Ứng dụng phần mềm adobe flash professional mô phỏng các thuật toán sắp xếp
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
VIỆN SƯ PHẠM KỸ THUẬT
_ _ _ _ __ _ _ _ _
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: ỨNG DỤNG PHẦM MỀM ADOBE FLASH PROFESSIONAL
MÔ PHỎNG CÁC THUẬT TOÁN SẮP XẾP
Giáo viên hướng dẫn: T.S NGUYỄN TIẾN LONG
Sinh viên thực hiện: NGUYỄN HẢI ĐĂNG MSSV: 2009 NGUYỄN HOÀNG QUÂN MSSV: 20092120 Lớp: SPKT -CNTT- K54
Hà Nội, 12/ 2013
Trang 2M
NHIỆM VỤ ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP 4
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN 5
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN 6
DANH MỤC HÌNH VẼ Lỗi! Thẻ đánh dấu không đượ xá định CÁC TỪ VIẾT TẮT 7
LỜI CẢM ƠN 10
CHƯƠNG 1 : MỞ ĐẦU 11
1.1 Giới thiệu : 11
1.2 Lý do chọn đề tài : 12
1.3 Mục tiêu nghiên cứu : 13
1.4 Phương pháp nghiên cứu : 13
1.5 Đối tượng nghiên cứu : 13
1.6 Dự kiến kết quả nghiên cứu : 14
1.7 Kết cấu đồ án : 14
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 15
2.1 Cơ sở lý luận: 15
2.1.1 Phương pháp mô phỏng : 15
2.1.2 Phương tiện trực quan trong dạy học : 20
2.1.3 Phương tiện trực quan mô phỏng : 25
2.2 Cơ sở thực tiễn: 26
2.2.1 Thực trạng dạy và học CNTT ở các trường đại học , cao đẳng hiện nay: 26 2.2.2 Thực trạng dạy và học Môn Cấu trúc dữ liệu và giải thuật: 26
2.2.3 Thực trạng về sử dụng các phần mềm ứng dụng, trong đó có phần mềm Adobe Flash để thiết kế chương trình mô phỏng: 27
CHƯƠNG 3: CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 29 3.1 Giới thiệu phần mềm Adobe Flash và ngôn ngữ lập trình ActionScript 3.0: 29
Trang 33.2 Tính ưu việt của phần mềm Adobe Flash : 30
3.3 Hướng dẫn sử dụng phần mềm Adobe Flash : 33
a) Khởi động phần mềm : 33
b) Tạo mới một dự án : 34
c) Layer, Frame, Scene và Movie: 34
d) Vùng thanh công cụ Tools và vùng thuộc tính Properties: 36
e) Vùng soạn thảo, lập trình ActionScript : 37
f) Các biểu tượng trong Flash : 38
g) Tạo hoạt cảnh : 39
CHƯƠNG 4: ỨNG DỤNG PHẦN MỀM ADOBE FLASH THIẾT KẾ MÔ PHỎNG BỐN THUẬT TOÁN SẮP XẾP TRONG DẠY HỌC MÔN CTDL> 41
4.1 Giới thiệu phần mềm Adobe Flash và ngôn ngữ lập trình ActionScript 3.0: 41 4.1.1 Mục đích và đối tượng của chương trình: 41
4.1.2 Triển khai ứng dụng: 41
4.1.3 Xây dựng kịch bản: 43
4.1.4 Giới thiệu bốn thuật toán sắp xếp: 45
4.1.5 Thể hiện kịch bản: 54
4.2 Giao diện chương trình: 62
Giao diện gồm 6 nút: Giới thiệu, Bài học, Mô phỏng, Bài tập, Liên hệ, Trợ giúp 62
a) Giới thiệu : 62
b) Phần bài học : 63
c) Phần mô phỏng : 64
d) Phần bài tập : 66
e) Phần liên hệ : 67
f) Phần trợ giúp : 68
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI 69
5.1 Kết quả mà chương trình đạt được : 69
Trang 45.2 Hướng phát triển của chương trình : 69 TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 5BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH
KHOA HÀ NỘI
-
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc -
NHIỆM VỤ ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP Họ và tên sinh viên: Nguyễn Hải Đăng Số hiệu sinh viên: 20090073 Nguyễn Hoàng Quân 2009
Khoá: 54 Viện: Sư phạm kỹ thuật Ngành: SPKT CNTT 1 Đầu đề đồ án: Xây dựng kho dữ liệu kỹ thuật ứng dụng trong nghiên cứu khoa học và dạy học tại trường SPKT, Đào Tạo nghề 2 Các số liệu và dữ liệu ban đầu:………
3 Nội dung các phần thuyết minh và tính toán:………
4 Các bản vẽ, đồ thị:(ghi rõ các loại và kích thước bản vẽ)………
Thư viện hình ảnh (tĩnh, động) 5 Họ và tên giáo viên hướng dẫn:………
6 Ngày giao nhiệm vụ đồ án: ………
7 Ngày hoàn thành đồ án:………
… Ngày… tháng …năm 2013
Sinh viên đã hoàn thành và nộp đồ án tốt nghiêp, … ngày … tháng … năm…
Cán bộ phản biện
Trang 6NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
-o0o -
………
………
……… ………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
……… ………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 7NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN
BIỆN
-o0o -
………
………
……… ………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
……… ………
………
………
………
………
………
………
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ
H nh 1 : Khởi động phần mềm Adobe Flash Professional 33
H nh 2 : Vùng công cụ Tools 36
H nh 3 : Vùng thuộc tính Properties 37
H nh : Vùng soạn thảo ActionScript 37
H nh : Tạo mới một biểu tượng 38
H nh : Khung TimeLine 39
H nh : Hình ảnh dãy sắp xếp tăng dần 45
H nh : Lưu đồ giải thuật sắp xếp lựa chọn 47
H nh : Lưu đồ giải thuật sắp xếp nổi bọt 49
H nh 10 : Lưu đồ giải thuật sắp xếp chèn 51
H nh 11 : Công cụ vẽ Oval Tool 54
H nh 12 : Vẽ hình tròn bằng công cụ Oval Tool 55
H nh 13 : Tạo một Layer Motion Guide 55
H nh 1 : Vẽ đường chuyển động cho quả bóng 56
H nh 1 : Tạo chuyển động cho quả bóng 57
H nh 1 : Kết quả sau khi xây dựng bằng kỹ thuật Adding a Motion Guide 58
H nh 1 : Tạo ra một đối tượng là menu 61
H nh 1 : Tạo ra một thể hiện của đối tượng menu là main_menu 61
H nh 1 : Giao diện chương tr nh 62
H nh 20 : Giao diện giới thiệu 62
H nh 21 : Sile giải thuật sắp xếp lựa chọn 63
H nh 22 : Video mô phỏng sắp xếp nổi bọt 64
H nh 23 : Giao diện mô phỏng 4 giải thuật 65
H nh 2 : Mô phỏng thuật toán sắp xếp chèn 65
H nh 2 : Bài tập cơ bản 66
H nh 2 : Bài tập nâng cao 67
H nh 2 : Liên hệ 67
Trang 9H nh 2 : Trợ giúp 68
Trang 10CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNTT : Công nghệ thông tin
ĐH-CĐ : Đại học – Cao Đẳng
PTDH : Phương tiện dạy học
CTDL> : Cấu trúc dữ liệu và giải thuật
