27 4.2 THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH SỬ DỤNG DỊCH VỤ ĂN UỐNG TẠI CÁC QUÁN ĂN LỀ ĐƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ .... Vì vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để tập trung các quán ăn lề đường th
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH
THÀNH KHU PHỐ ĂN UỐNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành Quản trị thương mại
Mã số ngành: 52340121
Tháng 8 – Năm 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH
THÀNH KHU PHỐ ĂN UỐNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN TRỊ THƯƠNG MẠI
Mã số ngành: 52340121
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN HUỲNH NHỰT PHƯƠNG
Tháng 8 - Năm 2013
Trang 3I
LỜI CẢM TẠ
Em xin chân thành cảm ơn ban chủ nhiệm Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Cần Thơ cùng quý thầy cô đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng em trong suốt quá trình học tập, cũng như trong suốt quá trình làm luận văn tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của cô Huỳnh Nhựt Phương đã tạo điều kiện cho em hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Do thời gian làm luận văn quá ngắn và kiến thức còn hạn chế, nên luận văn tốt nghiệp không tránh khỏi được sai sót Em rất mong nhận được sự đóng góp quý báu của quý thầy cô để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2013
Người thực hiện
LÊ NGUYỄN TỐ QUYÊN
Trang 4II
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi và các kết quả nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2013
Người thực hiện
LÊ NGUYỄN TỐ QUYÊN
Trang 5III
MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1
1.2.1 Mục tiêu chung 1
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 CÁC GIẢ THUYẾT CẦN KIỂM ĐỊNH VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU .2
1.3.1 Các giả thuyết cần kiểm định 2
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
1.4.1 Không gian 2
1.4.2 Thời gian 3
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu 3
1.5 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
2.1.1 Những vấn đề cơ bản về quán ăn lề đường 5
2.1.2 Những vấn đề cơ bản về khu phố ăn uống 9
2.1.3 Mô hình nghiên cứu đánh giá chất lượng dịch vụ của các quán ăn lề đường 11
2.1.4 Nhu cầu 12
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 14
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 14
CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ CẦN THƠ VÀ CÁC QUÁN ĂN LỀ ĐƯỜNG TRÊN ĐI ̣A BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ 18
Trang 6IV
3.1 TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ CẦN THƠ 18
3.1.1 Vị trí địa lý 18
3.1.3 Đặc điểm địa hình 19
3.1.4 Dân số và mâ ̣t đô ̣ dân số 20
3.1.5 Các đơn vị hành chính 20
3.2 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CÁC QUÁN ĂN LỀ ĐƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ 21
3.2.1 Giới thiệu các quán ăn lề đường trên địa bàn thành phố Cần Thơ 21
3.2.2 Những mặt tích cực và những mặt tiêu cực trong kinh doanh quán ăn lề đường 22
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU 25 THÀNH LẬP KHU ĂN UỐNG CỦA NGƯỜI DÂN 25
THÀNH PHỐ CẦN THƠ 25
4.1 MÔ TẢ CHUNG VỀ MẪU ĐIỀU TRA 25
4.1.1 Giới tính 25
4.1.2 Nghề nghiệp 26
4.1.3 Độ tuổi 26
4.1.4 Thu nhập 27
4.1.5 Trình độ học vấn 27
4.2 THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH SỬ DỤNG DỊCH VỤ ĂN UỐNG TẠI CÁC QUÁN ĂN LỀ ĐƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ 28
4.2.1 Tình hình sử dụng dịch vụ ăn uống tại các quán ăn lề đường 28
