Nhận thức được tầm quan trọng của công tác thanh tra trong thời gian vừa qua, Cục Thuế tỉnh Hải Dương đã tập trung mọi biện pháp nâng cao hiệu quả công tác thanh tra thuế, trong đó có cô
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-*** -
NGUYỄN TUẤN CHUNG
HOÀN THIỆN HỆ THỐNG TỔ CHỨC THANH TRA THUẾ CỦA NGÀNH THUẾ TỈNH HẢI DƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ : 60.34.04.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN HỮU NGOAN
HÀ NỘI – 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn "Hoàn thiện hệ thống tổ chức thanh tra
thuế của ngành thuế tỉnh Hải Dương" là do tự bản thân tôi nghiên cứu, sưu
tầm tài liệu và xây dựng Các số liệu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trích dẫn nguồn cung cấp
Tôi xin cam đoan và chịu toàn bộ trách nhiệm về tính trung thực cũng như sự hợp pháp của vấn đề nghiên cứu
Người cam đoan
Nguyễn Tuấn Chung
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thuế đối với doanh nghiệp là vấn đề phức tạp trong lĩnh vực quản lý Nhà nước, luận văn đòi hỏi phải có sự nghiên cứu phân tích kỹ lưỡng với số liệu đầy đủ về thực trạng quản lý thuế đối với doanh nghiệp trong đó có chức năng thanh tra thuế ở Cục Thuế tỉnh Hải Dương Đồng thời, cần có cơ sở lý luận vững chắc làm nền tảng cho những nghiên cứu, ứng dụng thực tế Vì vậy, luận văn không thể hoàn thành nếu không có giúp đỡ tận tình của thầy giáo PGS, TS Nguyễn Hữu Ngoan và các giảng viên Học viện Nông nghiệp Việt Nam Tác giả xin chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn và các thầy cô giáo
Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với các cấp Lãnh đạo và các đồng nghiệp làm việc tại Cục Thuế tỉnh Hải Dương đã tạo điều kiện để tác giả được tập trung nghiên cứu và xây dựng luận văn, góp một phần nhỏ cho công cuộc xây dựng và phát triển Cục thuế tỉnh Hải Dương cũng như ngành Thuế Việt Nam
Cuối cùng, tác giả xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã quan tâm, chia sẻ và động viên tác giả hoàn thành bản luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Nguyễn Tuấn Chung
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ viii
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1.1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.4.1 Thanh tra thuế có chức năng nhiệm vụ gì? Hệ thống tổ chức Thanh tra thuế là như thế nào? Hoạt động của hệ thống tổ chức thanh tra thuế của ngành Thuế tỉnh Hải Dương được qui định như thế nào? 4
1.4.2 Tại sao phải hoàn thiện hệ thống tổ chức thanh tra thuế trên địa bàn tỉnh Hải Dương? 4
1.4.3 Mục tiêu của công tác thanh tra thuế? Nguyên tắc thanh tra thuế? Vai trò của công tác thanh tra thuế trong hệ thống quản lý thuế? Nội dung thanh tra thuế? 4
1.4.4 Thực trạng hệ thống tổ chức thanh tra thuế của ngành Thuế Hải Dương có những vấn đề gì bất cập? 4
1.4.5 Những nhân tố nào ảnh hưởng đến hệ thống tổ chức thanh tra thuế của ngành Thuế tỉnh Hải Dương? 4
Trang 51.4.6 Để hoàn thiện hệ thống tổ chức thanh tra thuế của ngành Thuế
tỉnh Hải Dương phải có định hướng như thế nào? Giải pháp để
hiện thực hoá những định hướng đó? 4
PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Khái niệm tổ chức, hệ thống tổ chức 5
2.1.2 Các loại mô hình cơ cấu tổ chức quản lý cơ bản 7
2.1.3 Cơ cấu tổ chức 11
2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tác động đến sự hình thành hệ thống tổ chức quản lý 12
2.1.5 Những yêu cầu đối với hệ thống tổ chức quản lý 13
2.1.6 Đặc điểm tổ chức quản lý của hệ thống thanh tra thuế; Vai trò của hệ thống thanh tra thuế trong công tác quản lý thuế 14
2.1.7 Nội dung của thanh tra thuế 15
2.2 Cơ sở thực tiễn 16
2.2.1 Kinh nghiệm quản lý thanh tra thuế ở một số nước trên thế giới 16
2.2.2 Kinh nghiệm tại một số địa phương trong nước 21
2.3 Các nghiên cứu liên quan đến đề tài đã công bố 24
PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 Đặc điểm địa bàn quản lý của ngành Thuế tỉnh Hải Dương 25
3.1.1 Tóm tắt địa bàn tỉnh Hải Dương 25
3.1.2 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 25
3.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội 27
3.2 Giới thiệu về Cục Thuế tỉnh Hải Dương 31
3.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển 31
3.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của các phòng thuộc Cục Thuế tỉnh Hải Dương 37
3.2.3 Kết quả thực hiện thu ngân sách Nhà nước giai đoạn 2011 – 2013 40
3.2 Phương pháp nghiên cứu 43
3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 43
Trang 63.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 44
3.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 46
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 52
4.1 Thực trạng hệ thống tổ chức thanh tra thuế của Cục Thuế tỉnh Hải Dương 52
4.1.1 Cơ cấu tổ chức thanh tra thuế của Cục Thuế tỉnh Hải Dương 52
4.1.2 Nhiệm vụ của các bộ phận trong tổ chức thanh tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Hải Dương 53
4.1.3 Kết quả hoạt động chung của thanh tra thuế Hải Dương 61
4.2 Tổ chức thanh tra thuế ở các điểm được khảo sát 71
4.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống tổ chức thanh tra thuế 79
4.3.1 Việc tổ chức thực hiện hoạt động thanh tra 79
4.3.2 Công tác chỉ đạo đối với hoạt động thanh tra 80
4.3.3 Ý thức và năng lực, trình độ của cán bộ tham gia hoạt động thanh tra 81
4.4 Định hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống tổ chức thanh tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Hải Dương 84
4.4.1 Những định hướng cho việc hoàn thiện hệ thống tổ chức thanh tra thuế của ngành Thuế tỉnh Hải Dương 84
4.4.2 Các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống tổ chức thanh tra thuế của ngành Thuế tỉnh Hải Dương 86
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93
5.1 Kết luận 93
5.2 Kiến nghị 95
5.2.1 Đối với Tổng cục Thuế 95
5.2.2 Đối với Cục Thuế tỉnh Hải Dương 96
5.2.3 Đối với cán bộ, công chức thuế nói chung và cán bộ, công chức làm công tác thanh tra thuế nói riêng: 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 7DANH MỤC BẢNG
STT TÊN BẢNG TRANG
Bảng 2.1: Tình hình công tác thanh tra, kiểm tra tại trụ sở NNT năm
2010- 2013 22
Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hải Dương 28
Bảng 3.2: Thống kê kết quả thực hiện thu ngân sách nhà nước Từ năm
2011 đến năm 2013 40
Bảng 3.3: Thu thập thông tin, tài liệu đã công bố 44
Bảng 3.4: tổng hợp số phiếu điều tra ở các nhóm đối tượng 45
Bảng 3.5: Mức điểm trung bình về hệ thống tổ chức thanh tra thuế tại
Cục Thuế Hải Dương 49
Bảng 4.1 : Tổng hợp kết quả thanh tra thuế từ năm 2011 đến năm 2013 62
Bảng 4.2 Cơ cấu tổ chức cán bộ của các Chi cục Thuế thành phố, huyện,
thị xã năm 2013 74
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH STT TÊN SƠ ĐỒ TRANG
Sơ đồ 2.1: Hệ thống tổ chức quản lý – mô hình trực tuyến 8
Sơ đồ 2.2: Hệ thống tổ chức quản lý theo chức năng 9
Sơ đồ 2.3: Mô hình hệ thống trực tuyến – tham mưu 9
Sơ đồ 2.4: Mô hình hệ thống tổ chức quản lý trực tuyến - chức năng 10
Sơ đồ 2.5: Mô hình hệ thống tổ chức quản lý theo chương trình - mục tiêu 11
