Em xin gửi lời cảm ơn đến thầy Đào Ngọc Cảnh – Phó trưởng Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn, thầy Lâm Bá Khánh Toàn và thầy Đinh Thanh Phương – giảng viên Khoa Luật, đã nhiệt tình cung cấ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN PHƯƠNG HỒNG NGỌC
MSSV: 4104771
PHÂN TÍCH NHÂN TỐ THU HÚT SINH VIÊN KHỐI NGÀNH KHOA HỌC XÃ HỘI THAM GIA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành: Quản trị thương mại
Mã số ngành: 52340121
Tháng 12 – Năm 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN PHƯƠNG HỒNG NGỌC
MSSV: 4104771
PHÂN TÍCH NHÂN TỐ THU HÚT SINH VIÊN KHỐI NGÀNH KHOA HỌC XÃ HỘI THAM GIA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành: Kinh doanh Thương mại
Mã số ngành: 52340121
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
LÊ NGUYỄN ĐOAN KHÔI
Tháng 12 – Năm 2013
Trang 3Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn đến thầy Lê Nguyễn Đoan Khôi – là người đã nhiệt tình chỉ dẫn, hỗ trợ em thực hiện và hoàn thành bài luận văn tốt nghiệp của mình
Em xin gửi lời cảm ơn đến Quý Thầy Cô khoa Kinh tế - Quản trị Kinh doanh,
Cô Châu Thị Lệ Duyên và đặc biệt là Thầy Nguyễn Phạm Thanh Nam là người thầy
em rất kính trọng Quý Thầy, Cô đã tận tình truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm sống quý báu cho em trong suốt bốn năm học tập; đã nhiệt tình giúp đỡ, góp ý giúp em hoàn thành đề tài của mình
Em xin gửi lời cảm ơn đến thầy Đào Ngọc Cảnh – Phó trưởng Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn, thầy Lâm Bá Khánh Toàn và thầy Đinh Thanh Phương – giảng viên Khoa Luật, đã nhiệt tình cung cấp cho em những số liệu, những thông tin quý giá về hoạt động nghiên cứu khoa học của khoa trong suốt quá trình luận văn này được thực hiện
Cảm ơn những người bạn thân thiết đã luôn giúp đỡ và ủng hộ mình; cảm ơn cả những bạn sinh viên chưa từng quen biết đã dành thời gian hợp tác, giúp mình hoàn thành quá trình thu thập số liệu
Lời cảm ơn cuối cùng và quan trọng nhất em xin được dành cho Cha Mẹ, những người luôn dõi theo từng bước đi của em trong cuộc sống, cũng như sẵn sàng hỗ trợ những lúc em gặp khó khăn
Do hạn chế về kiến thức nên luận văn tốt nghiệp của em khó tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô để đề tài của em được hoàn thiện hơn
Trang 4Cần Thơ, ngày 4 tháng 12 năm 2013
Người thực hiện
Nguyễn Phương Hồng Ngọc
Trang 5Cần Thơ, ngày 4 tháng 12 năm 2013
Người thực hiện
Nguyễn Phương Hồng Ngọc
Trang 6CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP
CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Trang 73.3.4 Những mặt hạn chế trong công tác NCKH của sinh viên 54
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC THU HÚT
4.2 MỨC ĐỘ HIỂU BIẾT CỦA SINH VIÊN VỀ NGHIÊN CỨU KHOA
Trang 84.3.2 Hoạt động của các câu lạc bộ nghiên cứu khoa học 61 4.3.3 Mức độ tiếp cận thông tin trên các trang web về NCKH 63 4.3.4 Đánh giá về các đề tài nghiên cứu khoa học trong trường 65
4.5 MỨC ĐỘ THỰC HIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG CÓ TÍNH CHẤT KHOA
4.6 ĐÁNH GIÁ VỀ CÁC NGUỒN LỰC HỖ TRỢ TRONG NHÀ
TRƯỜNG ĐỐI VỚI SINH VIÊN ĐÃ VÀ ĐANG THAM GIA NGHIÊN
4.8 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC THU HÚT SINH VIÊN
4.9 THỐNG KÊ MÔ TẢ CÁC ĐẶC TÍNH CỦA NHÓM NHÂN TỐ THU
4.9.1 Mức độ quan trọng của các nhân tố theo đánh giá của sinh viên 84 4.9.2 Kiểm định sự khác biệt về trị trung bình của các nhóm nhân tố theo đánh giá của
CHƯƠNG 5: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGHIÊN CỨU KHOA
5.2 GIẢI PHÁP THU HÚT SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 93
6.2.2 Đối với lãnh đạo nhà trường và lãnh đạo các khoa nói chung 100
Trang 9PHỤ LỤC 1: Bản câu hỏi 106
PHỤ LỤC 2: Kết quả thống kê về đối tượng nghiên cứu 113
PHỤ LỤC 3: Kết quả thống kê hiểu biết của sinh viên về NCKH 113
PHỤ LỤC 4: Kết quả mô tả về mức độ tiếp cận đến các hoạt động NCKH 114
PHỤ LỤC 5: Đánh giá về Trung tâm học liệu 116
PHỤ LỤC 6: Thống kê mức độ thực hiện các hoạt động khoa học của SV 116
PHỤ LỤC 7: Đánh giá các nguồn lực hỗ trợ trong NCKH 116
PHỤ LỤC 8: Thống kê mô tả lý do SV chưa tham gia NCKH 117
PHỤ LỤC 9: Kết quả Kiểm định Cronbach ‘s alpha cho nhóm Lợi ích đạt được khi NCKH 117
PHỤ LỤC 10: Kết quả Kiểm định Cronbach ‘s alpha cho nhóm Nguồn lực hỗ trợ cho sinh viên khi tham gia NCKH 117
PHỤ LỤC 11: Kết quả Kiểm định Cronbach ‘s alpha cho nhóm Giảng viên hướng dẫn 118
PHỤ LỤC 12: Kết quả Kiểm định Cronbach ‘s alpha cho nhóm Môi trường NCKH 118
PHỤ LỤC 13: Kết quả Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 118
PHỤ LỤC 14: Kết quả Kiểm định Anova và Bonferroni cho nhóm F1 120
PHỤ LỤC 15: Kết quả Kiểm định Anova cho nhóm F2 120
PHỤ LỤC 16: Kết quả Kiểm định Anova cho nhóm F3 121
PHỤ LỤC 17: Kết quả Kiểm định Anova cho nhóm F4 121
PHỤ LỤC 18: Kết quả Kiểm định Anova cho nhóm F5 121
PHỤ LỤC 19: Trị trung bình về mức độ quan trọng của nhóm nhân tố F1 Lợi ích khi tham gia NCKH với sinh viên các khoa khác nhau 122
Trang 10DANH MỤC BẢNG
BẢng 2.2 : Diễn giải các biến của mô hình nghiên cứu 17
BẢng 2.2 : Mô tả cỡ mẫu điều tra 19
BẢng 3.1: Tình hình NCKH của SV trường ĐH Kinh tế TP.HCM từ 2008-2012 25
BẢng 3.2: Hoạt động NCKH trong SV Học viện Tài chính từ năm 2011-2012 27
BẢng 3.3: Tổng hợp số lượng đề tài NCKH trong SV trường ĐH Lạc Hồng 2011- 2012 29
BẢng 3.4 : Thống kê về công tác Nội san SV Học viện Tài chính từ tháng 1 đến tháng 12/2012 29
BẢng 3.5: Số lượng SV hệ chính quy Khoa KT-QTKD năm 2011-2012 34
BẢng 3.6: Số lượng cán bộ Khoa theo chức danh năm 2011 – 2012 35
BẢng 3.7: Số lượng cán bộ giảng dạy của khoa theo học vị năm 2011 – 2012 35
