Năng lực cạnh tranh còn gọi là sức cạnh tranh; Anh: Competitive Power là khả năng giành được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-*** -
CAO THỊ THU THỦY
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM ÁO JACKET CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN MAY II - HƯNG YÊN TRÊN THỊ TRƯỜNG KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
HÀ NỘI – 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-*** -
CAO THỊ THU THỦY
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM ÁO JACKET CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN MAY II - HƯNG YÊN TRÊN THỊ TRƯỜNG KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng Tôi Các số liệu
và kết quả nghiên cứu được sử dụng trong Luận văn này là trung thực, nghiêm túc, chưa được công bố và sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi thông tin trích dẫn trong Luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Cao Thị Thu Thủy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này tôi đã nhận được sự giúp đỡ, chia sẻ của các Thầy Cô giáo trong Khoa kế toán và Quản trị kinh doanh cùng gia đình và toàn thể bạn bè, đồng nghiệp
Nhân dịp này tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa, các Thầy giáo, Cô giáo trong Bộ môn Marketing, đặc biệt là thầy PGS.TS.Trần Hữu Cường là người đã dành thời gian trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài này Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Công ty Cổ phần May II- Hưng Yên cùng toàn thể Cán bộ công nhân viên của Công ty đã tạo điều kiện cho tôi tiếp cận và thu thập những thông tin cần thiết để làm sáng tỏ mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Cuối cùng tôi muốn dành lời cảm ơn đặc biệt nhất đến gia đình thân yêu và những người bạn đã cùng đồng hành, động viên tôi trong suốt chặng đường vừa qua
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Cao Thị Thu Thủy
Trang 52.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm 20
Trang 62.2.3 Kinh nghiệm về năng lực cạnh tranh sản phẩm của các doanh nghiệp
2.2.4 Bài học kinh nghiệm rút ra từ cơ sở lý luận và thực tiễn 38
3 ĐẶC ĐIỂM THỊ TRƯỜNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
4.1 Thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm áo Jacket của Công ty CP May
4.1.5 Tổng hợp ý kiến khách hàng về năng lực cạnh tranh sản phẩm áo Jacket
của công ty Cổ phần May II- HY trên trị trường khu vực ĐBSH 85 4.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh sản phẩm áo Jacket của
4.2 Định hướng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm áo Jacket
của công ty Cổ phần May II- HY trên thị trường khu vực ĐBSH 97 4.2.1 Định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm áo Jacket của công
4.2.2 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm áo Jacket của công ty
Trang 75 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 107
5.2.2 Kiến nghị với Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) và Hiệp hội Dệt
Trang 8BHTN Bảo hiểm thất nghiệp
Trang 9DANH MỤC BẢNG
3.1 Phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty (2012 – 2014) 53 3.2 Cơ cấu tài sản và nguồn vốn của công ty (2010 – 2014) 54 4.1 Tổng hợp chi phí sản xuất áo Jacket trong tháng 4/2014 61 4.2 tính giá thành sản phẩm áo Jacket trong tháng 4/2014 61 4.3 Giá bán sản phẩm áo Jacket ở TT khu vực ĐBSH của công ty và đối thủ 62 4.4 Kết quả phân tích về giá sản phẩm áo Jacket của công ty và đối thủ 63 4.5 Kết quả phân tích về chất lượng áo Jacket của công ty và đối thủ 66 4.6 Danh mục sản phẩm áo Jacket của công ty May II- HY tiêu thụ ở thị
4.14 Hệ thống mạng lưới tiêu thụ sản phẩm trên thị trường khu vực ĐBSH
4.15 Kết quả phân tích về hệ thống phân phối áo Jacket của công ty và đối thủ 85 4.16 Tổng hợp phiếu điều tra về đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm áo
4.17 Ma trận các yếu tố bên trong (IFE) của công ty và đối thủ trên thị
Trang 104.19 Cơ cấu lao động của công ty và đối thủ 92 4.20 Doanh thu tiêu thụ sản phẩm áo Jacket trên thị trường khu vực ĐBSH
4.21 Lợi nhuận từ sản phẩm áo Jacket trên thị trường khu vực ĐBSH của
4.22 Bảng giá quảng cáo trên Google hiển thị tại vị trí Top 3 103
Trang 11DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Các nội dung chủ yếu của năng lực cạnh tranh sản phẩm 14
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy của Công ty CP May II- Hưng Yên 49
Sơ đồ 3.2 Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất của công ty 51
Sơ đồ 4.1 Mạng lưới bán hàng của công ty CP May II- Hưng Yên 84
Hình 3.2 Khung phân tích năng lực cạnh tranh sản phẩm của công ty 55
Biểu đồ 4.1 Thị phần áo jacket của công ty và của đối thủ trên thị trường
Trang 12
1 MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Một doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ, dù mới thành lập hay đã thành lập từ lâu, dù mạnh hay yếu muốn tồn tại được đều phải có năng lực cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh về sản phẩm Những doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh sản phẩm yếu, trong thời gian dài không tạo ra được lợi thế cạnh tranh sản phẩm ắt sản phẩm đó sẽ ngừng sản xuất hay bị thị trường đào thải Ngay cả đối với những doanh nghiệp đã giành thắng lợi, có vị thế tốt trong cạnh tranh sản phẩm hiện tại thì cũng rất có thể bị bại trong tương lai nếu không chủ động nâng cao hơn nữa khả năng cạnh tranh sản phẩm của mình
Công ty Cổ phần May II- Hưng Yên là một công ty mới cổ phần, song
đã từng bước khẳng định được chỗ đứng của mình trên thị trường Cũng giống như bất kỳ một công ty nào, vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm là rất cần thiết Đặc biệt là trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập như ngày nay tại Việt Nam Doanh nghiệp đang phải đối diện với những vấn đề rất khó khăn về công nghệ, năng lực tài chính, đội ngũ lao động, năng lực quản lý… Thực tế doanh nghiệp đang bộc lộ những hạn chế và khiếm khuyết trong vấn đề làm thế nào để tăng khả năng cạnh tranh sản phẩm của mình so với sản phẩm cùng loại của các doanh nghiệp khác trong ngành
Năng lực cạnh tranh cho sản phẩm là mục tiêu cơ bản của sản xuất, kinh doanh, có sản phẩm tốt, thương hiệu tốt thì uy tín của nhà sản xuất mới
có chỗ đứng trên thị trường cho sản phẩm của mình và đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Do đó để nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm của mình thì các công
ty may mặc trong nước nói chung và công ty Cổ phần May II- Hưng Yên nói riêng cần nâng cao chất lượng sản phẩm, phát triển chủng loại, mẫu mã, bao
bì sản phẩm và tăng cường cạnh tranh qua giá sản phẩm, hệ thống phân phối
Trang 13và xúc tiến bán hàng
Để giải quyết vấn đề trên và đưa sản phẩm áo Jacket của công ty Cổ phần May II- Hưng Yên vươn lên trong quá trình cạnh tranh và hội nhập, việc phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm cạnh tranh cũng như đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm là rất quan trọng và cấp thiết Với tinh thần xây dựng để giúp doanh nghiệp vững bước phát triển
sản phẩm, tác giả đã chọn đề tài nghiên “Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm áo Jacket của công ty Cổ phần May II- Hưng Yên trên thị trường khu vực Đồng Bằng Sông Hồng” với hy vọng đóng góp thêm vào việc nâng