Trang 11LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đồ án em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ các thầy cô trong Viện Sư Phạm Kỹ Thuật cũng như là bạn bè, đặc biệt là sự hướng dẫn, quan tâm tận tình của thầy giáo - T.s Nguyễn Tiến Long người phụ trách hướng dẫn em thực hiện đồ án này
Em xin gửi lời cám ơn chân thành đến thầy giáo - T.s Nguyễn Tiến Long, cùng các thầy cô và bạn bè trong Viện Sư Phạm Kỹ Thuật đã giúp đỡ và động viên em trong suốt quá trình thực hiện đồ án này Đồng thời em cũng xin gửi lời cám ơn đến đến các thầy cô và BGH trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội đã luôn giúp đỡ, quan tâm và tạo điều kiện tốt nhất cho chúng em trong suốt quá trình học tập tại trường Cuối cùng em xin gửi lời cám ơn tới gia đình đã luôn bên cạnh em trong thời gian qua
Xin chân thành cảm ơn
Trang 12CHƯƠNG 1 : MỞ ĐẦU
1.1 Giới thiệu :
Trong nhiều năm trở lại đây, sự bùng nổ của CNTT nói riêng và khoa học công nghệ nói chung đã, đang tác động mạnh mẽ vào sự phát triển của tất cả các ngành trong đời sống xã hội Đồng thời nước ta đang ở trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới thì đòi hỏi cần phải có nguồn nhân lực, lao động chất lượng cao Trong đó, chất lượng giáo dục đóng vai trò quyết định hàng đầu Tuy nhiên những tồn tại trong dạy và học hiện nay đã đặt ra yêu cầu cấp thiết đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Trong hệ thống giáo dục thì giáo dục đại học – cao đẳng đóng một vai trò quan trọng trong việc đào tạo ra đội ngũ tri thức cao, có năng lực Và để đổi mới giáo dục thì đổi mới phương pháp học tập, phương tiện dạy học là một phần không thể thiếu
Ngành CNTT là một ngành đặc biệt, ảnh hưởng rất lớn đến những ngành nghề khác, nó có đóng góp quan trọng vào sự phát triển của đất nước Tuy nhiên , việc dạy và học CNTT ở cấp đại học- cao đẳng hiện nay vẫn còn những bất cập, hạn chế nhất định khi chất lượng chưa đáp ứng nhu cầu Một phần do sinh viên không hiểu hoặc theo kịp chương trình, kiến thức mang tính nặng nề, khô khan khó hình dung, ít sinh động Mặt khác quá trình dạy và học còn bị động, ít có sự tương tác, ít được giáo viên áp dụng trong các bài dạy mặc dù khác nhiều chương trình, phần mềm bổ trợ được phát triển khá nhiều
CNTT đã mang lại nhiều tiện ích đặc biệt trong công việc giảng dạy, thay đổi một phần phương pháp dạy và học truyền thống Việc áp dụng multimedia trong dạy học được chú trọng Phương pháp mô phỏng là một phương pháp như vậy, nó có thể tạo ra những đoạn phim, minh họa, hay các bài tập được sử dụng như là các phương tiện dạy học trực quan Mô phỏng tạo ra những chương trình,
Trang 13trực quan, thực tế với bài học, giúp khơi dậy hứng thú học tập của sinh viên Một cách hữu hiệu để tạo mô phỏng là thông qua các Flash Flash là một khái niệm tương đối rộng có thể hiểu là một công nghệ hoặc cũng có thể là một công
cụ
Trên thế giới Flash đã rất phát triển với nhiều cộng đồng phát triển ứng dụng rộng rãi, có rất nhiều ứng dụng của Flash như game, quảng cáo, animation hay phát triển website,…
Ở nước ta cũng với sự bùng nổ của các công nghệ, Flash cũng có bước phát triển mạnh mẽ Trong giáo dục, việc ứng dụng Flash vào giảng dạy khá phát triển đặc biệt là bậc phổ thông khi các thầy cô đã có những sản phẩm chất lượng, giúp cho bài học, giờ học đạt hiệu quả cao
1.2 Lý do chọn đề tài :
Cấu trúc dữ liệu và giải thuật được xem là môn học mang tính trìu tượng dành cho sinh viên chuyên ngành CNTT ở bậc đại học Tính trìu tượng của các giải thuật làm cho giáo viên và sinh viên gặp rất nhiều khó khăn trong việc truyền đạt và lĩnh hội kiến thức, vì không hiểu được giải thuật nên sinh viên không thể hình dung được chương trình sẽ chạy như thế nào với giải thuật đã chọn Trong khi các phương tiện dạy học thông thường chưa đủ để trợ giúp cho sinh viên trong việc tưởng tượng và hiểu được giải thuật, thì công nghệ thông tin là một phương tiện trợ giúp đắc lực cho giáo viên và sinh viên trong việc mô phỏng lại các giải thuật
Hiện nay có rất nhiều phần mềm có thể làm được điều đó, song Adobe Flash Professional là một phần mền nổi trội rất phù hợp cho việc mô phỏng các giải
thuật Từ tất cả các yếu tố trên chúng em chọn đề tài: “Ứng d ng phần mềm Adobe Flash mô phỏng các thuật toán sắp xếp”, để thiết kế chương trình mô
phỏng trong dạy học chương “Các thuật toán sắp xếp cơ bản” môn CTDL>
Trang 141.3 M c tiêu nghiên cứu :
Để cung cấp cho giáo viên kiến thức, giải pháp kỹ thuật sử dụng phần mềm chuyên dụng Adobe Flash để tạo nên những bài giảng có chất lượng, đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học trong chương trình đào tạo mới Cụ thể đồ án nghiên cứu “mô phỏng các giải thuật sắp xếp bằng phần mềm Adobe Flash (ngôn ngữ lập trình Action script 3.0) “ nhằm tăng tính trực quan, giúp người học nhanh chóng hiểu được các thuật toán sắp xếp qua đó nâng cao chất lượng dạy học môn cấu trúc dữ liệu và giải thuật
Mô phỏng 4 thuật toán sắp xếp :
Sắp xếp lựa chọn(Selection Sort)
Sắp xếp nổi bọt(Bubble Sort)
Sắp xếp chèn(Insertion Sort)
Sắp xếp nhanh(Quick Sort)
1.4 Phương pháp nghiên ứu :
a) Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Tìm hiểu chương trình môn Điện tử số, tìm hiểu nội dung tiết học:
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
1.5 Đối tượng nghiên cứu :
Giáo viên giảng dạy môn Cấu trúc dữ liệu và giải thuật là đối tượng tham khảo và ứng dụng mô phỏng trong dạy học
