BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM *** BÙI THỊ TRANG THÀNH PHẦN THIÊN ĐỊCH CỦA NHÓM RẦY HẠI THÂN LÚA VỤ MÙA NĂM 2014; ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
***
BÙI THỊ TRANG
THÀNH PHẦN THIÊN ĐỊCH CỦA NHÓM RẦY HẠI THÂN LÚA
VỤ MÙA NĂM 2014; ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI LOÀI
BỌ XÍT MÙ XANH (Cyrtorhinus lividipennis Reuter) TẠI NAM ĐỊNH
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng kết quả nghiên cứu này là của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một công trình nghiên cứu nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đều đã được cảm ơn Các thông tin trích dẫn sử dụng trong luận văn đều được ghi rõ các nguồn gốc, xuất xứ
Nam Định, ngày 10 tháng 6 năm 2015
Tác giả luận văn
Bùi Thị Trang
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, trong suốt quá trình thực tập
nghiên cứu, tôi đã nhận được sự hướng dẫn , chỉ bảo nhiệt tình của giáo viên hướng dẫn, của tập thể, cá nhân, sự động viên của gia đình, bạn bè
Trước tiên, Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Đình Chiến - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài, và các quý thầy cô giáo trong Bộ môn Côn trùng - Khoa Nông học
Tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo và các đồng nghiệp ở Chi cục BVTV Nam Định đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện
và hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các tập thể, cá nhân, bạn bè và người thân đã động viên khích lệ tôi trong thời gian học tập tại trường và thực hiện đề tài tốt nghiệp
Nam Định, ngày 10 thán 6 năm 2015
Tác giả luận văn
Bùi Thị Trang
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Chữ viết tắt, ký hiệu vii
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.2 Những nghiên cứu ngoài nước 5
1.2.1 Nghiên cứu về nhóm rầy hại thân 5
1.2.2 Nghiên cứu về thiên địch của nhóm rầy hại thân 10
1.2.3 Nghiên cứu về bọ xít mù xanh 11
1.3 Những nghiên cứu trong nước 13
1.3.1 Nghiên cứu về nhóm rầy hại thân 13
1.3.2 Nghiên cứu về thiên địch trên nhóm rầy hại thân lúa 18
1.3.3 Nghiên cứu về bọ xít mù xanh 19
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng nghiên cứu 22
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 22
2.3 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu 22
2.4 Nội dung nghiên cứu 22
2.5 Phương pháp nghiên cứu 22
2.5.1 Điều tra thiên địch của nhóm rầy hại thân lúa 22
2.5.2 Điều tra diễn biến mật độ nhóm rầy hại thân lúa trên đồng ruộng 23
Trang 52.5.3 Một số đặc tính sinh vật học của bọ xít mù xanh trong phòng
thí nghiệm 24
2.5.4 Thời gian phát dục các pha bọ xít mù xanh khi cung cấp mật độ vật mồi khác nhau (rầy nâu tuổi 2, tuổi 3) 26
2.5.5 Xác định sức sinh sản của trưởng thành cái 26
2.5.6 Xác định sức tiêu thụ vật mồi của các pha phát dục bọ xít mù xanh 26
2.6 Công thức tính toán 27
2.7 Phương pháp xử lý số liệu 28
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29
3.1 Thành phần nhóm rầy hại thân lúa và thiên địch phổ biến của chúng vụ mùa 2014 tại xã Nam Toàn huyện Nam Trực tỉnh Nam Định 29
3.1.1 Thành phần nhóm rầy hại thân lúa 29
3.1.2 Thành phần thiên địch của nhóm rầy hại thân lúa 30
3.2 Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái của loài bọ xít mù xanh Cyrtorhinus lividipennis. 34
3.2.1 Vị trí phân loại 34
3.2.2 Đặc điểm hình thái bọ xít mù xanh C.lividipennis 34
3.3 Đặc điểm sinh học của bọ xít mù xanh C.lividipennis 40
3.3.1 Tập tính sinh sống 40
3.3.2 Thời gian phát dục các pha bọ xít mù xanh C.lividipennis 41
3.3.3 Sức đẻ trứng của trưởng thành cái 42
3.3.4 Nhịp điệu đẻ trứng của Bọ xít mù xanh C.lividipennis 43
3.3.5 Tỷ lệ trứng nở 45
3.3.6 Tỷ lệ sống sót 46
3.3.7 Tỷ lệ đực cái 47
3.3.8 Khả năng tiêu thụ vật mồi của các pha loài bọ xít mù xanh C lividipennis 49
Trang 63.3.9.Thời gian phát dục các tuổi bọ xít mù xanh C.lividipennis khi
cung cấp mật độ vật mồi khác nhau (rầy nâu non tuổi 2, tuổi 3) 50
3.4 Ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến mật độ nhóm rầy hại thân và bọ xít mù xanh C.lividipennis trong vụ mùa 2014 tại Nam Toàn, Nam Trực, Nam Định. 51
3.4.1 Ảnh hưởng yếu tố thời vụ 52
3.4.2 Ảnh hưởng yếu tố giống 54
3.5 Tương quan mật độ giữa nhóm rầy hại thân lúa với mật độ bọ xít mù xanh. 58
3.5.1 Tương quan mật độ giữa nhóm rầy hại thân lúa và bọ xít mù xanh trên giống Bắc Thơm số 7 58
3.5.2 Tương quan mật độ giữa nhóm rầy hại thân lúa và bọ xít mù xanh trên giống Bắc Thơm kháng bạc lá 59
3.5.3 Tương quan mật độ giữa nhóm rầy hại thân lúa và bọ xít mù xanh trên giống BC15 60
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61
Kết luận 61
Kiến nghị 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
2 Phụ lục xử lý thống kê 69
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt, ký hiệu Diễn giải chữ viết tắt, ký hiệu
2 BNN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 8DANH MỤC BẢNG
3.1 Thành phần nhóm rầy hại thân lúa vụ mùa 2014 tại xã Nam Toàn
huyện Nam Trực tỉnh Nam Định 29
3.2 Thành phần thiên địch của nhóm rầy hại thân lúa vụ mùa 2014 tại xã Nam Toàn huyện Nam Trực tỉnh Nam Định 31
3.3: Kích thước các pha bọ xít mù xanh C.lividipennis 39
3.4 Thời gian phát dục các pha của bọ xít mù xanh C.lividipennis 41
3.5: Sức đẻ trứng của trưởng thành cái bọ xít mù xanh C.lividipennis 42
3.6: Nhịp điệu đẻ trứng của trưởng thành cái bọ xít mù xanh C.lividipennis 44
3.7: Tỷ lệ trứng nở bọ xít mù xanh C.lividipennis 46
3.8: Tỷ lệ sống sót loài bọ xít mù xanh C.lividipennis 47
3.9: Tỷ lệ đực cái bọ xít mù xanh C.lividipennis 48
3.10 Sức tiêu thụ rầy nâu non (tuổi 2, tuổi 3) của các pha phát dục bọ xít mù xanh Cyrtorhinus lividipennis 49
3.11 Ảnh hưởng mật độ vật mồi (rầy nâu tuổi 2, tuổi 3) tới thời gian phát dục các pha của bọ xít mù xanh C.lividipennis 50
3.12 Diễn biến mật độ nhóm rầy hại thân và bọ xít mù xanh trong trà sớm và trà trung 2014 tại Nam Trực, Nam Định 52
3.14 Diễn biến mật độ nhóm rầy hại thân và bọ xít mù xanh trên giống TEJ vàng vụ mùa 2014 tại Nam Trực, Nam Định 56
Trang 9DANH MỤC HÌNH
3.1: Một số hình ảnh thiên địch của nhóm rầy hại thân lúa 33
3.2: Trứng mới đẻ 34
3.3: Trứng sắp nở 34
3.4: Ấu trùng bọ xít mù xanh tuổi 1 35
3.5: Ấu trùng bọ xít mù xanh tuổi 2 36
3.6: Ấu trùng bọ xít mù xanh tuổi 3 36
3.7: Ấu trùng bọ xít mù xanh tuổi 4 37
3.8 Trưởng thành cái mặt lưng 38
3.9 Trưởng thành cái mặt bụng 38
3.10: Bộ phận sinh dục ngoài 38
3.11: Bộ phận sinh dục ngoài (con cái) 38
3.13 Diễn biến mật độ nhóm rầy hại thân và bọ xít mù xanh trong trà sớm và trà trung 2014 tại Nam Trực, Nam Định 53
3.14 Diễn biến nhóm rầy hại thân và bọ xít mù xanh trên giống BC15 vụ mùa 2014 tại Nam Trực - Nam Định 55
3.15 Diễn biến mật độ nhóm rầy hại thân và bọ xít mù xanh trên giống TEJ vàng vụ mùa 2014 tại Nam Trực, Nam Định 57
3.17 Tương quan mật độ giữa nhóm rầy hại thân lúa và bọ xít mù xanh trên giống Bắc Thơm kháng bạc lá 59
3.18 Tương quan mật độ giữa nhóm rầy hại thân lúa và bọ xít mù xanh trên giống BC15 60
