PRRS do một loại virus có nhân RNA với đích tấn công là các đại thực bào dẫn đến hiện tượng suy giảm miễn dịch ở lợn, tạo điều kiện cho các virus, vi khuẩn gây bệnh khác tấn công Nguyễn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-HÌI -
NGUYỄN VĂN XUYÊN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH PHÁT SINH VÀ LÂY LAN HỘI CHỨNG RỐI LOẠN HÔ HẤP VÀ SINH SẢN Ở LỢN TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: THÚ Y
Mã số : 60.64.01.01
Người hướng dẫn khoa học:
TS PHẠM HỒNG NGÂN
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn:
TS Phạm Hồng Ngân, Phó chủ nhiệm khoa-Trưởng bộ môn Thú y Cộng đồng-Khoa Thú y - Học viện nông nghiệp Việt Nam, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Ban lãnh đạo,Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Trạm thú y huyện Quế Võ đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi về tinh thần và chuyên môn trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Ban Giám dốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, , Khoa Thú y cùng các thầy cô giáo đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, các anh chị em đồng nghiệp, những người luôn động viên, giúp đỡ tôi vượt qua mọi khó khăn trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành tốt bản luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Văn Xuyên
Trang 41.1 Giới thiệu chung về Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn 3
1.3.1 Hình thái và cấu trúc virus PRRS 10
1.3.2 Phân loại virus PRRS 12
1.3.3 Độc lực của virus PRRS 14
1.3.4 Sức đề kháng của virus 14
1.4.2 Chất chứa mầm bệnh 15
1.4.3 Quá trình truyền lây 16
1.4.4 Các yếu tố nguy cơ làm phát sinh và lây lan PRRS 19
Trang 51.7 Chẩn đoán PRRS 27
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.5 Các công thức dịch tễ dùng trong nghiên cứu 33
3.1 Kết quả hồi cứu tình hình dịch PRRS trên địa bàn huyện Quế Võ tỉnh
1.8.1 Biện pháp phòng khi chưa có dịch 28
1.8.2 Biện pháp phòng chống khi có dịch xảy ra 29
1.8.3 Phòng bệnh bằng vacxin 30
2.2.1 Một số đặc điểm dịch tễ của hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản trên
địa bàn huyện Quế Võ – tỉnh Bắc Ninh năm 2010 32
2.2.2 Nghiên cứu các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến quá trình phát sinh và
lây lan bệnh trên địa bàn huyện Quế Võ - Bắc Ninh 32
2.2.3 Biện pháp phòng chống PRRS ở lợn trên địa bàn huyện Quế Võ - Bắc
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu dịch tễ học: 33
2.3.2 Các phương pháp tính tần số đo lường dịch bệnh: 33
2.5.1 Khoảng tin cậy 95%CI của một ước lượng (Confidence Interval) 33
2.5.2 Tỷ suất chênh hay tỷ số chia (Odds Ratio = OR) 34
Trang 63.2 Kết quả nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ chính ảnh hưởng đến sự phát
sinh và lây lan dịch PRRS trên địa bàn huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh 51
3.3 Biện pháp phòng chống hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn
trên địa bàn huyện Quế Võ - Bắc Ninh, năm 2010 61
3.1.1 Diễn biến tình hình dịch bệnh theo không gian 35
3.1.2 Tổng hợp tình hình PRRS trên đàn lợn của huyện Quế Võ - Bắc Ninh
3.1.3 Tình hình dịch bệnh PRRS xảy ra trên từng đối tượng lợn 44
3.1.4 Đặc điểm mức độ, thời gian và độ dài của đợt dịch năm 2010 trên địa
bàn huyện Quế võ – Bắc Ninh 48
3.1.5 Xác định một số triệu chứng lâm sàng ở đàn lợn xảy ra PRRS trên địa
bàn huyện Quế Võ – tỉnh Bắc Ninh năm 2010 50
4.2.1 Yếu tố nguy cơ không tiêm phòng vacxin 52
3.2.2 Nhóm yếu tố nguy cơ về quản lý và kiểm soát con giống 53
3.2.3 Nhóm yếu tố nguy cơ về vị trí chuồng nuôi lợn 56
3.2.4 Nhóm yếu tố nguy cơ an toàn sinh học trong chăn nuôi 59
3.2.5 Nhóm yếu tố nguy cơ từ phương thức thức chăn nuôi 60
3.3.1 Các biện pháp chống dịch 61
3.3.2 Các biện pháp phòng dịch 64
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
PRRS : Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome
PRRSV : Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome virus
ELISA : Enzym Linked Immuno Sorbent Assay
PCR : Polymerase Chain Reaction
RT-PCR : Reverse Transcription Polymesase Chain Reaction
OIE : Office International des Epizooties
FAO : Food and Agriculture Organization of the United Nations
PCV 2 : Porcine Circovirus 2
CSF : Classical Swine Fever
Trang 8
DANH MỤC BẢNG
3.1 Diễn biến dịch bệnh theo không gian 36
3.2 Kết quả tổng hợp tình hình PRRS trên đàn lợn năm 2010 39
3.3 Tình hình dịch PRRS xảy ra trên từng đối tượng lợn 44
3.4 Thời gian và độ dài của đợt dịch năm 2010 trên địa bàn huyện
Quế Võ – tỉnh Bắc Ninh 49 3.5 Một số biểu hiện lâm sàng ở đàn lợn xảy ra PRRS 50
3.6 Kết quả phân tích về yếu tố nguy cơ tiêm phòng vacxin 53
3.7 Kết quả phân tích nguy cơ nguồn cung cấp giống 54
3 9 Kết quả phân tích nguy cơ đường giao thông chính 57
3.10 Kết quả phân tích nguy cơ gần hộ có lợn bị bệnh 58
3.11 Kết quả phân tích yếu tố nguy cơ không vệ sinh, tiêu độc khử
trùng môi trường chăn nuôi 59 3.12 Kết quả phân tích nguy cơ có người ra vào trại 60
3.13 Kết quả phân tích nguy cơ từ phương thức chăn nuôi 61
Trang 9DANH MỤC HÌNH
1.1 Bản đồ lịch sử xuất hiện bệnh PRRS trên thế giới 5
1.2 Sự lưu hành PRRS thể độc lực cao tại Đông Nam Á (2007 – 2010) 7
1.4 Hình ảnh cấu trúc hệ gen của virus PRRS 11
1.5 Các phương thức truyền lây virus PRRS 19
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
3.1 Mức độ dịch xảy ra theo cấp độ thôn, hộ của các xã có dịch 37
3.2 Tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết và tiêu hủy so với tổng đàn của các xã có dịch 42
3.3 Tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết và tiêu hủy của đàn lợn những hộ có dịch 43
3.4 So sánh mức độ ảnh hưởng của dịch giữa các đối tượng lợn 46
3.5 So sánh tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết giữa các đối tượng lợn 47
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Trong công cuộc đổi mới của toàn Đảng, toàn dân, ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng của nước ta đang ngày càng phát triển bền vững, đạt được nhiều thành tựu to lớn và giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong nền kinh tế của cả nước Đặc biệt là trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi lợn đã có những bước phát triển đáng kể, đáp ứng được phần lớn nhu cầu về thực phẩm cho người dân Ở nhiều nước trên thế giới, mức tiêu thụ thịt lợn tính trên đầu người chiếm tỷ lệ cao so với các loại thịt khác Chăn nuôi lợn
đã trở thành nguồn thu nhập quan trọng đối với các hộ nông dân và là một trong những nghề góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp
Tuy nhiên, ngành chăn nuôi lợn ở nước ta đang phải đương đầu với rất nhiều khó khăn: Giá con giống đắt đỏ, giá thức ăn lên cao, điều kiện khí hậu khắc nghiệt, ý thức của người chăn nuôi chưa cao…, đặc biệt là sự gia tăng về tình hình dịch bệnh Đã có rất nhiều bệnh du nhập vào nước ta theo con đường lưu thông, vận chuyển; trong đó có Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn Đây là một bệnh nguy hiểm gây tổn thất nặng nề cho ngành chăn nuôi lợn nói chung và người chăn nuôi nói riêng
Năm 2007 bệnh đã xảy ra trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, huyện Quế Võ là một trong những huyện chịu ảnh hưởng lớn từ dịch tai xanh xảy ra trên địa bàn tỉnh Tháng 4/2010 bệnh xuất hiện trở lại và gây thiệt hại lớn cho các hộ chăn nuôi lợn tại 21/21 xã, thị trấn của cả huyện
Quế Võ nằm ở phía đông bắc tỉnh Bắc Ninh, diện tích tự nhiên 170,7
km2, điều kiện khí hậu biến động phức tạp: nóng ẩm, mưa nhiều Do đường
quốc lộ 18 chạy qua nên việc buôn bán vận chuyển gia súc rất thuận lợi và phát triển Bên cạnh đó, kinh tế chủ yếu dựa vào các sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản Dịch bệnh xảy ra gây ảnh hưởng lớn tới đời sống và tâm
Trang 12lý cho các hộ chăn nuôi nói riêng và địa phương nói chung Tuy nhiên, các trang trại chăn nuôi chủ yếu ở quy mô vừa và nhỏ, thường là những trang trại tổng hợp nên điều kiện về vật chất, trình độ kỹ thuật còn nhiều hạn chế từ đó cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc khống chế dịch bệnh
Vì vậy, việc nghiên cứu các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến quá trình phát sinh và lây lan Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phòng và điều trị bệnh đạt hiệu quả, nhằm hạn chế các thiệt hại do bệnh gây ra
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến quá trình phát sinh và lây lan Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn trên địa bàn huyện Quế Võ tỉnh bắc Ninh.”
