85,107.8 8,987.6 134.3 120,681.0 5,183.5 133.9 69,383.0 9,891.8 122.8 121,462.1 Trung du và MN
phía bắc 2,992.7 920.0 30,519.9 2,748.6 971.3 29,563.6 2,626.4 937.4 29,068.2 3,455.1 1,195.9 42,412.2 Bắc trung Bộ 3,821.9 238.7 23,392.6 2,708.3 114.9 7,318.2 1,930.0 171.6 11,654.0 2,038.4 359.6 13,774.1 MIỀN NAM 25,370.7 168.9 428,433.3 22,578.7 156.5 353,314.9 28,281.8 168.4 476,163.8 28,774.9 165.6 476,524.8 Duyên hải Nam
Trung bộ 4,292.0 72.3 31,026.5 3,948.5 73.0 28,819.7 4,791.0 84.9 40,692.7 4,425.9 89.6 39,664.8 Tây Nguyên 3,884.8 229.7 89,227.3 3,477.8 232.8 80,965.6 4,332.5 246.5 106,799.0 4,176.3 251.8 105,178.9 Đông Nam Bộ 2,085.4 159.4 33,238.1 2,049.3 157.6 32,298.6 1,812.6 145.7 26,401.8 1,492.1 136.3 20,330.6
ĐB sông Cửu
Long 15,108.5 182.0 274,941.4 13,103.1 161.2 211,231.0 17,345.7 174.3 302,270.3 18,680.5 166.7 311,350.5
Trang 27Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 16
Nguồn Tổng cục Thống Kê, 2013
Trang 28Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 17
Theo số liệu của tổng cục Thống kê, 2013, ta thấy các vùng sản xuất hành chủ yếu tập trung ở Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng song Cửu Long Diện tích sản xuất hành tươi ổn đinh giữa các năm và có chiều hướng tăng dần Năng suất giữa các năm ổn định Năng suất vùng trung du và miền núi phía bắc là cao nhất giao động 920 – 1195,9 tạ/ha Ở Đông Nam bộ năng suất giao động 136.3 – 159.4 tạ/ha; Đồng bằng sô Cửu Long giao động 161.2 - 182 tạ/ha Thấp nhất là duyên hải nam trung bộ năng suất giao động từ 72,3 – 89,6 tạ/ha Qua số liệu của tổng cục Thống kê 2013, ta thấy Ảnh hưởng của điều kiện khí hậu tác động lớn đến năng suất của hành tươi Vùng có nhiệt độ trung bình thấp và khô sẽ cho năng suất cao nhất Vùng duyên hải miền trung có nền nhiệt độ cao và hay bị mưa bão ảnh hưởng lớn đến năng suất hành tươi
Các tỉnh có diện tích sản xuất hành tươi nhiều là: Miền bắc có Hải Dương, Bắc Giang, Hải Phòng, Hà Nội, Bắc Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh Miền nam có Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Ninh Thuận, Lâm Đồng, Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long, An Giang, Sóc Trăng
1.2 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của cây hành củ và hành Wakegi
Cây hành củ là cây thảo, có chiều cao từ 15-50 cm, thân hành to 2-3 cm,
có canh, phủ vảy mỏng thường có màu trắng hay hồng Lá hình trụ, nhọn, rỗng
và có màu xanh Tán hoa hình cầu hoa có 6 phiến hoa rời màu trắng, hồng hay tím, cuống hoa dài 1- 1,5 cm
Trang 29Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 18
1.2.2 Thân, lá
- Thân: Hành củ có 2 loại thân là thân thật và thân giả
+ Thân thật: Thân thật củ hành củ rất ngắn, đã thoái hóa, chúng là dạng
đế giò nằm sát ngay dưới thân giả ( thân củ) Trên thân thật có màm sinh dưỡng
và sinh thực , những mần này được che phủ bởi những bẹ lá dày, mọng nước (cơ quan sử dụng)
+ Thân giả ( thân củ): Nằm ngay trên thân thật, được tạo thành do các bẹ
lá sắp xếp trên thân theo hình xoáy ốc ôm sát vào nhau Thân giả có vảy ngoài khô, dai làm nhiệm vụ che chở, vảy trong là những vảy nạc, mọng nước, có chức năng dự trữ Thân củ có kích thước to, nhỏ tùy thuộc vào giống và điều kiện chăm sóc
- Lá: lá hành hình trụ, rỗng, tròn, trên lá có phủ một lớp sáp Lá thật đầu
