1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học phần kiến thức các cổng logic cơ bản trong chương trình điện tử số cho sinh viên viện sư phạm kỹ thuật

93 788 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 5,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học phần kiến thức các cổng logic cơ bản trong chương trình điện tử số cho sinh viên viện sư phạm kỹ thuật

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

VIỆN SƯ PHẠM KĨ THUẬT

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG WEBSITE HỖ TRỢ DẠY HỌC PHẦN KIẾN THỨC “CÁC CỔNG LOGIC CƠ BẢN” TRONG CHƯƠNG TRÌNH ĐIỆN

TỬ SỐ CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM KỸ THUẬT

Giáo viên hướng dẫn: TS Vũ Thị Lan

Sinh viên thực hiện : Vương Thị Thanh SHSV : 20096381

Phí Kim Bảo SHSV : 20096375Lớp : SPKT Điện Tử - K54

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐH BÁCH KHOA HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHIỆM VỤ THIẾT KẾ TỐT NGHIỆP Họ và tên:

Khóa: Nghành học

1 Đầu đề thiết kế tốt nghiệp:

2.Các số liệu ban đầu:

3.Nội dung thuyết minh và tính toán:

4.Các bản vẽ đồ thị:

5.Ngày nộp quyển:

Ngày tháng năm 2013

(Ký và ghi rõ họ tên)

Trang 3

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

BẢNG NHẬN XÉT THIẾT KẾ TỐT NGHIỆP

Họ và tên sinh viên:

Viện: Khóa:

Cán bộ hướng dẫn:

1.Nội dung thiết kế đồ án tốt nghiệp:

2.Nhận xét của người hướng dẫn:

Ngày tháng năm 2013

Người hướng dẫn ký

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Bách khoa Hà nội , đặcbiệt là trong viện Sư phạm kỹ thuật nhóm chúng em đã học hỏi được rất nhiều nhữngkiến thức bổ ích mà chỉ có môi trường này chúng em mới được trau dồi và tiếp nhận.Trong suốt quá trình thực hiện đồ án chúng em đã luôn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ

từ các thầy cô trong Viện Sư Phạm Kỹ Thuật cũng như là bạn bè và đặc biệt hơn nữa

là sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của cô giáo – TS Vũ Thị Lan người phụ trách hướngdẫn nhóm em thực hiện tốt đồ án này

Nhóm chúng em xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến côgiáo - TS Vũ Thị Lan, cùng các thầy cô và các bạn trong Viện Sư Phạm Kỹ Thuật đãgiúp đỡ và động viên chúng em trong quá trình thực hiện đồ án này Nhân đây, nhómchúng em cũng xin gửi lời cám ơn đến đến các thầy cô và ban giám hiệu trường ĐạiHọc Bách Khoa Hà Nội đã luôn giúp đỡ, quan tâm và tạo điều kiện tốt nhất cho chúng

em trong suốt quá trình học tập tại trường

Nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG WEBSITE TRONG DẠY HỌC 12

1.1:ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HIỆN NAY TRONG DẠY HỌC NÓI CHUNG: 12

1.1.1 Thời một- Nghiên cứu cá nhân 12

1.1.2 Thời hai- Hợp tác với bạn 13

1.1.3 Thời ba-Hợp tác với thầy, học thầy, tự kiểm tra, tự điều chỉnh 14

1.2 XU THẾ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC ĐIỆN TỬ SỐ: 15

1.3 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TRỰC QUAN: 16

1.3.1 Bản chất của phương pháp dạy học trực quan: 16

1.3.2 Vai trò của phương tiện trực quan trong quá trình dạy học: 18

1.3.3 Ý nghĩa của phương tiện trực quan trong quá trình dạy học: 18

1.4 PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC: 19

1.4.1 Khái niệm: 19

1.4.2 Phân loại phương tiện dạy học: 22

1.5: CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC: 27

1.5.1: Tác động của công nghệ thông tin đối với các thành tố của quá trình dạy học: 27

1.5.2: Lợi ích của việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học: 32

1.6 MẠNG MÁY TÍNH, INTERNET VÀ WEBSITE – KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG TRONG DẠY HỌC: 33

CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU VỀ WEBSITE TRONG DẠY HỌC 37

2.1: KHÁI NIỆM VỀ WEBSITE: 37

2.2 ĐẶC TRƯNG CỦA WEBSITE DẠY HỌC: 38

2.3 KHẢ NĂNG HỖ TRỢ CỦA WEBSITE TỚI HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC: 39

2.4 CÁC YÊU CẦU SƯ PHẠM VÀ QUY TRÌNH THIẾT KẾ WEBSITE DẠY HỌC: 40

Trang 6

2.4.2: Các quy trình thiết kế Website dạy học: 42

2.5 NHỮNG HẠN CHẾ KHI SỬ DỤNG WEBSITE DẠY HỌC: 43

CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG WEBSITE HỖ TRỢ DẠY HỌC PHẦN KIẾN THỨC “CÁC CỔNG LOGIC CƠ BẢN” TRONG CHƯƠNG TRÌNH ĐIỆN TỬ SỐ CỦA NGÀNH ĐIỆN TỬ VIỄN THÔNG 45

3.1 GIỚI THIỆU VỀ MÔN HỌC ĐIỆN TỬ SỐ: 45

3.2 ĐĂNG NHẬP HỆ THỐNG 46

3.3: QUẢN LÝ BẢI VIẾT: 48

3.3.1: Bài viết chung: 48

3.3.2: Thay đổi nội dung bài viết của Menu giới thiệu 55

3.4 THAY ĐỔI NỘI DUNG BÀI VIẾT CỦA MENU LIÊN HỆ: 56

3.5 QUẢN LÝ MODULE: 58

3.5.1 Tạo mới module: 59

3.5.2 Thay đổi thông tin địa chỉ: 61

3.6 QUẢN LÝ: 63

3.6.1 Quản lý thành viên: 63

3.6.2: Thiết lập cấp quyền sử dụng cho user account: 65

3.7: QUẢN LÝ MENU: 68

3.7.1 Sửa tên menu: 68

3.7.2 Thêm mới menu: 69

3.8 WEBSITE HỖ TRỢ DẠY HỌC PHẦN “ĐIỆN TỬ SỐ”: 72

3.9: KHẢO NGHIỆM: 83

3.9.1.Mục đích: 83

3.9.2 Phương pháp khảo nghiệm: 83

3.9.3 Đối tượng khảo nghiệm: 83

3.9.4 Kết quả khảo nghiệm: 83

KẾT LUẬN 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 7

MỤC LỤC HÌNH ẢNH

Hình 1 Cấu trúc của phương tiện/ Phương tiện dạy học 21

Hình 2 Phân loại phương tiện theo hệ thống ký hiệu sử dụng 23

Hình 3 Phương tiện tương tự, phương tiện số 25

Hình 4 Các loại phương tiện theo “hình nón tư duy” của E.DALE 26

Hình 5 Chức năng của máy tính và phương tiện trong quá trình dạy học 27

Hình 6 Môi trường dạy học truyền thống 29

Hình 7 Môi trường dạy học mới 30

Hình 8 Cách đăng nhập vào hệ thống 48

Hình 9 Phần quản trị website 49

Hình 10 Các nút trong quản trị nội dung trang website 49

Hình 11 Mục quản lý bài viết 50

Hình 12 Danh sách các bài viết 51

Hình 13 Cách thêm mới bài viết 52

Hình 14 Danh sách các bài viết 53

Hình 15 Cách sửa bài viết 54

Hình 16 Cách sửa nội dung bài viết 55

Hình 17 Cách chèn danh mục ảnh 56

Hình 18 Cách sửa đổi nội dung bài viết của Menu giới thiệu 58

Hình 19 Cách sửa đổi nội dung bài viết của Menu liên hệ 58

Hình 20 Cách sửa đổi nội dung liên hệ 60

Hình 21 Quản lý module 61

Hình 22 Tạo mới module 62

Hình 23 Điều chỉnh module 62

Hình 24 Thay đổi thông tin địa chỉ 63

Hình 25 Quản lý thành viên 65

Hình 26 Các tạo thành viên mới 66

Trang 8

Hình 28 Thêm mới thành viên 67

Hình 29 Quyền quản trị website 68

Hình 30 Sửa tên menu 70

Hình 31 Quản lý menu 70

Hình 32 Thêm mới menu 71

Hình 33 Giao diện bài viết 72

Hình 34 Giao diện bài viết chuẩn 73

Hình 35 Cách xóa menu 74

Trang 9

PHẦN 1: TỔNG QUAN

1 Giới thiệu

Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, các ứng dụng vềcông nghệ thông tin đã từng bước xâm nhập và có mặt ở hầu hết các lĩnh vực trong đờisống con người Giáo dục cũng không phải là ngoại lệ, việc sử dụng công nghệ thôngtin với tư cách như là phương tiện hỗ trợ dạy học đã trở thành một trào lưu mạnh mẽvới quy mô quốc tế và đó cũng chính là một xu thế của giáo dục thế giới trong giaiđoạn hiện nay