2 Mục tiêu của đề tài
Làm rõ tình hình dịch bệnh và đặc điểm dịch tễ của Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn trên địa bàn huyện Quế Võ - Bắc Ninh
Xác định tỷ lệ các đối tượng lợn mắc Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản trên địa bàn huyện Quế Võ - Bắc Ninh
Nghiên cứu các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến quá trình phát sinh và lây lan bệnh trên địa bàn huyện Quế Võ - Bắc Ninh
Đề xuất biện pháp phòng chống dịch Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn có hiệu quả
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên các đối tượng là: Lợn mắc và không mắc PRRS ở các hộ chăn nuôi tại huyện Quế Võ - Bắc Ninh năm
2010
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Giới thiệu chung về Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn
Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome – PRRS) hay còn gọi là bệnh tai xanh là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm của lợn mọi nòi giống, mọi lứa tuổi PRRS do một loại virus có nhân RNA với đích tấn công là các đại thực bào dẫn đến hiện tượng suy giảm miễn dịch ở lợn, tạo điều kiện cho các virus, vi khuẩn gây bệnh khác tấn công (Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ, 2007)
Bệnh gây thiệt hại nặng nề đối với ngành chăn nuôi lợn, đối với lợn nái bệnh gây hậu quả nghiêm trọng như: lợn con sơ sinh yếu ớt, giảm số con sơ sinh/ổ, tình trạng bệnh kéo dài âm ỉ, rối loạn sinh sản, động dục kéo dài, chậm động dục trở lại Đối với đực giống, số lượng tinh dịch giảm, chất lượng tinh dịch kém, ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ thai và chất lượng đàn con, các nhóm lợn khác PRRS thường gây rối loạn hô hấp kết hợp với các mầm bệnh khác làm cho lợn chết nhanh chóng (Nguyễn Văn Thanh, 2007) Bệnh xuất hiện đầu tiên ở Mỹ năm 1987 rất nhanh chóng năm 1988 bệnh lan sang Canada và sau
đó lan sang các nước Châu Âu (Done và cs, 1996)
Năm 1998, bệnh được phát hiện ở Hàn Quốc, Nhật Bản thuộc khu vực Châu Á Từ năm 2005 trở lại đây, bệnh lây lan khắp các nước trên toàn thế giới trong đó có Việt Nam
Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản được gọi dưới nhiều tên gọi khác nhau ở mỗi quốc gia Tại Hà Lan có tên gọi là: New Pig disease (NPD) Tại
Mỹ có các tên gọi là: Mystery disease syndrom (MDS); Swine Reproductive and Respiratory syndrom (SRRS); Swine Infertility and Respiratory syndrom (SIRS); Mistrey swine disease Tại Cộng đồng các nước Châu Âu và Tổ chức Dịch tễ thế giới có tên gọi là: Porcine Reproductive and Respiratory syndrome (PRRS)
Trang 141.2 Tình hình dịch bệnh
1.2.1 Lịch sử và tình hình dịch PRRS ở lợn trên thế giới
Bệnh được ghi nhận lần đầu tiên ở Mỹ tại vùng bắc của bang California, bang Iowa và Minnesota vào khoảng năm 1987, vào thời điểm đó những báo cáo về bệnh khởi đầu chỉ nói đến triệu chứng lâm sàng (Keffaber, 1992) Lúc
đó, những nhà thú y và người nghiên cứu cho rằng hội chứng này khác thường
vì tính trầm trọng, kéo dài, kết hợp triệu chứng sinh sản, hô hấp và không biết được những trường hợp ở thể ẩn tính Rất nhanh chóng, năm 1988 bệnh lan sang Canada và vào tháng 11 năm 1990 một hội chứng tương tự đã được báo cáo ở Munster-Đức Sau đó, những thông tin về bệnh này ở Châu Âu bắt đầu tăng lên nhanh chóng: ở Hà Lan, Tây Ban Nha, Bỉ, Anh năm 1991 và ở Pháp năm 1992 (OIE, 2009) Năm 1998, bệnh cũng được phát hiện ở châu Á như Hàn Quốc, Nhật Bản
Lúc đầu do căn nguyên chưa được biết nên hội chứng được đặt tên là
“bệnh thần bí ở lợn” Mistery Swine disease (MSD) Về sau, bệnh lan trên toàn thế giới và được gọi bằng nhiều tên khác nhau như: Hội chứng hô hấp và
vô sinh của lợn (Swine Infertility and Respiratory disease – SIRS) Bệnh thần
bí của lợn được dùng nhiều ở Mỹ Ở Châu Âu phổ biến dùng tên: “Hội chứng
hô hấp và sảy thai ở lợn (Porcine Endemic abortion and Respiratory syndrome – PEARS); “Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn” (Porcine Respiratory and Reproductive syndrome- PRRS) và “bệnh tai xanh của lợn” như ở châu Âu (Blue ear disease – BED) Năm 1992, những người tham gia hội nghị quốc tế về hội chứng này tại St Paul, Minnesota (Mỹ) đã nhất trí sử dụng tên gọi là Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn – PRRS của Hội đồng Châu Âu đưa ra Tổ chức Thú y thế giới (OIE) cũng công nhận tên gọi này (William T.Christianson và Han Soo Joo, 2001)
Từ năm 2005 trở lại đây, 27 nước và vùng lãnh thổ thuộc tất cả các châu lục (trừ châu Đại dương) trên thế giới đã báo cáo cho Tổ chức thú y thế
Trang 15giới khẳng định phát hiện có bệnh PRRS (Cục thú y, 2008)
Trong số các nước nêu trên có cả các nước có ngành chăn nuôi phát triển mạnh như Mỹ, Hà Lan, Đan Mạch, Anh, Pháp, Đức…Tổn thất do PRRS gây ra tại các nước này lên đến hàng trăm triệu đô la Ở Hoa Kỳ người ta đánh giá thiệt hại kinh tế cuả PRRS trong những năm gần đây là lớn nhất so với thiệt hại do các bệnh khác gây ra ở lợn, khoảng 560 triệu đô la mỗi năm bao gồm chi phí tiêu huỷ lợn chết và lợn ốm, chi phí chống dịch và xử lý môi trường (Neumanm và Kliebenstein, 2006)
Tháng 9/2007, Nga báo cáo chính thức có dịch bệnh tai xanh do chủng virus PRRS thể độc lực cao gây ra (Tô Long Thành, 2007)
Hình 1.1 Bản đồ lịch sử xuất hiện bệnh PRRS trên thế giới
Các nước trong khu vực Châu Á cũng có tỷ lệ PRRS lưu hành rất cao,
ví dụ ở Trung Quốc là 80%, Đài Loan 94,7-96,4%, Philippine 90%, Thái Lan 97%, Malaysia 94%, Hàn Quốc là 67,4-73,1% Có thể khẳng định rằng PRRS
là nguyên nhân gây tổn thất kinh tế cho ngành chăn nuôi lợn ở nhiều quốc gia trên thế giới (Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ, 2007)
Tại Trung Quốc, theo báo cáo của đoàn chuyên gia quốc tế và chuyên gia của Trung Quốc được phát hành vào tháng 12/2007, kể từ năm 2006 đàn
Trang 16lợn của Trung Quốc đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi Hội chứng sốt cao ở lợn do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là virus PRRS và các loại mầm bệnh khác gồm: virus Dịch tả lợn, PCV-2 chiếm 96,5% Trong vòng hơn 3 tháng của năm 2006, dịch đã lây lan ở hơn 10 tỉnh phía Nam làm hơn 2 triệu lợn ốm, trong đó có hơn 400.000 lợn mắc bệnh đã chết (Kegong Tian, 2007) Tính từ đầu năm đến tháng 7/2007, dịch bệnh đã xảy ra ở trên 25 tỉnh, với trên 180.000 lợn mắc bệnh và 45.000 con chết Điều đáng chú ý là virus gây