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây lúa Oryza sativa là một trong những cây lương thực chính cung
cấp lương thực cho hai phần ba dân số thế giới Châu Á là nơi gắn liền với văn minh lúa nước, sản xuất lúa gạo chiếm phần lớn trên thế giới về diện tích
và sản lượng Dân số Việt Nam có 87 triệu người, chiếm 70% là nông dân, sản xuất nông nghiệp trồng lúa là cây lương thực chính Theo thống kê của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), năm 2009, cả nước xuất khẩu hơn 6,052 triệu tấn gạo các loại, với giá trị 2,464 tỉ USD Những năm gần đây nước ta luôn đứng vị trí thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo sau Thái Lan
Quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ngày càng diễn ra mạnh mẽ kéo theo đó là diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp dần Dân số thế giới gia tăng nhanh, vì vậy nhu cầu lương thực ngày càng tăng cao
Sản lượng thất thu do dịch hại gây ra cũng vô cùng to lớn, ước tính hàng năm bị thất thu khoảng 210 triệu tấn lương thực, trong đó thiệt hại do sâu hại gây ra chiếm 27%, bệnh hại chiếm 8,9%, cỏ dại chiếm 10,8%
Theo thống kê của tổ chức FAO: tính đến năm 1985 thì có tới 870 vụ dịch hại của sâu đối với nền nông nghiệp ở các nước Châu Á trong đó có tới 27% báo cáo khoa học nói về dịch rầy nâu, tiếp đến là 20% về dịch sâu cắn gié…
Trong vài năm trở lại đây nhóm rầy hại lúa đã bùng phát trên diện tích lớn gây hại nghiêm trọng về năng suất không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trồng lúa ở Châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan… Nguy hiểm hơn, nhóm rầy hại thân lúa còn là môi giới truyền một số bệnh virus lùn sọc đen lan truyền với vector là rầy lưng trắng, rầy nâu nhỏ đang là đối tượng gây hại nguy hiểm với nhiều diện tích lúa (Báo Nông nghiệp Việt Nam, 2009)
Trang 11Nhưng bên cạnh các loài sâu bệnh hại thì còn có một bộ phận các loài thiên địch rất phong phú về thành phần và đông đảo về số lượng Chúng song song tồn tại và khống chế các loài sâu bệnh hại, bảo vệ mùa màng
Để có những đánh giá chính xác về thành phần, mức độ gây hại của sâu hại lúa và những hoạt động hữu ích của thiên địch trên lúa, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Thành phần thiên địch của nhóm rầy hại thân lúa vụ mùa năm 2014; đặc điểm sinh học, sinh thái loài Bọ xít mù xanh (Cyrtorhinus lividipennis Reuter) tại Nam Định”
2 Mục đích, yêu cầu
2.1 Mục đích
Trên cơ sở điều tra đồng ruộng xác định thành phần nhóm rầy hại thân lúa và thiên địch của chúng; đồng thời nắm được đặc điểm sinh học, sinh thái
của Bọ xít mù xanh (Cyrtorhinus lividipennis Reuter); từ đó đề xuất biện pháp
bảo vệ và lợi dụng thiên địch phòng chống nhóm rầy hại thân đạt hiệu quả
2.2 Yêu cầu
- Nuôi sinh học bọ xít mù xanh (C.lividipennis) xác định thời gian phát dục,
các pha, vòng đời, sức sinh sản, khả năng ăn mồi của ấu trùng và trưởng thành
- Xác định thành phần nhóm rầy hại thân lúa và thiên địch của chúng trong vụ mùa năm 2014 tại Nam Định
- Theo dõi diễn biến mật độ của nhóm rầy hại thân và bọ xít mù xanh
- Tìm hiểu mối quan hệ giữa bọ xít mù xanh (C.lividipennis) và
nhóm rầy hại thân
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Trang 12- Bên cạnh đó, bổ sung thêm một số đặc điểm sinh vật học, sinh thái
học của loài bọ xít mù xanh Cyrtorhinus lividipennis trong điều kiện vụ mùa
năm 2014 tại huyện Nam Trực tỉnh Nam Định
3.2 Ý nghĩa thực tiễn:
- Nắm bắt được diễn biến quy luật nhóm rầy hại thân và có hiểu biết thêm
về giá trị hữu ích của loài bọ xít mù xanh Cyrtorhinus lividipennis, từ đó xây
dựng một số biện pháp bảo vệ, duy trì và khuyến khích loài kẻ thù tự nhiên này
Trang 13Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Lúa gạo được coi là 1 trong 3 cây lương thực chính trên thế giới Trong
đó khoảng 40% dân số coi lúa gạo là nguồn lương thực chính, 25% dân số sử dụng lúa gạo trên ½ khẩu phần lương thực hàng ngày Nhu cầu về lương thực ngày càng tăng cao Song song với chất lượng đời sống, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện nay đang tạo ra những thay đổi sâu sắc trong toàn bộ xã hội cũng như trong đời sống của mỗi người dân Nhiều vấn đề về kinh tế và xã hội quan trọng đã được giải quyết, tuy nhiên vấn đề về lương thực vẫn còn là mối quan tâm thường xuyên của nhiều người Hàng năm thế giới bị thất thu lương thực vì sâu bệnh và cỏ dại là rất lớn Trong đó sâu hại là nguyên nhân quan trọng nhất trong những nguyên nhân trên Trong số sâu hại lúa ở Đông
Nam Á, từ đầu những năm 70 của thế kỷ trước trở lại đây, rầy nâu Nilaparvata
lugens Stal đã dần dần chiếm vị trí quan trọng hàng đầu Không chỉ ở Việt nam,
rầy nâu đã xuất hiện ở tất cả các nước trồng lúa Đông Nam Á, gây nhiều thiệt hại rất nghiêm trọng trên diện rộng mà điển hình là hiện tượng cháy rầy Ngoài tác
hại trực tiếp, rầy nâu còn là môi giới truyền hai bệnh virus: bệnh lúa cỏ (grassy stunt disease) và bệnh lùn xoắn lá (ragged stunt disease) Với phạm vi phân bố
rộng làm cho mức độ gây hại ngày càng lớn Việc phun trừ rầy nâu, rầy lưng trắng, rầy nâu nhỏ bằng thuốc hóa học nhiều đã tạo nên tính kháng rầy làm cho việc phòng trừ rầy ngày càng khó khăn
Thiên địch của dịch hại nói chung và sâu hại nói riêng là những thành viên không thể thiếu được trong các sinh quần tự nhiên cũng như hệ sinh thái đồng ruộng Ở từng lúc, từng nơi trong các điều kiên cụ thể, thiên địch tự nhiên có thể kìm hãm mật độ sâu hại ở dưới ngưỡng gây hại kinh tế Việc nghiên cứu phát triển các loài kẻ thù tự nhiên giúp khống chế được sâu hại, giảm chi phí trong nông nghiệp, giúp bảo vệ môi trường và đảm bảo nền nông
Trang 14nghiệp sạch, an toàn
Chính vì vậy hiểu biết về hệ sinh thái nông nghiệp sẽ là cơ sở khoa học cho việc xây dựng các biện pháp thâm canh, bảo vệ cây lúa tránh những mất mát do dịch hại gây ra, đảm bảo năng suất, bảo vệ môi trường và góp phần giữ cân bằng sinh thái Kết quả điều tra diễn biến, thành phần nhóm rầy hại thân và thiên địch của chúng là cơ sở cho công tác dự tính dự báo nhóm rầy hại thân lúa là thiết thực góp phần xây dựng biện pháp phòng trừ tổng hợp sâu hại lúa, góp phần bảo vệ và khích lệ thiên địch có ích trong bảo vệ mùa màng
1.2 Những nghiên cứu ngoài nước
1.2.1 Nghiên cứu về nhóm rầy hại thân
Ở Việt Nam, trong vài năm trở lại đây, nhóm rầy hại lúa đã bùng phát trên diện tích lớn với diện phân bố và mức độ gây hại gia tăng rất nhanh gây thiệt hại nghiêm trọng về năng suất ở nhiều vùng trong cả nước Bên cạnh phương thức gây hại trực tiếp bằng cách chúng chích hút trên lúa làm cho khóm lúa bị khô héo và chết, nhóm rầy hại thân còn gây hại gián tiếp là môi giới truyền một số bệnh virus nguy hiểm như: vàng lùn, lùn xoắn lá, lúa cỏ, lùn sọc đen… trong đó bệnh virus lùn sọc đen lan truyền với vector là rầy lưng trắng, rầy nâu nhỏ đang là đối tượng gây hại nguy hiểm với nhiều diện tích lúa Nhóm rầy hại thân lúa bao gồm các loài rầy chích hút trên thân lúa, thuộc họ Rầy nâu (Delphacidae) gồm 3 loài chính: rầy nâu, rầy lưng trắng và rầy nâu nhỏ Chúng đều thuộc bộ phụ Auchenorrhyncha, bộ cánh đều Homoptera