BẢng 3.8: Thống kê số lượng đề tài nghiên cứu trong năm 2011 - 2012 37
BẢng 3.9: Các đề tài nghiên cứu khoa học đã chuyển giao 37
BẢng 3.10: Thống kê số lượng đề tài cấp trường đã nghiệm thu của SV khoa KT-QTKD năm 2011 - 2012 38
BẢng 3.11: Số lượng sinh viên các ngành phân theo bộ môn năm 2011-2012 40
BẢng 3.12: Số lượng cán bộ giảng dạy phân theo bộ môn năm 2012 40
BẢng 3.13: Tổng số đề tài NCKH phân theo bộ môn 41
BẢng 3.14: Đề tài do cán bộ thực hiện năm 2012-2013 42
Trang 11BẢng 3.15 : Đề tài NCKH do sinh viên thực hiện năm 2012 – 2013 43
BẢng 3.16: Tổng số báo cáo khoa học qua các năm 2012 – 2013 45
BẢng 3.17: Số lượng sinh viên và giảng viên khoa luật qua các năm 46
Bảng 3.18: Thống kê số lượng đề tài NCKH và bài báo khoa học của khoa Luật từ năm 2010 đến 2013 47
BẢng 3.19: Danh mục đề tài sinh viên triển khai trong năm học 2011-2012 thuộc lĩnh vực khoa học xã hội 49
BẢng 3.20: Các giải thưởng Tài năng khoa học trẻ Việt Nam SV trường ĐH Cần Thơ đã đạt được 2011-2012 52
BẢng 3.21: Các giải thưởng Holcim Prize SV trường Đại học Cần Thơ đã đạt được 2011-2012 54
BẢng 4.1 : Thông tin về đối tượng nghiên cứu 58
BẢng 4.2: Hiểu biết của SV về giai đoạn xuất phát một NCKH BẢng 4.3: Hiểu biết của sinh viên trong việc xác định vấn đề khoa học 59
BẢng 4.4: Tỷ lệ sinh viên tham dự hội thảo, báo cáo luận văn, đánh giá chất lượng và lý do không tham gia 60
BẢng 4.5: Mức độ tiếp cận thông tin về các nhóm NCKH trong SV 62
BẢng 4.6: Đánh giá của sinh viên về các nhóm NCKH 63
BẢng 4.7: Mức độ truy cập và đánh giá chất lượng các trang web 64
BẢng 4.8: Đánh giá về các đề tài NCKH trong trường 65
BẢng 4.9: Đánh giá chất lượng nguồn học liệu và mức độ thuận tiện khi tiếp cận 66
Trang 12BẢng 4.10: Thống kê đánh giá chất lƣợng nguồn học liệu và mức độ thuận tiện
khi tiếp cận phân theo từng khoa 67 BẢng 4.11: Thống kê tỷ lệ sinh viên đã từng thực hiện các hoạt động có tính chất khoa học
68 BẢng 4.12: Đánh giá về nguồn lực hỗ trợ khi thực hiện NCKH 69
BẢng 4.13 : Lý do sinh viên chƣa tham gia NCKH 71
BẢng 4.14 : Lý do SV chƣa tham gia NCKH phân theo các khoa khác nhau72
BẢng 4.15: Kết quả kiểm định Cronbach's Alpha cho nhóm nhân tố Lợi ích đạt đƣợc khi
BẢng 4.20: Thống kê điểm trung bình của từng nhóm nhân tố 85
Bảng 4.21: Kiểm định sâu Anova (Bonferroni) về sự khác nhau trong đánh giá nhân tố
Lợi ích khi tham gia NCKH của sinh viên các khoa khác nhau 87 BẢng 4.22: Thống kê mô tả sự khác biệt trị trung bình về mức độ quan trọng của nhóm nhân tố Lợi ích khi tham gia NCKH với sinh viên các khoa khác nhau 87
Trang 13DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu tổng thể 16 Hình 2.2: Quy trình nghiên cứu 24
Trang 14DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Tiếng Việt
ĐHCT – QLKH Đại học Cần Thơ – Quản lý Khoa học
Trang 15CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Lịch sử tiến hoá loài người đã chứng minh, xã hội muốn tồn tại và phát triển, con người phải không ngừng tìm tòi, phát minh ra những định luật mới, những công
cụ hay vật liệu mới…phục vụ cho quá trình lao động sản xuất Sự đào thải những cái
cũ, lỗi thời sẽ không diễn ra nếu không có quá trình nghiên cứu khoa học, sáng tạo của con người Rõ ràng, không có khoa học thì sẽ không có những tri thức mới, những văn minh mới Quá trình nghiên cứu khoa học đã trở nên một phần không thể thiếu trong xã hội loài người, dù ở bất kỳ thời đại nào, đặc biệt trong môi trường giáo dục đại học, là nơi trực tiếp đào tạo và bồi dưỡng thế hệ nhân tài cho đất nước Một trường đại học danh tiếng phải là nơi có nhiều thành tích nghiên cứu nổi bật, bên cạnh công tác giảng dạy Hai hoạt động này vừa bổ trợ vừa hoàn thiện lẫn nhau Nghiên cứu khoa học giúp người thầy có thêm kiến thức thực tế để giảng dạy cho sinh viên; đồng thời, qua hoạt động giảng dạy cũng hé lộ ra những đề tài mới thú vị, đánh thức
và phát triển thêm năng lực nghiên cứu Công tác nghiên cứu khoa học có tầm quan trọng đặc biệt trong giáo dục đại học vì không những góp phần nâng cao chất lượng đào tạo mà còn tạo ra những tri thức mới, sản phẩm mới phục vụ cho sự phát triển của nhân loại Nhận thức được tầm quan trọng đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2, Ban chấp hành Trung Ương khoá VIII của Đảng Cộng Sản có nêu: “Các trường đại học phải là các trung tâm nghiên cứu khoa học, công nghệ, chuyển giao và ứng dụng công nghệ vào sản xuất và đời sống” Qua đó, chúng ta cũng nhận thấy mức độ quan tâm của nhà nước vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học, đặc biệt trong giáo dục đại học, với một mục tiêu duy nhất là đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng một đội ngũ lao động có chất lượng cao
Trong những năm gần đây, trường Đại học Cần Thơ đã chú trọng đến công tác nghiên cứu khoa học, cụ thể là việc ban hành hướng dẫn số 305/ĐHCT-QLKH về Hướng dẫn và thực hiện và quản lý đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên từ năm
Trang 16lý do trên, đề tài “Phân tích các nhân tố thu hút sinh viên khối ngành khoa học xã
hội tham gia nghiên cứu khoa học" trở nên cấp thiết nhằm tìm hiểu các nhân tố tạo
lực hút đến sinh viên trong hoạt động nghiên cứu khoa học Từ đó đề ra giải pháp tập trung vào các yếu tố này, nhằm đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trong tương lai
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Trang 171.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Tình hình NCKH trong sinh viên trường Đại học Cần Thơ nói chung và sinh viên khối ngành khoa học xã hội nói riêng những năm gần đây như thế nào?
