Với truyền thống đó, phụ nữ Việt Nam “giỏi việc nước, đảm việc nhà” tiếp tục vượt qua mọi thành kiến và thử thách, vươn lên đóng góp tích cực vào các hoạt động xã hội, duy trì ảnh hưởng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
CAO THỊ KIM DUNG
VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN HƯƠNG SƠN
TỈNH HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
CAO THỊ KIM DUNG
VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN HƯƠNG SƠN
Trang 3Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc Đồng thời tôi xin cam đoan rằng trong quá trình thực hiện đề tài này tôi luôn chấp hành đúng mọi quy định của nơi nghiên cứu
Hà Nội, ngày 29 tháng 06 năm 2015
Tác giả luận văn
Cao Thị Kim Dung
Trang 4Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page iii
LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo giảng dạy tại trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các thầy cô giáo giảng dạy tại Khoa Kinh tế và phát triển nông thôn đã truyền dạy cho tôi những kiến thức quý báu trong quá trình học tập Tôi xin chân thành cảm ơn Phó giáo sư - Tiến sỹ Quyền Đình Hà, Thạc sỹ Trần Mạnh Hải bộ môn Phát triển Nông thôn đã giành nhiều thời gian trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn tôi hoàn thành Luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới các đồng chí trong Đảng ủy – UBND, Hội phụ nữ huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh và các đồng chí trong Đảng
ủy – UBND, Hội phụ nữ xã Sơn Diệm, Sơn Kim 1, Sơn Châu đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu tại địa phương
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các đồng chí Lãnh đạo Trung ương Hội Chăn nuôi Việt Nam, Ban biên tập Tạp chí Khoa học Kỹ thuật chăn nuôi cùng các đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt thời gian thực hiện Luận văn
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu cũng như trong suốt thời gian thực hiện Luận văn
Hà Nội, ngày 29 tháng 06 năm 2015
Tác giả luận văn
Cao Thị Kim Dung
Trang 5Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page iv
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục chữ viết tắt vii
Danh mục bảng viii
Danh mục biểu đồ x
Danh mục hộp x
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
2.1 Cơ sở lí luận 5
2.1.1 Các quan điểm về vai trò của phụ nữ 5
2.1.2 Quan điểm của nhà nước Việt Nam về vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới 13
2.1.3 Nội dung vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới 14
2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới 20
2.2.1 Nhóm yếu tố khách quan 21
2.2.2 Nhóm yếu tố chủ quan 22
2.3 Cơ sở thực tiễn 24
Trang 6Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page v
2.3.1 Kinh nghiệm của một số nước về phát huy vai trò của phụ nữ trong
phát triển nông thôn 24
2.3.2 Kinh nghiệm phát huy vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới của một số địa phương ở Việt Nam 31
2.3.3 Tóm tắt một số nghiên cứu liên quan đến đề tài 42
PHẦN III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 42
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên huyện Hương Sơn 42
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Hương Sơn 43
3.1.3 Đánh giá những thuận lợi khó khăn của huyện trong phát triển kinh tế 49
3.2 Phương pháp nghiên cứu 50
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu và chọn mẫu điều tra 50
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 52
3.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin 53
3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 60
PHẦN IV : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 56
4.1 Thực trạng vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới tại Huyện Hương Sơn 56
4.1.1 Khái quát về kết quả hoạt động xây dựng Nông thôn mới tại huyện Hương Sơn 56
4.1.2 Phát huy vai trò của phụ nữ huyện Hương Sơn trong xây dựng Nông thôn mới 60
4.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới ở huyện Hương Sơn 88
4.2.1 Nhóm yếu tố khách quan 88
4.2.2 Các yếu tố chủ quan 94
4.2.3 Đánh giá những thuận lợi, khó khăn của phụ nữ trong việc tham gia xây dựng Nông thôn mới tại huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh 99
Trang 7Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page vi
4.3 Những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ trong xây dựng
Nông thôn mới ở huyện Hương Sơn 104
4.3.1 Chính quyền địa phương tăng cường tạo điều kiện cho chị em phụ nữ được hoàn thiện, phát triển bản thân một cách toàn diện 104
4.3.2 Quan tâm công tác khuyến nông và đào tạo nghề cho phụ nữ 114
4.3.3 Đổi mới, phát triển hình thức sản xuất, tăng cường áp dụng khoa học kỹ thuật Phát triển kinh tế Hộ 105
4.3.4 Nâng cao trình độ học vấn, khả năng nhận thức của phụ nữ 105
4.3.5 Nâng cao sự tham gia của Hội phụ nữ 106
4.3.6 Tăng cường phối hợp hoạt động giữa Hội phụ nữ và các tổ chức chính trị xã hội khác 117
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 108
5.1 Kết luận 108
5.2 Kiến nghị 110
5.2.1 Đối với chính quyền 110
5.2.2 Đối với các cấp tổ chức Hội phụ nữ 123
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
Trang 8Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page vii
Trang 9Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page viii
DANH MỤC BẢNG
3.1 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế của huyện Hương Sơn qua 3
năm (2012 – 2014) 48 4.1 Tình hình thực hiện các tiêu chí Nông thôn mới trên địa bàn huyện
Hương Sơn 56 4.2 Đánh giá tình hình xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn Huyện
Hương Sơn thông qua thực hiện các tiêu chí 57 4.3 Tương quan giữa tỉ lệ nam và nữ tham gia trong Ban chỉ đạo xây
dựng Nông thôn mới trên toàn huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh 61 4.4 Phụ nữ tham gia Ban chỉ đạo Nông thôn mới tại một số xã 62 4.5 Tiến trình hoạt động các cuộc Hội họp xây dựng Nông thôn mới 63 4.6 Đánh giá mức độ tham gia cuộc họp của các phụ nữ ở một số xã 64 4.7 Đánh giá nguyên nhân phụ nữ không tham gia các cuộc họp thảo luận
chương trình kế hoạch xây dựng Nông thôn mới 66 4.8 Phụ nữ các xã điều tra tham gia đóng góp ý kiến trong quy hoạch, lập
kế hoạch xây dựng Nông thôn mới 67 4.9 Đánh giá về chất lượng ý kiến đóng góp của phụ nữ huyện Hương Sơn
trong hoạt động quy hoạch, lập kế hoạch xây dựng Nông thôn mới 68 4.10 Phụ nữ huyện Hương Sơn tham gia tuyên truyền xây dựng Nông
thôn mới 69 4.11 Mức độ thường xuyên của phụ nữ huyện Hương Sơn trong tham gia
thông tin tuyên truyền xây dựng Nông thôn mới 70 4.12 Phụ nữ và gia đình thực hiện đóng góp tiền, hiện vật xây dựng Nông
thôn mới tại một số xã 72 4.13 Phụ nữ và gia đình hiến đất xây dựng Nông thôn mới tại một số xã 73 4.14 Mức đóng góp tự nguyện của phụ nữ và gia đình tại một số xã 74
Trang 10Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page ix
4.15 Phụ nữ huyện Hương Sơn tham gia đóng góp ngày công xây dựng
Nông thôn mới 77 4.16 Số km đường tự quản và số cây xanh được trồng mới của phụ nữ tại
một số xã 79 4.17 Sự tham gia của phụ nữ huyện Hương Sơn qua hoạt động bảo vệ Môi
trường 80 4.18 Phụ nữ toàn huyện Hương Sơn tham gia phát triển kinh tế 81 4.19 Phụ nữ huyện Hương Sơn phát triển kinh tế xây dựng Nông thôn mới
ở một số xã 83 4.20 Phụ nữ toàn huyện Hương Sơn tham gia giám sát nghiệm thu công
trình Nông thôn mới 84 4.21 Tương quan về số lượng phụ nữ Hương Sơn tham gia cấp Ủy, Chính
quyền và đứng đầu các Tổ chức, Doanh nghiệp 91 4.22 Sự tham gia của các cấp Hội phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới 93 4.23 Phân loại hộ và phân loại trình độ của phụ nữ ở một số xã 95
Trang 11Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page x
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
3.1 Cơ cấu diện tích đất tự nhiên năm 2013 43
3.2 Cơ cấu diện tích đất nông nghiệp năm 2013 43
4.1 Khả năng tự quyết định của phụ nữ huyện Hương Sơn về đóng góp tự nguyện xây dựng Nông thôn mới trong gia đình 75
4.2 Tỉ lệ giữa các kênh tiếp nhận thông tin của phụ nữ huyện Hương Sơn 98
DANH MỤC HỘP Stt Tên hộp Trang Hộp 4.1 66
Hộp 4.2 67
Hộp 4.3 72
Hộp 4.4 72
Hộp 4.5 99
Trang 12Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 1