Hình 3.1 Bản đồ hành chính tỉnh Hải Dương 26
Sơ đồ 3.1 Mô hình phân cấp quản lý thuế tại Cục Thuế tỉnh Hải Dương 33
Sơ đồ 4.1: Tổ chức bộ máy của các Chi cục Thuế thành phố, huyện, thị xã 72
Trang 9PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua thực hiện công tác đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, cùng với sự tăng trưởng, phát triển không ngừng của nền kinh tế xã hội, nguồn thu từ thuế có vai trò rất quan trọng Trong mỗi quốc gia thuế là nguồn thu chủ yếu Đây là biện pháp động viên bắt buộc các thể nhân
và các pháp nhân trích một phần thu nhập do kinh doanh, do lao động, do đầu
tư tài chính mang lại nộp vào ngân sách nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của đất nước
Để làm tốt điều này, một trong những chức năng quan trọng trong công tác quản lý thuế là công tác thanh tra thuế cần phải được chú trọng Đây là nhiệm vụ quan trọng không thể thiếu được trong công tác quản lý thuế Tuy nhiên, tình trạng vi phạm các chính sách, chế độ, luật thuế như khai man, trốn lậu thuế, chây ỳ, chậm nộp thuế vẫn diễn ra thường xuyên và ngày càng tinh
vi hơn ở các đối tượng nộp thuế
Công tác thanh tra thuế là một trong những chức năng thiết yếu của quản
lý thuế Tính hiệu quả của thanh tra thuế có ảnh hưởng chi phối đến hiệu quả của công tác quản lý thuế Đặc biệt, trong bối cảnh áp dụng cơ chế cơ sở kinh doanh tự kê khai, tự nộp thuế, công tác thanh tra thuế càng có vai trò quan trọng, bởi vì để đối tượng nộp thuế tự giác kê khai đúng nghĩa vụ thuế thì một trong những vấn đề mấu chốt là phải làm cho đối tượng nộp thuế nhận thức được hậu quả của hành vi trốn lậu thuế Tức là cơ quan thuế thông qua công tác thanh tra thuế nhằm phát hiện các hành vi gian lận, trốn lậu thuế để xử lý theo quy định của pháp luật nhằm răn đe, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật thuế đảm bảo sự minh bạch về thuế (điều này thể hiện tính hiệu quả của công tác thanh tra thuế)
Trang 10Nhận thức được tầm quan trọng của công tác thanh tra trong thời gian vừa qua, Cục Thuế tỉnh Hải Dương đã tập trung mọi biện pháp nâng cao hiệu quả công tác thanh tra thuế, trong đó có công tác tổ chức sắp xếp lại bộ máy, đổi mới hoạt động thanh tra, tăng cường đào tạo lực lượng cán bộ, công chức làm công tác thanh tra thuế Nhờ những hoạt động tích cực đó, công tác thanh tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Hải Dương thời gian qua có nhiều chuyển biến tích cực và đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận Bên cạnh đó, công tác thanh tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Hải Dương cũng còn những hạn chế cụ thể: Cục Thuế tỉnh Hải Dương hiện nay đang quản lý khoảng gần 7.000 doanh nghiệp,
số lượng cán bộ công chức làm công tác thanh tra tại 02 Phòng Thanh tra là
20 người Ngoài công tác thanh tra theo kế hoạch hàng năm, các phòng thanh tra còn phải thực hiện thanh tra sau hoàn thuế, giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo Hàng năm Phòng Thanh tra đều phải đề xuất lãnh đạo Cục Thuế tăng cường thêm lực lượng từ các phòng chức năng khác hoặc lực lượng công chức thuế tại các Chi cục Thuế cho các Đoàn Thanh tra Tuy nhiên, do chỉ tăng cường theo vụ việc, do vậy lực lượng công chức tăng cường này còn có hạn chế về nghiệp vụ, kỹ năng thanh tra Do vậy, chất lượng công tác thanh tra thuế còn chưa cao Mặt khác, một số Chi cục Thuế trực thuộc Cục Thuế tỉnh Hải Dương được phân cấp quản lý người nộp thuế gồm các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ kinh doanh, các cá nhân nộp thuế thu nhập cá nhân với số lượng rất lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu ngân sách trên địa bàn quản
lý Về cơ chế quản lý thuế hiện nay là tăng cường hậu kiểm, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp Theo đó, công tác thanh tra thuế có vai trò đặc biệt quan trọng, nhưng tổ chức thanh tra thuế thuộc Chi cục Thuế lại chưa được thành lập Để đáp ứng được mục tiêu, nguyên tắc, nội dung, quy trình thanh tra thuế và phát huy được vai trò của công tác thanh tra thuế trong hệ thống quản lý thuế đòi hỏi phải từng bước hoàn thiện hệ thống tổ chức thanh tra thuế theo hướng hiện đại hoá, chuyên nghiệp và hiệu quả nhằm đáp ứng
Trang 11được những yêu cầu nhiệm vụ của công tác thanh tra thuế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và yêu cầu của chiến lược cải cách và hiện đại hóa ngành thuế giai đoạn 2011-2020
Để góp phần giải quyết những bất cập trong tổ chức thanh tra thuế tại
Cục Thuế tỉnh Hải Dương, tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện hệ thống tổ chức thanh tra thuế của ngành Thuế tỉnh Hải Dương”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở phân tích thực trạng hệ thống tổ chức công tác thanh tra thuế, xác định những nội dung chưa hoàn thiện, đề xuất phương án, giải pháp hoàn thiện hệ thống tổ chức thanh tra thuế của ngành Thuế tỉnh Hải Dương
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về hệ thống tổ chức và hoàn thiện hệ thống tổ chức thanh tra thuế
- Phân tích, đánh giá thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống
tổ chức thanh tra thuế của ngành Thuế tỉnh Hải Dương
- Định hướng và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống tổ chức thanh tra thuế của ngành Thuế tỉnh Hải Dương
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Những nội dung của hệ thống tổ chức, và hoạt động của tổ chức thanh tra thuế
* Các đối tượng cần khảo sát:
- Các phòng thực hiện chức năng thanh tra thuế của ngành Thuế tỉnh Hải Dương
- Cán bộ, công chức thuộc biên chế ngành Thuế tỉnh Hải Dương làm công tác thanh tra thuế
Trang 12- Các phòng liên quan, các cơ quan hữu quan cần phối hợp trong công tác thanh tra thuế
- Các tổ chức, cá nhân chịu sự điều chỉnh của hệ thống chính sách thuế
- Các công cụ hỗ trợ công tác thanh tra thuế
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: Phân tích, đánh giá tài liệu về hệ thống tổ chức thanh tra thuế trong thời gian 03 năm: Năm 2011, năm 2012, năm 2013 (riêng năm
2013 tiến hành điều tra thực trạng hệ thống tổ chức thanh tra thuế)
- Không gian: Phân tích, đánh giá hệ thống tổ chức thanh tra thuế của Cục Thuế tỉnh Hải Dương
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
1.4.1 Thanh tra thuế có chức năng nhiệm vụ gì? Hệ thống tổ chức Thanh tra thuế là như thế nào? Hoạt động của hệ thống tổ chức thanh tra thuế của ngành Thuế tỉnh Hải Dương được qui định như thế nào?
1.4.2 Tại sao phải hoàn thiện hệ thống tổ chức thanh tra thuế trên địa bàn tỉnh Hải Dương?
1.4.3 Mục tiêu của công tác thanh tra thuế? Nguyên tắc thanh tra thuế? Vai trò của công tác thanh tra thuế trong hệ thống quản lý thuế? Nội dung thanh tra thuế?
1.4.4 Thực trạng hệ thống tổ chức thanh tra thuế của ngành Thuế Hải Dương có những vấn đề gì bất cập?
1.4.5 Những nhân tố nào ảnh hưởng đến hệ thống tổ chức thanh tra thuế của ngành Thuế tỉnh Hải Dương?
1.4.6 Để hoàn thiện hệ thống tổ chức thanh tra thuế của ngành Thuế tỉnh Hải Dương phải có định hướng như thế nào? Giải pháp để hiện thực hoá những định hướng đó?