Ở nước ta, việc đưa những thành tựu nổi bật của công nghệ thông tin vào nhằm đổimới phương pháp dạy học ở các trường đại học, cao đẳng là một chủ trương lớn của

Bộ giáo dục và đào tạo Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2012-2013 cũng nhấnmạnh: Các ứng dụng công nghệ thông tin sẽ trở thành thiết bị dạy học chủ đạo tronggiảng dạy Trong những năm gần đây, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học

đã mang lại hiệu quả cao hơn so với phương pháp dạy học truyền thống Một trongnhững hướng ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học tỏ ra khá hiệu quả và đượckhá nhiều người quan tâm, đó là xây dựng và sử dụng Website hỗ trợ dạy học

2 Lý do chọn đề tài

Các ứng dụng của Website hỗ trợ dạy học với sự trợ giúp của máy vi tính vàInternet là một thế mạnh trong việc hỗ trợ giảng dạy của giáo viên, đồng thời gópphần rèn luyện khả năng tự học của người học Đây thực sự đã trở thành cầu nốigiữa giáo viên và sinh viên, đồng thời giải quyết được rất nhiều vấn đề mà vớiphương pháp dạy học truyền thống chưa giải giải quyết được một cách triệt để.Phần kiến thức “Các cổng logic cơ bản” là chương đầu trong bộ môn Điện tử

số, nội dung chương này đề cập đến các kiến thức quan trọng như các cổng AND,

OR, NOT các khái niệm, kí hiệu và bảng chân lý Khi giảng dạy và học tậpchương này giáo viên và sinh viên gặp khá nhiều trở ngại Nội dung học tập khátrừu tượng nên việc sinh viên tiếp thu, lĩnh hội những kiến thức gặp phải nhiều khó

Trang 10

kiến thức của sinh viên diễn ra khá thụ động Do đó để nâng cao chất lượng học tậpcủa sinh viên, giúp sinh viên lĩnh hội kiến thức một cách dễ dàng hơn thì việc trựcquan hóa các nội dung trong bộ môn Điện tử số là một nhu cầu cần thiết khi giảngdạy.

Để góp phần đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng

dạy học học phần “Điện tử số”, nhóm chúng em đã chọn đề tài: Xây dựng và sử

dụng Website hỗ trợ dạy học phần kiến thức “Các cổng logic cơ bản” trong chương trình Điện tử số cho sinh viên viện sư phạm kỹ thuật ngành Điện tử viễnthông, giúp trực quan hóa người học và nâng cao khả năng tự học của người học đểthực hiện đồ án tốt nghiệp

3 Mục đích nghiên cứu

Để cung cấp cho giáo viên trình tự cách xây dựng một bài giảng trực tuyến theonghiên cứu trường hợp, đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học trongtrương trình đào tạo mới Ngoài ra còn đóng góp một số nội dung:

 Nội dung bài: Các cổng logic cơ bản

 Nguyên tắc thiết kế Website dạy học

 Cách sử dụng cơ bản phần mềm

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Quá trình dạy học môn học Điện tử số

Phần mềm thiết kế Website dạy học Joomla được viết bằng ngôn ngữ PHP và sửdụng cơ sở dữ liệu my SQL

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Tìm hiểu chương trình môn kỹ thuật xung – số, tìm hiểu nội dung tiết học: “Cáccổng logic cơ bản”

Phân tích, tổng hợp, so sánh

Trang 11

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp điều tra, phỏng vấn, trao đổi trực tiếp

Phương pháp quan sát

Các phương pháp khác.

6 Dự kiến kết quả nghiên cứu

Xây dựng Website dạy học trực tuyến

Vận dụng vào xây dựng bài học trực tuyến theo nghiên cứu trường hợp cho nội dung: Các cổng logic cơ bản trong môn “ Điện tử số ”

Trang 12

PHẦN 2: NỘI DUNG CỦA ĐỒ ÁN

Chương 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG

VÀ SỬ DỤNG WEBSITE TRONG DẠY HỌC

1.1.Định hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay trong dạy học nói chung

Đổi mới phương pháp dạy học luôn là vấn đề được quan tâm nhiều nhất tronglĩnh vực giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu xãhội Phương thức chung của dạy học hiện nay là “quy trình dạy học tích cực, lấy ngườihọc làm trung tâm Tổ hợp các thao tác tự học của trò dưới tác động của thầy được tiếnhành theo trình tự ba thời, nhằm đạt mục đích giáo dục” Những mục tiêu được cụ thểhoá dưới dạng một hệ thống vấn đề hay tình huống, số lượng tình huống nhiều hay ít làtuỳ thuộc vào tính chất của mục tiêu và thời lượng dành cho mục tiêu đó Hệ thốngtình huống, vấn đề phải đảm bảo định hướng được cho người học tự lực tìm hiểu, phântích, xử lý tình huống để tự mình khám phá ra kiến thức mới, từ những kiến thứcngười học đã biết Hoạt động lĩnh hội của sinh viên được tiến hành thông qua ba thờisau đây:

1.1.1 Thời một- Nghiên cứu cá nhân

Theo hướng dẫn của giáo viên, người học tự đặt mình vào vị trí của người tựnghiên cứu, tự tiến hành khám phá tìm ra kiến thức mới, giải pháp mới bằng cách tựlực suy nghĩ xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề thầy đã đặt ra cho mình, theotrình tự sau:

Trang 13

- Định hướng giải quyết vấn đề.

- Thu thập thông tin

- Ghi lại cách nghiên cứu và kết quả

Sau thời một, người học đã tự mình tìm ra cách xử lý tình huống, vấn đề mà thầyđặt ra, bằng hành động của mình người học đã tạo ra sản phẩm giáo dục ban đầu,nhưng sản phẩm này còn là sản phẩm thô

1.1.2 Thời hai- Hợp tác với bạn

“Sản phẩm ban đầu” thật sự có giá trị và ý nghĩa đối với người học vì đó là kết quảđạt được do hoạt động của bản thân sinh viên, song nó lại dễ mang tính chủ quan,phiến diện Để trở thành khách quan, khoa học hơn, sản phẩm đó phải thông qua sựđánh giá, phân tích, sàng lọc, bổ sung của cộng đồng các chủ thể - lớp học, tức là phảihợp tác với các bạn, học bạn thông qua các hình thức trao đổi cá nhân, thảo luậnnhóm- lớp Dù ở hình thức nào, chủ thể không thụ động chỉ nghe bạn nói, nhìn bạnlàm mà phải tích cực, chủ động tự thể hiện mình theo trình tự sau:

- Tự đặt mình vào các tình huống, tập sự sắm vai, đưa ra cách xử lý tình huống,giải quyết vấn đề

- Tự thể hiện mình bằng văn bản, ghi lại kết quả xử lý của mình

- Tự trình bày, giới thiệu, bảo vệ sản phẩm ban đầu của mình

- Tỏ rõ thái độ, quan điểm của mình trước chủ kiến của bạn: Đúng- sai, hay- dở,tham gia tranh luận

Trang 14

Khai thác những gì đã hợp tác với bạn, bổ sung, điều chỉnh sản phẩm ban đầu củamình thành một sản phẩm tiến bộ hơn

Sau thời hai, chủ thể đã hợp tác với các bạn bằng cách tự thể hiện mình qua cácthao tác trên đây và đã sử dụng tất cả những gì là khách quan, khoa học của các sảnphẩm cá nhân của các bạn, để hoàn thiện hơn sản phẩm ban đầu của mình

Song trong hoạt động và thảo luận tập thể, thường xảy ra tình thế: cả lớp gặp phảinhững vấn đề nan giải, khó phân biệt đúng sai, khó đi đến kết luận khoa học Lúc này,người giáo viên chính là người trọng tài khoa học kết luận cuộc thảo luận của lớpthành một bài học thật sự khoa học từ những gì học sinh đã tự mình tìm ra Do đó chủthể sinh viên phải học thầy và biết cách học thầy

