Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page i LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong lu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHẠM VĂN LÝ
XÁC ĐỊNH CHỦNG VIRUS GÂY HỘI CHỨNG RỐI LOẠN
HÔ HẤP VÀ SINH SẢN Ở LỢN NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH PHÁT SINH VÀ LÂY LAN HỘI CHỨNG RỐI LOẠN HÔ HẤP VÀ SINH SẢN Ở LỢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHẠM VĂN LÝ
XÁC ĐỊNH CHỦNG VIRUS GÂY HỘI CHỨNG RỐI LOẠN
HÔ HẤP VÀ SINH SẢN Ở LỢN NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH PHÁT SINH VÀ LÂY LAN HỘI CHỨNG RỐI LOẠN HÔ HẤP VÀ SINH SẢN Ở LỢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH
HÀ NỘI, 2014
Trang 3Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
Trang 4Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page ii
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy TS Trịnh Đình Thâu - Trưởng khoa Thú y và cô PGS.TS Nguyễn Thị Lan – Phó Trưởng khoa Thú y đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Lãnh đạo và cán bộ, nhân viên các Phòng, Trạm trực thuộc Chi cục thú y Thái Bình, Trung tâm chẩn đoán thú y Trung ương và các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua Tôi xin cảm ơn tới người thân trong đã luôn giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Học viên
Phạm Văn Lý
Trang 5Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii MỤC LỤC iii DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
1.1 Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) ở lợn 3
1.1.1 Định nghĩa, hình thái, cấu tạo, phân loại virus PRRS 3
1.2.2 Phương pháp xác định yếu tố nguy cơ 20
1.2.3 Tỷ số chênh OR (Odd Ratio) và nghiên cứu (điều tra) hồi cứu 20
1.3.1 Trên thế giới 21
Trang 6Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iv
1.3.2 Tại Việt Nam 22
Chương 2 NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.2.1 Tình hình chăn nuôi và dịch bệnh PRRS ở lợn tại Thái Bình
năm 2013 25 2.2.2 Xác định virus gây bệnh PRRS ở lợn trên địa bàn tỉnh Thái Bình
năm 2013 25 2.2.3 Đánh giá các yếu tố nguy cơ có ảnh hưởng đến quá trình phát
sinh và lây lan bệnh PRRS ở lợn trên địa bàn tỉnh Thái Bình
năm 2013 29 2.2.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 31
3.1 Tình hình chăn nuôi và dịch bệnh Tai xanh ở lợn tại Thái Bình
năm 2013 32 3.1.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại Thái Bình năm 2013 32
3.1.2 Tình hình dịch PRRS ở lợn tại Thái Bình năm 2013 33
3.1.3 Tình hình chăn nuôi lợn tại xã Vũ Đoài, Vũ Vân huyện Vũ
Thư, xã Phú Xuân TP Thái Bình, xã Vũ Hòa huyện Kiến
Xương tỉnh Thái Bình năm 2013 34
3.2 Đặc điểm dịch tễ của bệnh PRRS ở lợn tại Thái Bình năm 2013 34
3.2.1 Phân bố dịch theo thời gian 34
3.2.2 Tình hình dịch PRRS ở lợn tại Thái Bình năm 2013 38
3.2.3 Tình hình dịch PRRS ở lợn tại xã Vũ Đoài, Vũ Vân, Vũ Hòa
và Phú Xuân của tỉnh Thái Bình năm 2013 39
3.2.4 Bệnh PRRS theo các loại lợn tại Thái Bình năm 2013 41
Trang 7Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page v
3.3 Kết quả xác định virus gây bệnh PRRS ở lợn tại Thái Bình
năm 2013 43 3.4 Yếu tố nguy cơ làm ảnh hưởng đến quá trình phát sinh
và lây lan dịch bệnh PRRS ở lợn tại Thái Bình năm 2013 44
3.4.1 Đường giao thông chính 44
3.4.2 Chăn nuôi gần chợ buôn bán gia súc, gia cầm sống 45
3.4.3 Không tiêm phòng các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác 46
3.4.4 Nguồn gốc con giống không rõ ràng 47
3.4.5 Không sử dụng thuốc sát trùng vệ sinh tiêu độc định kỳ 47
3.4.6 Sử dụng nước ao hồ công cộng để chăn nuôi lợn 49
3.4.7 Bán chạy lợn khi đang có dịch 50
3.5 Một số giải pháp phòng, chống dịch bệnh PRRS thực tế của
Thái Bình 51 3.5.1 Các giải pháp hành chính 51
3.5.2 Các giải pháp chuyên môn 52
Trang 8Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
PRRS Porcine reproductive and respiratory syndrome
Trang 9Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vii
DANH MỤC BẢNG
rang
1.2 Sự tương đồng về nHCLeotide của các chủng PRRS khi so sánh với
1.4 Một số mầm bệnh kế phát thường gặp trong ca nhiễm PRRS 14
3.1 Tình hình chăn nuôi của tỉnh Thái Bình năm 2013 32
3.2 Tình hình dịch bệnh PRRS ở lợn tại Thái Bình năm 2013 33
3.3 Số lợn/hộ chăn nuôi tại xã Vũ Đoài, Vũ Vân, Phú Xuân và Vũ
3.4 Tình hình dịch PRRS ở lợn tại Thái Bình năm 2013 40
3.5 Tình hình bệnh PRRS theo các loại lợn tại Thái Bình năm 2013 41
3.6 Kết quả chẩn đoán virus gây bệnh PRRS ở lợn tại Thái Bình năm 2013 43
3.7 Kết quả điều tra về mối liên hệ giữa yếu tố đường giao thông chính
và số hộ chăn nuôi có dịch PRRS ở lợn tại Thái Bình năm 2013 44
3.8 Kết quả điều tra về mối liên hệ giữa yếu tố gần chợ buôn bán gia súc, gia
cầm sống và số hộ chăn nuôi có dịch PRRS ở lợn tại Thái Bình năm 2013 45
3.9 Kết quả điều tra về mối liên hệ giữa việc không tiêm phòng các
bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác và số hộ chăn nuôi có dịch
3.10 Kết quả điều tra về mối liên hệ giữa việc sử dụng nguồn gốc con giống
không rõ ràng và số hộ chăn nuôi có dịch PRRS ở lợn tại Thái Bình
3.11 Kết quả điều tra về mối liên hệ giữa việc không sử dụng thuốc sát
trùng để VSTĐ định kỳ và số hộ chăn nuôi có dịch PRRS ở lợn tại
3.12 Kết quả điều tra về mối liên hệ giữa việc sử dụng nước ao hồ công cộng
và số hộ chăn nuôi có dịch PRRS ở lợn tại Thái Bình năm 2013 49
Trang 10Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page viii
3.13 Kết quả điều tra về mối liên hệ giữa việc bán chạy lợn khi có dịch
và số hộ chăn nuôi có dịch PRRS ở lợn tại Thái Bình năm 2013 50
DANH MỤC HÌNH
rang
1.4 Virus PRRS xâm nhập và phá hủy tế bào đại thực bào 8
3.1 Tình hình dịch PRRS ở lợn theo thời gian tại Thái Bình
3.2 Biểu đồ thể hiện số xã có dịch PRRS ở lợn theo thời gian
3.3 Biểu đồ thể hiện số hộ có lợn mắc bệnh PRRS theo thời gian
3.4 Bản đồ phân bố dịch PRRS ở lợn tại Thái Bình năm 2013 39
3.5 Tỷ lệ (%) mắc bệnh PRRS ở lợn tại các xã tỉnh Thái Bình năm 2013 40
3.6 Biểu đồ tỷ lệ mắc bệnh PRRS trên các loại lợn tại Thái Bình năm 2013 42