4.2.2 Đánh giá chất lượng dịch vụ ăn uống tại các quán ăn lề đường trên địa bàn thành phố Cần Thơ thông qua cảm nhận của khách hàng 34
4.3 KIỂM ĐỊNH MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC ĐẶC ĐIỂM NHÂN KHẨU HỌC VỚI NHU CẦU THÀNH LẬP KHU PHỐ ĂN UỐNG 37
4.3.1 Giới tính và nhu cầu thành lập khu phố ăn uống 37
4.3.2 Độ tuổi và nhu cầu thành lập khu phố ăn uống 37
Trang 7V
4.3.3 Nghề nghiệp và nhu cầu thành lập khu phố ăn uống 38
4.3.4 Trình độ học vấn và nhu cầu thành lập khu phố ăn uống 39
4.3.5 Thu nhập và nhu cầu thành lập khu phố ăn uống 40
4.4 PHÂN TÍCH NHU CẦU TẬP TRUNG CÁC QUÁN ĂN LỀ ĐƯỜNG THÀNH KHU PHỐ ĂN UỐNG 42
4.4.1 Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu thành lập khu phố ăn uống của người dân thành phố Cần Thơ 42
4.4.2 Kiểm định độ tin cậy của thang đo 46
4.4.3 Phân tích nhân tố EFA 47
4.4.4 Kiểm định mối quan hệ giữa nhu cầu và các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu 49
CHƯƠNG 5: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ XÂY DỰNG KHU ĂN UỐNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ 52
5.1 CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 52
5.2 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP 53
5.2.1 Giải pháp đối với người kinh doanh thức ăn đường phố 53
5.2.2 Giải pháp đối với các cơ quan chức năng 55
CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56
6.1 KẾT LUẬN 56
6.2 KIẾN NGHỊ 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
Trang 8lề đường 33 Bảng 4.4: Mức độ quan trọng và mức độ thể hiện dịch vụ ăn uống tại các quán
ăn lề đường trên địa bàn thành phố Cần Thơ 35 Bảng 4.5: Kiểm định sự khác biệt giữa nhu cầu thành lập khu phố ăn uống
và giới tính 37 Bảng 4.6: Kiểm định sự khác biệt giữa nhu cầu thành lập khu phố ăn uống
và độ tuổi 38 Bảng 4.7: Kiểm định sự khác biệt giữa nhu cầu thành lập khu phố ăn uống
và nghề nghiệp 39 Bảng 4.8: Kiểm định sự khác biệt giữa nhu cầu thành lập khu phố ăn uống
và trình độ học vấn 40 Bảng 4.9: Kiểm định sự khác biệt giữa nhu cầu thành lập khu phố ăn uống
và thu nhập 41 Bảng 4.10: Bảng mô tả mức độ quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến
nhu cầu thành lập khu phố ăn uống của người dân thành phố Cần Thơ 43 Bảng 4.11: Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha 47 Bảng 4.12: Kết quả phân tích nhân tố EFA 48 Bảng 4.13: Kiểm định mối quan hệ giữa nhu cầu với nhóm giá cả và
sự an toàn 49 Bảng 4.14: Kiểm định mối quan hệ giữa nhu cầu với nhóm vị trí, mặt bằng của quán ăn 50 Bảng 4.15: Kiểm định mối quan hệ giữa nhu cầu với nhóm các yếu tố phụ trợ 51
Trang 101
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Thành công trong công việc là dựa vào ý chí, sức lực của mỗi người Tuy nhiên, sức khỏe và tinh thần lại đóng một vai trò quan trọng trong quá trình dẫn dắt con người tới thành công Vậy làm sao có được một sức khỏe tốt và một tinh thần làm việc thoải mái? Ngoài việc tập thể dục thường xuyên thì nhu cầu dinh dưỡng hay đúng hơn là chất lượng bữa ăn chính là chìa khóa quyết định cho một sức khỏe hoàn hảo Sau một ngày làm việc căng thẳng, chúng ta cần cung cấp một lượng dinh dưỡng bù lại cho khoảng năng lượng đã tiêu hao Bên cạnh đó, vấn đề ăn uống cùng bạn bè sau những giờ làm việc căng thẳng cũng trở thành một trong những loại hình giải trí được ưa chuộng hiện nay Gần đây, văn hóa ẩm thực đường phố đã trở thành một trong những loại hình vui chơi giải trí rất phát triển, đặc biệt là đối với Cần Thơ – một điểm đến trung chuyển của Đồng bằng sông Cửu Long, nơi giao thoa văn hóa