1.1.3 Thời ba-Hợp tác với thầy, học thầy, tự kiểm tra, tự điều chỉnh

Sinh viên đã học thầy từ thời một: thay thế cho bài giảng có sẵn, thầy đã đặt tròtrước một hệ thống tình huống và định hướng cho trò tự mình xử lý tình huống, tròphải nắm được và học theo những gì thầy đã hướng dẫn Ở thời hai, thầy là người tổchức, đạo diễn cho tập thể lớp thảo luận, hoạt động tập trung vào mục tiêu tìm “cáichưa biết” của chủ đề giáo dục, trò không những học được kiến thức qua các hoạtđộng định hướng của thầy mà còn học được cách tổ chức, đạo diễn cho tập thể lớphoạt động Ở thời ba, thầy lại là người trọng tài kết luận về những gì cá nhân và tập thểlớp đã tự tìm ra thành bài học khoa học Học thầy là học nội dung bài học thầy đã kếtluận với các cách ứng xử của thầy để đi đến kết luận

Lúc học thầy, sinh viên cũng phải giữ vai trò chủ thể tích cực, chủ động: không thụđộng nghe thầy kết luận, giảng giải mà tích cực học thầy và biết cách học thầy, bằnghành động của chính mình, theo trình tự các thao tác sau đây:

- Tự lực xử lý tình huống, giải quyết vấn đề theo sự hướng dẫn của thầy,

- Chủ động hỏi thầy và biết cách hỏi thầy về những gì mình có nhu cầu, nhất là vềcách học, cách làm

Trang 15

- Học cách ứng xử của thầy trước những tình huống gay cấn nổi lên trong quá trìnhhoạt động tập thể, cách phân tích, tổng hợp các ý kiến khác nhau để đi đến kết luận…

- Dựa vào kết luận của thầy, tự kiểm tra, tự đánh giá, tự điều chỉnh sản phẩm banđầu của mình thành sản phẩm khoa học

Cần tiến hành tự kiểm tra, tự điều chỉnh theo trình tự các thao tác sau đây:

- So sánh, đối chiếu kết luận của thầy và ý kiến của các bạn với sản phẩm ban đầucủa mình: đúng-sai, hay-dở, đủ-thiếu…

- Kiểm tra lý lẽ, tìm kiếm luận cứ, thâm nhập thực tiễn, để có cơ sở chứng minhđúng hay sai

1.2 Xu thế đổi mới phương pháp dạy học điện tử số

Mục tiêu giáo dục trong thời đại mới là không chỉ dừng lại ở việc truyền thụnhững kiến thức, kỹ năng có sẵn cho người học mà điều quan trọng là phải bồi dưỡngcho người học năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề Trong quá trình dạy học,cùng với những thay đổi về mục tiêu, nội dung, cần có những thay đổi căn bản vềphương pháp dạy học Phương pháp dạy học hiện nay là giáo viên cung cấp cho sinhviên những tri thức có sẵn, thiếu yếu tố tìm tòi, phát hiện; việc giáo viên áp đặt kiếnthức khiến sinh viên thụ động trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Điều này dẫn tới nhucầu cần phải đổi mới phương pháp dạy học môn Điện tử số nhằm đáp ứng yêu cầu

Trang 16

Hướng đổi mới phương pháp dạy học trong giai đoạn hiện nay là: "Phương

pháp dạy học cần hướng vào việc tổ chức cho sinh viên học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo, được thực hiện độc lập hoặc trong giao lưu” [10]

- Xác lập vị trí chủ thể của sinh viên, đảm bảo tính tự giác, tích cực và sáng tạo củasinh viên

- Quá trình dạy học là xây dựng những tình huống có dụng ý sư phạm cho sinh viênhọc tập trong hoạt động và bằng hoạt động, được thực hiện độc lập hoặc trong giaolưu

- Dạy cách học, dạy tự học thông qua toàn bộ quá trình dạy học

- Chế tạo và khai thác những phương tiện phục vụ quá trình dạy học

- Tạo niềm lạc quan học tập dựa trên lao động và thành quả của sinh viên

- Xác định vai trò mới của giáo viên với tư cách người thiết kế, uỷ thác, điều khiển vàthể chế hoá

Môn học điện tử số (Digital electronic) là một môn học thuộc ngành Điện tử viễn thông nhằm trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về các vi mạch số, thiết

-kế và phát triển các mạch tích hợp và chất bán dẫn (Hollywood gọi chúng là những vimạch) Nó là những mảnh nhỏ của những phần cứng đã tạo nên sức mạnh to lớn trongngành điện tử Môn học này đòi hỏi tính tư duy và logic cao, vì vậy yêu cầu ở ngườihọc phải nắm vững được các môn nền tảng như toán học, cấu kiện điện tử, điện tửtương tự 1… đồng thời đòi hỏi ở người học cũng cần biết sử dụng một số phần mềmnhằm hỗ trợ cho việc vẽ và thiết kế các mạch điện tử số để có thể thiết kế hoặc biếtcách sử dụng, diều khiển các mạch điện tử trên máy tính

1.3 Phương pháp dạy học trực quan

1.3.1 Bản chất của phương pháp dạy học trực quan

Trang 17

dạy học giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện các biện pháp quan sát sự vật, hiệntượng hay hình ảnh của chúng để trên cơ sở đó mà hình thành khái niệm, tạo biểutượng, từ đó giúp học sinh lĩnh hội các khái niệm, định luật, thuyết khoa học.v.v… Phương pháp dạy học trực quan là phương pháp giảng dạy bằng sự giới thiệu,lời nói bằng hình ảnh cụ thể, bằng cảm giác trực tiếp của học sinh với sự hướng dẫncủa giáo viên Nhằm hình thành các kỹ năng, kỹ xảo, đảm bảo việc giáo dục, phục vụmục đích dạy học và giáo dục.

Phương pháp dạy học trực quan được sử dụng trong dạy học điện tử số, đượcxem là một phương pháp diễn tả những nội dung về điện tử khách quan và mẫu mựcluôn luôn gắn liền với sự phát triển tư duy trừu tượng của học sinh

Như vậy có thể hiểu: Đồ dùng trực quan là hệ thống đối tượng vật chất và tất cảnhững phương tiện kỹ thuật được giáo viên và học sinh sử dụng trong quá trình dạyhọc

Người ta đã tổng kết vai trò của các giác quan trong quá trình nhận thức nhưsau:

Kiến thức thu nhận được: Qua nếm; qua sờ; qua ngửi; qua nghe; qua nhìn

Qua những gì mà ta nghe đượcQua những gì mà ta nhìn đượcQua những gì mà ta nghe và nhìn được Qua những gì mà ta nói được

Qua những gì mà ta nói và làm được

Vì vậy: Để quá trình nhận thức đạt hiệu quả cao thì cần phải thông qua quátrình nghe, nhìn và thực hành Muốn có được điều đó đồ dùng trực quan giúp cho quátrình nhận thức của sinh viên là cực kì quan trọng, vì vậy đồ dùng trực quan là khôngthể thiếu trong quá trình dạy học

Trang 18

1.3.2 Vai trò của phương tiện trực quan trong quá trình dạy học

Trong quá trình dạy học phương tiện trực quan là một trong những yếu tố thamgia tích cực vào quá trình cung cấp kiến thức cho sinh viên Nhờ các phương tiện trựcquan trong dạy học nên các nội dung học tập được trực quan hoá, giúp sinh viên tiếpthu một cách dễ dàng hơn các nội dung học tập Trong qúa trình dạy học người dạythường đưa ra những phương tiện trực quan và hệ thống câu hỏi khéo léo dẫn dắt chosinh viên lĩnh hội kiến thức mới, phương tiện trực quan có nhiều vai trò trong qúa trìnhdạy học, nó giúp cho giáo viên và sinh viên phát huy tối đa tất cả các giác quan củangười học trong quá trình dạy học, từ đó giúp người học nhận biết được các công thứckhó nhớ dễ nhầm lẫn và tái hiện được các khái niệm, quy luật làm cơ sở cho việc rútkinh nghiệm và áp dụng kiến thức đã học vào thực tế Các phương tiện dạy học trựcquan giúp cho sinh viên phát triển trí tưởng tượng, khả năng tư duy sáng tạo trong họctập, nhờ đó nâng cao kết quả học tập