tiên là một lá mầm Thời kì đầu lá hành sinh trưởng rất chậm, sau khi nảy mầm chỉ sinh trưởng được một vài centimet (cm), ở thời kì này xới xáo, trừ cỏ dại là công việc hết sức quan trọng Tuổi thọ của lá phụ thuộc vào sự sinh trưởng, lá sẽ chết dần cũng là quá trình tạo củ
+ Bẹ lá: Là cơ quan sử dụng chủ yếu, chúng sắp xếp trên thân theo hình
xoắn ốc số bẹ lá thay đổi tùy thuộc vào giống và kĩ thuật trồng trọt Khoảng cách giữ các bẹ lá càng nhỏ thì củ hành càng chặt, do đó tăng khả năng bảo quản
và vận chuyển, năng suất cũng tăng Khối lượng củ phụ thuộc vào số lượng bẹ lá
và bề dày mỗi bẹ lá
1.2.3 Hoa, quả, hạt
Đối với hành củ: Cụm hoa dạng tán, ở đầu một tán, cao 20-50 cm, tán hoa hình cầu, bao chung hình bẹ, trắng hoa có 6 phiến hoa rời màu trắng hay tim tím Cuống hoa dài 1- 1,5 cm
Đối với hành hoa: cụm hoa hình đầu tròn gồm nhiều hoa, có cuống ngắn, bao hoa có các mảnh hình trái xoan nhọn, màu trắng, sọc xanh Qúa trình nở hoa của hành hoa liên tục và tuần tự, bắt đầu từ trên đỉnh xuống Trong khi quá trình
nở hoa của hành củ lại không đều
Quả: quả hành củ thuộc dạng quả nang, nhỏ
Trang 30Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 19
Hạt: nhỏ, màu đen hoặc xám, có nhiều góc cạnh, vỏ hạt dày 1 gam có khoảng 250 - 400 hạt
1.3 Yêu cầu ngoại cảnh đối với sinh trưởng và phát triển cây hành củ
và hành wakegi
1.3.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ
Hành là cây ưa khí hậu lạnh, có khả năng thích nghi với nhiệt độ rất rộng, vừa có thể chịu rét, vừa có thể chịu được nhiệt độ cao do chúng có nguồn gốc xuất xứ ở những vùng có nhiệt độ ngày đêm biến đổi lớn Nhiệt độ lớn cho sinh trưởng và phát triển là 16 - 200C, yêu cầu nhiệt độ thay đổi theo từng thời kì Hành có thể nảy mầm ở nhiệt độ 2 - 30C với độ ẩm đất 80 - 90%, hạt nảy mầm nhanh ở 20 - 220C, để phát triển thân lá cần nhiệt độ cao hơn 22 - 250C Nhiệt độ cho thân củ sinh trưởng tốt là 180C, khi nhiệt độ tăng cao 30 - 320C, cây sinh trưởng rất nhanh nhưng sau đó giảm sút Khi củ hình thành, biên độ nhiệt ngày đêm chênh nhau 5 - 70C, ban ngày 23 - 250C, ban đêm 18 - 200C có tác dụng kích thích củ phát triển nhanh, ngoài ra còn thúc đẩy quá trình đồng hóa, tích lũy các chất dinh dưỡng trong củ, nhất là hàm lượng đường tổng số Vitamin C Khả năng chịu nhiệt độ thấp của cây hành khá tốt, cây trưởng thành chịu nhiệt độ thấp tốt hơn cây con ( Có thể chịu được nhiệt độ (-70C))
Nhiệt độ tối ưu để cây hành sinh trưởng phát triển là 26-270C vào ban ngày và 19 - 200C vào ban đêm, nhiệt độ > 130C nhiều giống hành không hình thành hoa
Đối với hành hoa: yêu cầu cho sự nảy mầm của hạt giống là 25 - 300C Yêu cầu nhiệt độ cho sự sinh trưởng là từ 15 - 200C
Quá trình ra hoa diễn ra ở nhiệt độ thấp dưới 130C, khi cây có 11 đến 12 lá hay đường kính thân giả lớn hơn 5 - 7 mm Nhiệt độ và khoảng thời gian xuân hóa khác nhau tùy từng loài Một số loài có thể dễ dàng xuân hóa Ví dụ như với nhóm “Pei Chung” của Đài Loan thì chỉ cần yêu cầu: 5 ngày ở điều kiện 50C và
10 ngày ở điều kiện 100C cho quá trình xuân hóa của chúng Chúng bắt đầu quá trình ra hoa khi đường kính thân giả khoảng 4 - 5mm Nhóm “Gao jao” trồng ở
Trang 31Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 20
Bắc Kinh - Trung Quốc chúng hoàn tất quá trình xuân hóa sau 30 ngày ở nhiệt
độ 50C khi thân giả của chúng chỉ khoảng 3mm
sẽ kích thích sự ra lá của cây, số lá tăng cây có dạng bụi (giống Granex)
- Tuy nhiên ánh sáng với cường độ chiếu sáng mạnh mẽ sẽ làm ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng và phát triển của hành