Trang 11Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Với xu thế phát triển kinh tế-xã hội, hội nhập khu vực và quốc tế, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách khuyến khích nông nghiệp phát triển như: Giao đất, giao rừng, khuyến khích nông dân làm kinh tế VAC, VACR, nhờ vậy mà nông nghiệp đã và đang đạt được nhiều thành tựu to lớn, góp phần không nhỏ vào công cuộc xây dựng, phát triển đất nước Những năm gần đây, chăn nuôi lợn đang ngày càng phát triển mạnh và giữ một vị trí quan trọng trong nền nông nghiệp của nước ta, trở thành nguồn thu nhập quan trọng đối với các hộ nông dân Cùng với sự phát triển của chăn nuôi, lưu lượng động vật và sản phẩm động vật nhiều, kèm theo đó là sự gia tăng về tình hình dịch bệnh Đã có rất nhiều bệnh du nhập vào nước ta theo con đường lưu thông, vận chuyển trong đó có hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (PRRS), đây là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi
Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (PRRS, Porcine reproductive and respiratory syndrome) hay còn gọi là bệnh Tai xanh - là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, lây lan nhanh và làm chết nhiều lợn nhiễm bệnh Nguyên nhân gây bệnh do virus PRRS gây ra, đây là một loại virus thuộc họ
Arteriviridae, thuộc giống Nidovirales (Benfield D và cs, 1997) (Chang C và cs,
1993) Virus PRRS (PRRS) là loại virus có vỏ bọc bên ngoài, có cấu trúc hệ gen
là ARN sợi đơn dương, có tính thích ứng nhân lên rất cao với đại thực bào, đặc biệt là đại thực bào hoạt động ở phổi Virus phát triển, tăng nhanh về số lượng trong đại thực bào, phá hủy tế bào đại thực bào, làm suy giảm nghiêm trọng sức
đề kháng của lợn bệnh; tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn thứ phát gây
bệnh viên phổi như bệnh Dịch tả lợn, suyễn lợn, liên cầu khuẩn, Tụ huyết trùng (Pasteurella multocida)… phát sinh, phát triển và làm cho bệnh ngày càng trầm trọng hơn, lợn bệnh chết chủ yếu do các vi khuẩn kế phát (Bierk M và
cs, 2001) Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản là dịch bệnh truyền nhiễm của loài lợn, gây thiệt hại kinh tế lớn cho ngành chăn nuôi lợn Ở Việt Nam từ tháng
Trang 12Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 2
3/2007, đến nay đã gây thành đại dịch tại nhiều địa phương và làm tổn thất lớn về kinh tế cho người chăn nuôi, trong đó phải kể đến tỉnh Thái Bình
Trong những năm gần đây, đàn lợn của Thái Bình phát triển khá mạnh cả
về tốc độ và giá trị sản xuất Tuy nhiên, dịch bệnh đã làm nhiều lợn ốm chết, gây
ra những tổn thất rất lớn về kinh tế cho người chăn nuôi Do vậy việc nghiên cứu, tìm hiểu về Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn có ý nghĩa quan trọng và cấp thiết trong quá trình phòng chống dịch bệnh đạt hiệu quả, giảm thiệt hại do dịch bệnh gây ra
Xuất phát từ tình hình thực tế nêu trên và để có căn cứ xây dựng các giải pháp khoa học dựa trên những đặc điểm dịch tễ quan trọng nhằm phòng và khống chế Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản một cách hiệu quả và sát thực với điều kiện chăn
nuôi của Thái Bình, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Xác định chủng virus gây hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến quá trình phát sinh và lây lan hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn trên địa bàn tỉnh Thái Bình.”
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Cung cấp thông tin và số liệu cụ thể cùng những luận chứng về tình hình mắc bệnh PRRS và các yếu tố nguy cơ gây bệnh trên địa bàn tỉnh Thái Bình năm
2013 Từ kết quả nghiên cứu của đề tài này có thể được sử dụng để định hướng cho các nghiên cứu sau này và giúp cho việc xây dựng các chương trình khống chế bệnh PRRS trên địa bàn tỉnh Thái Bình
Trang 13Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) ở lợn
1.1.1 Định nghĩa, hình thái, cấu tạo, phân loại virus PRRS
Định nghĩa
Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn: Là bệnh truyền nhiễm do virus
PRRS, họ Arteriviridae gây ra Bệnh cũng được gọi theo tên viết tắt bằng tiếng
Anh là bệnh PRRS hoặc trong dân gian gọi là bệnh Tai xanh
Biểu hiện đặc trưng của lợn bệnh là các rối loạn về sinh sản ở lợn nái như sảy thai, thai chết lưu, lợn sơ sinh chết yểu Lợn con theo mẹ, lợn nái hậu bị có biểu hiện viêm đường hô hấp rất nặng
Bệnh do hai dòng virus gây ra là dòng Châu Âu và dòng Bắc Mỹ Bệnh PRRS ở Việt Nam do virus PRRS thuộc dòng Bắc Mỹ gây ra, có tên gọi là
Arterivirus
Hình thái và cấu tạo
* Cấu trúc hạt: virus Tai xanh là một virus có hình cầu, đường kính 50
-70nm, chứa nHCLeocapsid cùng kích thước có cấu trúc đối xứng 20 mặt, đường kính 35nm, được bao bọc bên ngoài bởi một lớp vỏ bọc dính chặt với cấu trúc bề mặt giống như tổ ong, trên bề mặt có những gai nhô ra, vỏ có chứa lipid
Bộ gen của virus PRRS là chuỗi dương ARN có kích thước từ 13- 15kb Sợi ARN của virus có đầu 5’ và đầu 3’ Gen ARN polymeraza chiếm khoảng 75% đầu 5’ của bộ gen, gen này mã hoá cho các protein cấu trúc của virus nằm ở đầu 3’
Trang 14Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 4
Hình 1.1 Cấu trúc hạt của PRRS virus
Hạt virus bao gồm 1 protein nHCLeocapsid N có khối lượng phân tử 1.200bp, 1 protein màng không có đường glucose hình cầu M với khối lượng phân tử 16.000bp, 2 protein peplomer N – glycosylate là GS có khối lượng phân
tử 25.000bp và GL có khối lượng phân tử 42.000
Acid nHCLeic: Sự nhân lên của virus không bị ảnh hưởng khi dùng hợp
chất ức chế tổng hợp ADN là 5-bromo-2-deoxyuridin, 5-iodo-2-deoxyuridin và mitomycin C chứng tỏ axit nHCLeic đó là ARN Sợi ARN này có kích thước khoảng 15kb
Hình 1.2 Cấu trúc bộ gen của PRRS virus
Cấu trúc hệ gen của PRRSV bao gồm 7 khung đọc mở (ORF), gồm: ORF1, ORF2, ORF3, ORF4, ORF5, ORF6 và ORF7 Trong đó, ORF1 được chia làm hai phần bao gồm ORF1a và ORF1b, chiếm tới khoảng 80% tổng số độ dài hệ gen của virus, chịu trách nhiệm mã hoá ARN thông tin tổng hợp các enzym ARN polymerase của virus ORF2, ORF3, ORF4, ORF5, ORF6, ORF7 là các phần gen tạo nên khung đọc mở mã hoá các protein tương ứng, đó là GP2 (glycoprotein 2), GP3, GP4, GP5 (hay còn gọi là glycoprotein vỏ (E, envelope), protein màng M (membrane protein), và protein cấu trúc nHCLêocapsid N (nHCLeocapsid protein) Các protein được glycosyl hóa (là hiện tượng gắn thêm hydrat cacbon vào một vị trí axit amin xác định) là: GP2, GP3, GP4, GP5, và các protein không được glycosyl hóa là M và N