cao năng lực cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp trong thời kỳ mới
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm áo Jacket của công ty Cổ phần May II- Hưng Yên, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm áo Jacket cho công ty trong thời gian tới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp may nói riêng
- Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm áo Jacket của công
ty Cổ phần May II- Hưng Yên với một số đối thủ cạnh tranh trực tiếp trong ngành ở thị trường Đồng Bằng Sông Hồng
- Đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm áo Jacket của công ty Cổ phần May II- Hưng Yên trong thời gian tới
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu năng lực cạnh tranh sản phẩm áo Jacket của công ty Cổ phần May II- Hưng Yên trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh
Trang 141.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu năng lực cạnh tranh sản phẩm áo Jacket về: giá bán sản phẩm, sự khác biệt, tập trung hóa thị trường, hợp tác của công ty Cổ phần May II- Hưng Yên trên thị trường khu vực Đồng Bằng Sông Hồng
- Về không gian: Nghiên cứu năng lực cạnh tranh sản phẩm áo Jacket tại công ty Cổ phần May II- Hưng Yên và một số đối thủ cạnh tranh chính trên địa bàn khu vực Đồng Bằng Sông Hồng
- Về thời gian:
Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 3/2013 đến tháng 5/2015
Thời gian lấy số liệu: Sơ cấp: Từ năm 2012- 2014
Thứ cấp: Năm 2014
Trang 152 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO NĂNG
LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM
2.1 Cơ sở lý luận về nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm
2.1.1 Các khái niệm
2.1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh
Cạnh tranh luôn tồn tại không chỉ trong tự nhiên giữa các loài để dành lấy sự sống, mà cạnh tranh còn diễn ra gay gắt, quyết liệt hơn trong xã hội loài người Cạnh tranh diễn ra trên mọi lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế Và cạnh tranh là hoạt động không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường hiện nay Có rất nhiều khái niệm về cạnh tranh
Trường phái tư sản cổ điển quan niệm: “Cạnh tranh là một quá trình bao gồm các hành vi phản ứng Quá trình này tạo ra cho mỗi thành viên trong thị trường một dư địa hoạt động nhất định và mang lại cho mỗi thành viên một phần xứng đáng so với năng lực của mình” Theo quan niệm này, cạnh tranh chủ yếu là cạnh tranh về giá, vì thế lý thuyết về giá cả gắn chặt với lý thuyết cạnh tranh ( Nguyễn Xuân Quảng, 2005)
Theo C.Mác “Cạnh tranh là sự ganh đua gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và trong tiêu thụ để đạt được những lợi nhuận siêu ngạch”(D.Begg, S.Fischer và R.Dornbusch, 1992) Theo từ điển kinh doanh của Anh (1992) khái niệm cạnh tranh được định nghĩa như sau: “Cạnh tranh (competion) là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình” Trong kinh doanh cạnh tranh là vấn đề giành lợi thế về giá cả hàng hóa, dịch vụ để giành lợi nhuận cao cho các chủ thể kinh tế Có thể nói rằng, mục đích trực tiếp của hoạt động cạnh tranh trên thị trường của các chủ thể là giành lợi thế để hạ thấp giá các yếu tố đầu vào, và nâng giá đầu ra sao cho mức chi phí là thấp
Trang 16nhất, lợi nhuận là cao nhất Cạnh tranh giúp phân bổ các nguồn lực xã hội một cách tối ưu nhất Cạnh tranh là yếu tố thúc đẩy quá trình tích lũy và tập trung
tư bản không giống nhau ở các doanh nghiệp Cạnh tranh còn là môi trường phát triển mạnh mẽ cho các doanh nghiệp có khả năng thích nghi cao, những doanh nghiệp có khả năng thích nghi với điều kiện thị trường thấp sẽ bị đào thải Cạnh tranh vừa là môi trường vừa là động lực cho sự phát triển
Theo từ điển bách khoa Việt Nam (tập 1), thì: “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ trị trường có lợi nhất”
Do cách tiếp cận khác nhau, nên thực tế có nhiều quan niệm khác nhau
về cạnh tranh Kế thừa các quan điểm của các nhà nghiên cứu theo tác giả
phạm trù cạnh tranh được hiểu: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các
chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn
để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất
(Nguyễn Xuân Quảng, 2005)
Cạnh tranh hàng hóa là hình thức đấu tranh gay gắt giữa những người sản xuất hàng hóa dựa trên chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, nhằm giành giật những điều kiện có lợi nhất về sản xuất và tiêu thụ hàng hóa
Mục tiêu của cạnh tranh là giành lợi ích, lợi nhuận tối đa, bảo đảm sự
tồn tại và phát triển của chủ thể tham gia cạnh tranh Tuy nhiên, điều kiện của
thị trường để thực hiện mục tiêu đó lại có hạn Do đó, người sản xuất kinh doanh phải tìm cách giành khách hàng bằng sản phẩm, dịch vụ tốt, giá cả hợp
lý và tạo được uy tín với khách hàng
Như vậy, cạnh tranh hàng hóa là quy luật khách quan của nền sản xuất hàng hóa, nền sản xuất càng phát triển, hàng hóa bán ra càng nhiều, số lượng người tiêu dùng càng đông thì cạnh tranh càng gay gắt, quyết liệt Kết quả của
Trang 17cạnh tranh sẽ loại dần những hàng hóa kém chất lượng không được khách hàng chấp nhận và tạo điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của những hàng hóa có chất lượng tốt Có thể nói cạnh tranh giữa những người bán quyết liệt
sẽ có lợi hơn cho khách hàng, được sử dụng hàng hóa tốt với giá rẻ, được
nhận những dịch vụ tốt trước, trong và sau bán
Trong phạm vi của đề tài ta sẽ xem xét tới cạnh tranh hàng hóa chi tiết hơn
Vai trò của cạnh tranh hàng hóa
Cạnh tranh hàng hóa là động lực cho sự phát triển kinh tế Một mặt nó giúp loại bỏ những doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả, mặt khác nó tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả có cơ hội phát triển Cạnh tranh hàng hóa rút ngắn khoảng cách từ sản xuất tới tiêu dùng, do cạnh tranh ngày càng quyết liệt các doanh nghiệp phải tìm hiểu nghiên cứu nhu cầu để có thể đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất Doanh nghiệp sẽ tìm mọi cách để thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng
Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải cắt giảm chi phí sản xuất sản phẩm, tăng năng suất nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng, cũng như cung cấp cho khách hàng những sản phẩm tốt với giá rẻ hơn đối thủ cạnh tranh Để đạt được mục tiêu, doanh nghiệp buộc phải sử dụng hợp lý nguyên liệu đầu vào, tránh lãng phí Đồng thời đổi mới công nghệ sản xuất, mua sắm dây chuyền công nghệ hiện đại nhằm tăng năng suất chất lượng sản phẩm Như vậy, cạnh tranh hàng hóa buộc các doanh nghiệp phải sử dụng tài nguyên
có hiệu quả hơn và phải áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất
Phân loại cạnh tranh
Căn cứ vào các chủ thể tham gia cạnh tranh: cạnh tranh giữa người bán với nhau, giữa những người mua và người bán và giữa người mua với người mua
Trang 18Căn cứ vào phạm vi địa lý: cạnh tranh trong nước và cạnh tranh quốc tế hoặc cạnh tranh giữa các vùng với nhau
Căn cứ vào phạm vi kinh tế: cạnh tranh nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành Ngày nay phát triển cách phân loại trên các nhà kinh tế học chia thành hai hình thức là cạnh tranh dọc và cạnh tranh ngang