giữa các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long Cần Thơ tập trung nhiều món ăn từ các vùng miền khác nhau trên cả nước, điều đó tạo nên một nét mới trong du lịch Cần Thơ là văn hóa ẩm thực Tuy nhiên, không phải vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm luôn được chú trọng tại các quán ăn lề đường Vì vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để tập trung các quán ăn lề đường thành một khu ăn uống mang đậm nét văn hóa ẩm thực trong du lịch Cần Thơ mà vẫn đảm bảo an toàn cho sức khỏe của người dân, giúp người dân cũng như du khách tại Cần Thơ có thể thỏa mãn nhu cầu ăn uống cũng như vui chơi giải trí Từ chỗ nắm bắt thực trạng đó, giúp các quán ăn lề đường đề ra những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ để thu hút khách hàng, cũng như trở thành lựa chọn của đa số người dân, đó chính là lý do tôi chọn đề tài nghiên
cứu là “Phân tích nhu cầu của người dân thành phố Cần Thơ về việc tập
trung các quán ăn lề đường thành khu phố ăn uống”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích tình hình sử dụng dịch vụ ăn uống tại các quán ăn lề đường và nhu cầu tập trung các quán ăn lề đường thành khu phố ăn uống của người dân thành phố Cần Thơ, nhằm tìm ra giải pháp giúp các quán ăn lề đường đáp ứng tốt hơn nhu cầu ăn uống của người dân thành phố Cần Thơ
Trang 112
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Khái quát thực trạng tình hình sử dụng dịch vụ ăn uống của các quán ăn
lề đường trên địa bàn thành phố Cần Thơ
Phân tích nhu cầu của người dân thành phố Cần Thơ về việc tập trung các quán ăn lề đường thành khu phố ăn uống
Đề xuất một số giải pháp trên cơ sở phân tích thực trạng và tìm hiểu mong muốn của người dân thành phố Cần Thơ nhằm giúp các quán ăn lề đường đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân
1.3 CÁC GIẢ THUYẾT CẦN KIỂM ĐỊNH VÀ CÂU HỎI NGHIÊN
CỨU
1.3.1 Các giả thuyết cần kiểm định
H01: Nhu cầu thành lập khu ăn uống của những người dân có đặc điểm nhân khẩu họckhác nhau là như nhau
H02: Mức độ đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu của những người dân có nhu cầu khác nhau là như nhau
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu
Các quán ăn lề đường có phải là một trong những lựa chọn của người dân thành phố Cần Thơ khi có nhu cầu ăn uống hay không?
Vấn đề thành lập khu ăn uống có thật sự cần thiết hay không?
Việc ăn các quán ăn lề đường để đáp ứng nhu cầu ăn uống, vui chơi giải trí hay thư giãn cuối tuần hiện nay như thế nào?
Những nhân tố nào ảnh hưởng đến nhu cầu thành lập khu ăn uống của người dân thành phố Cần Thơ?
Làm thế nào để đáp ứng nhu cầu thành lập khu ăn uống của người dân thành phố Cần Thơ?
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Không gian
Đề tài phân tích nhu cầu tập trung các quán ăn lề đường thành khu phố
ăn uống của người dân được thực hiện tại Quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ Vì thời gian nghiên cứu ngắn, và đây là quận trung tâm của thành phố
Trang 121.4.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là người dân đang sinh sống trên địa bàn quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
1.5 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
Trần Phạm Đỗ Hiền, Lê Quang Viết (2012), “Giải pháp nâng cao
chất lượng dịch vụ thức ăn đường phố trên địa bàn thành phố Cần Thơ”, Đại
học Cần Thơ
Mục tiêu nghiên cứu: Phân tích thực trạng kinh doanh và đánh giá mức
độ hài lòng của người tiêu dùng về dịch vụ thức ăn đường phố, từ đó đề ra giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ thức ăn đường phố tại Cần Thơ