- Mức độ hiểu biết về NCKH và tiếp cận thông tin đến hoạt động này của sinh viên khối ngành khoa học xã hội trường Đại học Cần Thơ hiện nay ra sao?
- Những nhân tố nào tác động đến việc thu hút sinh viên thuộc khối ngành này tham gia NCKH?
- Các giải pháp nào đ ể thu hút sinh viên khối ngành khoa học xã hội trường Đại học Cần Thơ tham gia NCKH nhiều hơn?
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Không gian nghiên cứu
Việc khảo sát và thu thập số liệu sơ cấp đối với sinh viên được thực hiện ở các khoa Kinh tế - Quản trị Kinh doanh, khoa Khoa học Xã hội & nhân văn và Khoa Luật trường Đại học Cần Thơ vì các khoa trên đều thuộc nhóm ngành khoa học xã hội Các
đề tài NCKH ở các khoa này thuộc nhóm nghiên cứu mô tả, nghiên cứu giải thích, thường tập trung tìm hiểu, mô tả thực trạng về một hiện tượng, một vấn đề trong đời sống kinh tế-xã hội và đề ra giải pháp giải quyết vấn đề đó
1.4.2 Thời gian nghiên cứu
- Đề tài được thực hiện từ tháng 8/2013 đến tháng 11/2013
- Số liệu thứ cấp được thu thập từ năm 2010 đến năm 2013
- Số liệu sơ cấp được thu thập từ ngày 1/10 đến 15/10/2013
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu
Do hạn chế về thời gian cũng như năng lực nghiên cứu, đề tài chỉ tập trung khảo sát đối tượng sinh viên năm thứ ba và thứ tư ở các khoa Kinh tế - Quản trị Kinh doanh, khoa Khoa học Xã hội & nhân văn và Khoa Luật trường Đại học Cần Thơ Sở
dĩ chọn đối tượng này là vì các bạn đã hội tụ đủ những kiến thức, kinh nghiệm cần
Trang 18thiết để thực hiện NCKH, khác với sinh viên năm nhất và năm thứ hai vẫn còn bỡ ngỡ với môi trường học tập mới, chưa đủ tự tin và chưa tích luỹ đầy đủ kiến thức cần thiết, cũng như việc cập nhật thông tin về hoạt động NCKH vẫn còn rất hạn chế
1.5 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1 Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự, 2011 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên các trường đại học ở khu vực Đồng bằng
sông Cửu Long Hội nghị tổng kết : Hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên và
giảng viên trẻ khối các trường đại học kinh tế và quản trị kinh doanh toàn quốc, trang
257-267, Trường Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí Minh, năm 2013 Số liệu được thu thập bằng phỏng vấn trực tiếp 575 sinh viên các trường đại học ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Tác giả sử dụng phương pháp nhân tố khám phá hình thành nên 4 nhân tố
có ảnh hưởng đến khả năng tham gia NCKH của sinh viên Trong đó có nhóm F3
“Lợi ích đạt được” bao gồm các biến: cơ hội được tuyển thẳng cao học; được tham
gia cuộc thi NCKH dành cho sinh viên; được khen thưởng, điểm rèn luyện Nhóm F4
thể hiện “Các yếu tố hỗ trợ cho việc thực hiện NCKH” gồm các năng lực bản thân;
kinh phí hỗ trợ, thời gian cho NCKH; sự nhiệt tình của giáo viên hướng dẫn; và thông tin về NCKH Hạn chế của đề tài là cỡ mẫu nhỏ so với địa bàn nghiên cứu là Đồng bằng sông Cửu Long nên chưa phản ánh chính xác thực trạng cũng như ý nghĩa nghiên cứu.[16]
2 Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2011 Nghiên cứu khoa học trong sinh viên Đại
học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, mười năm nhìn lại Hội nghị tổng kết : Hoạt
động nghiên cứu khoa học sinh viên và giảng viên trẻ khối các trường đại học kinh tế
và quản trị kinh doanh toàn quốc, trang 81-92, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM,
năm 2013 Nghiên cứu được thực hiện thông qua cuộc khảo sát 212 sinh viên ở tất cả các cơ sở học tập chính quy trong trường Tác giả cũng tiến hành điều tra về các đề xuất mà sinh viên mong muốn trong việc đưa NCKH đi lên, tập trung chủ yếu vào
“Giới thiệu đến các cơ sở sản xuất kinh doanh để thu thập dữ liệu; “Trang bị thư viện
thuận lợi để tìm tài liệu”; “ Tổ chức các buổi đào tạo kỹ năng cần cho NCKH”;
Trang 19Thơ Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, tháng 1 năm 2010 Nhóm tác giả hướng
đến đối tượng nghiên cứu là sinh viên năm 3 trong trường, phỏng vấn trực tiếp thông qua bảng câu hỏi cho 1400 sinh viên ở tất cả các khoa, viện của đại học Cần Thơ Đề tài nghiên cứu đã trình bày một cái nhìn bao quát về thực trạng sinh viên tham gia NCKH trong toàn trường, qua các tiêu chí : Quan điểm về NCKH, Thái độ của sinh viên đối với NCKH, Mức độ tham gia hội thảo NCKH, Tình hình NCKH của sinh viên trường hiện nay, Sự khuyến khích của trường đối với công tác NCKH,
Dự định của sinh viên về việc tham gia NCKH, Điều kiện tham gia NCKH trong tương lai và Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tác động đến việc NCKH Nhóm tác giả liệt kê các nhân tố ảnh hưởng đến NCKH gồm: có sẵn ý tưởng; kiến thức chuyên ngành; sự trợ giúp của bạn bè, thầy cô, nhà trường; và cơ sở vật chất Tuy nhiên, hạn chế của đề tài là chưa đi sâu vào phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng , nhóm tác giả chỉ dừng lại ở việc nhận biết các nhân tố ảnh hưởng mà chưa lượng hóa được mức độ tác động của các nhân tố đó đến nhận thức củ a sinh viên.[23]
4 Bùi Thị Thanh, 2013 Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học trong sinh viên của
Trường Đại học Kinh tế TP.HCM cần thực hiện đồng bộ các giải pháp Hội nghị tổng
kết : Hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên và giảng viên trẻ khối các trường đại học kinh tế và quản trị kinh doanh toàn quốc, trang 198-204, Trường Đại học Kinh tế
TP.Hồ Chí Minh, năm 2013 Tác giả tiến hành thảo luận nhóm với các nhóm đối tượng sinh viên, giảng viên và chuyên viên phòng Quản lý Khoa học Từ đó thống nhất cho rằng có 5 nguyên nhân chủ yếu, xuất phát từ bên phía môi trường NCKH của nhà trường, dẫn đến tình hình NCKH không phát triển mạnh về chất và lượng, trong 3 năm
Trang 202008-2012, đó là : “Áp lực học tập làm sinh viên không có đủ thời gian cho NCKH”;