Cạnh tranh sản phẩm là một bộ phận của cạnh tranh kinh tế, do vậy những tiền đề xây dựng khái niệm cạnh tranh kinh tế cũng có giá trị như là những tiền đề để nghiên cứu khái niệm cạnh tranh sản phẩm
2.1.1.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Khi nói đến khái niệm năng lực cạnh tranh người ta rất khó có thể định nghĩa chung chung, thông thường định về năng lực cạch tranh thường sẽ định nghĩa cụ thể hơn về phạm vi cũng như cấp độ
Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã lựa chọn một định nghĩa cố gắng kết hợp cho
các doanh nghiệp, ngành và quốc gia như sau: “Sức cạnh tranh là khả năng
của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế” Định nghĩa này đã
phản ánh được khái niệm cạnh tranh của các doanh nghiệp, tạo việc làm, tăng thu nhập và mức sống nhân dân
Năng lực cạnh tranh (còn gọi là sức cạnh tranh; Anh: Competitive Power) là khả năng giành được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn bộ thị phần của đồng nghiệp (Từ điển thuật ngữ kinh tế học, 2001)
Các cấp độ năng lực cạnh tranh:
Năng lực cạnh tranh thường được nhìn nhận dưới ba cấp độ đó là năng lực cạnh tranh của quốc gia, năng lực cạnh tranh của ngành (doanh nghiệp) và năng lực cạnh tranh của sản phẩm Mỗi cấp độ đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong đó năng lực cạnh tranh sản phẩm là cốt lõi tạo nên sức cạnh
Trang 19tranh của ngành (doanh nghiệp), và tổng hợp lại góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia
Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia: Theo định nghĩa của WEF (1997)
thì: Năng lực cạnh tranh của một quốc gia được hiểu là “sức mạnh thể hiện trong hiệu quả kinh tế vĩ mô Đó là năng lực của một nền kinh tế đạt được và duy trì mức tăng trưởng bền vững, thu hút đầu tư, bảo đảm ổn định kinh tế- xã hội, nâng cao đời sống người dân trên cơ sở chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác”
Năng lực cạnh tranh cấp ngành (doanh nghiệp): Năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp dựa trên cơ sở chi phí thấp, sản phẩm tốt, công nghệ cao Một nhà sản xuất được gọi là nhà sản xuất có khả năng cạnh tranh nếu có khả năng cung ứng sản phẩm chất lượng cao với mức giá thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh (Chu Văn Cấp, 2003)
Năng lực cạnh tranh trong kinh doanh của doanh nghiệp là tổng hợp các yếu tố để xác lập vị thế so sánh tương đối hay tuyệt đối, tốc độ tăng trưởng, phát triển bền vững, ổn định của doanh nghiệp trong mối quan hệ so sánh với các đối thủ cạnh tranh trên cùng một môi trường và thị trường cạnh tranh xác định trong một khoảng thời gian nhất định
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa:Là khả năng đáp ứng nhu
cầu của khách hàng về chất lượng, giá cả, tính độc đáo hay sự khác biệt, thương hiệu, bao bì hơn hẳn so với sản phẩm hàng hóa cùng loại Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa quy định toàn bộ marketing- mix khi định giá Nếu sản phẩm được định vị dựa trên những yếu tố phi giá cả, thì các quyết định về chất lượng, quảng cáo và phân phối sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ lên giá cả Nếu giá cả là một yếu tố định vị chính yếu thì giá cả sẽ ảnh hưởng mạnh lên những quyết định đối với các yếu tố khác của marketing- mix ( Fairbanks, M.And Lidsay, 2004)
Trang 20Trong đề tài này xét tới năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Theo quan niệm truyền thống, sản phẩm là tổng hợp các đặc tính lý học, hóa học, sinh học, có thể quan sát được dùng để thỏa mãn những nhu cầu cụ thể của đời sống
Theo quan niệm marketing, sản phẩm là thứ có khả năng thỏa mãn nhu cầu mong muốn của khách hàng, cống hiến những lợi ích cho họ và có thể đưa ra chào bán trên thị trường với khả năng thu hút chú ý, mua sắm và tiêu dùng Theo đó, một sản phẩm được cấu tạo và hình thành từ hai yếu tố cơ bản: Yếu tố vật chất và yếu tố phi vật chất (Các Mác, 1978)
Một sản phẩm được coi là có năng lực cạnh tranh khi nó đáp ứng tốt các yếu tố: Chất lượng sản phẩm, giá cả sản phẩm, thời gian giao hàng và dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng Với sản phẩm thuần túy thì không thể tự cạnh tranh với nhau, chỉ có sự cạnh tranh của các chủ thể thông qua sản phẩm Nghĩa là doanh nghiệp này cạnh tranh với doanh nghiệp khác, quốc gia này cạnh tranh với quốc gia khác Vì vậy, nghiên cứu khả năng cạnh tranh của sản phẩm tức là đang gián tiếp nghiên cứu khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Theo nghĩa hẹp quan niệm năng lực cạnh tranh của sản phẩm là sự biểu hiện “tính trội” của sản phẩm về chất lượng, giá cả và hình thức lưu chuyển của
nó trên thị trường, tạo nên sức hấp dẫn và thuận tiện cho khách hàng trong việc tiếp cận và sử dụng nó Năng lực cạnh tranh có thể được hiểu là khả năng giành lợi thế, chiếm ưu thế trong cạnh tranh của sản phẩm so với các sản phẩm cùng loại trên cùng đoạn thị trường tại cùng thời điểm ( Các Mác, 1978)
Theo nghĩa rộng, năng lực cạnh tranh sản phẩm, ngoài những yếu tố gắn với năng lực cạnh tranh sản phẩm theo nghĩa hẹp, còn phải xem các yếu
tố khác như các điều kiện sản xuất kinh doanh, các điều kiện gắn với tiêu thụ sản phẩm, các công cụ và biện pháp mà các chủ thể dùng có hiệu quả trong cạnh tranh với nhau nhằm chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cùng các thuận lợi khác cho mình (Các Mác, 1978)
Trang 21Với cách đặt vấn đề trên có thể hiểu khái quát năng lực cạnh tranh sản phẩm theo nghĩa rộng là: Tổng thể các yếu tố gắn trực tiếp với sản phẩm cùng với các điều kiện, công cụ và biện pháp cấu thành năng lực cạnh tranh được chủ thể dùng trong ganh đua với nhau nhằm chiếm lĩnh thị trường, giành khách hàng và đem lại nhiều lợi ích cho chủ thể tham gia cạnh tranh
Có thể khái quát nội dung năng lực cạnh tranh sản phẩm qua 14 chữ:
chất lượng; thông tin; nhanh; mới; nhiều; linh hoạt; lòng tin; nổi tiếng; thúc đẩy (khoa học kỹ thuật và quản lý); liên doanh; độc đáo; mạo hiểm; và bán chịu để thắng trong cạnh tranh (Nguyễn Xuân Quảng, 2005)
Mối quan hệ năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa được định đoạt bởi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Sẽ không có năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa cao khi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm đó thấp Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là hai phạm trù khác nhau nhưng có quan hệ hữu cơ với nhau Năng lực cạnh tranh của sản phẩm có được do năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tạo ra Nhưng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không chỉ do năng lực cạnh tranh của sản phẩm, mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa lại có ảnh hưởng lớn tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng một doanh nghiệp tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các hàng hóa cũng như năng lực của doanh nghiệp để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh các thị trường mới
Trong quá trình kinh doanh có nhiều yếu tố tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như các yếu tố do doanh nghiệp chi phối đó là chiến lược cạnh tranh, đào tạo lao động và công tác Marketing Ngoài ra, còn có