Trang 13PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm tổ chức, hệ thống tổ chức
Tổ chức là tập hợp của hai hay nhiều người cùng hoạt động trong những hình thái cơ cấu nhất định để đạt được những mục đích chung
Tuy khác nhau về mục đích tồn tại, phương thức hoạt động nhưng các
tổ chức có những đặc điểm chung sau:
- Mọi tổ chức đều là những đơn vị xã hội gồm nhiều người (một tập thể) có chức năng khác nhau trong tổ chức, có quan hệ với nhau về cơ cấu tổ chức;
- Mọi tổ chức đều mang tính mục đích, là công cụ để thực hiện mục đích của những chủ thể nhất định (tổ chức chính trị - xã hội, tập đoàn kinh tế nhà nước, quân đội, công an…)
- Mọi tổ chức hoạt động theo những cách thức nhất định để đạt mục đích đề ra;
- Mọi tổ chức đều phải thu hút và phân bổ các nguồn lực cần thiết (nhân lực, tài lực, vật lực, thông tin) để đạt được mục đích của mình;
- Mọi tổ chức đều hoạt động trong mối quan hệ tương tác với các tổ chức khác;
- Mọi tổ chức đều cần những người chịu trách nhiệm (những nhà quản lý) để liên kết, phối hợp những con người bên trong và bên ngoài tổ chức cùng những nguồn lực khác để đạt được mục đích với hiệu quả cao nhất
Hệ thống là tập hợp các phần tử có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại nhau một cách có quy luật để tạo thành một chỉnh thể, từ đó làm xuất hiện những thuộc tính mới gọi là “tính trồi”, đảm bảo thực hiện những chức năng nhất định
Trang 14Từ đó có thể thấy, căn cứ để xác định một hệ thống sẽ là:
- Có nhiều bộ phận hợp thành hay các phần tử Những bộ phận hợp thành hay các phần tử có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động ảnh hưởng đến nhau một cách có quy luật
- Bất kỳ một sự thay đổi nào về lượng cũng như về chất của một phần
tử đều có thể làm ảnh hưởng đến các phần tử khác của hệ thống và bản thân
hệ thống đó, ngược lại mọi thay đổi về lượng cũng như về chất của hệ thống đều có thể làm ảnh hưởng đến các phần tử của hệ thống
- Các phần tử đó phải hợp thành một thể thống nhất, có được các tính chất ưu việt hơn hẳn mà từng phần tử khi tồn tại riêng lẻ không có hoặc là có nhưng rất nhỏ gọi là “tính trồi” của hệ thống, nhằm thực hiện được những chức năng hay mục tiêu nhất định
Như vậy, các tổ chức đều là hệ thống vì bao gồm các phần tử là những con người liên kết với nhau để tạo nên sức mạnh chung nhằm đạt được những mục đích nhất định
Hệ thống tổ chức quản lý là một chỉnh thể gồm các bộ phận có chức năng, quyền hạn, trách nhiệm khác nhau, có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau được bố trí thành từng cấp, từng khâu, thực hiện các chức năng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã xác định
Mỗi hệ thống quản lý bao giờ cũng gồm nhiều bộ phận hợp thành, có mục tiêu riêng, đồng thời nhằm vào mục tiêu chung của cả hệ thống quản lý
Mỗi bộ phận của hệ thống tổ chức quản lý có tính độc lập tương đối, có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm nhất định
Mỗi hệ thống tổ chức quản lý có hai mối quan hệ cơ bản:
Quan hệ theo chiều ngang: hệ thống tổ chức quản lý chia thành các khâu quản lý khác nhau Khâu quản lý là một cơ quan quản lý độc lập thực hiện một hoặc một số chức năng quản lý nhất định và chịu sự lãnh đạo của
Trang 15một cấp quản lý nhất định Giữa các khâu là quan hệ hợp tác trong sự phân công lao động quản lý
Quan hệ theo chiều dọc: Hệ thống tổ chức quản lý được chia thành các cấp quản lý Cấp quản lý là một thể thống nhất giữa các khâu quản lý ở cùng một bậc trong hệ thống cấp bậc quản lý: Như cấp trung ương, cấp địa hương, cấp cơ sở
Cấp quản lý chỉ rõ mối quan hệ phục tùng bởi quyền uy của cấp trên và bởi tính chất nhiệm vụ to lớn, bao quát của cấp cao
Hệ thống tổ chức quản lý là hình thức thể hiện sự phân công lao động
xã hội trong lĩnh vực quản lý Mỗi bộ phận trong hệ thống tổ chức quản lý được chuyên môn hóa ngày càng sâu trong hoạt động quản lý
Hệ thống tổ chức quản lý càng phát triển, càng được hoàn thiện hơn
Do đó nó có tác động tích cực, hiệu quả tới các quá trình kinh tế, xã hội
Sự phân công lao động xã hội là tiền đề cho sự hình thành và phát triển
hệ thống tổ chức quản lý Chính đối tượng quản lý quyết định hệ thống tổ chức quản lý
2.1.2 Các loại mô hình cơ cấu tổ chức quản lý cơ bản
2.1.2.1 Mô hình hệ thống tổ chức quản lý trực tuyến
Đó là một mô hình tổ chức quản lý, trong đó mỗi người lãnh đạo cấp dưới chỉ nhận sự điều hành và chịu trách nhiệm trước một người lãnh đạo trực tiếp cấp trên
Đặc điểm cơ bản của loại hình hệ thống tổ chức này là mối quan hệ giữa các nhân viên trong hệ thống tổ chức bộ máy được thực hiện theo trực tuyến, tức là quy định quan hệ dọc trực tiếp từ người lãnh đạo cao nhất đến người lãnh đạo thấp nhất; người thừa hành chỉ nhận mệnh lệnh từ một người phụ trách trực tiếp Loại hình này tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chế độ thủ trưởng Người lãnh đạo chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả công việc của người dưới quyền
Trang 16Nhược điểm của mô hình này là: Người lãnh đạo phải có kiến thức toàn diện để chỉ đạo tất cả các bộ phận quản lý chuyên môn Mặt khác, hệ thống tổ chức quản lý kiểu trực tuyến hạn chế việc sử dụng các chuyên gia có trình độ nghiệp vụ cao về từng mặt quản lý Vì vậy, mô hình này thường chỉ áp dụng ở các đơn vị có quy mô nhỏ
Sơ đồ 2.1: Hệ thống tổ chức quản lý – mô hình trực tuyến
2.1.2.2 Hệ thống tổ chức quản lý theo chức năng
Là loại hình của hệ thống tổ chức quản lý, trong đó từng chức năng quản lý được tách riêng do một cơ quan hay bộ phận đảm nhiệm Những nhân viên chức năng phải là người am hiểu chuyên môn, thành thạo nghiệp vụ trong phạm vi quản lý của mình
Loại hình này có ưu điểm là đẩy mạnhviệc chuyên môn hoá các chức năng quản lý, đòi hỏi các kiến thức sâu, thu hút các chuyên gia vào công tác lãnh đạo Tuy nhiên, hệ thống tổ chức quản lý này cũng có những nhược điểm: Làm cho cấp dưới phải phục tùng nhiều đầu mối chỉ đạo khác nhau của cùng một cơ quan quản lý cấp trên Đặc biệt khi các mệnh lệnh có tính trái ngược nhau sẽ gây khó khă cho việc chấp hành, từ đó làm yếu chế
Trang 17Sơ đồ 2.2: Hệ thống tổ chức quản lý theo chức năng
Sơ đồ 2.3: Mô hình hệ thống trực tuyến – tham mưu
Người lãnh đạo A
Khâu chức năng A1 Khâu chức năng A2
Người lãnh đạo B1 Người lãnh đạo B2 Người lãnh đạo B3
Tham mưu A Người lãnh đạo A
Tham mưu
B2
Người lãnh đạo B2
Người lãnh đạo B1
Tham mưu B1
Trang 182.1.2.3.2 Mô hình hệ thống tổ chức quản lý trực tuyến - chức năng:
Do đối tượng quản lý ngày càng phức tạp và yêu cầu quản lý ngày càng
mở rộng nên bộ phận tham mưu được phân ra thành các cơ quan chuyên môn hoá theo chức năng riêng, đi sâu vào các lĩnh vực quản lý nhằm chuẩn bị các
dự án, quyết định để người lãnh đạo trức tuyến thông qua Các cơ quan chức năng còn hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện lĩnh vực chuyên môn
Sơ đồ 2.4: Mô hình hệ thống tổ chức quản lý trực tuyến - chức năng
Nhược điểm của mô hình này là: Số cơ quan chức năng tăng, dễ làm bộ máy quản lý cồng kềnh, nhiều đầu mối; người lãnh đạo phải luôn điều hoà, phối hợp hoạt động của các bộ phận để khắc phục hiện tượng không ăn khớp, cục bộ, bản vị…của các cơ quan chức năng
2.1.2.4 Mô hình hệ thống tổ chức quản lý theo chương trình - mục tiêu:
Là loại hình tổ chức quản lý đang đước áp dụng rộng rãi và có hiệu quả Hiện nay, nhiệm vụ thúc đẩy tiến bộ khoa học - kỹ thuật và đổi mới sản phẩm, giải quyết những nhiệm vụ kinh tế - xã hội phức tạp đòi hỏi phải có những mô hình tổ chức quản lý mềm dẻo nhằm thích ứng với những nhiệm vụ
