Các số liệu trong bảng 3.1 và biểu đồ trên cho thấy rằng với cả ba loại thuốc có cùng hoạt chất được lựa chọn khảo sát, giá thuốc tại các quầy thuốc của bệnh viện cao hơn giá tại các nhà
Trang 1B ộ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI
Trang 2Thạc sỹ Khổng Đức Mạnh là người đã trực tiếp hướng dẫn
em hoàn thành khoá luận.
Các thầy, cô giáo trong bộ môn Quản lỷ và Kinh tế Dược đã nhiệt tình giúp đỡ và đóng góp ỷ kiến giúp em hoàn thiện khoá luận của mình.
Ban Giám hiệu nhà trường đã tạo điều kiện cho em thực hiện khoá luận.
Em xin kính chúc các thầy, cô mạnh khỏe, hạnh phúc.
Hà Nội, ngày 07 tháng 06 năm 2004
Người thực hiện:
Sinh viên Trần Thị Ngọc Thuỷ
Trang 3MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỂ .1
PHẦN 1 TỔNG QUAN 2
1.1 Tổng quan về tình hình sử dụng thuốc và giá thuốc trên Thế giới 2
1.2 Tình hình giá thuốc ở Việt Nam 5
1.3 Sự cần thiết phải có một phương pháp đồng bộ để tiếp cận với việc định giá thuốc 12
PHẦN 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ Đ ố i TƯỢNG NGHIÊN c ứ u 14
2.1 Khái quát chung về phương pháp 14
2.2 Đối tượng nghiên cứu 17
PHẦN 3 KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u VÀ BÀN LUẬN 19
3.1 So sánh giá bán lẻ của từng hoạt chất giữa 4 khu vực tại Hà Nội 20
3.2 So sánh giá của 20 hoạt chất giữa khối nhà nước và khối tư nhân tại Hà Nội 27
3.3 So sánh giá của một số biệt dược nổi tiếng tại khối tư nhân ở Hà Nội với 10 nước đã tiến hành khảo sát theo phương pháp này 29
3.4 Khảo sát khả năng thanh toán của người dân cho một liệu trình điều trị chuẩn theo khuyên cáo của WHO 33
3.5 So sánh số ngày lương người bệnh trả cho một số liệu trình điều trị chuẩn bằng biệt dược nổi tiếng tại Hà Nội với 10 nước tiến hành khảo sát 36
3.6 Phân tích cơ cấu của giá thuốc 41
PHẦN 4 KẾT LUẬN VÀ Ý KIÊN ĐỂ XUẤT 47
4.1 Kết luận 47
4.2 Một số ý kiến đề xuất 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 4CHÚ GIẢI CHỮ VIẾT TẮT
CSBVSKND Chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân
CIF giá giao hàng trên boong tàu cộng thêm các phí bảo hiểm
và các chi phí vận chuyển
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỂ V
Thực tế, trong nhiều năm qua, giá thuốc trong nước có nhiều biến động
và đã có sự tăng giá ở một số loại thuốc Đặc biệt, trong năm 2003 đã xảy ra 2 đợt tăng giá bất thường vào tháng 3 và tháng 9-10 Vấn đề giá thuốc chữa bệnh là mối quan tâm thường xuyên của xã hội Nguyên nhân của việc tăng giá thuốc có rất nhiều, cả khách quan và chủ quan, tất nhiên có cả vai trò quản
lý nhà nước về Dược Đã đến lúc phải quản lý giá thuốc Tuy nhiên đây không phải là việc có thể làm xong trong một sớm một chiều, để quản lý giá thuốc cần phải xây dựng được một chính sách hợp lý Muốn làm được điều đó thì cần phải có những thông tin chính xác và những chính sách thích hợp về giá thuốc vì vậy rất cần có sự giám sát và phân tích giá thuốc một cách liên tục, chính xác Trong quá trình nghiên cứu giá thuốc ở một số nước, việc thiếu một phương pháp đồng bộ đã gây trở ngại rất lớn cho việc quản lý và so sánh giá thuốc giữa các vùng của một quốc gia cũng như giữa các nước với nhau Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đề xuất một phương pháp mới giúp cho các nước có thu nhập thấp và trung bình bước đầu tiếp cận với việc quản lý giá thuốc Phương pháp này đã được thử nghiệm ở 10 nước là Armenia, Brazil,Cameroon, Ghana, Kenya, Peru, Philippines, Nam Phi, Sri Lanka, Ân Độ trong suốt năm 2001, 2002 và 2003 Phương pháp này có phù hợp với tình hình thực tế ở nước ta hay không còn cần nhiều cuộc khảo sát đánh giá một cách khoa học, hệ thống và toàn diện Đề tài này là một thử nghiệm để bước đầu tiếp cận với phương pháp mới xác định giá thuốc tại thị trường Việt Nam
Đề tài “Khảo sát giá của 20 thuốc thiết yếu theo khuyên cáo của Tổ chức
Y tế Thế giới (WHO) tại thị trường Hà Nội” với các mục tiêu sau:
1 So sánh giá của các thuốc giữa khối nhà nước với khôi tư nhân tại Hà Nội.
2 So sánh giá của một số thuốc tại Hà Nội với 10 nước đã tiến hành khảo sát theo phương pháp này.
3 So sánh khả năng thanh toán cho một liệu trình điều trị chuẩn theo
4 Phân tích cơ cấu giá của một sô biệt dược nhập khẩu tại Hà Nội.
1
Trang 6PHẦN 1 TỔNG QUAN X
1.1 Tổng quan vê tình hình sử dụng thuốc và giá thuốc trên thế giới.
Đã hàng ngàn năm nay thuốc phòng, chữa bệnh đã trở thành một nhu cầu tất yếu của cuộc sống con người Thuốc đóng một vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân (CSBVSKND) và nói rộng hơn
là một trong những yếu tố chủ yếu nhằm bảo đảm mục tiêu sức khoẻ cho mọi người
"k Giá thuốc và những bất hợp lý trong công tác chăm sóc sức khoẻ [10].
Năm 2000, theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), có khoảng một phần ba dân số Thế giới thiếu những thuốc thiết yếu nhất Theo thống kê của WHO/WTO năm 2001, tình trạng này là rất phổ biến ở những vùng nghèo nhất của châu Phi và châu Á, nơi mà có đến 50% dân số không có được những thuốc cần thiết nhất
Có đến hơn 90% dân số ở các nước đang phát triển phải tự chi trả tiền thuốc trong khi ở các nước có thu nhập cao con số đó chỉ là 20% Dưới 10% dân số của châu Phi được chi trả bởi các hãng Bảo hiểm xã hội và các dịch vụ
y tế công cộng nhưng cả hai loại dịch vụ này đều thiếu và chỉ được phân bố chủ yếu ở trong và xung quanh các vùng trung tâm
Giá thuốc cao chính là trở ngại lớn đối với việc tiếp Gân thuốc của người dân, nhất là những người có thu nhập thấp và trung bình Nhiều cuộc điều chỉnh giá thuốc trực tiếp và gián tiếp được tiến hành hiệu quả ở các nước phát triển Tuy nhiên, ở nhiều nước đang phát triển, giá thuốc còn đang bị thả nổi
do chưa có những chính sách quản lý thích hợp Và chúng ta cũng chưa biết rõ các chính sách mới về giá thuốc tác động thế nào đối với thị trường thuốc Trong một chừng mực nhất định, việc điều chỉnh chính sách có thể làm cho giá thuốc tăng lên
Các loại thuế, phần trăm “hoa hồng”, chi phí phân phối và chi phí vận chuyển thường là cao, chiếm khoảng 30-45% của giá bán lẻ thuốc, thậm chí
có thể tới 80% hoặc hơn so với toàn bộ giá thuốc Quyền sở hữu bằng sáng chế cũng ảnh hưởng tới giá thuốc, làm mất đi sự cạnh tranh giữa các nhà sản xuất dược phẩm và gây khó khăn hoặc làm mất đi tính thực tế của việc quản lý giá thuốc
Ví dụ về những bất hợp lý trong sự tiếp cận với thuốc:
Trang 7+ Một liệu trình kháng sinh đầy đủ điều trị bệnh viêm phổi có giá bằng một tháng lương tối thiểu của một người dân ở nước có thu nhập thấp và chỉ bằng hai đến ba giờ lương ở nước có thu nhập cao.