Trang 15Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 5
Các nghiên cứu đã dựa vào phân tích trình tự axit amin của virus chủng
2332 và chủng Lelystad cho thấy rằng các virus này đang tiến hóa do đột biến
ngẫu nhiên và tái tổ hợp trong gen
Bảng 1.1 Protein cấu trúc của PRRSV
Protein KL phân tử Gen mã hoá Vai trò
GP 3 45 KD ORF 3 Quan trọng trong miễn dịch
GP 5 25 KD ORF 5 Bám dính tế bào đa dạng nhất
M 19 KD ORF 6 Có tính bảo tồn cao nhất
Hình 1.3 Bộ gen của virus PRRS
Những nghiên cứu của Benfield và cộng sự (1992) cho thấy các chủng virus thuộc dòng Châu Âu tương tự nhau về cấu trúc kháng nguyên nhưng chúng có những sai khác nhất định so với chủng virus của Châu Mỹ (Benfield và cs, 1992) Tương tự, dòng virus Châu Mỹ cũng có sự tương đồng nhau về cấu trúc kháng nguyên
Trong các tế bào bị nhiễm virus PRRS, virus sinh ra 6 ARNm Tất cả 6 ARNm có trình tự sắp xếp chung ở đầu 5' của hệ gen ARN và tất cả chúng đều
Trang 16Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 6
có đuôi 3' polyA Muelenberg kết luận rằng dựa trên chuỗi nHCLeotit, tổ chức hệ
gen, cũng như cách nhân lên của virus thì có thể xếp chúng vào nhóm virus động
mạch (Arterivirus) mới (Meulenberg và cs, 1993)
Phân loại virus PRRS:
Virus PRRS là một virus ARN chuỗi đơn, có màng bọc, thuộc giống
Arterivirus, họ Arteriviridae, bộ Nidovirales (Cavanagh và cs, 1997) Hiện nay
có 2 kiểu gen PRRS chính được công nhận là:
Kiểu gen 1 (nhóm 1): các nhóm virus thuộc dòng Châu Âu với tên gọi phổ
thông là virus Lelystad (Meulenberg J.J và cs, 1993)
Kiểu gen 2 (nhóm 2): các nhóm virus thuộc dòng Bắc Mỹ mà tiêu biểu cho
chủng này là chủng virus VR-2332 (Nelsen và cs, 1999)
Khi so sánh về di truyền đã thấy sự khác nhau rõ rệt (khoảng 40%) giữa 2
kiểu gen này Những nghiên cứu gần đây còn cho thấy có sự khác biệt về tính di
truyền trong các virus phân lập được từ các vùng địa lý khác nhau Bản thân các
virus trong cùng một nhóm cũng có sự thay đổi về nHCLeotit khá cao (đến 20%),
đặc biệt là các chủng virus thuộc dòng Bắc Mỹ
Bảng 1.2 Sự tương đồng về nHCLeotide của các chủng PRRS khi so sánh
Mặc dù virus PRRS có vỏ bọc nhưng sự sống sót của chúng bên ngoài vật
chủ vẫn chịu tác động của nhiệt độ, pH và sự tiếp xúc với các chất tẩy uế Do đó,
Trang 17Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 7
với các hoá chất sát trùng thông thường và môi trường có pH axit, virus dễ dàng
bị tiêu diệt; ánh sáng mặt trời, tia tử ngoại vô hoạt virus nhanh chóng
Virus PRRS có thể tồn tại 1 năm trong nhiệt độ lạnh từ -200C đến -700C; trong điều kiện 40C, virus có thể sống 1 tháng; với nhiệt độ cao, cũng như các vi rút khác, virus đề kháng kém: ở 370C chịu được 48 giờ, 560C bị giết sau 1 giờ (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001)
Bảng 1.3 Sức đề kháng của virus với điều kiện ngoại cảnh
Điều kiện môi trường Khả năng đề kháng
Virus trong bệnh phẩm:
Virus trong huyết thanh:
Khả năng gây bệnh:
Virus chỉ gây bệnh cho lợn, lợn ở tất cả các lứa tuổi đều cảm nhiễm, nhưng lợn con và lợn nái mang thai thường mẫn cảm hơn cả Lợn rừng cũng mắc bệnh
Về mặt độc lực, người ta thấy virus tồn tại dưới 2 dạng:
- Dạng cổ điển: có độc lực thấp, ở dạng này khi lợn mắc bệnh thì có tỷ lệ chết thấp, chỉ từ 1 - 5% trong tổng đàn
- Dạng biến thể độc lực cao: gây nhiễm và chết nhiều lợn (Tô Long Thành and Nguyễn Văn Long, 2008)
Trang 18Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 8
1.1.3 Cơ chế gây bệnh của virus
Sau khi xâm nhập vào cơ thể, đích tấn công của virus là các đại thực bào, đặc biệt là đại thực bào ở phế nang, phế quản (hình dưới đây) Đây là tế bào duy nhất có receptor phù hợp với cấu trúc hạt virus, vì thế virus hấp thụ và thực hiện quá trình nhân lên chỉ trong tế bào này và phá huỷ nó Một tỷ lệ lớn tế bào đại thực bào trong nang phổi bị virus xâm nhiễm rất sớm
Hình 1.4 Virus PRRS xâm nhập và phá hủy tế bào đại thực bào
Lúc đầu, virus có thể kích thích các tế bào này, nhưng sau 2 hoặc 3 ngày virus sẽ giết chết chúng, các virion được giải phóng và ồ ạt xâm nhiễm sang các
tế bào khác Ở giai đoạn đầu của quá trình xâm nhiễm của virus, dường như hiệu giá kháng thể kháng lại các loại virus và vi khuẩn khác không liên quan trong cơ thể của lợn tăng cao do sự kích hoạt của đại thực bào trong hệ thống miễn dịch Điều này rất dễ gây ra sự nhầm lẫn trong việc đánh giá mức độ miễn dịch đối với các bệnh truyền nhiễm ở cơ thể lợn
Khi tế bào đại thực bào bị virus phá huỷ, các phản ứng miễn dịch không xảy
ra được, lợn nhiễm bệnh rơi vào trạng thái suy giảm miễn dịch và dễ dàng mắc các bệnh nhiễm trùng thứ phát, điều này có thể thấy rõ ở những đàn lợn vỗ béo chuẩn bị giết thịt, khi bị nhiễm virus Tai xanh sẽ có sự tăng đột biến về tỷ lệ viêm phổi kế phát do những vi khuẩn vốn sẵn có trong đường hô hấp
Trang 19Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 9
Viêm phổi làm thiếu oxy nên gây rối loạn chuyển hóa của thai, thai bị suy dinh dưỡng và gây chết thai, sảy thai Lợn chửa kỳ cuối thì nhu cầu oxy tăng cao
vì phải nuôi thai, ở thời kỳ cuối thai tăng trưởng rất nhanh nên nhu cầu về oxy tăng gấp bội, vì vậy lượng thiếu hụt oxy càng nghiêm trọng, nên thai hay sảy vào
kỳ cuối Sau sảy thai tế bào nội mạc tử cung bị thoái hóa, hoại tử nên làm chậm các quá trình sinh lý khác
Lợn nái: các triệu chứng chủ yếu là tím âm hộ, sảy thai, thai chết lưu, thai
gỗ hàng loạt, đẻ non, lợn con đẻ ra yếu ớt, tỷ lệ tử vong cao Tỷ lệ thai chết tăng lên theo độ tuổi của thai: thai dưới 2,5 tháng tuổi tỷ lệ chết 20%, thai trên 2,5 tháng tỷ lệ chết là 93,75% (Phạm Ngọc Thạch và cs, 2007)
Lợn nái trong giai đoạn nuôi con thường lười uống nước, viêm vú, mất sữa, viêm tử cung âm đạo, mí mắt sưng, có thể táo bón hoặc ỉa chảy, viêm phổi
Lợn đực giống: sốt cao, bỏ ăn, đờ đẫn hoặc hôn mê, một số con có hiện
tượng tai xanh Đặc biệt xuất hiện hiện tượng viêm dịch hoàn, bìu dái nóng đỏ (chiếm 95%), dịch hoàn sưng đau, lệch vị trí (85%), giảm hưng phấn (Lê Văn Năm, 2007) lượng tinh ít, chất lượng kém Lợn đực giống rất lâu mới hồi phục được khả năng sinh sản(Nguyễn Như Thanh, 2007)