Trong nhóm rầy hại thân lúa, rầy nâu và rầy lưng trắng là hai loài chiếm ưu thế nhất, thường xuyên có mặt trên đồng ruộng Thiệt hại do chúng gây ra là rất lớn Bên cạnh thiệt hại trực tiếp cho cây trồng bằng cách trưởng thành và ấu trùng của chúng chích hút dịch cây, chúng còn truyền bệnh lúa cỏ trên lúa Rầy nâu có khả năng sinh sản nhanh với số lượng lớn Năm 2006, đã
có báo cáo về thiệt hại do rầy nâu gây ra tại Telangana của Karnataka
Trang 15Rầy nâu có phổ phân bố rộng và gây hại trên nhiều quốc gia Do đó thất thu trong nền nông nghiệp do rầy nâu gây nên những tổn thất nghiêm trọng cho nền nông nghiệp một số nước nhiệt đới của Châu Á Tại Ấn Độ và Indonexia thiệt hại ước tính khoảng 100 triệu đô la, Philippines khoảng 26 triệu đô la Rầy nâu còn là môi giới truyền bệnh lúa cỏ trên lúa.(Dyck and Thomas, 1979)
Theo Mochida and Heinrichs (1979), thiệt hại do rầy nâu gây ra và 2 bệnh virus do rầy nâu là môi giới truyền bệnh đã gây ra thiệt hại về năng suất vô cùng quan trọng trong sản xuất lúa ở Nam và Đông Nam Á Ước tính thiệt hại
do đối tượng này gây nên khoảng 300 triệu USD Tại viện nghiên cứu lúa IRRI
đã lai tạo ra nhiều giống kháng rầy, tuy nhiên chỉ sau 2 năm đã trở nên mẫm cảm với rầy nâu ở quần đảo Solomon, Philippines và Indonesia Như vậy giống kháng rầy đang bị đe dọa bởi các nòi Biotypes mới của rầy nâu
Ký chủ rầy nâu chủ yếu là cây trồng và cây dại thuộc họ hoà thảo Trong đó lúa nước là ký chủ chính của rầy nâu do đó thời gian không trồng lúa hoặc để ruộng nghỉ không có lúa chét có thể làm giảm số lượng rầy Thí nghiệm ở Viện nghiên cứu Lúa Quốc tế cho thấy, cỏ dại ở ruộng lúa có thể góp phần làm tăng số lượng rầy khi lúa gần chín, có thể do đã tạo được môi trường
có thảm cây rậm rạp Tuy nhiên, có một số tác giả khác cho rằng, các ký chủ không phải là lúa chỉ là nơi trú ngụ tạm thời của rầy nâu (Hinekly, 1963)
Theo Dale (1994), rầy nâu có thể hại ở tất cả những giai đoạn sinh trưởng của cây lúa Ở giai đoạn lúa làm đòng, rầy trưởng thành và rầy non dùng miệng chích vào thân cây lúa để hút dịch cây Bị hại nhẹ các lá phía dưới có thể bị héo, hạt lúa bị lửng lép Bị hại nặng gây nên hiện tượng “cháy rầy”, cả ruộng lúa bị khô héo Nếu gặp mưa lúa bị hại có thể bị thối nhũn Năng suất có thể bị giảm tới 50% hoặc mất trắng
Theo Kuno (1979), số lượng rầy nâu ở các vùng ôn đới được đặc trưng
về số lượng theo mùa với mật độ ban đầu thấp, có sự biến động về số lượng,
Trang 16phân bố co cụm từ năm này sang năm khác Rầy nâu có khả năng thích ứng cao với tất cả các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây lúa
Sự phát sinh gây hại của rầy nâu nặng hay nhẹ còn phụ thuộc vào cơ cấu giống trong vụ Quan niệm chung đến nay đều cho rằng việc gieo cấy các giống lúa mới đã làm tác hại của rầy nâu tăng lên Những giống lúa mới thấp cây, lá thẳng đứng và đẻ nhiều tạo ra một thảm lá dày là điều kiện tốt cho rầy nâu phát triển (Heinrichs, 1994)
Dyck et al.(1979), đã chỉ ra rằng sự thay đổi cơ cấu giống đã gây ra sự
bùng phát số lượng rầy nâu trong những năm gần đây Việc thâm canh tăng
vụ, bón nhiều đạm, sử dụng thuốc trừ sâu và ảnh hưởng của khí hậu đã làm phong phú dịch hại trên đồng ruộng Trưởng thành rầy nâu có khả năng phát tán cao, chúng chủ yếu phát tán vào những giờ đầu của buổi tối Trong một năm, trong một khu vực thường có 2 đỉnh cao mật số rầy nâu, chúng xảy ra vào gần cuối mỗi vụ lúa
Theo Nagarajan (1994), quần thể rầy nâu có nhiều Biotype và hiện nay đã xuất hiện 4 Biotype (Bph1, Bph2, Bph3, and Bph4), chúng được sinh ra bởi các gen kháng Các Biotype được sinh ra để giúp rầy nâu duy trì nòi giống trước những tác động của môi trường Sự xuất hiện rộng rãi của các Biotype này được xác định chủ yếu do việc sử dụng bừa bãi các loại thuốc trừ sâu
Trong các yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng phát triển của rầy nâu thì thức ăn cũng là nhân tố chi phối quá trình phát dục và biến động mật độ quần thể rầy Vì vậy trong cơ cấu mùa vụ khác nhau, phương thức canh tác khác nhau thì sự xuất hiện, phát triển và mức độ tác hại của rầy cũng khác nhau Rầy nâu trưởng thành cánh dài xuất hiện và gây hại trên ruộng lúa từ 20-30 ngày sau cấy Sau đó lứa rầy nâu bắt đầu xuất hiện phát triển thành 2 dạng rầy cánh ngắn và cánh dài (Kisimoto, 1977)
Loài rầy hại thân thứ hai là rầy lưng trắng có tên khoa học Sogatella furcifera Horvath Rầy lưng trắng cũng là loài chích hút thuộc họ
Trang 17Delphacidae Rầy lưng trắng có diện phân bố rất rộng, chúng phân bố khắp các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á, châu Đại Dương và một số nước châu Mỹ
Tại châu Á, rầy lưng trắng có phạm vi phân bố rộng gồm hầu hết các nước trồng lúa bao gồm Châu Á, Châu Úc và các đảo Thái Bình Dương Ở Châu Á nó được tìm thấy ở Bangladesh, Campuchia, Trung Quốc, Hồng
Kông, Ấn Độ, Việt Nam, Lào, Malaysia… (Catindig et al., 2009)
Tại Trung Quốc, đã ghi nhận rầy lưng trắng phát sinh và gây hại nặng
từ những năm giữa thế kỷ 20, trong đó từ những năm 1970 trở lại đây cùng với sự mở rộng và phát triển của các giống lúa lai thì rầy lưng trắng đã trở thành đại dịch Trong đó, vào năm 1978-1979, 1982-1983, 1987-1988, thiệt hại do rầy lưng trắng lên tới 1 triệu tấn lúa/năm, đặc biệt năm 1991diện tích bị hại do rầy nâu và rầy lưng trắng lên tới 25 triệu ha (Jiaan Cheng, 2009)
Khi mật độ rầy cao hiện tượng cháy rầy xảy ra Khóm lúa bị vàng đỏ và cây lúa thụt đi khi mật độ rầy cao và có thể lan nhanh, điển hình tại các vùng Assam Ấn Độ, tháng 5 - 6 năm 1985 có hơn 8.000 ha lúa IR8 đã bị cháy rầy
lưng trắng ( Reissig et al.,1986)
Rầy lưng trắng gây hại trên hầu hết các bộ phận của cây lúa như thân, lá
và bông Trong quá trình sinh trưởng phát triển của cây lúa, giai đoạn mạ và lúa
đẻ nhánh là 2 thời điểm rầy gây hại nặng Ở giai đoạn mạ nếu bị hại nặng cây sinh trưởng kém, dảnh mạ bị héo và chết Trong thời kỳ trỗ bông nếu cây bị hại
vỏ trấu có màu nâu, một số hạt bị lép hoặc lửng, nếu bị hại vào thờì kỳ lúa chín thì hạt sẽ mất khả năng nảy mầm và thời kỳ chín bị kéo dài ra
Rầy cái mang trứng còn gây thiệt hại bằng cách chọc thủng mô bẹ lá lúa
để đẻ trứng Dịch ngọt do rầy thải ra còn giúp cho sự phát triển của nấm Đây
là nguyên nhân gián tiếp chính của bệnh muội đen trên lúa (Dale, 1994)
Rầy lưng trắng là môi giới truyền bệnh lùn sọc đen trên lúa gây ra những tổn thất nghiêm trọng Sử dụng thuốc trừ sâu để phòng trừ vector này,
Trang 18tuy nhiên đã nhận thấy loài này có sự kháng thuốc ở Trung Quốc (Jianya Su
et al., 2013)
Theo Masaru et al.,2009, toàn bộ rầy lưng trắng di cư từ đại lục Trung
Quốc sang Nhật Bản trong mùa mưa từ đầu tháng 6 đến đầu tháng 7 Trên lúa, rầy lưng trắng tăng nhanh vào các thế hệ tiếp theo và đạt đỉnh cao về mật độ vào nửa cuối tháng 7 hoặc nửa đầu tháng 8
Sự di chuyển của rầy lưng trắng liên quan đến cường độ ánh sáng và nhiệt độ Hoạt động di chuyển của rầy lưng trắng có liên quan đến tuần trăng Theo Kisimoto (1971), có 5 đợt rầy di cư ở Trung Quốc từ giữa tháng 4 đến đầu tháng 5 nhờ gió nam và tây nam, có 3 đợt di cư hướng tây nam vào giữa