Trang 15Sinh viên chuyên ngành công nghệ thông tin ở các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp là đối tượng tiếp thu, lĩnh hội
Phạm vi nghiên cứu là các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp có giảng dạy môn Cấu trúc dữ liệu và giải thuật
1.6 Dự kiến kết quả nghiên cứu :
Đồ án sẽ hệ thống hóa cơ sở lý luận về phương pháp mô phỏng và ứng dụng phần mềm Adobe Flash để thiết kế các chương trình mô phỏng
Chương trình mô phỏng bước đầu sẽ tạo ra một hướng thiết kế mới hiệu quả,
sẽ nâng cao chất lượng dạy - học CNTT ở bậc ĐH-CĐ
Đồ án hướng tới xây dựng cơ bản chương trình mô phỏng các thuật toán sắp xếp cơ bản bằng phần mềm Adobe Flash Profestional Đặc biệt là nó có thể chạy trên cả hai môi trường ứng dụng và web Hiện nay xu hướng áp dụng các phương tiện dạy học hiện đại trong dạy cùng với đó là các mô hình học tập trực tuyến ngày càng phát triển thì với những chương trình mô phỏng sẽ tăng khả năng tương tác của người học với người dạy, tăng tính chủ động trong học tập của sinh viên, đáp ứng các vấn đề sư phạm
1.7 Kết cấu đồ án :
Chương I : Mở đầu :
Chương II : Cơ sở lý luận thực tiễn của đề tài
Chương III : Phần mềm Flash và ứng dụng phần mềm Flash thiết kế chương trình mô phỏng
Chương IV : Ứng dụng phần mềm Adobe Flash thiết kế mô phỏng các thuật toán sắp xếp trong dạy học công nghệ thông tin
Chương V: Kết luận và hướng phát triển đề tài
Trang 16CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
mô phỏng; xây dựng, tổ chức, tiến hành các điều kiện cần thiết cho các hình thức dạy và học khác nhau (Online, face to face, eLearning )
Cơ sở của phương pháp mô phỏng là thông qua những thao tác mang tính chất thí nghiệm trên mô hình (thực hiện mô phỏng) người học sẽ thu nhận được những hiểu biết, kiến thức về đối tượng được mô hình hóa và khả năng tác động đến đối tượng đó
Mô phỏng (simulation)
Mô phỏng (theo nghĩa thuật ngữ) là thực nghiệm quan sát được và điều khiển được trên mô hình của đối tượng khảo sát Còn theo từ điển Tiếng Việt
mô phỏng có nghĩa là bắt trước làm theo một cái mẫu nào đó
Phương pháp Mô phỏng được sử dụng khi không cần hoặc không nên thực nghiệm trên đối tượng thực.Ta có thể thực hiện việc mô phỏng từ những phương tiện đơn giản như giấy, bút đến các nguyên vật liệu tái tạo lại nguyên mẫu (mô hình bằng gỗ, gạch,sắt…) hay hiện đại hơn là dùng máy tính điện tử (MPMT)
Trang 17Mô phỏng trên máy tính là xu hướng dạy học mới, hiện đại đã, đang và sẽ được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi trên nhiều lĩnh vực Để xây dựng mô phỏng trên máy tính, có nhiều phần mềm rất hiệu quả Phần mềm Flash là một trong những phần mềm làm mô phỏng sớm nhất Flash chỉ cần dùng một băng thông hẹp để tạo nên một đối tượng có thể chuyển động từ nhiều điểm, theo nhiều hướng khác nhau cùng một lúc Ngoài ra, Java cũng là một trong những phần mềm mô phỏng thông dụng và hiệu quả hiện nay
Mô phỏng, đặc biệt là mô phỏng trên máy tính tạo điều kiện thuận lợi cho người học, người nghiên cứu về các mặt:
Nhận thức (trực quan hóa, dễ tiếp cận và đo lường, lặp lại được nhiều lần, thử nghiệm ý tưởng sáng tạo và tiên đoán )
Công nghệ ( thiết bị, phương pháp, kỹ năng: khả thi, hiệu quả về mặt thời gian, kinh tế )
Ngày nay phương pháp mô phỏng trên máy tính ngày càng được sử dụng rộng rãi với nhiều chương trình mô phỏng khác nhau, thích hợp cho từng ngành
kỹ thuật nhất định, ví dụ: trong ngành Điện- Điện tử có các chương trình: MultiSim, Circuit Maker ,trong ngành Cơ khí có chương trình Solid Work
Hình thức dạy-học có sử dụng mô phỏng máy tính là một trong những hình thức dạy-học có hiệu quả cao về nhiều mặt như: tăng cường tính trực quan sinh động trong giờ học, gây hứng thú học tập và nghiên cứu, phát huy tư duy sáng tạo của người học
b) Ưu điểm điểm của phương pháp mô phỏng :
* Với người học :
Mô phỏng cung cấp cho người học những kinh nghiệm cụ thể về đối tượng học tập theo kiểu trải nghiệm gián tiếp Với khả năng điều khiển đồng thời tất
Trang 18cả các thành phần như hình ảnh, âm thanh, video, theo năng lực và sở thích của
cá nhân, người học có thể tự trải nghiệm về đối tượng Điều này không thể có được nếu như các phương tiện này được thể hiện tuần tự theo một trật tự cố định, một nhịp độ cố định mà chưa hẳn đã phù hợp với người học Điều quan trọng hơn, đó là từ những trải nghiệm này, người học có được những kinh nghiệm cụ thể về tư duy, về hành vi, về ứng xử
Sức mạnh sư phạm của mô phỏng thể hiện ở chỗ nó huy động tất cả khả năng xử lý thông tin của người học Tất cả các cơ quan cảm giác của con người (tay, mắt, tai …) cùng với bộ não hợp thành một hệ thống có khả năng vô cùng
to lớn để biến những dữ liệu vô nghĩa thành thông tin Mô phỏng có khả năng cung cấp một kiến thức tổng hợp và sâu sắc hơn so với chỉ dùng các giáo trình
in kèm theo hình ảnh thông thường
Mô phỏng được sử dụng để huấn luyện, cung cấp những kinh nghiệm gián tiếp trước khi người học thực hành thực tế
Mô phỏng cho phép người học làm việc theo nhịp độ riêng và tự điều khiển cách học của bản thân, kích thích sự say mê học tập
* Với giáo viên
- Mô phỏng giúp giáo viên làm việc một cách sáng tạo, tìm được giải pháp thay thế những hoạt động học thiếu hiệu quả Giáo viên cũng có thể tìm thấy ở
mô phỏng những khả năng độc đáo cho việc tổ chức giảng dạy
- Mô phỏng giúp giáo viên tiết kiệm thời gian, nhờ đó có thể khám phá nhiều chủ đề, tăng cường thời gian giao tiếp, thảo luận với sinh viên
c) Vai trò, ý nghĩa ủa phương pháp mô phỏng và sự vận d ng trong dạy học tin học