Lợn con theo mẹ: Hầu như lợn con sinh ra chết sau vài giờ Số con sống
sót tiếp tục chết vào tuần thứ nhất sau khi sinh, một số tiếp tục sống đến lúc cai sữa nhưng có triệu chứng khó thở và tiêu chảy (Kamakawaa A và cs, 2006) Lợn có triệu chứng biếng ăn, ho nhẹ, lông xơ xác, gầy yếu, sưng mí mắt và kết mạc, đôi khi đây là triệu chứng mang tính chẩn đoán đối với lợn con dưới 3 tuần tuổi mắc bệnh PRRS có biểu hiện: tai, mõm tím, rối loạn hô hấp, tiêu chảy
Trang 20Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 10
phân màu nâu đỏ hoặc xám Tỷ lệ lợn chết là 15% hoặc cao hơn do viêm phổi và bội nhiễm vi khuẩn kế phát
Bệnh tích:
Bệnh tích đặc trưng nhất là ở phổi Viêm phổi hoại tử và thâm nhiễm đặc trưng bởi những đám đặc chắc (nhục hóa) trên các thùy phổi Thùy bị bệnh có màu đỏ xám, có mủ và đặc chắc Trên mặt cắt ngang của thùy bệnh lồi ra, khô Nhiều trường hợp viêm phế quản phổi hóa mủ ở mặt dưới thùy đỉnh
Một số bệnh tích khác có thể thấy như: thận có thể có xuất huyết lấm tấm như đầu đinh ghim; não xung huyết; hạch hầu họng, amidan sưng hoặc sung
huyết; gan sưng, tụ huyết; lách sưng, nhồi huyết; hạch màng treo ruột xuất huyết;
loét van hồi manh tràng (Nguyễn Như Thanh et al., 2001)
1.1.5 Dịch tễ học
Bệnh PRRS có những đặc điểm dịch tễ không như những bệnh dịch khác ở gia súc Bệnh được ghi nhận là có tốc độ lây lan rất nhanh, mạnh (bão dịch) trên phạm vi rộng, nhiều địa phương trong cùng 1 thời điểm Thiệt hại do bệnh có thể tới từ 10-20% tổng đàn lợn của địa phương có bệnh
Loài vật mắc
Lợn ở các lứa tuổi đều có thể cảm nhiễm virus Các cơ sở chăn nuôi công nghiệp với quy mô lớn, bệnh thường lây lan rộng, tồn tại lâu dài trong đàn lợn nái, rất khó thanh toán
Lợn nái thường truyền mầm bệnh cho bào thai, gây sảy thai, thai chết lưu
và lợn chết yểu với tỷ lệ cao
Lợn rừng ở các lứa tuổi đều có thể cảm nhiễm virus, có thể phát bệnh, nhưng thường không có triệu chứng lâm sàng và trở thành nguồn tàng trữ mầm bệnh trong tự nhiên
Cho đến nay, kết quả nghiên cứu ở một số nước châu Âu đều cho thấy virus không cảm nhiễm và gây bệnh cho các loại thú khác và người Các loài thủy cầm chân màng, vịt trời lại mẫn cảm với virus, virus PRRS có thể nhân lên
Trang 21Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 11
ở các loài động vật này và chính đây là nguồn reo rắc mầm bệnh trên diện rộng khó khống chế
Động vật môi giới mang và truyền virus
Trong tự nhiên, lợn đực và lợn nái mang virus, đây là nguồn tàng trữ và truyền bá mầm bệnh cho lợn nhà Lợn rừng bị nhiễm virus không có biểu hiện lâm sàng cũng đóng vai trò làm lây truyền virus cho lợn nhà và ngược lại, lợn nhà cũng truyền mầm bệnh cho lợn rừng
Trong thực nghiệm, người ta cũng truyền được virus trực tiếp cho một số loài chuột và từ chuột nhiễm mầm bệnh sang chuột khoẻ (virus tai xanh dòng Châu Âu)
Chất chứa mầm bệnh
Khi đã nhiễm virus, lợn có thể thải virus trong dịch họng, nước bọt, nước tiểu, phân đến ít nhất 28 ngày sau khi nhiễm virus; virus có rất ít trong phân và chúng cũng bị bất hoạt nhanh chóng khi ở trong phân Lợn đực có thể thải virus trong tinh dịch đến 43 ngày Tinh dịch lợn có chứa virus cũng có thể lây nhiễm sang bào thai và lợn nái khi phối giống
Lợn nái nhiễm virus có thể truyền sang cho bào thai từ giai đoạn giữa trở đi
và cũng thải qua nước bọt và sữa
Trong cơ thể lợn nhiễm virus:
+ Từ 2 - 4 ngày sau khi nhiễm đã có thể phân lập được virus ở phổi, hạch lympho, hạch amidan, tuyến Thymus, lách và máu Lượng virus nhiều nhất ở hạch amidan và phổi ở 14 ngày sau khi nhiễm, ở hạch lympho sau 3 ngày
+ Ở hạch amydan, hạch lympho và tuyến Thymus vẫn có thể phân lập được virus sau 21 ngày, ở phổi là sau 35 ngày
+ Virus thường cư trú ở phế nang, vùng trung tâm hạch lympho và lách Ở những con nái có chửa virus có thể qua được nhau thai, tuy nhiên khả năng qua nhau thai của virus này hiện còn nhiều tranh cãi Virus cũng có thể xâm nhập vào thận, não, gan, khí quản, tủy xương và đám rối màng treo ruột
Virus có thể xâm nhập vào đại thực bào vùng phổi, hạch amidan, hạch lympho, lách nhưng không xâm nhập được vào các đại thực bào ở gan, thận, tim
Trang 22Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 12
và các tế bào tiền thân của đại thực bào như bạch cầu đơn nhân trung tính, tế bào tủy xương Tế bào đích chủ yếu của virus là đại thực bào phế nang, tại đây virus nhân lên một cách mạnh mẽ nhất, tuy nhiên chỉ có 2% đại thực bào phế nang bị virus xâm nhập
Đường truyền lây
Truyền lây trực tiếp: các đường lây truyền trực tiếp của virus PRRS trong
và giữa các quần thể lợn bao gồm các lợn nhiễm bệnh và tinh dịch bị nhiễm virus Virus được phát hiện từ nhiều loại chất tiết và các chất thải từ lợn bao gồm máu, tinh dịch, nước bọt, dịch họng, phân, nước tiểu, hơi thở ra, sữa và sữa đầu (Swenson S và cs, 1994; Wills R và cs, 1997b; Nelsen C.J và cs, 1999)
Truyền lây gián tiếp:
+ Các dụng cụ, thiết bị: một số đường truyền lây gián tiếp qua các dụng cụ,
thiết bị đã được xác định trong những năm gần đây Ủng và quần áo bảo hộ đã được chứng minh là những nguồn lây nhiễm tiềm năng cho lợn mẫn cảm
+ Các phương tiện vận chuyển: các phương tiện vận chuyển là một đường
chính làm lây lan PRRSV
+ Côn trùng: các loài côn trùng (muỗi - Aedes vexans và ruồi nhà - Musca
domestica) được theo dõi thường xuyên trong phương tiện, thiết bị dùng cho lợn trong suốt các tháng mùa hè và đã cho thấy có lan truyền virus bằng cơ học từ lợn nhiễm bệnh sang lợn mẫn cảm trong điều kiện thực nghiệm
+ Lây lan qua không khí: các dữ liệu trước đây thu thập từ các ổ dịch diễn
ra ở Anh cho thấy virus có thể lan truyền theo các tiểu phần lơ lửng trong không khí xa tới 3 km Hay một vụ dịch nổ ra tại Tây Âu gần như ngay lập tức sau khi ổ dịch đầu tiên xảy ra tại Đức Nguyên nhân của vụ dịch này được giải thích là do virus có khả năng truyền qua không khí, theo gió tới vùng Tây Âu và gây bệnh cho những lợn trong các trang trại ở khu vực này cũng chứng minh rằng virus có thể truyền qua không khí với khoảng cách lên tới 3 km
Điều kiện lây lan