“Hoạt động của Đoàn thanh niên, Hội sinh viên chưa đủ mạnh để khơi dậy đam mê, ý thức NCKH trong sinh viên”; “Nguồn kinh phí hỗ trợ cho sinh viên NCKH chưa thoả đáng”; “Giảng viên chưa thực sự nhiệt tình trong công tác hướng dẫn sinh viên NCKH”; “Cơ chế phối hợp giữa các phòng ban có liên quan đến hoạt động NCKH và giữa các khoa, Bộ môn còn thiếu rõ ràng, chưa phát huy được vai trò và trách nhiệm của các bên đối với hoạt động NCKH của sinh viên” Hạn chế của đề tài là chỉ dùng phương pháp thảo luận nhóm với một vài đối tượng đại diện mà không tiến hành thu thập ý kiến của sinh viên trong trường-những người trực tiếp tham gia NCKH Do đó, kết quả nghiên cứu có thể không khách quan, không phản ảnh đúng thực trạng cũng như chưa thật sự sâu sắc trong quá trình tìm hiểu bản chất và giải quyết vấn đề.[2]
5 Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự, 2011 Nhận định khó khăn và đề xuất giải
pháp đối với phong trào nghiên cứu khoa học của sinh viên Hội nghị tổng kết : Hoạt
động nghiên cứu khoa học sinh viên và giảng viên trẻ khối các trường đại học kinh tế
và quản trị kinh doanh toàn quốc, trang 279-287, Trường Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí
Minh, năm 2013 Dựa vào số liệu khảo sát 575 sinh viên thuộc 4 trường đại học ở Đồng bằng sông Cửu Long và thông tin thứ cấp, kết hợp với phương pháp thảo luận
và phỏng vấn chuyên gia, nhóm tác giả đã nhận định những khó khăn ảnh hưởng đến khả năng tham gia NCKH : Thiếu phương pháp nghiên cứu và kiến thức nền tảng, Thiếu kinh phí và thủ tục hành chính phức tạp, Thiếu môi trường nghiên cứu khoa học, Hạn chế về cơ sở vật chất và giáo viên hướng dẫn, Hạn chế về nhận thức đối với NCKH Từ đó, đề xuất 4 nhóm giải pháp đẩy mạnh hoạt động NCKH Thứ nhất, nâng cao nhận thức của sinh viên về NCKH thông qua các kênh thông tin, các môn học liên quan đến NCKH Thứ hai, tăng cường các nguồn kinh phí hỗ trợ cho hoạt động NCKH sinh viên như ngân sách nhà nước, tổ chức phi chính phủ, doanh nghiệp Thứ
ba, quan tâm đến chính sách động viên khuyến khích NCKH như khen thưởng bằng vật chất hay tinh thần, đăng kí sở hữu trí tuệ hay công bố các công trình nghiên cứu trên các tạp chí NCKH chuyên ngành Thứ tư, tạo “sân chơi khoa học” chuyên nghiệp cho sinh viên thông qua các hội thảo, hội nghị khoa học trong trường và khu vực.[17]
Trang 216 Vũ Thế Dũng (2005) Nghiên cứu khoa học trong sinh viên: cần cách tiếp
cận mới Báo Tuổi Trẻ, số ra ngày 15/1/2005 Các cách tiếp cận mới được tác giả đề
xuất chính là: thứ nhất, đánh giá tình hình NCKH trong sinh viên là đánh giá chất lượng của hoạt động nghiên cứu khoa học, hay khả năng của sinh viên nói chung trong việc hình thành các ý tưởng và triển khai quá trình nghiên cứu (bao gồm phát hiện vấn đề, xây dựng đề cương, tổ chức thực hiện, phương pháp thực hiện, tìm kiếm tài liệu, thu thập thông tin, thí nghiệm, quan sát, phân tích số liệu, thử nghiệm kết quả, viết báo cáo, trình bày báo cáo) chứ không đặt nặng vào kết quả nghiên cứu/ sản phẩm cuối cùng Thứ hai, NCKH trong sinh viên bắt nguồn từ những việc nhỏ như sinh viên tự tìm đọc tài liệu, các công trình nghiên cứu trên các tạp chí khoa học, trao đổi với nhau (và với giảng viên) ở các diễn đàn chính thức và không chính thức đến việc thực hiện các đề án môn học, luận văn tốt nghiệp hay cao hơn là các đề tài nghiên cứu độc lập.[26]
7 Đỗ Như An, Nguyễn Đình Hưng Vài giải pháp thu hút sinh viên đầu khoá
nghiên cứu khoa học Tạp chí Khoa học, khoa Công nghệ thông tin Trường Đại học
Nha Trang Trong bài tham luận, tác giả đã nêu 3 nguyên nhân làm sinh viên chưa thực sự say mê với các hoạt động NCKH, đó là Thiếu môi trường NCKH, Chưa có sự liên kết giữa doanh nghiệp và nhà trường trong việc triển khai ứng dụng các đề tài và huy động hỗ trợ, Cơ sở vật chất còn thiếu thốn Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp khắc phục tình trạng trên, gồm có Cải tiến chương trình học và trình độ ngoại ngữ; Xây dựng môi trường NCKH có chất lượng; Thực hiện các chính sách khuyến khích NCKH như khen thưởng, tài trợ xứng đáng; Thực hiện liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp Đối tượng nghiên cứu của tác giả ở đây là sinh viên đầu khoá và giải pháp ở đây đề xuất cho nhóm ngành công nghệ thông tin nói riêng nên khi ứng dụng vào mô hình nghiên cứu là đối tượng sinh viên năm thứ ba, thứ tư ở trường Đại học Cần Thơ, tác giả sẽ xem xét và chỉnh sửa một vài yếu tố cho phù hợp.[11]
8 Thân Thị Thu Thuỷ và các tác giả Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động
nghiên cứu khoa học của sinh viên trường Đại học Kinh tế TP.HCM Hội nghị tổng
Trang 22Trong đó, có nhân tố Cảm nhận của sinh viên về giảng viên hướng dẫn, gồm các biến:
Hỗ trợ về định hướng NCKH, Hỗ trợ về phương pháp NCKH, Hỗ trợ về nguồn tài liệu sử dụng cho NCKH Qua đó đề xuất một số giải pháp thúc đẩy hoạt động NCKH như hoàn thiện quy chế khuyến khích giảng viên hướng dẫn và sinh viên NCKH; vai trò của giảng viên trong việc định hướng đề tài mang tính ứng dụng cho sinh viên; tích cực quảng bá các công trình này đến doanh nghiệp, các đơn vị quản lý nhằm tìm kiếm đầu ra cho các đề tài nghiên cứu; hợp tác nghiên cứu giữa các khoa/viện trong
và ngoài trường; tổ chức tốt môi trường khoa học cho sinh viên thông qua các buổi hội thảo, trao đổi học thuật…[22]
Các bài tham luận nhận định về hoạt động NCKH trong sinh viên phần nhiều đều là những bài viết mô tả thực trạng, nêu những khó khăn nội tại về hoạt động NCKH trong một số trường Đại học cụ thể (trừ những bài có ứng dụng phương pháp
xử lý số liệu) Do đó, trong việc ứng dụng và triển khai mô hình nghiên cứu cần chọn lọc lại các đối tượng, các nhân tố sao cho phù hợp với tình hình chung của trường Đại học Cần Thơ Từ việc tiếp thu những ưu, khuyết điểm của các tài liệu tham khảo nói
trên, đề tài “Phân tích các nhân tố thu hút sinh viên khối ngành khoa học xã hội