4- Một người dân Tanzania phải trả cho một liệu trình điều trị bệnh lao phổi ở khối y tế tư nhân số tiền tương đương với 500 giờ lương, với một người dân Thuỵ Sĩ số tiền đó chỉ là 1,4 giờ lương
+ Năm 2000, việc sử dụng Lamivudine để điều trị HIV/AIDS ở châu Phi đắt hơn 20% so với ở mười nước công nghiệp phát triển
* Tại sao phải quản lý giá thuôc?[ 10]
Thuốc không chỉ nằm ngoài khả năng chi trả của phần lớn dân số toàn cầu mà còn là một gánh nặng chủ yếu đối với ngân sách của các chính phủ Tại các nước có thu nhập cao, tiền thuốc chiếm 10% ngân sách y tế, trong khi
ở các nước có thu nhập thấp con số này là 25% Tại hầu hết các nước có thu nhập cao, các hãng bảo hiểm chi trả một phần lớn giá cho bệnh nhân nhưng các cuộc khảo sát cho thấy rằng ở các nước châu Phi và Nam Á, phần mà người dân phải trả cao hơn nhiều, có thể tới 80% của giá thuốc
Cùng một loại thuốc tuỳ vào những nước khác nhau mà bán với giá khác nhau cho phù hợp với sức mua của người dân không được các công ty dược phẩm tiến hành thường xuyên Những thay đổi trong việc điều chỉnh thương mại và các nguyên tắc riêng về quyền sở hữu trí tuệ cũng có thể ảnh hưởng tới giá quốc tế và tính sẵn có của thuốc Vì vậy mà giá thuốc cần phải được quản
lý Thu nhập càng eo hẹp thì sự bất hợp lý càng tăng Chính vì vậy những chính sách quốc gia và những chiến lược điều chỉnh giá thuốc được đưa ra để đảm bảo cho thuốc được cung cấp đầy đủ hơn tới người dân Những chính sách về cải thiện cơ sở hạ tầng y tế tăng cường ngân sách và đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý cũng là rất cần thiết
Khó khăn trong việc tìm kiếm các thông tin chính xác về giá thuốc đã gây cản trở cho việc phân tích thành phần của giá, ảnh hưởng đến việc xây dựng và đánh giá tác động của các chính sách về giá thuốc của chính phủ Điều này cũng khiến cho các chính phủ gặp khó khăn trong việc định giá các thuốc được đề nghị từ các nước khác và những nơi có trách nhiệm trong việc mua thuốc không thể thương lượng để mua thuốc rẻ hơn vì không nắm được giá sàn để giao dịch Thậm chí ở những nước mà người tiêu dùng và bệnh
3
Trang 8nhân có sức mua lớn hơn thì chính phủ, các quĩ bảo hiểm, các bệnh viện cũng gặp khó khăn khi quyết định lựa chọn thuốc vì họ thiếu các thông tin cần thiết.Tất nhiên, trách nhiệm của chính phủ là bảo đảm chăm sóc sức khoẻ cầnthiết cho nhân dân bằng cách đáp ứng đầy đủ ngân sách dành cho hệ thống y
tế công Trong nhiều trường hợp, điều này đồng nghĩa với việc gia tăng ngân sách cho y tế Những hành động cụ thể để đưa thuốc tới được với những người
có thu nhập thấp giúp họ tránh được bệnh tật và cái chết không đáng có là rất cần thiết, nhưng cần phải cung cấp thông tin nhiều hơn nữa về giá thuốc
Một số thuốc được sử dụng phổ biến ở các nước đang phát triển có giá đắt hơn ở các nước phát triển Giá xuất xưởng của thuốc được giữ bí mật Những công cụ chỉ dẫn về giá thuốc chỉ đưa ra giá bán từ những nhà bán buôn lớn dưới dạng tên gốc của thuốc mà không cung cấp giá bán lẻ mà bệnh nhân phải trả, và thường không đưa ra những thuốc mới, thuốc thiết yếu nhưng đang còn quyền sở hữu sáng chế Cho nên sự giám sát và đối chiếu giá thuốc một cách liên tục là rất quan trọng
Vấn đề giá thuốc chữa bệnh là mối quan tâm thường xuyên của xã hội Giá thuốc còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố: tình trạng bệnh tật, sức khoẻ và khả năng chi trả của bệnh nhân Bên cạnh đó, những thay đổi của các chính sách kinh tế-xã hội, tình hình chính trị-an ninh ở mỗi quốc gia, những điều chỉnh thương mại và các chính sách hợp tác quốc tế cũng tác động không nhỏ tới giá thuốc quốc tế Tại các nước đang phát triển giá thuốc gần như chưa được quản
lý do thiếu các chính sách thích hợp Chính phủ các nước này không có được những thông tin đầy đủ và chính xác về giá thuốc quốc tế nên rất khó khăn khi lựa chọn thuốc Người dân thì không biết được họ phải trả những khoản tiền gì trong giá thuốc, thông tin về các thành phần của giá thuốc luôn được giữ bí mật
Sự độc quyền sở hữu bằng phát minh sáng chế khiến cho giá của các thuốc mới, thuốc của các hãng dược phẩm nổi tiếng trên Thế giới có giá rất cao Giá thuốc cao của các hãng này một phần bù đắp lại chi phí nghiên cứu
và phát triển để cho ra đời một loại thuốc mới Vì vậy chính sách kiểm soát giá thuốc ở các nước phải tính đến chi phí này của các hãng dược phẩm nhằm khuyên khích họ tiếp tục nghiên cứu thuốc mới
Trang 9*k Các phương pháp quản lý giá thuốc trên T hế giói [1].
Mỗi nước có một cách quản lý giá thuốc khác nhau Việc kiểm soát giá thuốc tựu trung có những hình thức như sau:
• Pháp, Ý và Tây Ban Nha áp dụng quy chế giá thuốc, buộc các hãng dược muốn nâng giá thuốc đã lưu hành trên thị trường hay đưa ra thuốc mới thì phải xin phép Hiếm khi có chuyện đồng ý cho tăng giá
• Đức, Hà Lan, New Zealand và Đan Mạch sử dụng cách hạn chế định mức bồi hoàn giá thuốc Thuốc được chia thành nhóm có giá trị chữa bệnh như nhau và được ấn định giá Công ty dược có quyền đưa ra giá bán như thế nào cũng được nhưng chính phủ các nước này chỉ chi trả bảo hiểm y tế theo giá quy định, phần còn lại người bệnh phải trả Người bệnh vì thế sẽ yêu cầu bác sĩ kê đơn các thuốc có giá trong định mức và các hãng dược buộc phải giảm giá để thuốc của mình lọt vào toa thuốc của bác sĩ
• Tại Anh, các hãng dược được quy định một mức lãi, thường là 17-21%, nếu vượt mức này phải trả cho Nhà nước hoặc phải giảm giá thuốc Chỉ có
Mỹ hiện không chủ trương kiểm soát giá thuốc nên thuốc ở đây thường đắt
hơn các nơi khác (so với Canada là 50-70%)
• ở châu Á, Thái Lan đưa ra giá thuốc bình quân cho mỗi loại, công ty dược tự định giá dựa vào giá thuốc này và giá của đối thủ cạnh tranh
• Bangladesh và Ấn Độ kiểm soát giá nguyên liệu sản xuất thuốc
• Trung Quốc thì định giá cho mỗi khâu phân phối thuốc và lấy giá thuốc nội địa làm giá tham khảo, thậm chí ở Quảng Đông còn quy định bệnh viện chỉ được mua thuốc nhập không quá 30% số thuốc sử dụng
Dù hình thức có khác, cách kiểm soát giá thuốc nhìn chung phải xuất phát từ việc định được giá thuốc Giá thuốc mới ra đời được ấn định bằng cách
so sánh nó với các loại thuốc đã có trên thị trường; nếu chưa có thuốc để so sánh, các nước dùng chi phí sản xuất làm cơ sở hay so sánh với thuốc tương tự
ở nước khác Các thuốc đã có mặt trên thị trường được chia thành nhóm theo hiệu quả điều trị để định giá