ra đại dịch PRRS vào năm 2006 ở Trung Quốc đã cho thấy những thay đổi, tăng tính cường độc so với các chủng virus PRRS cổ điển được phân lập tại nước này từ năm 1996-2006 (Gao và cs, 2004) Kết quả nghiên cứu toàn diện của Trung Quốc đã khẳng định chủng virus PRRS gây bệnh tại nước này là chủng độc lực cao, đặc biệt có sự biến đổi của virus (thiếu hụt 30 acid amin trong gen) Năm 2007, các tỉnh Anhui, Hunan, Guangdong, Shandong, Liaoning, Jilin và một số tỉnh khác bị ảnh hưởng nặng buộc Trung Quốc phải tiêu huỷ tới 20 triệu lợn để ngăn chặn dịch lây lan
Trước diễn biến phức tạp của dịch PRRS, Bộ Nông nghiệp Trung Quốc đang thực hiện chương trình phòng chống bệnh rất quy mô, riêng chương trình nghiên cứu, sản xuất vacxin đã được cam kết chi khoảng 280 triệu nhân dân tệ tương đương với 36,5 triệu USD
Tại Hồng Kông và Đài Loan đã xác định có cả hai chủng Châu Âu và Bắc Mỹ cùng lưu hành, đặc biệt trong cùng một con lợn ở Hồng Kông đã xác định nhiễm cả hai chủng nêu trên;
Dịch PRRS cũng được thông báo ở Thái Lan từ các năm 2000–2007 Thông báo cho biết, virus gây bệnh PRRS được phân lập từ nhiều địa phương thuộc nước này gồm cả chủng Châu Âu và chủng Bắc Mỹ độc lực thấp Trong
đó, virus thuộc chủng Châu Âu chiếm 66,42% còn virus thuộc chủng dòng Bắc Mỹ chiếm 33,58% Các nghiên cứu trước đó đã khẳng định PRRS lần đầu tiên xuất hiện ở nước này vào năm 1989 và tỷ lệ lưu hành huyết thanh của
Trang 17bệnh này cũng thay đổi khác nhau, từ 8,7% vào năm 1991 và trên 76% vào năm 2002 Nguồn gốc PRRS tại Thái Lan là do việc sử dụng tinh lợn nhập nội
đã bị nhiễm virus PRRS hoặc là do các đàn nhập nội mang trùng (Thanawongnuwech và Amonsina, 2004) PRRS thể độc lực cao tại Thái Lan được báo cáo là vào năm 2008 với 25 ca bệnh và năm 2009 là 33 ca bệnh Năm 2010, dịch PRRS xảy ra chủ yếu ở những hộ chăn nuôi thương phẩm quy mô nhỏ với 145 ổ dịch xảy ra vào tháng 10/2010 (FAO, 2010)
Tại Philippines, bệnh lan truyền chủ yếu tại những vùng có mật độ chăn nuôi cao và sự giao thương buôn bán tăng Số ca bệnh PRRS tăng cao mỗi năm và đỉnh điểm là vào năm 2009 (FAO, 2010)
Trang 18các kết quả điều tra huyết thanh học tại một số trại lợn giống phía Nam đã phát hiện có sự lưu hành PRRS do chủng virus cổ điển độc lực thấp gây ra với một tỷ
lệ nhất định lợn giống có huyết thanh dương tính với bệnh (Cục thú y, 2007)
Điều tra huyết thanh học của các tác giả Akemi Kamakawa và Hồ Thị Viết Thu từ năm 1999-2003 cho thấy tỷ lệ lợn có kháng thể kháng virus PRRS tại Cần Thơ là 7,7% (37/478 mẫu dương tính với virus PRRS)
Như vậy, có thể thấy virus đã xuất hiện và lưu hành tại nước ta trong một thời gian dài Tuy nhiên, sự bùng phát thành dịch và gây tổn thất lớn cho ngành chăn nuôi lợn thực sự mới bắt đầu từ tháng 3/2007 Dịch tai xanh đã xảy
ra thành nhiều đợt tại 3 miền Bắc, Trung, Nam và gây thiệt hại đáng kể cho chăn nuôi lợn, đặc biệt là ảnh hưởng đến sự phát triển đàn giống
Trong các ổ dịch, ngoài virus PRRS đã được xác định là nguyên nhân chính, hàng loạt các loại mầm bệnh thứ phát khác như: Dịch tả lợn, PCV2, Tụ huyết trùng, Phó thương hàn, Liên cầu khuẩn, Suyễn lợn cũng có mặt và đây chính là nguyên nhân dẫn đến chết nhiều lợn mắc bệnh (Trung tâm Chẩn đoán Thú y TW, 2007)
+ Đợt dịch đầu tiên: dấu ấn quan trọng của PRRS tại Việt Nam được
bắt đầu từ ngày 12/3/2007, hàng loạt đàn lợn tại Hải Dương có những biểu hiện ốm khác thường Ngày 23/3/2007, lần đầu tiên Chi cục Thú y tỉnh đã báo cáo Cục Thú y về tình hình dịch, ngay sau đó ngày 26/3/2007, Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương - Cục Thú y đã tiến hành lấy mẫu xét nghiệm
và kết quả dương tính với PRRSV Do lần đầu tiên PRRS xuất hiện tại Việt Nam và không quản lý được việc buôn bán, vận chuyển lợn ốm, dịch đã lây lan nhanh và phát triển mạnh tại 6 tỉnh thành thuộc Đồng bằng Sông Hồng, gồm: Hưng Yên, Quảng Ninh, Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang và Hải Phòng làm hàng ngàn con lợn mắc bệnh
+ Đợt dịch thứ 2: ngày 25/6/2007, dịch lại xuất hiện tại tỉnh Quảng
Nam Mặc dù đã có những bài học từ các tỉnh phía Bắc, cũng như những cảnh
Trang 19báo, hướng dẫn phòng chống bệnh cụ thể của Cục Thú y, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nhưng do không được phát hiện kịp thời, Chi cục Thú y địa phương không nắm chắc được tình hình dịch, việc quản lý vận chuyển lợn
ốm không triệt để đã làm dịch lây lan trên diện rộng tại 14 tỉnh, thành trong cả nước: Cà Mau, Long An, Bà Rịa-Vũng Tàu, Khánh Hoà, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Lạng Sơn, Hà Nội, Thái Bình và Hải Dương làm trên 30 ngàn lợn mắc bệnh, hàng ngàn lợn chết
và phải tiêu hủy
Tương tự như đợt dịch tại các tỉnh phía Bắc, PRRS tại miền Trung có tốc độ lây lan nhanh do yếu kém trong công tác kiểm dịch vận chuyển; dịch xảy ra nhiều ở lợn nái và lợn con với tỷ lệ chết rất cao (khoảng 20 - 30% số lợn nhiễm bệnh)
+ Đợt dịch thứ 3: gây thiệt hại lớn cho chăn nuôi lợn và gây hậu quả
xấu về môi trường cũng như về kinh tế xã hội Dịch xảy ra đầu tiên tại Bạc Liêu vào tháng 1 năm 2008 với số lượng lợn mắc bệnh ít Đến tháng 3 năm
2008, sau khi phát hiện bệnh ở Hà Tĩnh, cũng chỉ trong một thời gian rất ngắn tại Thanh Hóa và Nghệ An cũng xảy ra dịch Tại tỉnh Thanh Hóa, số lượng các xã bị dịch tăng lên từng ngày với tốc độ chóng mặt Đến ngày 22/4/2008, dịch đã xuất hiện tại 11 tỉnh, thành: Bạc Liêu, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Quảng Nam, Nghệ An, Lâm Đồng, Thừa Thiên Huế, Thái Bình, Thái Nguyên, Ninh Bình và Nam Định
+ Đợt dịch thứ 4: tái xuất hiện bắt đầu từ ngày 14/2/2009 tại tỉnh
Quảng Ninh Sau đó dịch tiếp tục xảy ra tại các tỉnh Hưng Yên, Bạc Liêu, Gia Lai, Bắc Giang Đắc Lắc, Bà Rịa-Vũng Tàu và đặc biệt là tỉnh Quảng Nam dịch xảy ra trầm trọng và kéo dài Đến ngày 15/7/2009 có 4.313 con lợn mắc bệnh, chết và tiêu huỷ 4.210 con Tình hình dịch đợt này có giảm so với năm