tham gia NCKH" được thực hiện dựa trên nguồn số liệu thứ cấp từ Phòng Quản lý
Khoa học trường Đại học Cần Thơ nhằm cung cấp một cái nhìn tổng quan về tình hình NCKH của nhà trường trong giai đoạn hiện nay Mặt khác, đề tài cũng sử dụng
số liệu sơ cấp thông qua phỏng vấn sinh viên năm thứ ba, thứ tư thuộc khối ngành khoa học xã hội nhằm thể hiện sự khách quan, phản ánh đúng thực trạng mức độ quan tâm và đánh giá chính xác về tình hình NCKH trường Đại học Cần Thơ, giúp đề tài có ý nghĩa tốt hơn về mặt nghiên cứu
Trang 23CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
bộ môn khoa học như : triết học, sử học, kinh tế học, toán học…[14]
Theo tác giả Đinh Tiên Minh (2013, trang 353), “Khoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức mới, học thuyết mới về tự nhiên và xã hội Những kiến thức hay học thuyết mới này, tốt hơn, có thể thay thế dần những cái cũ,
Trang 24không còn phù hợp Như vậy, khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy”.[9]
Nghiên cứu khoa học
Trước tiên, ta cần có cái nhìn khái quát về thuật ngữ “nghiên cứu” Theo Tổ chức y tế thế giới thì nghiên cứu được xem là một quá trình điều tra về kiến thức thông qua hoạt động soát xét hoặc tìm hiểu hoặc thực nghiệm nhằm mục tiêu phát hiện hay phân tích một kiến thức mới Còn theo từ điển Cambridge Advanced Learners, nghiên cứu là quá trình đào sâu học hỏi một lĩnh vực, đặc biệt là nhằm khám phá những kiến thức mới hoặc đạt đến một trình độ hiểu biết mới
Nhà nghiên cứu Vũ Cao Đàm (2008, trang 17) định nghĩa NCKH là sự tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết; hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người.[25]
Tác giả Đinh Tiên Minh (2013, trang 353) nhận định NCKH là một hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm, dựa trên những tài liệu, số liệu, kiến thức…có sẵn, thông qua quá trình NCKH để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn Cũng theo tác giả, con người muốn làm NCKH ngoài việc phải có kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu mà còn phải có lòng đam mê và hơn nữa là cách làm việc tự lực, có phương pháp từ lúc ngồi trên ghế nhà trường Nói ngắn gọn hơn, có hai điều kiện để một hoạt động có thể xem là NCKH: 1) Mục tiêu (đóng góp gì cho kho tàng tri thức nhân loại) và 2) Phương pháp (công trình nghiên cứu được thực hiện theo những quy trình chuẩn) [9]
Theo giáo sư Nguyễn Văn Tuấn, NCKH là một hoạt động của con người để
mở rộng tri thức qua các phương pháp khoa học.[20]
Trang 25Phương pháp khoa học
Tác giả Nguyễn Bảo Vệ, Nguyễn Huy Tài (2005, trang 6) nhận định những ngành khoa học khác nhau cũng có thể có những phương pháp NCKH khác nhau Ngành khoa học tự nhiên như vật lý, hóa học, nông nghiệp sử dụng phương pháp khoa học thực nghiệm, như tiến hành bố trí thí nghiệm để thu thập số liệu, để giải thích và kết luận Còn ngành khoa học xã hội như nhân chủng học, kinh tế, lịch sử…sử dụng phương pháp khoa học thu thập thông tin từ sự quan sát, phỏng vấn hay điều tra Tuy nhiên, phương pháp khoa học có những bước chung như: quan sát sự vật, hiện tương; Đặt vấn đề và lập giả thuyết; Thu thập số liệu và dựa trên số liệu để rút ra kết luận; nhưng vẫn có sự khác nhau về quá trình thu thập số liệu, xử lý và phân tích số liệu [14]
Đặc điểm của nghiên cứu khoa học
Để có thể đám bảo chất lượng của một NCKH trong nhà trường hay bất kì một
tổ chức nào thì các nhà nghiên cứu nên hướng đến 6 đặc điểm chính mà một NCKH cần phải đạt được, đó là:
Được kiểm soát (Controlled): trong mỗi nghiên cứu có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến kết quả đầu ra Việc kiểm soát này chính là nhà nghiên cứu cần phải tối thiểu hoá ảnh hưởng của các nhân tố khác đến mối quan hệ giữa các thành phần trong nghiên cứu đang được triển khai
Sự nghiêm ngặt (Rigorous): nhà nghiên cứu cần phải thận trọng trong việc đảm bảo rằng các bước thực hiện cho việc tìm ra câu trả lời sẽ có sự liên quan, phù hợp và hợp lý; một lần nữa thì sự chặt chẽ phải luôn được quan tâm từ lúc bắt đầu hình thành
ý tưởng đến lúc có được kết quả, giải pháp
Mang tính hệ thống (Systematic): điều này ngụ ý rằng các thủ tục được lựa chọn nên đảm bảo sự logic trong suy nghĩ và trong lúc vận dụng
Trang 26 Hợp lệ và có thể kiểm chứng (Valid and verifiable): điều này được hiểu là những
gì mà nhà nghiên cứu kết luận dựa trên kết quả thu thập được cần có sự chính xác và có thể dễ dàng kiểm tra lại bởi chính bản thân hoặc các cá nhân, tổ chức khác
Mang tính thực nghiệm (Empirical): bất ký kêt luận nào được rút ra nên được dựa trên những bằng chứng rõ ràng từ những thông tin thu thập hay những quan sát, kinh nghiệm có thật trong cuộc sống
Mang tính phản biện (Critical): các bước thực hiện nên được xem xét liên tục, qua lại, để xem có những hạn chế nào phát sinh, đồng thời luôn đặt ra những câu hỏi
để phản biện vấn đề đặt ra [21]
Hình thức nghiên cứu khoa học
Tác giả Vũ Cao Đàm (2008, trang 51) cho rằng khi thực hiện NCKH, chúng ta thường hay gọi đó là các đề tài Đề tài là một hình thức tổ chức NCKH do một người hoặc một nhóm người thực hiện để trả lời những câu hỏi mang tính học thuật và có thể
chưa để ý đến việc ứng dụng trong hoạt động thực tế hằng ngày
Phân loại nghiên cứu khoa học
Theo các giai đoạn của nghiên cứu, người ta phân chia thành nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai
Nghiên cứu cơ bản: là những nghiên cứu nhằm nhận thức những qui luật
khách quan phát triển của tự nhiên, xã hội và mở rộng tri thức của loài người về thế giới vật chất Kết quả của nghiên cứu cơ bản là những nguyên lý, hiệu ứng mới, các cấu trúc vật chất, các lý thuyết từ trước tới nay chưa được biết
Nghiên cứu ứng dụng: là những nghiên cứu dựa trên cơ sở các kết quả nghiên
cứu cơ bản nhằm giải quyết một nhiệm vụ nhất định của thực tiễn Kết quả của nghiên cứu ứng dụng là các nguyên lý kỹ thuật, các phương pháp chế tạo vật liệu, các phương pháp tổ chức sản xuất