và điều kiện sản xuất kinh doanh ngày càng linh hoạt Do đó đã xuất hiện một
số phương pháp quản lý và hệ thống tổ chức về nguyên tắc như các mô hình
hệ thống ma trận, mô hình hệ thống quản lý theo dự án, mô hình quản lý theo chương trình…Tất cả các mô hình hệ thống tổ chức quản lý đó được gọi chung là mô hình hệ thống tổ chức quản lý theo chương trình mục tiêu
Người lãnh đạo A
Khâu chức
năng A1
Người lãnh đạo B1
Người lãnh đạo B2
Khâu chức năng A2
Trang 19Sơ đồ 2.5: Mô hình hệ thống tổ chức quản lý theo chương trình - mục tiêu
Đặc điểm của hệ thống tổ chức quản lý này là các ngành có quan hệ đến việc thực hiện chương trình - mục tiêu được liên kết lại và có một tổ chức
để quản lý thống nhất chương trình gọi là ban chủ nhiệm chương trình - mục tiêu Ban chủ nhiệm chương trình - mục tiêu có nhiệm vụ điều hoà, phối hợp các thành viên, điều phối các nguồn dự trữ, giải quyết các quan hệ lợi ích nhằm đạt mục tiêu của chương trình đã được xác định
Ưu điểm cơ bản của hệ thống tổ chức quản lý theo chương trình - mục tiêu là bảo đảm sự phối hợp hoạt động của các ngành, các địa phương tham gia chương trình theo một mục tiêu nhất định mà không phải thành lập thêm một bộ máy mới
Cơ quan quản lý chương trình tổ chức gọn nhẹ, hoạt động trong thời gian quy định của chương trình Song nó đòi hỏi phải có những điều kiện nhất định: Nắm bắt thông tin, trình độ xây dựng chương trình và sự điều hành của ban chủ nhiệm
Khi hoàn thành chương trình, bộ phận chuyên trách quản lý chương trình giải thể, các cơ quan của các ngành, các địa phương vẫn hoạt động bình thường
Ngành địa phương
X2 X1
Trang 20làm cái gì và liên kết với các nhiệm vụ khác trong tổ chức như thế nào nhằm tạo ra một sự hợp tác nhịp nhàng để đáp ứng mục tiêu của tổ chức
Để đạt được mục tiêu của tổ chức, cơ cấu tổ chức bao gồm bốn nhân tố
cơ bản: Chuyên môn hóa, tiêu chuẩn hóa, hợp tác và quyền hành
Chuyên môn hóa là tiến trình xác định những nhiệm vụ cụ thể và phân chia chúng cho các cá nhân hoặc đội đã được đào tạo để thực hiện những nhiệm vụ đó
Tiêu chuẩn hóa liên quan đến các thủ tục ổn định và đồng nhất mà các nhân viên phải làm trong quá trình thực hiện công việc của họ
Phối hợp bao gồm những thủ tục chính thức và không chính thức hợp nhất những hoạt động của những cá nhân, các đội và các bộ phận khác nhau trong tổ chức
Quyền hành về cơ bản là quyền ra quyết định và hành động Những tổ chức khác nhau sẽ phân bổ quyền hành khách nhau
Sơ đồ tổ chức là một biểu đồ chỉ ra các mối quan hệ giữa các chức năng, các bộ phận, các vị trí cá nhân trong một tổ chức Sơ đồ tổ chức cung cấp thông tin về 4 khía cạnh quan trọng của cơ cấu tổ chức: Các nhiệm vụ, sự phân chia các bộ phận, cấp bậc quản trị, quyền hành trực tuyến
2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tác động đến sự hình thành hệ thống tổ chức quản lý
Sự phát triển ngày càng cao của đối tượng quản lý là nguyên nhân cơ bản làm tăng vai trò của các quan hệ tổ chức Nói cách khác, quan hệ tổ chức phụ thuộc vào sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, phụ thuộc vào trình độ của nền kinh tế, trình độ của đối tượng quản lý, vào quan hệ
sở hữu ngày càng đa dạng trên tất cả các lĩnh vực, có thể khái quát các nhân tố tác động đến sự hình thành hệ thống tổ chức quản lý gồm các nhóm sau:
Nhóm thứ nhất, gồm những thay đổi của đối tượng quản lý:
Trang 21- Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, của tiến bộ kỹ thuật, khoa học – công nghệ, của phân công lao động xã hội;
- Trình độ phát triển của quan hệ sở hữu (sỏ hữu tài sản, trí tuệ…) của đối tượng quản lý;
- Tính chất và đặc điểm của ngành, của lĩnh vực quản lý, trình độ trang
bị của các quá trình lao động quản lý
Nhóm thứ hai, gồm những biến đổi trong lĩnh vực hoát động quản lý và hoàn thiện cơ chế quản lý, công cụ, chính sách quản lý:
- Chế độ chính trị, xã hội của mỗi quốc gia;
- Quan hệ giữa quản lý tập trung thống nhất và phân cấp quản lý;
- Cơ cấu quyền lực của nhà nước và nền hành chính quốc gia;
- Dân chủ hoá quá trình kinh tế - xã hội…
- Quan hệ giữa quản lý ngành và quản lý lãnh thổ;
- Cơ sở vật chất - kỹ thuật của hoạt động quản lý và trình độ của cán bộ quản lý
2.1.5 Những yêu cầu đối với hệ thống tổ chức quản lý
Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý phải bảo đảm những yêu cầu sau:
- Số lượng cấp quản lý tối ưu nhằm bảo đảm tính linh hoạt của hệ thống
tổ chức quản lý và phù hợp với thực tế
- Xác định rõ phạm vi, chức năng và nhiệm vụ quản lý, trên cơ sở đó có
sự phân công hợp lý giữa các bộ phận, loại trừ những hiện tượng chồng chéo, trùng lặp hoặc không có người phụ trách Về nguyên tắc, một bộ phận của hệ thống quản lý có thể đảm nhiệm một hoặc một số chức năng và nhiệm vụ Song mỗi chức năng, nhiệm vụ không nên bố trí cho hai hoặc nhiều bộ phận khác nhau của hệ thống quản lý
- Xác định rõ mối quan hệ dọc, quan hệ ngang, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ về nhiệm vụ và hoạt động của các bộ phận trong hệ thống tổ chức
Trang 22- Bảo đảm tính thiết thực, tính kinh tế để với một lượng chi phí quản lý
ít nhất mà hiệu quả cao nhất
- Tương đối ổn định nhưng không bảo thủ trì trệ, linh hoạt song không liên tục thay đổi
2.1.6 Đặc điểm tổ chức quản lý của hệ thống thanh tra thuế; Vai trò của hệ thống thanh tra thuế trong công tác quản lý thuế
2.1.6.1 Đặc điểm tổ chức quản lý của hệ thống thanh tra thuế
Hệ thống tổ chức bộ máy thanh tra ngành thuế được hình thành thống nhất từ những năm 1990 và liên tục hoàn thiện để phù hợp và đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ được giao
Luật Thanh tra 2004 và các văn bản quy định có liên quan; Quyết định
số 115/2009/QĐ-TTg ngày 28/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thuế trực thuộc Bộ Tài chính và các Quyết định có liên quan, tổ chức bộ máy thanh tra tiếp tục được hoàn thiện trong ngành thuế từ cấp Trung ương đến cấp huyện, cụ thể:
- Tại Tổng cục Thuế thành lập thanh tra Tổng cục Thuế là tổ chức thanh tra chuyên ngành độc lập;
- Tại Cục Thuế thanh lập Phòng Thanh tra thuế, là bộ phận chức năng giúp Cục trưởng thực hiện chức năng thanh tra thuế;
- Tại Chi cục Thuế hiện nay chưa được thành lập bộ phận thanh tra thuế Việc thanh tra thuế trên địa bàn quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đều do thanh tra Cục Thuế đảm nhiệm
2.1.6.2 Vai trò của hệ thống thanh tra thuế trong công tác quản lý thuế
Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 quy định công tác quản lý thuế có 4 chức năng cơ bản: Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế,
Kê khai kế toán thuế, Thanh tra kiểm tra và cưỡng chế thu nợ Luật quản lý thuế ra đời đã chuyển từ mô hình quản lý thuế theo chuyên quản sang mô
Trang 23hình quản lý thuế theo chức năng Theo đó, người nộp thuế tự tính, tự kê khai thuế, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm Hiện nay, theo Luật Quản lý thuế sửa đổi bổ sung số 21/2012/QH13 ngày 20/11/2012, áp dụng cơ chế quản lý rủi ro trong quản lý thuế bao gồm: thu thập thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp thuế; xây dựng các bộ tiêu chí quản lý thuế; đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người nộp thuế; đề xuất, áp dụng các biện pháp quản lý thuế;