2008 cả về phạm vi, quy mô dịch và số lượng gia súc phải tiêu huỷ [5]
Trang 20+ Đợt dịch thứ 5: Bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 5 năm 2010 xảy ra dịch ở
hầu hết các tỉnh phía Bắc Theo kết quả điều tra từ tháng 4/2010 đến tháng 5/2010, cả nước có 15 tỉnh là Hải Dương, Thái Bình, Thái Nguyên, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hà Nội, Nam Định, Hà Nam, Lạng Sơn, Nghệ An, Quảng Ninh, Bắc Giang, Hòa Bình và Cao Bằng có dịch tai xanh xảy ra, với số lợn bị mắc bệnh tai xanh là 76.368 con và số lợn bị chết, tiêu hủy là 34.768 con
Sau đó dịch xảy ra lẻ tẻ ở một số địa phương, đến tháng 7, tháng 8/2010 dịch lại bùng phát mạnh ở các tỉnh phía Nam Trong thời gian này dịch xảy ra ở 16 tỉnh thành trong cả nước bao gồm: Tiền Giang, Sóc Trăng, Long An, Bình Dương, Bạc Liêu, Đồng Nai, Vĩnh Long, Hậu Giang, Bình Phước, Đà Nẵng, Quảng Nam, Đắk Lắk, Nghệ An, Cao Bằng và Lào Cai
Như vậy tại Việt Nam, dịch PRRS có thể vẫn có những diễn biến phức tạp và có nguy cơ bùng phát ở tất cả các địa phương trong cả nước
1.3 Căn nguyên
Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn do virus PRRS thuộc họ
Arteriviridae, giống Nidovirales, chi Arterivirus (Collins JE và cs, 1992), có
cấu trúc gần giống với virus gây viêm khớp ở ngựa (EAV), Lactic dehydrogennase virus của chuột (LDHV) và virus gây sốt xuất huyết trên khỉ (SHFV) (Rossow, 1998)
1.3.1 Hình thái và cấu trúc virus PRRS
Dưới kính hiển vi điện tử, virus PRRS là ARN virus chuỗi đơn dương
có vỏ bọc hình cầu, trên bề mặt có nhiều gai nhô ra, kích thước từ 45 -80 nm, chứa nhân nucleocapsid kích thước 25-35nm, sự sinh sôi của virus bị dừng lại khi dùng Chloroform hay Ether, chứng tỏ vỏ có chứa lipit (William T.Christianson và Han Soo Joo, 2001)
Trang 21
Hình 1.3 Hình thái và cấu trúc virus PRRS
Genome của VIRUS PRRS là một sợi đơn RNA và virus được xếp vào
bộ Nidovirales, họ Arteriviridae, chi Arterivirus (Paton và Brown, 1991)
Hệ gen của virus gồm 7 khung đọc mở gối lên nhau mã hóa cho 7 protein của virus gồm GP1, GP2, GP3, GP4, GP5, protein màng M và protein cấu trúc capxit N Trong số đó protein GP5 (Envelope glycoprotein) có trọng lượng phân tử từ 24-25 kDa là protein liên kết vỏ bọc kết hợp glycogen, các kháng thể trung hòa chủ yếu liên kết trực tiếp với các Epitop có trên bề mặt của protein này đây là protein vỏ bọc nhân, có tính kháng nguyên cao
Hình 1.4 Hình ảnh cấu trúc hệ gen của virus PRRS
Trang 22Các loại protein cấu trúc của virus PRRS bao gồm:
+ Protein nucleocapsid (N, ORF 7) khối lượng phân tử khoảng 14-15kDa, đây là protein vỏ bọc nhân
+ Membrane protein (M, ORF 6) khối lượng phân tử khoảng 18-19 kDa là protein liên kết vỏ bọc
+ Envelope glycoprotein (E, ORF 5) khối lượng phân tử từ 24-25 kDa
là protein liên kết vỏ bọc kết hợp glycogen
Ngoài ra còn có 3 loại glycoprotein cấu trúc ít thấy hơn và được kí hiệu
là ORF 2, 3 và 4
1.3.2 Phân loại virus PRRS
Dựa vào phân tích cấu trúc gen và phân tích về phát sinh loài virus phân lập khác nhau trên thế giới (Nelsen và GenBank, 1998) người ta đã xác định được hai chủng nguyên mẫu (Prototype), phân lập ở Châu Âu (Virus Lelystad-LV) và phân lập ở Bắc Mỹ (VR-2332) (Murtaugh và Elam, 1995; Benfield và Nelson, 1992)
Nhóm I gồm các virus thuộc chủng Châu Âu (tên gọi phổ thông là virus Lelystad gồm nhiều phân nhóm đã được xác định Nhóm virus này được Wensvoort và cộng sự-Viện thú y Trung ương – Lelystad – Hà Lan phân lập được bằng tế bào đại thực bào phế nang của lợn và được đặt tên là virus Lelystad – LV để kỷ niệm phát hiện này (Terpstra và cs, 1991)
Nhóm II gồm các virus thuộc dòng Bắc Mỹ (với tên gọi là VR – 2332) Nhóm này được Collins và cộng sự-Mỹ phân lập được vào năm 1992 (OIE, 2009)
Tuy 2 nhóm virus có một số khác biệt về tính di truyền và hình dạng, nhưng chúng lại có tính tương đồng về cấu trúc nucleotit là khoảng 60% (Han
và Wang, 2006)
Qua phân tích trình tự nucleotid và amino acid của 2 prototyp VR-2332
và virus Lelystad của một số tác giả cho thấy các virus đang tiến hoá do đột
Trang 23biến ngẫu nhiên và tái tổ hợp trong gen (Meng, 1995; Kapur và cs, 1996; Key
và cs, 2001)
Qua các lần phân lập, người ta đã chứng minh được có sự biến dị di truyền mạnh trong hai chủng trên, được khẳng định qua phân tích trình tự nucleotide và axit amin của các khung đọc mở (ORFs) của LV và VR-2332 Trình tự axit amin của VR-2332 so với LV là 76% (ORF2), 72% (ORF3), 80% (ORF4&5), 91% (ORF6) và 74% (ORF7) Phân tích trình tự cho thấy các virus đang tiến hóa do đột biến ngẫu nhiên và tái tổ hợp trong gen (Bierk và
cs, 2011; Bush và cs, 1995) Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các chủng virus này gây bệnh trên động vật cảm thụ với bệnh cảnh giống nhau nhưng chúng lại đại diện cho 2 genotyp khác biệt (Coles, 2004; Nodejil và Nielen, 2003; Gilbert và Larochelle, 1996)
Những nghiên cứu gần đây còn cho thấy có sự khác biệt về tính di truyền trong các virus được phân lập từ các vùng địa lý khác nhau Bản thân các virus trong cùng một nhóm cũng có sự thay đổi về chuỗi nucleotide khá cao đến 20% Chủng Bắc Mỹ có 3 subtyp: VR-2332, Taiwan và 807/94 phân lập ở Canada Chủng Châu Âu có 2 subtyp: I10 phân lập tại Hà Lan và Olot tại Tây Ban Nha
Chính sự khác biệt, sự đa dạng về tính kháng nguyên và khả năng biến đổi cấu trúc kháng nguyên của virus đã làm tăng khó khăn trong việc sản xuất vacxin chống lại chúng
Qua nghiên cứu giải mã gen của virus tại Mỹ và Trung Quốc cho thấy: các mẫu virus gây ra các ổ dịch PRRS tại Việt Nam có mức tương đồng về amino acid từ 99 -99,7% so với chủng virus PRRS gây bệnh thể độc lực cao ở Trung Quốc và đều bị mất 30 axít amin Kết quả này cũng hoàn toàn giống với kết quả công cường độc của Trung tâm Chẩn đoán Thú y TW Tất cả đều thống nhất: Chủng virrus gây ra các ổ dịch PRRS ở Việt Nam hiện nay thuộc
Trang 24dòng Bắc Mỹ, chủng này có sự tương đồng về kháng nguyên với chủng virus độc lực cao gây bệnh tại Trung Quốc (Cục thú y, 2008)