Trang 27Nghiên cứu triển khai: là những nghiên cứu nhằm hoàn thiện những kết quả
của nghiên cứu ứng dụng tới mức có thể sử dụng một cách có hiệu quả vào hoạt động thực tiễn trong điều kiện cụ thể Kết quả của nghiên cứu triển khai là mẫu thiết bị, qui trình công nghệ, các giống cây con mới, sản phẩm mới, các cải tiến kỹ thuật nâng cao phương pháp công nghệ sản xuất đã có
Theo chức năng, NCKH được chia làm ba loại, đó là nghiên cứu mô tả, nghiên cứu giải thích và nghiên cứu giải pháp
Nghiên cứu mô tả: là nghiên cứu nhằm đưa ra một hệ thống tri thức về nhận dạng
sự vật, giúp phân biệt được sự khác nhau về bản chất sự vật này với sự vật khác
Nghiên cứu giải thích: là nghiên cứu nhằm làm rõ nguyên nhân dẫn đến sự
hình thành và quy luật chi phối quá trình vận động của sự vật
Nghiên cứu giải pháp: là loại nghiên cứu nhằm làm ra một sự vật mới chưa
từng tồn tại, hướng vào sự sáng tạo các giải pháp làm biến đổi thế giới.[25]
Vì vậy, trong phạm vi đề tài nghiên cứu, hình thức NCKH sẽ gồm các công trình nghiên cứu đăng trên các tạp chí khoa học trong và ngoài trường, kỷ yếu, đề tài tham dự các giải thưởng, cuộc thi như “Tài năng khoa học trẻ Việt Nam” ,“Sinh viên nghiên cứu khoa học”, các đề tài NCKH trong khuôn khổ Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ quốc gia NAFOSTED, các đề tài cấp trường, cấp tỉnh, cấp bộ do sinh viên, giảng viên chủ nhiệm và thực hiện
Quy trình nghiên cứu khoa học
Trong quyển Lý luận và Phương pháp nghiên cứu khoa học, tác giả Đỗ Công
Tuấn (2004, trang 45) đã xác định hai giai đoạn cơ bản của nghiên cứu khoa học, chính
là Phát hiện vấn đề, hình thành và củng cố các giả thuyết; giai đoạn tiếp theo là Kiểm chứng giả thuyết Trong giai đoạn Phát hiện vấn đề gồm các hoạt động Thiết lập và quan sát sự kiện, Tìm ra vấn đề nghiên cứu và ý tưởng nghiên cứu; Đề xuất giả thuyết nghiên cứu Giai đoạn thứ hai Kiểm chứng giả thuyết gồm các công việc Trình bày giả thuyết, Tìm kiếm và đưa ra các luận cứ, Tiến hành luận chứng.[10]
Trang 28Trong một tài liệu khác, tác giả Nguyễn Trung Nguyên (2008, trang 46) cũng nhận định xác lập một đề tài nghiên cứu (hay nói rộng ra là bất kỳ vấn đề nào ta muốn
có câu trả lời) là bước đầu tiên và quan trọng nhất của quá trình nghiên cứu Đề tài
nghiên cứu được xem là nền tảng của quá trình nghiên cứu [24]
Vấn đề khoa học và cách xác định vấn đề khoa học
Cũng theo nhà nghiên cứu Vũ Cao Đàm (2008), vấn đề khoa học (hay vấn đề nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu) là câu hỏi được đặt ra khi người nghiên cứu đứng trước mâu thuẫn giữa tính hạn chế của tri thức khoa học hiện có với yêu cầu phát triển tri thức
đó ở trình độ cao hơn Trong NCKH luôn tồn tại hai lớp vấn đề Thứ nhất, vấn đề về bản chất sự vật cần tìm kiếm Thứ hai, vấn đề về phương pháp nghiên cứu, để làm sáng tỏ về
lý thuyết và về thực tiễn vấn đề thuộc lớp thứ nhất.[25]
Theo tác giả Nguyễn Bảo Vệ, Nguyễn Huy Tài (2006, trang 9), các vấn đề khoa học thường được hình thành trong các tình huống sau:
Quá trình nghiên cứu, đọc và thu thập tài liệu nghiên cứu giúp nhà khoa học phát hiện hoặc nhận ra các vấn đề và đặt ra nhiều câu hỏi cần nghiên cứu, hoặc thấy một điều gì đó chưa rõ trong những nghiên cứu trước và muốn chứng minh lại
Những bất đồng, tranh luận khoa học trong các hội nghị chuyên đề, báo cáo khoa học, kỹ thuật…giúp các nhà khoa học thấy được những mặt còn yếu, từ đó nhận định, phân tích lại và chọn lọc rút ra vấn đề cần nghiên cứu
Từ thực tế lao động sản xuất, mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên…làm cho con người không ngừng tìm tòi, sáng tạo ra những sản phẩm tốt hơn nhằm phục vụ cho đời sống Những hoạt động thực tế này đã đặt ra cho nhà nghiên cứu các câu hỏi hay giúp họ phát hiện ra các vấn đề cần nghiên cứu
Vấn đề nghiên cứu cũng được hình thành qua những thông tin bức xúc, phàn nàn qua các cuộc nói chuyện từ những người xung quanh mà chưa thể giải thích, giải quyết được vấn đề đó
Trang 29 Các vấn đề chợt xuất hiện trong suy nghĩ của nhà nghiên cứu, do sự tình cờ
quan sát các hiện tượng của tự nhiên, các hoạt động xã hội xảy ra hằng ngày
Tính tò mò của nhà khoa học về điều gì đó cũng đặt ra các câu hỏi hay vấn
đề nghiên cứu [14]
2.2.2 Tổng quan về ngành Khoa học xã hội
Khoa học học xã hội là một ngành khoa học nghiên cứu về xã hội và con người, là
lĩnh vực của sự trao đổi tư tưởng Nhiệm vụ của khoa học xã hội là cung cấp các luận cứ
cho việc hoạch định đường lối, chiến lược, chính sách phát triển đất nước nhanh và bền
vững trên các mặt trận kinh tế, văn hóa, chính trị Có nhiều ngành trong lĩnh vực khoa
học xã hội Điển hình như ngành xã hội học, trên cơ sở nhận diện hiện trạng xã hội và sử
dụng các lý thuyết dự báo, các nhà xã hội học sẽ dự đoán sự vận động của xã hội trong
tương lai Hay như ngành kinh tế học, ngành này nghiên cứu về quá trình sản xuất, phân
phối và tiêu dùng các loại hàng hóa và dịch vụ
Một số ngành nghề khác thuộc lĩnh vực Khoa học xã hội như: đô thị học, tâm lý
học, nhân chủng học, văn hoá, Việt Nam học, quốc tế học, bảo tồn – bảo tàng, ngôn ngữ
học, sử học, khảo cổ học, chính trị học, triết học, hành chính học, khoa học quản lý, luật,
truyền thông, nghiên cứu phát triển…[3]
Trang 302.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2 Nguồn lực hỗ trợ
- Quy trình thanh toán, quyết toán kinh phí cho đề tài
đơn giản, nhanh chóng
- Nguồn học liệu( sách tham khảo, tạp chí khoa học)
- Kinh phí được hỗ trợ trong quá trình thực hiện đề tài
- Hỗ trợ sinh viên trong quá trình thu thập số liệu
Nhân tố thu hút sinh viên trong NCKH
4 Môi trường NCKH
-Phổ biến định kỳ thông tin về hoạt động NCKH
-Tổ chức hội thảo,khoá tập huấn về NCKH
-Thành lập các câu lạc bộ/nhóm NCKH theo từng
khoa/bộ môn
-Hội đồng chuyên thẩm định đề tài có uy tín, đạt tiêu