- Trong các giai đoạn hình thành và phát triển, ánh sáng dài ngày có tác dụng nhiều hơn ở giai đoạn sinh trưởng thân lá
- Đối với hành hoa: ảnh hưởng của ánh sáng không khác nhiều so với hành củ Okimizu đã chứng minh tác động của nhiệt độ thấp và ánh sáng lên quá trình ra hoa Nếu để cây trồng trong điều kiện nhiệt độ cao và ngày dài thì quá trình sinh trưởng sinh dưỡng sẽ kéo dài hơn 240 ngày Trong khi đó nếu cây trồng được để trong điều kiện nhiệt độ thấp và ngày ngắn thì chúng sẽ ra hoa ở thời điểm 40 - 120 ngày sau khi xử lý Một công thức ở 50C và 8h chiếu sáng có ảnh hưởng tới quá trình ra hoa ở 130C và 13h chiếu sáng
- Nhiều cây trồng không phân hóa ở nhiệt độ 200C ở cả điều kiện ngày ngắn và ngày dài Có cây trồng thì sinh trưởng trong điều kiện nhiệt độ xung quanh 130C hoặc 180C nhưng lại chỉ xuân hóa trong điều kiện ngày ngắn Do đó
Trang 32Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 21
không chỉ nhiệt độ mà ngay cả điều kiện ngày ngắn cũng rất cần thiết cho quá trình ra hoa của hành hoa
1.3.3 Ảnh hưởng của nước
Lá hành dạng ống, tròn nên khả năng chống mất nước và chịu hạn là rất tốt, nhưng rễ hành ăn rất nông ở lớp đất mặt, chỉ ở độ sâu 5 - 10 cm vì vậy rất cần đất đủ ẩm để rễ hành hút được nước và chất dinh dưỡng tuy nhiên, nếu đất quá ẩm thì rễ hành dễ bị ngộ độc và hành dễ bị bệnh thối nhũn rất nguy hiểm Khi nảy mầm hành cần nhiều nước do hành có nhiều góc cạnh, vỏ hạt dày, nước xâm nhập vào hạt khó khăn hơn Rễ hành yếu nên không chịu được khô hạn trong thời gian dài, vì vậy thời kì nảy mầm đến 4 - 5 lá thật yêu cầu độ ẩm cao, đất phải ẩm thường xuyên Khi thiếu ẩm, lá ngừng sinh trưởng, củ không phát triển theo Xolobela O.M thì 1 tấn hành khô tiêu tốn từ 50-70 m3 nước
Độ ẩm ở các thời kì thích hợp là từ 70-80% Độ ẩm không khí thấp là 55%, độ ẩm cao cây dễ bị hại, ở những vùng khô hạn, độ ẩm khó khống chế, độ
45-ẩm thấp ảnh hưởng đáng kể đến hình dạng củ và thời gian thu hoạch do rễ bị khô héo và bị chết Nếu thừa nước thì cổ hành to, xù dẫn đến cây hành không chín già, khô được
Độ ẩm cần thiết cho giai đoạn cây con là 80-85%, lúc củ già là 70%, ở độ
ẩm này củ dễ chín thành thục và khô ráo khi thu hoạch
1.3.4 Ảnh hưởng của đất và dinh dưỡng
Do có hệ rễ kém phát triển, nên đất trồng hành phải tơi xốp, đất cát pha, giàu dinh dưỡng để có thể dễ dàng hút nước và các chất dinh dưỡng cần thiết cho
sự sống của chúng
Với hành, đất tốt nhất là đất có thành phần cơ giới nhẹ, giàu chất hữu cơ Trồng hành trên đất cát pha, đất thịt nhiều mùn thường cho năng suất cao Đất màu mỡ cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho cây hành sinh trưởng và phát triển Hành non rất dễ bị gãy, đất vườn ươm phải nhỏ, không có sỏi đá, đất gieo hạt phải tiêu nước tốt, khô ráo Hành có thể chịu được đất hơi chua, có độ pH từ
6 - 6,8 Nếu pH thấp dưới 6 thì cây sẽ mẫn cảm với đất chua, dẫn đến năng suất,
Trang 33Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 22
chất lượng giảm Cây hành cũng có thể sinh trưởng ở pH 7,5 - 7,8 trên đất có đầy
đủ dinh dưỡng chủ yếu cần thiết cho cây sinh trưởng phát triển
Phân hữu cơ đặc biệt là phân gà, vịt có tác dụng tốt đối với cây hành Loại phân này không chỉ cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết, nhất là Kali cho hành mà còn góp phần cải tạo đất, làm tăng độ tơi xốp cho lớp đất mặt