Theo kết quả khảo sát của Nguyễn Ngọc Hải và Võ Khánh Hưng (2012): chủng virus gây Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn ở Việt Nam chiếm đa số là chủng Trung Quốc (65%), kế đến là dòng NA (32%) và ít nhất là dòng EU (1,3%)
Gần đây, tại Trung Quốc các nhà nghiên cứu với quy mô rộng lớn nhất
từ trước đến nay đã khẳng định là có sự biến đổi về độc lực của virus PRRS, hậu quả lợn nhiễm virus PRRS có tỷ lệ chết rất cao, trên 20% trong tổng số nhiễm bệnh (Kegong Tian, 2007)
Tuy có một số khác biệt về di truyền và kiểu hình nhưng các chủng virus Bắc Mỹ và các chủng virus Châu Âu lại tạo ra các triệu chứng lâm sàng
về hô hấp và sinh sản ở lợn rất giống nhau
Virus không gây ngưng kết với các loại hồng cầu gà, dê, thỏ, chuột, hồng cầu type O của người Phát triển tốt trên môi trường tế bào đại thực bào phế nang lợn, trên tế bào dòng CL 2621, tế bào MA 140 với bệnh tích phá huỷ tế bào, sau 2-6 ngày tế bào co tròn, tập trung thành cụm dày lên, nhân co lại cuối cùng bong ra (William T.Christianson và Han Soo Joo, 2001)
1.3.4 Sức đề kháng của virus
Virus PRRS là một virus có vỏ bọc ngoài, sự sống sót của virus
Trang 25PRRS bên ngoài vật chủ chịu tác động của nhiệt độ, pH và sự tiếp xúc với các chất sát trùng (Albina, 1997)
Virus PRRS có khả năng sống sót trong khoảng thời gian dài hơn 4 tháng ở nhiệt độ dao động trong khoảng -70oC đến -20oC, 20 phút ở 56oC, 24 giờ ở 30oC
và 6 ngày ở 21oC (Benfield và Nelson, 1992) Tuy nhiên khả năng sống của virus PRRS giảm nhanh khi nhiệt độ tăng lên (Frederick Murphy và cs, 2010)
Virus PRRS bền vững ở pH dao động trong khoảng 6,5 đến 7,5, tuy nhiên tính gây nhiễm giảm ở pH < 6,0 hoặc pH > 7,65 (Forsberg và cs, 2002)
Các chất sát trùng thông thường và môi trường có pH axit dễ dàng tiêu diệt virus Ánh sáng mặt trời và tia tử ngoại vô hoạt virus nhanh chóng
1.4 Dịch tễ học Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn
có thể phát bệnh, nhưng thường không có triệu chứng lâm sàng và trở thành nguồn tàng trữ mầm bệnh trong tự nhiên
Thông thường virus PRRS chỉ gây bệnh cho lợn nhưng không gây bệnh cho người và các động vật khác Tuy nhiên, từ thực nghiệm các nhà khoa học đã chứng minh một số loại gia cầm chân có màng như vịt trời (Mallard duck) là rất mẫn cảm với virus PRRS và virus có thể nhân lên ở loài vịt này (Nodejil và Nielen, 2003) Do đó, vấn đề phát tán virus này ra diện rộng là khó tránh khỏi
1.4.2 Chất chứa mầm bệnh
Virus có trong dịch mũi, nước bọt, phân, nước tiểu, phân, hơi thở, tinh dịch, sữa và sữa đầu của lợn ốm hoặc mang trùng sau đó phát tán ra môi trường (Wills và cs, 2003) Virus bài thải qua nước tiểu đến 42 ngày; nước
Trang 26mũi, nước mắt 14 ngày, tinh dịch của lợn đực gây bệnh thực nghiệm đến
43-92 ngày sau khi nhiễm (Christopher Hennings và cs, 1998)
Trong cơ thể vật chủ, virus tồn tại lâu, ví dụ phát hiện được virus từ mẫu họng 157 ngày sau khi tiêm thí nghiệm
1.4.3 Quá trình truyền lây
Truyền lây trực tiếp
Truyền lây trực tiếp của virus PRRS trong và giữa các quần thể lợn bao gồm các lợn nhiễm bệnh và tinh dịch bị vấy nhiễm Virus PRRS được phát hiện từ nhiều loại chất tiết và các chất thải từ lợn bao gồm máu, tinh dịch, nước bọt, phân, hơi thở, sữa và sữa đầu (Wills và cs, 2003)
Truyền lây theo chiều dọc xảy ra trong suốt giai đoạn giữa đến giai đoạn cuối của thời kỳ mang thai (William Christianson và Han Soo Joo, 2001) Các nhà nghiên cứu đã phân lập được virus từ đại thực bào, phổi, gan, lách, huyết thanh hoặc dịch cơ thể của lợn con sinh ra cả sống và chết (William Christianson và Han Soo Joo, 2001), nhưng không phân lập được từ thai chết khô, họ cũng phát hiện kháng thể chống virus PRRS đặc hiệu trong dịch xoang ngực hoặc sữa đầu Dấu hiệu này chỉ ra rằng truyền bệnh qua nhau thai là phổ biến trong giai đoạn cuối kỳ chửa
Truyền lây theo chiều ngang qua tiếp xúc trực tiếp giữa thú nhiễm bệnh và thú mẫn cảm cũng như sự lây truyền qua tinh dịch từ những lợn đực nhiễm bệnh Đặc biệt, virus gây nhiễm và RNA của virus PRRS đã được phát hiện trong tinh dịch của lợn đực gây bệnh thực nghiệm đến 43-92 ngày sau khi nhiễm (Christopher Hennings và cs, 1998) Lợn trưởng thành có thể bài thải virus trong 14 ngày trong khi đó lợn con, lợn choai bài thải virus tới
1-2 tháng và lợn con nhiễm bệnh và lợn mang trùng có thể bài thải virus
trong vòng 6 tháng
Theo nghiên cứu của Thanawongnuwech và cs (1998) khi so sánh ảnh hưởng của tuổi đã xác định rằng lợn con từ 4-8 tuần tuổi nhiễm virus PRRS
Trang 27có giai đoạn virus huyết dài hơn cũng như tốc độ bài thải và tái sản trong đại thực bào cao hơn so với lợn có lứa tuổi lớn hơn (16-24 tuần tuổi)
Theo Otake và cs (2002) sự tồn tại kéo dài của virus PRRS trong từng cá thể dao động trong khoảng thời gian từ 154– 57 ngày sau khi nhiễm
Sử dụng phản ứng khuếch đại gen (PCR) cho thấy RNA của virus PRRS đã được phát hiện ở lợn hậu bị cho tới 120 ngày sau khi gây nhiễm (Batista và cs, 2002) và sự bài thải virus sang thú chỉ báo mẫn cảm được báo cáo là đến 86 ngày (Bierk và cs, 2011)
Việc bài thải qua phân vẫn là một vấn đề còn tranh cãi, một số nghiên cứu báo cáo rằng virus PRRS có trong phân từ ngày thứ 28 đến 35 sau khi gây nhiễm thực nghiệm, trong khi các nghiên cứu khác lại không phát hiện được virus trong các mẫu phân (Wills và cs, 1997; Yoon và cs, 1993)
Truyền lây gián tiếp
Một số đường truyền lây gián tiếp qua các dụng cụ, thiết bị đã được xác định Nguy cơ lây truyền qua những đường này có thể được giảm thiểu qua áp dụng các bảng nội quy, nghĩa là thay giày dép, quần áo, rửa tay, tắm, tạo những khoảng thời gian nghỉ khoảng 12 giờ giữa những lần tiếp xúc với lợn (Otake và cs, 2002)
Các phương tiện vận chuyển cũng là một cách làm lây lan virus PRRS
cơ học tiềm năng Sử dụng một mô hình tỷ lệ 1:150, lợn mẫn cảm đã thu nhận virus PRRS qua tiếp xúc ở bên trong mô hình vận chuyển vấy nhiễm với virus PRRS
Các loại côn trùng như muỗi và ruồi nhà được theo dõi thường xuyên trong phương tiện, thiết bị dùng cho lợn trong suốt các tháng mùa hè và đã cho thấy có lan truyền virus PRRS bằng cơ học từ lợn nhiễm bệnh sang lợn mẫn cảm trong điều kiện thực nghiệm (Otake và cs, 2002)
Đối với các loài có vú và các loài chim, không có loài nào có khả năng