chuẩn
-Liên kết với doanh nghiệp, địa phương và quốc tế để
vận động tài trợ và đầu ra cho nghiên cứu
- Lãnh đạo trường, khoa quan tâm phát triển NCKH
-Tổ chức nhiều cuộc thi NCKH cấp trường
-Chương trình đào tạo có các môn phục vụ cho NCKH
(phương pháp NCKH, xử lý số liệu…)
- Lãnh đạo trường, khoa quan tâm phát triển NCKH
1 Lợi ích đạt được
- Củng cố và nâng cao kiến thức
- Học hỏi thêm kỹ năng mềm
- Được khen thưởng, cộng điểm
- Khẳng định năng lực bản thân, được nhiều người biết tới
- Có bài đăng trên các tạp chí khoa học
- Được tham dự các cuộc thi NCKH
- Tạo cơ hội nghề nghiệp tốt nếu đạt thành tích cao
3 Giảng viên hướng dẫn
-Định hướng và khuyến khích SV NCKH
-Có trình độ chuyên môn cao, kinh nghiệm NCKH
-Hướng dẫn tận tình, cung cấp tài liệu tham khảo cho
SV
-Gợi ý những đề tài mang tính thực tiễn, cấp thiết cho sv
-Chọn lựa những sv ưu tú thực hiện đề tài cùng với mình
Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu tổng thể
Trang 31Bảng 2.1: Diễn giải các biến của mô hình nghiên cứu
Lợi ích đạt được
X4 Khẳng định năng lực bản thân, được nhiều người
biết tới
[16]
X7 Tạo cơ hội nghề nghiệp tốt nếu đạt thành tích cao [4]
Nguồn lực hỗ trợ
X8 Quy trình thanh toán, quyết toán kinh phí cho đề
tài đơn giản, nhanh chóng
X14 Hướng dẫn tận tình, cung cấp tài liệu tham khảo
X21 Liên kết với doanh nghiệp, địa phương và quốc tế
để vận động tài trợ và đầu ra cho nghiên cứu
[11]
X22 Lãnh đạo trường, khoa quan tâm phát triển NCKH [23]
X24 Chương trình đào tạo có các môn phục vụ cho
NCKH (phương pháp NCKH, xử lý số liệu…)
[16]
Trang 322.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp được lấy từ các báo cáo về công tác NCKH trong trường Đại học Cần Thơ những năm gần đây do phòng Quản lý Khoa học trường Đại học Cần Thơ cung cấp; tạp chí khoa học trường Đại học Cần Thơ và một số nghiên cứu khoa học có liên quan
Số liệu sơ cấp
Số liệu được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp và phỏng vấn qua thư điện
tử đối tượng nghiên cứu là sinh viên các khoa Kinh tế, Xã hội nhân văn và khoa Luật thông qua bảng câu hỏi Ngoài ra, tác giả cũng tiến hành phương pháp phỏng vấn chuyên sâu vấn đề nghiên cứu thông qua các giảng viên chịu trách nhiệm quản lý hoạt động NCKH trong các khoa và các sinh viên có liên quan
Phương pháp chọn mẫu để đảm bảo tính chính xác và đại diện là phương pháp phân tầng kết hợp với ngẫu nhiên
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sinh viên ở các khoa Kinh tế-QTKD, khoa Xã hội nhân văn, và Khoa Luật trường Đại học Cần Thơ
Trang 33Do đó, số mẫu tối thiểu cần thiết là 24 x 5 = 120 mẫu
Bảng 2.2 : Mô tả cỡ mẫu điều tra Khoa KT-QTKD Khoa Xã hội Nhân văn Khoa Luật Tổng
Xây dựng bảng câu hỏi: Bảng câu hỏi gồm 2 phần: (1) Phần thông tin chung
của đáp viên; (2) Phần nội dung: phân tích các nhân tố thu hút sinh viên trường Đại học Cần Thơ tham gia NCKH Bảng câu hỏi trong nghiên cứu đo lường 4 nhân tố bao gồm: (1) Lợi ích đạt được; (2) Nguồn lực hỗ trợ; (3) giảng viên hướng dẫn, và (4) môi
trường NCKH Tất cả sẽ được đo lường bằng thang đo Likert 5 mức độ, từ Rất không quan
trọng đến Rất quan trọng và từ Rất yếu đến Tốt
2.3.2 Phương pháp phân tích số liệu
Sử dụng phương pháp thống kê mô tả (tính tần số) và phương pháp so sánh số tuyệt đối, số tương đối về thông tin chung của đáp viên, mức độ nhận thức, tiếp cận thông tin về NCKH…giữa các khoa khác nhau, từ đó cho thấy thực trạng NCKH và nhận thức của sinh viên trường trong giai đoạn hiện tại
Sử dụng hệ số tin cậy Cronbach‟s Alpha để đánh giá mức độ phù hợp của thang
đo trong mô hình nghiên cứu
Sử dụng mô hình phân tích nhân tố khám phá (EFA) để rút gọn một tập gồm nhiều biến quan sát phụ thuộc lẫn nhau thành một tập biến (gọi là các nhân tố) ít hơn để chúng có ý nghĩa hơn nhưng vẫn chứa đựng hầu hết nội dung thông tin của tập biến ban đầu
Sử dụng kiểm định Anova để kiểm định sự khác biệt giữa các nhóm nhân tố (sau khi đã tiến hành phân tích EFA) theo các khoa khác nhau
Trang 34Tần số (Frequency) : Ta đếm tần số để biết với tập dữ liệu đang có thì số đối
tượng có các biểu hiện nào đó ở một thuộc tính cụ thể là bao nhiêu, nhiều hay ít
Một số giả định đối với phân tích phương sai một yếu tố:
- Các nhóm so sánh phải độc lập và được chọn một cách ngẫu nhiên
- Các nhóm so sánh phải có phân phối chuẩn hoặc cỡ mẫu phải đủ lớn để
được xem như tiệm cận phân phối chuẩn
- Phương sai của các nhóm so sánh phải đồng nhất
Sau khi thực hiện kiểm định Anova có ý nghĩa, ta đi vào phân tích sâu Anova
Có hai phương pháp để xác định sự khác biệt trong các trị trung bình nhóm xảy ra ở đâu, đó là kiểm định “trước” và kiểm định “sau”
- Kiểm định “trước” có thể định nghĩa như là kiểm định các giả định về sự khác nhau của các trung bình nhóm trước khi thực hiện phân tích Anova Lúc này ta
Trang 35Kiểm định Bonferroni: phép kiểm định này chính là việc dùng kiểm định t lần lượt cho từng cặp trung bình nhóm mà ta đã nhắc đến ở trên (giống quy tắc của LSD) nhưng điều chỉnh được mức ý nghĩa khi tiến hành so sánh bội dựa trên số lần tiến hành
so sánh Nó là một trong những thủ tục kiểm định đơn giản nhất và hay được sử dụng cho mục tiêu này.[13, trang 146, 151, 152]
Thang đo Likert
Đây là một trong những hình thức đo lường được sử dụng phổ biến nhất trong nghiên cứu kinh tế xã hội do Rennis Likert giới thiệu Likert đưa ra loại thang đo năm mức độ phổ biến Thang đo 5 mức độ có thể trở thành 3 hay 7 mức độ và đồng ý hay không đồng ý và cũng có thể là chấp nhận hay không chấp nhận, hài lòng hay không hài lòng
Ý nghĩa của từng giá trị trung bình đối với thang đo khoảng
Giá trị khoảng cách = (Maximum – Minimum)/n = (5 – 1)/5 = 0,8
Trang 36 Kiểm định Cronbach’s alpha