Đạm có tác dụng làm tăng quá trình sinh trưởng của cây hành đặc biệt là
hệ rễ Sinh trưởng của cây và lá tăng rõ rệt, tăng đường kính củ (đây là yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất) Cây đủ đạm lá có màu xanh tươi, thẳng và tròn Nếu thừa đạm đặc biệt là thời kì sau khi thúc đẩy sự sinh trưởng của lá thì
bị mỏng lá, lá dễ bị biến dạng và dễ gẫy Cổ cây hành sinh trưởng mạnh làm cây hành lâu chín già, khả năng bảo quản và vận chuyển kém Bón quá liều lượng cây sẽ bị nhiều bệnh hại xâm nhiễm
Hành rất mẫn cảm với lân và Kali Những chân đất nhiều mùn, nghèo Kali và lân đều làm giảm chất lượng của hành củ mặc dù năng suất có thể tăng Lân cần thiết cho quá trình sinh trưởng của cây hành, cây con đặc biệt mẫn cảm với sự thiếu hụt lân trong đất Đất thiếu lân làm giảm năng suất Lân xúc tiến sự hình thành, phát triển và sự chín của củ Lân làm tăng khả năng bảo quản hành Kali có tác dụng làm tăng năng suất trên cơ sở bón lân và đạm, ngoài
ra còn làm tăng hàm lượng đường và vitamin Theo IvanovaE.P (1980) trong điều kiện bón phân đầy đủ Một ngày đêm một ha hành hấp thu 2,5 kg N: 0,8 kg
1.4.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Công tác nghiên cứu về cây hành đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới thực hiện Ngày nay đã có rất nhiều trung tâm nghiên cứu khoa học về rau, quả nghiên cứu về cây hành với các hướng khác nhau như:
Trang 34Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 23
Khảo nghiệm tập đoàn giống nhập nội xác định giống thích hợp phục vụ cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng Do tầm quan trọng của hành củ, các nghiên cứu
về hành củ đã được thực hiện và từ đó một số dòng đã được xác định từ khu vực Đông Nam Á (Arifin et al, 2000; Buijsen, 1990; Endang et al 2002,; Permadi và van der Meer, 1994; Tashiro et al, 1982)
Ở Liên Xô trước đây, cây hành được xếp là một trong những cây trồng chính trong nông nghiệp với diện tích trồng lớn (Iurico, 1976) Ngay từ khi thành lập viện nghiên cứu cây trồng Liên Xô thì việc nghiên cứu về cây hành đã được xúc tiến và được đầu tư kinh phí khá lớn Học viện nông nghiệp JimJazep từ năm
1960 đã tiến hành thu thập nghiên cứu một tập đoàn giống hết sức phong phú (khoảng 8000 mẫu giống) Mục đích nghiên cứu và khai thac nguồn giống Cũng như những nghiên cứu đó viện sĩ Taraconov G đã tạo ra được các giống nổi tiếng cho năng suất cao
Ở Bungari, nhờ sử dụng ưu thế lai người ta đã tiến hành lai tạo được nhiều giống hành mới Những thì nghiệm đầu tiên được tiến hành ở viện rau Maritxta- Plovdiv(1973) Năm 1950, trại nghiên cứu Gorkaona - Khovitxta đã chọn và sử dụng giống mẹ thuần để tạo ra những giống hành năng suất cao và phẩm chất tốt
Ở Mỹ công tác thu thập được tiến hành một cách hệ thống dưới sự bảo trợ của nhà nước đã tiến hành từ năm 1897, ở đây đã sử dụng nhiều loại hành để làm vật liệu tạo ra giống F1 có năng suất, phẩm chất tốt, chịu được sâu bệnh và có khả năng thích ứng rộng
Cũng tại Mỹ năm 1997 người ta đã đánh giá khả năng chống chịu bệnh như bệnh lở cổ rễ, bệnh khô đầu lá, một số loại sâu như: sâu khoang, sâu đục thân Nghiên cứu này đã được tiến hành trên một diện tích lớn trên toàn nước
Mỹ
Ngân hàng gen Olomouc, một chi nhánh của ngân hàng gen quốc tế thuộc cộng hòa Séc phát triển theo 2 hướng chính là thu thập các giống tỏi và các giống hành củ cho tới nay đã thu thập 641 mẫu giống tỏi trên hơn 1 quốc gia và