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, phụ nữ Việt Nam đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước Ngay từ những buổi đầu lập nước, khi gặp nạn ngoại bang xâm lược, bà Trưng bà Triệu đã dấy binh khởi nghĩa đánh đuổi quân thù Thế kỷ 20, qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, lịch sử lại ghi nhận hàng vạn tấm gương phụ nữ, các chị, các mẹ không ngại gian khổ, không tiếc máu xương, sẵn sàng chiến đấu, lao động, hy sinh, cống hiến không chỉ cuộc đời mình mà cả con em cho độc lập
tự do của Tổ quốc Phụ nữ không chỉ chiến đấu anh hùng mà đã lao động cần cù, gian khó, sáng tạo để vượt lên cảnh đói nghèo và lạc hậu, góp phần xây dựng đất nước ngày càng to đẹp và đàng hoàng hơn Đảng, Bác Hồ phong tặng phụ nữ Việt Nam tám chữ vàng “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” trong thời
kỳ kháng chiến và “Trung hậu, đảm đang, tài năng, anh hùng” trong thời kỳ đổi mới đất nước không chỉ là sự khích lệ, động viên mà còn là sự thừa nhận và đánh giá vai trò to lớn của phụ nữ Việt Nam
Với truyền thống đó, phụ nữ Việt Nam “giỏi việc nước, đảm việc nhà” tiếp tục vượt qua mọi thành kiến và thử thách, vươn lên đóng góp tích cực vào các hoạt động xã hội, duy trì ảnh hưởng rộng rãi vai trò của mình trên nhiều lĩnh vực như: tham gia quản lý nhà nước; tham gia xóa đói giảm nghèo; xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc; tham gia phòng chống tệ nạn xã hội; thúc đẩy hoạt động đối ngoại nhân dân… Có thể nói, vai trò của phụ nữ Việt Nam được thể hiện ngày càng sâu sắc và có những đóng góp quan trọng trong thành tựu của cách mạng Việt Nam
Khi đất nước bước vào kỷ nguyên hội nhập với thế giới, trong công cuộc xây dựng đất nước trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa hiện nay, lao động chuyển dịch ra khu vực thành thị, khu công nghiệp, ở nông thôn còn lại chủ yếu là người già, phụ nữ và trẻ em, phụ nữ ở nông thôn tiếp tục đóng
Trang 13Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 2
vai trò quan trọng, là động lực thúc đẩy sự phát triển chung của xã hội Vai trò này đang được khẳng định một cách rõ nét hơn bao giờ hết
Trong thời đại mới, bên cạnh vai trò quan trọng trong gia đình, người phụ
nữ còn tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội Ngày càng có nhiều người trở thành chính trị gia, nhà khoa học nổi tiếng, nhà quản lý năng động … Trong nhiều lĩnh vực, sự có mặt của người phụ nữ là không thể thiếu như ngành dệt, may mặc, du lịch, công nghệ dịch vụ …
Trong những phong trào xây dựng đất nước, đặc biệt những năm gần đây chương trình quốc gia về Nông thôn mới đã mang lại rất nhiều kết quả sinh động, cải thiện cơ sở hạ tầng nông thôn, phát triển kinh tế xã hội, mang lại những bước chuyển mình về giáo dục, y tế và an ninh quốc phòng nông thôn ở nhiều địa phương, trong đó có huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
Hương Sơn là huyện miền núi nằm ở Tây Bắc tỉnh Hà Tĩnh, với dân số gần 12 vạn người và diện tích đất tự nhiên là 110.315,0 ha, diện tích đất nông nghiệp chiếm 60% diện tích đất tự nhiên và lao động nông nghiệp chiếm 66,8% tổng dân số Hoạt động sản xuất của huyện Hương Sơn chủ yếu là sản xuất nông lâm nghiệp với đa dạng các loại hình kinh tế vườn, trồng lúa, rau màu, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng
Chương trình Nông thôn mới đã góp phần tăng thu nhập bình quân đầu người đạt 23,14 triệu đồng, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 14,86% Để đạt được những thành tựu đáng ghi nhận đó, là sự đóng góp to lớn của chính quyền và nhân dân toàn huyện, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của phụ nữ huyện Hương Sơn Song từ trước tới nay, chưa có công trình nào, đề tài nào nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh Nhằm đánh giá thực trạng, phân tích các yếu tố ảnh hưởng, từ đó đề xuất những giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữ trong chương trình Nông thôn mới nói riêng cũng như trong mọi hoạt động xã hội nói chung tại huyện Hương Sơn,
tỉnh Hà Tĩnh chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới tại huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh Luận văn vừa
Trang 14Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 3
đảm bảo tính khoa học, tính kinh tế và tính thời sự đáp ứng được yêu cầu cấp bách của xã hội hiện nay
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ
nữ trong xây dựng Nông thôn mới, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới tại huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Các câu hỏi cần giải quyết:
+ Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới là gì?
+ Vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới tại huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh như thế nào?
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới tại Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh?
+ Các giải pháp nào để nâng cao vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới tại huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh những năm tới?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phụ nữ ở huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 15Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 4
* Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung vào đánh giá thực trạng tham gia xây dựng Nông thôn mới của người phụ nữ, đánh giá yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của người phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao vai trò của người phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới
* Phạm vi về không gian: Đề tài được nghiên cứu tại huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
* Phạm vi về thời gian:
- Đề tài thu thập số liệu trong các năm từ 2011 – 2014
- Đề tài được nghiên cứu từ tháng 3/2014 – 5/2015
Trang 16Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 5
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lí luận
2.1.1 Các quan điểm về vai trò của phụ nữ
2.1.1.1 Các quan điểm về vai trò
Theo từ điển Xã hội học, vai trò là một trong số ít khái niệm xã hội học được chấp nhận và vận dụng rộng rãi Tuy nhiên, vai trò là một trong số ít khái niệm không rõ nét và đa nghĩa Lý thuyết vai trò được “phát triển từ hai hướng tiếp cận của một quan sát xã hội học vi mô và của một quan sát xã hội học vĩ mô” và bề mặt khoa học được hình thành như là một bộ phận của một tiếp cận
“Lý thuyết hành động – Tương tác” và của một tiếp cận “lý thuyết hệ thống - chức năng” Có thể hiểu vai trò là một “tập hợp những kỳ vọng ở trong xã hội
gắn với các hành vi của những người mang các địa vị khác nhau” (Ralf
Dahrendorf, 2002)
Nhà nhân học Ralph Linton, đã có công đầu trong việc xây dựng nội dung
xã hội học của khái niệm vị thế và vai trò Ông định nghĩa, vị thế được hiểu theo hai nghĩa Theo nghĩa trừu tượng, vị thế là một vị trí trong một khuôn mẫu tương tác nhất định Theo nghĩa này, một người hay một nhóm người có nhiều vị thế do tham gia nhiều khuôn mẫu hành vi Theo nghĩa cụ thể, vị thế của một người là tập hợp tất cả những vị thế mà người đó nắm giữ trong các mối tương tác xã hội
Do đó theo hai nghĩa này vị thế xác định vị trí cụ thể của một người trong những mối tương tác xã hội với những người khác và vị thế tổng hợp xác định vị trí của
người đó với tổng thể xã hội (Ralph Linton, 1956)
Dưới góc độ hành vi luận, vị thế là tập hợp những quyền và trách nhiệm
mà người nắm giữ vị thế đó phải thực hiện Tuy nhiên, khái niệm vị thế chỉ nói đến xuất phát điểm của hành vi chứ chưa nói đến mặt hoạt động của nó Khái niệm vai trò mới nói đến mặt động thái của hành vi Nói cách khác vai trò là
Trang 17Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 6
hành vi của người nắm giữ vị thế mà hành vi đó hướng vào việc đáp ứng những
kì vọng của người khác về quyền và trách nhiệm gắn với vị thế
Một cá nhân có thể có đồng thời nhiều vai trò do cá nhân đó có nhiều vị thế khác nhau trong các tổ chức khác nhau Tuy nhiên, trong một thời gian cụ thể, những vai trò đó không cùng biểu hiện với mức độ tích cực ngang nhau Một vị thế xã hội cụ thể thông thường có một số các vai trò, người ta gọi