Trang 23Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 13
Ở các cơ sở có lưu hành bệnh, môi trường bị ô nhiễm, bệnh lây lan quanh năm nhưng tập trung vào thời kỳ có nhiều lợn nái phối giống và bệnh phát sinh thành dịch, với tỷ lệ cao, lợn nái có hội chứng rối loạn sinh sản, trong khi lợn con
bị viêm đường hô hấp phổ biến
Bệnh có thể lây từ nước này sang nước khác qua việc xuất lợn có mang mầm bệnh mà không được kiểm dịch chặt chẽ Một số nước đang phát triển nhập lợn giống có phẩm chất và năng suất cao từ các nước Bắc Mỹ và Tây Âu, do không thực hiện tốt công tác kiểm dịch nên đã mang bệnh vào nước mình Thực
tế cho thấy, trong khoảng gần hai thập kỷ qua, bệnh PRRS đã thâm nhập và trở thành dịch địa phương ở nhiều nơi trên thế giới Chỉ có Australia, New Zealand, Phần Lan, Na Uy, Thụy Điển và Thụy Sỹ tuyên bố là sạch bệnh
Ngoài ra, một nghiên cứu ở Đức đối với 150 đàn bị nhiễm cho thấy có 95% hoặc là đã mua giống dưới 4 tuần trước ổ dịch hoặc là trong vòng 5 km cách đàn
bị bệnh
1.1.6 Chẩn đoán
Chẩn đoán lâm sàng:
Chẩn đoán lâm sàng dựa vào 2 nhóm triệu chứng:
+ Triệu chứng đường sinh sản: trong giai đoạn đầu của dịch, có thể thấy hiện tượng sảy thai ở thời kỳ đầu, đẻ non, đẻ ra thai yếu, thai chết lưu đồng thời thai gỗ, lợn con yếu, chết trước khi cai sữa
+ Triệu chứng đường hô hấp: viêm phổi ở lợn con và lợn thịt Có thể dùng phương pháp chẩn đoán lâm sàng nghi vấn để chẩn đoán xác định bệnh trong các trường hợp như: sảy thai muộn > 20%; chết khi sinh > 5%; chết trước lúc cai sữa > 25%
Tuy nhiên, do tính đa dạng của các loại bệnh ở lợn nên việc chẩn đoán dựa vào lâm sàng thường rất khó, dễ nhầm lẫn (về các bệnh phổi, bệnh sinh sản khác) Ngoài ra việc phân lập virus PRRS cũng rất khó
Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm:
Trang 24Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 14
Để đảm bảo độ chính xác cần phải lấy mẫu bệnh phẩm (máu lợn bệnh còn
sống hoặc các tổ chức bệnh phẩm: phổi, hạch của lợn chết) để làm các xét
nghiệm chẩn đoán trong phòng thí nghiệm
Kỹ thuật chẩn đoán trong phòng thí nghiệm đối với virus PRRS thường dựa
vào 3 tiêu chí: Virus, kháng nguyên của virus, kháng thể đặc hiệu
+ Dựa vào phương pháp miễn dịch đánh dấu bằng enzym (ELISA) hoặc
phương pháp gián tiếp huỳnh quang kháng thể (IFAT) theo quy trình của OIE để
phát hiện kháng thể
+ Phương pháp PCR để phát hiện virus hoặc phương pháp phân lập virus gây
bệnh trên các môi trường phôi gà hoặc các môi trường tế bào đặc biệt
Các phương pháp này cho độ chính xác cao (từ 92-95%) trong chẩn đoán xác
định Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (Bùi Quang Anh và cs, 2008b)
Các vi khuẩn kế phát
Sau khi xâm nhập vào cơ thể, vius PRRS thường tấn công phá huỷ và giết
chết đại thực bào, đặc biệt là đại thực bào vùng phổi Kết quả làm suy giảm hệ
thống phòng vệ tự nhiên của cơ thể Hệ thống phòng vệ của cơ thể bị suy giảm là
điều kiện lý tưởng cho các mầm bệnh khác kế phát
Bảng 1.4 Một số mầm bệnh kế phát thường gặp trong ca nhiễm PRRS
1 Mycoplasma hyopneumoniae Suyễn
2 Actinobacilus pleuropneumoniae APP
3 Pasteurella multocida Tụ huyết trùng
4 Haemophilus parasuis Viêm đường hô hấp
5 Bordetella bronchiseptica Viêm teo mũi
6 Streptococcus suis Liên cầu khuẩn
10 Classical Swine Fever Dịch tả lợn
Trang 25Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 15
1.1.7 Phòng và điều trị bệnh
Vệ sinh phòng bệnh:
Để phòng bệnh PRRS cần phải thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp, nhất là trong điều kiện thực tế của Việt Nam Để các biện pháp vệ sinh phòng bệnh đạt hiệu quả, việc thay đổi phương thức chăn nuôi từ nhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi lớn tập trung, nhập con giống phải khoẻ mạnh rõ nguồn gốc đóng vai trò quan trọng đầu tiên Bên cạnh đó, cần phải áp dụng triệt để các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi, chuồng trại phải đảm bảo vệ sinh an toàn thú y Thường xuyên chăm sóc tốt cho lợn để nâng cao sức đề kháng cho lợn, đối với lợn mới mua về không rõ nguồn gốc cần cách ly ít nhất 3 tuần để theo dõi (Nguyễn Bá Hiên và cs, 2011)
Phòng bệnh bằng vắc xin:
Bệnh chưa có loại thuốc nào đặc hiệu để điều trị, trong khi điều trị cần sử dụng thuốc tăng cường sức đề kháng, điều trị triệu chứng và chủ yếu là ngăn ngừa bệnh kế phát Chính vì vậy, để phòng chống bệnh ngoài việc chăn nuôi an toàn sinh học, chăm sóc nuôi dưỡng tốt thì tiêm phòng vắc xin cũng là một giải pháp
Việc tiêm vắc xin sẽ giúp tạo được kháng thể cho đàn lợn, làm giảm tình trạng mẫn cảm của gia súc với chủng vi rút gây bệnh
Hiện trong "Danh mục vắc xin được phép lưu hành và sử dụng tại Việt Nam" của Bộ Nông nghiệp và PTNT có 7 loại vắc xin có thể sử dụng để phòng, chống bệnh PRRS ở lợn, cụ thể:
Vắc xin nhược độc BSL-PS 100 của Công ty Bestar - Sing-ga-po, chủng vắc xin JKL 100 thuộc dòng Bắc Mỹ;
Vắc xin nhược độc Amervac PRRS của Công ty Hipra - Tây Ban Nha, chủng vắc xin VP046 BIS;
Vắc xin Porcilis PRRS của Công ty Intervet Hà Lan
Trang 26Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 16
Vắc xin nhược độc Ingelvac PRRS MLV của Công ty Boehringer - Đức, chủng vắc xin ATCC VR-2332 thuộc dòng Bắc Mỹ;
Vắc xin vô hoạt PRRS của Công ty Chengdu- Trung Quốc, chủng JXA1 thuộc dòng Bắc Mỹ;
NVDC-Vắc xin nhược độc chủng JXA1-R của Công ty China Animal Husbandry Industry Company (CAHIC) - Trung Quốc, chủng JXA1-R thuộc dòng Bắc Mỹ; Vắc xin nhược độc chủng độc lực cao (live (JXA1-R Highly Pathogenic Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome vaccine), của Công ty Đại Hoa Nông - Trung Quốc, chủng JXA1-R thuộc dòng Bắc Mỹ
Tuy nhiên, để phòng bệnh hiệu quả, người chăn nuôi cũng cần thực hiện tiêm phòng đầy đủ các loại vắc xin phòng 4 bệnh đỏ là: Dịch tả lợn, Đóng dấu
lợn, tụ huyết trùng lợn và Phó thương hàn lợn Ngoài ra tiêm thêm vắc xin E.coli,
Lợn con tiêm lần đầu vào lúc 3 tuần tuổi
Lợn đực giống tiêm lúc 18 tuần tuổi và tái chủng hàng năm
Nái hậu bị và nái sinh sản tiêm phòng trước khi cai sữa cho con hoặc trước lúc phối giống
2 Vắc xin PRRS BSL-PS100: là loại vắc xin vô hoạt chế từ chủng PRRSV dòng Châu Âu Một liều vắc xin chứa ít nhất 107,5 TCID50 Vắc xin an toàn và gây miễn dịch tốt