119 mẫu giống hành chủ yếu thuộc vùng Finland và Norway Tất cả các mẫu giống thu thập được tái sinh vô tính hàng năm Một phần được bảo tồn trong
Trang 35Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 24
điều kiện cách li sạch virus Kể từ sau năm 1997, ngân hàng này đã cải thiện phương pháp bảo tồn bằng việc chia đôi các loài cần bảo tồn và để ở những vị trí tách biệt tránh mất giống
Năm 1997, Shigyo và cộng sự đã nghiên cứu thí nghiệm vị trí nhiễm sắc thể của gen liên quan đến thực phẩm và sản xuất anthocyanin trong bẹ lá hành củ
(Allium cepa L.Aggregatum group) Các kết quả cho thấy một nhóm gen có liên
quan tới việc sản xuất thực phẩm và sản xuất anthocyanin trong bẹ lá hành củ
(allium cepa L.Aggregatum group) nằm trong nhiễm sắc thể 5A Nồng độ sản
xuất các sắc tố có liên quan đến cả gen trên một nhiễm sắc thể là một vấn đề rất được quan tâm để theo dõi sự tiến hóa nhiễm sắc thể trong hành và thuận tiện để thao tác gen Một lượng lớn các gen cấu trúc mã hóa enzyme và gen quy định các sắc tố dường như được quy định bởi các nhiểm sắc thể của những gen này và bằng phương pháp di truyên phân tử trong tương lai
Năm 1998 Z Qipei và cộng sự đã tạo thành công dòng bất dục đực của West onion, bước đầu khảo sát ưu thế lai và dành được kết quả khả quan Dòng bất dục đực 4A và dòng duy trì của nó là Welsh onion (A, fistulosum L Vargigantum Makino) thu được sau 4 thế hệ lai trở lại với Zhangqiu, một dòng bất dục dạng dại tỷ lệ bất dục của cây bất dục và tỷ lệ hữu dục của cây duy trì là 95% sau đó 4A được sử dụng làm dòng mẹ để lai với Zhou2 và Long 6 - 1, ưu thế lai lần lượt là 24,9% và 83,8%
Năm 1998, ở New Zealand, P.J Wright và D.G.Grant đã tiến hành nghiên cứu bệnh thối mềm trên các giống hành (trong đó có hành củ và hành tây) Mục tiêu nghiên cứu trong chương trình nhân giống sạch bệnh các giống hành củ da nâu trên toàn thể giới và cải thiện năng suất, thời gian bảo quản và sức đề kháng bệnh bao gồm bệnh thối mềm vi khuẩn Việc xác định di truyền trong hành là cần thiết trong việc phát triển các giống hành trong tương lai và cải thiện đặc tính giống Nghiên cứu đã chứng minh rõ ràng rằng hành rất dễ bị vi khuẩn thối
lá gây ra bời vi khuẩn P marginalis và P viridifla và có một số loài Allium có
khả năng chống bệnh này Nguyên cứu đã chứng minh rằng mức độ đề kháng với
bệnh thối mềm do vi khuẩn của cây Allium thay đổi trong cùng một loài Vì vậy,
Trang 36Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 25
điều quan trọng cần lưu ý là dòng hạt giống của một số loài Allium cụ thể có thể
có khả năng chống thối mềm Do tầm quan trọng sản xuất cây hành trong nền kinh tế, không có hóa chất hiệu quả để kiêm soát bệnh thồi mềm vi khuẩn này
Việc tìm ra nguồn gen di truyền kháng bệnh thối mềm vi khuẩn Allium là mối
quan tâm trong nhân giống cây trồng và sinh học phân tử để cải thiện giống hành Vì vậy, tìm ra kháng di truyền của vi khuẩn thối mềm vào cải thiện giống hành sẽ là một phương pháp cải thiện trong việc chống căn bệnh này
Nghiên cứu loại bỏ virut bệnh hành tây vàng lùn và virut tiềm ẩn của hành
(Allium cepa var ascalonicum L.) bằng invtro cho kết quả virut lấy nhiễm ở