là tập hợp các vai trò Có các vị trí khác nhau thì mức độ phức tạp của các vai trò gắn liền với chúng cũng khác nhau Một cá nhân ở một vị trí cụ thể luôn có nhiều quan hệ liên quan, trong đó có vai trò chính và vai trò phụ Những vai trò của một cá nhân ở một vị trí cụ thể không mâu thuẫn nhau mà chúng có quan hệ tương tác nhau, giúp các cá nhân đó thể hiện được vai trò tổng quát của mình
Vậy có thể hiểu rằng: Vai trò là những gì mà một cá nhân phải làm để giữ
vị thế của mình có giá trị, là những hành vi mà xã hội mong chờ, kỳ vọng một cá nhân thực hiện phù hợp với vị thế xã hội của họ
Như vậy, các cá nhân và nhóm người thông qua vị thế và vai trò gắn kết với nhau và gắn kết với toàn bộ xã hội
2.1.1.2 Quan điểm về vai trò phụ nữ
a, Quan điểm “Phụ nữ trong phát triển” gọi tắt là WID (Women in Development) và
“giới và phát triển” gọi tắt là GAD (Gender and Development)
Trong nghiên cứu phụ nữ xuất hiện lý luận của nhà nữ quyền và nội dung của hai quan điểm nổi tiếng ở hai giai đoạn khác nhau đó là “Phụ nữ trong phát triển” gọi tắt là WID (Women in Development) và “giới và phát triển” gọi tắt là GAD (Gender and Development) Đây chính là nguồn lý luận cơ bản hình thành nên lý thuyết về giới Vấn đề bình quyền được hình thành từ các phong trào của hiệp hội đấu tranh đòi quyền lợi và sự công bằng của phụ nữ Anh, sau đó lan rộng
và trở thành làn sóng chính trị quan trọng ở Hoa Kỳ và các nước khác, thì cuộc tranh luận WID và GAD lại bắt nguồn từ thực tế tiếp cận giải quyết vấn đề nghèo đói ở các nước đang phát triển Tiếp cận WID và GAD được đặt trong những khía cạnh khác nhau trong mối quan hệ giữa vai trò của phụ nữ trong sự phát triển Tiếp
Trang 18Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 7
cận giới đưa ra câu trả lời về vai trò của phụ nữ trong phát triển Tuy nhiên, các câu trả lời này không giống nhau và không có tranh cãi về vai trò của phụ nữ trong
sự phát triển cộng đồng (Trần Vân Anh và Lê Ngọc Hùng, 2000)
- Quan điểm “phụ nữ và phát triển” (WID)
Sau chiến tranh thế giới thứ II, hệ thống Liên hiệp quốc được hình thành với các hoạt động điều phối hỗ trợ phát triển ngày càng được mở rộng Tuy nhiên, thời gian đầu chưa có bất cứ một luận điểm nào chú ý hoặc đề cập đến phụ
nữ bởi quan niệm bất kỳ sự phát triển kinh tế xã hội nào cũng đều đem lại đổi thay cho mọi người, trong đó có phụ nữ Sự thay đổi được xuất hiện trong Chiến lược phát triển quốc tế cho thập kỷ thứ hai do Đại hội đồng Liên hiệp quốc nhấn mạnh: Khuyến khích sự hòa nhập của phụ nữ và nỗ lực phát triển một cách đầy
đủ và vấn đề của phụ nữ là vấn đề phát triển Thuật ngữ “phụ nữ trong phát triển” được ra đời từ đó
Quan điểm “phụ nữ trong phát triển” chú trọng vào phụ nữ, vào các vấn
đề nảy sinh đối với phụ nữ trong phát triển như cơ hội được học hành, có việc làm, được bình đẳng trong gia đình và tham gia cac hoạt động xã hội, được hưởng các dịch vụ về chăm sóc sức khỏe và trong đời sống Cách tiếp cận WID đòi hỏi công bằng xã hội và quyền lợi cho phụ nữ
Các quan niệm trước đây chỉ nhìn nhận phụ nữ trong vai trò người mẹ, người vợ nên chính sách đối với phụ nữ chỉ giới hạn ở phúc lợi xã hội và sinh đẻ Với quan điểm WID đã chú trọng đến vai trò sản xuất của phụ nữ, chủ trương đưa phụ nữ vào hòa nhập nền kinh tế đất nước, coi việc tiếp cận với cơ hội có việc làm trong sản xuất và tham gia công tác xã hội là biện pháp nâng cao vai trò, địa vị của phụ nữ Quan điểm này khẳng định, việc không thừa nhận và sử dụng vai trò sản xuất của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội là những sai lầm dẫn đến việc sử dụng kém hiệu quả các nguồn lực
Cách tiếp cận WID dựa vào cơ sở nội bật là các quá trình phát triển sẽ được tiến hành tốt hơn nếu phụ nữ được coi là trọng tâm trong nghiên cứu và trong chuyển giao các nguồn lực của các dự án Cách tiếp cận này cũng thách
Trang 19Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 8
thức quan điểm trước đây cho rằng: những lợi ích thu được từ dự án phát triển sẽ
tự động làm lợi cho phụ nữ và các yếu thế khác trong các quốc gia phát triển và hiện đại họa sẽ tự động làm tăng sự bình đẳng giới
Quan điểm “Phụ nữ trong phát triển” đã nhấn mạnh vai trò của phụ nữ trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước, coi trọng vai trò của phụ nữ với tư cách là người hưởng thụ thành quả của sự phát triển, nắm giữ được các nguồn lực như chìa khóa mở đường giúp cho phụ nữ thoát khỏi sự lệ thuộc Tuy nhiên, cách tiếp cận này mới chỉ đặt phụ nữ trong khuôn khổ phát triển đã được định sẵn chứ chưa coi phụ nữ là chủ thể của quá trình phát triển kinh tê xã hội, do đó không chỉ hạn chế khả năng phát huy tính chủ động, sáng tạo của phụ
nữ mà có thể làm giảm hiệu quả của các quá trình kinh tế Hơn nữa, Cách tiếp cận WID còn xem xét vấn đề phụ nữ một cách tách biệt, quá nhấn mạnh đến khía cạnh sản xuất trong công việc và lao động của phụ nữ, nhất là việc tạo ra thu nhập, trong
khi đó đã bỏ qua khía cạnh tái sản xuất (Trần Vân Anh và Lê Ngọc Hùng, 2000)
- Quan điểm “Giới và phát triển” (GAD)
Tiếp cận “giới và phát triển ra” ra đời sau tiếp cận “Phụ nữ trong phát triển” nên
có được kinh nghiệm từ những thất bại của nhiều chương trình phát triển
Phương pháp tiếp cận “giới và phát triển” quan tâm đến mối tương quan giữa phụ nữ và phát triển, giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Tiếp cận giới và phát triển quan tâm đến sự phát triển bền vững, tập trung vào cân bằng giới và các nhương trình phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu cả nam và nữ Tức là GAD tạo sự chuyển biến trong suy nghĩ, cũng như nhìn nhận về vai trò, trách nhiệm, các quyền tiếp cận, kểm soát nguồn lực kinh tế của phụ nữ và nam giới, điều chỉnh các yếu tố cơ cấu tác động ảnh hưởng nhằm cải thiện tình trạng, vai trò của phụ nữ và cân bằng các quan hệ giới
Theo phương pháp tiếp cận này, phụ nữ được nhìn nhận, đánh giá như là những nhân tố tích cực chứ không phải là những người thừa hưởng thành quả của
sự phát triển Mục tiêu phát triển theo phương pháp này là sự tự lực, sức mạnh của bản thân phụ nữ, tức là phụ nữ có cơ hội phát huy hết năng lực của mình và
Trang 20Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 9
có điều kiện phát triển một cách toàn diện và hoàn toàn bình đẳng với nam giới
Sự tham gia của phụ nữ và phát huy hết tiềm năng, kinh nghiệm của họ trong hoạt động kinh tế, xã hội hay quản lý cộng đồng có ý nghĩa chính trị - xã hội tích cực, vừa tăng cường năng lực cá nhân, vừa tạo quyền cho chính họ, vừa thúc đẩy tốc độ phát triển chung của xã hội
Phương pháp tiếp cận này còn cho rằng, mỗi nam và nữ giới sẽ thường được đảm nhận các vai trò quyền lực khác nhau, nên họ có nhu cầu thực tế khác nhau Chính vì vậy, phân tích theo quan điểm GAD đã đề xuất được các hướng giải quyết không chỉ nhằm giải quyết những vấn đề trước mắt mà cả những nguyên nhân sâu xa của vấn đề nghiên cứu Đây là một phương pháp tiếp cận được ưa chuộng và được đánh giá là phương pháp có hiệu quả trong việc giải quyết vấn đề bất bình đẳng giới trong thời gian hiện nay
Quan điểm GAD cung cấp cơ sở lý luận cho việc xem xét vai trò của phụ nữ trong mối tương quan với vai trò của nam giới trong phát triển cộng đồng xã hội trên mọi lĩnh vực hoạt động khác nhau Cần đánh giá những đóng góp của phụ nữ đối với cộng đồng, tìm hiểu nhu cầu, nguyện vọng, tạo điều kiện để phụ nữ phát huy được năng lực của mình, chủ động cùng nam giới tham gia các hoạt động phát triển kinh tế gia đình và cộng đồng, các hoạt động văn hóa, chính trị, chăm sóc sức khỏe sinh sản… Quan trọng là hình thành được thói quen, các chuẩn mực và giá trị mới
về vai trò phụ nữ trong cộng đồng ở trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn hội nhập và
phát triển (Trần Vân Anh và Lê Ngọc Hùng, 2000)
b, Quan điểm, Tư tưởng của Hồ Chí Minh về vai trò của phụ nữ trong xã hội
Tư tưởng nhất quán xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh là nhằm mục đích cao nhất giải phóng con người và ra sức tranh đấu để đòi lại những quyền thiêng liêng của con người Trong đó, Bác đặc biệt quan tâm đến
sự nghiệp giải phóng phụ nữ và đấu tranh bảo vệ quyền bình đẳng cho họ Những