Liều dùng 2ml/con tiêm bắp
Trang 27Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 17
Lợn con tiêm lần đầu vào lúc 3-6 tuần tuổi
Nái hậu bị tiêm lúc 18 tuần tuổi, tiêm nhắc lại sau 3-4 tuần
Nái sinh sản tiêm 3-4 tuần trước khi phối giống
Lợn đực giống tiêm lúc 18 tuần tuổi, tái chủng sau mỗi 6 tháng
Bảo quản vắc xin ở 2oC – 6oC
3 Vắc xin Amervac-PRRS: là loại vắc xin nhược độc đông khô, chứa virus chủng Châu Âu VP 046 BIS, mỗi liều ít nhất 103,5TCID50 Vắc xin này có khả năng bảo hộ tất cả các chủng Châu Âu khác và Châu Mỹ Đây là chủng an toàn nhất trong các chủng Châu Âu và hoàn toàn không gây hoàn nguyên độc lực Liều lượng 2ml/con tiêm vào cơ cổ
Lợn con tiêm 1 lần vào lúc 3-4 tuần tuổi khả năng bảo hộ đến 5 tháng tuổi Nái hậu bị tiêm 1 lần ở thời điểm 5 tuần tuổi trước khi phối giống
Lợn đực giống tiêm lúc 5 tuần tuổi, tái chủng sau mỗi 6 tháng/lần
Lợn nái tiêm 1 lần sau khi sinh 12 – 15 ngày
Bảo quản vắc xin ở 2oC – 8oC
Hiện nay, tuy chưa có những đánh giá cụ thể về hiệu quả sử dụng vắc xin ở Việt Nam nhưng việc tiêm phòng vắc xin chỉ thực sự hiệu quả khi được thực hiện đồng bộ các biện pháp khác như chăn nuôi an toàn sinh học, kiểm tra huyết thanh định kỳ
4 Vắc xin nhược độc chủng độc lực cao (live (JXA1-R Highly Pathogenic Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome vaccine) của Công ty Đại Hoa Nông - Trung Quốc, chủng JXA1-R thuộc dòng Bắc Mỹ Mỗi liều vắc xin chứa ít nhất 105,0 TCID50 virus PRRS nhược độc chủng JXA1-R Hàm lượng kháng thể đạt cao nhất vào khoảng 21 – 28 ngày sau khi tiêm vắc xin, thời gian bảo hộ kéo dài 4 – 6 tháng
Lợn 14 - 30 ngày tuổi: tiêm 1ml/con Sau 28 ngày tiêm nhắc lại 2ml/con Sau đó định kỳ 4 tháng tiêm nhắc lại 1 lần với lượng 2ml/con
Lợn trên 30 ngày tuổi: tiêm 2ml/con Sau đó định kỳ 4 tháng tiêm nhắc lại với liều 2ml/con
Trang 28Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 18
Lợn nái hậu bị: tiêm 2ml/con trước khi phối giống 30 ngày
Lợn nái sinh sản: tiêm 2ml/con sau đẻ 14 - 28 ngày
Vùng có nguy cơ dịch PRRS xẩy ra, ổ dịch cũ, tiêm ngay vắc xin JXA1 – R cho toàn đàn với liều 2ml/con
Kiểm dịch vận chuyển
- Kiểm soát chặt chẽ lợn, sản phẩm của lợn vận chuyển qua biên giới
- Tại các địa phương, kiểm soát chặt chẽ lợn, sản phẩm của lợn vận chuyển xuất, nhập vào địa phương
- Xử phạt nghiêm các trường hợp vi phạm theo quy định của pháp luật
Điều trị bệnh
Hiện nay bệnh PRRS không có thuốc điều trị, chỉ có thể sử dụng một số thuốc tăng cường sức đề kháng, điều trị triệu chứng và chủ yếu là ngăn ngừa bệnh kế phát
Với những trại đang xảy ra dịch thực hiện đúng các bước sau:
● Loại bỏ những con bị quá nặng
● Tách những con bỏ ăn ra chuồng riêng
● Giãn mật độ nuôi tối đa
● Không tắm cho lợn có dấu hiệu bị bệnh, chỉ rửa chuồng, tích cực vệ sinh
● Sát trùng chuồng trại ngày 1 – 2 lần
● Pha thuốc hạ sốt vào nước cho uống khi đàn lợn có triệu chứng sốt cao
● Một tuần cho uống 2 ngày thuốc để giải độc gan, thận
● Sử dụng cám có thuốc kháng sinh cho đến khi hết bệnh (1 – 2 tháng)
● Với những con bỏ ăn: Phải tách ra để tiêm thuốc kháng sinh và thuốc điều trị triệu chứng
● Sử dụng kháng sinh kéo dài và phổ rộng: Amoxillin LA, Oxytetraxyllin
LA, Tiamutilin
Trang 29Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 19
● Thuốc hạ sốt, giảm đau, chống viêm sử dụng các loại: Funicin, Ketoprofen (Ketofen, ketovet) khi đàn lợn có triệu chứng sốt cao
* Lưu ý:
Không nên sử dụng thuốc kháng viêm dạng Corticoids
Thời gian điều trị phải kéo dài từ 10 – 15 ngày lợn mới có thể hết bệnh Đối với lợn nái phải lấy thân nhiệt ít nhất 2 lần/ngày và tiêm thuốc hạ sốt cho những con > 39,50C
Nên xem xét kỹ và chẩn đoán chính xác có phải bị PRRS (chết ít < 30%) hay là dịch tả lợn (chết 100% khi có triệu chứng bệnh)
* Cụ thể phác đồ điều trị như sau:
● Chống nhiễm bệnh kế phát: Dùng kháng sinh có tác dụng với đường hô hấp Nếu lợn còn ăn thì trộn vào thức ăn hàng ngày một trong các loại kháng sinh: Flofenicol 40ppm (40gr/tấn thức ăn) hoặc 10 – 15 ngày, Lincomix S liều 2kg/tấn thức ăn, Tylansulfa – G 2kg/tấn thức ăn
Nếu con vật bỏ ăn dùng một trong các loại kháng sinh: Amoxicilin LA 15% liều 1ml/10kgP, Linco – spectin, Cafelosporin liều 1gr/30 – 50kgP
Liệu trình dùng từ 3 – 7 ngày
Với lợn nái hoặc lợn bột có thể tiêm chậm vào tĩnh mạch vành tai còn đối với lợn con có thể tiêm bắp ở vùng cổ
● Nâng cao sực đề kháng: Có thể sử dụng kết hợp một số loại sau:
VTMC 5% liều 5 – 10 ml/con/ngày (có thể tiêm bắp)
Đường glucoza 5% liều 10 – 20 – 30 ml/con/ngày
Urotropin 10% liều 5 – 10 – 20 ml/con/ngày
Thuốc trợ tim
1.2 Yếu tố nguy cơ
Trong nhiều ổ dịch, quần thể có nguy cơ là khó xác định, vì vậy nghiên cứu so sánh không khả thi Tuy nhiên, vì ca bệnh đã được phát hiện giai đoạn sớm của quá trình điều tra nên nghiên cứu bệnh - chứng là phù hợp Vì lẽ đó mà
Trang 30Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 20
nghiên cứu bệnh - chứng thường phổ biến hơn nghiên cứu so sánh nhóm trong điều tra ổ dịch
1.2.1 Khái niệm
Yếu tố nguy cơ là yếu tố làm cho vật chủ bị phơi nhiễm trước các vi sinh vật (virus, vi khuẩn ) hoặc các chất độc hại khác
Một nguy cơ bao gồm 3 thành phần: tác nhân có hại, yếu tố nguy cơ và mức
độ hậu quả Thông thường người ta ít khi phân biệt tác nhân có hại với yếu tố nguy cơ
và nhiều khi coi chúng đều là nguyên nhân Do vậy, nếu dùng từ nguyên nhân thì trong dịch tễ học cần phân biệt giữa tác nhân có hại với yếu tố nguy cơ
1.2.2 Phương pháp xác định yếu tố nguy cơ
Nguy cơ xảy ra dịch bệnh không chỉ nói chung chung là nguy cơ cao mà phải xác định và tính toán để chứng minh rằng yếu tố đó chính là yếu tố nguy cơ Muốn vậy, ta phải tính xác suất xảy ra bệnh khi không có yếu tố nguy cơ đó Sau
đó so sánh 2 xác suất với nhau Có 3 con số so sánh xác suất tùy theo phương pháp nghiên cứu dịch tễ Đó là tỷ số của hai xác suất OR (Odd Ratio), tỷ số tỷ lệ nhiễm PR (Prevalence Ratio) và nguy cơ tương quan RR (Relative Risk)
1.2.3 Tỷ số chênh OR (Odd Ratio) và nghiên cứu (điều tra) hồi cứu