1.3.3 Ý nghĩa của phương tiện trực quan trong quá trình dạy học

Thông qua việc sử dụng phương tiện trực quan sẽ phát huy tính tích cực củangười học từ đó dễ dàng thực hiện ba nhiệm vụ của giáo dục: Giáo dục, giáo dưỡng vàphát triển sinh viên thông qua những hình ảnh “ trực quan sinh động” kết hợp với lờigiảng của giáo viên sẽ có những khái niệm, biểu tượng chính xác về nghiên cứu và tìmhiểu sách giáo khoa

Các phương tiện dạy học trực quan không chỉ tạo biểu tượng mà còn là chổ dựavững chắc cho việc nắm nội dung, những nét khái quát định hình hiểu sâu sắc bài Nó

là phương tiện có hiệu quả để hình thành khái niệm và làm cho sinh viên nắm đượcnhững gì cần thiết

Phương tiện dạy học trực quan không chỉ tạo biểu tượng mà còn là chổ dựavững chắc trong những nét khái quát định hình, hiểu sâu sắc về điện tử Nó là phươngtiện hiệu quả để hình thành khái niệm và làm cho sinh viên nắm vững được bài hơn

Trang 19

Nhìn chung việc sử dụng phương tiện dạy học trực quan nhằm nâng cao chấtlượng hiệu quả giảng dạy học tập điện tử cho sinh viên ở viện Sư phạm kỹ thuật, gâyhứng thú cho sinh viên đối với việc tìm hiểu nội dung, làm cho các em dễ hiểu, gợi trí

tò mò và óc tưởng tượng cần thiết

1.4 Phương tiện dạy học

1.4.1 Khái niệm

Phương tiện là một hệ thống ký hiệu được người gửi xây dựng và ghi nhớ từcác hệ thống ký hiệu khác (ký tự âm thanh, biểu tượng, đồ họa, tranh ảnh ) nhằmtruyền đạt một nội dung đến người nhận và nội dung chứa trong các ký hiệu đó để traođổi tranh luận với người nhận về:

- Thể hiện tư duy của người gửi

- Mục tiêu cần đạt được theo ý của người gửi

- Phương pháp người gửi đã lựa chọn

- Phương tiện dạy học là một cấu trúc ký hiệu được lưu trữ, do người dạy chủđộng tạo lập và lựa chọn sử dụng nhằm:

- Truyền đạt nội dung đến người học

- Trao đổi tranh luận với người học về nội dung đó

Trang 20

Hình 1 Cấu trúc của phương tiện/ Phương tiện dạy học

Với hình vẽ trên chúng ta nên hiểu:

Người giáo viên có thể xây dựng và chọn lựa cho sinh viên theo quan niệm, sựnhận thức về lý luận và phương pháp

Sau đấy người học với những giác quan, trí tuệ của họ có thể cảm nhận được Từ đóphát hiện những tin tức, nội dung chứa đựng bên trong và có thể cùng nhau trao đổi,thảo luận

Ví dụ:

Trang 21

Phương tiện là các cấu trúc ký hiệu được bố cục và trong đó có chứa đựng nội dung,mang lại sự thống nhất về những hình ảnh tư duy giữa người tạo ra phương tiện vàngười nhận phương tiện đó Nhờ đó trong khái niệm phương tiện chỉ bao hàm nhữngthành phần nội dung cơ bản, không chứa đựng những yếu tố kỹ thuật

Trong khái niệm của McLUHAN, cấu trúc ký hiệu được xây dựng và chứa đựngnội dung không được hiểu là phương tiện mà chỉ có thành phần nội dung được coi làphương tiện “Phương tiện là tin tức, thông điệp.” trong quan niệm này, chỉ có nhữngyếu tố tạo nên sự thống nhất giữa thế giới tư duy của con người tạo nên nội dung vàtiếp nhận nội dung được đặt ở vị trí trung tâm

Khái niệm của ARMBRUSTER, một cách chung nhất phương tiện được địnhnghĩa thông qua một bộ mã hoặc một hệ thống ký hiệu, một nội dung trình bày(chủ đề,lời bình luận) một hình thức trình bày xác định của bản tin và được truyền đạt trên mộtkênh truyền từ người gửi đến người nhận

Trang 22

Quan điểm của ORTNER, bản thân phương tiện cũng có ảnh hưởng nhất định Tuynhiên ảnh hưởng đó không xuất phát từ khía cạnh kỹ thuật mà xuất phát từ các thôngtin và trước hết từ các yếu tố con người.

 Phương tiện dạy học là tất cả những cái có thể truyền tải nội dung, tin tức trongtình huống dạy và học

1.4.2 Phân loại phương tiện dạy học

1.4.2.1 Phân loại theo hệ thống ký hiệu sử dụng

Hình 2 Phân loại phương tiện theo hệ thống ký hiệu sử dụng

1.4.2.2 Phân loại theo cách thức tạo dựng và trình diễn

Phương tiện sơ cấp: là những phương tiện mà không cần các thiết bị để tạo dựng vàtrình diễn

Phương tiện thứ cấp: là những phương tiện cần sử dụng thiết bị chỉ để tạo dựng hoặc

để trình diễn

Trang 23

Phương tiện cao cấp: là những phương tiện cần sử dụng thiết bị cho cả việc xây dựng

và trình diễn

Ví dụ: các trình chiếu Power Point, các mô phỏng, các đoạn phim hoạt hình…

1.4.2.3 Phân loại theo phương thức tác động

Phương tiện độc lập: là những phương tiện có thể được sử dụng riêng lẻ, không cầnkết hợp với các loại phương tiện khác (ví dụ: các cuốn sách…)

Phương tiện tích hợp: là những phương tiện được sử dụng tích hợp vào trong bài giảngcủa giáo viên (ví dụ: các video-clip, tranh ảnh tĩnh động…)

Phương tiện kết hợp: là những phương tiện được sử dụng kết hợp cùng với các loạiphương tiện khác (ví dụ ngoài sách giáo khoa chúng ta có thể sử dụng kết hợp cácphần mềm dạy học, các phần mềm mô phỏng… phục vụ cho quá trình dạy- học)

Trang 24

1.4.2.4 Phân loại theo cách thức lưu trữ

Hình 3 Phương tiện tương tự, phương tiện số

Trang 25

1.4.2.5 Phân loại theo trình độ phát triển tư duy

Hình 4 Các loại phương tiện theo “hình nón tư duy” của E.DALE

Phương tiện định hướng hành động: là tất cả vật thay thế “sự giới thiệu lại” của hiện thực, ở đó những hành động thử nghiệm có thể được thực hiện (ví dụ các mô hình cho quá trình mô phỏng)

Phương tiện hình tượng: là tất cả vật thay thế “sự giới thiệu lại” của hiện thực là nhữngvật có thể được cảm nhận bằng trực quan, âm thanh, xúc giác… (ví dụ tranh ảnh tĩnh -động, sự ghi nhớ bằng âm thanh, tranh nổi…)

Phương tiện biểu tượng: là tất cả vật thay thế “sự giới thiệu lại” của hiện thực, phục vụcho các hệ thống ký hiệu với sự sắp xếp ý nghĩa thống nhất (ví dụ kí tự, ngôn ngữ, biểu tượng…)

Trang 26

1.4.3 Các chức năng của máy tính và phương tiện trong quá trình dạy học

Hình 5 Chức năng của máy tính và phương tiện trong quá trình dạy học

1.4.3.1 Chức năng là đối tượng nhận thức

Bản chất của chức năng này là người học muốn tiếp thu những kiến thức về cấu tạo,chức năng của máy tính; khả năng làm việc, thao tác với máy tính Khi đó máy tính,các phương thức làm việc có sự trợ giúp của máy tính sẽ là đối tượng nhận thức củangười học mà người học muốn chiếm lĩnh (ví dụ: các môn học trong lĩnh vực côngnghệ thông tin, tin học văn phòng )

Từ những yêu cầu trên của người học, có hai cách thức tiến hành mang tính nguyên tắc

và sư phạm sau:

- Để tiếp thu những kiến thức về cấu tạo và tính năng của máy tính, chúng ta phải

tìm hiểu, đi từ cái tổng thể đến cái chi tiết

Trang 27

- Để có thể có được khả năng ứng dụng các hiểu biết này vào những tình huống

cụ thể, chúng ta phải đi từ vấn đề cụ thể, từ đó nắm bắt được những vấn đềmang tính hệ thống tổng quát

1.4.3.2 Chức năng điều khiển việc học tập (như một “giáo viên”)

Bản chất của chức năng này là hỗ trợ khả năng tự học của học sinh Khi đó máy tính

và các phần mềm dạy học sẽ đóng vai trò như một giáo viên thực hiện chức năng điều khiển quá trình học tập của học sinh bao gồm: truyền đạt kiến thức, kiểm tra đánh giá kết quả Ở đây chúng ta sẽ phân biệt hai hình thức điều khiển quá trình học tập của học sinh bao gồm:

- Điều khiển từ bên ngoài

- Học sinh tự điều khiển

1.4.3.3 Chức năng như một công cụ

Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ như hiện nay, cùng với những yêu cầu mới trong lĩnh vực Giáo dục - Đào tạo thì máy tính còn được sử dụng như mộtcông cụ không thể thiếu trong việc trợ giúp giáo viên cũng như người học thực hiện các công việc trong quá trình dạy-học như : xử lý, lưu trữ, cung cấp dữ liệu; thông tin liên lạc; minh họa trình bày thông tin; mô hình hóa, mô phỏng; xây dựng, tổ chức, tiến hành các điều kiện cần thiết cho các hình thức dạy và học khác nhau (Online, face to face, e-Learning )

- Công cụ minh họa

- Công cụ xây dựng mô hình mô phỏng

- Công cụ thông tin liên lạc

- Công cụ lưu trữ và cung cấp thông tin

- Công cụ thiết kế, sắp xếp

- Công cụ tổ chức

Trang 28

1.4.3.4 Chức năng tổng hợp

Trong thực tế thì các chức năng của máy tính và phương tiện trong quá trình dạy-học được trình bày ở trên có thể kết hợp với nhau để tạo ra những ứng dụng phức tạp và hoàn thiện Một số ứng dụng cụ thể như :

- Cổng đào tạo điện tử (Edu Portal)

- Môi trường dạy-học điện tử

1.5 Công nghệ thông tin trong đổi mới phương pháp dạy học

1.5.1 Tác động của công nghệ thông tin đối với các thành tố của quá trình dạy học

Trong dạy học truyền thống, môi trường dạy học được mô tả như hình 1.1:

Hình 6 Môi trường dạy học truyền thống

Trong hình 1.2 ta nhấn mạnh vị trí trung tâm của cá nhân sinh viên, trong đó cólàm rõ hơn các yếu tố mới trong môi trường dạy học có sự hỗ trợ của CNTT&TT

Trang 29

Hình 7 Môi trường dạy học mới

Với sự tham gia của công nghệ thông tin và truyền thông, môi trường dạy họcthay đổi, nó có tác động mạnh mẽ tới mọi thành tố của quá trình dạy học gồm: Mụctiêu dạy học; nội dung dạy học; phương pháp dạy học, hình thức dạy học, phương tiệndạy học và kiểm tra, đánh giá… Có thể nói, công nghệ thông tin có tác động to lớntrong việc đổi mới phương pháp dạy học

- Tác động của việc sử dụng công nghệ thông tin với mục tiêu và nội dung dạy học:

Khi sử dụng máy vi tính như một phương tiện dạy học vấn đề đặt ra là điềuchỉnh lại những yêu cầu về kỹ năng trong khi dạy một loạt chủ đề của nội dung củamôn học Dưới đây là ví dụ về việc ảnh hưởng của công nghệ thông tin với mục tiêu,nội dung môn Toán học:

Trong hoạt động toán học, có những việc đòi hỏi phải tư duy, nhưng cũng cónhững việc trung gian chỉ đòi hỏi một loại công việc đơn điệu nào đó như tính toán, vẽhình Những việc này lại cần thời gian, sức lực và kết quả có thể không chính xác Cóthể lược bỏ yêu cầu rèn luyện thuần tuý các kỹ năng làm việc có tính đơn điệu, khôngđòi hỏi tư duy đó Khi sinh viên được giải phóng khỏi các công việc này thì khả năng

Trang 30

thông đã tác động trực tiếp dẫn đến xu hướng tăng cường các hoạt động để sinh viên

có điều kiện hiểu sâu hơn hoặc mở rộng hơn về nội dung kiến thức Toán học

Tuy nhiên, những yêu cầu gắn với việc rèn luyện các thao tác trí óc thì khôngthể giảm nhẹ được, dù cho có thể dùng máy tính thay thế chúng Chẳng hạn việc tínhnhẩm, việc dạy sinh viên thuộc các bảng cộng và nhân trong dạy học toán vẫn hết sứcquan trọng Cùng với việc giảm bớt một số yêu cầu, nội dung, do thời gian được tiếtkiệm, ta lại cần xem xét việc đưa thêm các nội dung mới Các nội dung mới này đượcđưa vào tuỳ theo nhu cầu của bản thân môn học và của thực tiễn

Tóm lại, trong việc xây dựng chương trình môn Toán sẽ có khá nhiều thay đổi về mụcđích, yêu cầu, nội dung dạy học

- Tác động của việc sử dụng công nghệ thông tin với việc rèn luyện kỹ năng, củng cố,

ôn tập kiến thức cũ:

Ngày nay các phần mềm dạy học (PMDH) đã trở nên rất phong phú, đa dạng,trong đó có rất nhiều phần mềm có thể khai thác để rèn luyện kỹ năng thực hành chosinh viên Chẳng hạn với các phần mềm trắc nghiệm, học sinh được cung cấp một khốilượng câu hỏi mà để trả lời được học sinh phải thực sự nắm được kiến thức cơ bản vàđạt được kỹ năng thực hành đến một mức độ nhất định Như vậy, việc luyện tập và tựkiểm tra đánh giá của học sinh không còn bị hạn chế về mặt thời gian và nội dung nhưcác phương pháp kiểm tra thông thường

- Tác động của việc sử dụng công nghệ thông tin trong việc rèn luyện, phát triển tư duy môn học điện tử số:

Nhiều người lo ngại máy vi tính với các chức năng “trong suốt” đối với người

sử dụng nên sinh viên không có sự gắn kết giữa hình tượng tính toán trong não vớithực hiện tính toán trên máy vi tính Một số bước trung gian được máy vi tính thựchiện do đó mất cảm giác thuật toán Tại hội nghị nghiên cứu toán học thế giới lần thứ 3

đã tiến hành thảo luận xung quanh vấn đề nghi ngại trên Khi nghiên cứu việc dạy họcđiện tử số với phần mềm Notpad++ sử dụng ngôn ngữ lập trình Sql đã khẳng định vai

Trang 31

bằng những minh họa trực quan hoàn hảo Như vậy dạy điện tử số với hỗ trợ của máy

vi tính đã cho phép giáo viên tạo môi trường để phát triển khả năng suy luận , tư duylogic, tư duy thuật toán, đặc biệt là năng lực quan sát, mô tả, phân tích so sánh chosinh viên Sinh viên sử dụng máy vi tính và phần mềm để tạo ra các đối tượng trongmôn học, sau đó tìm tòi khám phá các thuộc tính ẩn chứa bên trong đối tượng đó.Chính từ quá trình mò mẫm, dự đoán học sinh đi đến khái quát hoá, tổng quát hoá và

có nhiều điều kiện để áp dụng rộng rãi Trước kia, người ta nhấn mạnh tới phươngpháp dạy (dạy sao cho sinh viên nhớ lâu, dễ hiểu), thì nay phải đặt trọng tâm là hìnhthành và phát triển cho sinh viên các phương pháp học Trước kia thường quan tâmnhiều đến khả năng ghi nhớ kiến thức và thành thục kĩ năng vận dụng, nay cần chútrọng đặc biệt đến phát triển năng lực sáng tạo của sinh viên Việc chuyển từ “lấy giáoviên làm trung tâm” sang “lấy người học làm trung tâm” sẽ trở nên dễ dàng hơn trongviệc phát triển năng lực sáng tạo cho sinh viên

Các nhà giáo dục thường nói nhiều tới việc tổ chức hoạt động sáng tạo, tíchcực, tự lực cho sinh viên Trong điều kiện các phương tiện dạy học truyền thốngnhững biện pháp nhằm tích cực hoá người học chỉ đạt được những kết quả nhất định.Máy vi tính và internet sẽ tạo ra một môi trường hoạt động cho sinh viên Sinh viên làchủ thể hoạt động, tác động lên các đối tượng thuộc môi trường, nhờ đó sinh viênchiếm lĩnh được những tri thức và kĩ năng mới Với Internet, sinh viên có thể tự tracứu thông tin ở các thư viện điện tử, cập nhật các thông tin mới mẻ, trao đổi với cácsinh viên và giáo viên ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới vào thời điểm bất kỳ Đối

Trang 32

bởi nguồn tri thức (hầu như duy nhất) của giáo viên trên lớp và cuốn sách giáo khoahàng năm nữa, điều đó mở ra khả năng phát triển năng lực tự học, tự tìm kiếm tri thức,làm việc độc lập của từng sinh viên.