Cơ quan quản lý thuế quản lý, ứng dụng hệ thống thông tin nghiệp vụ để đánh giá rủi ro về thuế, mức độ tuân thủ pháp luật của người nộp thuế, lựa chọn đối tượng kiểm tra, thanh tra về thuế và hỗ trợ các hoạt động nghiệp vụ khác trong quản lý thuế Thực hiện cơ chế quản lý thuế rủi ro, cơ quan thuế tích cực tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế, đẩy mạnh công tác kê khai thuế qua mạng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế trong việc thực hiện quyền lợi nghĩa vụ của mình trong công tác quản lý thuế Tuy nhiên, cơ chế quản lý thuế này cũng dễ nảy sinh các trường hợp trốn thuế, gian lận thuế Do vậy, Cơ quan thuế phải tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế nhằm kịp thời ngăn chặn, phát hiện và xử lý các hành vi trốn thuế, gian lận thuế tạo sự công bằng xã hội Qua đó có thể khẳng định hệ thống tổ chức thanh tra thuế
có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý thuế
2.1.7 Nội dung của thanh tra thuế
Nội dung của thanh tra thuế là: Căn cứ vào kế hoạch thanh tra thuế, bộ phận thanh tra thuế phải tiến hành thực hiện quá trình tập hợp và phân tích rủi
ro các thông tin chuyên sâu tại cơ quan thuế nhằm kiểm tra tính xác thực đối với các hồ sơ khai thuế, báo cáo tài chính, các nội dung nghi vấn để yêu cầu doanh nghiệp cung cấp theo nội dung đề cương thanh tra đã xây dựng
Ngoài ra bộ phận thanh tra thuế còn đảm nhiệm thanh tra nội dung sau hoàn thuế, thanh tra chống chuyển giá; giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo về thuế…
Trang 24Việc kiểm tra, đối chiếu số liệu tổng hợp tại trụ sở người nộp thuế được thực hiện tuỳ theo hình thức, phạm vi, quy mô, nội dung của cuộc thanh tra: Thanh tra toàn diện, thanh tra hạn chế
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Kinh nghiệm quản lý thanh tra thuế ở một số nước trên thế giới
2.2.1.1 Kinh nghiệm Quản lý tuân thủ nghĩa vụ thuế trong thanh tra, kiểm tra
thuế ở các nước thuộc khối OECD
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (Organization for Economic operation and Devolopment, viết tắt là OECD) có mục đích là để tìm ra các chính sách phát triển kinh tế cùng phúc lợi của người dân Nó là một diễn đàn cho các thành viên, hiện là chính phủ của 34 nước kinh tế thị trường phát triển nhất thế giới cũng như 70 nước không phải là thành viên, cùng nhau bàn bạc, trao đổi kinh nghiệm để giải quyết các vấn đề kinh tế cũng như các vấn đề chung khác Trụ sở của tổ chức hiện nay ở lâu đài La muette ở Pari
Co-Theo kinh nghiệm của tổ chức về quản lý tuân thủ nghĩa vụ thuế trong thanh tra, kiểm tra thuế thì:
Nếu coi sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp là hành vi chấp hành nghĩa
vụ thuế theo đúng mục đích của luật pháp một cách đầy đủ, tự nguyện và đúng thời gian, thì hành vi tuân thủ thuế của doanh nghiệp có thể được nhìn nhận một cách toàn diện theo mô hình các cấp độ tuân thủ thuế
Các cấp độ tuân thủ của doanh nghiệp thể hiện mức độ chấp nhận hoặc
từ chối nghĩa vụ thuế hay thái độ tuân thủ nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp Đây chính là các cấp độ bày tỏ mối quan hệ và thái độ của doanh nghiệp với
cơ quan thuế, nghĩa là mức độ chấp nhận hay từ chối các quy định của luật thuế, các kế hoạch và công cụ quản lý thuế Tuân thủ nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp hiện nay được thể hiện dưới 4 mức độ:
- Mức độ cam kết: Ở mức độ này, đối tượng sẵn sàng tuân thủ, doanh
nghiệp cảm thấy “thoải mái” với hoạt động quản lý thuế, hợp tác với cơ quan
Trang 25thuế theo các kế hoạch quản lý thuế và tuân thủ một cách tích cực, thậm chí
có thể thay mặt cơ quan thuế khuyến khích đối tượng khác tuân thủ;
- Mức độ chấp nhận: Doanh nghiệp chấp nhận những yêu cầu quản lý
thuế và tin tưởng vào cơ quan thuế Ở mức độ này, Doanh nghiệp cố gắng tuân thủ nhưng đôi khi không thành công;
- Mức độ miễn cưỡng: Đây là cách tiếp cận chống đối, doanh nghiệp
có xu hướng không muốn tuân thủ nhưng nếu cơ quan thuế quan tâm, sát sao thì doanh nghiệp sẽ tuân thủ mặc dù rất miễn cưỡng;
- Mức độ từ chối: Doanh nghiệp quyết định không tuân thủ, hoàn toàn
tách ra khỏi sự quản lý của cơ quan thuế
Thực tế cho thấy, các cơ quan thuế cần phải phân định, phân chia doanh nghiệp thành các nhóm theo các cấp độ tuân thủ, khi đó mới có biện pháp quản
lý, thanh tra, kiểm tra thuế phù hợp và hiệu quả Việc phân định, phân chia doanh nghiệp thành các nhóm theo các cấp độ tuân thủ sẽ giúp cơ quan thuế tối
ưu hóa chi phí quản lý thuế nói chung, chi phí thanh tra, kiểm tra nói riêng cũng như phân bố các nguồn lực một cách hiệu quả, tránh lãng phí
Cụ thể: Đối với những doanh nghiệp vui lòng hợp tác, nguyên tắc là cơ quan thuế sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự tuân thủ và lựa chọn chiến lược tự quản lý (tự điều chỉnh) để khuyến khích sự tuân thủ tự nguyện thông qua các chương trình cụ thể như giáo dục và cung cấp các dịch vụ, điều kiện thuận tiện nhất, tốt nhất để doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế của mình; Nếu đối tượng mắc sai sót nhưng cam kết sửa sai, họ cần được sự hỗ trợ của cơ quan thuế Với cấp độ này, cơ quan thuế sẽ theo sát để giúp đối tượng tuân thủ nghĩa vụ thuế Đối tượng có trách nhiệm sửa chữa lỗi với sự trợ giúp của cơ quan thuế nhưng cơ quan thuế cũng có cơ chế để đảm bảo doanh nghiệp sẽ thực hiện việc sửa sai và có được những thông tin phản hồi để đảm bảo sự tuân thủ của doanh nghiệp thực sự tốt hơn
Trang 26Ở 2 cấp độ này, cơ quan thuế sẽ thực hiện việc quản lý cưỡng chế thông qua các mệnh lệnh và hoạt động kiểm soát gắt gao Cấp độ “mềm mỏng” của quản lý mệnh lệnh đó là, cơ quan thuế sẽ ngăn chặn trốn thuế bằng hoạt động thanh tra và xem xét sử dụng hình phạt ở mức độ vừa phải để cải thiện sự tuân thủ của doanh nghiệp Còn trong trường hợp doanh nghiệp quyết tâm không tuân thủ pháp luật thuế, trốn thuế bằng mọi giá, thì cơ quan thuế sẽ buộc phải sử dụng tới quyền năng luật pháp cũng như áp dụng những mức phạt, hình phạt cao nhất, qua đó răn đe các trường hợp khác
Tuy nhiên, cơ quan thuế cũng có thể lựa chọn chiến lược tự quản lý bởi
3 lý do:
Thứ nhất, chiến lược tự quản lý sẽ giảm thiểu chi phí quản lý hành
chính cho cơ quan thuế, đồng thời khiến cho chi phí tuân thủ thuế của doanh nghiệp cũng ít tốn kém hơn
Thứ hai, chiến lược tự quản lý giảm gánh nặng quản lý thuế tới mức
thấp nhất, nhấn mạnh đến sự hợp tác và xây dựng mối quan hệ tốt đẹp, bền vững giữa cơ quan thuế và doanh nghiệp
Thứ ba, nguyên tắc giảm cưỡng chế từ trên xuống dưới, đẩy mạnh việc
giao một số quyền quản lý thuế từ cơ quan thuế đến doanh nghiệp và tăng tính
tự chủ của doanh nghiệp
Cơ quan thuế chỉ nên di chuyển lên cấp độ cao hơn ở tháp quản lý, nếu doanh nghiệp lạm dụng quyền tự quản lý nói trên Ở cấp độ “chấp nhận” của động cơ tuân thủ, cơ quan quản lý thuế cần hỗ trợ, tuyên truyền thêm cho doanh nghiệp và chưa thực sự cần đến các biện pháp mạnh tay Ngược lại, ở cấp độ “miễn cưỡng” hoặc cấp độ “từ chối”, mối quan hệ giữa doanh nghiệp
và cơ quan thuế trở nên “thù địch”, cơ quan thuế nên tiếp cận với các phương pháp cưỡng chế mạnh mẽ hơn
Áp dụng mô hình tuân thủ, khi tiến hành thanh tra, kiểm tra thuế, cơ quan thuế các nước có xu hướng chuyển hoạt động thanh tra, kiểm tra chủ yếu
Trang 27tiến hành tại cơ sở kinh doanh sang thanh tra, kiểm tra chủ yếu tiến hành tại
cơ quan thuế Sự thay đổi này, sẽ tăng tính hiệu quả của hoạt động thanh kiểm tra, mở rộng số lượng, trường hợp doanh nghiệp được cơ quan thuế giám sát việc tuân thủ nghĩa vụ thuế; Đồng thời, giúp cơ quan thuế có những sự chuẩn
bị và có nhiều thông tin hơn cũng như xác định chính xác phạm vi nội dung khi tiến hành thanh tra kiểm tra tại trụ sở của doanh nghiệp
Mô hình tuân thủ thuế đã được áp dụng thành công để quản lý doanh nghiệp cũng như công tác thanh tra, kiểm tra thuế ở một số quốc gia như