và cuối tháng 8, cuối tháng 10 Ở bán đảo Triều Tiên việc du nhập qua biển đông của rầy nâu và rầy lưng trắng vào cuối tháng 6, đầu tháng 7 và các đảo miền trung của Nam Triều Tiên là cuối tháng 7
Rầy lưng trắng còn có sự di cư giữa các vụ lúa với khoảng cách từ
6-30 km sau khi cất cánh vào buổi tối trong mùa khô ở các vùng nhiệt đới
(Shingh et al., 1986)
Loài rầy hại thân thứ ba là rầy nâu nhỏ (rầy xám) có tên khoa học là
Laodelphax striatellus Fallén thuộc giống Laodelphax, họ Delphacidae
Phạm vi phân bố của rầy nâu nhỏ khá rộng Chúng là loài có mật số cao nhất ở vùng bán nhiệt đới Rầy nâu nhỏ là tác nhân truyền bệnh lùn sọc đen Trưởng thành của chúng có hai dạng cánh dài và cánh ngắn (Mueller, 1983)
Rầy nâu nhỏ mức độ phổ biến không nhiều trên đồng ruộng và phạm vi gây hại không lớn so với rầy nâu và rầy lưng trắng Do đó mật độ rầy nâu nhỏ không nhiều để có thể gây nên cháy rầy Rầy nâu nhỏ có mật độ cao nhất ở khu vực nhiệt đới
Trứng rầy nâu nhỏ mới đẻ có màu trắng trong, khi gần nở có chấm đỏ ở đầu trứng Mỗi con cái đẻ khoảng 50-200 quả trứng Rầy non có kích thước nhỏ
Trang 19hơn rầy nâu và rầy lưng trắng Rầy non cũng có 5 tuổi, cơ thể có màu nâu nhạt đến nâu đậm
Trưởng thành rầy nâu nhỏ có hai dạng cánh ngắn và cánh dài, trưởng thành đầu tiên bay đến ruộng lúa vào mùa xuân từ cỏ dại, lúa mỳ hoặc lúa mạch, thường 5 % trưởng thành đầu tiên mang virus lùn sọc đen, con trưởng thành bị bẫy đèn và bẫy màu vàng thu hút mạnh (Hill S Dennish, 1983) Theo Ling K.C (1972), Tại Nhật Bản đã phát hiện ra bệnh lùn sọc đen tại 6 huyện từ năm 1941 và đã xác nhận bệnh do rầy nâu nhỏ gây ra Virus tồn tại trong các vector trong thời gian dài Thời gian ủ virus trong vector rầy nâu nhỏ dài đến
35 ngày nhưng chủ yếu từ 7-21 ngày
Theo Nagata and Masuda (1980), những loại thuốc trừ rầy nâu và rầy lưng trắng đều có tác dụng trừ rầy nâu nhỏ Tuy nhiên, số lượng và mật độ quần thể rầy nâu nhỏ không quyết định đến mức độ gây hại mà tỷ lệ rầy nâu nhỏ mang nguồn bệnh virus Ở Nhật Bản, trong 10 năm từ 1961 - 1971 có 3 nhóm thuốc Clo hữu cơ, lân hữu cơ, Carbamat đã được thay đổi luân phiên để
sử dụng phòng trừ rầy lưng trắng và rầy nâu nhỏ
1.2.2 Nghiên cứu về thiên địch của nhóm rầy hại thân
Theo nghiên cứu của Reissig et al., 1986, kẻ thù tự nhiên của rầy nâu
rất đa dạng và phong phú Với số lượng lớn trên đồng ruộng, các loài nhện bắt mồi có vai trò quan trọng trong việc kìm hãm mật độ rầy nâu Theo thống kê đến năm 1979 trên thế giới có 83 loài thiên địch của rầy nâu đã được phát hiện, trong đó có 43 loài có vai trò quan trọng đối với biến động số lượng rầy nâu (bao gồm 35 loài côn trùng ký sinh và ăn thịt, 1 loài giun tròn và 7 loài vi sinh vật gây bệnh) Ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới rầy lưng trắng có khoảng 18 loài thiên địch trong đó có 8 loài ký sinh (4 loài ký sinh trứng và 4 loài ký sinh sâu non), 9 loài bắt mồi và 1 tác nhân gây bệnh Rầy nâu nhỏ
có thể bị các thiên địch tấn công ở các giai đoạn, trứng rầy nâu nhỏ bị ong
Trichogrammatidae ký sinh và là thức ăn của bọ xít mù xanh Cyrtorhinus
Trang 20livipennis Rầy non và rầy trưởng thành bị các loài ong Drynidae, bọ cánh cuốn Elenchidae ký sinh Ngoài ra, rầy non và trưởng thành của rầy nâu nhỏ
thường bị bọ cánh cứng thuỷ sinh sống trong nước và ấu trùng chuồn
chuồn ăn thịt (Reissig et al.,1986)
Thiên địch của rầy nâu rất phong phú và đa dạng Ở Đài Loan tuỳ điều kiện từng vụ lúa trứng rầy nâu bị một số loài ong ký sinh từ 3,3-38,1% Ở Thái Lan, trung bình có 61% trứng rầy nâu bị ký sinh Ở Sri Lanka, trứng rầy nâu có thể bị ký sinh tới 80%, nhưng tỷ lệ này không ổn định Do đó ký sinh trứng không có ảnh hưởng lớn tới quần thể rầy nâu (Chiu, 1979)
Các loài bắt mồi ăn thịt có vai trò đáng kể trong việc hạn chế số lượng rầy lưng trắng Theo Lin (1976) trong các loài bắt mồi thì các loài bọ xít và
nhện là những thiên địch quan trọng Tytthus và Cyrtorhinus đặc biệt thích
ứng với trứng và rầy non tuổi nhỏ của rầy họ Delphacidae
1.2.3 Nghiên cứu về bọ xít mù xanh
Theo Reyes and Gabriel,1975, loài bọ xít mù xanh Cyrtorhinus lividipennis Reuter trải qua các pha phát triển trong những khoảng thời gian
khác nhau Thời gian pha trứng 6 - 9 ngày, thường là 6 ngày Thời gian phát triển tuổi 1 từ 2 - 4 ngày (trung bình 2,93 ± 0,58 ngày); tuổi 2 từ 2 - 4 ngày (trung bình 3,06 ± 0,57 ngày); tuổi 3 từ 3 - 5 ngày (trung bình 3,96 ± 0,57 ngày); tuổi 4 từ 3 - 4 ngày (trung bình 3,60 ± 0,51 ngày); thời gian sống của trưởng thành đực từ 7 - 25 ngày và trưởng thành cái từ 5 - 21 ngày
Bọ xít mù xanh là loài bắt mồi rất hiệu quả trong việc hạn chế số
lượng rầy hại lúa Liquido et al., đã tiến hành nuôi bọ xít mù xanh bằng trứng rầy xanh đuôi đen Nephotettix virescens và kết quả đã chỉ ra rằng thời gian
hoàn thành vòng đời của chúng kéo dài từ 20 - 31 ngày, trung bình 26,12 ngày Tuổi thọ trung bình của trưởng thành cái lớn hơn tuổi thọ trung bình của trưởng thành đực (Liquido and Nishida, 1985)
Để đánh giá tính lựa chọn thức ăn của bọ xít mù xanh, thí nghiệm được
Trang 21tiến hành với các loại vật mồi khác nhau là 3 loài rầy: rầy nâu, rầy lưng trắng
và rầy xanh đuôi đen được lấy nuôi trên cây lúa và ở các giai đoạn khác nhau của cây lúa (15, 40, 75 ngày sau cấy) Kết quả cho thấy nguồn thức ăn ưa thích của bọ xít mù xanh là rầy nâu trên cây lúa 75 ngày sau cấy hơn hai
nguồn thức ăn còn lại (Jhansi et al., 2006)
Theo nghiên cứu của Jhansi and Pasalu (2007), để đánh giá về sự hấp dẫn của thức ăn nhân tạo từ mật ong và đường sucrose đối với bọ xít mù xanh
C Lividipennis Reuter trong điều kiện phòng thí nghiệm và nhà kính Thí
nghiệm được thực hiện với thức ăn là mật ong và đường sucrose ở các nồng
độ khác nhau (10%, 25%, 50% và 100%) Kết quả đã chỉ ra rằng mật ong hấp dẫn bọ xít mù xanh hơn đường sucrose và thức ăn nhân tạo ở các nồng độ
khác nhau không có sự sai khác trong việc thu hút C.lividipennis Nguồn thức
ăn nhân tạo này giúp kéo dài thời gian sống của bọ xít mù xanh (7 - 9 ngày)
so với nuôi chúng trên thân cây lúa không được bổ sung thức ăn, chúng chỉ sống được 5 ngày
Theo những nghiên cứu của Dissertation vào năm 1973, loài bọ xít mù xanh trải qua 3 pha phát triển bao gồm pha trứng, pha ấu trùng, pha trưởng thành Trong đó, thời gian phát triển pha trứng kéo dài 7,6 ± 2,59 ngày; pha
ấu trùng trải qua 5 tuổi với tổng thời gian phát triển là 20,2 ± 2,81 ngày; Trong số các loài kẻ thù tự nhiên của nhóm rầy hại lúa, bọ xít mù xanh
là loài kẻ thù tự nhiên có vai trò lớn trong việc khống chế sự bùng phát của rầy hại lúa vào thời điểm rầy phát sinh rộ Đây là loài thiên địch có khả năng săn mồi và tiêu thụ vật mồi lớn, cả pha ấu trùng và trưởng thành bọ xít mù xanh đều có khả năng săn mồi Vật mồi của chúng bao gồm trứng, ấu trùng và
cả trưởng thành của nhiều loài rầy hại thân và hại lá như: rầy nâu, rầy lưng trắng, rầy nâu nhỏ, rầy xanh đuôi đen, rầy mềm hại ngô… Trong điều kiện nhà kính trong vòng 1 ngày, một trưởng thành cái và trưởng thành đực của loài bọ xít mù xanh có thể ăn 20 và 10 trứng rầy nâu (Chiu, 1979)