Trang 22các yếu tố thuộc môi trường ngoài doanh nghiệp như đối thủ cạnh tranh, chính sách đầu tư, chính sách thương mại của đối thủ,
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm được nhận biết qua lợi thế cạnh tranh của sản phẩm đó với các sản phẩm khác cùng loại Lợi thế của hàng hóa bao gồm nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài tác động đến Đó là giá cả, chất lượng, hình thức, chủng loại hàng hóa, Qua khái niệm trên, có thể thấy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa có mối quan hệ mật thiết, phụ thuộc vào nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao phải có hàng hóa có năng lực cạnh tranh cao Như vậy, năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa là cốt lõi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
2.1.1.3 Khái niệm nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm
Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm là tìm ra những biện pháp tác động vào quá trình sản xuất và lưu thông sản phẩm, làm cho nó có “tính vượt trội” so với sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh (nếu nó chưa có năng lực cạnh tranh) hoặc làm tăng thêm sức mạnh cho sản phẩm, làm cho “tính trội” của
nó ở mức tốt hơn, cao hơn trên thị trường tiêu thụ (nếu sản phẩm đã có năng lực cạnh tranh nhưng năng lực cạnh tranh còn yếu) Nói cách khác: nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm là sử dụng một số yếu tố tác động nhằm khắc phục những tồn tại được coi là trở ngại làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm đồng thời hoàn thiện những nhân tố làm tăng tính trội của nó so với đối thủ khác (chứ không phải so với chính nó), nhằm làm cho thị phần của sản phẩm tăng lên so với thị phần của đối thủ cạnh tranh (Nguyễn Bách Khoa, 2006)
Quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm khác với việc hoàn thiện sản phẩm ở chỗ: hoàn thiện sản phẩm chỉ là quá trình làm cho sản phẩm đó trở nên tốt hơn, có tính mới hơn so với chính nó ở những thời điểm khác nhau Vì vậy, có trường hợp sản phẩm không hoàn thiện nhưng lại
có có sức cạnh tranh do nó có tính trội hơn tương đối khi so sánh một cách tương đối với sản phẩm khác
Trang 23Vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm là việc doanh nghiệp thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao hoặc cải thiện nội dung cấu thành năng lực cạnh tranh sản phẩm nhằm tăng thị phần, vị thế cạnh tranh để tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp
2.1.2 Vai trò, ý nghĩa của nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm trong doanh nghiệp
2.1.2.1 Vai trò nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm
Nâng cao năng lực cạnh tranh làm cho giá cả sản phẩm giảm Trên thị trường không chỉ có một nhà cung cấp sản phẩm mà còn có nhiều nhà cung cấp sản phẩm Với cùng một loại sản phẩm hoặc cùng chủng loại sản phẩm với các mẫu mã, chất lượng, tính năng, công dụng như nhau, doanh nghiệp nào bán ra với giá rẻ hơn các đối thủ thì sẽ chiếm lĩnh được khách hàng Bởi
vì người tiêu dùng luôn tìm đến nơi có sản phẩm chất lượng tốt, giá rẻ để mua Và ngược lại, doanh nghiệp nào bán sản phẩm với giá cao sẽ bán chậm hoặc sẽ không bán được sản phẩm Vì vậy, để bán được sản phẩm các doanh nghiệp thường cạnh tranh với nhau và đẩy giá sản phẩm giảm xuống Do vậy, các doanh nghiệp cần phải tối ưu các yếu tố đầu vào để giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, từ đó định ra giá bán sản phẩm thấp hơn đối thủ cạnh tranh Nhờ có nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm mà nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng được đáp ứng và thỏa mãn Do trên thị trường có nhiều nhà sản xuất, doanh nghiệp cung cấp nhiều sản phẩm với chủng loại, mẫu mã khác nhau nên có kích thích nhu cầu tiêu dùng và đáp ứng ngày càng đầy đủ nhu cầu của người tiêu dùng Người tiêu dùng được quyền chọn mua những sản phẩm chất lượng tốt, giá rẻ, đáp ứng được nhu cầu của mình Hơn nữa, để tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, mẫu mã đẹp đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và tăng tính cạnh tranh với đối thủ, các doanh nghiệp phải thay đổi dây truyền sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất Người sản xuất nào có kỹ thuật và công nghệ tiên tiến sẽ thu được lợi nhuận siêu ngạch Do đó, cạnh tranh là áp lực đối với người sản
Trang 24xuất, buộc họ phải cải tiến kỹ thuật, nhờ đó kỹ thuật và công nghệ sản xuất của toàn xã hội ngày càng phát triển
Để nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm buộc các doanh nghiệp phải giữ “chữ tín” với khách hàng và uy tín của doanh nghiệp ngày càng tăng lên Trên thị trường xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh, chỉ doanh nghiệp nào cung cấp sản phẩm chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, giao hàng đúng số lượng, đúng địa điểm và đúng thời hạn, dịch vụ bảo hành, chăm sóc khách hàng tốt sẽ dự trữ được “chữ tín” với khách hàng và uy tín của doanh nghiệp ngày càng tăng và
sẽ chiếm lĩnh được thị trường Ngược lại, doanh nghiệp nào không giữ được
“chữ tín” với khách hàng thì uy tín của doanh nghiệp đó sẽ giảm, người tiêu dùng không còn tin tưởng vào tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp đó nữa Doanh nghiệp đó sẽ không có chỗ đứng trên thị trường
Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm có vai trò sắp xếp lại thị trường Trên thị trường bây giờ không chỉ có một nhà cung ứng mà có nhiều nhà cung ứng sản phẩm Các nhà cung ứng này giành giật nhau thị phần trên thị trường Để có thể tồn tại trên thị trường các doanh nghiệp cần phải xác định mình kinh doanh sản phẩm gì và tập trung vào đối tượng khách hàng nào
để khai thác tốt đối tượng khách hàng đó và dần chiếm lĩnh thị trường
Tuy nhiên, nhu cầu của khách hàng là đa dạng và nguồn lực doanh nghiệp là có hạn nên mỗi doanh nghiệp không thể đáp ứng hết tất cả nhu cầu của khách hàng và do đó không thể chiếm lĩnh hết thị trường mà chỉ khai thác được một phần của thị trường
2.1.2.2 Ý nghĩa nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm
Nâng cao năng lực cạnh tranh đối với từng doanh nghiệp mang ý nghĩa sống còn Nó giúp doanh nghiệp phát huy được nội lực của mình, phát huy được những lợi thế cạnh tranh của bản thân để có những quyết định sáng suốt góp phần vào sự phát triển bền vững của công ty
Nâng cao năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với việc tăng thị phần cho doanh nghiệp, do đó doanh nghiệp sẽ nắm thế chủ động trong việc tìm
Trang 25kiếm nhu cầu, thoả mãn nhu cầu và không dễ dàng bị các đối thủ cạnh tranh điều khiển Nâng cao năng lực cạnh tranh dựa trên cơ sở giảm chi phí kinh doanh làm tăng số lượng sản phẩm bán ra và tăng lợi nhuận cho công ty Phần lợi nhuận giúp doanh nghiệp tiến trước đối thủ cạnh tranh một bước, tăng thêm động lực cho toàn thể nhân viên "thành công tiếp nối thành công"
Nâng cao năng lực cạnh tranh là động lực giúp công ty có thể tiếp tục tồn tại, phát triển và vươn xa hơn tại thị trường trong và ngoài nước Công ty càng có nhiều nỗ lực hơn để có thể tạo ra những sản phẩm tốt hơn cho khách hàng, giúp khách hàng có nhiều sự lựa chọn hơn