Trong tình hình đó, vai trò của giáo viên vẫn hết sức quan trọng, tuy nhiên, giáoviên không là nguồn tri thức duy nhất nữa, mà giáo viên giữ vai trò hướng dẫn, chỉđạo Quan hệ giáo viên và sinh viên trong bối cảnh mới cũng sẽ khác với truyền thống,chuyển từ vai trò người chuyển tải tri thức sang vai trò người cố vấn, trợ giúp Giáoviên đóng vai trò tổ chức, điều khiển, thông qua tác động lên cả sinh viên và môitrường công nghệ thông tin và truyền thông

Trong điều kiện các phương tiện dạy học truyền thống, giáo viên phải quan tâmtới rất nhiều sinh viên Vì thế, dù có cố gắng đến đâu, việc đảm bảo nguyên tắc phânhoá trong dạy học vẫn hạn chế Tất cả các chi tiết diễn biến của hoạt động học tập củamỗi sinh viên khó được giáo viên nắm bắt được và xử lí kịp thời Về lí luận, cần phảigiúp từng sinh viên làm việc theo đúng khả năng, phù hợp năng lực về tri thức và các

kĩ năng của mình, có nhịp độ làm việc phù hợp với cá nhân Điều này hoàn toàn có thểthực hiện được nếu có công nghệ thông tin và truyền thông trợ giúp Nhờ có sự hỗ trợcủa công nghệ thông tin và truyền thông, mỗi sinh viên đều có một “trợ giảng” riêng,

có thể được trợ giúp tại thời điểm khó khăn bất kì, đúng lúc với liều lượng thích hợp.Mỗi sinh viên đều có một phương án làm việc riêng, thực hiện nhiệm vụ phù hợp cánhân sinh viên đó (có thể giống nhưng cũng có thể khác tất cả các bạn khác), cácnhiệm vụ này được phần mềm dạy học hoạch định phù hợp Phần mềm dạy học được

sử dụng ở nhà cũng sẽ nối dài cánh tay của giáo viên tới từng gia đình sinh viên, khilàm bài tập trên máy vi tính, sinh viên sẽ được kiểm soát, được giúp đỡ và được đánhgiá tại chỗ Nhờ công nghệ thông tin (Dạy học Elening, không giáp mặt) sinh viênkhông cần phải lên lớp trực tiếp gặp giáo viên mà vẫn có thể trao đổi thông tin mộtcách chính xác và nhanh chóng

Các hình thức dạy học như dạy theo nhóm, dạy cá nhân cũng sẽ có những đổimới trong môi trường công nghệ thông tin và truyền thông Đó là: cá nhân làm việc tự

Trang 33

1.5.2 Lợi ích của việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học

1.5.2.1. Hiệu quả sử dụng các phương pháp dạy học tăng lên rõ rệt

Nhờ máy vi tính, người giáo viên có thể tổ chức các thực nghiệm ảo dành chosinh viên Thông qua một loạt các kết quả hoặc thông qua sự biến thiên của đối tượng,bằng suy luận có lí, học sinh có thể có những dự đoán về các tính chất, những quy luậtmới Các phương pháp dạy học hiện đại có điều kiện phát huy rất hiệu quả khi ứngdụng công nghệ thông tin và truyền thông

Do sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông, chúng ta đã có trongtay nhiều công cụ tốt hỗ trợ quá trình dạy học đặc biệt là một số phần mềm dạy học.Nhờ sử dụng các phần mềm dạy học này mà một số sinh viên trung bình, thậm chí sinhviên trung bình yếu cũng có thể hoạt động tốt trong môi trường học tập Sinh viênhoàn toàn có khả năng tìm hiểu các đối tượng, sự kiện toán học… thông qua tác độnglên đối tượng, xem xét và phân tích nó, có thể đưa ra các dự đoán về các mối quan hệmang tính quy luật Người giáo viên sẽ có điều kiện giúp được tất cả sinh viên rènluyện tốt năng lực sáng tạo, rèn luyện phương pháp nghiên cứu trong học tập Đây làmột tác dụng lớn của công nghệ thông tin và truyền thông trong quá trình đổi mớiphương pháp dạy học Nếu nhà giáo dục biết khai thác một cách thích hợp công nghệthông tin và truyền thông “trong đó bao gồm các phần mềm dạy học” thì có thể tạo ranhững đổi mới trong dạy học, sẽ có những thành tựu mới mà giáo dục truyền thốngchưa thể đạt được

1.5.2.2 Giảm vai trò của một số phương tiện dạy học truyền thống

Do xuất hiện máy tính vạn năng, xuất hiện các sách giáo khoa điện tử vì vậycác bảng tra cứu, sổ tay toán học, bàn tính gảy, thước tính …sẽ được xem xét lại (vềkhả năng tồn tại hoặc khả năng sử dụng trong các tình huống sư phạm hạn chế nào đó)

Tăng khả năng xây dựng môi trường đa phương tiện và môi trường làm việctrên Internet: Để nâng cao chất lượng dạy và học, cần hiểu rằng chỉ riêng máy vi tínhthì không đủ mà cần tăng cường nghiên cứu tạo ra môi trường đa phương tiện gồm có

Trang 34

Sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong quá trình thu thập và xử lýthông tin đã giúp hình thành và phát triển cho sinh viên cách giải quyết vấn đề hoàntoàn mới, đưa ra các quyết định trên cơ sở kết quả xử lý thông tin Cách học này tránhđược kiểu học vẹt, máy móc, nhồi nhét thụ động trước đây.

Trong quá trình học tập với sự trợ giúp của công nghệ thông tin và truyềnthông, sinh viên có điều kiện phát triển năng lực làm việc với cường độ cao một cáchkhoa học, đức tính cần cù, chịu khó, khả năng độc lập, sáng tạo, tự chủ và kỷ luật cao

Việc tự đánh giá, kiểm tra kiến thức bản thân bằng các phần mềm trên máy vitính cũng giúp sinh viên rèn luyện đức tính trung thực, cẩn thận, chính xác và kiên trì,khả năng quyết đoán

1.6 Mạng máy tính, Internet và Website – khả năng ứng dụng trong dạy học

Sự kết hợp của máy tính với các hệ thống truyền thông (Communication), đặcbiệt là viễn thông (Telecommunication) đã tạo ra sự chuyển biến có tính cách mạngtrong vấn đề tổ chức khai thác và sử dụng các hệ thống máy tính Mô hình tập trung

dựa trên các máy tính lớn với phương thức khai thác theo “lô” (Batch Processing) đã

được thay thế bởi một mô hình tổ chức sử dụng mới, trong đó các máy tính đơn lẻđược kết nối lại để thực hiện công việc Một môi trường làm việc nhiều người sử dụng

Trang 35

lý của tài nguyên và người sử dụng).

- Tăng độ tin cậy của hệ thống nhờ khả năng thay thế khi xảy ra sự cố đối với mộtmáy tính nào đó Điều này rất quan trọng đối với các ứng dụng thời gian thực

Những mục tiêu đó thật hấp dẫn, nhưng cũng phải từ thập kỷ 80 trở đi thì việckết nối mạng mới được thực hiện rộng rãi nhờ tỷ lệ giữa giá thành máy tính và chi phítruyền tin giảm đi rõ rệt, do sự bùng nổ của các thế hệ máy tính cá nhân Các máy tính

được nối với nhau thành mạng theo một cách thức nào đó được gọi là hình trạng

(Topolopy) của mạng, còn tập hợp các quy tắc, quy ước truyền thông thì được gọi là

giao thức (Protocol) của mạng, cả hình trạng và giao thức mạng tạo nên cấu trúc mạng Việc phân loại mạng là tuỳ thuộc vào các chỉ tiêu phân loại như “khoảng cách

địa lý”, “kỹ thuật chuyển mạch” hay “kiến trúc mạng” Nếu phân loại theo “kỹ thuậtchuyển mạch” ta có các loại mạng: mạng chuyển mạch kênh, mạng chuyển mạchthông báo, mạng chuyển mạch gói Nếu căn cứ vào “khoảng cách địa lý” thì ta có:mạng cục bộ, mạng đô thị, mạng diện rộng và mạng toàn cầu Vì khoảng cách địa lýđược dùng làm tiêu chí có tính tương đối, nên thực tế người ta hay nói đến hai loạimạng đó là :

- Mạng cục bộ LAN (Local Area Networks): là mạng được lắp đặt trong mộtphạm vi tương đối nhỏ, với khoảng cách lớn nhất giữa các máy tính nút mạng chỉtrong vòng vài chục km trở lại - Mạng diện rộng WAN (Wide Area Networks): phạm

vi của mạng có thể vượt qua biên giới quốc gia và thậm chí cả lục địa

Thuật ngữ Internet xuất hiện vào khoảng 1974 Đến đầu những năm 80, Bộ Quốcphòng Mỹ DoD (Department of Defense) đã quyết định tách ARPANET thành hai:phần quân sự gọi là Milnet, còn phần dân sự vẫn dữ tên là ARPANET Bước ngoặt đầu

Trang 36

ban khoa học Quốc gia NSF (National Science Foundation).