Trang 221.3 Những nghiên cứu trong nước
1.3.1 Nghiên cứu về nhóm rầy hại thân
Nhóm rầy hại thân bao gồm rầy nâu (Nilaparvata lugen Stal), rầy lưng trắng (Sogatella furcifera Horvath), rầy nâu nhỏ (rầy xám) (Laodelphax striatellus Fallén), (Homoptera, Delphacidae) là nhóm gây hại nghiêm trọng trên
cây lúa nước ở nước ta Sự gây hại của nhóm dịch hại này ngoài tác động trực tiếp lên cây lúa qua trích hút, làm cho cây lúa bị úa vàng, dẫn đến khô héo, chúng còn là tác nhân truyền bệnh virus cho lúa (bệnh virus lùn xoăn lá), làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng lúa gạo
Cho đến thời điểm cuối tháng 4/2012, việc thay đổi cơ cấu giống lúa trồng đã diễn ra trên diện rộng Ở Miền Bắc có trên 90% diện tích lúa được trồng các giống mới có nguồn gốc Trung Quốc, chủ yếu là nhóm giống lúa lai
và lúa thuần chất lượng cao, thích ứng rộng Hầu hết các giống lúa này đều nhiễm các dịch hại quan trọng như rầy nâu, cuốn lá nhỏ, đạo ôn trong những năm trở lại đây, diện tích và mức độ nhiễm dịch hại trên lúa có xu thế tăng cao đặc biệt là rầy nâu, rầy lưng trắng Một số dịch hại mới phát sinh, có nguy
cơ gây hại nặng như rầy nâu nhỏ xuất hiện từ vụ Đông Xuân năm 2009 ở nhiều tỉnh Rầy có xu hướng tăng mạnh và có 2 đỉnh cao về diện tích nhiễm rầy: Năm 2008 có tổng diện tích nhiễm rầy là 567,281 ha; nặng là 109,859 ha
và năm 2010 diện tích nhiễm là 708,131 ha, nặng là 95,893 ha Rầy lưng trắng ngoài trực tiếp gây hại cho lúa, nó còn là môi giới truyền bệnh lùn sọc đen Rầy lưng trắng có xu thế tăng nhanh trong những năm gần đây, đặc biệt
là trên giống lúa lai Trung Quốc Rầy lưng trắng phát sinh sớm từ giai đoạn
mạ đến trước giai đoạn lúa ngậm sữa Vụ Hè Thu, Mùa 2009, rầy lưng trắng tăng cao kéo theo bệnh Lùn sọc đen bùng phát tại các tỉnh phía Bắc (Cục Bảo
vệ thực vật, 2012)
Theo Cục Bảo vệ thực vật (2010), diện tích nhiễm rầy nâu năm 2006 đến năm 2007 tăng từ 448.305 đến 572.419 ha; từ năm 2008 đến 2010 giảm
Trang 23lần lượt qua các năm Riêng năm 2008 diện tích nhiễm rầy tăng khá cao so với các năm còn lại Dịch bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá có diện tích nhễm bệnh cũng như tỷ lệ thiệt hại đều giảm qua các vụ từ năm 2006 đến năm 2010 Đến thời điểm 02/10/2010, vụ lúa thu đông 2010 chỉ còn lại 18 ha lúa bị nhiễm vàng lùn, lùn sọc đen ở Lâm Đồng
Rầy nâu là tác nhân làm lan truyền bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá lúa Tính đến ngày 25/10/2006, diện tích lúa vụ thu đông, vụ mùa 2006 và vụ đông xuân 2006-2007 bị nhiễm rầy nâu của các tỉnh vùng Đồng bằng Sông Cửu Long và Đông Nam bộ là 33.323 ha, và diện tích nhiễm bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá lúa là 51.768 ha, trong đó có 26.283 ha nhiễm bệnh nặng cần phải tiêu hủy (Cục Bảo vệ thực vật, 2006)
Cũng theo Viện Bảo vệ thực vật (2006), rầy nâu là môi giới truyền virus gây bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá theo cơ chế bền vững, vòng đời của rầy nâu tại Long An từ 23,2 - 31,7 ngày và trung bình cứ một tháng có một đợt rầy phá hại và truyền bệnh Rầy non và rầy trưởng thành đều truyền được bệnh, trên ruộng lúa bị bệnh nặng có 51,1% cá thể rầy nâu truyền được bệnh Đỉnh cao của dịch trong vụ đông xuân 2006 - 2007, tỷ lệ rầy nâu vào đèn truyền được bệnh tại Long An là 26,6% và tại Tiền Giang là 35,7% Một cá thể rầy nâu trưởng thành đã nhiễm virus có thể truyền được trung bình cho 7 cây lúa và cao nhất 18 cây lúa
Theo Vũ Quang Minh và Phạm Văn Quỳnh, 2009, sự hiện diện và mật độ rầy nâu xuất hiện trên ruộng lúa có sự liên quan mật thiết với các yếu
tố điều kiện khí hậu, kỹ thuật canh tác Tuy nhiên tùy vào từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây lúa cũng như thời vụ canh tác mà các yếu tố này
có ảnh hưởng khác nhau tới sự hiện diện của rầy nâu trên đồng ruộng
Theo Nguyễn Đức Khiêm (1995a), thời gian phát dục của rầy nâu trong vụ mùa nhiệt độ từ 25 - 29oC thì thời gian trứng khoảng 6,5 - 7,5 ngày, rầy non khoảng 13,5 - 16 ngày, trưởng thành 6-9 ngày, thời gian trước đẻ
Trang 24trứng của trưởng thành là 2,5 - 3 ngày, vòng đời 26 - 30 ngày Tỷ lệ rầy cánh ngắn và cánh dài phụ thuộc vào nguồn thức ăn và mật độ trong ruộng lúa Ở giai đoạn lúa đẻ nhánh và chín chủ yếu rầy cánh dài xâm nhập vào ruộng lúa
và sau đó giảm dần Ở giai đoạn đòng - trỗ đỏ đuôi rầy tăng nhanh về số lượng, tỷ lệ rầy cánh ngắn chiếm chủ yếu Rầy trưởng thành có xu thế bay vào đèn mạnh Đây là một đặc tính dùng trong việc dự tính dự báo rầy nâu
Sự xuất hiện và gây hại của nhóm rầy hại thân lúa còn phụ thuộc vào giống lúa và giai đoạn phát triển để thiết lập mật số Theo Đặng Thị Dung và
cs (2010) cho biết trong điều kiện thời tiết 2007 ở Gia Lâm - Hà Nội, rầy nâu xuất hiện trên hầu hết các giống ngay từ giai đoạn lúa đẻ nhánh (trừ giống Khang Dân) Mật độ rầy tăng dần theo sự sinh trưởng của cây lúa Trên 10 giống lúa điều tra, rầy nâu phát triển trên giống DT 21 và nếp 451 nhanh hơn
so với trên các giống khác Đỉnh cao mật độ rầy nâu tương ứng với giai đoạn lúa ngậm sữa Các giống còn lại có mật độ rầy nâu thấp hơn Còn rầy lưng trắng đạt cao nhất vào thời kỳ lúa trỗ sau đó giảm dần cho đến khi lúa chín Trong 10 giống điều tra, giống Nếp 451 có mật độ cao hơn cả Rầy lưng trắng tồn tại và gây hại trên các giống lúa xuân, song mật độ thấp và gây hại là không đáng kể Kết quả điều tra rầy nâu nhỏ trên lúa xuân 2007 tại Gia Lâm -
Hà Nội cho thấy rầy nâu nhỏ xuất hiện muộn hơn rầy nâu và rầy lưng trắng Ở giai đoạn đẻ nhánh chưa có giống lúa nào bị nhiễm rầy nâu nhỏ Đến lúc lúa đứng cái chỉ có 5 giống lúa có rầy nâu nhỏ xuất hiện đó là Xi23, Nếp DT21, Nếp 451, C70, C71 với mật độ thấp Nhìn chung rầy nâu nhỏ xuất hiện trên các giống với mật độ thấp nên sự gây hại là không đáng kể Đỉnh cao của mật
độ rầy nâu nhỏ thường xuất hiện muộn vào giai đoạn lúa chín sáp Mặt khác, sức đẻ trứng của rầy nâu nhỏ cũng rất thấp nên hầu như rầy nâu nhỏ chưa bao giờ phát triển đạt số lượng để gây cháy lúa
Theo Nguyễn Đức Khiêm (1995b), mức độ nhiễm rầy lưng trắng của tập đoàn giống lúa của Bộ môn Giống, Khoa Trồng trọt, Trường ĐHNNI , Hà
Trang 25Nội như sau: Nếp 451, Mộc tuyền, U17, Ch, KV, mật độ rầy lưng trắng cao nhất lúc lúa đứng cái làm đòng, còn giống CR 203 là giống kháng được rầy lưng trắng, rầy nâu, rầy xám
Các kết quả thí nghiệm của Trần Đình Chiến (1993), cho thấy những loại thuốc độc có hiệu quả đối với rầy nâu thì cũng có hiệu lực đối với rầy lưng trắng như Bassa 50 EC, Mipsin Tuy nhiên, các loại thuốc này đều gây chết cao đối với thiên địch của nhóm rầy
Ở nước ta, rầy lưng trắng phát sinh quanh năm và có mật độ cao ngay
từ đầu vụ Rầy trưởng thành có tính hướng quang mạnh Trên đồng ruộng, rầy lưng trắng du nhập sớm hơn rầy nâu Từ đầu vụ đến giai đoạn lúa đẻ nhánh
rộ, mật độ rầy lưng trắng cao hơn rầy nâu Một năm trên đồng ruộng có 6 - 7 lứa rầy phát sinh gây hại Trong đó, rầy lưng trắng có lứa 2 vào cuối tháng 4 giữa tháng 5 hại trên lúa xuân và lứa 5 vào cuối tháng 8 giữa tháng 9 gây hại nặng cho lúa mùa Rầy lưng trắng hại nặng trên lúa lai, thuần thơm, ruộng thâm canh cao bón quá nhiều đạm Điều kiện thời tiết nắng mưa xen kẽ, nhiệt