Ngoài ra việc nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với bản thân doanh nghiệp mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh đối với nền kinh tế quốc dân Một nền kinh tế năng động, phát triền là một nền kinh tế có sức cạnh tranh lớn Có năng lực cạnh tranh lớn giúp nền kinh tế quốc dân phát huy được nội lực của toàn bộ các tế bào
Vì vậy, có thể đưa ra nhận xét rằng năng lực cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp có ý nghĩa sống còn và tác động tương hỗ với chính
doanh nghiệp và với cả toàn bộ nền kinh tế quốc dân
2.1.3 Nội dung năng lực cạnh tranh sản phẩm
Năng lực cạnh tranh sản phẩm có rất nhiều nội dung Tác giả đi nghiên cứu cụ thể một số nội dung chủ yếu sau đây:
Giá
Số lượng
Chất lượng
Khác biệt Tập trung Hình thức, mẫu mã,
Dịch vụ
Hợp tác (Liên kết)
Sơ đồ 2.1: Các nội dung chủ yếu của năng lực cạnh tranh sản phẩm
Trang 262.1.3.1 Giá bán sản phẩm
Giá cả là biểu hiện bằng tiền giá trị của hàng hóa Nó thể hiện mối quan
hệ trực tiếp giữa người mua và người bán Đối với doanh nghiệp giá cả trực tiếp tạo ra doanh thu và lợi nhuận thực tế Còn đối với người mua, giá hàng hóa luôn được coi là chỉ số đầu tiên để họ đánh giá phần “được” và chi phí phải bỏ ra để sở hữu và tiêu dùng hàng hóa Vì vậy, những quyết định về giá luôn giữ vai trò quan trọng và phức tạp nhất mà doanh nghiệp phải đối mặt khi soạn thảo các chiến lược cạnh tranh của mình
Giá bán trên một đơn vị sản phẩm được xem là một chỉ tiêu quan trọng đối với khả năng cạnh tranh sản phẩm trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, giá bán là yếu tố quyết định đến mức tiêu dùng sản phẩm trên thị trường, khách hàng sẽ chọn sản phẩm của doanh nghiệp có giá bán thấp hơn các sản phẩm khác cùng loại của các doanh nghiệp khác
Doanh nghiệp cần có chính sách giá hợp lý cho sản phẩm của mình để sao cho có thể bán sản phẩm chất lượng tốt với giá rẻ Để đạt được mục tiêu trên doanh nghiệp cần phải cắt giảm những chi phí không cần thiết, sao cho giá sản xuất sản phẩm thấp, như vậy doanh nghiệp mới có thể hạ giá thành sản phẩm
Giá thành hàng hóa là giá trị của tất cả các yếu tố đầu vào hình thành nên hàng hóa như chi phí nguyên vật liêu, chi phí lương công nhân sản xuất…trên cơ sở đó xác định giá cả của hàng hóa
Muốn giá cả thấp doanh nghiệp phải tìm cách hạ giá thành tức là phải tận dụng hợp lý các nguồn lực sẵn có, đồng thời đổi mới thiết bị và công nghệ sản xuất, nâng cao hiệu quả quản lý…có như vậy mới hạ giá thành từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa
Giá bán = Giá thành sản xuất + Chi phí liên quan + Lợi nhuận dự kiến Trong nền kinh tế thị trường, khách hàng có quyền lựa chọn cho mình những hàng hóa tốt nhất và cùng một loại hàng hóa thì chắc chắn họ sẽ lựa
Trang 27chọn hàng có giá thấp hơn Vì vậy, giá là công cụ cạnh tranh hữu hiệu trên thị trường Để chiếm ưu thế trong cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải có các chính sách giá thích hợp cho từng loại hàng hóa, từng giai đoạn trong chu kỳ sống của hàng hóa hay tùy thuộc vào đặc điểm của từng vùng thị trường
Tóm lại, giá cả là một công cụ quan trọng trong cạnh tranh sản phẩm, doanh nghiệp phải có những biện pháp hợp lý nhằm tiết kiệm chi phí hạ thấp giá thành của sản phẩm Từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm của mình
2.1.3.2 Sự khác biệt về sản phẩm
a Chất lượng sản phẩm
Chất lượng của sản phẩm có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm và cũng là chỉ tiêu quan trọng đầu tiên được sử dụng để đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm Chất lượng sản phẩm được hình thành
từ khâu thiết kế tới tổ chức sản xuất, tiêu thụ và sau tiêu thụ sản phẩm Chất lượng sản phẩm chịu tác động của các yếu tố như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, trình độ tay nghề của người lao động chất lượng sản phẩm không chỉ thể hiện ở việc đảm bảo thông số kỹ thuật mà còn thể hiện ở việc phù hợp
và đáp ứng tốt mọi nhu cầu của khách hàng, đem lại cho khách hàng độ thỏa mãn cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh
Một sản phẩm có chất lượng cao ngoài việc đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng thì cần có thêm những chất lượng vượt trội khác so với các đối thủ cạnh tranh như chất lượng các nguyên liệu đầu vào thể hiện ở ưu thế về chất lượng vải, chỉ, cúc, khóa,
Chất lượng sản phẩm được nâng cao dẫn tới tăng tốc độ tiêu thụ, tăng khối lượng hàng hóa bán ra và kéo dài chu kỳ sống của hàng hóa, từ đó tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Khi hàng hóa có chất lượng cao dẫn tới tăng uy tín của doanh nghiệp từ đó mở rộng thị phần doanh nghiệp góp phần tăng sức cạnh tranh của hàng hóa
Trang 28Vì vậy, chất lượng sản phẩm là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với một doanh nghiệp bởi vì, chất lượng sản phẩm thấp đồng nghĩa với việc giảm uy tín, mất khách hàng và nhanh chóng phá sản
Để tăng cường khả năng cạnh tranh và thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện đại cạnh tranh gay gắt cần hiểu rõ và đúng đắn hơn về sản phẩm Sản phẩm là sự thỏa mãn nhu cầu nào đó của khách hàng, một sản phẩm được xác định theo cách nhìn của nhà doanh nghiệp chưa hẳn đã là một sản phẩm mà khách hàng mong muốn Một sản phẩm tốt theo khách hàng là một sản phẩm có chất lượng “vừa đủ” Khi đưa một sản phẩm nào đó ra thị trường doanh nghiệp cần nghiên cứu nhu cầu của khách hàng, để đưa ra những sản phẩm phù hợp với nhu cầu của khách hàng
mà doanh nghiệp muốn nhắm tới Bán cái thị trường cần chứ không phải bán cái doanh nghiệp có Sản xuất một sản phẩm có chất lượng tốt phải theo đánh giá của khách hàng
b Số lượng sản phẩm
Đây là nhân tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến lợi nhuận của doanh nghiệp trong từng thời kỳ kinh doanh Khi sản lượng thay đổi không những thay đổi lợi nhuận, chi phí biến đổi mà còn ảnh hưởng tới quy mô doanh nghiệp và tới khả năng đáp ứng lượng cầu của khách hàng Nó cũng thể hiện tiềm lực và thương hiệu của công ty trong cạnh tranh
c Mức độ hấp dẫn của sản phẩm: hình thức, kiểu dáng, mẫu mã, màu sắc, bao bì, nhãn hiệu, tính độc đáo tới khách hàng
Một sản phẩm chỉ có chất lượng tốt chưa phải là một sản phẩm hoàn thiện, nó sẽ chỉ đáp ứng, thỏa mãn một nhu cầu của khách hàng mà thôi Trong đó, nhu cầu của khách hàng ngày càng phong phú đa dạng theo sự phát triển của xã hội Khi khách hàng mua sản phẩm ngoài mục đích giá trị sử dụng của sản phẩm, khách hàng còn có nhu cầu thể hiện địa vị khi sử dụng sản phẩm Mẫu mã sản phẩm cũng như kiểu dáng giúp khách hàng thỏa mãn
Trang 29nhu cầu này, một chiếc xe sang trọng, một sản phẩm có bao bì trang trí bắt mắt sang trọng sẽ được khách hàng lựa chọn thay vì phải lựa chọn sản phẩm không được đẹp mặc dù chất lượng có thể hơn hoặc ngang bằng Mức độ hấp dẫn tạo ra sức cạnh tranh của hàng hóa vì nó mang lại nhưng đặc thù riêng biệt của hàng hóa này so với hàng hóa khác Nhu cầu con người càng đa dạng, hàng hóa phải đáp ứng được tính đa dạng trong nhu cầu đó thể hiện những giá trị, yếu tố trong cuộc sống của khách hàng Đặc biệt, với sản phẩm may mặc tính thời trang nhu cầu về kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm rất cao Chính sự khác biệt của hàng hóa này so với hàng hóa khác đem lại những giá trị khác nhau cho những hàng hóa khác nhau Sự khác biệt này tạo ra sức cạnh tranh rất lớn cho hàng hóa Vì vậy, bên cạnh công tác nâng cao chất lượng sản phẩm, doanh nghiệp cần chú ý tới kiểu dáng, mẫu mã hình thức bên trong của sản phẩm tạo nên tính độc đáo hấp dẫn của sản phẩm, sự khác biệt hóa theo hướng tích cực nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh so với sản phẩm của đối thủ