Úc, Newzealand Để áp dụng mô hình này một cách hiệu lực, cơ quan thuế của bất kỳ quốc gia nào cũng phải đảm bảo các điều kiện như: Cần tìm hiểu
về tình trạng động cơ tuân thủ thuế và các yếu tố ảnh hưởng đến động cơ tuân thủ của doanh nghiệp; Cơ quan thuế cần chắc chắn rằng, tất cả các doanh nghiệp hiểu đầy đủ về nghĩa vụ thuế và họ phải được đưa đến các cơ hội tuân thủ; Thay vì áp dụng các chiến lược cưỡng chế thuế, cơ quan thuế phải bắt đầu cơ bản từ việc cung cấp dịch vụ, điều kiện tốt hơn cho doanh nghiệp, tuyên truyền và hỗ trợ nhiều hơn cho doanh nghiệp Đặc biệt, để tăng cường sự tuân thủ tự nguyện, cơ quan thuế cũng cần tranh thủ sự giúp
đỡ của các chuyên gia, chính khách và của cả cộng đồng Bản thân cơ quan thuế và từng cán bộ thuế cần phải thực sự thay đổi theo hướng hành động minh bạch, công bằng
Đi liền với đó là việc tổ chức bộ máy thanh tra, kiểm tra theo cơ chế quản lý rủi ro, cụ thể:
Cơ quan thuế các nước có hoạt động thanh tra, kiểm tra theo cơ chế quản lý rủi ro hiệu quả thường chú ý đến việc tổ chức, phân bổ nguồn nhân lực và quản lý hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế Do tầm quan trọng của công tác thanh tra, kiểm tra thuế và các kỹ năng chuyên môn kèm theo, đa số cơ quan thuế các nước đều lập một hoặc nhiều phòng chuyên môn chịu trách
Trang 28nhiệm về toàn bộ hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp khác
Qua nghiên cứu mô hình tổ chức thanh tra, kiểm tra của các nước, không có mô hình “chính xác” hoặc “áp dụng chung” để tổ chức các hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế Tuy nhiên, nghiên cứu về mô hình tổ chức cơ quan thuế các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), có thể nhận thấy 2 xu hướng được lồng ghép, kết hợp khi tổ chức các hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế:
- Sử dụng mô hình “chức năng” để tổ chức các hoạt động quản lý thuế;
- Xuất hiện việc tổ chức theo nhóm các chức năng quản lý doanh nghiệp trên cơ sở phân đoạn doanh nghiệp
Trong thực tế, các nước này tổ chức một bộ phận chuyên thanh tra riêng các doanh nghiệp lớn và hình thành tổ chức thanh tra chuyên trách đối với các doanh nghiệp khác
2.2.1.2 Kinh nghiệm của Úc
Úc cũng là một thành viên của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) Một trong những mốc đáng ghi nhớ trong sự phát triển của hệ thống thuế Ôxtrâylia (ATO) là việc chuyển sang thực hiện cơ chế tự khai tự nộp thuế, theo đó, người nộp thuế chịu trách nhiệm tự xác định nghĩa vụ thuế của mình và được khích lệ để tuân thủ tự giác
Năm 1986-1987, cơ quan thuế ATO tiến hành các bước ban đầu để thực hiện cơ chế tự khai tự nộp Trên thực tế, hệ thống thuế mới đã chứng minh được tính ưu việt của nó so với hệ thống thuế trước đây Tuy nhiên, khi
áp dụng cơ chế tự khai tự nộp, cơ quan thuế của Úc cũng đã thực hiện một số nội dung trong công tác thanh tra thuế, cụ thể:
* Yêu cầu cần có của một thanh tra viên
Một công chức thuế muốn trở thành một thanh tra viên yêu cầu kiến thức cần phải có bắt buộc gồm:
Trang 29- Sự am hiểu về Luật, bao gồm luật thuế, luật thương mại và các luật khác;
- Kiến thức sâu về lĩnh vực kế toán, nắm vững các nguyên tắc kế toán;
- Có phong cách giao tiếp với Người nộp thuế, với đồng nghiệp
* Thực hiện thanh tra tại doanh nghiệp
- Thẻ thanh tra thể hiện quyền lực cao nhất của cơ quan thuế Dưới quyền lực của thẻ thanh tra là các thông báo của cơ quan thuế yêu cầu người nộp thuế xuất trình các tài liệu thông tin theo yêu cầu Cơ quan thuế có thể gửi các thông báo đến ngân hàng để yêu cầu cung cấp thông tin như số Tài khoản,
số tiền … và ngân hàng không có quyền từ chối thông báo của cơ quan thuế
- Trong quá trình thanh tra, việc thu thập thông tin là vô cùng quan trọng Do đó ATO đã ban hành sách quy định quyền của thanh tra viên, quyền của người nộp thuế Khi công chức đi thanh tra có thể mang theo sách này để cung cấp, tuyên truyền cho người nộp thuế (sách này có nhiều thứ tiếng khác nhau, kể cả tiếng Việt)
- Khi thanh tra không phải thanh tra tất cả các vấn đề của người nộp thuế mà chỉ thanh tra một vài vấn đề qua đánh giá rủi ro và chỉ thực hiện thanh tra trên cơ sở các vấn đề rủi ro đã được đánh giá Trong quá trình phân tích nếu phát hiện ra vấn đề gì phải thanh tra, công chức thanh tra chỉ được thanh tra vào những nội dung đó, nếu trong quá trình thanh tra phát hiện thêm vấn đề gì, công chức thanh tra phải báo cáo bổ sung nội dung cần thanh tra
2.2.2 Kinh nghiệm tại một số địa phương trong nước
Cục Thuế tỉnh Bắc Giang là một trong những Cục Thuế có số thu thuế nội địa ở mức trung bình trong khu vực phía bắc (dưới 3.000 tỷ) Tổng thu thuế nội địa năm 2013 là 2.439 tỷ đồng Do vậy, mô hình tổ chức hệ thống thanh tra thuế chỉ được tổ chức có 01 phòng thanh tra trên văn phòng Cục Thuế tỉnh chịu trách nhiệm về tổ chức thực hiện công tác thanh tra thuế trên địa bàn
Tổng số cán bộ công chức làm công tác thanh tra năm 2013 là 15 người, trong đó:
Trang 30Giới tính: Nam: 11 người; nữ: 04 người
Trình độ: Trên đại học: 01 người; đại học: 14 người; sau đại học: 0 Theo số liệu thu thập về kết quả thanh tra năm 2011, 2012, 2013 tại Cục Thuế Bắc Giang:
Bảng 2.1: Tình hình công tác thanh tra, kiểm tra tại trụ sở
Số NNT
có vi phạm
về thuế
Tỷ lệ NNT
có vi phạm pháp luật về thuế
Tổng
số tiền thuế truy thu và phạt VPHC
Số thuế
BQ truy thu và phạt/
DN Giảm lỗ
Bù trừ tiền thuế nộp thừa;
được hoàn…
Nộp NSNN
I Năm 2011 71 71 100% 5,02 0,071 58,87 3,480 1,890
II Năm 2012 59 59 100% 3,37 0,057 52,60 0,566 5,200 III Năm 2013 51 51 100% 7,52 0,147 52,60 0,566 5,200
(Nguồn: Cục Thuế tỉnh Bắc Giang)
Theo nội dung đánh giá về công tác thanh tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Bắc Giang của lãnh đạo Cục Thuế Bắc Giang:
Năm 2013 là năm đầu tiên ngành Thuế áp dụng ứng dụng phần mềm phân tích rủi ro NNT (TPR) để lập kế hoạch thanh tra đối với tất cả các doanh nghiệp do Văn phòng Cục Thuế trực tiếp quản lý Nguyên tắc lập kế hoạch thanh tra năm 2013 là ưu tiên lựa chọn các doanh nghiệp nhiều năm chưa được thanh tra, kiểm tra; các doanh nghiệp được hưởng ưu đãi miễn giảm thuế; các doanh nghiệp có số thu lớn, có số thuế GTGT được hoàn lớn; Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lỗ nhiều năm nhưng vấn đầu tư mở rộng mô hình SXKD nhưng có số thuế nộp ít
Việc áp dụng phần mềm ứng dụng TPR đã giúp ích cho công tác xây dựng kế hoạch thanh tra ở Cục Thuế tỉnh Bắc Giang đảm bảo khoa học hơn, nhanh hơn so với những năm về trước Từ đó tạo điều kiện cho việc triển khai
Trang 31thực hiện kế hoạch ngay từ đầu năm, góp phần nâng cao hiệu quả rõ rệt trong công tác triển khai thực hiện kế hoạch
Căn cứ chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao tại Quyết định số 2249/QĐ-TCT ngày 28/12/2012 của Tổng cục thuế, Cục thuế tỉnh Bắc Giang đã ra Quyết định số 51/QĐ-CT ngày 08/01/2013 về việc phê duyệt kế hoạch thanh tra thuế, và giao nhiệm vụ cho Phòng Thanh tra thuế chịu trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện
* Kết quả
- Thực hiện kế hoạch năm 2012 có kết quả xử lý năm 2013
Số doanh nghiệp: 06 DN; Số tiền thuế phải nộp theo quyết định thu vào Ngân sách Nhà nước sau thanh tra là: 242,2 triệu đồng; Phạt vi phạm hành chính về thuế là: 30,3 triệu đồng; Giảm khấu trừ là; 6,5 triệu đồng; Giảm lỗ là: 60,6 triệu đồng; Số tiền thuế truy thu và phạt đã nộp NSNN đến 31/12/2013 là: 272,5 triệu đồng;
- Đánh giá tình hình lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra thuế năm 2013
Kế hoạch giao: 41 DN; Số doanh nghiệp đã thực hiện thanh tra trong năm: 51 DN, đạt 124% so với kế hoạch giao;