1.2 Tình hình giá thuốc ở Việt Nam.
Giá thuốc ở nước ta vẫn chưa được kiểm soát chặt chẽ và còn ở mức cao
so với thu nhập trung bình của người dân Vấn đề giá thuốc thu hút được sự chú ý rất lớn của xã hội, giá thuốc cao làm cho người dân khó tiếp cận được
với thuốc nhất là những người dân ồ nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
5
Trang 10Trong thời kỳ bao cấp, giá cả được Nhà nước quản lý chặt chẽ Ngay từ những năm 1960- 1963 Nhà nước đã quy định cách tính giá thành, mức lãi, giá bán nguyên liệu và thuốc thành phẩm Mỗi thuốc đều có một giá thống nhất trong toàn quốc Đơn vị buôn bán, phân phối thì được hưởng chiết khấu
có nghĩa là chi phí lưu thông được trừ lùi vào giá do Công ty chủ quản giao hàng
Do chuyển sang kinh tế thị trường, cuối năm 1987 Nhà nước cho áp dụng chính sách 2 giá: giá cung cấp và giá bán lẻ kinh doanh Giá bán lẻ kinh doanh cao gấp 8 - 10 lần giá cung cấp Từ cuối năm 1987 Nhà nước cương quyết xoá bỏ chế độ bao cấp qua giá thuốc và qui định tỷ giá ngoại tệ khác nhau để thanh toán đối với thuốc thành phẩm, nguyên liệu, trang thiết bị y tế.Với sự phát triển của cơ chế thị trường, số lượng các doanh nghiệp tăng nhanh và ngày càng ít phụ thuộc vào việc cấp vốn của Nhà nước Theo nguyên tắc “thuận mua, vừa bán” các doanh nghiệp dược đã sản xuất và nhập ngày càng nhiều thuốc và bán với giá đảm bảo kinh doanh không bị lỗ Từ thực tiễn này Nhà nước thực chất đã để mất quyền kiểm soát và điều hành giá thuốc, chỉ khu trú lại quản lý giá một số thuốc và dịch vụ chi từ nguồn ngân sách Nhà nước
Công tác quản lý dược từ năm 1993 dần dần được củng cố, việc đăng ký thuốc và đăng ký các công ty nước ngoài kinh doanh thuốc với Việt Nam, việc qui hoạch lại các công ty xuất nhập khẩu thuốc, phát triển sản xuất nội địa
đã góp phần ổn định trật tự thị trường thuốc Giá thuốc cũng ổn định hơn Nhờ
có cạnh tranh, nhiều công ty mất sự độc quyền nâng giá thuốc theo ý muốn
mà phải tuân thủ qui luật điều tiết của thị trường
Vấn đề quản lý giá thuốc tân dược trên thị trường Việt Nam đã được đề cập tới nhưng có thể nói là chưa thật đúng mức Các quy định liên quan và thực trạng của việc triển khai vẫn chưa thể hiện được tác động rõ nét đến sự phát triển của ngành công nghiệp đặc biệt này Đồng thời cũng chưa ngăn chặn tốt các tiêu cực xã hội đang có xu hướng ngày càng khó kiểm soát do tính phức tạp ngày càng tăng của các vấn đề “cung”, “cầu” trên thị trường dược phẩm Chúng ta đã có nỗ lực trong việc đưa ra một số các quy định nhằm kiểm soát giá bán dược phẩm như niêm yết giá bán công khai tại các điểm bán
lẻ, khai báo giá nhập khẩu và giá bán dự kiến khi đăng ký thuốc nước ngoài,
Trang 11quy định khung lãi suất bán lẻ dược phẩm tại nhà thuốc bệnh viện song chưa hiệu quả [9].
Tình hình giá thuốc tăng vọt trong thời gian gần đây cho thấy chúng ta cần phải xây dựng một Chính sách giá thuốc thích hợp Không ít lần các Phó Thủ tướng họp với lãnh đạo Bộ Y tế Nhà nước đã có những chỉ thị về bình ổn giá thuốc:
+ Pháp lệnh giá (Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 26/4/2002)
+ Nghị định số 170/2003/NĐ-CP qui định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh giá (25/12/2003)
Điều đó đã nói lên tính cấp bách của việc xây dựng Chính sách giá thuốc
và sự quan tâm của Nhà nước trong việc quản lý giá thuốc
a) Tình hình tăng giá thuốc qua các năm [2].
• Trước tháng 12/2002: tình hình biến động giá thuốc chưa được chú ý mặc
dù một số Công ty Dược phẩm đa quốc gia có chính sách tăng giá đều đặn hàng năm bình quân từ 5-10%
• Từ 12/2002 đến 15/3/2003: đã có sự tăng giá của một số thuốc bao gồm cả thuốc nội và thuốc ngoại
- Thuốc nhập khẩu tăng giá: 487 thuốc chiếm 10,07% trong số 4743 thuốc nước ngoài đăng ký tại Việt Nam; chiếm 4,73% trong tổng số 10927 thuốc đăng ký lưu hành tại Việt Nam; Tỷ lệ tăng trung bình: 7%; Tăng trên 20%: 10 thuốc; Một số ít thuốc tăng trên 100%: Zaditen; Depo-Provera
- Thuốc sản xuất trong nước: 175 thuốc chiếm 2,82% trong số 6184 thuốc sản xuất trong nước đăng ký lưu hành; chiếm 1,60% trong tổng số 10927 thuốc đăng ký lưu hành ở Việt Nam; Tỷ lệ tăng trung bình: 7,2% chủ yếu là các Vitamin c, Vitamin Bl, Paracetamol; Cloramphenicol
• Từ 15/3/2003 đến 15/10/2003:
- Giá thuốc nội có xu hướng giảm nhẹ do giá nguyên liệu đẩu vào giảm Chỉ
có 29 mặt hàng sản xuất nhượng quyền trong nước của Công ty Sanoíi Synthelabo Việt Nam tăng 5%
- Thuốc nhập khẩu nhìn chung không tăng, chỉ có một số thuốc do Công ty Zuelligs Pharma Việt Nam phân phối trực tiếp có tăng ở nhiều mặt hàng: 157/549 mặt hàng chiếm 28,60% mặt hàng kinh doanh của Công ty Phần lớn các mặt hàng có tỷ lệ tăng giá 2-26%, có 5 mặt hàng tăng 30-79%
7
Trang 12• Từ 15/10/2003 đến 15/3/2004: theo báo cáo của 33 công ty trong nước và nước ngoài, 20 doanh nghiệp trong nước và 1 doanh nghiệp nước ngoài có tăng giá thuốc.
- Tỷ lệ tăng trung bình (cả thuốc nội lẫn thuốc ngoại): phần lớn tăng dưới
5%.
- Tổng số mặt hàng tăng giá lặ 321 (trong nước 110/321 thuốc chiếm 34,3%;
nước ngoài 211/321 thuốc chiếm 65,7%)
- Số thuốc tăng giá trên 10% là 64 thuốc (trong nước 22/110 thuốc chiếm 20%; nước ngoài 42/211 thuốc chiếm 19,9%)
• Pháp lệnh Giá số 40/2002/PL-UBTVQH10 ngày 26/4/2002 của Quốc hội chưa đưa thuốc vào Danh mục các mặt hàng, dịch vụ do Nhà nước định giá và bình ổn giá
• Điều 2 của Pháp lệnh Giá cũng đã qui định “Nhà nước tôn trọng quyền tự định giá của các Doanh nghiệp” dẫn đến tình trạng rất khó khăn trong việc xử
Trang 13khẩu (có trường hợp lên tới 300-400%) nhưng do chưa có chế tài xử lý viphạm trong lĩnh vực quản lý giá thuốc nên chưa thể tiến hành xử lý vi phạm.
© Do phương thức tổ chức cung ứng, sử dung thuốc:
• Quá trình phân phối thuốc:
+ Thuốc nhập khẩu về, qua các Công ty xuất nhập khẩu Dược phẩm đến khâu bán buôn, chênh lệch giá thường từ 5-10% so với giá nhập khẩu:
- Công ty Vimedimex 2: từ 7-8%
- Công ty Cổ phần Dược liệu TW 2: từ 5-10%
- Công ty Dược phẩm thành phố Hồ Chí Minh: từ 3-8%
- Công ty Dược phẩm TWI: trung bình từ 6-8%
+ Phí nhập khẩu uỷ thác đối với vác Công ty không có chức năng xuất, nhập khẩu dược phẩm dao động từ 0,8-1,2% theo giá CIF
+ Công ty Dược phẩm tỉnh cung ứng đến hệ thông khám, chữa bệnh trong địa bàn tỉnh, mức chênh lệch theo qui định của từng địa phương do Sở Tài chính- Vật giá quyết định trên cơ sở hoá đơn mua thuốc hợp pháp Ví dụ:
+ Trường hợp nếu thuốc được nhập khẩu uỷ thác qua các Công ty TNHH độc quyền phân phối, phải chi phí cho các khâu tiếp thị, quảng cáo, giá thuốc sẽ bị đẩy lên cao hơn nữa (các biệt có nơi tới 340% so với giá nhập khẩu ban đầu)
Ví dụ: thuốc Curomin do Công ty TNHH Dược phẩm Bình Minh phân phối có mức chênh lệch là 347%
+ Giá thuốc bán lẻ ngoài thị trường tự do tại các nhà thuốc tư nhân phải cộng thêm bình quân từ 10-15% so với giá bán buôn
• Chỉ cho phép các doanh nghiệp nhà nước tham gia dự thầu, đấu thầu theo gói thầu do vậy dẫn đến hiện tượng mua bán thuốc lòng vòng giữa các doanh
9
Trang 14nghiệp nhà nước, các công ty trách nhiệm hữu hạn, nhà thuốc là nguyên nhân chính của việc chênh lệch lớn giữa giá nhập khẩu và giá bán ra vì qua mỗi khâu đều phải cộng thêm các chi phí.