tư tưởng của Hồ Chí Minh về vấn đề giải phóng phụ nữ vẫn còn nguyên giá trị Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về phụ nữ được xuất phát từ tình cảm đặc biệt đối với những người phụ nữ nói chung và từ thực trạng bất bình đẳng
Trang 21Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 10
của phụ nữ dưới chế độ phong kiến, sự cai trị thâm độc của thực dân Pháp đối với nước ta cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Bác Hồ luôn đánh giá cao vai trò to lớn của phụ nữ Việt Nam và cho chúng ta thấy những nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội khoa học đánh giá cao vai trò của phụ nữ trong xã hội Điều này có thể lý giải tại sao từ năm 1910 thế giới tiến bộ lấy ngày 08 tháng 3 là Ngày Phụ
nữ quốc tế, nhằm đoàn kết phụ nữ các nước đấu tranh để giải phóng giới mình, giành các quyền bình đẳng về kinh tế, chính trị và xã hội cho họ; cũng vì vậy mà khi thành lập Quốc tế Cộng sản (3/1919) hay Quốc tế III đã tổ chức phụ nữ quốc
cách mệnh cũng phải có nữ giới tham gia mới thành công” (Hồ Chí Minh, 1970)
Với cách nhìn toàn diện, Bác Hồ nhấn mạnh rằng phụ nữ chiếm một nửa nhân loại; “Nói đến phụ nữ là nói đến một nửa xã hội”, cũng tương tự “Phụ nữ Việt Nam chiếm một nửa tổng số nhân dân ta”; Người còn chỉ rõ: “Phụ nữ là một lực lượng lao động rất quan trọng” Vì vậy, theo Người, “Nếu phụ nữ chưa được giải phóng thì xã hội chưa được giải phóng”, “Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa” Bác Hồ phân tích có lý, có tình, rằng: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, “Nhất định phải sản xuất thật nhiều Muốn sản xuất nhiều thì phải có nhiều sức lao động Muốn nhiều sức lao động thì phải giải phóng lao động của phụ nữ” Quyền bình đẳng thực sự của người phụ nữ theo Bác là “người phụ nữ Việt Nam đứng ngang hàng với đàn ông để hưởng mọi quyền công dân” Vấn đề bình đẳng nam nữ được Bác đề cập trên nhiều lĩnh vực, nhưng nổi rõ nhất trên hai lĩnh vực sau:
Một là, lĩnh vực quyền và lợi ích: Trong lời kêu gọi chống nạn thất học,
Bác viết “Phụ nữ lại càng cần phải học, đã lâu chị em bị kìm hãm Đây là lúc các chị em phải cố gắng để kịp nam giới, để xứng đáng mình là một phần tử trong
Trang 22Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 11
nước, có quyền bầu cử và ứng cử” Hay “Phụ nữ phải tham gia vào các cấp chính quyền, vào bộ máy lãnh đạo các ngành từ cơ sở đến trung ương, vào ban quan trị”(Hồ Chí Minh, 1970)
Hai là, lĩnh vực gia đình: Người phụ nữ phải vất vả nhiều trong công việc
gia đình, như Lênin chỉ rõ: “Mặc dù có mọi luật lệ giải phóng phụ nữ, nhưng phụ
nữ vẫn cứ là nô lệ trong gia đình vì công việc nội trợ linh tinh cứ đè nặng lên vai
họ, làm cho họ nghẹt thở mụ mẫm, nhọc nhằn, ràng buộc họ vào bếp núc, vào buồng con cái, lãng phí sức lực của họ vào một công việc cực kỳ tủn mủn, làm
cho họ nhọc nhằn, gò bó” (Hồ Chí Minh, 1993) Theo Bác Hồ thì việc giải phóng
sức lao động của phụ nữ chính là giải phóng phụ nữ khỏi những công việc không tên của gia đình Bác thường nói “Nên cố gắng tổ chức những nhà ăn công cộng
để giải phóng phụ nữ ra khỏi bếp núc” (Hồ Chí Minh, 2002)
Bác Hồ phê phán mạnh mẽ vấn đề bạo hành trong gia đình, nhất là hiện tượng chồng đánh vợ Bác viết “Khinh rẻ phụ nữ, và dã man nhất là thói đánh vợ… Những thói dã man đánh vợ và ép con cần phải chấm dứt Lợi quyền của
phụ nữ cần được thực sự bảo đảm” (Hồ Chí Minh, 1970)
Từ những phân tích về sự bất bình đẳng nam nữ, Bác Hồ cũng nêu lên các con đường có thể giải phóng phụ nữ và gợi ý từng đối tượng cụ thể Đối với cán
bộ lãnh đạo, Bác phê phán những tư tưởng mang nặng định kiến giới, coi thường phụ nữ Bác khuyên “Phải thông cảm sâu sắc với quần chúng, và ra sức giúp đỡ chị em giải quyết những thắc mắc khó khăn” Đối với các đoàn thể phải có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục pháp luật để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Đối với chính bản thân người phụ nữ, phải tự đấu tranh vì quyền lợi của mình, không có
tư tưởng trông chờ, ỷ lại Bác khuyên chị em phụ nữ cố gắng học tập văn hóa, chính trị, nghề nghiệp Nếu không học thì không tiến bộ Trong công tác và cuộc sống hàng ngày, Bác Hồ rất coi trọng đào tạo đội ngũ cán bộ và quan tâm, chăm sóc đến cuộc sống của người phụ nữ
Trong Di chúc, Người biểu dương tinh thần chiến đấu, hy sinh và căn dặn toàn dân phải quan tâm, chăm sóc phụ nữ: “Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu
Trang 23Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 12
nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc
và giúp đỡ để ngày càng nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc lãnh đạo Bản thân phụ nữ phải cố gắng vươn lên Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền
bình đẳng thật sự cho phụ nữ” (Hồ Chí Minh, 1970)
c, Các quan điểm về vai trò của phụ nữ của các nhà quản lý hiện nay
Trong cuộc tọa đàm do Ngân hàng thế giới tại Việt Nam tổ chức ngày 06/3/2014 về Thách thức và giải pháp tăng cường vai trò lãnh đạo của phụ nữ, các nhà khoa học, nhà quản lý đã nêu nhiều quan điểm của mình về vai trò người phụ nữ
Ý kiến của bà Nguyễn Thị Thanh Hòa, Chủ tịch Hội Phụ nữ Việt Nam, cho rằng chính phủ cần có chính sách hỗ trợ phụ nữ và phụ nữ cũng cần tích cực làm chủ cuộc sống riêng của mình.“Mọi người cần nhận thức rằng công việc gia đình là việc chung của tất cả các thành viên chứ không phải riêng của phụ
nữ, bản thân phụ nữ cũng cần biết cách huy động chồng con tham gia các công
việc gia đình.” (Vũ Lan Hương, 2014)
Ý kiến Bà Shoko Ishikawa, Trưởng đại diện của Cơ quan Liên Hiệp Quốc
về Bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ (UN Women) tại Việt Nam cho rằng nhiều người có quan điểm phụ nữ phải lo công việc gia đình và “Chúng ta cần thay đổi quan điểm đó và khuyến khích phụ nữ thực hiện vai trò lãnh đạo trong đời sống chính trị, kinh doanh và trong xã hội.” Theo Bà Shoko Ishikawa cũng nói rằng ta nên quan tâm tới việc thể hiện vấn đề này trong nhà trường và trên phương tiện thông tin đại chúng “Chúng ta cần nêu bật những gương điển hình và hình ảnh tích cực của các lãnh đạo nữ, nhấn mạnh vai trò lãnh đạo nữ trong các lĩnh vực phi truyền thống như lãnh đạo doanh nghiệp, nhà khoa học, kiến trúc sư
để có thể thay đổi quan niệm về những công việc mà phụ nữ có thể đảm nhận”(Vũ Lan Hương, 2014)
Ý kiến của Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, bà Victoria Kwakwa, cho rằng: “Chính phủ và khu vực công cần có các hành động
Trang 24Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 13
thiết thực, cần có các chính sách và cơ chế tạo cơ hội và khuyến khích tăng
quyền cho phụ nữ.” (Vũ Lan Hương (2014)
Vì vậy, có thể nhận thấy rằng, theo các quan điểm hiện đại về vai trò phụ
nữ, phụ nữ cần thích ứng với sự phát triển của xã hội để có thể đảm đương nhiều vai trò hơn nữa, và cần có sự chia sẻ của chính phủ, xã hội, cộng đồng và đặc biệt là nam giới trong gia đình
Vậy qua các quan điểm về vai trò phụ nữ theo quan điểm WID, quan điểm GAD, quan điểm của Hồ Chí Minh, quan điểm của các nhà quản lý hiện đại, chúng tôi rút ra rằng: Vai trò của phụ nữ trong một lĩnh vực nào đó tương đương với vị thế mà họ nắm giữ là tất cả những gì họ thực hiện để giữ vị thế của mình
có giá trị, là những hành vi mà xã hội mong chờ họ thể hiện phù hợp với vị thế của họ Khi xét về vai trò của phụ nữ, cần xét trong mối tương quan của họ với cộng đồng, với nam giới và cần có sự chia sẻ của cộng đồng, của Chính phủ và đặc biệt nam giới để phụ nữ thích ứng với sự phát triển của xã hội để có thể đảm
đương tốt một hay nhiều vai trò của mình
2.1.2 Quan điểm của nhà nước Việt Nam về vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới
Vai trò và vị trí của phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp phát triển và xây dựng đất nước luôn được Đảng và Nhà nước ghi nhận, đánh giá cao và đã được thể chế hóa thông qua hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm bảo đảm lợi ích chính đáng của phụ nữ trong tất cả các lĩnh vực
Từ trước đến nay, tất cả các chính sách, đặc biệt chính sách liên quan đến giới, đều chú trọng bình đẳng giới, tôn trọng và đề cao vai trò của phụ nữ Để thúc đẩy các cơ hội cho phụ nữ phát triển và thụ hưởng từ các thành quả của mình, Luật Bình đẳng giới đã được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 11 năm