d Dịch vụ
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh mang tính cạnh tranh cao như hiện nay, vai trò của các dịch vụ kèm theo hàng hóa ngày càng quan trọng Nó bao gồm các hoạt động trong và sau bán hàng như vận chuyển, bao gói, lắp đặt, bảo dưỡng, bảo hảnh, tư vấn Cải tiến dịch vụ cũng chính là nâng cao chất lượng hàng hóa của doanh nghiệp Do đó phát triển hoạt động dịch vụ là rất cần thiết, nó đáp ứng mục tiêu phục vụ khách hàng tốt hơn, tạo ra sự tín nhiệm, sự gắn bó của khách hàng đối với doanh nghiệp đồng thời giữ gìn uy tín của doanh nghiệp Từ đó doanh nghiệp có thể thu hút được khách hàng, tăng khả năng cạnh tranh hàng hóa của mình trên thị trường
e Uy tín thương hiệu sản phẩm trên thị trường
Uy tính thương hiệu sản phẩm được hình thành dựa trên chất lượng, các dịch vụ sau bán hàng, thời gian giao hàng,… Một thương hiệu sản phẩm có
uy tín với khách hàng thì đồng nghĩa với việc có lợi thế trong cạnh tranh
Trang 30Khách hàng khi đó tin rằng họ đang tiêu dùng một hàng hóa có chất lượng cao, các dịch vụ kèm theo tốt…Do đó, hàng hóa đưa ra thị trường có thể nhanh chóng thu hút được người tiêu dùng Điều này sẽ giúp doanh nghiệp giảm một phần chi phí cho việc thu hút khách hàng, khách hàng sẽ trung thành với thương hiệu hàng hóa hơn
Thương hiệu hàng hóa có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng phát triển và năng lực cạnh tranh của một sản phẩm Thương hiệu thường gắn với sản phẩm và được sử dụng để xác định sản phẩm của từng doanh nghiệp nên khách hàng thường mua sản phẩm thông qua thương hiệu Một thương hiệu tốt đồng nghĩa với một sản phẩm tốt và ngược lại Người tiêu dùng tìm mua sản phẩm trên cơ sở các mức độ đánh giá khác nhau về hình ảnh của nhãn hiệu trên thị trường Mức độ chấp nhận thương hiệu tương ứng với mức độ chấp nhận sản phẩm của doanh nghiệp Như vậy, thương hiệu có tầm quan trọng và ảnh hưởng ngày càng lớn đến năng lực cạnh tranh của một sản phẩm
2.1.3.3 Tập trung hóa thị trường
Nhu cầu của thị trường là khổng lồ, không ai dù là những tập đoàn toàn cầu có thể đáp ứng hết
Khách hàng ngày nay phân hóa ngày càng cao theo sở thích, phong cách, thu nhập,
Một doanh nghiệp thật rất khó đủ khả năng, đủ nguồn lực phục vụ toàn
bộ thị trường Do đó, doanh nghiệp phải phân khúc thị trường, nếu không phân khúc thì không thể tạo nên những sản phẩm vừa lòng người tiêu dùng Dựa vào nguồn lực và thế mạnh riêng của mình, mỗi công ty có thể toàn tâm toàn ý tập trung mọi nguồn lực để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng Tập trung vào một phân khúc thị trường giúp cho DN có khả năng sử dụng các yếu tố nguồn lực để đáp ứng nhu cầu khách hàng, có điều kiện tốt hơn trong việc nghiên cứu các điểm mạnh, điểm yếu các đối thủ cạnh tranh, là
cơ sở định vị và thiết lập các chính sách marketing hiệu quả hơn nhằm làm
Trang 31cho việc kinh doanh thực hiện dễ dàng hơn và đem lại hiệu quả cao hơn Giúp công ty xác định rõ và nhắm đúng vào thị trường mục tiêu của họ
2.1.3.4 Hợp tác (liên kết)
Một doanh nghiệp tồn tại trong mối liên hệ nhiều chiều với các đối tượng hữu quan trong môi trường kinh doanh Trong kinh doanh thường xuất hiện nhu cầu liên kết và hợp tác giữa nhiều đối tác với nhau làm tăng khả năng cạnh tranh Khả năng liên kết và hợp tác của doanh nghiệp thể hiện ở việc nhận biết các cơ hội kinh doanh mới, lựa chọn đúng đối tác liên minh và khả năng vận hành liên minh một cách có kết quả và đạt hiệu quả cao, đạt được các mục tiêu đặt ra Khả năng liên kết và hợp tác cũng thể hiện sự linh hoạt của doanh nghiệp trong việc chủ động nắm bắt các cơ hội kinh doanh trên thương trường Nếu doanh nghiệp không thể hoặc ít có khả năng liên minh hợp tác với các đối tác khác thì sẽ bỏ qua nhiều cơ hội kinh doanh và nếu có cơ hội đó được đối thu cạnh tanh nắm được thì nó sẽ trở thành nguy cơ với doanh nghiệp
Mục đích của sự liên kết là các doanh nghiệp thực hiện sự liên kết nhằm khống chế thị trường, thu lợi nhuận độc quyền cao Thủ đoạn này bao gồm liên kết về giá nhằm bóp chẹt người tiêu dùng, liên kết về vùng tiêu thụ hay cùng nhau phân chia thị trường, liên kết về chất lượng hàng bằng cách cùng nhau giảm chất lượng hàng hóa do đó giảm chi phí đầu vào mà vẫn giữ được nguyên giá cũ, liên kết về cung cấp hàng hóa bằng thủ đoạn thống nhất không cung cấp hàng hóa cho một tổ chức thương mại nào đó nhằm gây áp lực về giá
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Năng lực cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác nhau Thường người ta chia làm hai nhóm yếu tố đó là yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài
Trang 322.1.4.1.Các yếu tố bên ngoài
Đây là nhóm nhân tố vĩ mô có tác động mạnh mẽ tới hoạt động cũng như năng lực cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp Có thể kể đến là: Nhà cung cấp; đối thủ cạnh tranh trên thị trường; khách hàng; chính sách Nhà nước,địa phương vùng
a Nhà cung cấp
Các nhà cung ứng bao gồm các nhà cung cấp các yếu tố đầu vào cho hoạt động của một số công ty, như các nhà cung cấp vốn, nguyên vật liệu cho sản xuất, nhân công, Các nhà cung ứng này có thể gây một áp lực khá mạnh tới hoạt động của công ty Cho nên, việc phân tích và tìm hiểu các nhà cung ứng là vấn đề quan trọng trong quá trình phân tích cạnh tranh
Các nhà cung cấp nguyên, vật liệu cho sản xuất: Nguyên liệu, vật
liệu, phụ liệu là các đối tượng sản xuất, vì thế nó sẽ quyết định tới chất lượng
và mẫu mã sản phẩm Các yếu tố này có tác động tới năng lực cạnh tranh của sản phẩm vì một trong các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh cho sản phẩm
là chất lượng sản phẩm Những nhà cung ứng này có thể gây khó khăn cho doanh nghiệp bằng cách tăng giá cung ứng hoặc giảm mạnh chất lượng các yếu tố cung ứng Yếu tố làm tăng thế mạnh của các nhà cung ứng cũng tương
tự như yếu tố làm tăng thế mạnh của khách hàng Ví dụ như yếu tố số lượng người cung cấp ít, không có mặt hàng thay thế khác và không có nhà cung ứng chào bán sản phẩm có tính khác biệt Nếu nhà cung ứng có điều kiện thuận lợi như vậy thì các doanh nghiệp mua hàng cần cải thiện quan hệ của họ thông qua việc tác động vào các yếu tố nói trên
Ngoài ra còn có các dịch vụ đi kèm bảo đảm cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra an toàn và có nhiều thuận lợi Đó là sự hợp tác của các nhà cung cấp các dịch vụ ngân hàng và bảo hiểm, để doanh nghiệp có thể mở rộng hoạt động của mình hơn nữa
Trang 33Các nhà cung cấp vốn: Nguồn cung vốn có tác dụng làm hoạt động
sản xuất kinh doanh tuần hoàn và diễn ra nhanh chóng Khi có vốn doanh nghiệp hoàn toàn có những quyết định kinh doanh kịp thời, chớp lấy cơ hội kinh doanh, thu lợi nhuận cao Giúp tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm Vì thế, dĩ nhiên doanh nghiệp sẽ có lợi thế cạnh tranh tốt hơn so với doanh nghiệp có trang thiết bị lạc hậu Đó chính là một chuỗi liên hoàn tạo nên sức mạnh về năng lực cạnh tranh sản phẩm của