hành không do hạt giống gây ra mà do lây nhiễm trong quá trình nảy mầm Kỹ thuật invitro nhân giống này để giúp chỉ số nhân giống cao làm nguồn sản xuất hạt giống và giữ được dị hợp tử của hạt giống Một phương pháp khác liên quan đến việc phục hồi khả năng sinh sản trong hành bằng cách nhân đôi bộ nhiễm sắc thể Phương pháp sử lý nhiệt thường được sử dụng để loại bỏ virus nhưng quá trình nay lại kéo dài Virus là mối quan tâm lớn của các các nhà nghiên cứu do việc khó khăn để loại bỏ virus Sự kết hợp thành công của nghiên cứu này là kết hợp 2 phương pháp điều trị nhiệt và hoát chất vào một hệ thống trồng cây con trong ống nghiệm Cây con được tiếp xúc với nhiệt và phương pháp hóa học đã đạt được kết quả trong việc loại bỏ virut tiềm ẩn trong hành (P J Fletcher et al; 1998)
Hành củ là một nguồn tài nguyên di truyền quan trọng trong chọn tạo
giống hành (Allium) bởi các củ hành có hàm lượng một số hợp chất hóa học chức
năng cao hơn các giống hành khác Tuy nhiên giữa các giống hành củ lại có thành phành phần hoạt tính và sự thích nghi khác nhau Nguyên cứu này phân tích sự khác biệt trong Phenolic quercetin, đường, S-alk, ACSO, saponin và khả năng chống oxy hóa của tế bào mầm hành gồm 31 chủng có nguồn gốc từ tập đoàn hành củ gồm 20 giống thu thập từ Việt Nam và 11 giống từ các nước khác trên thể giới Được trồng trong nhà kính 34N tại Đại học Yamaguchi, Nhật Bản trong một thời gian dài từ năm 2007 đến 2009 Các cây trồng này được trồng
Trang 37Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 26
trong chậu và hàng tuần được tưới dung dịch dinh dưỡng (Masayoshi Shigyo et
Al, 2004)
Năm 2004, Masayoshi Shigyo và công sự đã nghiên cứu ảnh hưởng của
alen chromosome của hành củ (Allium cepa L Aggregatum group) để sản xuất carbohydrate trong phiến lá của nhóm hành tây (A Fistulosum L) Kết quả cho thấy trong Allium cepa, các sucrose tổng hợp được trong phiến lá sẽ được chuyển
lên các bẹ lá và các sub-strate phụ cho sự tích tụ các carbohydrate hòa tan trong
củ Gần đây, các phương thức thừa kế cho sản xuất carbohydrate hòa tan đã được
làm rõ bởi địa hóa gen (McCallum et al., 2004) liên quan đến sucrose và hòa tan
carbohydrate tích lũy trên bàn đồ liên kết hành dựa trên marker phân tử (King et
al, 1998) Sự kết hợp của cả hai bản đồ market phân tử và thêm vào đó một bộ monosomic sẽ tiết lộ cho vị trí nhiễm sắc thể của QTLs liên quan đến carbohydrate sản xuất trong củ hành tây Năm 2004, Erika Glasenčnik và cộng
sự đã tiến hành nghiên cứu tác động của ô nhiễm không khí đến di truyền vật
chất trong hành củ (A cepa L var ascalonicum) tại các vùng ô nhiễm ở
Slovenia Kiểm tra các giống hành củ được trồng trong điều kiện thực tế tại sáu
lô nghiên cứu trong các vùng ô nhiễm nhất ở Slovenia trong năm 1999 và 2000 Mục đích của nghiên cứu này là để đánh giá ảnh hưởng của ô nhiễm không khí đối với hoạt động phân bào và tần số quang sai nhiễm sắc thể trong tế bào mô phân sinh của cây bioindication Khác biệt đáng kể trong chỉ số phân bào và trong tần số quang sai nhiễm sắc thể ở lô lấy mẫu khác nhau trong các thí nghiệm Nghiên cứu đã được tìm thấy mối tương quan giữa nồng độ ozone và các chỉ số phân bào được xác định Kết quả cho thấy sự hiện diện của các chất gây độc tế bào tại các địa điểm lấy mẫu được lựa chọn, trong đó gây ra sự sụt giảm của phân chia tế bào phân bào và sự hiện diện của chất genotoxic, mà kết quả rõ nhất trong việc tăng tần số quang sai nhiễm sắc thể
Một hệ thống chọn lọc chống việc thối cổ rễ của A cepa được tiến hành
bởi Van der meer và cộng sự trong 10 năm Sau quá trình nghiên cứu ông đã đi đến kết luận khả năng kháng bệnh thối cổ rễ liên quan đến tính trạng số lượng