Phương pháp nghiên cứu: tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả
để khái quát và phân tích thực trạng kinh doanh thức ăn đường phố tại thành phố Cần Thơ Đối với mục tiêu đánh giá mức độ hài lòng của người tiêu dùng
về dịch vụ thức ăn đường phố, tác giả đã đưa 21 biến độc lập là các tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ thức ăn đường phố vào mô hình hồi quy để xác định mức độ hài lòng của khách hàng
Kết quả nghiên cứu: nghiên cứu cho thấy, loại hình dịch vụ thức ăn đường phố này đang có được sự hài lòng tích cực từ phía khách hàng Qua phân tích hồi quy, ta thấy chất lượng thức ăn có mối tương quan thuận chiều với mức độ hài lòng Còn lại 4 yếu tố khác đưa vào mô hình không có ý nghĩa
về mặt thống kê hay không ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ thức ăn đường phố
Nguyễn Đình Uông và các tác giả (2009), “Ý tưởng nhà ăn cho sinh
viên”, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Mục tiêu nghiên cứu: tìm hiểu thực trạng và những yếu tố tác động tới việc lựa chọn địa điểm ăn uống của sinh viên, thu thập những thông tin về nhu
Trang 134
cầu và nhận xét của sinh viên về ý tưởng nhà ăn cho sinh viên, từ đó xây dựng
và hoàn thiện ý tưởng
Phương pháp nghiên cứu: tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả
để khái quát thực trạng các quán ăn theo ý kiến của sinh viên và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn quán ăn của sinh viên Tác giả sử dụng hàm hồi qui đơn bội để xem xét mối quan hệ giữa thu nhập và việc chi tiêu cho ăn uống của sinh viên
Kết quả nghiên cứu: Qua nghiên cứu cho thấy, chất lượng bữa ăn là yếu
tố quan trọng nhất và thực trạng hiện nay là các quán ăn vẫn chưa thể đáp ứng được vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm cho sinh viên Việc thành lập nhà ăn cho sinh viên là cần thiết, và ý tưởng của đề tài là khả thi và có thể mang lại lợi nhuận
Vũ Thị Hồng Yến, Lưu Thanh Đức Hải (2011), “Một số giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ ăn uống trong hệ thống nhà hàng trên địa bàn thành phố Cần Thơ”, Trường Đại học Cần Thơ
Mục tiêu nghiên cứu: Phân tích thực trạng kinh doanh dịch vụ ăn uống
và các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của khách hàng, từ đó đề ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ ăn uống trong hệ thống nhà hàng tại thành phố Cần Thơ
Phương pháp nghiên cứu: tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả
để phân tích thực trạng kinh doanh dịch vụ ăn uống, và sử dụng phương pháp phân tích nhân tố, hồi quy tuyến tính để đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ này
Kết quả nghiên cứu: Nghiên cứu cho thấy, khách hàng chỉ hài lòng ở mức độ trung bình đối với dịch vụ ăn uống trong hệ thống nhà hàng Trong đó các yếu tố đưa vào mô hình đều có tác động thuận chiều đến sự hài lòng của khách hàng Nhân tố mức độ tin cậy có tác động mạnh nhất và nhân tố mức độ đồng cảm có tác động thấp nhất đến sự hài lòng
Trang 145
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Những vấn đề cơ bản về quán ăn lề đường
2.1.1.1 Khái niệm và phân loại các quán ăn lề đường
a) Khái niệm
Theo Wikipedia, thức ăn đường phố hay thức ăn vỉa hè, thức ăn lề đường
là các loại thức ăn, đồ uống đã chế biến sẵn hay sẵn sàng chế biến và phục vụ tại chỗ theo yêu cầu của khách hàng, được bày bán trên vỉa hè, lề đường ở các đường phố, khu phố đông người hoặc những nơi công cộng khác, chẳng hạn như siêu thị, công viên, khu du lịch, điểm giải trí, khu phố ăn uống ngoài trời Thông thường thức ăn đường phố được bày bán trên các tiệm ăn di động, quán