* Vai trò và ý nghĩa của phương pháp mô phỏng:
Trang 19Cùng với sự phát triển công nghệ thông tin, việc đưa máy tính vào các trường học đã tạo ra bước ngoặc lớn trong việc dạy học Sử dụng mô phỏng trên máy tính là phương pháp dạy học tích cực phát huy cao độ tính độc lập, khả năng làm việc trí tuệ của sinh viên, tạo ra một nhịp độ phong cách trạng thái tâm lí mới làm thay đổi phương pháp và hình thức dạy học
Trong lĩnh vực giáo dục,các bài giảng có ứng dụng mô phỏng kết hợp phương tiện nghe nhìn hiện đại sẽ tạo cho sinh viên nhiều kỹ năng như: khả năng hoạt động quan sát (các hình ảnh tĩnh hoặc động), khả năng thao tác trên đối tượng, khả năng tự do phát triển tư duy, lựa chọn con đường tối ưu để nhận thức
So với các phương tiện dạy học truyền thống, mô phỏng trên máy tính biểu diễn các hiện tượng trong sự phối hợp với màu sắc âm thanh, lời giải thích, tạo
sự cuốn hút sinh viên, kích thích hứng thú học tập, tạo cho sinh viên chú ý thực hiện hành động lĩnh hội khái niệm Do đó hiệu quả bài giảng và chất lượng lĩnh hội kiến thức của sinh viên được nâng cao hơn
Giáo viên có thể rèn luyện cho sinh viên các thao tác tư duy: cách quan sát, khả năng mô tả và diễn đạt tư duy tạo điều kiện cho họ hình thành năng lực phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa và trừu tượng hóa
* Ứng dụng của phương pháp Mô phỏng trong tình huống giảng dạy và học tập CNTT:
CNTT là ngành học có những đặc thù riêng, việc áp dung phương pháp mô phỏng có thể mang lại nhiều cho việc dạy và học
Giáo viên có thể dùng mô phỏng trong phần mở bài để đặt sinh viên trong tình huống có vấn đề, tạo trạng thái tâm lí sẵn sàng tham gia tích cực vào quá trình lĩnh hội kiến thức mới
Trang 20 Giáo viên có thể từ mô phỏng để gợi mở phát triển những ý tưởng mới cho sinh viên
Khi ứng dụng mô phỏng để giảng dạy, giáo viên không chỉ giúp sinh viên nắm kiến thức môn học mà còn phải tìm cách để sinh viên hiểu biết cả con đường đã dẫn đến kiến thức
Phương pháp mô phỏng có tính trực quan cao, giúp sinh viên có thể quan sát những hình ảnh trừu tượng không thể trực tiếp tri giác được
Tương ứng với mỗi bài học, giáo viên chọn phương pháp mô phỏng thích hợp (hình học, động hình học, động lực học)
Sinh viên có thể tự mình tiến hành mô phỏng với các phần mềm đơn giản kết hợp với các kiến thức tin học cơ sở để điều chỉnh tại chỗ quá trình mô phỏng theo ý muốn Hơn nữa người học còn được rèn luyện kỹ năng tư duy thuật toán, kỹ năng lập trình… tạo khả năng thích ứng với xã hội thông tin trong tương lai
Trong một số trường hợp đối với một số sinh viên có khả năng cơ bản về lập trình, họ có thể trực tiếp xây dựng những hình ảnh mô phỏng trên máy tính theo nhiệm vụ giáo viên đặt ra với sự hướng dẫn của giáo viên, qua đó sinh viên phát huy tính độc lập sáng tạo tìm cách thực hiện nhiệm
vụ được giao
Với một chương trình mô phỏng được thiết kế tốt, sinh viên có thể tự học
mà vẫn đạt kết quả tốt như học với giáo viên Điều này tạo điều kiện cho việc cá thể hóa trong học tập (rất cần thiết khi kiến thức và năng lực nhân cách của sinh viên không đồng đều) Rèn luyện cho sinh viên tính độc lập, tự chủ kiên trì, cần cù và chăm chỉ, tạo tiền đề cho việc định hướng nghề nghiệp
Giáo viên và sinh viên có thể sử dụng mô phỏng như một tài liệu giảng dạy và học tập độc lập (chủ yếu phục vụ tự học, tự nghiên cứu) Tài liệu học tập kiểu này được cung cấp trên web hay cung cấp qua đĩa CD
Trang 21 Giáo viên có thể sử dụng mô phỏng phối hợp với các phần mềm trình chiếu khác như power point hay giảng dạy trên web
Mô phỏng trên máy tính không phải là phương pháp vạn năng trong dạy học Qua mô phỏng bài giảng trên máy tính, sinh viên quan sát các hình ảnh được mô hình hóa mà không quan sát được các hiện tượng và quá trình thực về mặt tâm lý các biểu tượng về một sự vật mà sinh viên thu được từ quan sát vật thực và từ các hình ảnh của nó có sự khác nhau về chất Vì vậy các phương pháp mô phỏng cần kết hợp với các phương tiện
và phương pháp khác
2.1.2 Phương tiện trực quan trong dạy học :
a) Một số khái niệm :
* Khái niệm phương tiện dạy học (PTDH)
Theo nghĩa rộng: PTDH là toàn bộ các yếu tố sử dụng vào trong quá trình dạy học nhằm tác động đến sự chuyển biến nội dung đạt được mục tiêu dạy học
Theo nghĩa hẹp: PTDH là một cấu trúc ký hiệu được lưu trữ, do người dạy chủ động tạo lập và lựa chọn sử dụng nhằm:
Truyền đạt nội dung đến người học
Trao đổi, tranh luận với người học về nội dung đó
PTDH sẽ được hiểu là những dụng cụ, máy móc, thiết bị, vật dụng cần thiết cho hoạt động dạy và học, giúp cho quá trình nhận biết, lĩnh hội kiến thức của học viên được tốt hơn Ví dụ: Bảng viết ( Bảng phấn, bảng phoóc mi ca trắng), bảng giấy lật, bảng ghim, máy chiếu hắt (overheat), Projecter ( phương tiện với
sự trợ giúp của máy tính chương trình Powerpoint) Trong đó những phương tiện như máy chiếu hắt (overheat), Projecter (phương tiện với sự trợ giúp của máy tính chương trình Powerpoint) … được coi là những phương tiện dạy học hiện đại
Trang 22* Khái niệm phương tiện trực quan :
Phương tiện trực quan là các phương tiện để nhận thức, có chức năng làm cho đối tượng nhận thức được bộc lộ một cách trực quan Nếu thời Cômenxki, phương tiện trực quan được hiểu là việc những sự vật, hiện tượng cụ thể hoặc hình ảnh của chúng được sử dụng trong dạy học, thì ngày nay các phương tiện trực quan được mở rộng từ nhiều phía khác nhau Bên cạnh những phương tiện trực quan truyền thống còn có cả các phương tiện trực quan có tính hiện đại, các phương tiện nghe nhìn, “phương tiện đa năng” (Mutimeđia) Nhờ các phương tiện trực quan mà các tri thức trừu tượng, các sự kiện phức tạp được bộ lộ một cách trực quan làm cho người học tiếp thu một cách dễ dàng