độ từ 25 - 30oC thích hợp cho rầy phát triển (Chi cục Bảo vệ thực vật Nam Định, 2012)
Theo Nguyễn Như Cường và cs (2009) đã khẳng định rầy lưng trắng
là môi giới truyền bệnh “lùn lụi” hại lúa ở các tỉnh phía Bắc và miền Trung, thời gian cây lúa ủ bệnh từ 9 - 12 ngày
Qua thí nghiệm tìm hiểu thời gian ủ bệnh trong cơ thể rầy lưng trắng được tiến hành tại nhà lưới Viện Bảo vệ thực vật trong vụ lúa mùa 2010 đã ghi nhận rầy lưng trắng non và trưởng thành đều truyền được bệnh lùn lụi ở lúa Tuy nhiên rầy trưởng thành có hiệu quả truyền bệnh cao hơn so với rầy non Rầy trưởng thành cánh dài có thể di chuyển xa và mang nguồn bệnh từ vùng này qua vùng khác, từ vụ này qua vụ khác là rất nguy hiểm và là đối tượng chính cần kiểm soát để hạn chế tác hại của bệnh (Ngô Vĩnh Viễn, 2011)
Rầy nâu nhỏ (Rầy xám) mức độ phổ biến không nhiều trên đồng ruộng
Trang 26và phạm vi gây hại không lớn so với hai loại rầy nâu và rầy lưng trắng
Rầy nâu nhỏ cũng có các giai đoạn phát triển giống với rầy nâu nhưng kích thước nhỏ hơn và vòng đời của nó dài hơn do nó thường sinh sống ở nơi
có thời tiết mát mẻ hơn Rầy nâu nhỏ là môi giới truyền virus gây bệnh đốm sọc và lùn sọc đen trên lúa Ngoài ra chúng còn gây bệnh lùn nhám virus trên cây ngô (Chi cục Bảo vệ thực vật Nam Định, 2012)
Rầy nâu nhỏ ngoài việc chích hút gây hại trực tiếp đến sinh trưởng phát triển của cây lúa nó còn là môi giới truyền virus gây bệnh cho lúa Trong điều kiện nhiệt độ 25oC, độ ẩm 85% và nhiệt độ 30oC, độ ẩm 85%, thức ăn là giống lúa Bắc Thơm số 7 giai đoạn 15 ngày tuổi Kết quả chỉ ra rằng rầy nâu nhỏ có vòng đời khá ngắn, tương ứng với 2 điều kiện nhiệt độ trên là 28,45 ngày và 24 ngày; thời gian đẻ trứng tương ứng là 9 ngày và 7 ngày; số trứng trung bình trên
1 trưởng thành cái tương ứng là 154,47 và 104,63 trứng Ở nhiệt độ 25oC, độ ẩm 85%, rầy nâu nhỏ có tỷ lệ tăng tự nhiên khá cao và đạt 0,1194; hệ số nhân 1 thế
hệ là 52,07; thời gian tăng đôi quần thể là 5,81ngày Ở nhiệt độ 30oC, ẩm độ 85%, tỷ lệ gia tăng tự nhiên của rầy nâu nhỏ là khá cao và đạt 0,1294; hệ số nhân một thế hệ là 32,91 và thời gian tăng đôi quần thể là 5,36 ngày (Trần Quyết Tâm và cs., 2013)
Về thiên địch, trứng rầy nâu nhỏ có thể bị ong họ Trichogrammatidae kí sinh và là thức ăn của bọ xít mù xanh Ngoài ra, các loài thiên địch bắt mồi phổ biến của rầy nâu nhỏ còn loài bọ cánh cứng thuỷ sinh, ấu trùng chuồn chuồn, các loài nhện và bọ xít nước ăn thịt (Trần Thị Tú Oanh, 1999)
Rầy nâu nhỏ thích nghi với thời tiết mát mẻ, vòng đời dài hơn so với rầy nâu và rầy lưng trắng Số thế hệ của rầy nâu nhỏ trong 1 năm chỉ khoảng
3 - 4 thế hệ, mỗi vụ chỉ có 1 - 2 lứa Vào mùa xuân những con trưởng thành cánh dài từ các ký chủ phụ bay đến nương mạ hoặc những ruộng lúa mới cấy, rầy nâu nhỏ qua đông ở dạng tuổi 4 tuổi 5 trên các cây ký chủ trung gian
Trang 271.3.2 Nghiên cứu về thiên địch trên nhóm rầy hại thân lúa
Thành phần thiên địch trên ruộng lúa Việt Nam vô cùng phong phú Trên
cả nước đã xác định được 72 loài bắt mồi ăn thịt rầy nâu Tuy nhiên trong số chúng có khoảng 25 - 27 loài là thường xuyên bắt gặp trong quần thể rầy nâu
Trong đó phổ biến hơn cả là bọ xít mù xanh (Cyrtorhinus lividipennis), nhện sói vân đinh ba (Pardosa pseudoannulata), nhện sói bọc trứng trắng (Pirata subpiraticus), nhện lớn hàm to bụng tròn (Dyschiriognatha tenera), nhện lùn lưng hai chấm trắng (Atypena adelinae), nhện lớn ngực xẻ (Ummeliata insecticeps), bọ xít nước (Microvelia douglasi atrolineata, M douglasi douglasi)
bọ cánh cứng ba khoanng (Ophionea indica, O ishii), bọ cánh cứng ngắn (Paederus fuscipes, P tamulus), bọ rùa đỏ (Micraspis discolor) (Phạm Văn Lầm và cs., 2002)
Thành phần thiên địch của rầy nâu trên đồng ruộng vô cùng phong phú, trong đó nhóm nhện lớn bắt mồi chiếm ưu thế nhất, tỷ trọng của chúng chiếm 55,3 - 72,5% số cá thể bắt mồi trong quần thể rầy nâu Nhện lớn bắt mồi trên đồng lúa gia tăng từ đầu vụ đến cuối vụ Mật độ chung của nhện lớn bắt mồi trên lúa vụ mùa 2001 tại Đông Anh - Hà Nội biến động trong khoảng 10,8 - 38,1 com/m2 (Phạm Văn Lầm, 2010)
Tại Việt Nam theo Đinh Văn Thành (1998), vùng Hà Nội có 18 loài kẻ thù tự nhiên của rầy lưng trắng, trong đó nhóm bắt mồi gồm 5 loài nhện, 3 loài bọ rùa, 2 loài bọ xít, 1 loài bọ 3 khoang và 1 loài bọ cánh cộc Nhóm kí sinh gồm 4 loài kí sinh trứng và 1 loài kí sinh rầy non, 1 loài là bọ cánh cuốn Theo Cục BVTV, thuốc trừ sâu ít nhiều có tác dụng xấu đến quần thể
kẻ thù tự nhiên, gián tiếp hay trực tiếp hạn chế khả năng tích cực của chúng vì vậy rầy nâu sẽ phát sinh số lượng nhanh hơn nếu sử dụng thuốc không hợp lý
và sự tái phát rầy nâu sẽ xảy ra (Cục BVTV, 2002)
Theo nghiên cứu của Lăng Cảnh Phú và cs., 2013, một thành trùng loài
Trang 28kiến ba khoang đuôi nhọn Paederus fuscipes trong một ngày có thể ăn 4,2 -
16,0 ấu trùng hoặc 3,3 - 5,5 trưởng thành của rầy nâu tùy thuộc vào độ tuổi của ấu trùng và hình thức phát triển của trưởng thành Ấu trùng rầy nâu ở các
tuổi 1,2,3 bị thành trùng loài Paederus fuscipes ăn nhiều hơn so với ấu trùng
tuổi 4 và 5; rầy nâu cánh dài bị ăn nhiều hơn so với rầy nâu cánh ngắn Mặt
khác thành trùng cái loài P fuscipes có khả năng tiêu thụ con mồi là rầy nâu
cao hơn so với thành trùng đực
1.3.3 Nghiên cứu về bọ xít mù xanh
Bọ xít mù xanh có tên khoa học là Cyrtorhinus lividipennis Reuter, họ
Miridae, bộ Hemiptera Kích thước cơ thể nhỏ hoặc trung bình (dài khoảng
3-4 mm), màu xanh và đen, râu đầu có 3-4 đốt, không có mắt đơn Phần màng có 1-2 buồng cánh, còn mạch cánh khác đều tiêu biến Cùng một loài thường có dạng cánh lớn, cánh ngắn và không có cánh Bàn chân có 3 đốt (Nguyễn Viết Tùng, 2006)
Ấu trùng và trưởng thành bọ xít mù xanh chủ yếu tấn công trứng của rầy nâu Ngoài ra trưởng thành bọ xít mù xanh còn săn bắt cả ấu trùng và trưởng thành rầy nâu để ăn Mỗi ngày một con bọ xít mù xanh có thể ăn 7-10 trứng rầy hoặc từ 1-5 con rầy (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004)
Bọ xít mù xanh Cyrtorhinus lividipennis có kích thước nhỏ cỡ bằng kích
thước rầy nâu, cơ thể có màu xanh Chúng tìm kiếm trứng rầy ở bẹ lá, thân cây lúa, dùng vòi chính hút dịch trong trứng để lại lớp vỏ khô (Mỹ Dung, 2010)
Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Huỳnh và cộng sự về ứng dụng của
mô hình ruộng lúa bờ hoa nhằm thu hút thiên địch cho thấy mật độ bọ xít mù xanh ở khu ruộng mô hình cao hơn so với khu ruộng đối chứng không trồng hoa trên bờ (Nguyễn Văn Huỳnh, 2011)
Bọ xít mù xanh là loài bắt mồi rất hiệu quả trong việc hạn chế số lượng rầy hại lúa Bọ xít mù xanh là kẻ thù tự nhiên của nhiều loài rầy hại như: rầy
Trang 29trắng lớn, rầy xanh đuôi đen, rầy nâu, rầy lưng trắng Bọ xít mù xanh
(Cyrtorhinus lividipennis) là loài bắt mồi tương đối chuyên tính của rầy nâu
Ở bất cứ đâu cứ có rầy nâu xuất hiện là có bọ xít mù xanh xuất hiện ngay sau
đó Thế nhưng khi rầy nâu đạt mật độ gây cháy lúa thì bọ xít mù xanh có mật
độ thấp, chỉ đạt 0,2 – 5,3 con/khóm (Phạm Văn Lầm, 2007)