Trên thực tế không có một cơ quan nào quản lý tối cao cho toàn bộ mạngInternet Một tổ chức phi lợi nhuận tập hợp các cá nhân tự nguyện tham gia hoạt động,nhằm khuyến khích và phát triển, sử dụng Internet trên toàn thế giới Có vai trò chiphối tối cao các hoạt động của Internet là Hiệp hội Internet ISOC (Internet Society).Qua một số kết quả nghiên cứu mới nhất cho thấy, công nghệ thông tin đã cónhững bước phát triển mạnh mẽ theo cả chiều sâu lẫn chiều rộng, máy tính đã khôngcòn là một phương tiện quá quý hiếm mà đang trở thành một công cụ làm việc, giải tríthông dụng của con người không chỉ ở công sở mà ngay ở cả trong gia đình Thông tinđược số hoá ngày càng nhiều hơn, đa dạng hơn Không những thế, thông tin đó cònđược trao đổi qua lại nhờ các mạng máy tính đủ loại, được cài đặt ngày càng nhiềuhơn, hiện đại hơn Do nhận thức được vai trò của thông tin trong hoạt động văn hoá,

xã hội và kinh tế mà các tổ chức và doanh nghiệp đều tìm các biện pháp để xây dựng

và hoàn thiện các hệ thống thông tin nội bộ của mình Hệ thống đó phải luôn luônchính xác, tin cậy, hiệu quả, thông suốt và đảm bảo an toàn, an ninh trong mọi tìnhhuống Đặc biệt là hệ thống phải có khả năng truyền thông với thế giới bên ngoàithông qua mạng toàn cầu Internet khi cần thiết Để đạt được những mục tiêu như vậy,cần phải có sự thiết kế tổng thể mạng thông tin, dựa trên các yêu cầu nhiều mặt củađơn vị Từ đó, khái niệm mạng Intranet xuất hiện một cách chính thức, bên cạnh kháiniệm liên mạng Internet và càng ngày càng thu hút sự quan tâm của cả những người sửdụng lẫn các nhà cung cấp

Do HTML (Hyper Text Markup Language) với khả năng đặc tả chất lượng cao,

mà đơn giản nhờ phương tiện siêu văn bản, đang trở thành một cái đích hấp dẫn và có

tính khả thi, cùng với nó là giao thức truyền http và ngôn ngữ lập trình trên mạng-Java

(Sun) và các công cụ phát triển Web, nên người ta đang tiến hành một sự chuyển giaocông nghệ từ Internet sang Intranet Sự hội tụ về một chuẩn chung như vậy là một thực

tế không thể trốn tránh

Như vậy, các máy vi tính ngày nay không còn bị cô lập như trước đây nữa, nó có

Trang 37

ngành nghề khác nhau không còn quá xa xôi đối với người học Cho dù mỗi một quốcgia, mỗi một dân tộc, do những điều kiện hoàn cảnh khác nhau mà mức độ ứng dụngcông nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục cũng khác nhau, nhưng những hiệuquả tác động của nó lại có tính toàn cầu Dù muốn hay không nó cũng đang từng bướcxâm nhập vào nền giáo dục của tất cả các quốc gia trên thế giới.

Các khái niệm mạng máy tính, Internet, Website đang dần trở nên quen thuộc đốivới mọi người Trẻ em ngày nay đang được hưởng thụ những thành quả lớn lao màcông nghệ thông tin và truyền thông đã mang lại Giáo viên không còn là người độcquyền về tri thức nữa, người học đang đứng trước một kho tàng tri thức đồ sộ của nhânloại

Vì vậy, một trong những nội dung quan trọng cần đào tạo cho thế hệ trẻ ngày nay

là hình thành và phát triển ở họ những kỹ năng sàng lọc, tìm kiếm thông tin, tránh sựtụt hậu về văn hoá số (Digital divide), thích ứng nhanh chóng với sự phát triển của xãhội

Mạng máy tính, Internet, Website đã được ứng dụng trong giáo dục ở nhiềunước, đây vừa là môi trường thông tin vừa là diễn đàn trao đổi, hợp tác có tính tươngtác mạnh Nhiều công trình nghiên cứu khoa học giáo dục, những thư viện tranh ảnh,video clip, những mô hình ảo, những vấn đề về nội dung, PPDH (phương pháp dạyhọc) đã được đưa lên Website giáo dục của nhiều quốc gia phát triển, sẽ trở thànhnhững cơ sở hiện thực hoá việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông tronggiáo dục ở các nước chậm và đang phát triển Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thôngtin và truyền thông trong giáo dục ở nước ta hiện nay, đặc biệt là việc sử dụng máy vitính với mạng Internet, Website cũng chính là xác định con đường để đi đến sự hộinhập trong xu thế toàn cầu hoá nhiều lĩnh vực

Trang 38

Chương 2:

GIỚI THIỆU VỀ WEBSITE TRONG DẠY HỌC

2.1 Khái niệm về Website

Trang Web (Web page) là trang thông tin trên mạng Internet Nội dung thôngtin được diễn tả một cách sinh động bằng văn bản, đồ hoạ, ảnh tĩnh, ảnh động, phim,

âm thanh, tiếng nói Mỗi trang Web được đánh dấu bằng một địa chỉ để phân biệt vớicác trang khác và giúp mọi người truy cập đến Bảng Web (Website) là tập hợp cáctrang Web được liên kết lại với nhau xuất phát từ một trang gốc (Home page), hay cònđược gọi là trang xuất phát, trang đầu tiên Mỗi bảng Web có một địa chỉ riêng và đócũng chính là địa chỉ của trang gốc hay trang xuất phát

Để thực hiện được việc truy nhập, liên kết các tài nguyên thông tin khác nhautheo kỹ thuật siêu văn bản, WWW (World Wide Web) sử dụng khái niệm URL(Uniform Resource Locator), đây là một dạng tên để định danh duy nhất cho một tàiliệu hoặc một dịch vụ trên Web Cấu trúc của URL gồm các thành phần thông tin như:giao thức Internet được sử dụng, vị trí của server (Domain Name), tài liệu cụ thể trênserver (Path Name) và có thể có thêm các thông tin định dạng khác

Hoạt động của Web cũng dựa trên mô hình Client/Server Tại trạm Client,người sử dụng sẽ dùng Web Browser để gửi yêu cầu để tìm kiếm các tệp tin HTMLđến Web Browwser ở xa trên mạng Internet nhờ địa chỉ URL Web Server nhận cácyêu cầu đó và thực hiện rồi gửi kết quả về Web Client, Web Browser sẽ biên dịch cácthẻ HTML và hiển thị nội dung các trang tài liệu được yêu cầu Để nối kết Internet,người ta dùng giao thức SLIP (Serial Line Internet Protocol) hoặc PPP (Point-to-PointProtocol) Hai giao thức này đều cho phép người sử dụng nối với Internet qua cácđường dây điện thoại quay số (Dial-up-Telephone) Nhưng vì đơn giản, dễ cài đặt vàkhông yêu cầu cấp phát địa chỉ riêng (địa chỉ này sẽ được nhà cung cấp dịch vụ tạmthời khi sử dụng dịch vụ) nên PPP được ưa chuộng hơn so với SLIP

Trang 39

văn bản (là các tài liệu điện tử như bài giảng, (sách giáo khoa) SGK, (sách bài tập)

SBT, ) trên đó bao gồm một tập hợp các công cụ tiện ích và các siêu giao diện (trình diễn các thông tin Multimedia: văn bản, âm thanh, hình ảnh), để hỗ trợ việc dạy học và

cung cấp cho những người sử dụng khác trên các mạng máy tính.