* Khái niệm đa phương tiện ( Multimedia)
Multimedia là một hệ thống kĩ thuật dùng để trình diễn các dữ liệu và thông tin, sử dụng đồng thời các hình thức chữ viết, âm thanh, hình ảnh, động hình qua hệ thống Computer, trong đó tạo khả năng tương tác giữa người sử dụng và
hệ thống
Học tập với đa phương tiện theo nghĩa rộng cũng là sự sử dụng kết hợp những phương tiện truyền thống như sách, bảng, máy chiểu bản trong, phim, các phương tịên nghe nhìn…
Cung cấp cho người học những kinh nghiệm cụ thể về đối tượng học tập theo kiểu trải nghiệm gián tiếp Với khả năng điều khiển đồng thời tất cả các thành phần như hình ảnh, âm thanh, video, theo năng lực và sở thích của cá nhân, người học có thể tự trải nghiệm về đối tượng iều này không thể có được nếu như các phương tiện này được thể hiện tuần tự theo một trật tự cố đ nh, một
nh p độ cố đ nh mà chưa hẳn đã ph hợp với người học Hơn nữa, từ những trải nghiệm đó, người học có được những kinh nghiệm cụ thể về tư duy, về hành vi,
Trang 23về ứng xử Trước hết, sức mạnh sư phạm của multimedia thể hiện ở chỗ nó huy động tất cả khả năng xử lý thông tin của con người Tất cả các cơ quan cảm giác của con người (mắt, tai v.v.) c ng với bộ não hợp thành một hệ thống có khả năng vô c ng to lớn để biến những dữ liệu vô nghĩa thành thông tin “Trăm nghe không bằng một thấy”, nhưng nếu cái thấy là thực thể vận động thì ý nghĩa còn lớn hơn rất nhiều
Từ đó có thể thấy mô phỏng là một phương tiện trực quan có thể đáp ứng hệ thống đa phương tiện này Nó cũng có thể là một phần của hệ thống multimedia trong dạy học
b) Vai trò của phương tiện trực quan trong quá trình dạy học :
Trong lí luận dạy học thì PTTQ có những vai trò sau:
PTTQ là nguồn chứa đựng thông tin tri thức, giúp người học lĩnh hội tri thức đầy đủ và chính xác; đồng thời giúp củng cố, khắc sâu, mở rộng, nâng cao và hoàn thiện tri thức Phát triển tư duy tìm tòi sáng tạo, năng lực quan sát, phân tích tổng hợp, hình thành và phát triển động cơ học tập tích cực
PTTQ là một công cụ trợ giúp đắc lực giúp người dạy trình bày bài giảng một cách tinh giảm nhưng đầy đủ, sâu sắc và sinh động; điều khiển quá trình nhận thức của người học hiệu quả sáng tạo
PTTQ chỉ phát huy hiệu quả cao nhất khi người dạy sử dụng là phương tiện ; còn với người học thông qua làm việc với PTTQ để hình thành những tri thức, kỹ năng, thái độ, nhân cách
PTTQ có vai trò quan trọng trong quá trình dạy – học giúp người dạy phát huy được tất cả các giác quan của người học
PTTQ làm cho việc giảng dạy trở nên cụ thể, dễ dàng hơn Nhờ đó nó rút ngắn thời gian giảng dạy, lĩnh hội những kiến thức của người học lại diễn
ra nhanh hơn
Trang 24Phương tiện dạy học được xây dựng, phát triển và ứng dụng cho một tình huống sư phạm nhất định Tình huống ứng dụng tương ứng đó được mô tả như một « Kịch bản ứng dụng – Application Scenario» Kịch bản này bao gồm những thành phần, điều kiện và khía cạnh cơ bản cho việc áp dụng phương tiện trong quá trình dạy học (những yếu tố này được thiết lập cho cả những ứng dụng đã diễn ra và cả những ứng dụng được dự tính), để từ một trạng thái đầu vào (ví dụ : kết quả học tập ban đầu) với sự trợ giúp của phương tiện có thể đạt tới trạng thái đầu ra mong muốn (ví dụ : hiệu quả học tập cần đạt được)
Ngày nay, với những thành tựu của khoa học và công nghệ thì PTDH càng được phát triển, đa dạng, đa ngành, chính điều này đã giúp rất nhiều cho quá trình dạy học Nhưng dù PTDH có hiện đại đến đâu thì nó vẫn chỉ là công cụ trong tay người dạy, giúp họ thực hiện có hiệu quả quá trình dạy học
Hiện nay các phương pháp dạy học tích cực đang được phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo Các phương pháp dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm; khơi dậy lòng tích cực, chủ động sáng tạo của người học Phương pháp dạy học tích cực sẽ tạo được mối quan hệ thầy trò gần gũi, gợi mở; tạo được không khí lớp học vui vẻ hơn; người dạy dễ nắm bắt đánh giá, phân loại được học viên một cách nhanh chóng và đầy đủ
Từ góc độ tâm lý học, chúng ta thấy con người tiếp nhận các thông tin nhờ vào năm giác quan: Cảm giác, tri giác, thính giác, vị giác, khứu giác (cảm nhận, nhìn, nghe, ngửi, nếm, ngửi) Theo cách giảng dạy trước đây chỉ có một giác quan duy nhất được huy động đó là thính giác (tai để nghe) Truyền thụ kiến thức chỉ thông qua lời nói, còn các giác quan khác chưa được sử dụng cho việc tiếp thu các bài giảng, phần lớn tiềm năng học tập chưa được phát huy Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, việc ứng dụng công nghệ hiện đại vào quá trình giáo dục là xu thế tất yếu Hiệu quả của việc sử dụng công nghệ, các trang thiết bị dạy học hiện đại trong quá trình giáo dục đã được khẳng định
Trang 25trong thực tế, nhất là khả năng làm cho bài giảng trở nên sinh động, giáo viên có thể định hướng học sinh tiếp cận với một nguồn tri thức phong phú