• Phần lớn các địa phương qui định mang tính cục bộ: giao cho các công ty dược phẩm tỉnh chịu trách nhiệm cung ứng thuốc, các đơn vị ngoài tỉnh không được phép tham gia cung ứng
• Việc mua, bán thuốc giữa nhà thuốc và một số Công ty TNHH không có hoá đơn tài chính theo quy định dẫn đến việc không kiểm soát được giá thuốc
và trốn lậu thuế
• Việc thực hiện quy chế chuyên môn đặc biệt là Quy chế kê đơn và bán thuốc theo đơn chưa nghiêm, một bộ phận thầy thuốc chỉ ghi đơn thuốc theo các tên biệt dược, thuốc đắt tiền để hưởng tỉ lệ % hoa hồng cũng là một nguyên nhân làm giá thuốc cao
© Kinh phí:
Phần lớn các bệnh viện không có đủ tiền để đấu thầu cung ứng thuốc trong thời gian dài, nhiều bệnh viện thanh toán tiền mua thuốc cho Công ty kinh doanh dược phẩm không kịp thời, nợ triền miên:
- Tính đến 12/3/2004 chỉ riêng 15 bệnh viện ở khu vực phía Bắc đã nợ các Công ty dược phẩm với số tiền 50,268 tỷ đồng
- Bảo hiểm Y tế nợ Bệnh viện Bạch Mai khoảng 10 tỷ đồng tiền mua thuốc
© Do tình trann đỏc quyền:
• Một số công ty nước ngoài (như Zuellig Pharma Việt Nam, Diethelm Thuỵ
Sĩ, Mega Products Thái Lan ) độc quyền phân phối thuốc, đặc biệt là những thuốc chuyên khoa đặc trị, thuốc đang còn trong thời gian bảo hộ bằng phát minh, sáng chế, thuốc biệt dược của các Công ty đa quốc gia trên thế giới
• Một số Công ty TNHH Việt Nam độc quyền một số mặt hàng thuốc của công ty nước ngoài đưa ra mức giá thuốc quá cao, nhiều khi doanh nghiệp nhà nước cũng chỉ đơn thuần nhập khẩu uỷ thác và phân phối cho những công ty này
© Mốt sỏ nguyên nhân khác:
• Việc áp mã thuế nhập khẩu đối với một số thuốc (0-10%) Bộ Y tế đã cấp SDK hoặc giấy phép nhập khẩu nhưng Hải quan lại áp mã thuế như đối với mỹ
Trang 15phẩm (20-40%) Ví dụ: các sản phẩm kem trị mụn trứng cá, dầu gội đầu trị nấm chịu thuế suất 20%.
• Việc áp giá tính thuế nhập khẩu theo phương pháp dựa vào giá bán lẻ như hiện nay tại một số cửa khẩu là một trong những nguyên nhân tăng giá do giá bán lẻ tại các địa phương khác nhau và giá bán lẻ đã được cộng thêm nhiều các chi phí khác nhau trong quá trình lưu thông phân phối
• Việc quyết toán và hoàn trả thuế nhập khẩu cho các doanh nghiệp dược phẩm còn chậm
• Thuế nhập khẩu một số thuốc tăng, giá điện, giá xăng dầu, chi phí vận chuyển tăng
• Chi phí cho công tác tiếp thị, quảng cáo của các Công ty TNHH quá lớn (đối với các doanh nghiệp nhà nước không thực hiện được việc này do bị khống chế theo qui định của nhà nước) nên dẫn đến giá thành của thuốc tăng lên Lượng vật phẩm quảng cáo, in ấn, hàng mẫu quá nhiều tới mức lãng phí Các hội thảo khoa học được tổ chức với quy mô lớn nhưng chỉ liên quan đến các đề tài cần sử dụng thuốc mới, đắt tiền Chi phí quảng cáo trên các kênh truyền hình, đài, báo chí, ấn phẩm, tăng đáng kể Theo số liệu của Cục quản lý Dược Việt Nam thì trong vòng 5 năm từ 1997 đến 2001 tăng lên đáng kể số lượng quảng cáo thuốc được xét duyệt: năm 1997 là 391, năm 2000 là 379 và đỉnh cao là năm 2001 là 820 quảng cáo thuốc Số lượng này mới chỉ khoảng 20% trong số các quảng cáo về thuốc có trên thị trường Các chương trình
“thông tin y học” trên truyền hình được thực hiện bởi các hãng thuốc cũng tốn kém không ít Tất cả các chi phí này cuối cùng đều được phản ánh trên giá bán tới tay bệnh nhân Khi các chi phí có xu hướng không ngừng tăng lên thì sốt giá là kết cuộc khó tránh [9]
• Sự thay đổi tỷ giá giữa tiền đồng Việt Nam với đồng Dollar Mỹ, Euro; giữa các đồng ngoại tệ với nhau [1]
• Hoạt động của đội ngũ Trình dược viên trong các cơ sở khám chữa bệnh gây ảnh hưởng không tốt đến đội ngũ Thầy thuốc kê đơn nhằm kê đơn thuốc
để hưởng hoa hồng [1]
11
Trang 161.3 Sự cần thiết phải có một phương pháp đồng bộ để tiếp cận với việc định giá thuốc [10].
Để thuốc được cung cấp một cách đầy đủ, yêu cầu phải có những thông tin chính xác và những chính sách thích hợp về giá thuốc Để làm được điều này, phải có những phân tích chích xác về giá thuốc Khi tiến hành giám sát
và báo cáo về giá thuốc ở một số nước, bên cạnh những thay đổi khách quan
và thành công, sự thiếu một phương pháp đồng bộ đã gây trở ngại rất lớn đối với việc quản lý và so sánh giá thuốc giữa các vùng trong một quốc gia và giữa các quốc gia với nhau
Tổ chức Y tế Thế giới đã cung cấp một phương pháp để bước đầu tiếpcận với việc xác định giá thuốc nhằm giúp cho công việc được tiến hànhnhanh chóng hơn và tránh được những hạn chế của các phương pháp trướcđây Phương pháp này là một bước chỉ dẫn cho việc quản lý giá thuốc ở nhữngnước có thu nhấp và trung bình
Phương pháp thử nghiệm này được thiết kế cho việc tổng hợp và phân tích giá thuốc theo một phương pháp đã được chuẩn hoá Nó được phát triển
để phục vụ cho các chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các chi nhánh quốc
tế, các nhà nghiên cứu, các cán bộ y tế, và các hội người tiêu dùng
Phương pháp mới này gồm một hệ thống các cuộc khảo sát nhằm thuthập số liệu và thông tin chính xác về một loạt các thuốc đã được lựa chọn,bao gồm những phần sau:
- Danh sách các thuốc được Tổ chức Y tế Thế giới lựa chọn để tiến hành khảo sát và so sánh
- Hệ thống qui trình mẫu
- Sử dụng giá tham khảo quốc tế
- So sánh các khối: công cộng, tư nhân có lợi nhận, tư nhân phi lợi nhuận
- So sánh khả năng thanh toán đối với tiền thuốc cho một liệu trình điều trịchuẩn
- Nhận biết những thành phần tạo nên giá cuối cùng của thuốc
Một nghiên cứu sử dụng phương pháp này phải trả lời được những câuhỏi sau:
- Người dân phải trả những khoản tiền gì trong giá thuốc?
Trang 17- Sự khác nhau về giá và tính sẵn có của thuốc ở những khu vực khác nhau (những cơ sở y tế công, các nhà thuốc tư nhân bán lẻ, và các cửa hàng thuốc khác, ) như thế nào?
- Sự khác nhau về giá của những thuốc tương tự nhau, ở những vùng khác nhau như thế nào?
- Làm thế nào để so sánh được giá tham khảo quốc tế và giá bán lẻ tại địa phương?
- Các loại thuế và % chênh lệch được tính vào giá bán lẻ thuốc như thế nào?
Phương pháp này sẽ giúp theo dõi giá thuốc từ khi xuất xưởng cho tới khi đến tận tay người tiêu dùng Nó tập trung khảo sát giá của các thuốc thông qua các khối y tế ở trong cùng một vùng cũng như giữa các vùng với nhau Phương pháp này giúp việc tổng hợp số liệu được nhanh và chính xác, đồng thời cũng đòi hỏi phải có một khảo sát hệ thống về giá của các thuốc đã được lựa chọn
13
Trang 18PHẦN 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ Đ ố i TƯỢNG NGHIÊN c ứ u
2.1 Khái quát chung về phương pháp.
Phần mềm xử lý số liệu này được lập trình chạy trên chương trình Excel, giúp chúng ta tổng hợp và phân tích các số liệu về giá thuốc một cách tự động, nhanh chóng Chương trình bao gồm các trang sau:
£ 0 Trang chủ (Home page):
Khi vào chương trình, trang chủ sẽ hiện ra với các hộp thoại ghi tên của các trường số liệu đã được lập trình:
International Medicines Price Workbook
World Health Organization/Health Action InternationalStudy Medicines: Reference Price Summary: Sector ComparisonConsolidation: Procurement Data Summary: Product ComparisonConsolidation: Public Sector Data Treatment Affordability
Consolidation: Private SectorData Price Composition: Mark-upsConsolidation: Other Sector Data Price Composition: ComponentsMuốn tới trang nào bạn chỉ cần nhấn vào nút tương ứng trên trang chủ, chương trình sẽ tự động chạy tới trang được chỉ định
CQStudy Medicines: Reference Price (Trang giá thuốc tham khảo quốc tế).
• Trang này là quan trọng nhất trong chương trình và phải được hoàn thành trước tiên vì các số liệu trong trang này sẽ được sử dụng trong suốt quá trình phân tích số liệu
• Giá thuốc tham khảo quốc tế được lấy từ nguồn của Management Sciencis for Health năm 2002, là giá tính cho một đơn vị bào chế nhỏ nhất của 30 thuốc chủ yếu
£QFieId Data Consolidation (Các trường số liệu tổng hợp).