ăn tạm thời hay là từ một gian hàng di động cho đến các loại xe đẩy
Theo khái niệm của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), thức ăn đường phố là những đồ ăn, thức uống được làm sẵn hoặc chế biến, nấu nướng tại chỗ, có thể
ăn ngay và được bày bán trên đường phố, những nơi công cộng
Theo thông tư số 30 của Bộ Y tế, kinh doanh thức ăn đường phố l à loại hình kinh doanh thực phẩm, thức ăn, đồ uống để ăn ngay, uống ngay đươ ̣c bán rong trên đường phố hay bày bán t ại những địa điểm công cộng (bến xe, bến tàu, nhà ga, khu du lịch, khu lễ hội) hoặc ở những nơi tương tự
Quán ăn lề đường (hay quán ăn vỉa hè) là nơi chế biến, cung cấp và phục
vụ các loại thức ăn lề đường, thường là các gian hàng di động hoặc quán ăn tạm thời trên các vỉa hè, lề đường hay công viên
b) Phân loại
Theo Ths Đào Mỹ Thanh, “Vệ sinh an toàn thực phẩm cho người tiêu
dùng”, trung tâm Y tế Dự phòng Thành phố Hồ Chí Minh Quán ăn lề đường
có thể được phân loại như sau:
Phân loại theo bản chất thức ăn:
- Bột, ngũ cốc các loại
- Thịt, cá, tôm cua
- Thực phẩm khô, ướp lạnh, đông lạnh
Trang 156
Phân loại theo kiểu chế biến thức ăn:
- Thức ăn chế biến sẵn
- Thức ăn nấu tại chỗ
- Thức ăn chế biến, nấu từ nơi khác đem đến bán
Phân loại theo điều kiện bán hàng:
- Những người thường đi bộ, đi xe đạp hoặc đẩy xe di chuyển trên đường phố để bán rong
- Những người có một chỗ đứng bán cố định trên vỉa hè, lề đường
- Những người sở hữu một quán nhỏ, cửa hàng và bán sản phẩm của họ trên vỉa hè
Phân loại theo thời gian bán hàng:
- Thức ăn đường phố bán cả ngày: Bánh, kẹo, nước giải khát
- Thức ăn đường phố bán hàng vào thời điểm nhất định trong ngày: phở, miến, tiết canh, cháo, ốc luộc
2.1.1.2 Đặc trưng cơ bản của các quán ăn lề đường
Đặc điểm cơ bản để các quán ăn được gọi là quán ăn lề đường vì nó được định vị trên các vỉa hè, lề đường Các quán ăn lề đường, các quán hàng rong không phải đăng kí giấy phép kinh doanh nhưng vẫn phải chấp hành các quy định về việc quản lý hoạt động kinh doanh khách sạn, nhà trọ, nhà hàng, cửa hàng ăn uống trên địa bàn thành phố
Hầu hết các quán ăn lề đường thường phục vụ các món ăn tại chỗ và là thức ăn nhanh Thức ăn đường phố chi phí ít hơn một bữa ăn trong nhà hàng
và nhanh chóng, tiện lợi, giá cả phải chăng nên sức cạnh tranh cao và được tiêu thụ với số lượng lớn Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) thì khoảng 2,5 tỷ người ăn thức ăn đường phố mỗi ngày Thức ăn đường phố có mối liên hệ mật thiết Take-out, đồ ăn vặt (hàng rong, quà vặt), đồ ăn nhẹ (snack), thức ăn nhanh, nó được phân biệt bởi hương vị địa phương và được mua trên đường phố, mà không cần nhập bất kỳ trụ sở hay công trình xây dựng gì
Từ lâu, thức ăn đường phố là một nhu cầu của người dân đô thị, việc phát triển các loại hình thức ăn đường phố là một nhu cầu tất yếu của xã hội, đem lại nhiều thuận tiện cho người tiêu dùng Việc tận dụng vỉa hè làm không gian
Trang 167
phục vụ ẩm thực ngày nay đã quá quen thuộc với các thành phố lớn, đặc biệt
là các thành phố lấy ngành “công nghiệp không khói” làm mũi nhọn Để có một chiến lược phục vụ dài hơi, không gian mở này đang nâng cấp và bổ trợ vào thực đơn nhiều món ăn theo xu hướng mới Nhanh, rẻ, hợp vệ sinh, giúp các bạn trẻ khẳng định đẳng cấp, sự sành điệu trong ẩm thực… là những tiêu chuẩn mà các gian hàng này hướng đến Đôi khi thức ăn đường phố còn là nét văn hóa ẩm thực đặc trưng của mỗi vùng miền, mỗi quốc gia