là véc tơ sinh học và cơ học Tuy nhiên, các loài thuỷ cầm di trú đã được cho
Trang 28là véc tơ của virus PRRS lây lan bệnh giữa các trại, do bản năng di trú của chúng và khuynh hướng làm tổ ở các đầm phá gần các trại lợn Thế nhưng các kết quả trái ngược về khả năng vịt trời cho sự tái sản và bài thải virus PRRS cho lợn qua phân đã được báo cáo Vì thế, câu hỏi này đến nay vẫn chưa được trả lời
Hiện nay, sự truyền lây virus PRRS qua không khí còn gây nhiều tranh cãi Các kết quả từ những thực nghiệm đánh giá sự lây truyền VIRUS PRRS qua các tiểu phần không khí vẫn còn mâu thuẫn với nhau, các thí nghiệm trên thực địa và trong phòng thí nghiệm đã cho kết quả khác nhau Theo Wills và
cs (1997) lợn gây nhiễm thực nghiệm có thể truyền lây virus cho các nhóm tiếp xúc gián tiếp và có khoảng cách gần nhau, cách nhau từ 46–102cm Một số nghiên cứu khác lại cho rằng lợn gây nhiễm thực nghiệm có thể lây nhiễm cho lợn chỉ báo qua các tiểu phần không khí ở khoảng cách 1m (Torremorell và
cs, 1997) Người ta cũng đã chứng minh rằng virus sống có thể lây lan được tới 150m qua sử dụng mô hình ống thẳng áp lực âm, dẫn tới lây nhiễm lợn chỉ báo mẫn cảm (Dee và cs, 2005)
Ở Anh, vận chuyển lợn làm lây lan virus làm cho chính phủ phải đề ra những hạn chế nghiêm ngặt trong việc vận chuyển lợn bệnh Các thống kê đưa ra thang bậc sau để biểu thị khả năng truyền qua không khí xung quanh đàn bị nhiễm:
- 57% các trại trong vòng 1 km bị nhiễm
Trang 29Hình 1.5 Các phương thức truyền lây virus PRRS
1.4.4 Các yếu tố nguy cơ làm phát sinh và lây lan PRRS
Ở các cơ sở có lưu hành bệnh, môi trường bị ô nhiễm, bệnh lây lan quanh năm nhưng tập trung vào thời kỳ có nhiều lợn nái phối giống và bệnh phát sinh thành dịch, với tỷ lệ cao, lợn nái có hội chứng rối loạn sinh sản, trong khi lợn con bị viêm đường hô hấp phổ biến (Eichhorn và Frost, 1997)
Bệnh có thể lây từ nước này sang nước khác qua việc xuất lợn có mang mầm bệnh mà không được kiểm dịch chặt chẽ
Sự lây lan bệnh từ đàn lợn này sang đàn lợn khác thường theo tinh dịch khi phối giống Ngoài ra còn các đường như kim tiêm, nước uống, không khí,
ký chủ không phải là lợn, côn trùng, vật liệu nhiễm khuẩn Ở Pháp 56% đàn mắc bệnh do tiếp xúc với lợn bệnh, 20% do tinh dịch, 21% do vật dụng và 3%
từ những nguồn chưa xác định được
Một nghiên cứu ở Đức về 150 đàn bị nhiễm, có 95% hoặc là đã mua giống dưới 4 tuần trước ổ dịch hoặc là trong vòng 5 km cách đàn bị bệnh Trong những nghiên cứu khác cho thấy những tác nhân sau đây được báo cáo
•Khí dung (dịch hầu họng, phân, nước tiểu )
•Vật liệu bị tạp nhiễm (thức ăn,găng tay, kim tiêm)
Truyền lây trực tiếp
Truyền lây gián tiếp
Khai thác vật
Trang 30là có ý nghĩa trong việc lây lan virus PRRS :
Mức độ trầm trọng của PRRS phụ thuộc vào các yếu tố như: điều kiện
vệ sinh kém, công tác quản l ý chăm sóc nuôi dưỡng kém và độc lực của virus (Goldberg và cs, 2000)
1.5 Cơ chế sinh bệnh:
Sau khi xâm nhập, đích tấn công của virus là các đại thực bào, đặc biệt
là đại thực bào phế nang vùng phổi Bình thường, đại thực bào sẽ tiêu diệt tất
cả kháng nguyên là virus, vi khuẩn…khi chúng xâm nhập vào cơ thể; còn riêng đối với virus PRRS thì nó có thể tồn tại và nhân lên trong đại thực bào, sau đó phá hủy và giết chết các đại thực bào (40%) Do vậy, khi đã xuất hiện trong đàn chúng thường có xu hướng duy trì sự tồn tại và hoạt động âm thầm
Hình 1.6 Đại thực bào bệnh lý Hình 1.7 Đại thực bào bình thường
Trang 31Lúc đầu, virus PRRS có thể kích thích các tế bào này, nhưng sau 2 hoặc
3 ngày virus sẽ giết chết chúng, các virion được giải phóng và ồ ạt xâm nhiễm sang các tế bào khác Ở giai đoạn đầu quá trình xâm nhiễm của virus PRRS, dường như hiệu giá kháng thể chống lại các loại virus và vi khuẩn không liên quan khác trong cơ thể của lợn tăng cao do sự kích hoạt của đại thực bào trong hệ thống miễn dịch Điều này rất dễ gây ra sự nhầm lẫn trong việc đánh giá mức độ miễn dịch đối với các bệnh truyền nhiễm ở cơ thể lợn
Cần phải thấy rằng, trong hệ thống miễn dịch của cơ thể, đại thực bào đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đáp ứng miễn dịch cả đặc hiệu và không đặc hiệu, đây là loại tế bào trình diện kháng nguyên thiết yếu, mở đầu cho quá trình đáp ứng miễn dịch đặc hiệu Khi tế bào đại thực bào bị virus phá huỷ, các phản ứng miễn dịch không xảy ra được, lợn nhiễm bệnh rơi vào trạng thái suy giảm miễn dịch và
dễ dàng mắc các bệnh nhiễm trùng thứ phát, điều này có thể thấy rõ ở những đàn lợn vỗ béo chuẩn bị giết thịt, khi bị nhiễm virus PRRS sẽ có sự tăng đột biến về tỷ
lệ viêm phổi kế phát do những vi khuẩn vốn sẵn có trong đường hô hấp
Do vậy, khi nhiễm virus PRRS lợn thường dễ dàng bị nhiễm khuẩn kế
phát và làm tăng tính mẫn cảm của lợn đối với Streptococcus suis typ 2 và tăng mức độ nghiêm trọng khi nhiễm Salmonella choleracsuis
Có nhiều báo cáo về nhiễm trùng kế phát ở đàn lợn trong ổ dịch PRRS, đặc biệt ở chuồng nuôi lợn sơ sinh Tác nhân chủ yếu liên quan đến nhiễm
trùng kế phát là vi khuẩn: Haemophilus parasuis, Streptococcus suis, Salmonella cholerasuis, Pasteurella multocida và Actinobacillus, Pneuropneumoniae Nhiễm kế phát gồm: virus giả dại (PRV), Porcine cytomegalovirus, Porcine respiratory coronavirus và Porcine paramyxovirus (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2007)
Ở lợn đang chửa, do thiếu oxy nên gây rối loạn chuyển hóa của thai, thai bị suy dinh dưỡng và gây chết thai, sảy thai Lợn chửa kỳ cuối thì nhu cầu oxy tăng cao vì phải nuôi thai, ở thời kỳ cuối thai tăng trưởng rất nhanh
Trang 32nên nhu cầu về oxy tăng gấp bội, vì vậy lượng thiếu hụt oxy càng nghiêm trọng, nên thai hay xảy vào kỳ cuối Sau sảy thai tế bào nội mạc tử cung bị thoái hóa, hoại tử nên làm chậm các quá trình sinh lý sinh sản khác (Nguyễn Thị Hoa, 2011)
1.6 Triệu chứng và bệnh tích
1.6.1 Triệu chứng của lợn mắc PRRS
Biểu hiện triệu chứng lâm sàng của bệnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố: chủng virus, tuổi, giới tính, điều kiện môi trường, trạng thái miễn dịch của đàn cũng như điều kiện quản lý chăm sóc (Nguyễn Hữu Nam và Nguyễn Thị Lan, 2007)