Bọ xít mù xanh là loài bắt mồi rất quan trọng của rầy nâu Nó có thể tiêu diệt một phần đáng kể trứng rầy nâu trên đồng ruộng, góp phần không nhỏ trong hạn chế số lượng rầy nâu trên ruộng lúa Bọ xít mù xanh có khả năng ăn mồi rất lớn, thí nghiệm tại Viện Bảo vệ thực vật cho thấy khả năng ăn mồi của bọ xít trưởng thành lớn hơn so với khả năng ăn mồi của bọ xít non tuổi cuối Trong phòng thí nghiệm, sau 24h, mỗi bọ xít trưởng thành có thể ăn 8,9 - 24,9 trứng rầy nâu Đối với bọ xít non tuổi cuối chỉ tiêu này chỉ là 2,7 - 15,7 trứng rầy nâu (Nguyễn Văn Luật, 2010)
Trên đồng ruộng quần thể bọ xít mù xanh tăng dần từ đầu vụ đến cuối
vụ lúa Mật độ quần thể bọ xít mù xanh tăng theo sự gia tăng của quần thể rầy nâu Như vậy, bọ xít mù xanh có phản ứng số lượng thuận với sự thay đổi mật
độ quần thể rầy nâu Những thiên địch có phản ứng số lượng thuận đối với sự thay đổi quần thể con mồi/ vật chủ thì thường là những thiên địch rất quan trọng trọng kìm hãm số lượng vật chủ/con mồi (Phạm Văn Lầm, 1995)
Bọ xít mù xanh khi nuôi bằng trứng rầy nâu nhỏ trong điều kiện nhiệt
độ 25oC, ẩm độ 85% có thời gian phát triển của pha trứng kéo dài từ 4-9 ngày, trung bình 6,7 ngày; thời gian phát triển tuổi 1 từ 2 - 5 ngày, trung bình 3,19 ngày; thời gian phát triển tuổi 2 kéo dài từ 3 - 9 ngày, trung bình 5,36 ngày; thời gian phát triển tuổi 3 kéo dài từ 3-8 ngày, trung bình 4,97 ngày, thời gian phát triển tuổi 4 từ 3 - 7 ngày, trung bình 4,31 ngày; thời gian của trưởng thành tiền đẻ trứng từ 2 - 5 ngày, trung bình 3,24 ngày
Sức tiêu thụ vật mồi là trứng rầy nâu nhỏ của bọ xít mù xanh là tương
Trang 30đối lớn Sức ăn mồi của bọ xít mù xanh tăng dần theo tuổi của chúng, trong
đó pha trưởng thành tiêu thụ vật mồi lớn nhất Trưởng thành cái bọ xít mù xanh có sức ăn lớn hơn trưởng thành đực: một trưởng thành cái ăn trung bình 14,74 trứng/ngày và một trưởng thành đực ăn trung bình 12,47 trứng/ngày
Số lượng ấu trùng rầy nâu nhỏ tuổi 1 bị bọ xít mù xanh ăn trong một ngày thấp hơn so với số lượng trứng rầy nâu nhỏ bị ăn trong một ngày Số lượng ấu trùng rầy nâu nhỏ bị bọ xít mù xanh tuổi 1 ăn trung bình 0,57 con/ngày; sức tiêu thụ vật mồi của bọ xít mù xanh tuổi 2 trung bình là 1,33 con/ngày; bọ xít mù xanh tuổi 3 và 4 có sức ăn tăng dần (trung bình 2,39 con/ngày và 2,25 con/ngày); Sức ăn vật mồi của pha trưởng thành bọ xít mù xanh cao hơn tuổi nhỏ, trong đó trưởng thành cái có sức ăn cao hơn trưởng thành đực: Số lượng ấu trùng rầy nâu nhỏ bị trưởng thành cái bọ xít mù xanh
ăn trung bình là 5,27 con/ngày, trưởng thành đực bọ xít mù xanh tiêu thụ 3,73 con/ngày (Trần Quyết Tâm và cs., 2014)
Trang 31Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Bọ xít mù xanh Cyrtorhinus lividipennis Reuter
- Nhóm rầy hại thân
- Thiên địch nhóm rầy hại thân
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian thực hiện: Vụ mùa năm 2014
- Địa điểm: + Nam Trực - Nam Định
+ Chi cục Bảo vệ thực vật Nam Định
2.3 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu
- Vật liệu: + Giống lúa BC 15, TEJ vàng, BT kháng bạc lá, Bắc Thơm
7 được trồng phổ biến tại huyện Nam Trực tỉnh Nam Định
- Dụng cụ nghiên cứu: Ống nghiệm, đĩa petri, hộp nuôi sâu, hộp nuôi rầy, tủ nuôi rầy, kính lúp soi nổi, khay điều tra rầy, cồn, xô trồng lúa
2.4 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra thành phần nhóm rầy hại thân lúa và thiên địch của chúng
- Diễn biến số lượng nhóm rầy hại thân lúa và một số loài thiên địch phổ biến của chúng
- Nghiên cứu đặc điểm sinh học bọ xít mù xanh (C lividipennis ):
Xác định vòng đời, thời gian phát dục các pha
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Điều tra thiên địch của nhóm rầy hại thân lúa
Tiến hành điều tra thiên địch của nhóm rầy hại thân lúa trên các giống lúa TEJ vàng, BC15, BT kháng bạc lá, Bắc Thơm 7 theo từng giai đoạn sinh trưởng của cây lúa
Trên mỗi ruộng cố định, tiến hành thu bắt toàn bộ thiên địch của nhóm rầy hại thân tại 10 điểm trên hai đường chéo góc, mỗi điểm điều tra 10 khóm
Trang 32Tách bẹ lúa thu ngẫu nhiên 30 ổ trứng rầy và 30 cá thể rầy trưởng thành
về tiếp tục theo dõi để xác định tỷ lệ bị ký sinh
Các mẫu vật thu được ngâm cồn 70oC mang về bộ môn Côn trùng để định loại
2.5.2 Điều tra diễn biến mật độ nhóm rầy hại thân lúa trên đồng ruộng
Áp dụng theo quy chuẩn ngành QCVN 01-38 : 2010/BNNPTNT do
Ban soạn thảo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng biên soạn, Cục Bảo vệ thực vật trình duyệt, Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành tại Thông tư số BNNPTNT ngày 10 tháng 12 năm 2010
71/2010/TT-Điều tra định kỳ 7 ngày một lần trên các ruộng được lựa chọn cố định trong khu vực điều tra
* Chọn khu vực điều tra
Dựa vào nguyên tắc chọn khu vực điều tra là cánh đồng đại diện cho các yếu tố điều tra như: chân đất, địa hình, giống, mùa vụ
Khu vực được lựa chọn là cánh đồng thuộc xã Nam Toàn - huyện Nam Trực - tỉnh Nam Định
Chọn ruộng điều tra: Tiến hành điều tra trên các giống lúa được trồng phổ biến trong vụ mùa 2014 như Bắc Thơm 7, Bắc thơm kháng bạc lá, TEJ vàng, BC15
* Chọn điểm điều tra
Trên mỗi ruộng điều tra chọn ngẫu nhiên 10 điểm điều tra nằm trên đường chéo góc của ruộng, mỗi điểm điều tra 10 khóm, điểm điều tra cách bờ 2m
* Tiến hành điều tra
Điều tra bọ xít mù xanh: tại mỗi điểm điều tra sử dụng khay có kích thước 20 × 25 × 5cm bên trên có tráng một lớp dầu mỏng ở đáy Mỗi điểm điều tra 10 khóm Tại mỗi khóm, đặt khay nghiêng 1 góc 45o, dùng tay đập 2 đập và đếm số bọ xít mù xanh rơi vào khay
Trang 33Điều tra rầy: Dùng khay có kích thước 20 × 25 × 5cm bên trên có tráng một lớp dầu mỏng ở đáy Mỗi điểm điều tra 10 khóm Tại mỗi khóm, đặt khay nghiêng 1 góc 45o, dùng tay đập 2 đập, đếm và phân tuổi số rầy rơi vào khay Điều tra thành phần các nhóm thiên địch khác của rầy: trên mỗi điểm điều tra đếm thành phần và thu bắt thiên địch mang về định loài thành phần
2.5.3 Một số đặc tính sinh vật học của bọ xít mù xanh trong phòng thí nghiệm
Nhân nuôi vật mồi
Vật mồi được lựa chọn ở đây là loài rầy nâu Thí nghiệm theo dõi khả năng tiêu thụ vật mồi của bọ xít mùa xanh tiến hành trên pha rầy non của rầy nâu Chuẩn bị nguồn thức ăn cho rầy nâu: Sử dụng 20 gam hạt giống Bắc thơm cho một khay gieo mạ Khi mạ được 1 tuần tuổi chuyển vào cốc giấy, cấy từ 1-2 dảnh/cốc Khi mạ được 9 - 10 ngày tuổi tiến hành thả rầy nâu
Thu bắt trưởng thành rầy nâu ngoài đồng ruộng, phân biệt đực cái và ghép cặp Trưởng thành đực và cái sau khi được ghép đôi sẽ được nuôi trong cốc mạ 9-10 ngày tuổi được cách ly bằng ống chụp rầy Hàng ngày theo dõi
sự phát triển của cặp rầy Trong thời gian ghép đôi nếu trưởng thành đực chết trước thì sẽ được thay thế bằng một trưởng thành đực khác Khi phần bụng rầy cái bắt đầu to lên cứ sau 24 giờ, cặp rầy trưởng thành được tách ra khỏi cốc mạ cũ và chuyển sang cốc mạ mới Tiến hành chuyển cốc mạ hàng ngày cho đến khi trưởng thành chết Những cây lúa làm thức ăn sau khi thay được giữ lại, dùng để nhân nuôi lấy nguồn rầy non và trưởng thành làm thức ăn cho
bọ xít mù xanh