Nghiên cứu (điều tra) hồi cứu là điều tra ngược thời gian để tìm ra yếu tố nguy cơ đã làm cho bệnh xảy ra Một cách làm nghiên cứu hồi cứu là nghiên cứu bệnh chứng (case control - Study) Người ta chọn một số gia súc có bệnh gọi là nhóm bệnh và một số gia súc không bệnh gọi là nhóm đối chứng và so sánh xem giữa 2 nhóm này có những điểm gì khác biệt Nhưng sự khác biệt này chủ yếu là
do các yếu tố tác động đến gia súc ở 2 nhóm Các yếu tố nói trên nếu có tác động vào gia súc thì gia súc đó được coi là đã phơi nhiễm và nếu không có tác động thì gia súc đó được coi là không phơi nhiễm với yếu tố đó
Phân tích hồi quy logic đa tầng, nhiều biến (multilevel analysis) được áp dụng để định lượng các yếu tố nguy cơ theo các phân tầng khác nhau (Dohoo I.R, 2003)
Trang 31Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 21
Nếu OR = 1 không có ảnh hưởng, khác nhau giữa hai nhóm;
OR > 1 cho thấy gia súc phơi nhiễm với yếu tố nguy cơ có khả năng dương tính với PRRS tăng lên
Ngược lại, nếu OR < 1 cho thấy nguy cơ gia súc dương tính giảm đi
1.3 Tình hình dịch bệnh PRRS
1.3.1 Trên thế giới
Albina và cộng sự khi nghiên cứu về kháng thể của lợn mắc PRRS và thấy rằng: nếu lợn con được bú sữa đầu thì sẽ có kháng thể PRRS trong huyết thanh từ ngày thứ tư sau khi sinh Jenny G.Cho và cộng sự thuộc khoa thú y, trường Đại học Minesota của Mỹ, khi nghiên cứu về những đặc điểm của virus PRRS và triệu chứng lâm sàng của lợn khi bị bệnh ở Mỹ và một số nước Châu Âu đã kết luận rằng: các chủng virus ở mỹ và Châu Âu có sự khác biệt nhau về bộ gen, tức
là virus ở 2 nơi này có sự biến đổi về cấu trúc Điều đó chứng tỏ vi rút PRRS có
khả năng biến chủng (Otake S và cs, 200b) (Nelsen C.J et al., 1999)
Nghiên cứu về trình tự gen của chủng virus cường độc ở Trung Quốc, Tian Kegong (2007) thu được kết quả như sau: ở một số ổ dịch, bộ gen của virus PRRS tương đồng 93,2 – 94,2% với bộ gen của chủng VR2332 (Bắc Mỹ) Một
số ổ dịch khác lại thấy bộ gen của virus PRRS tương đồng 63,4 – 64,5% với bộ gen của chủng gây bệnh Lelystad (chủng Châu Âu) Từ đó, Tian kegong cũng thấy các virus đã có sự đột biến ở một số axit amin
Sergi Bruguera sau khi nghiên cứu về tác hại của bệnh PRRS và hiệu quả của vắc xin Amervac - PRRS đã cho biết: ở đa số trại để giảm thiệt hại do bệnh gây ra thì lựa chọn tốt nhất là “sống chung với kẻ thù” tức tiêm vắc xin phòng bệnh và quản lý chăm sóc nuôi dưỡng Vắc xin Amervac - PRRS là vắc xin an toàn và hiệu quả cao với cả virus chủng Châu Âu và Bắc Mỹ, giúp kiểm soát bệnh PRRS rất tốt (Sergi Bruguera (2007), “Quyết định xử lý bệnh PRRS an toàn
và hiệu quả với chương trình chủng ngừa bằng vắc xin Amervac - PRRS”, Tài
liệu hội thảo Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản và bệnh liên cầu khuẩn ở lợn, Trường Đại học Nông nghiệp I – Hà Nội, tr 45-63)
Trang 32Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 22
1.3.2 Tại Việt Nam
Tại Việt Nam: Virus PRRS đã xuất hiện và lưu hành tại nước ta năm 1997,
trên đàn lợn nhập từ Mỹ vào các tỉnh phía Nam, 10 trong số 51 con có huyết thanh dương tính với vi rút PRRS và cả đàn được tiêu hủy ngay Tuy nhiên, theo điều tra ở một số địa bàn thuộc thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận cho thấy 25% mẫu huyết thanh lợn có kháng thể virus PRRS (596/2.308 mẫu) và 5/15 trại (chiếm 33%) nhiễm virus PRRS (Nguyễn Lương Hiền và cs, 2001) Một nghiên cứu khác cũng cho thấy tỷ lệ nhiễm ở một trại chăn nuôi công nghiệp tại
TP Hồ Chí Minh là 5,97% (Trần Thị Bích Liên và Trần Thị Dân, 2003) Năm
2003, tỷ lệ nhiễm bệnh PRRS trên lợn nuôi tập trung ở Cần Thơ là 66,86% (La Tấn Cường, 2005)
Năm 2007: Dịch bệnh PRRS xuất hiện tại 405 xã, thuộc 75 huyện của 21
tỉnh, thành phố Tổng số gia súc mắc bệnh là 88.945 con, số chết và phải tiêu hủy
là 19.217 con (Cục Thú y., 2008), cụ thể:
Đợt dịch thứ nhất: ngày 12/3/2007, lần đầu tiên dịch bệnh PRRS xuất hiện
tại nước ta trên đàn lợn tại Hải Dương Do việc buôn bán, vận chuyển lợn không được kiểm soát triệt để nên dịch đã lây lan nhanh Sau đó dịch đã lây lan nhanh
và phát triển mạnh tại 146 xã, phường thuộc 25 huyện, thị xã của 9 tỉnh là: Hải Dương, Hưng Yên, Quảng Ninh, Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang, Bắc Kạn, Nam Định và Hải Phòng Số lợn mắc bệnh là 31.928 con, số lợn chết và xử lý là
7.464 con
Đợt dịch thứ 2: ngày 25/6/2007, dịch bắt đầu xuất hiện tại tỉnh Quảng Nam
và đã lây lan ra diện rộng Trong đợt dịch này, dịch đã lây lan ra 178 xã, phường của 40 huyện, thị xã thuộc 14 tỉnh, thành phố là: Cà Mau, Long An, Bà Rịa - Vũng Tàu, Khánh Hoà, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Lạng Sơn, Hà Nội, Thái Bình, Hải Dương Tổng số lợn
ốm là 57.0177 con, số chết và xử lý là 11.753 con
Năm 2008: ngày 20/3/2008, dịch xuất hiện ở nhiều xã thuộc tỉnh Hà Tĩnh
và Thanh Hóa Sau đó dịch đã xuất hiện ở 949 xã, phường của 99 huyện, thị xã
Trang 33Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 23
thuộc 28 tỉnh là: Bạc Liêu, Lâm Đồng, Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá, Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình, Thái Nguyên, … Tổng
số lợn mắc bệnh là 298.095 con, số chết và phải tiêu huỷ là 286.351 con (Cục Thú y., 2009)
Năm 2009: năm 2009, dịch xảy ra ở 49 xã thuộc 14 huyện của 8 tỉnh, thành
phố: Hưng Yên, Quảng Ninh, Bắc Giang, Quảng Nam, Gia Lai, Bạc Liêu, Bà Rịa
- Vũng Tầu và Đắk Lắk với 5.044 lợn mắc bệnh và 4.363 lợn buộc phải tiêu huỷ (Cục Thú y., 2010)
Năm 2010: xảy ra 02 đợt dịch, đợt thứ nhất tại miền Bắc (Hải Dương,
Hưng Yên, Hải Phòng, Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hà Nội, Nam Định, Hà Nam, Nghệ An, Quảng Ninh, Hòa Bình, Cao Bằng, Sơn La); Đợt thứ hai xảy ra tại một số tỉnh miền Nam (Sóc Trăng, Quảng Trị, Tiền Giang, Lào Cai, Long An, Bình Dương, Bạc Liêu, Quảng Nam, Đồng Nai, Bình Phước, Đà Nẵng, Vĩnh Long, Khánh Hòa, Đắk Lắk, Hậu Giang, Bà Rịa-Vùng Tàu, Lâm Đồng, Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Kiên Giang, Bến Tre, Cà Mau, KomTum, Đắc Nông, Gia Lai, Trà Vinh, Bình Thuận, Quảng Ninh, Ninh Thuận, Phú Yên, Sơn La, Nam Định, Thanh Hóa, Hà Tĩnh) với 1.978
xã thuộc 286 huyện của 52 tỉnh, thành phố có dịch làm 1.114.166 con mắc bệnh