doanh nghiệp trên thị trường
Cung cấp nhân lực được hiểu là nguồn cung ứng tất cả những người
tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp có được nguồn cung tốt đồng nghĩa với cơ hội lựa chọn được những nhân viên giỏi sẽ có khả năng tạo ra những sản phẩm tốt đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng
Như vậy, nhà cung cấp đóng vai trò rất quan trong trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp Nhà cung cấp có thể khẳng định quyền lực của họ bằng cách đe dọa tăng giá hay giảm chất lượng sản phẩm, dịch vụ cung ứng.Do đó, nhà cung ứng có thể chèn ép lợp nhuận sản phẩm của doanh nghiệp khi doanh nghiệp đó không có khả năng bù đắp chi phí tăng lên trong giá thành sản xuất
Trang 34phẩm, kèm theo đó là những dịch vụ đi kèm để thoả mãn tối đa nhu cầu và mong ước của khách hàng Như thế doanh nghiệp đã có những biến đổi về chất để có thể phù hợp hơn với thị trường cạnh tranh Một trong những thứ vô giá mà doanh nghiệp có thể học được từ đối thủ cạnh tranh là các bài học về thành công, nhất là thất bại Nhìn vào đó chúng ta cũng biết được mình đang ở đâu trên thị trường, trong mắt khách hàng của chúng ta, từ đó có kế sách phù hợp để kinh doanh thành công Có hai loại đối thủ cạnh tranh: Đối thủ cạnh tranh hiện tại và đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Đối thủ cạnh tranh hiện tại: Là các đối thủ đối đầu tồn tại cùng
với công ty, cùng sản xuất một ngành hàng, một nhóm hàng, một loại sản phẩm hay sản phẩm có khả năng thay thế sản phẩm của công ty [7,tr.136]
Các lĩnh vực cần tìm hiểu về tiềm năng của đối thủ cạnh tranh bao gồm chủng loại sản phẩm, chính sách marketing, tiềm lực tài chính, nguồn nhân lực và trình độ quản lý, khả năng về công nghệ, những cơ hội đầu tư, các quan
hệ xã hội của đối thủ,…
Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn: Là các doanh nghiệp chưa tồn tại nhưng
có khả năng sẽ xuất hiện trong tương lai gần, đem lại nguy cơ đe doạ vì sẽ chiếm một phần của “chiếc bánh thị trường” (Nguyễn Bách Khoa, 2006)
Khi một ngành có sự gia tăng thêm số lượng các đối thủ cạnh tranh mới thì hệ quả có thể là tỷ suất lợi nhuận bị giảm và tăng thêm mức độ cạnh tranh Các đối thủ cạnh tranh mới tham gia vào thị trường sau, nên họ có khả năng ứng dụng những thành tựu mới của khoa học, công nghệ
Khi đối thủ cạnh tranh mới xuất hiện thì vị thế cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp sẽ thay đổi Vì vậy, doanh nghiệp cần phải tự tạo ra một hàng rào ngăn cản sự xâm nhập của các đối thủ mới Những hàng rào này là lợi thế sản xuất theo quy mô, đa dạng hóa sản phẩm, sự đòi hỏi có nguồn tài chính lớn, chi phí chuyển đổi mặt hàng cao, khả năng hạn chế xâm nhập các kênh tiêu thụ
Trang 35Như vậy, đối thủ cạnh tranh là một yếu tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp Khi đối thủ cạnh tranh nhiều trên thị trường sẽ tạo ra khó khăn cạnh tranh cho doanh nghiệp
c Khách hàng
Tất cả các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều nhằm làm thỏa mãn nhu cầu của khác hàng Nếu doanh nghiệp nào càng đáp ứng tốt nhu cầu của người tiêu dùng so với các đối thủ cạnh tranh thì họ càng nhận được sự ủng hộ và sự trung thành từ phía khách hàng
Khách hàng chính là động lực để các doanh nghiệp tạo ra các sản phẩm ngày càng tốt hơn Không có cầu sẽ chẳng có cung, tất nhiên trong
xu thế ngày nay chúng ta cũng là người phải biết gợi mở nhu cầu của khách hàng để đáp ứng, song vai trò quyết định của khách hàng là điều chúng ta không cần tranh cãi “ Khách hàng là thượng đế” hay “khách hàng là ân nhân” đều là những thành ngữ mà các doanh nghiệp luôn đề cao Khách hàng gồm hai loại
Cá nhân: Là những người mua sản phẩm về để tiêu dùng các cá nhân hoặc cho các thành viên trong gia đình Có thói quen và nhu cầu đa dạng là những đặc tính mà các doanh nghiệp nên chú ý tới tập khách hàng này
Tổ chức: Là khách hàng mua sản phẩm để phục vụ cho mục đích khác
nhau, có thể đem bán lại hoặc có thể phân phát cho những người khác trong tổ chức Tập khách hàng này có nhu cầu tương đối giống nhau, vì thế cần phải chú ý tới tâm lý nhóm và đám đông để khai thác tối đa nhất nhu cầu của tập khách hàng này
Một doanh nghiệp không thể thỏa mãn được tất cả nhu cầu của các loại khách hàng Cho nên, nhất thiết các doanh nghiệp phải phân loại khách hàng thành các nhóm khác nhau Trên cơ sở đó mới tiến hành phân tích và đưa ra các chính sách thích hợp để thu hút ngày càng nhiều khách hàng về phía mình
Trang 36Như vậy, khách hàng là yếu tố quyết định đến sự sống còn sản phẩm của doanh nghiệp, khách hàng đông chứng tỏ sản phẩm của doanh nghiệp đáp ứng được cầu của thị trường
d Chính sách Nhà nước, địa phương, vùng
Đây là yếu tố có ảnh hưởng quyết định đến sự đầu tư cho sản phẩm của doanh nghiệp và nhất là cơ hội tìm kiếm và mở rộng thị trường của sản phẩm Những nhân tố này liên quan tới việc tạo ra môi trường thuận lợi
và thông thoáng về mặt pháp luật cho doanh nghiệp Từ đó, doanh nghiệp
có thể có những thuận lợi hay khó khăn, có cơ sở hạ tầng tốt hay không để phục vụ sản xuất kinh doanh tạo ra những sản phẩm tốt hơn, mang tính cạnh tranh cao hơn để thoả mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng
Nhìn chung yếu tố này tác động như nhau đối với các doanh nghiệp
2.1.4.2.Các yếu tố bên trong
Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh lớn hay nhỏ phụ thuộc chính vào nội lực doanh nghiệp ấy Các yếu tố bên trong đóng vai trò chủ yếu trong thành công hay thất bại của từng doanh nghiệp
Để nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm trên thị trường mục tiêu các doanh nghiệp cần đưa ra những kế hoạch cụ thể để sản phẩm của mình có thể bán được nhiều nhất với lợi nhuận cao nhất, đó là mong muốn của tất cả các doanh nghiệp, nhìn chung các doanh nghiệp đều có những kế hoạch Cơ hội và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp luôn phụ thuộc chặt chẽ vào các yếu
tố phản ánh tiềm lực của một doanh nghiệp cụ thể Một cơ hội có thể trở thành
“hấp dẫn” với doanh nghiệp này, nhưng lại có thể là “hiểm họa” đối với doanh nghiệp khác vì những yếu tố thuộc tiềm lực bên trong của mỗi doanh nghiệp
a Vốn
Để duy trì và phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh sản phẩm dịch
vụ của một doanh nghiệp, yếu tố vốn đóng vai trò cực kỳ quan trọng Vốn đảm bảo cho việc duy trì, mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Trang 37Vốn là yếu tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông qua khối lượng (nguồn vốn) mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh thể hiện qua các chỉ tiêu: Vốn chủ sở hữu (vốn tự có), vốn huy động, tỷ
lệ đầu tư về lợi nhuận, giá cổ phiếu của doanh nghiệp trên thị trường, khả năng trả nợ ngắn hạn và dài hạn, các tỷ lệ về khả năng sinh lời Nếu một doanh nghiệp có tình trạng tài chính tốt, khả năng huy động vốn lớn sẽ cho phép doanh nghiệp có nhiều vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ máy móc thiết bị, tăng khả năng hợp tác đầu tư về liên doanh liên kết tạo nên khả năng cạnh tranh cao hơn cho sản phẩm Tình hình sử dụng vốn cũng sẽ quyết định chi phí về vốn của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh Vậy, điều quan trọng nhất là doanh nghiệp có kế hoạch huy động vốn phù hợp và phải có chiến lược đa dạng hóa nguồn cung vốn