Có 4 trường số liệu tổng hợp cho phép bạn nhập vào các thông tin về giá của 3 loại thuốc đối với mỗi hoạt chất:
+ Tên biệt dược nổi tiếng (Innovator brand name) được WHO lựa chọn sẵn cho tất cả các địa điểm khảo sát và ở tất cả các nước
+ Thuốc bán nhiều nhất (Most sold generic equivalent) được xác định thông qua phỏng vấn người bán hàng trong quá trình khảo sát, đó là sản phẩm có cùng hoạt chất với biệt dược nổi tiếng đạt doanh số bán cao nhất tại mỗi nhà thuốc
Trang 19+ Thuốc có giá thấp nhất (Lowest price generic equivalent) là sản phẩm có cùng hoạt chất với biệt dược nổi tiếng nhưng có giá bán lẻ thấp nhất tại mỗi nhà thuốc.
Các trường số liệu đó gồm:
• Medicine Procurement Prices (Giá mua vào của thuốc)
• Public Sector Patient Prices (Giá thuốc bệnh nhân phải trả ở khối nhà nước)
là giá thuốc bán lẻ cho bệnh nhân tại các quầy thuốc trong bệnh viện
• Private Sector Retail Prices (Giá bán lẻ thuốc ở các nhà thuốc tư nhân) là giá bán lẻ thuốc tại các nhà thuốc tư nhân
• Other Sector Patient Prices (Giá thuốc người bệnh phải trả ở các khối khác)
là giá thuốc bán lẻ cho người bệnh tại các cơ sở y tế khác như các phòng khám tư,
Các giá thuốc nhập vào được tính theo tiền của từng địa phương cho một đơn vị bào chế đã thống nhất Chương trình sẽ tự động quy đổi ra $ u s theo tỷ giá đã được nhập vào, sau đó tự động tính tỷ số giữa giá thuốc thu thập được
trong quá trình khảo sát so với giá thuốc tham khảo quốc tế, đơn vị tính là số
lần Phần mềm này được lập trình để xử lý số liệu theo hàm trung vị đối với tỷ
lệ giá thuốc (Median Price Ratios-MPR) và sẽ cho kết quả là giá trị của con số tại vị trí trung vị đối với dãy tỷ lệ giá của các thuốc trong danh sách
ỄBTreatment Affordability (Trang phân tích khả năng thanh toán của ngưòi dân cho một liệu trình điều trị chuẩn theo khuyên cáo của WHO).
Chương trình đã cung cấp cho bạn 10 liệu trình điều trị chuẩn theo khuyên cáo của WHO đối với 10 hoạt chất trong danh sách Bạn có thể tham khảo và nhập vào một số liệu trình điều trị khác cho phù hợp với tình hình thực tế của mình
Các số liệu phân tích trên trang này sẽ giúp chúng ta biết được số tiền người bệnh phải trả cho một đợt điều trị (tính bằng số ngày lương của một
15
Trang 20viên chức nhà nước có bậc lương thấp nhất) của mỗi loại thuốc có cùng hoạt chất.
CQPrice Composition (Trang phân tích các thành phần của giá thuốc).
• Mark-ups (Mức độ chênh lệch giữa giá mua vào và giá bán ra) cho biết lợi nhuận thu được ở mỗi khâu phân phối của từng hoạt chất trong danh sách từ khi xuất xưởng cho tới khi đến tay người tiêu dùng, đối với thuốc sản xuất trong nước
• Components (Các thành phần của giá thuốc) cho biết cơ cấu của giá thuốc nhập khẩu
-Ệ- Một sô khái niệm về các loại giá:
+ Giá FOB (Free On Board): là giá giao hàng trên boong tàu.
+ Giá CIF (Cost Insurance Freight): là giá FOB cộng thêm các phí bảo hiểm
và các chi phí vận chuyển, lưu kho
+ Các công ty nội địa khi mua hàng với giá CIF phải tính tới thuế nhập khẩu
và phí nhập khẩu:
Phí nhập khẩu «2% CIF
Đối với 20 hoạt chất được tiến hành khảo sát, đa số biểu thuế nhập khẩu
là 0%, chỉ có một số hoạt chất phải chịu thuế suất 5% là Ranitidin và
• Với các thuốc có biểu thuế nhập khẩu là 0% thì:
Gbb = CIF + 2%CIF + Lbb + VAT bán buôn
Gbb = 1,02CIF + Lbb + 0,05Gbb/l,05
-> Lbb = (1 - 0,05/1,05)Gbb - 1,02CIF = 0,95Gbb - 1,02CIF
%Lbb = ( 0,95Gbb - 1,02CIF )/l,02C IF X 100
• Với các thuốc có biểu thuế nhập khẩu là 5% thì:
Gbb = CIF + 2%CIF + 5%CIF + Lbb + VAT bán buôn
Gbb = 1,07CIF + Lbb + 0,05Gbb/l,05
-» Lbb = (1 - 0,05/1,05)Gbb - 1,07CIF = 0,95Gbb - 1,07CIF
%Lbb = ( 0,95Gbb - 1,07CIF )/l,07C IF X 100
Trang 21+ Các đại lý, các nhà thuốc bán lẻ khi bán ra với giá bán lẻ (Gbl) thì phải chịu thuế giá trị gia tăng (VAT) là 5% chênh lệch giữa giá bán buôn và giá bán lẻ:
VAT bán lẻ = 5% (Gbl - Gbb)
Gbl = Gbb + Lbl + 5% (Gbl - Gbb)
-» Lbl = 0,95(Gbl - Gbb)
%Lbl = 0,95(GbI - Gbb)/Gbb X 100 2.2 Đối tượng nghiên cứu.
♦ Danh sách các thuốc được lựa chọn đ ể tiến hành khảo sát.
Trên cơ sở danh sách 30 thuốc dùng chủ yếu được WHO đề xuất và danh mục thuốc thiết yếu của Việt Nam, đề tài lựa chọn 20 hoạt chất để tiến hành khảo sát:
Bảng 2J_ Danh sách 20 hoạt chất tiến hành khảo sát
T
T Tên hoạt chất
Hàm lượng Dạng bào chế Mã A.T.C
Tác dụng điều trị
1 Aciclovir 200 mg viên nén J05AB01 Chống vi rút
2 Amoxicillin 250 mg viên nén/nhộng J01AC04 Chống vi
khuẩn
3 Atenolol 50 mg viên nén C07AC03 Hạ huyết áp
4 Beclometasone 0,05
mg/liều dạng khí dung R03BA01 Chữa hen
5 Captopril 25 mg viên nén C09AA01 Hạ huyết áp
6 Carbamazepine 200 mg viên nén N03AF01 Chống động
10 Diazepam 5mg viên nén N05BA01 An thần
11 Dicloíenac 25 mg viên nén M02AA15 Chống viêm
12 Fluconazole 150mg viên nén D01AC15 Chống nấm
13 Glibenclamide 5 mg viên nén A10BA02 Chữa tiểu
đường
14 Hydroclorothiazide 25 mg viên nén C03AA03 Hạ huyết áp
15 Metformin 500 mg viên nén A10BA02 Chữa tiểu
đưòng
16 Niíedipine 20 mg viên nén C08CA05 Hạ huyết áp
17 Omeprazole 20 mg viên nhộng A02BC01 Kháng acid
18 Paracetamol 500 mg viên nén N02BE01 Hạ sốt, chống
Trang 22Mỗi hoạt chất thu thập giá bán lẻ của:
+ Biệt dược nổi tiếng (Innovator brand name) đã được WHO lựa chọn cho tất
cả các địa điểm khảo sát
+ Thuốc có cùng hoạt chất với biệt dược nổi tiếng có doanh số bán cao nhất (Most solđ generic equivalent) tại mỗi địa điểm
+ Thuốc có cùng hoạt chất với biệt dược nổi tiếng nhưng có giá thấp nhất (Lowest price generic equivalent) tại mỗi địa điểm
♦ Chọn cỡ mẫu khảo sát.