và trong đàn có lợn bệnh; số chết, tiêu hủy là 438.699 con (Cục Thú y., 2011) Nguyễn Lương Hiền và cs (2001) điều tra tình hình lợn mắc bệnh PRRS ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận, đã thấy 25% mẫu huyết thanh heo
có kháng thể PRRS (596/2.308 mẫu) và 33% (5/15 trại) nhiễm PRRS
Theo Nguyễn Bá Hiên và cs cho biết virus PRRS gây bệnh cho lợn ở tất cả các lứa tuổi Người và các động vật khác không mắc bệnh nhưng loài vịt trời lại mẫn cảm với vi rút này Vius PRRS có khả năng nhân lên trong cơ thể vịt trời làm cho mầm bệnh bị reo rắc trên diện rộng
Bùi Quang Anh và cộng sự 2008 nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh PRRS đã kết luận: Lợn nái và lợn con theo mẹ bị mắc với tỷ lệ lớn tỷ lệ
Trang 34Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 24
chết của các loại lợn mắc PRRS khoảng 15 - 20%, cao hơn so với các nghiên cứu khác (Bùi Quang Anh và cs, 2008a)
Nghiên cứu về chỉ tiêu lâm sàng, chỉ tiêu máu ở lợn mắc PRRS tại Hải Dương và Hưng Yên, Phạm ngọc Thạch, Đàm Văn Phải đã kết luận: Thời gian nung bệnh là 3 - 7 ngày, tần số hô hấp, tim mạch, thân nhiệt đều tăng cao so với sinh lý bình thường; Chỉ tiêu sinh lý, sinh hoá máu đều thay đổi, đặc biệt là số lượng bạch cầu; Độ dự trữ kiềm trong máu tăng rất cao, trong khi đó hàm lượng đường huyết, protein tổng số của lợn bệnh lại giảm nhiều so với sinh lý bình thường Đối với lợn nái, số lượng thai chết tỷ lệ thuận với tuổi thai lợn chửa dưới 2,5 tháng có tỷ lệ thai chết là 20%, lợn chửa trên 2,5 tháng có tỷ lệ thai chết
93,75% (Benfield et al., 1992)
Lê Văn Năm (2007) bước đầu khảo sát các biểu hiện lâm sàng về bệnh tích đại thể bệnh PRRS tại một số địa phương thuộc Đồng Bằng Bắc Bộ đã thấy: các biểu hiện lâm sàng, bệnh tích đại thể của bệnh PRRS trong đợt dịch năm 2007 trùng hợp với các tài liệu đã công bố Tuy nhiên, tỷ lệ tiêu chảy chiếm 83,25%, khản tiếng 60,50% ở lợn con theo mẹ, táo bón ở lợn lớn chiếm 50,50%, cao hơn
so với tài liệu đã công bố (Lê Văn Năm, 2007)
Nghiên cứu sự biến động kháng thể mẹ truyền cho con của nái nhiễm virus PRRS, Trần Thị Bích Liên và cộng sự năm 2007 cho thấy: Hiệu giá kháng thể ở lợn con của nái dương tính với PRRS cao hơn của nái âm tính với PRRS Tuy nhiên, lượng kháng thể giảm dần theo tuổi của lợn con và đến 60 ngày tuổi thì lợn con không còn kháng thể (Trần Thị Bích Liên and Trần Thị Dân, 2003)
Trang 35Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 25
Chương 2 NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
Đề tài gồm 4 nội dung nghiên cứu:
- Tình hình chăn nuôi và dịch bệnh PRRS ở lợn tại Thái Bình năm 2013
- Đặc điểm dịch tễ của bệnh PRRS ở lợn tại Thái Bình năm 2013
- Xác định chủng virus gây bệnh PRRS trên địa bàn tỉnh Thái Bình năm 2013
- Đánh giá các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến quá trình phát sinh và lây lan bệnh PRRS ở lợn trên địa bàn tỉnh Thái Bình năm 2013
2.2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Tình hình chăn nuôi và dịch bệnh PRRS ở lợn tại Thái Bình năm 2013
Vật liệu:
- Thu thập và phân tích số liệu: Số liệu điều tra về tình hình chăn nuôi lợn
và tình hình dịch bệnh PRRS ở lợn được thu thập thông qua các tài liệu lưu trữ của Cục thống kê, Chi cục thú y, Trạm thú y (số liệu thứ cấp) về các chỉ tiêu: Tổng số lợn (con)
Số lợn mắc bệnh PRRS (con)
Số lợn bị tiêu hủy (con)
Phương pháp nghiên cứu:
- Tiến hành dùng bảng hỏi (phiếu điều tra) để điều tra các hộ chăn nuôi; Kết hợp phỏng vấn sâu cán bộ thú y cơ sở để thu thập thêm thông tin
Xử lý bằng phầm mềm Microsoft Excel 2007 các số liệu trên để nắm được tình hình chăn nuôi lợn và tình hình dịch PRRS ở lợn tại Thái Bình năm 2013
2.2.2 Xác định virus gây bệnh PRRS ở lợn trên địa bàn tỉnh Thái Bình năm 2013
Vật liệu:
20 lợn nghi mắc bệnh đang có triệu chứng sốt tại 20 hộ gia đình của 4 xã có lợn mắc bệnh PRRS: Vũ Vân, Vũ Đoài (Vũ Thư), Phú Xuân (thành phố Thái Bình) và Vũ Hòa (Kiến Xương)
Trang 36Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 26
Vật tư, hóa chất:
Bộ kit tách chiết ARN của QIAamp
Cặp mồi được sử dụng cho phản ứng RT –PCR được sử dụng theo khuyến cáo của FAO với việc định chủng Bắc Mỹ và Châu Âu được dùng mồi đặc hiệu với gene ORF7, với chủng Trung Quốc dùng mồi đặc hiệu với gene NSPII (FAO) Các mồi sử dụng trong phản ứng RT – PCR:
Mồi ngược CTA GAG ACG ACC CCA TTG TTC CGC
Hóa chất cần thiết: các hóa chất tinh khiết của Merck như NaOH, HCl,
H2SO4 , Na2HPO4, KH2PO4, nước đề ion, agarose, ethidium prominde
Thiết bị: Hệ thống thiết bị dùng trong phân tích, xét nghiệm và chẩn đoán
bệnh của phòng Thí nghiệm trọng điểm Công nghệ sinh học khoa Thú y, Học
viện Nông nghiệp Việt Nam
Một phần mẫu bệnh phẩm của lợn được cố định trong dung dịch formon trung tính 10% để làm tiêu bản vi thể quan sát bệnh tích vi thể
Trang 37Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 27
Bố trí thí nghiệm:
STT Địa điểm lấy mẫu Số lượng mấu lấy
(1 mẫu/ 1 lợn/ 1 hộ)
3 Xã Phú Xuân – thành phố Thái Bình 5
Tiến hành xét nghiệm:
+ Mix phản ứng PCR
Lấy 5µl RNA được tách chiết từ mỗi mẫu bệnh phẩm của lợn nghi mắc
bệnh PRRS được trộn với 20 µl hỗn hợp RT–PCR của bộ kit RT–PCR
Trang 38Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 28
+ Tiến hành phản ứng khuếch đại sản phẩm trong máy PCR với 35chu kỳ
Bảng 2.2 Chu trình nhiệt của phản ứng PCR
+ Điện di kiểm tra kết quả RT–PCR ở hiệu điện thể 100V trong vòng 30 phút
- Phương pháp điện di:
Bước 1: chuẩn bị dung dịch đệm và bản gel
Dung dịch đệm thường được sử dụng trong điện di agarose và
polyacrylamid là TBE hoặc TAE, trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng TAE
và agarose để tạo bản gel
Bản gel được chuẩn bị bằng dung dịch đệm TAE 1X hòa tan với 1,5 gram
agarose đặt trong lò vi sóng ở 100 0c trong 5 phút, đổ vào khuôn có các lược
được cài sẵn để tạo bản gel với các giếng tra mẫu cần điện di Khi bản gel đã
đông cứng đặt bản gel vào bể diện di và đồ dung dịch đệm TAE ngập bản gel
khoảng 3 -5 mm
Bước 2 : Tra mẫu điện di
Thêm 2µl loading dye vào 8 µl sản phẩm RT –PCR, trộn đều hỗn dịch bằng
pipet và chuyển vào các giếng trong bản thạch Điện di đồng thời cả thang chuẩn
DNA (marker) thường sử dụng 4 – 6 µl DNA marker