Số tiền thuế phải nộp theo quyết định thu vào NSNN sau thanh tra là:6,8tỷ đồng; Phạt vi phạm hành chính về thuế là: 717 triệu đồng; Thu hồi hoàn thuế là: 113 triệu đồng; Giảm khấu trừ là; 566 triệu đồng; Giảm lỗ là: 52,6 tỷ đồng; Số thuế đã nộp vào NSNN đến 31/12/2013 là: 5,2 tỷ đồng;
So sánh với cùng kỳ năm 2012 thì các chỉ tiêu đều tăng, tính riêng chỉ tiêu số thuế phải nộp theo quyết định thu vào NSNN tăng 99%; Số thuế đã nộp vào NSNN đến 31/12/2013 tăng 38%
* Những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn quản lý công tác thanh tra thuế trên thế giới và ở Việt Nam
Một là, nghiên cứu, áp dụng toàn diện mô hình quản lý tuân thủ trong
quản lý thuế, là cơ sở để triển khai áp dụng có hiệu quả phương pháp thanh tra theo cơ chế quản lý rủi ro
Trang 32Hai là, xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu tập trung về
doanh nghiệp; Đào tạo, nâng cao kỹ năng quản lý và phân tích thông tin cho cán bộ thanh tra;
Ba là, hoàn thiện hệ thống các tiêu chí đánh giá, phân tích rủi ro phục
vụ cho việc lựa chọn đối tượng thanh tra, kiểm tra; nghiên cứu và hoàn thiện phương pháp lựa chọn đối tượng thanh tra ngẫu nhiên
Bốn là, xây dựng, hoàn thiện và trang bị các công cụ hỗ trợ cho cán bộ
thanh tra thuế như quy trình và sổ tay nghiệp vụ thanh tra; Các công cụ điện
tử cho phép truy cập cơ sở dữ liệu và kiểm tra các hồ sơ khai thuế của doanh nghiệp trong quá trình thanh tra tại trụ sở của doanh nghiệp; Các công cụ sử dụng trực tiếp trên máy tính xách tay đáp ứng các yêu cầu nghiệp vụ của cán
bộ thanh tra, kiểm tra…
Năm là, nghiên cứu, kiện toàn bộ máy thanh tra thuế, theo đó bên cạnh
việc xây dựng, kiện toàn mô hình quản lý thuế theo chức năng đảm bảo chuyên sâu, chuyên nghiệp, có thể đề xuất thành lập thêm một bộ phận chuyên nghiệp đa chức năng để quản lý, tranh tra các doanh nghiệp lớn; Nghiên cứu thành lập bộ phận chuyên trách chịu trách nhiệm thu thập, quản
lý thông tin về doanh nghiệp, xây dựng, hoàn thiện các tiêu chí đánh giá rủi ro
và đánh giá rủi ro tập trung về doanh nghiệp
Sáu là, tăng cường năng lực cho đội ngũ thanh tra thông qua việc
nghiên cứu, xây dựng, chuẩn hóa mô hình tiêu chuẩn về năng lực cán bộ thanh tra Mô hình tiêu chuẩn về năng lực cán bộ sẽ là cơ sở để xây dựng, triển khai kế hoạch tuyển dụng, đào tạo, đánh giá và phát triển nguồn lực
Bảy là, nghiên cứu, xây dựng và áp dụng hệ thống chỉ tiêu đánh giá
chất lượng hiệu quả của công tác thanh tra thuế
2.3 Các nghiên cứu liên quan đến đề tài đã công bố
Theo kết quả thu thập thông tin của bản thân tác giả, hiện nay chưa có
đề tài nào thực hiện nghiên cứu về nội dung này
Trang 33PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm địa bàn quản lý của ngành Thuế tỉnh Hải Dương
3.1.1 Tóm tắt địa bàn tỉnh Hải Dương
Hải Dương là một tỉnh nằm ở trung tâm châu thổ sông Hồng, là một trong những cái nôi của nền văn hoá lâu đời của dân tộc Việt Nam Lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc đã để lại cho vùng đất Thành Đông xưa một tài sản vô giá với hàng trăm di tích lịch sử văn hoá, trong đó nổi bật có cụm di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc gắn liền với tên tuổi của các vị anh hùng dân tộc như: Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi; đền thờ thầy giáo Chu Văn An; Văn miếu Mao Điền của Trấn Hải Dương xưa…Hải Dương cũng là nơi nổi tiếng với đặc sản vải thiều (Thanh Hà), bánh đậu xanh (Hải Dương), bánh gai (Ninh Giang), rươi (Tứ Kỳ)…Người dân Hải Dương chăm chỉ, chịu khó, có tinh thần hiếu học
3.1.2 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
3.1.2.1 Vị trí địa lý
Với diện tích 1.662 km2, Hải Dương là một trong 7 tỉnh, thành thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, nằm trong khu tam giác kinh tế: Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh Tỉnh Hải Dương tiếp giáp với các vùng sau:
- Phía Đông giáp Thành phố Hải Phòng;
- Phía Tây giáp tỉnh Hưng Yên;
- Phía Nam giáp tỉnh Thái Bình;
- Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang
3.1.2.2 Khí hậu
Hải Dương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 4 mùa
rõ rệt: Mùa xuân, mùa hạ, mùa thu, mùa đông và có đặc điểm khí hậu của các tỉnh đồng bằng bắc bộ: Nóng, ẩm, mưa nhiều
3.1.2.3 Địa hình
Hải Dương được chia làm 2 vùng: vùng đồi núi và vùng đồng bằng Vùng đồi núi nằm ở phía bắc tỉnh, chiếm 11% diện tích tự nhiên gồm 13 xã,
Trang 34phường thuộc thị xã Chí Linh và 18 xã, thị trấn thuộc huyện Kinh Môn; là vùng đồi núi thấp, phù hợp với việc trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ và cây công nghiệp ngắn ngày Đặc biệt khu vực này cũng là nơi có nguồn tài nguyên khoáng sản dồi dào như: Đá, đất đỏ, đất sét trắng, than…làm nguyên liệu cho sản xuất xi măng và các ngành sản xuất vật liệu xây dựng Khu vực này cũng là nơi tập trung nhiều di tích lịch sử của quốc gia và của địa phương như: Cụm Di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc, Đền thờ Chu Văn An, Di tích Đền Cao (An Phụ)…là nguồn tiềm năng cho phát triển du lịch tâm linh Vùng đồng bằng còn lại chiếm 89% diện tích tự nhiên do phù sa sông Thái Bình bồi đắp, đất màu mỡ, thích hợp với nhiều loại cây trồng, sản xuất được nhiều vụ trong năm
Hình 3.1 Bản đồ hành chính tỉnh Hải Dương
Trang 353.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội
3.1.3.1 Dân số và lao động
Dân số hơn 1.718.895 người, mật độ dân số: 1.039 người/km2(theo điều tra dân số năm 2011)
(Nguồn: Trang Cổng thông tin điện tử tỉnh Hải Dương)
3.1.3.2 Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội tỉnh Hải Dương
Với lợi thế là một tỉnh có nguồn lao động phổ thông dồi dào, Hải Dương đã có nhiều bứt phá đi lên, là địa phương tiêu biểu đi đầu trong thu hút đầu tư nước ngoài, có nhiều khu công nghiệp như: Khu công nghiệp Đại An, Khu công nghiệp Tân Trường, Khu công nghiệp Nam Sách…góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, đặc biệt là nguồn lao động ở khu vực nông thôn tạo nguồn thu cho ngân sách địa phương, hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn tỉnh nhà, thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn và thành thị Những năm qua, tỉnh đã triển khai xây dựng được nhiều cơ chế, chính sách, hình thức phù hợp để huy động các nguồn vốn trong dân, các tổ chức kinh tế cũng như của các nhà đầu tư trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển kết cấu
hạ tầng kinh tế xã hội Đặc biệt chú trọng xây dựng nông thôn mới, xây dựng giao thông nông thôn để thu hút các nhà đầu tư, tạo điều kiện xây dựng phát triển thị trường cho sản phẩm nông, lâm, thủy sản Đến nay, trên địa bàn tỉnh
có trên 7.000 doanh nghiệp đang hoạt động với tổng số vốn đăng ký trên 37 nghìn tỷ đồng, trong đó có 684 dự án được chấp thuận cho thuê đất với tổng diện tích gần 2.000 ha Đối với nguồn vốn đầu tư nước ngoài, tính đến nay trên địa bàn tỉnh đã có 202 dự án đầu tư, với tổng số vốn đăng ký là 2.601,3 triệu USD, vốn thực hiện 63,8% Trong đó có 133 dự án đã đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, thu hút 180.298 lao động trực tiếp tại các doanh nghiệp cùng hàng ngàn lao động gián tiếp
Phát huy những kết quả đã đạt được, những năm tới, Hải Dương tiếp tục đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, bảo đảm cho công nghiệp, thương mại có sự tăng trưởng ổn định, vững chắc
Trang 36Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 28
Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hải Dương
Chỉ tiêu Đơn vị tính Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
So sánh (%)