Sử dụng phương pháp chọn cỡ mẫu có mục đích, đề tài đã tiến hành khảo sát giá bán lẻ của 20 thuốc trong danh sách tại 2 khối:
+ Khối nhà nước, tiến hành khảo sát tại quầy thuốc của 4 bệnh viện:
- Bệnh viện 198 là bệnh viện của ngành Công an, ở cách xa trung tâm và chủ yếu khám chữa bệnh theo chế độ cho cán bộ, chiến sĩ trong ngành, dịch vụ khám, chữa bệnh cho nhân dân trong khu vực chưa phát triển
- Bệnh viện 108 cũng là bệnh viện của Quân đội nhưng ở gần trung tâm và là bệnh viện đa khoa lớn
- Bệnh viện Thanh Nhàn trực thuộc Sở Y tế Hà Nội
- Bệnh viện Bạch Mai là bệnh viện đa khoa cấp 1, có số lượng bệnh nhân lớn
+ Khối tư nhân: thu thập số liệu tại 19 nhà thuốc tư nhân ở xung quanh các bệnh viện (Bệnh viện 198 là 5 nhà thuốc, Bệnh viện 108 là 4 nhà thuốc,
Bệnh viện Thanh Nhàn là 5 nhà thuốc, Bệnh viện Bạch Mai là 5 nhà thuốc) (Danh sách các nhà thuốc, thời gian tiến hành khảo sát được trình bày chi tiết trong Phụ lục 1)
Trang 23PHẦN 3 KẾT Q U Ả NGHIÊN cứ u VÀ BÀN LUẬN
Các số liệu giá thuốc thu thập tại các địa điểm khảo sát và được tổng hợp trong bảng Tổng hợp số liệu giá thuốc tại các khu vực (Phụ lục 2), sau đó thực hiện nhập số liệu vào phần mềm chương trình:
• Nhập các số liệu cần thiết vào trang Giá thuốc tham khảo quốc tế.
• Nhập giá bán lẻ thuốc thu thập được tại 4 quầy thuốc của bệnh viện vào trang Tổng hợp số liệu ở khối nhà nước (Consolidation: Public Sector Data) được minh họa trong bảng:
Bảng 3JL Minh họa việc nhập số liệu giá thuốc ở khối nhà nước.
Đơn vị tính: VND
Sô liệu của từng quầy tl1UỐC
TT Tên thuốc Loại thuốc
198 108 Thanh
Nhàn
Bạch Mai
• Nhập giá bán lẻ thuốc tại 19 nhà thuốc tư nhân vào trang Tổng hợp số
liệu ở khối tư nhân (Consolidation: Private Sector Data) được minh hoạ trong bảng dưới đây:
Bảng 3.2 Minh họa việc nhập số liệu giá thuốc ở khôi tư nhân.
Đơn vị tính: VND
TT Tên thuốc Loại thuốc
Số ]iệu của từng cửa hàng Nhà
thuốc
số 1
Nhà thuốc
số 2
Nhà thuốc
số 3
Nhà thuốc
số 4
3
Atenolol
Biệt dược nổi tiếng
Trang 243.1 So sánh giá bán lẻ của từng hoạt chất giữa 4 khu vực tại Hà Nội.
Dựa vào các số liệu trong Phu luc 2, Phu luc 3 và Phu luc 4, ta tiến hành so sánh giá bán lẻ của một số hoạt chất giữa khối nhà nước với khối tư nhân ở
từng khu vực Để phù hợp với mô hình bệnh tật của nước ta với các bệnh thường gặp là tim mạch và huyết áp, nhiễm khuẩn, dạ dày, xương khớp, đề tài tập trung phân tích các hoạt chất sau:
> Hoat chất Atenolol 250 mg.
Bảng_ 3.3 Bảng so sánh giá của từng loại thuốc có cùng hoạt chất Atenolol
250 mg ở khôi nhà nước và khối tư nhân
Đơn vị tính: Tỷ lệ so với giá tham khảo quốc tế
Loại thuốc Nhà nước
Tưnlhân Bệnh
viện 198
Bệnh viện 108
Thanh Nhàn
Bạch Mai
Biệt dược nổi tiếng
0 5 10 15 20 25 30 Số lần
■ Biệt dược nổi tiếng □ Thuốc bán nhiều nhất □ Thuốc giá thấp nhất
Hình 3.1 Biểu đồ so sánh giá của Atenolol giữa khôi nhà nước với khối tư
nhân ở 4 khu vực
Trang 25Các số liệu trong bảng 3.1 và biểu đồ trên cho thấy rằng với cả ba loại thuốc có cùng hoạt chất được lựa chọn khảo sát, giá thuốc tại các quầy thuốc của bệnh viện cao hơn giá tại các nhà thuốc tư nhân ở xung quanh Do cơ chế cạnh tranh, giá bán lẻ của các nhà thuốc tư nhân trong cùng một khu vực chênh lệch nhau không nhiều, giá bán lẻ của các nhà thuốc tư nhân lớn thấp hơn các nhà thuốc tư nhân nhỏ.
Giá bán lẻ của biệt dược nổi tiếng Tenormin tại khối nhà nước cao gấp1,08 lần (=26,70/24,76) giá bán lẻ tại khối tư nhân Trong khối tư nhân, giá thuốc tại các khu vực khác nhau cũng có sự chênh lệch Giá bán lẻ của Tenormin tại khu vực bệnh viện 198 và bệnh viện Thanh Nhàn là thấp nhất và cao nhất là ở khu vực bệnh viện 108 gấp 1,13 lần (=27,09/23,99) khu vực thấp nhất
Thuốc bán nhiều nhất tại khối nhà nước có giá cao gấp 3,14 lần (=26,70/8,51) tại khối tư nhân Các thuốc bán nhiều nhất tại khối nhà nước chính là biệt dược nổi tiếng Tenormin ở khối tư nhân các thuốc bán nhiều nhất thay đổi tuỳ theo từng khu vực Giá của thuốc bán nhiều nhất tại khu vực bệnh viện 198 và Thanh Nhàn là thấp nhất, thuốc bán nhiều nhất tại khu vực này đa phần là các thuốc có giá thấp do mức sống của dân cư ở đây thấp hơn các khu vực khác Giá của thuốc bán nhiều nhất tại khu vực bệnh viện Bạch Mai là cao nhất gấp 3,20 lần (=24,76/7,74) khu vực bệnh viện 198, thuốc bán nhiều nhất tại khu vực này là biệt dược nổi tiếng
Giá của thuốc giá thấp nhất tại khối nhà nước cao gấp 1,20 lần (=9,29/7,74) giá bán lẻ tại khối tư nhân, trong đó, giá bán lẻ tại khu vực bệnh viện 108 cao hơn các khu vực khác 1,05 lần
Biệt dược nổi tiếng Tenormin mặc dù có giá bán lẻ gấp khoảng 3,45 lần giá của thuốc giá thấp nhất nhưng lại được sử dụng nhiều, đặc biệt là ở khối nhà nước và khu vực xung quanh các bệnh viện lớn là bệnh viện 108, bệnh viện Bạch Mai
21
Trang 26> Hoạt chất Ciproíloxađn 500 mg.
Bảng 3Â Bảng so sánh giá của từng loại thuốc có cùng hoạt chất Ciprofloxacin 500 mg ở khối nhà nước và khôi tư nhân
Đơn vị tính: Tỷ lệ so với giá tham khảo quốc tế
Loại thuốc Nhà nước
Tư nhân Bệnh
viện 198
Bệnh viện 108
Thanh Nhàn
Bạch Mai
Biệt dược nổi tiếng
Bỉ Biệt dược nổi tiếng □ Thuốc bán nhiều nhất □ Thuốc giá thấp nhất
Hình 3.2 Biêu đồ so sánh giá của Ciprofỉoxacin giữa khối nhà nước vói
khối tư nhân ở 4 khu vưc
Trang 27Các số liệu trên cho ta thấy giá của tất cả các loại thuốc tại khối nhà nước đều cao hơn khối tư nhân:
+ Giá của biệt dược nổi tiếng Ciprobay tại các quầy thuốc bệnh viện cao gấp1,08 lần (=71,10/65,77) giá bán lẻ tại khối tư nhân
+ Thuốc bán nhiều nhất tại khối nhà nước chính là biệt dược nổi tiếng và có giá bán lẻ cao hơn khối tư nhân 5,72 lần (=71,10/12,44)
+ Giá của thuốc giá thấp nhất tại khối nhà nước gấp 4,44 lần (6,31/1,42) khối
tư nhân
Biệt dược nổi tiếng có giá cao gấp 11 lần thuốc giá thấp nhất (ở khối nhà nước) và gấp 46 lần thuốc giá thấp nhất (ở khối tư nhân) Tuy nhiên, các thuốc giá thấp nhất lại không phải là các thuốc bán nhiều nhất ở cả hai khối
Giá bán lẻ của khối tư nhân thay đổi tuỳ theo từng khu vực địa lý:
+ Giá bán lẻ của Ciprobay tại khu vực Bạch Mai là thấp nhất do tại thời điểm tiến hành khảo sát biệt dược này đã có sự thay đổi mẫu mã (chuyển từ dạng đóng gói 1 viên/hộp thành dạng vỉ 10 viên/hộp) nên có giá bán lẻ của thuốc giảm từ 37.000 đổng xuống còn khoảng 30.000 đồng Khu vực Bạch Mai là một thị trường rất nhạy cảm, lượng thuốc bán ra tại đây rất lớn, thuốc luân chuyển nhanh nên các biến động về giá thuốc thể hiện rất rõ tại địa bàn này
+ Giá của thuốc bán nhiều nhất tại khu vực bệnh viện Bạch Mai là cao nhất