Từ việc lên lớp bằng giáo án điện tử, dạy học bằng trình chiếu trên màn hình (power point), còn xuất hiện những thiết bị công nghệ dạy học hiện đại mới như: Bảng điện tử thông minh, sách giáo khoa điện tử… Khi sử dụng giáo án điện tử với những môn học, tiết dạy phù hợp, bài giảng của giáo viên có tính trực quan hơn.Với việc ứng dụng công nghệ thông tin, trong một tiết dạy, khối lượng kiến thức có thể được truyền đạt tới học sinh nhiều hơn Với những bài giảng điện tử, giáo viên giảm được đáng kể thời gian ghi bảng hoặc đọc cho học sinh chép Thay cho thời gian đọc chép hay ghi bảng, giáo viên có thể lấy thêm nhiều ví dụ minh họa, dẫn dắt học sinh tiếp cận với các kiến thức phong phú hơn Mặt khác, việc ứng dụng các thiết bị dạy học hiện đại vào quá trình giáo dục cũng là cơ hội giúp giáo viên và học sinh có điều kiện tiếp cận được với các phương tiện giảng dạy và học tập tiên tiến trên thế giới
Mặc dù vậy, qua thực tiễn giảng dạy cho thấy, nếu lạm dụng quá mức, sử dụng không linh hoạt, phù hợp, các phương tiện dạy học hiện đại có thể gây ra những “tác dụng phụ” không mong muốn, làm giảm đi quá trình tương tác cần thiết giữa thầy và trò
Do đó, cần sử dụng công nghệ, các phương tiện dạy học hiện đại sao cho phù hợp là vấn đề cần được quan tâm Trong những năm qua, các phương tiện dạy học hiện đại được sử dụng và dần trở nên quen thuộc trong các tiết dạy của giáo viên, nhất là ở những đơn vị trường học đóng trên các địa bàn có điều kiện kinh
tế thuận lợi.Ứng thực tế, có những tiết dạy, giáo viên trình chiếu cho học sinh quá nhiều thông tin, hình ảnh, số liệu khiến cho học sinh bị “quá tải” với những
gì nghe và nhìn thấy.Thời gian lẽ ra phải giành để học sinh suy nghĩ, tư duy, thảo luận nhóm thì chủ yếu chỉ để sử dụng cho việc nghe và quan sát Kết quả
Trang 26là, chuyển từ hình thức đọc - chép trước đây sang nhìn - chép, chiếu - chép, hiệu quả của tiết dạy vì thế không được cải thiện nhiều
Nên tránh việc lạm dụng quá mức, ỷ lại vào sự tiện dụng của các phương tiện dạy học hiện đại mà xem nhẹ vai trò của người thầy Công nghệ hiện đại chỉ nên xem là phương tiện hỗ trợ, giúp giáo viên đứng lớp chuyển tải tới học sinh những lượng thông tin mà phấn trắng, bảng đen và các phương tiện dạy học truyền thống khác không làm được
Một vấn đề khác cần được quan tâm là giá thành của các thiết bị dạy học hiện đại không hề rẻ, nhất là đối với những trường học đóng trên các địa bàn kinh tế còn khó khăn Các đơn vị trường học cần dựa trên điều kiện thực tế để tính toán, mua sắm những trang thiết bị dạy học hiện đại thực sự cần thiết, tránh chạy theo phong trào, gây lãng phí
2.1.3 Phương tiện trực quan mô phỏng :
PTTQ chỉ phát huy hiệu quả cao nhất khi người dạy sử dụng nó với tư cách
là phương tiện tổ chức và điều khiển hoạt động nhận thức của người học, còn đối với người học thông qua làm việc với PTTQ để hình thành những tri thức,
kỹ năng, thái độ và hình thành nhân cách Với PTTQ là chương trình Mô phỏng
mà chúng em đang tiến hành nghiên cứu, đây là một loại PTTQ đặc biệt có khả năng thể hiện sinh động rõ ràng thuần tự các diễn tiến, cơ chế hoạt động đặc biệt trong CNTT, giúp cho người học nhanh chóng nắm bắt được nội dung, đóng vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình dạy - học
Sử dụng phương tiện trực quan để minh họa tức là dùng phương tiện trực quan để diễn tả, thể hiện, khẳng định, chứng minh cho những sự vật hiện tượng
mà bằng lời nói không thể mô tả được một các đầy đủ, các yếu tố nghịch lí, mâu thuẫn, các sự kiện tương phản, các yếu tố thông tin mới không thể hiểu được nếu chỉ giải thích bằng lời nói
Trang 27Người học công nghệ thông tin phải có trí sáng tạo và tưởng tượng phong phú để hiểu và hình dung ra được những đối tượng mà mình nghiên cứu thường
là những khái niệm trừu tượng, những lưu đồ biểu diễn những tổ hợp lệnh cực
kỳ phức tạp với nhiều khả năng logic xảy ra
Tuy nhiên nhiều người học theo phong trào, số đông mà không dựa trên sở trường, sở thích của mình dẫn đến nhanh chóng chán nản, mất tinh thần học tập, kéo theo kết quả thấp Đồng thời, việc dạy CNTT ở đại học còn nặng về tính hàn lâm, nhiều lý thuyết mà ít có thực hành thực tế Trong khi đó lý thuyết lại
có không dễ hiểu , các giáo viên lại ít sử dụng
Tiếp đó sinh viên không có môi trường học tập phù hợp để có thể khám phá nghiên cứu thường phải tự tìm tòi học hỏi các nguồn tài nguyên khóa học trên mạng.Những không phải tài nguyên nào cũng phù hợp, có thể sử dụng mà phải chọn lọc Từ đó, có thể thấy việc xây dựng các chương trình mô phỏng trong CNTT sẽ mang lại những hiệu quả rất cao, giúp người học có thể hình dung thấy được một cách sinh động, có hứng thú học tập
2.2.2 Thực trạng dạy và học Môn Cấu trúc dữ liệu và giải thuật:
Trong khoa học máy tính, cấu trúc dữ liệu là một cách lưu dữ liệu trong máy tính sao cho nó có thể được sử dụng một cách hiệu quả Cấu trúc dữ liệu và giải thuật là môn học cơ bản, có ý nghĩa nền tảng cho sinh viên CNTT, các thuật toán, giải thuật, ứng dụng nhiều trong các môn học của ngành sau này
Trang 28Mục đích môn học nhằm giúp học sinh nắm bắt được phương pháp tổ chức lưu trữ thông tin máy tính Từ đó biết lựa chọn cấu trúc dữ liệu để giải quyết các bài toán
Nội dung môn học bao gồm hai phần:
Những vấn đề cơ bản và mối quan hệ giữa cấu trúc dữ liệu và giải thuật, phân tích thiết kế thuật toán, giải thuật đệ qui;
Giới thiệu một số cấu trúc dữ liệu (mảng, danh sách, cây, đồ thị ), thuật toán sắp xếp, tìm kiếm
Trong khi đó ứng dụng của sắp xếp dữ liệu trong thực tế khá nhiều như Quản trị cơ sở dữ liệu,khoa học kỹ thuật, các thuật toán lập lịch, máy tìm kiếm Web,
Thực trạng trang bị PTDH dạy học :