2006 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2007; ngày 27 tháng 4 năm
2007, Bộ Chính trị đã có Nghị quyết số 11-NQ/TW về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nghị quyết nêu rõ “phải tăng
Trang 25Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 14
cường sự lãnh đạo của Đảng, tiếp tục đổi mới công tác phụ nữ để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều hơn, chủ động hơn, đóng góp ngày càng lớn hơn cho sự phát triển của gia đình, cộng đồng, đất nước và thực hiện bình đẳng giới”
Vì vậy, với hệ quan điểm đó, khi xây dựng Nông thôn mới, vai trò của phụ nữ cũng được nhà nước đề cao Với Quyết định 800/QĐ-TTg về Quyết định Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng Nông thôn mới giai đoạn
2010 – 2020, thông qua 11 nội dung của chương trình và các giải pháp, cách thức thực hiện chương trình, chương trình này yêu cầu toàn bộ các Bộ ban ngành, các cấp chính quyền cũng như toàn thể người dân tham gia tích cực Vị trí cũng như yêu cầu, nhiệm vụ của người dân được nêu ra rất rõ ràng: đóng góp ngân sách xây dựng Nông thôn mới theo tinh thần tự nguyện, xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng cho làng, xã, tham gia giám sát thi công xây dựng Nông thôn mới, bảo vệ môi trường nông thôn, phát triển kinh tế tham gia xây dựng Nông thôn mới, tham gia các hoạt động đoàn thể để có các biện pháp nâng cao đời sống vật chất tinh thần tại khu vực nông thôn Vì vậy, để góp phần thực hiện xây dựng Nông thôn mới, vai trò của phụ nữ trong những hoạt động trên vô cùng to lớn
2.1.3 Nội dung vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới
2.1.3.1 Vai trò của phụ nữ trong việc tham gia Ban chỉ đạo xây dựng Nông thôn mới
Việc quan tâm, đề cao vai trò của phụ nữ trong công tác quản lý xây dựng Nông thôn mới là rất quan trọng Công tác bổ sung, điều chỉnh cán bộ nữ trong Ban quản lý xây dựng Nông thôn mới, Cơ quan điều phối xây dựng Nông thôn mới, chính quyền các cấp để nâng cao tiếng nói, vị thế của người phụ nữ, cũng như đóng góp của họ trong tất cả các lĩnh vực
Khi phụ nữ được tham gia quản lý, điều hành, họ có cơ hội được mở mang nhận thức hơn, tầm hiểu biết rộng hơn, qua đó có khả năng lãnh đạo, tuyên truyền
vận động chị em phụ nữ tham gia tích cực hơn trong xây dựng Nông thôn mới
2.1.3.2 Vai trò của phụ nữ trong quy hoạch tổng thể và lập kế hoạch xây dựng Nông thôn mới
Vai trò của phụ nữ trong quy hoạch xây dựng Nông thôn mới được thể hiện ở:
Trang 26Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 15
- Nội dung 1: Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ;
- Nội dung 2: Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường; phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có trên địa bàn
Sự tham gia quy hoạch xây dựng Nông thôn mới được thể hiện qua sự tham gia tham gia đóng góp ý kiến lập quy hoạch, kế hoạch xây dựng Nông thôn mới; quyết định lựa chọn, góp ý nên xây dựng công trình nào, bố trí sản xuất cây con gì; bố trí xây dựng, bố trí sản xuất ở đâu; quy mô cỡ nào; nên thực hiện lúc nào; thông qua hình thức họp, bàn, lấy ý kiến, biểu quyết theo tỷ lệ để lựa chọn các phương án Sự tham gia các lớp tập huấn phát triển sản xuất trên địa bàn…
Việc lập kế hoạch xây dựng Nông thôn mới là việc hoàn thiện từng chi tiết theo từng giai đoạn cho quy hoạch tổng thể xây dựng Nông thôn mới
Đây là nội dung quan trọng nhất và xuyên suốt quá trình xây dựng Nông thôn mới, được coi như nhân tố quyết định sự thành bại của việc áp dụng phương pháp tiếp cận phát triển dựa vào nội lực và do cộng đồng làm chủ trong xây dựng thí điểm mô hình Việc đóng góp ý kiến lập quy hoạch, kế hoạch xây dựng Nông thôn mới của phụ nữ thể hiện sự hiểu biết, bàn bạc, hành động, quyết định của phụ nữ
Người phụ nữ tham gia Hội họp, tham gia các diễn đàn về xây dựng Nông thôn mới được tổ chức Sau khi đã họp, thảo luận, bàn bạc, khi triển khai, phụ nữ cùng người dân quyết định cái gì làm trước, cái gì làm sau, phù hợp với nguồn lực của chính họ, phù hợp với nguồn lực của địa phương và của Trung ương hỗ trợ cho họ để đạt hiệu quả nhất
2.3.1.3 Vai trò của phụ nữ trong xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn
Việc xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn khơi dậy quyết tâm, tinh thần tự giác, tự nguyện, ý thức trách nhiệm cao trong nhân dân tham gia hưởng ứng Chương trình xây dựng Nông thôn mới, nâng cao nhận thức người dân về vai trò chủ thể của mình (được biết, được bàn, được làm, được giám sát, được thụ hưởng ) để tích cực tham gia, hưởng ứng Chương trình xây dựng Nông thôn
Trang 27Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 16
mới Nâng cao ý thức, trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên làm công tác xây dựng Nông thôn mới; phòng, chống những tiêu cực trong thực hiện các chương trình, dự án xây dựng Nông thôn mới
Việc tuyên truyền khiến các tầng lớp nhân dân các nhà đầu tư hiểu đầy đủ hơn về Chương trình xây dựng Nông thôn mới để tranh thủ sự đồng tình, giúp đỡ, phối hợp, tạo điều kiện của các cấp, các ngành, các đoàn thể, doanh nghiệp nhiệt tình tham gia, đóng góp tích cực cho Chương trình, phát huy sức mạnh tổng hợp nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu đề ra
Phụ nữ là người quán xuyến, lo lắng mọi việc trong gia đình, chăm sóc con cái, phụng dưỡng cha mẹ, để ý việc đối nội, đối ngoại trong gia đình Vì vậy, phụ nữ có vai trò rất lớn trong việc tuyên truyền vận động Nông thôn mới về các nội dung xây dựng Nông thôn mới, cách thức hành động cũng như ý thức của từng cá nhân trong xây dựng Nông thôn mới ngày trong chính gia đình mình
Bên cạnh đó, các sinh hoạt cộng đồng đặc biệt hoạt động của Hội phụ nữ cũng gắn kết thêm phụ nữ với nhau, phụ nữ với cộng đồng, họ có nhiều cơ hội để vận động mọi người cùng tham gia xây dựng Nông thôn mới, cổ vũ, động viên các tập thể, cá nhân phụ nữ điển hình tiên tiến có thành tích xuất sắc trong phong trào xây dựng Nông thôn mới;
+ Hình thức xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông Nông thôn
của phụ nữ
Hình thức mà chị em phụ nữ sử dụng để xây dựng văn hóa, thông tin và truyền thông Nông thôn nhằm xây dựng Nông thôn mới vô cùng phong phú đa dạng Đó là việc kết hợp nhuần nhuyễn linh hoạt giữa các hình thức:
- Kết hợp tổ chức tuyên truyền Chương trình xây dựng Nông thôn mới tại các hội nghị báo cáo viên - tuyên truyền viên các cấp
- Xây dựng và nhân rộng các mô hình điển hình tiên tiến về xây dựng Nông thôn mới
- Tổ chức hội nghị tuyên dương khen thưởng những tập thể, cá nhân tiêu biểu trong xây dựng Nông thôn mới
- Tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng: Báo, Tạp chí,
Trang 28Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 17
Đài Phát thanh-Truyền hình; Cổng Thông tin - Giao tiếp điện tử; hệ thống Đài phát thanh, truyền thanh các tỉnh, huyện, thành, thị, các xã, phường, thị trấn và các thôn
- Tuyên truyền trên Bản tin sinh hoạt chi bộ, Bản tin Khoa giáo của Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ và bản tin, trang thông tin điện tử của các sở, ban, ngành, đoàn thể, các huyện, thành, thị
- Biên soạn và phát hành các tài liệu tuyên truyền, tờ rơi, tờ gấp, đề cương tuyên truyền về Chương trình xây dựng Nông thôn mới
- Tăng cường tuyên truyền bằng các hình thức khác như: khẩu hiệu, panô,
áp phích, văn hoá, văn nghệ, giao lưu, toạ đàm…
2.1.3.4 Vai trò của phụ nữ trong đóng góp nguồn lực: tiền mặt, hiện vật, đất đai cho xây dựng Nông thôn mới
Phương châm xây dựng Nông thôn mới là “Nhân dân làm, Nhà nước hỗ
trợ”, để thực hiện thành công xây dựng Nông thôn mới, các địa phương cần làm tốt công tác huy động mọi nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực từ cộng đồng dân cư Nguồn lực xây dựng Nông thôn mới bao gồm: nguồn vốn tiền mặt, hiện vật (vật liệu xây dựng), hiến đất… vốn tài trợ khác (tranh thủ sự ủng hộ của con em thành đạt hướng về quê hương) để thực hiện các hoạt động xây dựng Nông thôn mới Đây là sự thể hiện ở phạm trù vật chất lẫn phạm trù nhận thức về quyền sở hữu
và tính trách nhiệm, tự giác của thanh niên
Trong xây dựng Nông thôn mới, công trình nào mà toàn dân làm được thì
để toàn dân làm, không phải tất cả các công trình đều phải thuê Làm như vậy để