trong khối tư nhân nhưng vẫn thấp hơn giá của thuốc cùng loại tại khối nhà nước 5,55 lần Giá của thuốc bán nhiều nhất tại khu vực bệnh viện 198 là thấp nhất do các thuốc bán nhiều nhất tại khu vực này là các thuốc có giá thấp nhất, thấp hơn khu vực Bạch Mai 4,79 lần (=12,80/2,67) Tại hai bệnh viện lớn, Bạch Mai và 108, thuốc bán nhiều nhất đa số là biệt dược nổi tiếng và các thuốc có giá trung bình, các thuốc giá thấp nhất tại đây hầu như không bán được
+ Giá của thuốc giá thấp nhất tại khu vực bệnh viện 198 và bệnh viện Thanh Nhàn là thấp nhất Giá của thuốc cùng loại tại khu vực bệnh viện Bạch Mai là cao nhất, gấp 10,03 lần (=12,44/1,24) giá bán lẻ tại khu vực bệnh viện 198 và Thanh Nhàn
23
Trang 28> Hoạt chất Diclofenac 25 mg:
Bảng_ 3.5 Bảng so sánh giá của từng loại thuốc có cùng hoạt chất
Diclofenac 25 mg ở khôi nhà nước và khôi tư nhân
Đơn vị tính: Tỷ lệ so với giá tham khảo quốc tế
Loại thuốc Nhà nước
Tư nhân Bệnh
viện 198
Bệnh viện 108
Thanh Nhàn
Bạch Mai
Biệt dược nổi tiếng
E3 Biệt dược nổi tiếng □ Thuốc bán nhiều nhất □ Thuốc giá thấp nhất
Hình 33 Biểu đồ so sánh giá của Dỉcỉo/enac giữa khôi nhà nước vói khôi
tư nhân ở 4 khu vực
Trang 29Các số liệu trong bảng 3.3 và hình 3.3 cho thấy:
+ Biệt dược nổi tiếng Voltaren của hãng Novartis chính là thuốc bán nhiều
nhất ở đa số các địa điểm khảo sát Giá của biệt dược nổi tiếng này tại khối
nhà nước là cao gấp 1,12 lần (=34,68/30,99) giá bán lẻ tại khối tư nhân Giábán lẻ Voltaren tại khu vực bệnh viện 198 cao nhất trong khối tư nhân nhưngvẫn thấp hơn giá bán lẻ tại khối nhà nước
+ Tại khối tư nhân, thuốc bán nhiều nhất có giá cao hơn cả giá của biệt dược nổi tiếng vì tại một số nhà thuốc tư nhân ở khu vực bệnh viện Bạch Mai, thuốc bán nhiều nhất là biệt dược CataAam (Novartis) có giá bán lẻ gấp 1,05 lần giá của Voltaren Biệt dược nổi tiếng Voltaren có bán ở tất cả các địa điểm khảo sát và là biệt dược được sử dụng nhiều nhất so với các sản phẩm khác có cùng hoạt chất vì nó đã quá quen thuộc đối với người dân Tại nhiều nhà thuốc tư nhân nhỏ chỉ bán một biệt dược duy nhất có hoạt chất Dicloíenac là Voltaren + Thuốc giá thấp nhất tại khu vực bệnh viện 108 có giá cao nhất vì tại nhiều nhà thuốc tư nhân trong khu vực chỉ tìm thấy một biệt dược duy nhất là Voltaren Biệt dược nổi tiếng có giá gấp 5,88 lần thuốc giá thấp nhất nhưng lại được sử dụng nhiều nhất, tại nhiều địa điểm khảo sát các thuốc giá thấp nhất này hầu như không có người mua ngay cả ở những nơi mức sống của người dân còn thấp (khu vực bệnh viện 198)
> Hoạt chất Ranitidine 150 mg:
Bảng_ 3^6 Bảng so sánh giá của từng loại thuốc có cùng hoạt chất
R an itidin e 150 m g ở k h ô i nhà nước và k h ô i tư nhân
Đơn vị tính: Tỷ lệ so với giá tham khảo quốc tế
Loại thuốc Nhà nước
Tư nhán Bệnh
viện 198
Bệnh viện 108
Thanh Nhàn
Bạch Mai
Biệt dược nổi tiếng
25
Trang 30Hình 3.4 Biểu đồ so sánh giá của Ranitidine giữa khôi nhà nước vói khôi
tư nhân ở 4 khu vực
Các số liệu trên cho thấy giá bán lẻ tại các quầy thuốc của bệnh viện cao hơn giá bán lẻ tại các nhà thuốc tư nhân Giá biệt dược Zantac tại khối nhà nước cao gấp 1,05 lần tại khối tư nhân Thuốc bán nhiều nhất tại khối nhà nước chính là biệt dược nổi tiếng, có giá gấp 1,12 lần giá bán lẻ tại khối tư nhân Thuốc giá thấp nhất tại khối nhà nước có giá bán cao hơn khối tư nhân 1,21 lần
Việc sử dụng các biệt dược nổi tiếng đang rất phổ biến, đặc biệt là tại khối nhà nước Các biệt dược nổi tiếng có giá cao hơn 1,43 lần (ở khối nhà nước) và 1,67 lần (ở khối tư nhân) thuốc giá thấp nhất Chính điều này là gánh nặng đối với thu nhập eo hẹp của người dân, làm cho nhiều người dân “không dám” đi khám, chữa bệnh
Giá thuốc ở khối tư nhân cũng thay đổi tuỳ theo từng khu vực Giá của biệt dược nổi tiếng ở khu vực bệnh viện 108 là thấp nhất Giá của thuốc bán
■ Biệt dược nổi tiếng □ Thuốc bán nhiều nhất □ Thuốc giá thấp nhất
Trang 31nhiều nhất tại khu vực bệnh viện 198 là thấp nhất, các thuốc bán nhiều nhất tại đây cũng không phải là biệt dược nổi tiếng như ở các khu vực khác Giá của thuốc giá thấp nhất tại khu vực bệnh viện 198 cũng thấp nhất so với các nơi khác.
3.2 So sánh giá của 20 hoạt chất giữa khối nhà nước và khối tư nhân tại
Hà Nội.
Bảng 3.7 Bảng so sánh giá của 20 hoạt chất giữa khôi tư nhân với khôi
nhà nước Đơn vị tính: Tỷ lệ so với giá tham khảo quốc tế
Loại thuốc n Tư nhân Nhà nước
d: So sánh giữa giá ở khối nhà nước so với khối tư nhân.
nhân vói khối nhà nước
27
Trang 32Với tất cả 20 hoạt chất, giá bán lẻ thuốc tại các quầy thuốc của bệnh viện đều cao hơn giá bán lẻ tại các nhà thuốc tư nhân:
+ Giá của các biệt dược nổi tiếng ở khối nhà nước cao gấp 112% giá bán lẻ tại khối tư nhân
+ Giá của thuốc bán nhiều nhất tại khối nhà nước cao gấp 227% giá tại khối
tư nhân
+ Giá của thuốc giá thấp nhất ở khối nhà nước gấp 133% giá tại khối tư nhân
Thuốc bán nhiều nhất tại khối nhà nước chính là các biệt dược nổi tiếng,
ở khối tư nhân các biệt dược nổi tiếng chỉ được bán nhiều nhất tại một số nhà thuốc ở xung quanh các bệnh viện lớn như bệnh viện 108, bệnh viện Bạch Mai Điều đó gây trở ngại rất lớn đối với việc phòng và chữa bệnh của nhân dân, đặc biệt là những người có thu nhập thấp và trung bình, những người dân
từ các tỉnh khác về Hà Nội chữa bệnh Những người dân ngoại tỉnh tới Hà Nội chữa bệnh đa số là các trường hợp bị bệnh nặng, phần lớn lại không có bảo hiểm y tế, phải tự thanh toán mọi chi phí khám, chữa bệnh Họ thường mua thuốc tại quầy thuốc của bệnh viện và các nhà thuốc tư gần bệnh viện nhưng giá thuốc tại các nơi này lại thường cao hơn các khu vực khác
Giá thuốc tại các quầy thuốc bệnh viện thường cao hơn các nhà thuốc tư nhân vì một số lý do sau:
- Thứ nhất, các nhà thuốc bệnh viện phải chịu hình thức khoán doanh số và
sự kiểm tra giám sát nghiêm ngặt về sổ sách tài chính, các thuốc nhập vào đều phải có hoá đơn thanh toán không thể trốn thuế được
- Thứ hai, các nhà thuốc bệnh viện thường phải nhập thuốc từ các hãng, các công ty phân phối đã trúng thầu chứ không thể lấy thuốc từ thị trường tự do để đảm bảo chất lượng thuốc
Mặc dù giá thuốc ở các quầy thuốc của bệnh viện cao hơn bên ngoài nhưng nhiều người bệnh vẫn mua vì họ cảm thấy yên tâm về chất lượng thuốc.Tinh trạng lạm dụng các biệt dược nổi tiếng trong điều trị là rất phổ biến Chính điều này góp phần làm cho chi phí điều trị tăng lên vượt quá khả năng thanh toán của đa số người dân
Trang 333.3 So sánh giá của một số biệt dược nổi tiếng tại khối tư nhân ở Hà Nội với 10 nước đã tiến hành khảo sát theo phương pháp này.