Tại các trường đại học hiện nay hầu hết các phòng học thì ngoài các thiết bị dạy học tối thiểu đều trang bị máy chiếu, các giáo viên đều có máy tính cá nhân thuận tiện trong việc trình diễn Cùng với đó là các phòng học đa năng với trang thiết bị, kết nối mạng đầy đủ
2.2.3 Thực trạng về sử d ng các phần mềm ứng d ng, trong đó ó phần mềm Adobe Flash để thiết kế hương trình mô phỏng:
Tại các trường đại học hiện nay, hầu hết các giáo viên đều có khả năng tin học và đã được hướng dẫn cách soạn một bài giảng điện tử, cách thức ứng dụng các thiết bị hiện đại, CNTT vào quá trình dạy học Nhờ đó mà bước đầu đã mang lại hiệu quả cao trong việc nâng cao chất lượng dạy học cũng như việc đổi mới PPDH
Ứng dụng CNTT và các phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học là một trong các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đổi mới PPDH theo quan điểm hiện đại nhưng hiện tại vẫn còn một số giáo viên vì trình độ ứng dụng CNTT còn hạn chế, hoặc ngại sử dụng các thiết bị hiện đại nên việc ứng
Trang 29dụng các phần mềm CNTT vào giảng dạy chưa đem lại hiệu quả cao, mức độ ứng dụng trong các trường và bản thân giáo viên chưa cao, chưa rộng rãi và chưa thể trở thành một hệ thống ứng dụng đồng bộ trong môi trường giáo dục hiện nay
Do hạn chế về thời gian, dạy theo chương trình nên các giáo viên ít khi sử dụng các phương tiện chỉ chủ yếu sử dụng power point
Việc xây dựng trên nền tảng Flash để mô phỏng trong dạy và học đã được áp dụng khá nhiều với nội dung phong phú và đa dạng Trên các kho tài liệu giảng dạy như Violet Có rất nhiều phần mềm tạo ra Flash như Flash Fluid Effect Tuy nhiên hầu hết chỉ được áp dụng trong chương trình dạy phổ thông, trong khi đại học ít được sử dụng
Đặc biệt, đào tạo trực tuyến ra đời như một cuộc cách mạng về dạy và học của thế kỷ 21 Ứng dụng những giải pháp tiên tiến của công nghệ để người dạy
có thể thiết kế được những phương tiện truyền tải kiến thức và kỹ năng một cách hữu hiệu nhất tới người học Người học thậm chí có thể ngồi ở bất cứ đâu vào bất cứ lúc nào để “đến trường” mà vẫn đạt được hiệu quả học tập tốt nhất thông qua công cụ hỗ trợ là máy tính và internet E-learning chính là một giải pháp hữu hiệu , và với Flash thì chúng ta có thể tao ra một kho tư liệu trực quan, sinh động, phong phú.Với nền tảng này giúp cho cho chương trình có hiệu ứng
mô phỏng đẹp hơn,rõ ràng hơn,
Nếu áp dụng Flash hợp lý sẽ tạo ra những hiệu quả rất cao trong dạy và học Ngày nay khi dạy học trực tuyến ngày càng phát triển, việc sử dụng các Flash
có chất lượng sẽ đem lại hiệu quả cao cho dạy và học, bổ trợ hữu ích cho quá trình dạy và học Các chương trình có thể trình chiếu ngay cho sinh viên xem hoặc đưa lên các trang web học tập
Trang 30CHƯƠNG 3: CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
3.1 Giới thiệu phần mềm Adobe Flash và ngôn ngữ lập trình
hỗ trợ nhiều định dạng import dữ liệu; bổ sung các công cụ tạo hoạt hình mạnh
mẽ như Bone, Bind, 3D Translation, 3D Rotation
Ngoài ra Flash còn có một ngôn ngữ văn lệnh riêng gọi là ActionScript:
ActionScript (AS) là ngôn ngữ lập trình của Flash ActionScript là một ngôn ngữ lập trình hướng đối tượng được dùng để phát triển các ứng dụng nhờ vào Adobe Flash Player và Adobe AIR Ngôn ngữ lập trình ActionScript có thể được biên dịch bởi:
Adobe Flex Builder
Adobe Flash Professional
Command Line nhờ vào bộ SDK
Cũng tương tự như Java, sau khi được biên dịch, các ActionScript sẽ được chuyển thành dạng bytecode mà chỉ có máy ảo ActionScript (AVM) mới hiểu được
Ngôn ngữ lập trình ActionScript (AS) là ngôn ngữ có cú pháp kết hợp của cả Java và Delphi (cú pháp và từ khóa giống Java, cách khai báo giống Delphi) Các toán tử, các câu lệnh tương tự như Java Một điều đặc biệt, đó là lớp của
Trang 31ActionScript có cú pháp khai báo và cách sử dụng rất giống với Java tạo nên sự đơn giản và quen thuộc với đa số người dùng Phiên bản mới nhất của AS cho đến thời điểm này là bản 3.0 AS là ngôn ngữ hướng đối tượng như Delphi (hay C++), nghĩa là không tuyệt giao với lập trình hướng thủ tục (bằng chứng là ta có thể viết hàm bên ngoài lớp) AS là ngôn ngữ phân biệt chữ hoa và chữ thường Cũng lưu ý rằng, AS là ngôn ngữ kịch bản (scripting language), nên nó cũng mang nhiều đặc trưng của một ngôn ngữ kịch bản Các câu lệnh nằm tự do, không nhất thiết phải được đặt trong một hàm cụ thể nào đó chính là đặt trưng
dễ nhận thấy của một ngôn ngữ kịch bản như JavaScript
Ngoài chức năng tính toán thông thường như các ngôn ngữ lập trình khác,
AS còn có khả năng điều khiển animation và các đối tượng trong file Flash; xử
lý các sự kiện tương tác với chuột và bàn phím; load dữ liệu, ảnh, video, từ bên ngoài; và có khả năng truyền và tải luồng âm thanh hoặc hình ảnh Chính vì những đặc điểm này mà nếu áp dụng ngôn ngữ lập trình AS tạo ra các chương trình mô phỏng sẽ đạt hiệu quả cao, tăng tính sinh động Đặc biệt khả năng xử
lý các sự kiện tương tác với chuột và bàn phím sẽ hỗ trợ rất nhiều khi lập trình các chương trình mô phỏng mà tăng khả năng tương tác với người dùng
3.2 Tính ưu việt của phần mềm Adobe Flash :
Flash là công cụ để phát triển các ứng dụng như thiết kế các phần mềm mô phỏng Điểm mạnh của Flash là có thể nhúng các file âm thanh, hình ảnh động Người lập trình có thể chủ động lập các điều hướng cho chương trình Flash cũng có thể xuất bản đa dạng các file kiểu html, exe, jpg, để phù hợp với các ứng dụng của người sử dụng như trên Web, CD,