Triệu chứng lâm sàng được thể hiện rất khác nhau, theo ước tính cứ 3 đàn lần đầu tiếp xúc với mầm bệnh thì một đàn không có biểu hiện, một đàn
có biểu hiện mức độ vừa và một đàn biểu hiện ở mức độ nặng Lý do của việc này đến nay vẫn chưa có lời giải thích Tuy nhiên, với những đàn khoẻ mạnh thì mức độ bệnh cũng giảm nhẹ hơn và cũng có thể virus tạo nhiều biến chủng với độc lực khác nhau Thực tế, nhiều đàn có huyết thanh dương tính nhưng không có dấu hiệu lâm sàng
Theo Tiêu Quang An và Nguyễn Hữu Nam (2011): Triệu chứng đặc trưng khi lợn mắc PRRS biểu hiện sốt, bỏ ăn, da ửng đỏ, dấu hiệu tai xanh nhưng dấu hiệu này thực tế chỉ dao động từ 3-7% Tiêu chảy 65-94% và khó thở 85-95% Triệu chứng khó thở không có sự sai khác ở các lứa tuổi lợn
Tuy nhiên, mỗi loại lợn và ở từng lứa tuổi khi mắc bệnh có những biểu hiện khác nhau:
Ở lợn nái trong giai đoạn cạn sữa:
Tháng đầu tiên khi bị nhiễm virus, lợn biếng ăn từ 7-14 ngày (10-15% đàn), sốt 39-400C, sảy thai thường vào giai đoạn cuối (1-6%), tai chuyển màu xanh trong khoảng thời gian ngắn (3%), đẻ non (10 -15%), động đực giả (3-5 tuần sau khi thụ tinh), đình dục hoặc chậm động dục trở lại sau khi đẻ, ho và
có dấu hiệu của viêm phổi
Trang 33Lợn nái giai đoạn đẻ và nuôi con:
Biếng ăn, lười uống nước, mất sữa và viên vú (triệu chứng điển hình),
đẻ sớm khoảng 2-3 ngày, da biến màu, lờ đờ hoặc hôn mê, thai gỗ (10-15% thai chết trong 3-4 tuần cuối của thai kỳ), lợn con chết ngay sau khi sinh (30%), lợn con yếu, tai chuyển màu xanh (khoảng dưới 5%) và được duy trì trong vài giờ, pha cấp tính này kéo dài trong đàn tới 6 tuần, điển hình là đẻ non, tăng tỷ lệ thai chết hoặc yếu, tăng số thai gỗ, chết lưu trong giai đoạn 3 tuần cuối trước khi sinh, ở một vài đàn con số này có thể tới 30% tổng số lợn con sinh ra Tỷ lệ chết ở đàn con có thể tới 70% ở tuần thứ 3-4 sau khi xuất hiện triệu chứng Rối loạn sinh sản có thể kéo dài 4-8 tháng trước khi trở lại trạng thái bình thường Ảnh hưởng dài lâu của PRRS tới việc sinh sản rất khó đánh giá, đặc biệt với những đàn có tình trạng sức khoẻ kém Một vài đàn có biểu hiện tăng số lần phối giống lại, sảy thai (Tô Long Thành, 2007)
ra, đi run rẩy, (v.v )
Lợn con cai sữa và lợn choai:
Chán ăn, ho nhẹ, lông xác xơ, tuy nhiên ở một số đàn có thể không
có triệu chứng Ngoài ra trong trường hợp ghép với bệnh khác có thể thấy viêm phổi lan toả cấp tính, hình thành nhiều ổ áp xe, thể trạng gầy yếu, da xanh, tiêu chảy, ho nhẹ, hắt hơi, chảy nước mắt, thở nhanh, tỷ lệ chết có thể lên tới 15%
Trang 34Thùy phổi bị bệnh thường có màu xám đỏ, có mủ và đặc chắc lại (hiện tượng nhục hoá) Trên bề mặt cắt ngang của phổi lồi ra và khô Nhiều trường hợp viêm phế quản phổi hoá mủ ở mặt dưới của thuỳ đỉnh Về mặt tổ chức phôi thai học thường thấy dịch thẩm xuất và hiện tượng thâm nhiễm, trong phế nang chứa đầy dịch viêm và đại thực bào, một số trường hợp hình thành
tế bào khổng lồ nhiều nhân Một bệnh tích đặc trưng nữa là sự thâm nhiễm của tế bào phế nang loại II (pneumocyse) làm cho phế nang bị nhăn lại, thường bắt gặp đại thực bào bị phân huỷ trong phế nang (Nguyễn Hữu Nam
Trang 35Ngoài ra hạch amidan thường sưng lên, xung huyết hoặc xuất huyết Thận của tất cả các loại lợn thường có những nốt xuất huyết to hơn đầu đinh ghim do đó dễ bị nhầm với bệnh dịch tả lợn
Tuy nhiên, mỗi loại lợn và ở từng lứa tuổi khi mắc bệnh có các biểu hiện bệnh tích khác nhau
Lợn nái mang thai
Trường hợp đẻ non thì thấy có nhiều thai đã chết, trên cơ thể chúng có nhiều đám thối rữa (thai chết lưu) Trường hợp đẻ muộn thì số thai chết lưu ít hơn nhiều so với đẻ non song số lợn con sinh ra rất yếu, nhiều con chết trong lúc đẻ do thời gian đẻ kéo dài
Mổ khám thấy bệnh tích tập trung ở phổi, phổi bị phù nề, viêm hoại tử
và tích nước, cắt miếng phổi bỏ vào bát nước thấy phổi chìm
Lợn nái nuôi con, lợn choai và lợn vỗ béo
Bệnh tích tập trung ở phổi Các ổ viêm thường gặp ở thuỳ đỉnh, song cũng thấy ở các thuỳ khác nhưng hầu như không xuất hiện đối xứng Các ổ viêm, áp xe thường có màu xám đỏ, rắn, chắc Mô phổi lồi ra và có màu đỏ xám loang lổ như tuyến ức hay như đá granito Cắt miếng phổi nhỏ bỏ vào nước thấy miếng phổi chìm, chứng tỏ phổi đã bị phù nề tích nước nặng
Tim, gan, lách có màu thẫm hơn so với bình thường, bệnh tích không đặc trưng tuỳ thuộc vào sự kế phát các bệnh khác
Những lợn bị táo bón thì ruột chứa nhiều phân cục rắn chắc, niêm mạc ruột bị viêm nhưng ở những lợn bị tiêu chảy thì thành ruột mỏng trên bề mặt
có phủ một lớp nhầy màu nâu
Lợn con theo mẹ
Thể xác gầy, ướt Các biến đổi ở phổi giống như các loại lợn khác Ruột chứa nhiều nước, thành ruột mỏng và đôi khi thấy có một số cục sữa vón không tiêu
Trang 361.6.3 Bệnh lý vi thể
Do các triệu chứng đại thể không thể quan sát trong hầu hết các trường
hợp nhiễm virus PRRS không phức tạp, cần thiết kiểm tra tổ chức học để phát
hiện bệnh tích vi thể của bệnh
Viêm phổi kẽ là bệnh tích chắc chắn thấy ở PRRS Bệnh tích này có
thể quan sát được ở lợn mọi lứa tuổi, ở những lợn nhỏ hơn cũng ít bị che
khuất bởi bệnh tích các bệnh kế phát (William T.Christianson và Han Soo
Joo, 2001)
Bệnh tích vi thể ở phổi, hạch phổi, hạch amidan, hạch ruột là rất rõ
ràng Các phế nang chứa đầy dịch rỉ viêm Sự thâm nhiễm tế bào và tăng sinh
các nang lympho ở phổi Hiện tượng xung huyết, xuất huyết, tăng sinh tế bào,
tăng sinh nang lympho ở hạch ruột có tỷ lệ cao từ 70–100% (Tiêu Quang An
và Nguyễn Hữu Nam, 2011)
Ngoài ra còn thấy một số bệnh tích khác ở đàn lợn đang phát triển như:
Lách bị tăng sinh và thoái hóa tế bào
Viêm mũi đặc trưng bởi mất lông nhung biểu mô, tế bào biểu mô bị
sưng lên hoặc chứa khí, bong vẩy trên bề mặt biểu mô
Viêm não không gây mủ đặc trưng với tế bào đơn nhân tập trung ở
mạch máu ngoại vi đôi khi được quan sát trên toàn bộ não
Viêm cơ tim rải rác chủ yếu bạch cầu đơn nhân tập trung quanh mạch
máu ngoại vi
Những bệnh tích phụ này có thể giúp thêm trong chẩn đoán, nhưng
không được chắc chắn thấy như là viêm phổi kẽ (Nguyễn Thu Hiền, 2007)
Trang 37Hình 1.9 Viêm kẽ phổi, bệnh tích đặc trưng của PRRS (HE x 600)