Giá thuốc tại nhiều nước đang phát triển trên Thế giới chưa được kiểm soát chặt chẽ Để giúp các nước đang phát triển có thể tiếp cận với việc giám sát giá thuốc, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đề xuất phương pháp này và đã tiến hành thử nghiệm ở một số nước tại châu Á, châu Phi
Trong năm 2001, 2002 và 2003, WHO đã tiến hành thử nghiệm phương pháp khảo sát giá thuốc tại 10 nước đang phát triển: Sri Lanka, Armenia, Kenya, Brazil, Nam Phi, Peru, Ghana, Cameroon, Philippines, Ấn Độ Kết quả của các cuộc khảo sát được công bố trên trang web của WHO [10]
Trong quá trình tiến hành khảo sát ở các nước khác nhau, chỉ có tên biệt dược nổi tiếng được WHO đề xuất là không thay đổi, các thuốc bán nhiều nhất và thuốc giá thấp nhất ở các nước là khác nhau tuỳ vào tình hình thực tế ở mỗi nước Vì vậy, để có được sự chính xác, đề tài tiến hành so sánh giá bán lẻ của biệt dược nổi tiếng tại Hà Nội với 10 nước đã gửi kết quả khảo sát tới WHO
Bảng 3.8 Bảng so sánh giá của biệt dược nổi tiếng ở khối tư nhân giữa Hà
Nội với 10 nước đã tiến hành khảo sát
Đơn vị tính: Tỷ lệ so với giá tham khảo quốc tế
Becotide (GSK)
Ciprobay (Bayer)
Losec (Astra)
Rocephin (Roche)
Ventoline (GSK)
Zantac (GSK)
Zovirax (GSK)
Trang 34Các kết quả khảo sát tại 10 nước cho thấy:
- Tại tất cả các nước, người dân phải tự chi trả tới hơn 80% tiền thuốc, ở các nước đang phát triển dịch vụ y tế công không đủ đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của người dân [10], điều đó lý giải cho sự phát triển của khối y tế tư nhân ở các nước này
- Tính sẵn có của các thuốc ở khối y tế công thấp hơn so với khối tư nhân, nhiều hoạt chất không có ở khối y tế công nhưng lại sẵn có ở khối tư nhân
- Giá thuốc của khối y tế công tại các nước này đều thấp hơn giá thuốc tại khối tư nhân Điều này trái ngược hẳn với kết quả khảo sát tại Hà Nội
Các số liệu trong bảng trên đã cho thấy rằng giá của các biệt dược này tại khối tư nhân của Hà Nội so với khối tư nhân ở 10 nước tiến hành khảo sát không phải là cao, so với các nước châu Á như Philippines, Sri Lanka, chỉ có
3 biệt dược là Ciprobay của Bayer, Losec và Zovirax của GSK có giá cao hơn
Để làm rõ hơn điều này, đề tài tập trung so sánh giá bán lẻ ở khối tư nhân của
Hà Nội với giá bán lẻ ở khối tư nhân của các nước khác đối với 3 biệt dược nổi tiếng sau:
* Với biệt dược Ciprobay (Bayer), hoạt chất là Ciproíloxacin 500 mg:
của Hà Nội và 9 nước
Trang 35Nhìn vào đồ thị trên, ta dễ dàng nhận thấy:
+ Giá của Ciprobay ở khối tư nhân của Ân Độ là thấp nhất, gấp 3,91 lần giátham khảo quốc tế
+ Giá của Ciprobay tại Philippines gấp 10,71 lần giá tại Ấn Độ
+ Giá của biệt dược này tại Hà Nội cao gấp 16,82 lần giá tại Ấn Độ, gấp 1,57lần giá tại Philippines
+ Giá của biệt dược Ciprobay tại Kenya là cao nhất, gấp 31,45 lần giá tại Ẩn
Độ, gấp 1,87 lần giá tại Hà Nội
Như vậy là giá của Ciprobay tại Hà Nội chỉ cao hơn giá tại 3 nước là Ấn
Độ, Philippines, Sri Lanka
¥ Vói biệt dược Ventoline (GSK), hoạt chất là Salbutamol 0,1 mg/liều:
tư nhân ở Hà Nội và 9 nước đã tiến hành khảo sát
Nhìn vào đồ thị trên, ta thấy:
+ Giá của biệt dược Ventoline ở khối tư nhân tại Ân Độ là thấp nhất trong số
10 nước đã tiến hành khảo sát, gấp 1,28 lần giá tham khảo quốc tế
+ Giá của Ventoline tại khối tư nhân của Hà Nội cao gấp 2,02 lần giá thuốctại Ấn Độ
31
Trang 36+ Cũng biệt dược này, giá tại khối tư nhân của Philippines gấp 1,91 lần giá
tại Hà Nội và gấp 3,85 lần giá bán lẻ tại An Độ
4- Nước có giá bán lẻ của Ventoline cao nhất là Peru, cao hơn giá tại Hà Nội3,31 lần và gấp 6,66 lần giá của biệt dược này ở Ấn Độ
Chúng ta thấy rằng giá bán lẻ Ventoline ở khối tư nhân tại Hà Nội chỉ
cao hơn giá bán lẻ ở khối tư nhân của Ấn Độ và Armenia.
Với biệt dược Zantac (GSK), hoạt chất là Ranitỉdin 150 mg:
tiếng Zantac ở khôi tư nhân của Hà Nội và 10 nước
Đồ thị trên cho chúng ta thấy:
+ Ấn Độ là nước có giá bán lẻ của biệt dược Zantac ở khối tư nhân thấp nhất,chỉ cao hơn giá tham khảo quốc tế 0,20 lần
+ Giá của biệt dược này tại Hà Nội cao hơn giá bán lẻ tại Ấn Độ 15,50 lần.Giá thuốc tại Hà Nội chỉ cao hơn giá thuốc tại Ấn Độ
+ Giá của Zantac tại Philippines gấp 6,03 lần giá tại Hà Nội và gấp 114,85 lần giá tại Ấn Độ
+ Giá của Zantac cao nhất tại Ghana, gấp 11,55 lần giá tại Hà Nội và cao gấp 220,10 lần giá tại Ấn Độ
Trang 37Từ các phân tích trên chúng ta thấy rằng Ấn Độ là nước có giá thuốc thấp nhất trong số các nước đã tiến hành khảo sát vì [4]:
+ An Độ có ngành công nghiệp Dược phát triển rất mạnh theo cả hai định hướng: thị trường nội địa và xuất khẩu
+ Hệ thống bảo hộ thuốc có bản quyền ở Ấn Độ rất lỏng lẻo cùng với quá trình đầu tư mạnh mẽ của tư nhân vào sản xuất dược phẩm diễn ra tích cực trong hơn một thập kỷ qua đã tạo động lực cho công nghiệp dược phẩm Ấn Độ
w •<?
phát triẽn
+ Bên cạnh đó, sự hỗ trợ từ chính sách thuế xuất nhập khẩu của chính phủ và hoạt động khá hiệu quả của Cơ quan quản lý giá thuốc quốc gia (NPPA) đã thúc đẩy đầu tư phát triển trong nước
- Đối với dược chất, Ấn Độ chỉ công nhận bản quyền sản xuất trong thời hạn 7 năm kể từ ngày nghiên cứu xong hoặc 5 năm kể từ ngày được cấp bằng sáng chế Điều này đã tạo điều kiện không nhỏ để các nhà sản xuất tại
Ấn Độ phát triển sản phẩm của họ đi trước 4-6 năm so với các nước khác vì vậy các hãng dược phẩm lớn tại Bắc Mỹ, Tây Âu đua nhau thành lập nhà máy, liên doanh trên đất Ấn Độ và đã giúp dược phẩm Ấn Độ nhanh chóng nâng cao vị thế của mình, tạo đà thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển
- Để khuyên khích nghiên cứu và phát triển (R&D) trong nước, Ấn Độ có
chính sách miễn trừ việc kiểm soát giá đối với các sản phẩm thuộc các chương trình R&D của các công ty trong nước trong vòng 10 năm Các thuốc mới, giới thiệu lần đầu bởi các công ty (cả trong và ngoài nước), được miễn trừ kiểm soát giá 5 năm đầu Tuy nhiên khi giá của các thuốc này tăng không hợp lý thì sẽ bị khống chế lại ngay Hiện nay ở Ấn Độ còn 73 thuốc
bị khống chế giá trong đó có Salbutamol, Ciproíloxacin, Captopril
3.4 Khảo sát khả năng thanh toán của người dân cho một liệu trình điều trị chuẩn theo khuyên cáo của WHO.
*
Theo mô hình bệnh tật ở nước ta, các bệnh thường gặp hiện nay là bệnh tim mạch, bệnh nhiễm khuẩn, bệnh xương khớp và bệnh dạ dày Vì vậy, đề tài tiến hành khảo sát giá cho một liệu trình điều trị điều trị chuẩn đối với 4 bệnh trên
33