Trang 38Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 27
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng của điều kiện nhiệt độ bảo quản đến chất lượng và sự phát triển của hành củ giống cho thấy nhiệt độ lưu trữ của củ giống hành từ 4-60C và 8-100C là thích hợp nhất Bất kể kích thước củ như thế nào, tỷ lệ phần trăm của thối hỏng ở nhiệt độ 0 - 10C là thấp hơn đến 2 lần so với bảo quản ở nhiệt độ từ 4 - 60C và 8 - 100C Nguyên cứu cho thấy hành củ có thể căng tròn và phát triển số lượng chồi sinh sản cao nhất khi củ mẹ có kích thước 40mm (41 - 60mm); củ giống của giống “toto” có đường kính nhỏ hơn 40mm được chứng minh là không phải cho chất lượng sản xuất giống tốt nhất, ngay cả khi cho củ giống bảo quản trong nhiệt độ giúp thuận lợi cho xuân hóa từ 4 - 60c Người địa phương, không có xu hướng sản xuất hành củ lớn hơn với các giống
có kích thước củ lớn trong thí nghiệm này (Tendaj et al; 2013)
Năm 2004, Maria M Jenderek và Richard M Hannan đã nghiên cứu sự thay đổi những đặc trưng sinh sản và sản xuất USDA trong tế bào mầm tỏi Các thí nghiệm nghiên cứu 47 bản sao tế bào mầm tỏi cho thấy: 17 mẫu phát triển khỏe mạnh, 10 mẫu yếu, 18 mẫu bị già phải thu hoạch trước khi ra hoa, còn lại 2 mẫu không có khả năng sinh trưởng Làm tiếp các thí nghiệm thì cây khỏe mạnh mới cho hạt Độ dài cánh hoa từ 45 – 121cm và không liên quan đến khả năng sinh sản của hạt Ngày nay, công nghệ tiên tiến nhất để cải thiện năng suất là vitro virus plant production Trong một phạm vi mở rộng có hạn, sự cải tiến được kiểm chứng bời việc lựa chọn giống vô tính hoặc chọn giữ phần sinh dưỡng
vô tính khác nhau Trong tương lai, sự nhân bản vô tính hạt giống có thể làm tiền
đề căn cứ cho sự phát triển của kiểu hình mới lạ của nó, giảm thiểu đi hàm lượng
vi rút và giun tròn đó là hiểm họa lớn nhất trên hạt tỏi tại thời điểm hiện tại Sự phát triển mới này có khả năng áp dụng cho hành, tỏi tây (Jenderek; 2004)
Đánh giá nguồn gen từ các giống hành củ (Allium cepa L Aggregatum
group) của các giống hành Việt Nam Có rất nhiều loại gene trong số các giống được thu thập ở 3 vùng chính ở Việt Nam (Bắc, Trung, Nam) đã được nghiên cứu Dựa trên hành thái học, sinh lý học và sinh vật học, lục lạp, AND ty thể Giống ở miền Bắc có lá rộng và màu xanh đậm, đóng muộn, hình thành củ sớm, vỏ củ trắng trong quá trình tạo củ nhưng chuyển sang màu lâu sau khi thu hoạch Trái lại, giống
Trang 39Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 28
ở miền trung, miền nam thì lá trung bình rộng, đóng sớm và tạo củ muộn Lá màu xanh vàng khi còn bé Nhưng khi trưởng thành thì lá chuyển sang màu xanh đậm
Vỏ củ màu hồng khi củ con nhỏ và chuyển sang màu đỏ sau khi thu hoạch Trong
sơ đồ đẻ nhánh dựa trên phân tích RAPD của tổng DNA, hai nhóm giống đã được hình thành: nhóm 1 bao gồm những giống miền bắc và giống miền trung và miền nam Phân tích PCR – RFLP của lục lạp và DNA ty thể đã chỉ ra rằng không có sự khác nhau giữa các giống của 3 vùng Từ kết quả phân tích đã phát hiện ra 2 nhóm hành khác nhau, được đặt tên là loại bắc phân bố ở miền bắc và loại nam được phân
bố ở miền trung và miền nam Các đặc tính khác nhau của 2 loại này sẽ rất bổ ích trong quá trình gây giống hành, hành hoa và hành wakegi trong tương lai ở những quốc gia nhiệt đới và cận nhiệt đới Với những đặc điểm độc đáo, phân phối hạn chế và lịch sử lâu dài của trồng trọt, người ta cho rằng các loại hành của Bắc đã phân biệt ở khu vực phía Bắc của Việt Nam, trong khi các loại Nam dường như