Hệ số α của Cronbach là một phép kiểm định thống kê về mức độ chặt chẽ (độ tin cậy) mà các mục hỏi trong thang đo tương quan với nhau Một trong những phương pháp kiểm định tính đơn khía cạnh của thang đo được gọi là kiểm định độ tin cậy chia đôi Nếu một thang đo gồm 10 mục hỏi và là đơn khía cạnh, tất cả những mục hỏi đo lường các phần khác nhau của cùng một khái niệm cơ bản Công thức của
hệ số Cronbach α là
α = Nρ/[1+ρ(N-1)]
Trong đó ρ là hệ số tương quan trung bình giữa các mục hỏi Ký tự Hi Lạp ρ (đọc là prô) trong công thức tượng trưng cho tương quan trung bình giữa tất cả các cặp mục hỏi được kiểm tra
Những biến có hệ số tương quan biến tổng (Item-total correlation) nhỏ hơn 0,3
sẽ bị loại (Nunnally & Burnstein, 1994) [2]
Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008, trang 24), nhiều nhà nghiên cứu đồng ý khi hệ số Cronbach‟s Alpha từ 0,8 đến 1 là thang đo tốt, từ 0,7 đến 0,8 là sử dụng được Cũng có nhà nghiên cứu đề nghị rằng hệ số Cronbach‟s Alpha từ 0,6 trở lên là sử dụng được trong những trường hợp khái niệm đang nghiên cứu là mới hoặc mới đối với người trả lời trong bối cảnh nghiên cứu (Nunnally, 1978; Peterson, 1994; Stater, 1995) [3] [4] [5]
Phân tích nhân tố
a Khái niệm
Phân tích nhân tố khám phá là một phương pháp phân tích thống kê dùng để rút gọn một tập hợp nhiều biến quan sát phụ thuộc lẫn nhau thành một tập biến (gọi là các nhân tố) ít hơn để chúng có ý nghĩa hơn nhưng vẫn chứa đựng hầu hết nội dung thông tin của tập biến ban đầu (Hair & ctg,1998).[1]
Trang 37Trong phân tích nhân tố, ta cũng quan tâm đến chỉ số KMO (Kaiser - Meyer - Olkin) để xem xét sự thích hợp của mô hình phân tích nhân tố và tổng phương sai trích cho thấy khả năng giải thích của các nhân tố thay cho các biến ban đầu Nếu chỉ số KMO nằm trong khoảng 0,5 đến 1 thì ta sử dụng phân tích nhân tố là thích hợp với dữ liệu nghiên cứu Và thang đo chỉ được chấp nhận khi tổng phương sai trích lớn hơn 50%
b Tiến hành phân tích nhân tố
Tiến trình phân tích nhân tố được thực hiện thông qua 4 bước sau:
(1) Xác định vấn đề: Thông thường xác định vấn đề gồm nhiều bước Đầu tiên, ta phải nhận diện các mục tiêu khi ta tiến hành phân tích nhân tố Các biến trong phân tích nhân tố cần được xác định qua các biến nghiên cứu đã thực hiện, phân tích
lý thuyết và đánh giá của các nhà chuyên môn Các biến sử dụng trong phân tích các nhân tố cần đo lường bằng thang đo định lượng và cỡ mẫu phải đủ lớn Đối với đề tài này là 189 mẫu ứng với 24 biến quan sát
(2) Xây dựng ma trận tương quan: Để có thể áp dụng phân tích nhân tố thì các biến phải có liên quan với nhau Nếu hệ số tương quan nhỏ, phân tích nhân tố có thể không hợp thích Trong trường hợp này, chúng ta sử dụng Bartlett‟s test of sphericity để kiểm định giả thuyết các biến không có tương quan với nhau Giá trị Sig của kiểm định nhỏ hơn mức ý nghĩa 5% (theo Trọng & Ngọc, 2008) thì ta có thể kết luận các biến có mối tương quan với nhau, nên phân tích nhân tố là thích hợp
(3) Xác định số nhân tố : Có nhiều phương pháp được dùng đề xác định số lượng nhân tố, nhưng phương pháp thông dụng nhất là sử dụng hệ số eigenvalue Trong phương pháp phân tích nhân tố được quan tâm nhất là hệ số tải nhân tố Factor loading
(3) Xoay các nhân tố : Một phần quan trọng trong bảng kết quả phân tích nhân
tố là ma trận nhân tố (Component Matrix) Ma trận nhân tố chứa các hệ số (factor loading) biểu diễn tương quan giữa các nhân tố và các biến Hệ số này lớn cho biết nhân tố và biến có liên hệ chặt chẽ với nhau
Trang 38Theo Hair & ctg ( 1998), factor loading là chỉ tiêu đảm bảo mức ý nghĩa thiết thực của EFA, Factor loading > 0,3 được xem là đạt được mức tối thiểu với cỡ mẫu ít nhất là 350, Factor loading > 0,4 được xem là quan trọng, Factor loading > 0,5 được xem là có ý nghĩa thực tiễn Nếu cỡ mẫu khoảng 100 thì nên chọn tiêu chuẩn Factor loading > 0,55; và nếu cỡ mẫu khoảng 50 thì nên chọn tiêu chuẩn factor loading > 0,75 Với số mẫu 189 nên tác giả chọn hệ số tải nhân tố Factor loading > 0,4 [13]
(4) Giải thích nhân tố: Việc giải thích các nhân tố được thực hiện trên cơ sở nhận ra các biến có hệ số tải nhân tố ở cùng một nhân tố Như vậy, nhân tố này có thể được giải thích bằng các biến có hệ số lớn với bản thân nó [13]
2.3.4 Quy trình nghiên cứu
Hình 2.2 Quy trình nghiên cứu
Xác định vấn đề
Mục tiêu nghiên cứu
Thu thập dữ
liệu thứ cấp
Nhận thức về NCKH
Giải pháp
Mức độ tiếp cận thông tin
Xác định các nhân tố thu hút
SV trong NCKH
Tình hình phát
triển NCKH
trường ĐHCT
Thống kê mô tả liệu thứ cấp
Thông tin của đáp viên Thu thập dữ liệu sơ cấp
Trang 3939
Trang 40CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CỦA SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 3.1 KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRONG SINH VIÊN VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CÁC HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
3.1.1 Hoạt động nghiên cứu khoa học trong sinh viên các trường đại học trên địa bàn cả nước
Giảng dạy và NCKH là hai hoạt động phải được tiến hành đồng thời trong một trường đại học, hai hoạt động này có tác dụng hỗ trợ nhau và tạo nên vị thế trường đại học Để thực hiện sứ mệnh “cung cấp cho người học các chương trình đào tạo chất lượng cao, đồng thời chuyển giao những kết quả NCKH vào thực tiễn, góp phần phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu”, từ nhiều năm nay, lãnh đạo các trường đại học đã quan tâm và tạo điều kiện cho hoạt động NCKH phát triển
Tại trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh từ những năm đầu thập kỷ 20, hoạt động NCKH của sinh viên ở đây đã được coi là điểm sáng trong các trường đại học khu vực phía Nam Những năm qua, song song với các nỗ lực và hỗ trợ từ nhà trường, hoạt động NCKH trong sinh viên đã đạt những thành tựu nhất định về số lượng và chất lượng
Bảng 3.1: Tình hình NCKH của sinh viên Trường ĐH Kinh tế TP.HCM từ 2008 –2012
(Nguồn: Phòng Quản lý khoa học và Phòng Quản lý Đào tạo – Trường ĐH
Kinh tế TP.HCM)