2.1.1.3 Vai trò của quán ăn lề đường
Quán ăn lề đường cung cấp một nguồn thức ăn thường giàu chất dinh dưỡng với giá cả phải chăng và mang hương vị đặc biệt (do kinh nghiệm riêng của người chế biến) Thức ăn đường phố và các hàng rong là nét văn hoá riêng của cộng đồng người Việt Nó phản ánh lối sống và sự phát triển xã hội ở Việt Namviệc sử dụng thức ăn đường phố là thói quen của nhiều người
Thức ăn đường phố thường đa dạng và tiện lợi cho những người có thu nhập thấp và eo hẹp thời gian, đồng thời cũng hấp dẫn cả khách du lịch và những người có kinh tế khá Thuận tiện cho người tiêu dùng, nguồn thức ăn đa dạng, hấp dẫn, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thức ăn cho xã hội Đặc biệt là ở các đô thị đông dân và giá cả sinh hoạt tăng cao khiến nhiều người dân chấp nhận sử dụng các loại thức ăn đường phố Theo một số liệu điều tra của Trung tâm dinh dưỡng Thành phố Hồ Chí Minh thì tại đây có tới 95,5% người dân đang sử dụng thức ăn đường phố, trong đó 51% dùng làm bữa ăn hàng ngày, 82% dùng làm bữa ăn sáng
Tạo được nguồn thu nhập đáng kể cho nhiều người, đặc biệt là đối tượng phụ nữ, nguồn lao động chính tham gia vào dịch vụ ăn uống đường phố (nhất
là phụ nữ, những người di cư từ nông thôn ra đô thị) Loại hình này đã mang đến cơ hội làm ăn, tạo bước khởi đầu cho những ai có vốn kinh doanh ít (đầu
tư ngành này cần ít vốn và không cần nhiều cơ sở trang thiết bị)
2.1.1.4 Những quy định của bộ y tế đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ
ăn uống, kinh doanh thức ăn đường phố
a) Điều kiện bảo đảm an toàn thực phấm
Địa điểm, trang thiết bị, dụng cụ
Bố trí kinh doanh ở khu vực công cộng (bến xe, bến tàu, nhà ga, khu du lịch, khu lễ hội, khu triển lãm), hè đường phố; nơi bày bán thực phẩm cách
Trang 17Nước để chế biến đơn giản đối với thức ăn ngay, pha chế đồ uống phải đủ số lươ ̣ng và phù hợp với Quy chu ẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) số 01:2009/BYT; nước để sơ chế nguyên liê ̣u, vệ sinh dụng cụ, rửa tay phải đủ và phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) số 02:2009/BYT; có đủ nước đá để pha chế đồ uống được sản xuất từ nguồn nước phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) số 01:2009/BYT
Có đủ trang thiết b ị, dụng cụ để chế biến, bảo quản, bày bán riêng biệt thực phẩm sống và th ức ăn ngay ; có đủ d ụng cụ ăn uống, bao gói chứa đựng thức ăn bảo đảm vê ̣ sinh ; có đủ trang bi ̣ che đ ậy, bảo quản thức ăn trong quá trình vận chuyển, kinh doanh và bảo đảm luôn sạch sẽ; bàn ghế, giá tủ để bày bán thức ăn, đồ uống phải cách mặt đất ít nhất 60 cm
Thức ăn ngay , đồ uống ph ải để trong tủ kính hoặc thiết bị bảo quản hợp
vệ sinh và phải ch ống được bụi bẩn, mưa, nắng, ruồi nhặng và côn trùng xâm nhâ ̣p
Người bán hàng phải mang trang phu ̣c sa ̣ch sẽ và go ̣n gàng ; khi tiếp xúc trực tiếp với thức ăn, đồ uống ăn ngay phải dùng găng tay sử dụng 1 lần
Nguyên liệu thực phẩm, phụ gia thực phẩm, thực phẩm bao gói, chế biến sẵn bảo đảm có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng và bảo đảm an toàn thực phẩm theo quy định
Trang bị đầy đủ, sử dụng thường xuyên thù ng rác có nắp, túi đựng để thu gom, chứa đựng rác thải và phải chuyển đến địa điểm thu gom rác thải công cộng trong ngày; nước thải phải đươ ̣c thu gom và b ảo đảm không gây ô nhiễm
môi trường nơi kinh doanh
Đối với người kinh doanh thức ăn đường phố
Người kinh doanh thức ăn đường phố phải tập huấn và đư ợc cấp Giấy xác nhận tập huấn kiến thức an toàn thực phẩm theo quy định