Các tập tin Flash, thường thường mang phần mở rộng là swf và có thể hiện thị bởi các chương trình duyệt trang Web hay ứng dụng Flash Player Các tập tin Flash thường là hoạt họa, quảng cáo hay các thành phần trang trí của các trang Web Flash còn được sử dụng để tạo ra các ứng dụng Internet phong phú
Trang 32Với một kích thước tương tự, một tập tin Flash có thể chứa nhiều thông tin hơn
là một tập tin hình dạng GIF hay dạng JPEG Ưu điểm lớn nhất của Flash - với
đồ họa dạng vecto - là kích thước file rất nhỏ Thuận tiện cho việc truyền tải dữ liệu qua Internet
Phần mềm Flash có thể trở thành một phương tiện trực quan vô cùng hữu hiệu Với tính năng chính là tạo các hình ảnh động, Flash cho phép thể hiện tất
cả các quá trình từ đơn giản đến phức tạp Ví dụ trong lĩnh vực phát triển, thiết
kế website, so với các công nghệ khác thì công nghệ Flash/Flex hỗ trợ lập trình hướng đối tượng Nó tương thích với hầu hết các ngôn ngữ lập trình web hiện nay Flash hỗ trợ hầu hết trên các hệ điều hành: Windows, Linux, MacOS và rất nhiều mẫu Mobile của nhiều hãng khác nhau Để phát triển một ứng dụng Flash, các nhà phát triển có thể sử dụng trình biên tập Adobe Flash Trình biên tập này hoạt động tốt trên đa số hệ điều hành: Windows và MacOS
Một số công nghệ khác như Silverlight mặc dù ra đời sau Flash, nhưng với
sự hậu thuẩn của một tập đoàn lớn như Microsoft, nó cũng đang dần có một vị thế đáng kể Nhược điểm của nó là chỉ tương thích trên Windows, MacOS và các mẫu điện thoại Windows Mobile Để phát triển ứng dụng trên Silverlight, các nhà phát triển chỉ có thể sử dụng Visual Studio vốn chỉ dành cho HĐH Windows JavaFx ra đời sau cùng, nhưng nó có nhiều ưu điểm: mã nguồn mở,
hỗ trợ nhiều hệ điều hành - Windows, Linux, MacOS và hứa hẹn hoạt động tốt trên nhiều mẫu Mobile, trình khách không cần cài đặt Plugin hỗ trợ Xét ở một phạm trù nào đó, nó có nhiều điểm tương đồng với kĩ thuật tạo video (kĩ thuật
24 hình/giây) Nhưng nó có ưu điểm là phim được tạo bởi Flash không bị vỡ hạt khi phóng to (trừ trường hợp phim có chứa các đối tượng đồ họa điểm) Và đặc biệt, kích thước phim tạo bởi Flash rất nhỏ gọn so với các định dạng phim khác
Việc khai thác các phần mềm MS Office, Power Point , Violet( thiết kế và trình diễn), GIF Movie Gear (làm hoạt hình), Windows Movie Maker (làm
Trang 33phim),… vào dạy học là một xu hướng tất yếu trong thời kỳ đổi mới phương pháp dạy và học Adobe Flash cũng là một phần mềm nổi bật với nhiều ưu việt
Flash có những ưu điểm nổi bật hơn so với các phần mềm trên:
Cho phép ghi âm thanh, hình ảnh, video đưa lên bài giảng, trình chiếu một cách sinh động, logic và chi tiết
Cho phép chèn các câu hỏi tương tác (bao gồm câu hỏi trắc nghiệm lên bài giảng)
Có thể tự vẽ, thiết kế được các nhân vật, phong cảnh, làm được phim hoạt hình như thật, sống động
Điều khiển được thời gian của bài giảng điện tử
Làm được phim, games, đố vui, dàn nhạc, website
Cho phép xuất bài giảng ra nhiều tài liệu khác nhau (website, CD, ) và có thể dạy học trực tuyến
Sử dụng các hình ảnh động mô phỏng các bước sắp của các quá trình, cơ chế đó sẽ giúp cho tất cả người học có hướng suy nghĩ giống nhau, hiểu
rõ ràng, hiểu đúng về bản chất của sự vật mô phỏng
Nhờ quan sát các mô hình động, người học sẽ nhanh chóng nắm rõ và lĩnh hội một cách dễ dàng bản chất của các cơ chế, quá trình Kiến thức của người học sau khi sử dụng các hình ảnh động được mô phỏng sẽ nhớ lâu hơn
Với những ưu điểm trên, Flash đang dần thay thế các phần mềm khác trong việc thiết kế bài giảng điện tử, mô phỏng
Trang 343.3 Hướng dẫn sử d ng phần mềm Adobe Flash :
a) Khởi động phần mềm :
Để khởi động Adobe Flash Professional CS6: Vào Start > All Programs -> Chọn Adobe Master Collection CS6 -> Chọn Adobe Flash Professional
Sau khi quá trình khởi động hoàn tất, chương trình sẽ có giao diện sau đây:
H nh 1 : Khởi động phần mềm Adobe Flash Professional
Trong giao diện tổng thể Essential của Flash CS6, có thể chia làm 5 vùng chính:
Vùng hệ thống menu phía trên cùng
Vùng thanh công cụ ở bên phải
Vùng thuộc tính và thư viện bên cạnh thanh công cụ
Vùng sáng tác ở trung tâm
Vùng TimeLine và Layer ở phía bên dưới
Trang 35 Ngoài ra có các kiểu dự án Flash File (Adobe Air 2): tạo dự án Flash cho Desktop chạy trên Adobe Air Adobe Air là một dự án mới của Adobe nhằm tạo ra môi trường cho các nhà phát triển những ứng dụng dựa vào công nghệ Flash có thể chạy độc lập trên các hệ điều hành Flash File (Mobile - iphone OS, Flash Lite 4, Device Central): tạo dự án Flash cho Mobile
Đặc biết nếu muốn tạo các Action độc lập, có thể tạo riêng chúng bằng cách chọn ActionScript File
c) Layer, Frame, Scene và Movie:
Trong kĩ thuật tạo các thước phim, kĩ thuật được sử dụng phổ biến để tạo chuyển động trong các đoạn phim là kĩ thuật 24 hình/ giây Trong kĩ thuật này, các hình ảnh có nhiều điểm tương đồng sẽ được ghép nối lại một cách liên tiếp Các đối tượng cần tạo chuyển động sẽ có chút thay đổi trên mỗi khung hình Khi các khung hình thay thế cho nhau ở tốc độ mà mắt người không nhận ra sự thay đổi này, chúng ta sẽ cảm thấy đối tượng chuyển động Kĩ thuật tạo hoạt hình trong Flash cũng hoàn toàn tương tự Trước khi tìm hiểu kĩ về các cách thức tạo chuyển động trong Flash, ta cần tìm hiểu qua các khái niệm: Lớp - Layer, Khung hình - Frame, Cảnh quay - Scence, Thước phim - Movie
Layer: là các lớp được dùng trong việc sáng tác Mỗi một khung hình có thể chứa nhiều layer khác nhau Mỗi một đối tượng thường được xây dựng trên mỗi layer