Nhân nuôi bọ xít mù xanh
Sử dụng các ống nghiệm có đường kính 1,5cm và cao 15cm để nuôi (ống nuôi) bọ xít mù xanh Trong ống nuôi có để 2 dảnh mạ được quấn bông ướt giữ ẩm ở phần gốc dảnh mạ Thu bắt bọ xít trưởng thành ngoài đồng ruộng bằng vợt côn trùng hoặc ống hút Số lượng cặp bọ xít trưởng thành ban đầu là 30
Trang 34cặp/đợt thí nghiệm Các cặp được nuôi riêng rẽ trong các ống nuôi có thức ăn là rầy nâu tuổi nhỏ Sau 24h lại chuyển bọ xít vào ống nuôi mới để theo dõi và thu trứng bọ xít mù xanh
Nghiên cứu đặc điểm hình thái và thời gian sống các pha bọ xít mù xanh
* Nghiên cứu đặc điểm hình thái và theo dõi thời gian phát dục của pha trứng:
Trưởng thành đực và cái sau khi vũ hoá được ghép đôi và theo dõi Trong thời gian ghép đôi nếu trưởng thành đực chết trước thì sẽ được thay thế bằng một trưởng thành đực khác Hàng ngày theo dõi hoạt động của trưởng thành đực và trưởng thành cái Khi bụng trưởng thành cái to lên, tiến hành chuyển cặp trưởng thành sang ống nuôi mới Cây lúa ở ống nuôi cũ sẽ được cắt và quan sát dưới kính hiển vi để phát hiện trứng
Khi quan sát hình thái pha trứng dùng kim nhỏ tách lớp biểu bì phía trên bẹ lá ra để quan sát trứng, sau đó chuyển trứng vào đĩa petri có lót giấy thấm và tiến hành đo kích thước của trứng (N= 30 trứng)
Đánh dấu ngày đầu tiên con cái đẻ trứng để tính thời gian đẻ trứng của trưởng thành cái Đếm số trứng đẻ hàng ngày của trưởng thành cái và tổng số
đẻ Theo dõi để xác định số trứng nở và trứng ung nhằm đánh giá tỷ lệ nở của trứng (N>= 30)
Các quả trứng sau khi nở thành bọ xít non tuổi 1 được chuyển sang ống nuôi mới để theo dõi thời gian phát dục của pha ấu trùng
Nghiên cứu đặc điểm hình thái và theo dõi thời gian phát dục của bọ xít non:
- Quan sát đặc điểm hình thái: Mỗi đợt thí nghiệm tiến hành đo kích thước của 30 cá thể bọ xít ở từng tuổi bằng thước đo côn trùng để đo chiều dài
và chiều rộng cơ thể
- Theo dõi thời gian phát dục: tiến hành nuôi cá thể loài bọ xít mù xanh trong các ống nuôi với thức ăn là ấu trùng rầy nâu tuổi 2, tuổi 3 Hàng ngày cung cấp vật mồi, theo dõi thời gian sống của tuổi 1 đến khi lột xác sang tuổi
2 Tiếp tục theo dõi thời gian lột xác sang các tuổi cho đến khi lột xác thành
Trang 352.5.5 Xác định sức sinh sản của trưởng thành cái
Các cá thể bọ xít trưởng thành được phân biệt giới tính, xác định tỷ lệ đực cái và tiến hành ghép đôi, sau đó được đưa vào các ống nuôi, hàng ngày cung cấp thức ăn là rầy nâu tuổi 2, tuổi 3
Theo dõi và đánh dấu ngày đẻ trứng đầu tiên và ngày kết thúc đẻ của mỗi cặp trưởng thành để xác định thời gian đẻ trứng con cái Sau khi trưởng thành cái đã đẻ trứng, hàng ngày chuyển cặp bọ xít sang ống nuôi mới và tiến hành soi đếm số trứng trưởng thành cái đã đẻ ở ống nuôi cũ Đếm số lượng trứng đẻ hàng ngày của từng cặp để xác định nhịp điệu đẻ trứng, đếm tổng số trứng đẻ của mỗi trưởng thành cái, kết hợp với thời gian đẻ trứng để tính số trứng đẻ trung bình/trưởng thành cái/ngày
2.5.6 Xác định sức tiêu thụ vật mồi của các pha phát dục bọ xít mù xanh
Thí nghiệm theo dõi số lượng vật mồi tiêu thụ hàng ngày của bọ xít non các tuổi và trưởng thành đực, trưởng thành cái
Các cá thể được nuôi riêng rẽ trong các ống nuôi Với mỗi thí nghiệm, sử
Trang 36dụng loại vật mồi là ấu trùng rầy nâu tuổi 2, tuổi 3 Hàng ngày chuyển vật mồi cho các cá thể bọ xít với số lượng không hạn chế Sau 24h đếm số lượng vật mồi còn lại để xác định sức tiêu thụ vật mồi của các pha phát dục Thí nghiệm được theo dõi trong 3 ngày liên tiếp
2.6 Công thức tính toán
* Mức độ phổ biến của thiên địch bắt mồi ăn thịt
Mức độ phổ biến của thiên địch bắt mồi ăn thịt được lượng hóa theo tần suất bắt gặp như sau:
Mức độ bắt gặp (%) =
Số điểm có thiên địch - x100 Tổng số điểm điều tra
* Mật độ thiên địch
- Mật độ thiên địch (con/m2) =
Tổng số con /khay ( -×số khóm/m2 ) Tổng số khóm điều tra
* Thời gian phát dục, kích thước từng pha của bọ xít mù xanh
- Xtb =
X1 +X2 +…+Xn -
N
Trang 37Trong đó: Xtb là giá trị trung bình của mỗi chỉ tiêu
X1 ,X2 ,Xn: Giá trị từng chỉ tiêu của mỗi cá thể
Tổng số trưởng thành cái theo dõi
* Khả năng tiêu thụ vật mồi:
Vật mồi tiêu thụ = Tổng số vật mồi bị ăn (vật mồi/con)
Tổng số cá thể theo dõi
2.7 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu thu được được xử lý dựa trên phần mềm Excel và IRRISTAT 4.0 với α = 0.05
Trang 38Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thành phần nhóm rầy hại thân lúa và thiên địch phổ biến của chúng
vụ mùa 2014 tại xã Nam Toàn huyện Nam Trực tỉnh Nam Định
3.1.1 Thành phần nhóm rầy hại thân lúa
Nhóm rầy hại thân lúa được xếp vào một trong những đối tượng hại nguy hiểm trên lúa Chúng chủ yếu chích hút dịch ở thân lúa làm cây lúa bị khô héo gây tổn thất năng suất nặng nề Bên cạnh đó chúng còn là môi giới truyền bệnh vius lúa vàng lùn, lùn xoắn lá Để xác định thành phần nhóm rầy hại thân lúa trong điều kiện vụ mùa 2014 tại xã Nam Toàn huyện Nam Trực tỉnh Nam Định, tôi đã tiến hành điều tra và thu được kết quả ở bảng 3.1
Bảng 3.1 Thành phần nhóm rầy hại thân lúa vụ mùa 2014 tại
xã Nam Toàn huyện Nam Trực tỉnh Nam Định
Ghi chú: + : Ít phổ biến(xuất hiện < 20%)
++ : Phổ biến trung bình (xuất hiện 20 – 50%)
+ ++ : Phổ biến nhiều (xuất hiện >50%)
Qua số liệu bảng 3.1 cho thấy, thành phần nhóm rầy hại thân lúa tại xã Nam Toàn huyện Nam Trực tỉnh Nam Định trong vụ mùa năm 2014 xuất hiện
3 loài rầy đó là: rầy nâu, rầy lưng trắng, rầy nâu nhỏ Chúng đều thuộc họ Delphacidae, bộ cánh đều Homoptera Trong đó rầy nâu, rầy lưng trắng là 2
Trang 39loài có mức phổ biến cao, thiết lập quần thể lớn và phạm vi phân bố rộng Tại Nam Định ghi nhận sự xuất hiện của loài rầy nâu nhỏ có mức độ xuất hiện ít hơn so với 2 loài rầy nâu và rầy lưng trắng
3.1.2 Thành phần thiên địch của nhóm rầy hại thân lúa
Thiên địch của dịch hại nói chung, của sâu hại nói riêng là những thành viên không thể thiếu được trong các sinh quần tự nhiên cũng như sinh quần nông nghiệp Theo thời gian, ngày càng tích lũy được nhiều dẫn liệu khoa học chứng minh vai trò quan trọng của thiên địch tự nhiên trong hạn chế số lượng sâu hại Thiên địch giúp điều hòa số lượng chủng quần dịch hại, giữ dịch hại
ở dưới ngưỡng gây hại kinh tế trong điều kiện áp lực dịch hại ở mức không quá cao và duy trì như những mắt xích trong mạng lưới dinh dưỡng Mỗi loài sâu hại đều có một tập đoàn thiên địch của nó bao gồm các loài ong ký sinh, côn trùng bắt mồi và các loài vi sinh vật gây bệnh hại Sự thiếu vắng kẻ thù tự nhiên là một trong những yếu tố làm cho sâu hại gia tăng nhanh và dễ phát triển thành dịch Để tìm hiểu về sự phong phú của tập đoàn thiên địch với nhóm rầy hại thân trong vụ mùa 2014 tại Nam Trực - Nam Định, chúng tôi đã tiến hành điều tra thành phần thiên địch của nhóm rầy hại thân và thu được kết quả như sau:
Trang 40Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 31
Bảng 3.2 Thành phần thiên địch của nhóm rầy hại thân lúa vụ mùa 2014 tại
xã Nam Toàn huyện Nam Trực tỉnh Nam Định
++ : Phổ biến trung bình (xuất hiện 20 – 50%)
+ ++ : Phổ biến nhiều (xuất hiện >50%)