(Nguồn: Nguyễn Thu Hiền, 2007)
1.7 Chẩn đoán PRRS
Chẩn đoán Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn, ngoài việc dựa vào các đặc điểm dịch tễ, triệu chứng lâm sàng, bệnh tích đặc trưng cần phải lấy mẫu bệnh phẩm để chẩn đoán xét nghiệm trong phòng thí nghiệm
1.7.1 Chẩn đoán huyết thanh học:
Có 4 phản ứng đang dùng hiện nay để phát hiện kháng thể kháng virus PRRS trong huyết thanh:
Immonoperoxidase Monolayer Assay – IPMA
Phản ứng kháng thể huỳnh quang gián tiếp (IFA)
Phản ứng kháng thể huỳnh quang gián tiếp – Inderect Fluorescent Antibody tets – IFA
Phản ứng trung hoà huyết thanh (Serum Neutralization assay-SN)
Phương pháp ELISA – Enzyme-linked Immonosorbent Assay
1.7.2 Chẩn đoán virus học
Để xét nghiệm virus PRRS lấy mẫu từ bệnh phẩm, lợn con, lợn đẻ ra bị chết, dịch và huyễn dịch mô thai, không lấy từ thai chết khô Hoặc mẫu huyết thanh, tuỷ xương, lách, tuyến ức, amidan, hạch lâm ba, phế quản, phổi, tim, não, gan và thận
Trang 38Có thể áp dụng một số kỹ thuật sau để phát hiện virus:
Phân lập virus trên một số loại tế bào: tế bào phế nang lợn, tế bào
MA-104, tế bào MARC-145, CL2621, CRL-11171
Phương pháp Realtime PCR/PCR
Phương pháp bệnh lý miễn dịch
Phương pháp huỳnh quang gián tiếp phát hiện kháng nguyên
Phương pháp Hóa mô miễn dịch
1.8 Biện pháp phòng chống
Ngành chăn nuôi Việt Nam hiện nay có thể nói là đang trên đà phát triển mạnh và ngày càng được chú trọng hơn Nhiều loại hình chăn nuôi, bao gồm cả chăn nuôi lợn còn mang tính nhỏ lẻ, phân tán Vì thế việc phòng chống dịch bệnh thường gặp phải rất nhiều khó khăn, đặc biệt là những ổ dịch lớn
Vì vậy, để phòng tận gốc dịch PRRS thì việc đầu tiên cần phải làm là thay đổi phương thức chăn nuôi từ nhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi lớn tập trung, nhập con giống phải khoẻ mạnh rõ nguồn gốc Bên cạnh đó cần phải áp dụng triệt để các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi, chuồng trại phải đảm bảo vệ sinh an toàn thú y, chăm sóc tốt để nâng cao sức đề kháng cho đàn vật nuôi…, Nói chung cần phải áp dụng đồng bộ cùng lúc nhiều biện pháp phòng chống
1.8.1 Biện pháp phòng khi chưa có dịch
(1) Thường xuyên theo dõi sức khoẻ của đàn lợn trong các cơ sở chăn nuôi lợn sinh sản để sớm phát hiện lợn có dấu hiệu lâm sàng của PRRS Cách
ly, xử lý kịp thời và gửi mẫu bệnh phẩm đi xét nghiệm khi có nghi ngờ bệnh
(2) Tiêm vacxin phòng bệnh cho đàn lợn trong cơ sở chăn nuôi chưa có lưu hành bệnh Trước khi tiêm, cần tham khảo ý kiến của Chi cục Thú y tỉnh
để biết trong khu vực trước đó có chủng virus nào gây bệnh (châu Âu hoặc Bắc Mỹ) để lựa chọn vacxin thích hợp Bởi vì vacxin không tạo được miễn dịch chéo giữa chủng chế tạo vacxin và chủng gây bệnh cho lợn ở trong vùng
Trang 39(3) Để loại trừ các bệnh kế phát do vi khuẩn ở lợn, tất cả đàn lợn phải được tiêm phòng 4 bệnh đỏ (dịch tả lợn, tụ huyết trùng, đóng dấu lợn và phó thương hàn) Trong điều kiện cần thiết có thể phải tiêm vacxin phòng một số bệnh đường hô hấp (bệnh suyễn lợn, bệnh viêm phổi và màng phổi ở lợn)
(4) Khi nhập lợn giống, phải mua từ các cơ sở chăn nuôi và vùng không
có PRRS Lợn mới mua về phải nuôi cách ly ít nhất 3 - 4 tuần lễ, không có dấu hiệu lâm sàng của PRRS cũng như các bệnh truyền nhiễm khác mới cho nhập đàn
(5) Đảm bảo thức ăn đủ chất dinh dưỡng và nguồn nước sạch cho lợn, giúp lợn có sức đề kháng với PRRSV cũng như các bệnh khác, hạn chế mắc các bệnh truyền nhiễm
(6) Giữ chuồng trại và khu chăn thả lợn luôn khô sạch, thoáng mát mùa
hè, kín ấm mùa đông và phải phun thuốc sát trùng định kỳ 2 tuần/lần để diệt mầm bệnh
(7) Khi xuất nhập lợn cần thực hiện kiểm dịch thú y nghiêm ngặt
1.8.2 Biện pháp phòng chống khi có dịch xảy ra
(1) Các gia trại và trang trại phải thống kê số lợn ốm, lợn chết báo với chính quyền và thú y địa phương để xử lý theo đúng lệnh công bố dịch và hướng dẫn phòng chống PRRS của Cục Thú y, Bộ Nông nghiệp và PTNT và xin hỗ trợ thiệt hại của Nhà nước Tiêu huỷ số lợn mắc bệnh nặng không chờ kết quả xét nghiệm (lợn mắc bệnh nặng đã được chăm sóc tích cực, được hỗ trợ tăng cường sức đề kháng trong vòng 7 ngày nhưng không có khả năng bình phục), lợn mắc bệnh nhẹ nuôi cách ly triệt để với lợn chưa bị bệnh để theo dõi chặt chẽ diễn biến bệnh
(2) Chính quyền và thú y địa phương tổ chức bao vây ổ dịch, ngăn cấm không cho vận chuyển lợn ra khỏi ổ dịch và cũng không mang lợn từ ngoài vào ổ dịch Các gia trại và trang trại phối hợp với chính quyền và thú y thực hiện nghiêm túc biện pháp này
Trang 40(3) Không bán chạy lợn ra ngoài, không mổ lợn và bán thịt lợn trong vùng dịch khi chưa công bố hết dịch
(4) Cách ly đàn lợn khoẻ để nuôi dưỡng, chăm sóc tốt và tổ chức tiêm thuốc trợ sức, nâng cao sức đề kháng của đàn lợn với bệnh
(5) Tổ chức làm vệ sinh triệt để chuồng trại và khu chăn thả đã có lợn
ốm và phun thuốc sát trùng 2lần/tuần trong suốt thời gian có dịch
(6) Tổ chức tiêm vacxin phòng PRRS ở các vùng chưa có dịch, nhưng
bị dịch uy hiếp, nếu có thể được
(7) Tuyên truyền về PRRS và các biện pháp phòng chống trên các phương tiện truyền thông từ Trung ương đến địa phương để người chăn nuôi nâng cao ý thức áp dụng các biện pháp chống dịch
(8) Chỉ nuôi lợn trở lại khi có lệnh công bố hết dịch và đã để trống chuồng 4 tuần; đồng thời phun thuốc sát trùng theo đúng quy định
1.8.3 Phòng bệnh bằng vacxin
Mặc dù vắc xin không ngăn ngừa hoàn toàn sự nhiễm PRRSV, nhưng
nó được sử dụng như một nỗ lực để giảm thiểu các tác động của virus, việc tiêm phòng cần thực hiện triệt để trên toàn đàn và phải chắc chắn rằng loại vắc xin sử dụng là phù hợp với chủng virus đang lưu hành tại địa phương theo Chung Anh Dũng [7]
Hiện nay, tại Việt Nam có 5 loại vắc xin đã được Bộ NN - PTNT cấp phép lưu hành, bao gồm:
- Porcilis PRRS của Intervet- Hà Lan
- BSL.PS 100 của Besta- Singapore
- Amervac PRRS của Hipra- Tây Ban Nha
- Vắc xin vô hoạt nhũ dầu của công ty CAHIC, Trung Quốc
- Vắc xin Ingelvac PRRS của Boehringer (Đức)
Trường hợp khi trại có nguy cơ nhiễm bệnh cần tăng cường cung cấp dinh dưỡng, cải thiện điều kiện môi trường, nhằm nâng cao khả năng đề