b Lao động
Nguồn lao động là tài sản quý giá của doanh nghiệp, nó được coi là vấn
đề có ý nghĩa sống còn với mọi tổ chức trong tương lại Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp được chia làm 3 cấp:
Quản trị viên cao cấp: Gồm ban giám đốc và các trưởng phó phòng
ban Đây là đội ngũ có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả sản xuất kinh doanh hàng hóa và dịch vụ Nếu họ có trình độ quản lý cao, có kinh nghiệm kinh doanh trên thương trường, có khả năng đánh giá và quan hệ đối ngoại tốt thì doanh nghiệp sản xuất sản phẩm sẽ có sức cạnh tranh cao hơn các đối thủ cạnh tranh và ngược lại
Quản trị viên cấp trung gian: Đây là đội ngũ trực tiếp quản lý phân
xưởng sản xuất sản phẩm đòi hỏi phải có kinh nghiệm công tác, khả năng ra quyết định và điều hành công tác
Đội ngũ quản trị viên cấp cơ sở: Khả năng cạnh tranh sản phẩm chịu sự
chi phối của đội ngũ này thông qua các yếu tố như: năng suất lao động, trình
độ tay nghề, ý thức trách nhiệm, kỷ luật lao động và sự sáng tạo của họ bởi
Trang 38vì các yếu tố này chi phối việc nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm cũng như tạo thêm tính ưu việt, độc đáo mới lạ của sản phẩm Đội ngũ này và yếu tố công nghệ có mối quan hệ mật thiết với nhau đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao năng suất sản xuất, số lượng cũng như chất lượng sản phẩm từ đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm của doanh nghiệp
Trình độ nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra các sản phẩm có hàm lượng chất xám cao, thể hiện trong kết cấu kỹ thuật của sản phẩm, mẫu mã, chất lượng
và từ đó uy tín, danh tiếng của sản phẩm sẽ ngày càng tăng, doanh nghiệp sẽ tạo được vị trí vững chắc của mình trên thương trường và trong lòng công chúng, hướng tới sự phát triển sản phẩm bền vững
c Công nghệ
Năng lực về vật chất kỹ thuật thể hiện trình độ công nghệ hiện tại và khả năng có được các công nghệ đó đồng thời nó thể hiện quy mô, năng lực sản xuất của doanh nghiệp
Khoa học công nghệ là nhân tố tạo nên sự khác biệt giữa các sản phẩm
về chất lượng và chi phí (giá thành) của sản phẩm qua đó tạo nên năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa nói riêng và của doanh nghiệp nói chung
Nếu quy mô và năng lực sản xuất lớn sẽ giúp doanh nghiệp tạo ra khối lượng hàng hóa lớn hơn từ đó giảm giá thành tạo thỏa mãn nhu cầu của những khách hàng nhạy cảm về giá, có năng lực vật chất kỹ thuật doanh nghiệp có khả năng đáp ứng những nhu cầu của khách hàng nhanh chóng, kịp thời những đòi hỏi mang tính kỹ thuật Doanh nghiệp có khả năng chiếm lĩnh thị trường, tăng thị phần và xâm nhập thị trường sâu hơn đối thủ cạnh tranh Vì vậy, để đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải có được những công nghệ tiên tiến hiện đại, đồng thời tránh lãng phí công suất thiết bị nếu không lúc đó chi phí cố định vào giá thành cao từ đó làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa
Trang 39Tóm lại, đây là yếu tố sáng tạo nên những sản phẩm mới cũng như hủy diệt những sản phẩm cũ, lạc hậu Muốn có lợi thế cạnh tranh trên thị trường cần phải được hỗ trợ bởi công nghệ mới, hiện đại Nó giúp cho doanh nghiệp
có những sản phẩm có chất lượng cao, mẫu mã phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, từ đó ảnh hưởng tới chi phí, giá thành của sản phẩm cạnh tranh
d Kết quả sản xuất kinh doanh
Doanh thu: Là một chỉ tiêu mang tính tuyệt đối thể hiện sức cạnh tranh của hàng hóa Hàng hóa mà có sức cạnh tranh lớn sẽ bán được nhiều, làm tăng doanh thu hơn những hàng hóa có sức cạnh tranh yếu, sẽ bán được ít
Doanh thu của hàng hóa đạt mức cao trên thị trường chứng tỏ được thị trường chấp nhận, khách hàng ưa chuộng Sự chấp nhận của khách hàng thể hiện hàng hóa đáp ứng nhu cầu của khách hàng Như vậy, tăng doanh thu nghĩa
là hàng hóa thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng, mức độ thỏa mãn tốt hơn nhu cầu khách hàng phản ánh sức cạnh tranh của hàng hóa cao hơn
Tăng doanh thu của hàng hóa có thể đạt được thông qua tăng giá bán, trong khi giữ nguyên số lượng hàng hóa cung ứng trên thị trường Điều đó khó
có thể xảy ra đối với hàng hóa chưa có thương hiệu nổi tiếng trên thị trường và trong môi trường tự do hóa thương mại Hơn nữa, khi tự do hóa thương mại diễn ra Xu hướng chung của hàng hóa trên thế giới đều giảm giá bán
Tăng doanh thu bán hàng bằng cách bán giá thấp hơn và đưa ra thị trường số lượng hàng hóa lớn hơn, đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại Đây chính là xu hướng chung của các nhà sản xuất và kinh doanh hàng hóa trên thế giới nhằm nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa
Lợi nhuận: Lợi nhuận một đơn vị sản phẩm đem lại là chỉ tiêu chất lượng
tổng hợp biểu hiện kết quả kinh doanh sản phẩm của doanh nghiệp Lợi nhuận không chỉ có ảnh hưởng lớn đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm mà nó còn là động lực, mục tiêu của cạnh tranh, cạnh tranh chỉ là một trong những cách phổ biến nhất để đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận Năng lực cạnh tranh của sản
Trang 40phẩm bị chi phối bởi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp mà năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chính là khả năng duy trì được lợi nhuận và thị phần trên thị trường Không thể tồn tại được lâu dài một sản phẩm có khả năng sinh lời thấp
mà lại có năng lực cạnh tranh cao trên thị trường Một sản phẩm không có khả năng sinh lời hay khả năng sinh lời thấp thì sớm muộn cũng sẽ bị thay thế bởi sản phẩm khác Đồng thời, một sản phẩm có khả năng sinh lời cao sẽ tạo điều kiện để góp phần cải tiến sản phẩm, nâng cao chất lượng, hạ giá thành…từ đó góp phần
nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Trên đây là những yếu tố chủ yếu tác động tới năng lực cạnh tranh của sản phẩm, nó có thể gây tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới năng lực cạnh tranh của sản phẩm, tác động tiêu cực hay tích cực, mức độ ảnh hưởng như thế nào, doanh nghiệp cần làm rõ để có những biện pháp phòng ngừa những rủi ro làm giảm năng lực cạnh tranh của sản phẩm cũng như nắm bắt được
cơ hội để nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Giới thiệu về đặc điểm sản phẩm và thị trường của ngành may
2.2.1.1 Đặc điểm sản phẩm của ngành may
Sản phẩm may là loại sản phẩm có yêu cầu rất phong phú, đa dạng tuỳ thuộc vào đối tượng tiêu dùng Người tiêu dùng khác nhau về văn hoá, phong tục tập quán, tôn giáo, khác nhau về khu vực địa lý, khí hậu, về giới tính, tuổi tác… sẽ có nhu cầu rất khác nhau về trang phục Nghiên cứu thị trường để nắm vững nhu cầu của từng nhóm người tiêu dùng trong các bộ phận thị trường khác nhau có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc tiêu thụ sản phẩm Sản phẩm may mang tính thời trang cao, phải thường xuyên thay đổi mẫu mã, kiểu dáng, màu sắc, chất liệu để đáp ứng nhu cầu thích đổi mới, độc đáo và gây ấn tượng của người tiêu dùng Do đó để tiêu thụ được sản phẩm, việc am hiểu các xu hướng thời trang là rất quan trọng