họ có thể đóng góp sức lực cho công cuộc xây dựng Nông thôn mới thông qua việc xây dựng, cải tạo nâng cấp công trình đó Đồng thời, để phụ nữ phải thực sự hiểu được, thấy được là họ làm cho chính mình, thực hiện theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, tự đóng góp, đầu tư nâng cao hiệu quả các công trình, các hoạt động trong xây dựng Nông thôn mới để từng bước nâng cao đời sống của chính gia đình mình và làm giàu chính đáng
Trang 29Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 18
2.1.3.5 Vai trò của phụ nữ trong tổ chức thực hiện quy hoạch, đề án, kế hoạch xây dựng Nông thôn mới
a, Vai trò của phụ nữ trong tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng Nông thôn
Cơ sở hạ tầng nông thôn chính là bộ mặt của chính địa phương đó, khi có
cơ sở hạ tầng đảm bảo: trường học, trạm y tế, trường mầm non, đường giao thông liên xóm liên xã, các công trình thủy lợi thì việc đi lại, ăn ở, sản xuất, học hành của phụ nữ và gia đình của họ thuận lợi hơn, có cơ hội phát triển tốt hơn Nhận thức được những điều đó, phụ nữ luôn thể hiện vai trò của mình một cách tích cực sáng tạo
b, Vai trò của phụ nữ trong việc bảo vệ môi trường, quản lý tài nguyên
Tốc độ phát triển Công nghiệp hóa, hiện đại hóa, khai thác tài nguyên và phát triển làng nghề đã làm cho vấn đề ô nhiễm môi trường vùng nông nghiệp, nông thôn ngày càng cấp bách, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, đang triển khai thực hiện Chương trình xây dựng Nông thôn mới Những năm gần đây, tình hình thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống kinh tế của nhân dân Nhiều vùng nông thôn bị ô nhiễm vượt quá mức cho phép nhiều lần, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí, ô nhiễm hữu cơ trên các vùng mà nguyên nhân chính
là do chất thải sinh hoạt, chăn nuôi, chất thải sản xuất, đặc biệt tại các làng nghề… Để xây dựng thành công Nông thôn mới cần gắn quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội với bảo vệ tài nguyên môi trường
Để thực hiện thành công tiêu chí môi trường, cần thực hiện có hiệu quả quy hoạch bảo vệ môi trường; khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn, cải tạo, nâng cấp, xây dựng các công trình bảo vệ môi trường vùng nông nghiệp, nông thôn, tăng cường năng lực quản lý môi trường cấp huyện, xã để bảo vệ môi trường; đặc biệt đẩy mạnh thông tin tuyên truyền, nâng cao nhận thức và sự tham gia của cộng đồng dân cư trong các hoạt động cải thiện và bảo vệ môi trường, thông qua các hoạt động quét dọn đường làng, ngõ xóm; không thả gia súc, gia cầm trên đường, không phơi rơm rạ trên trục đường giao thôn liên xã, không xả rác bừa bãi, phân loại rác thải…
Trang 30Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 19
Trong xây dựng Nông thôn mới, phụ nữ và gia đình của họ đã thực hiện những tự giác chỉnh trang nhà cửa, sân vườn, cổng ngõ của từng nhà theo tinh thần phong trào “ba sạch” (sạch nhà, sạch bếp, sạch ngõ) của Hội phụ nữ, theo quy hoạch chung của xã, đóng góp cho văn minh sạch đẹp của làng, xã từ chính nhà mình, tránh tư tưởng sạch trong nhà, ngoài ngõ bẩn hay ngược lại Bên cạnh đó, phụ
nữ khắp mọi miền Tổ quốc đã đăng kí tham gia các đoạn đường tự quản của phụ nữ, đăng kí các tổ nhóm phụ nữ gồm 3-5 người luân phiên nhau quét đường làng ngõ xóm, các tổ nhóm đăng kí “đoạn đường nở hoa”, “đoạn đường không nilon”
c, Vai trò của phụ nữ trong tham gia phát triển kinh tế
Phụ nữ là lực lượng lao động chính trong sản xuất nông nghiệp, chiếm tỷ
lệ lớn ở khu vực nông thôn, có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế khu vực nông thôn Các hoạt động hỗ trợ phụ nữ vay vốn phát triển kinh tế gia đình đã và đang diễn ra rất sôi động ở nhiều nơi và có hiệu quả
Các phong trào “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế”, “Tiết kiệm vì phụ nữ nghèo”, “Chương trình hỗ trợ phụ nữ tạo việc làm, tăng thu nhập”, “Tổ chức tài chính quy mô nhỏ trách nhiệm hữu hạn một thành viên tình thương”, đã khơi dậy được tiềm năng to lớn, sức sáng tạo, truyền thống đoàn kết, nhân ái, ý thực tự nguyện giúp nhau về vốn, cây, con giống, ngày công lao động trong sản xuất nông nghiệp của phụ nữ, góp phần phát triển kinh tế- xã hội Phụ nữ tham gia các mô hình sinh hoạt lồng ghép của các loại hình câu lạc bộ của tổ chức Hội Phụ nữ như: Câu lạc bộ phụ nữ - khuyến nông, Tổ tiết kiệm và vay vốn, nhóm nhỏ cặp vợ chồng không sinh con thứ 3 phát triển kinh tế, Phụ nữ sản xuất giỏi… góp phần quan trọng vào xóa đói, giảm nghèo, tăng thu nhập, thi đua áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất nông nghiệp, tạo nên các mô hình phụ nữ làm kinh tế giỏi: mô hình trồng rau an toàn, nuôi lợn sạch, đổi công, làm nghề thủ công nhằm phát
triển kinh tế gia đình, đã thu hút đông đảo phụ nữ khu vực nông thôn tham gia
2.1.3.6 Vai trò của phụ nữ trong kiểm tra, giám sát, nghiệm thu, khai thác, sử dụng các công trình xây dựng Nông thôn mới
Trang 31Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 20
Vai trò của phụ nữ trong việc kiểm tra, giám sát trong quá trình triển khai thực hiện xây dựng Nông thôn mới thể hiện: kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch, quản lý và sử dụng các nguồn đầu tư, nguồn thu từ cộng đồng, các dự
án đầu tư vào cộng đồng, các công trình nhân dân đóng góp kinh phí; hay sự tham gia lao động trực tiếp, số ngày công kiểm tra thực tế vào các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng, các hoạt động của tổ, nhóm khuyến nông… thông qua hoạt động của các ban thanh tra nhân dân hay ban giám sát cộng đồng
Thông qua việc kiểm tra, giám sát thể hiện vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới đồng thời đảm bảo được chất lượng các công trình, các hoạt động của xây dựng Nông thôn mới từ đó nâng cao chất lượng phục vụ của các công trình Nông thôn mới, nâng cao thời gian hưởng lợi cho cộng đồng dân cư Nghiệm thu có nghiệm thu từng phần, từng giai đoạn và nghiệm thu tổng thể; được thể hiện qua biên bản có sự ký kết của các thành phần tham gia, trong
đó có sự tham gia của phụ nữ Số lần nghiệm thu ở các hoạt động khác nhau cũng khác nhau, để tham gia nghiệm thu được đòi hỏi cả quá trình tham gia lao động thực tế của phụ nữ Sau nghiệm thu tổng thể, phụ nữ tiếp nhận quản lý và khai thác sử dụng để phục vụ cho chính nhu cầu của họ Vừa khai thác vừa quản lý đồng thời nâng cao vai trò của phụ nữ, để họ thấy rằng mình thực sự rất quan trọng trong các hoạt động phát triển của địa phương, từ đó tăng tính trách nhiệm của phụ nữ mà lại nâng cao tuổi thọ cho các công trình
Có thể nói, sự tham gia của phụ nữ là phương tiện hữu hiệu để huy động sức mạnh tổng hợp của địa phương, tổ chức và vận dụng năng lực, sự khôn ngoan, tính sáng tạo của quần chúng vào hoạt động xây dựng Nông thôn mới Giúp xác định nhu cầu ưu tiên của cộng đồng và tiến hành những hoạt động phát triển để đáp ứng những nhu cầu này Giúp cho việc xây dựng Nông thôn mới được thừa nhận, khuyến khích thanh niên và nhân dân đóng góp nguồn lực thực hiện và đảm bảo khả năng bền vững
2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới
Trong các lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung và trong nông nghiệp,
Trang 32Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 21
nông thôn, phong trào Nông thôn mới nói riêng có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ Các yếu tố đó có thể là do những yếu tố bên ngoài tác động, cũng có thể là những yếu tố bên trong, là những khả năng của chính bản thân phụ nữ tác động đến vị trí, vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới Dưới đây là một số những tác nhân chủ yếu tác động đến vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới
Do ở Việt Nam vẫn còn tồn tại một số tư tưởng trọng nam – khinh nữ, trong khi đó bản thân thể chất người phụ nữ lại chân yếu tay mềm, không được khỏe mạnh như nam giới, nên họ gặp hạn chế trong việc thể hiện bản thân, nếu các cơ chế chính sách cho người phụ nữ mở rộng, họ sẽ thể hiện vai trò của mình tốt hơn trên mọi phương diện nói chung và xây dựng Nông thôn mới nói riêng
2.2.1.2 Nhận thức và tạo điều kiện của chính quyền địa phương về vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới
Khi các đường lối và Chính sách của Đảng và Nhà nước bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ, rộng mở cơ chế cho phụ nữ thể hiện vai trò của mình trong mọi lĩnh vực, thì vấn đề này cũng rất cần thiết có sự tạo điều kiện, hợp tác và nhận thức cao của chính quyền địa phương mới có hiệu quả trong thực tiễn Đối với các địa phương vùng sâu vùng xa, dân tộc thiểu số hay hội tụ rất nhiều tôn giáo khác
Trang 33Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 22
nhau, điều đó lại càng khó khăn trong việc nâng cao vai trò người phụ nữ Vì vậy, nhận thức và việc tạo điều kiện cho phụ nữ làm việc của chính quyền ảnh hưởng rất lớn đến vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới
2.2.1.3 Sự tham gia của Hội phụ nữ
Hoạt động của Hội liên hiệp phụ nữ các cấp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các tầng lớp phụ nữ có điều kiện phát huy vai trò của mình cho phụ nữ bằng việc nâng cao trình độ nhận thức về mọi mặt cho phụ nữ, hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho phụ nữ, tạo điều kiện hỗ trợ phụ
nữ xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc Đặc biệt phụ nữ khu vực nông thôn ít được tiếp cận các nguồn tài liệu, kiến thức tổ chức cuộc sống gia đình, họ cần được nâng cao nhận thức, bổ sung kiến thức trong cuộc sống để
có đủ điều kiện phát huy vai trò của phụ nữ trong xây dựng gia đình, no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc
Tổ chức Hội phụ nữ năng động trong công tác, chủ động xây dựng chương trình hoạt động phù hợp với điều kiện thực tế, tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, thu hút ngày càng nhiều chị em phụ nữ tham gia vào tổ chức hội tạo điều kiện cho chị em được phát triển, làm tốt công tác chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng cho phụ nữ Hội viên phụ nữ giúp nhau về kiến thức,
về vốn, kinh nghiệm sản xuất để cùng phát triển kinh tế và thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn vươn lên làm giàu chính đáng, tăng cường mối đoàn kết, gắn bó, phát huy những truyền thống tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam Vì vậy, Hội phụ nữ có ảnh hưởng lớn đến vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới
2.2.2 Nhóm yếu tố chủ quan
2.2.2.1 Trình độ học vấn, chuyên môn, nhận thức của phụ nữ
Theo đánh giá của hầu hết các nghiên cứu về phụ nữ thì trình độ học vấn của phụ nữ hầu hết thấp hơn nam giới Thực trạng này khiến cho công tác xã hội hoá hoạt động giáo dục, môi trường, dân số rất khó triển khai ở các vùng nông thôn và kém hiệu quả ở khu vực thành thị Muốn nâng cao dân trí, xoá đói giảm nghèo thì phải trang bị những kiến thức cơ bản cho người dân đặc biệt là phụ nữ,
Trang 34Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 23
để họ thay đổi nếp nghĩ, tiếp thu cái mới, để thay đổi nếp cũ, từ đó tự khẳng định vai trò của mình trong gia đình- xã hội
Phụ nữ bị hạn chế về trình độ kỹ thuật, chuyên môn và sự hiểu biết nên đã gây cho họ không ít khó khăn cho việc nắm bắt các thể chế pháp luật, tìm nguồn vốn, tìm kiếm thông tin, khó khăn trong việc tiếp cận và áp dụng khoa học kỹ thuật mới hay các phương tiện hiện đại vào sản xuất và đời sống, do vậy hiệu quả của công việc và năng suất lao động còn thấp cho nên vai trò đóng góp của phụ
nữ cho phát triển kinh tế hộ gia đình bị hạn chế
Vì vậy, khả năng nhận thức của phụ nữ càng cao thì vai trò của họ đóng góp của họ trên mọi lĩnh vực nói chung và xây dựng Nông thôn mới càng cao
2.2.2.2 Khả năng tiếp nhận thông tin của phụ nữ
Muốn theo kịp được sự phát triển của xã hội chúng ta phải có thông tin Đây có lẽ là một nguyên lý hiển nhiên trong xã hội Nhưng những nguyên lý, những điều tưởng chừng là hiển nhiên đó lại rất xa vời đối với khu vực nông thôn đặc biệt là đối với phụ nữ Sự thờ ơ đối với thông tin mới đang xảy ra phổ biến ở khu vực nông thôn cụ thể là ở phụ nữ Điều này dẫn đến một kết quả tất yếu là sự thiếu hụt thông tin ở người phụ nữ, làm cho khả năng tiếp cận những tiến bộ khoa học kỹ thuật nói chung và những đổi mới trong ngành nông nghiệp nói riêng bị hạn chế, làm ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng sản phẩm Từ đó hạn chế sự đóng góp của phụ nữ vào thu nhập của gia đình khiến vai trò của người phụ nữ trong kinh tế hộ không cao
Mọi sự cố gắng của Đảng, Nhà nước, xã hội và nam giới sẽ không có hiệu quả khi mà bản thân người phụ nữ không nhận thức được, không tự ý thức thoát
ra khỏi tư tưởng cũ, mà vươn lên khẳng định vị trí của bản thân trong gia đình-
xã hội Chính vì thế việc động viên làm cho phụ nữ làm thay đổi tư duy, đó là việc làm cần thiết trong công việc phát huy vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế cũng như xã hội
2.2.2.3 Điều kiện kinh tế gia đình của phụ nữ
Điều kiện kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt đời sống của phụ nữ, khi kinh tế vững mạnh, người phụ nữ có cơ hội được học tập, vui chơi, nghỉ ngơi theo ý muốn
Trang 35Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 24
Việc đóng góp về tiền bạc, vật chất cũng như mọi mặt của người phụ nữ cho công cuộc xây dựng Nông thôn mới được tăng lên
Chính vì thế, việc ưu tiên phát triển kinh tế hộ là rất quan trọng, chính điều này tạo những cơ hội cho phụ nữ được phát triển đời sống tinh thần, vật chất, nâng cao sức khỏe, để phụ nữ thể hiện tốt hơn vai trò trên mọi lĩnh vực
ỷ lại ở phần đông nông dân cần được thay đổi; do vậy, các chính sách mới phải khơi dậy được niềm tin và tính tích cực đối với việc phát triển nông thôn, khơi dậy tính độc lập, hăng say lao động của đội ngũ nông dân ở khu vực nông thôn là làm thay đổi những suy nghĩ thụ động và ỷ lại ở phần lớn nhân dân sống trong khu vực nông thôn và nâng cao vai trò của họ trong cuộc sống
Mục tiêu chính của chính sách mới là làm cho người dân có niềm tin và trở nên tích cực đối với sự nghiệp phát triển nông thôn, làm việc chăm chỉ, cần cù, sáng tạo, độc lập và cộng đồng Tổng thống Hàn Quốc Park Jeong –hee phát biểu:
”Nếu chúng ta có thể tạo ra hay khai thác được tinh thần chăm chỉ, tự vượt khó khăn và hợp tác tiềm ẩn trong mỗi thành viên sống trong khu vực nông thôn, tôi tin tưởng rằng tất cả các làng xã nông thôn sẽ trở thành nơi thịnh vượng để sống Chúng ta có thể gọi là phương hướng hành động của mô hình Saemaul Undong đó
là lời tuyên ngôn của phong trào làng mới” Như vậy, phong trào làng mới nhấn
mạnh đến yếu tố quan trọng nhất tạo động lực cho phát triển là “phát triển tinh
Trang 36Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 25
thần của người nông dân”, lấy kích thích vật chất nhỏ để kích thích tinh thần và
qua đó phát huy nội lực tiềm tàng to lớn của nông dân
Một số hoạt động của mô hình “Làng mới” trong việc nâng cao vai trò của phụ nữ trong việc tham gia xây dựng mô hình
- Lập ra “Ủy ban Phát triển Làng mới” có 5 - 10 người, đầy đủ nam và nữ
Cấp được coi trọng nhất vẫn là cấp cơ sở, việc đầu tiên được tiến hành là
bầu ra một tổ chức ở cấp cơ sở được gọi là “Uỷ ban Phát triển Làng mới”; Uỷ
ban này có khoảng 5 - 10 người, có đầy đủ nam và nữ, những người này là đại diện cho cộng đồng ở làng và chịu trách nhiệm lập kế hoạch, thực thi các tiểu dự
án phát triển nông thôn cho làng mình Ngoài ra ở cấp tỉnh và cấp huyện, thị cũng được thành lập Uỷ ban này nhằm giúp, hướng dẫn, tư vấn mọi hoạt động cho Uỷ ban Phát triển làng mới và giúp họ trong vấn đề huy động vật lực Khác với các nước khác, chương trình này do tổng thống đứng ra trực tiếp lãnh đạo Bộ trưởng Bộ Nội vụ đứng đầu Uỷ ban điều phối Trung ương với 12 điều phối viên
ép nào về chính trị hay ảnh hưởng về kinh tế, mà chỉ chịu sự phán xét của nông dân và được cộng đồng tin yêu
- Đào tạo cán bộ các cấp theo các mô hình, chú trọng đào tạo cán bộ nữ, gắn cả
nước với phong trào phát triển nông thôn
Để giảm khoảng cách giữa dân thường và quan chức Chính phủ, cần gắn
bó thực sự cán bộ nhà nước với nhân dân Các quan chức Trung ương được đưa
Trang 37Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 26
về và sống cùng với nông dân, lãnh đạo các cấp chính quyền sống với lãnh đạo nông dân; Chính phủ mở các khoá đào tạo ngắn ngày khoảng từ một đến hai tuần, nội dung tuỳ theo nhu cầu từng giai đoạn của sự phát triển, đào tạo chủ yếu