2.2 Đặc trưng của Website dạy học

Website dạy học được cấu thành từ những Site riêng biệt khác nhau, mỗi mộtSite là một siêu văn bản sẽ thực hiện một chức năng hỗ trợ dạy học nào đó Với khảnăng thực hiện hầu như vô hạn các liên kết giữa các Site với các dạng thông tin(multimedia) khác nhau, trên một hệ thống vô số các máy tính liên kết thành mạng, đãtạo nên một đặc trưng riêng biệt của Website Đặc trưng nổi bật của Website là có thể

hỗ trợ nhiều mặt cho hoạt động dạy và học

Đặc trưng thứ hai của Website là không hạn chế năng lực sáng tạo và phongcách riêng của từng giáo viên khi sử dụng Tập hợp được sức mạnh trí tuệ, kinhnghiệm nghề nghiệp, trình độ chuyên môn của nhiều tầng lớp xã hội để nâng caochất lượng dạy và học

Website được thiết kế với giao diện hết sức thân thiện, là một phần mềm thânthuộc với nhiều người, có thể cài đặt để triển khai ứng dụng dưới nhiều cách khácnhau Đây cũng là đặc trưng, thể hiện tính hơn hẳn của Website so với các chươngtrình ứng dụng khác đòi hỏi phải giao tiếp trên nhiều menu và các hộp thoại Về mặt

kỹ thuật tin học, Website là một phần mềm duy nhất được hỗ trợ nhiều công cụ để tạođiều kiện cho các nhà lập trình phát triển được nhiều ứng dụng trên nó

Cuối cùng, có thể nói rằng Website là một môi trường siêu giao diện, siêu trìnhdiễn các thông tin Multimedia (đa phương tiện) Đặc trưng này đã làm tăng hiệu quảtác dụng hỗ trợ nhiều mặt của Website, đặc biệt là đối với hoạt động dạy và học là mộtquá trình truyền thông đa phương tiện

Trang 40

2.3 Khả năng hỗ trợ của Website tới hoạt động dạy và học

Đối với hoạt động dạy của giáo viên, thực nghiệm cho thấy Website là mộtphương tiện đã hỗ trợ rất có hiệu quả trên nhiều mặt trong hoạt động giảng dạy Sửdụng nó trong dạy học giáo viên đã được giải phóng khỏi hầu hết những công việcchân tay bình thường Từ việc ghi chép nội dung bài học lên bảng, vẽ hình và trình bàycác tranh ảnh, biểu bảng, đồ thị; hướng dẫn các thao tác dựng hình; theo dõi và điềutiết tiến trình thực hiện bài giảng, đến việc ghi nhớ những nội dung cần phải thuyếttrình và giảng giải, những công thức, những số liệu, những phép tính từ đơn giản đếnphức tạp, tóm tắt nội dung bài học thậm chí cả việc trình bày bài giảng bằng lời cũng

có thể được máy tính hỗ trợ Tập trung tất cả các khả năng hỗ trợ ấy làm cho máy vitính trở thành một ''trợ giảng đắc lực, có hiệu quả'' Điều đáng nói ở đây, người trợgiảng này là hình ảnh của chính giáo viên đang tiến hành tiết dạy, vì rằng nội dung,tính chất và cách thức hoạt động của người trợ giảng đều do chính giáo viên đứng lớpquyết định Sự thống nhất, đồng cảm, phối hợp nhịp nhàng trong hoạt động của ngườitrợ giảng với giáo viên đã không thể có được trong cách tổ chức dạy học truyền thống

Một chức năng có tính nổi bật và đặc thù riêng của Website là chức năng trình

diễn thông tin Multimedia, có tương tác và gây được ấn tượng mạnh Chính nhờ chức

năng này mà chúng ta đã phát huy được sức mạnh của máy vi tính và nâng cao mộtcách đáng kể hiệu quả của việc sử dụng nó Hầu hết các tài liệu liên quan đến mônToán đều được số hoá và đưa vào Website như: sách giáo khoa, sách bài tập Nhờ đó

đã tạo nên được những thư viện như: thư viện sách điện tử, thư viện các mô hình ảo,thư viện các bài tập, kiểm tra Nói chung, tập hợp các thư viện như vậy và sự liênthông giữa chúng cùng với hệ thống các bài giảng điện tử là để phục vụ tốt cho hoạtđộng dạy học

Khi sử dụng Website để thực hiện các tiết giảng thực nghiệm, một số chức năng

hỗ trợ của Website được các giáo viên đánh giá rất cao như chức năng tăng cường tínhtrực quan xử lý các kiểu dữ liệu khác nhau, năng lực đồ hoạ phong phú có thể xâydựng các mô hình ảo làm trực quan hoá các tính chất hình học đồng thời cho phép

Ngày đăng: 18/09/2015, 23:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1) Trần Bá Hoành (2007), Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Bá Hoành (2007)," Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sáchgiáo khoa
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2007
2) Trần Bá Hoành (2002), Những đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực,Tạp chí Giáo dục, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Bá Hoành (2002)," Những đặc trưng của phương pháp dạy học tíchcực
Tác giả: Trần Bá Hoành
Năm: 2002
3) Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức (1994), Lý luận dạy học đại học, trường đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức (1994)," Lý luận dạy học đại học
Tác giả: Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức
Năm: 1994
4) Đặng Thành Hưng (2004), Thiết kế dạy học theo hướng tích cực hoá, Tạp chí Phát triển giáo dục, số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặng Thành Hưng (2004)," Thiết kế dạy học theo hướng tích cực hoá
Tác giả: Đặng Thành Hưng
Năm: 2004
5) Nguyễn Bá Kim (1987), Hội thảo quốc tế về sử dụng kỹ thuật thông tin trong giáo dục, Thông tin khoa học giáo dục, số 9/1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bá Kim (1987)," Hội thảo quốc tế về sử dụng kỹ thuật thông tin tronggiáo dục
Tác giả: Nguyễn Bá Kim
Năm: 1987
7) Nguyễn Cảnh Toàn (1997), Phương pháp luận duy vật biện chứng với việc học, dạy và nghiên cứu toán học, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Cảnh Toàn (1997)," Phương pháp luận duy vật biện chứng với việchọc, dạy và nghiên cứu toán học
Tác giả: Nguyễn Cảnh Toàn
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
8) Phạm Minh Hạc (1992), Một số vấn đề tâm lí học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Minh Hạc (1992)," Một số vấn đề tâm lí học
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1992
9) Đào Thị Thu Thủy (2003). Giáo trình kỹ thuật xung Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào Thị Thu Thủy (2003)". Giáo trình kỹ thu
Tác giả: Đào Thị Thu Thủy
Năm: 2003
10) Phan Trọng Ngọ. Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường. NXB ĐHSPHN, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Trọng Ngọ. "Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường
Nhà XB: NXBĐHSPHN
11)Nguyễn Bá Kim (2002), Phương pháp dạy học môn Toán, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bá Kim (2002)," Phương pháp dạy học môn Toán
Tác giả: Nguyễn Bá Kim
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2002
12) Vụ giáo dục chuyên nghiệp. Giáo trình kỹ thuật Xung – Số. Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam. Hà Nội 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vụ giáo dục chuyên nghiệp. "Giáo trình kỹ thuật Xung – Số
Nhà XB: Nhà xuất bản giáodục Việt Nam. Hà Nội 2010
13) Daniel D. Gajski (1997),Principles of Digital Design. University of California Sách, tạp chí
Tiêu đề: Daniel D. Gajski (1997),"Principles of Digital Design
Tác giả: Daniel D. Gajski
Năm: 1997
14) TS Lương Ngọc Hải (2000). Giáo trình kỹ thuật xung số Sách, tạp chí
Tiêu đề: TS Lương Ngọc Hải (2000)
Tác giả: TS Lương Ngọc Hải
Năm: 2000
16) Tô Xuân Giáp. Phương tiện dạy học. NXB GD, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tô Xuân Giáp. "Phương tiện dạy học
Nhà XB: NXB GD
17) Allan C. Ornstein. Strategies for Effective teaching. New York, 1990 (Bản tiếng Việt và tiếng Anh) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Allan C. Ornstein. "Strategies for Effective teaching
18) Nguyễn Bá Kim, Bùi Văn Nghị, Lê Thị Hồng Phương (1997), Hình thành và xử lý công nghệ trong quá trình dạy học, Tạp chí Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bá Kim, Bùi Văn Nghị, Lê Thị Hồng Phương (1997)," Hình thànhvà xử lý công nghệ trong quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Bá Kim, Bùi Văn Nghị, Lê Thị Hồng Phương
Năm: 1997
15) BrendaMergel, Instructional Design and Learning Theory, Educational Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w