là một biến thể hành củ được phân bố rộng rãi trong các vùng nhiệt đới Đông
Nam Châu Á (Phạm Thị Minh Phượng et al., 2006)
Các mối quan hệ giữa các chủng hành củ ở Việt Nam và các nước lân cận
đã được nghiên cứu bằng cách so sánh các đặc điểm hình thái và sinh lý và DNA
ty thể Các quan sát hình thái học và sinh lý học đã chứng minh rằng các giống
từ Đài Loan cũng tương tự như những giống Bắc trồng ở miền Bắc Việt Nam, trong khi những giống từ Thái Lan, Philippines, Malaysia, và Indonesia là tương
tự như các giống Nam trồng ở các tỉnh miền Trung và miền Nam Việt Nam Sự
di truyền của các giống Trung Quốc (Kunmin) tương tự như các giống Bắc hơn
là các giống Nam mặc dù nó có đặc điểm của cả hai loại giống Trong phân tích RAPD, các giống từ Đài Loan, Trung Quốc, và các loại Bắc được thành lập thành một nhóm, trong khi những giống từ Thái Lan, Philippines, Malaysia, Indonesia, và các loại Nam hình thành một nhóm giống khác (Phạm Thị Minh
phượng et al., 2006)
Ngày nay bên cạnh những phương pháp chọn tạo giống cổ điển người ta còn sử dụng các phương pháp hiện đại khác như: Chuyển nạp gen, dung hợp tế bào trần Tuy nhiên những phương pháp chọn tạo giống truyền thống , đặc biệt là
Trang 40Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 29
phương pháp chọn tạo cá thể, nhập nội giống vẫn khẳng định được chỗ đứng của mình
1.4.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ta
Từ những năm 70 của thế kỉ XX trở lại đây tình hình trồng và nghiên cứu
về hành ở nước ta mới được bắt đầu Hiện nay có nhiều nhà khoa học nghiên cứu
về cây hành theo các hướng khác nhau
Để giải quyết những khó khăn và khắc phục được những hạn chế của các giống hành địa phương, trên toàn quốc đã có nhiều nhà khoa học, viện nghiên cứu đã trồng và khảo nghiệm nhằm hoàn thiện quy trình kĩ thuật thâm canh cao
có khả năng cho năng suất và phẩm chất cao nhất
Năm 1991 tại Viện nghiên cứu rau quả Trung ương TS Nguyễn Văn Hiền
và cộng sự đã tiến hành khảo sát và trồng thử nghiệm một số giống hành nhập nội ở những mật độ khác nhau
Trong vụ hành đông xuân 2004 - 2005, trung tâm giống cây trồng Sóc Trăng phối hợp với phòng nông nghiệp huyện Vĩnh Châu thực hiện thành công trồng hành tím bằng hạt tuy thời gian sinh trưởng kéo dài hơn phương pháp trồng hành truyền thống xong đã thể hiện một số lợi thế hình dạng, màu sắc và số lượng củ trên một tép hành cùng với phương pháp cấy mô, việc thử nghiệm trồng hành tím bằng phương pháp gieo hạt là một trong những phương hướng bước đầu nhằm đa dạng hóa nguồn giống
Mô hình bón phân cân đối trong sản xuất thâm canh cây hành năm 2005 ở huyện Lý Sơn tỉnh Quảng Ngãi được ứng dụng rộng rãi, mỗi năm sẽ đem lại thu nhập hành tỷ đồng từ sản xuất kinh doanh hành tỏi
Năm 2007, tại trường đại học nông nghiệp Hà Nội, sinh viên Lưu Thị
Bạch Yến đã tiền hành đề tài: “ Thu thập một số giống hành củ địa phương và sơ
bộ đánh giá một số đặc điểm nông sinh học của chúng” Kết quả thu được 8 mẫu
giống hành củ khác nhau trong đó giống có đặc điểm sinh trưởng thân lá tốt nhất, kích thước củ to nhất là giống ở Đồng Hới, Quảng Bình Giống có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt nhất là giống ở Tiền Thắng, Phúc Yên, Vĩnh Phúc Giống ở Thanh Miện Hải Dương bị bệnh thối củ gây hại nặng nhất