là học theo các mô hình, rút kinh nghiệm từ các mô hình Các chị em phụ nữ được cán bộ hướng dẫn học tập các mô hình đặc biệt, có hiệu quả của phụ nữ trong cả nước
- Phát huy dân chủ, mọi người đều được tham gia vào quá trình ra quyết định, không phân biệt giới tính nam hay nữ
Để tập hợp hay huy động nhanh, thuận lợi trong sinh hoạt cộng đồng, các làng đã xây dựng hội trường làng của mình Nông dân đều tự ra quyết định lựa chọn thứ tự ưu tiên cho mỗi hoạt động, họ tự chịu trách nhiệm trong việc lựa chọn, thực thi và quản lý, giám sát công trình Các ý kiến phù hợp, hiệu quả sẽ được đem
ra thảo luận và tổ chức thực hiện Người phụ nữ luôn được khuyến khích thể hiện
và đóng góp ý kiến của mình trong công việc chung của cộng đồng
- Nhà nước và nhân dân cùng làm
Nhà nước hỗ trợ vật tư, nhân dân đóng góp công, của; sự giúp đỡ và hỗ trợ của Nhà nước được giảm dần khi quy mô của địa phương và sự tham gia của dân gia tăng Người phụ nữ và gia đình của họ chủ động trong vấn đề ra quyết định thứ tự
ưu tiên trước, sau, họ tự quyết định các loại thiết kế, chỉ đạo thi công, xây lắp, nghiệm thu, giám sát công trình Hàng năm nhà nước tổ chức các cuộc họp toàn quốc cho lãnh đạo cộng đồng làng, xã tham dự; tại cuộc họp này, người có công được tuyên dương, phát phần thưởng, kể cả tuyên dương anh hùng lao động Việc khen thưởng tuyên dương được tổ chức thực hiện công khai minh bạch, ai có công được khen thưởng, không phân biệt nam nữ, có nhiều chị được danh hiệu “anh hùng lao động” Đặc biệt Tổng thống Park Jeong –hee là người sáng tác bài hát của phong trào, điều này đã cổ động rộng rãi hơn cho phong trào xây dựng mô hình “làng mới”, người dân càng tự hào và tự tin hơn
- Một số kết quả đạt được từ phụ nữ Hàn Quốc và gia đình của họ đóng góp cho phong trào “Làng mới”
Bộ mặt nông thôn thay đổi một cách nhanh chóng, sau tám năm các dự án
Trang 38Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 27
phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn cơ bản được hoàn thành, trong vòng 20 năm rừng đã được che phủ khắp nước và khoảng 84% cây rừng của Hàn Quốc hiện nay là cây rừng đã được trồng trong những năm làm mô hình
Trong vòng sáu năm thu nhập bình quân các nông hộ tăng gấp 3 lần, tính thương mại trong sản xuất nông nghiệp tăng; việc xây dựng cơ sở hạ tầng, đường làng, nhà xưởng, hệ thống cung cấp nước, điện, chuyển giao khoa học công nghệ, tích luỹ vốn, đào tạo nhân lực, bảo vệ môi trường, tạo quỹ tiết kiệm trong gia đình đều cải thiện Phong trào Saemaul là một mô hình phát triển nông thôn cho phép hạn chế tối đa thời gian chuyển hoá nông thôn truyền thống thành một nông thôn hiện đại
Sau hơn 30 năm thực hiện phong trào Làng mới, môi trường sống và cuộc sống vật chất của người dân nông thôn đã được cải thiện đáng kể; sản xuất mang tính thương mại Cái được lớn nhất là những người nông dân nghèo đói, đặc biệt phụ nữ bắt đầu trở nên tự tin hơn, khu vực nông thôn trở thành xã hội năng động,
có khả năng tích luỹ, tự đầu tư và nhờ đó mà có khả năng tự phát triển Thông qua phong trào lao động nông thôn đã được đào tạo cơ bản, điều quan trọng là họ có tác phong công nghiệp, điều này đã đáp ứng được nhu cầu sử dụng lao động cho
ngành công nghiệp đòi hỏi kỹ thuật cao hơn (Tuấn Anh, 2013)
2.3.1.2 Kinh nghiệm về phát huy vai trò của phụ nữ trong phong trào “Mỗi làng, một sản phẩm” của Nhật Bản
a, Xuất xứ phong trào” mỗi làng, một sản phẩm”
Sau những hệ lụy về công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nhật Bản, diện tích các thành phố chiếm 20% tổng diện tích cả nước nhưng những vùng này chiếm đến 80% dân số, các căn nhà bị bỏ không do không có người ở, nông nghiệp bị đình đốn do thiếu người làm Nhiều vùng nông thôn chỉ còn lại người già và trẻ nhỏ, cuộc sống của người dân nông thôn vì thế mà ngày càng trở lên nghèo khổ hơn, trong khi những cơ hội tìm kiếm việc làm ở khu vực thành phố cứ hẹp dần lại theo thời gian Ông Morihiko Hiramatsu, người đứng
Trang 39Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 28
đầu chính quyền tỉnh Oita, đã đề xuất thực hiện Phong trào “Mỗi làng, một sản phẩm” trên địa bàn tỉnh
Mục tiêu ban đầu của Phong trào này là khuyến khích người dân nông thôn làm sống lại các giá trị tốt đẹp của quê hương mình, qua đó làm tăng thu nhập và cải thiện bộ mặt nông thôn Tuy nhiên, mục tiêu sâu xa hơn chính là thông qua các hoạt động này, tạo sức quyến rũ của khu vực nông thôn, hạn chế
sự di dân tự do ra các thành phố và khu công nghiệp lớn trong cả nước, xây dựng nguồn nhân lực đủ mạnh thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá khu vực này trong tương lai, đồng thời tạo ra sự chuyển dịch để đạt đến sự cân bằng
về kinh tế cũng như về xã hội giữa vùng nông thôn của địa phương với các thành phố lớn, giảm sự phụ thuộc về kinh tế và ngân sách vào chính quyền trung ương
b, Nội dung phong trào “mỗi làng, một sản phẩm”
Mỗi địa phương (làng, xã, huyện), “mỗi làng” tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh lịch sử của mình lựa chọn ra những sản phẩm độc đáo, mang đậm nét đặc trưng của địa phương để phát triển Các sản phẩm này có thể là những sản phẩm tiêu dùng cụ thể như rau, quả, đồ gỗ… nhưng cũng có thể là các sản phẩm văn hoá, dịch vụ du lịch… Điều quan trọng đối với các sản phẩm được lựa chọn là mặc dù chúng phải mang nét đặc trưng, kết hợp được các yếu tố địa lý, văn hoá, truyền thống… của địa phương đó, nhưng phải được thị trường Nhật Bản và thế giới chấp nhận
c, Vai trò của phụ nữ Nhật Bản trong phong trào “Mỗi làng, một sản phẩm”
- Vai trò của phụ nữ Nhật Bản trong việc tạo ra những mô hình kinh tế hiệu quả, đóng góp vào sự thúc đẩy tạo nên thương hiệu sản phẩm độc đáo của địa phương
Trong hoàn cảnh dân số tụt giảm hàng năm, nguồn nhân công khan hiếm, cách tốt nhất để có thể sản xuất ra những sản phẩm của địa phương như Phong trào mong muốn, làm sống lại niềm tự hào của người dân trong vùng là tổ chức những nhóm phụ nữ (theo truyền thống thường không tham gia công việc xã hội) làm công tác chế biến nông sản Các nhóm này, ban đầu được chính quyền trợ cấp một phần kinh phí để xây dựng cơ sở sản xuất, tư vấn công nghệ chế biến,
Trang 40Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 29
nơi tiêu thụ sản phẩm, còn người sản xuất tiến hành mua sắm thiết bị, tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Ở xưởng sản xuất nước cà chua cô đặc tại Thị trấn Ogi, 2-3 nhóm phụ nữ chung nhau một khu nhà xưởng do chính quyền trợ giúp để tiến hành sản xuất sản phẩm của mình Điều quan trọng là Phong trào đã thổi được lòng tin, niềm tự hào và ý nghĩa của công việc sản xuất vào các nhóm này để họ ngày càng nâng cao chất lượng, cũng như khả năng tiêu thụ sản phẩm của mình
Trải qua hơn 20 năm tiến hành Phong trào, đã có 339 nhóm phụ nữ chế biến nông sản được thành lập và đi vào hoạt động Những khẩu hiệu như “Nước
ép cà chua Ogi đi lên Hockaido” hay “Karinto (một loại bánh vùng Amagase) tiến vào Hoa Kỳ” … đã song hành cùng họ nhiều năm qua tạo ra một niềm kiêu hãnh và tự tin để vượt qua những khó khăn trong sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm
Ngoài ra các mô hình như Điểm dừng xe ven đường trong Phong trào
“Mỗi làng, một sản phẩm”, Thị trấn Oyama: “Đưa cây mận (Ume) và hạt dẻ tiến
vào”, Himeshima: Nơi sản xuất tôm lớn nhất Nhật Bản, Kitsuki: Trồng quít bằng nền nông nghiệp công nghệ cao, Yufuin: Phát triển quê hương bằng du lịch phong cảnh, Nakatsue: Mang mỏ vàng vào cuộc sống, Showa: Khôi phục thị
trấn từ truyền thống văn hoá và lịch sử, Ajimu: Đưa khách du lịch về tận nhà
người dân, Saganoseki: Thương hiệu làm nên sự thành công đều có sự đóng
góp rất lớn của chị em phụ nữ Nhật Bản
Phụ nữ Nhật Bản đóng góp rất lớn trong công cuộc chung, góp phần tạo ra
số lượng sản phẩm thủ công được làm và bán ra tăng từ 143 loại sản phẩm, thu nhập 35,9 tỷ yên khi phong trào mới bắt đầu lên 336 loại sản phẩm và cho thu nhập 141 tỷ yên vào năm 2001
Các mặt hàng nông sản phổ biến của địa phương từ chỗ ít được biết đến
ngay trên thị trường nội địa như nấm khô, rượu cất sochu từ lúa mạch, cam, chanh… đã trở lên phổ biến và có giá bán khá cao như nấm khô Shiitake từ 1%
đã tăng lên 32%, rượu sochu từ 1% lên 30,7% thị phần của thị trường nội địa,