Bình quân (%) 2012/2011 2013/2012
1.1 Tổng số nhân khẩu Người 1.723.452 1.738.480 1.747.512 100,87 100,52 100,70 1.2 Tổng số lao động Lao động 1.325.962 1.342.213 1.364.440 101,23 101,66 101,44
* Lao động nông nghiệp Lao động 713.367 718.084 515.578 100,66 71,80 85,01
* Lao động công nghiệp Lao động 367.291 369.108 465.274 100,49 126,05 112,55
* Lao động thương mại dịch vụ Lao động 245.304 255.021 383.588 103,96 150,41 125,05 1.3 Tỷ lệ lao động thất nghiệp % 2,70 3,00 2,28 111,11 76,00 91,89
(Nguồn: UBND tỉnh Hải Dương)
Trang 37Số liệu trên Bảng 3.1 cho thấy:
* Về xã hội
- Tổng số nhân khẩu trong 3 năm từ năm 2011 đến năm 2013 tăng nhẹ,
cụ thể: Năm 2012 tăng so với năm 2011 là 0,87%, năm 2013 tăng so với năm
2012 là 0,52%; mức tăng bình quân 3 năm là 0,7%
- Tổng số lao động:
+ Năm 2012 tăng so với năm 2011 là: 1,23% (Số tuyệt đối là: 15.028 người); trong đó: Lao động nông nghiệp tăng 0,66% (Số tuyệt đối là: 4.717 người); lao động công nghiệp tăng 0,49% (Số tuyệt đối là: 1.817 người); lao động thương mại dịch vụ tăng 3,96% (số tuyệt đối là: 9.717 người);
+ Năm 2013 tăng so với năm 2012 là 1,66% (số tuyệt đối là: 22.227 người); trong đó: Lao động nông nghiệp giảm mạnh (số tương đối là: 29,2%;
số tuyệt đối là: 202.506 người) ; lao động công nghiệp tăng mạnh với mức tăng 26,05% (số tuyệt đối là: 96.166 người); đặc biệt là lao động trong các ngành thương mại dịch vụ tăng 50,41% (số tuyệt đối là: 128.567 người)
+ Mức tăng bình quân 3 năm (từ năm 2011 đến 2013) là: 1,44%; trong đó: Lao động nông nghiệp giảm 14,09%; lao động công nghiệp tăng 12,55%; lao động trong các ngành thương mại dịch vụ tăng 25,05%
Qua đó cho thấy: Trong 3 năm 2011 đến năm 2013 có sự dịch chuyển lao động lớn từ lĩnh vực sản xuất nông nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp và thương mại dịch vụ Nguyên nhân là do: Năm 2013, nhiều dự án đầu tư đã hoàn thành đi vào hoạt động thu hút một lượng lớn lao động nông thôn, chủ yếu ở các lĩnh vực gia công hàng dệt may, gia dày, sản xuất linh kiện điện tử
- Tỷ lệ lao động thất nghiệp trong 3 năm có nhiều cải thiện Năm 2012 tăng so với năm 2011 0,3% (Nguyên nhân là do ảnh hưởng của suy thoái kinh
tế dẫn đến nhiều doanh nghiệp bị phá sản, giải thể) Năm 2013 giảm so với năm 2012 là 0,72% Điều đó cho thấy dấu hiệu nền kinh tế đã có những bước chuyển biến theo chiều hướng tích cực, nhiều doanh nghiệp đã đi vào hoạt động giải quyết công ăn việc làm cho người lao động
Trang 38* Về kinh tế:
- Tổng giá trị sản xuất trong 3 năm có sự tăng đều Năm 2012 tăng so với năm 2011 là 9,09% (số tuyệt đối là: 12.054 tỷ đồng); trong đó: Nông nghiệp giảm 2,57% (số tuyệt đối là: 493 tỷ đồng); Công nghiệp tăng 10,92% (số tuyệt đối là: 9.771 tỷ đồng); thương mại dịch vụ tăng 2.776 tỷ đồng) Năm
2013 tăng so với năm 2012 là 11,36% (số tuyệt đối là: 16.442 tỷ đồng), trong đó: Nông nghiệp giảm 1,85% (số tuyệt đối là: 346 tỷ đồng); công nghiệp tăng 13,67% (số tuyệt đối là: 13.570 tỷ đồng); thương mại dịch vụ tăng 12,05% (số tuyệt đối là: 3.218 tỷ đồng)
Mức tăng bình quân 3 năm 2011- 2013 là: 10,22%, trong đó: Nông nghiệp giảm 2,21%; công nghiệp tăng 12,28%; thương mại dịch vụ tăng 11,83% Điều đó cho thấy: Cơ cấu kinh tế có sự thay đổi Giá trị sản xuất nông nghiệp có xu hướng giảm (giảm nhẹ), giá trị sản xuất trong các lĩnh vực sản xuất, thương mại dịch vụ tăng là do chính sách phát triển kinh tế của tỉnh Hải Dương là: Giữ ổn định sản xuất nông nghiệp, tập trung ưu tiên phát triển các lĩnh vực sản xuất, thương mại dịch vụ, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động ở khu vực nông thôn nhằm thu hẹp khoảng cách về thu nhập giữa khu vực thành thị và khu vực nông thôn
- Thu ngân sách nhà nước: Trong 3 năm 2011 đến 2013 có xu hướng giảm, cụ thể: Năm 2012 giảm so với năm 2011 là 0,69%, năm 2013 giảm so với năm 2012 là 14,66% là do giảm các khoản thu từ ngân sách trung ương cấp và giảm các khoản thu từ cho vay Tập trung nâng cao năng lực quản lý, phát huy nguồn thu từ nội lực của địa phương, cụ thể: Các khoản thu từ thuế tăng cao Năm 2012 giảm 11,05% (số tuyệt đối là 571 tỷ đồng) là do ảnh hưởng bới suy thoái kinh tế, đặc biệt là thu từ các đơn vị đầu tư nước ngoài giảm mạnh Tuy nhiên sang năm 2013, các khoản thu từ thuế tăng cao vaftawng so với năm 2012 là 20,23% (số tuyệt đối là 930 tỷ đồng) Trong 3 năm 2011 – 2013, thu từ thuế tăng bình quân là 3,42%
Trang 393.1.3.3 Đơn vị hành chính sự nghiệp
Hải Dương có 12 đơn vị hành chính trực thuộc gồm: Thành phố Hải Dương, thị xã Chí Linh và 10 huyện: Nam Sách, Kinh Môn, Kim Thành, Thanh Hà, Ninh Giang, Gia Lộc, Tứ Kỳ, Thanh Miện, Cẩm Giàng và Bình Giang
Trung tâm hành chính: Thành phố Hải Dương là trung tâm kinh tế -
chính trị - văn hóa của cả tỉnh
3.2 Giới thiệu về Cục Thuế tỉnh Hải Dương
Địa chỉ Đường Trường Chinh, phường Tân Bình, Thành phố Hải Dương,
tỉnh Hải Dương Điện thoại: 0320.3891237
và lệ phí trên địa bàn toàn tỉnh
Trong những năm qua, mặc dù phải trải qua nhiều khó khăn phức tạp của tình hình trong nước và thế giới, cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ những năm 90 của thế kỷ XX, rồi hạn hán, dịch bệnh, thiên tai cùng những biến động của giá cả thị trường quốc tế trong những năm qua, đã ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của nền kinh tế nói chung và thu Ngân sách Nhà nước nói riêng Tuy có nhiều khó khăn xong dưới sự chỉ đạo của Quốc hội, Chính phủ; của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế và sự chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh Cục Thuế tỉnh Hải Dương đã phối hợp chặt chẽ với các sở, ban,
Trang 40ngành của tỉnh, đặc biệt là các đơn vị trong hệ thống tài chính địa phương như: Hải Quan, Kho bạc Nhà nước đã triển khai thực hiện tốt công tác quản lý thuế trên địa bàn
Trong hơn 16 năm tái lập tỉnh, cùng với sự trưởng thành lớn mạnh của ngành Tài chính, Cục Thuế tỉnh Hải Dương đã không ngừng được kiện toàn, củng cố và lớn mạnh Với sự nỗ lực và quyết tâm, tập thể cán bộ công chức là một khối đoàn kết thống nhất đã phấn đấu không ngừng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị của ngành, nhiều năm liên tục Cục Thuế tỉnh Hải Dương
đã được tặng thưởng nhiều Bằng khen của UBND tỉnh, Bộ Tài chính, Chính phủ, cờ thi đua xuất sắc và được Nhà nước trao tặng Huân chương lao động Hạng 3
Kết quả thu ngân sách liên tục 16 năm (1997 - 2014) Cục Thuế tỉnh Hải Dương đã hoàn thành vượt mức nhiệm vụ được giao Trong 3 năm (2011 - 2013) thu ngân sách đã tăng nhanh, thu ngân sách của tỉnh Hải Dương (thu nội địa) năm 2011: 5.167,8 tỷ đồng, đạt 117,8 % kế hoạch nhà nước giao; năm 2012: 4.596,5 tỷ đồng, đạt 86,7 % kế hoạch nhà nước giao; năm 2013: 5.526,7
tỷ đồng, đạt 110,79 % kế hoạch nhà nước giao Năm 2013 là năm tỉnh Hải Dương cơ bản hoàn thành khá toàn diện các chỉ tiêu và là năm có số thu ngân sách lớn nhất từ trước tới nay, vượt tỷ lệ vượt dự toán và tăng so với cùng kỳ cao nhất và là những năm hết sức có ý nghĩa đã đưa tỉnh Hải Dương là một trong 5 tỉnh có số thu cao nhất trong khu vực (Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Bắc Ninh)
Để có được kết quả thu ngân sách như trên, những năm qua Cục Thuế tỉnh Hải Dương đã tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của các cấp chính quyền, sự đồng thuận của toàn dân nên công tác thuế đã được các ngành, các cấp từ Trung ương đến địa phương chỉ đạo sát sao và có hiệu quả
Với những đổi mới về nội dung và chất lượng trong công tác quản lý thuế, coi trọng và giữ gìn các giá trị: Minh bạch, chuyên nghiệp, liêm chính