Người kinh doanh thức ăn đường phố phải được khám sức khoẻ và cấp Giấy xác nhận đủ điều kiện sức khoẻ theo quy định Việc khám sức khoẻ và
Trang 18b) Kiểm tra các cơ sở kinh doanh thức ăn đường phố
Kiểm tra đi ̣nh kỳ
Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cơ quan có thẩm quyền
có trách nhiệm kiểm tra các cơ sở kinh doanh di ̣ch vu ̣ ăn uống và kinh doanh thức ăn đường phố trên đi ̣a bàn quản lý Tần suất kiểm tra:
- Không quá 02 lần/năm đối với các cơ sở kinh doanh dịch vu ̣ ăn uống do đơn vi ̣ chức năng được Ủy ban nhân dân tỉnh /thành phố trực thuộc trung ương
ủy quyền cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiê ̣n an toàn thực phẩm
- Không quá 03 lần/năm đối với các cơ sở kinh doanh dịch vu ̣ ăn uống do đơn vi ̣ chức năng được Ủ y ban nhân dân huyện/quâ ̣n ủy quyền c ấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiê ̣n an toàn thực phẩm
- Không quá 04 lần/năm đối với đối tượng kinh doanh thức ăn đường phố
do Uỷ ban nhân dân cấp xã/phườ ng quản lý hoă ̣c cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm
Kiểm tra đô ̣t xuất
Cơ quan nhà nước tiến hành kiểm tra đột xuất nếu xảy ra vi phạm về an toàn thực phẩm, sự cố an toàn thực phẩm liên quan, các đợt kiểm tra cao điểm
theo chỉ đạo của cơ quan cấp trên
2.1.2 Những vấn đề cơ bản về khu phố ăn uống
2.1.2.1 Khái niệm về khu phố ăn uống
Theo Wikipedia, khu phố ăn uống hay khu phố ẩm thực, đường phố ăn uống là một đường phố mà được đặc biệt dành riêng để phục vụ cho hoạt động
ăn uống Đường phố này được đặc trưng bằng việc tập trung đông đúc các nhà hàng, quán ăn, quầy bar, các tiệm ăn, các cửa hàng ăn nhanh, quầy ăn lưu động, quầy hàng thực phẩm, cửa hàng thực phẩm cho đến các quán cà phê Hoạt động chủ yếu của đường phố này là phục vụ ăn uống Chính vì vậy, khi
du khách đến đây họ sẽ được lựa chọn và thưởng thức nhiều món ăn đang
Trang 1910
dạng, phong phú và giá cả bình dân Trong khu phố ăn uống có thể bày bán các loại thức ăn đường phố từ các quầy hàng rong, thức ăn nhanh từ các nhà hàng
2.1.2.2 Đặc điểm của khu ăn uống
Tại các khu phố ẩm thực, bạn có thể đắm mình trong một không gian lễ hội giữa những dãy cửa hàng bảo tồn độc đáo đưa đến một không gian tươi mới của cuộc sống với nhiều màu sắc rực rỡ Các bữa ăn ngoài trời rất được
ưa chuộng ở nơi đây, và đây cũng là nơi gặp gỡ các nhóm hay lui tới địa điểm
ăn uống độc đáo này
Đôi khi chỉ là những con phố ngắn và hẹp nhưng suốt dọc con phố đâu cũng là các quán ăn với đủ loại thức ăn đường phố Chỉ mấy cái ghế nhựa với một khay đồ ăn là đã thành bàn tiệc để các bạn trẻ buôn dưa lê cả buổi
Các khu phố ăn uống thường tập trung rất nhiều quán ăn đôi khi chỉ là các quán cóc với những chiếc bàn bày trên vỉa hè Thông thường mỗi khu phố
sẽ bán một loại thức ăn đặc trưng và trở thành điểm đặc biệt cho từng khu phố Những khu phố ăn uống thường phục vụ rất nhiều đối tượng, từ sinh viên, học sinh, những người bình dân có thu thập thấp cho đến những người có thu nhập cao
2.1.2.3 Vai trò của khu phố ăn uống
Khu phố ăn uống thường tập trung và thu hút được nhiều du khách và cả người dân địa phương, vì các khu phố ăn uống thường mang đậm nét văn hóa
ẩm thực của mỗi địa phương hay vùng lãnh thổ Nhiều thành phố đã tận dụng nét văn hóa độc đáo trong ẩm thực để tạo thành điểm nhấn trong du lịch địa phương Bên cạnh đó, việc tập trung các quán ăn lại trên một khu phố tạo ra sự thuận lợi cho người tiêu dùng, giúp họ có nhiều lựa chọn hơn trong việc ăn uống Hay những lúc cần nơi tụ tập bạn bè thì khu phố ăn uống cũng trở thành một trong những lựa chọn vì không gian thoáng mát, thoải mái lại vừa có thể thưởng thức những món ăn ngon
Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, tình trạng vệ sinh an toàn thực phẩm đang rất được chú trọng, các quán ăn lề đường rải rác trên vỉa hè hay các gánh hàng rong rất khó có thể đáp ứng được vấn đề vệ sinh trong thực phẩm, cũng gây rất nhiều khó khăn trong việc quản lý Vì thế, việc tập trung lại thành khu phố ăn uống, vừa giúp cơ quan chức năng dễ dàng hơn trong việc quản lý, còn giúp cho những người kinh doanh không phải lo sợ vì chuyện bị rượt đuổi,
Trang 20Mô hình mức độ quan trọng – mức độ thể hiện (IPA –
Importance-Performance Analysis) được đề xuất bởi Martilla và Jame năm 1977 IPA là
mô hình đo lường chất lượng dịch vụ dựa vào sự khác biệt giữa ý kiến khách hàng về mức độ quan trọng của các chỉ tiêu và mức độ thực hiện các chỉ tiêu của nhà cung ứng dịch vụ (I-P gaps) Mô hình này phân loại những thuộc tính
đo lường chất lượng dịch vụ, cung cấp cho nhà cung ứng dịch vụ những thông tin bổ ích về điểm mạnh và điểm yếu của những dịch vụ mà mình cung cấp cho khách hàng Từ đó, nhà quản trị cung ứng dịch vụ sẽ có những quyết định chiến lược đúng đắn để nâng cao chất lượng dịch vụ Với nhiều ưu điểm, mô hình IPA được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng để đánh giá chất lượng dịch vụ
du lịch và để đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch một cách hiệu quả (Song & Wu, 2006; Chu & Choi, 2000; Zhang & Chow, 2004) Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ với mức độ thể hiện (P) và mức độ quan trọng (I) được thể hiện như sau:
Hiệu số (P-I) Chất lượng dịch vụ
P - I ≥ 0 Tốt
P -I < 0 Không tốt
Các yếu tố để đo lường chất lượng dịch vụ của các quán ăn lề đường:
Dựa vào tài liệu lược khảo về chất lượng dịch vụ thức ăn đường phố kết hợp với việc phỏng vấn sâu một số chuyên gia để thêm vào và loại bỏ bớt các biến không phù hợp với điều kiện thực tế của đề tài, tác giả đề ra bộ tiêu chí như sau:
- Phương tiện hữu hình:
1 Thức ăn ngon, hợp vệ sinh
2 Thực đơn đa dạng, phong phú
3 Thường xuyên có món mới
4 Quán ăn hợp vệ sinh
5 Mức độ nổi tiếng của quán ăn
Trang 2112
6 Quán ăn có vị trí dễ tìm
7 Có chỗ để xe, giữ xe
- Năng lực phục vụ và mức độ đáp ứng
1 Phục vụ ân cần, chu đáo
2 Các yêu cầu của khách được thực hiện nhanh chóng
- Sự cảm thông
1 Người bán, nhân viên vui vẻ, hòa nhã
2 Luôn quan tâm đến khách hàng
3 Ưu tiên cho khách hàng quen
Theo Philip Kotler, nhu cầu được chia làm 3 loại:
Nhu cầu cấp thiết (Needs): Thỏa mãn nhu cầu cơ bản để tồn tại của con người như ăn, uống, ngủ, nghỉ, mặc, nơi ở,… nhu cầu cấp thiết mang những đặc điểm sau:
Tồn tại do bản năng sinh học của con người
Có tính quy luật gắn liền với cuộc sống của con người
Cũng mang tính phát triển cùng xu hướng phát triển của xã hội
Mong muốn (Wants): Là sự ao ước có được những thứ cụ thể thỏa mãn những nhu cầu xa hơn mang tính cá nhân
Yêu cầu (Demands): Là mong muốn có được những sản phẩm cụ thể
được hậu thuẫn của khả năng và thái độ sẵn lòng mua
Theo một định nghĩa khác, nhu cầu cũng được chia làm 3 loại:
Trang 2213
Nhu cầu tự nhiên: là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được, nhu cầu tự nhiên được hình thành là do trạng thái ý thức của con người về việc thấy thiếu một cái gì đó để phục vụ cho tiêu dùng Trạng thái ý thức thiếu hụt đó phát sinh có thể do sự đòi hỏi của sinh lý, môi trường giao tiếp xã hội hoặc do cá nhân con người về vốn tri thức và tự thể hiện
Mong muốn (hay ước muốn) là nhu cầu tự nhiên có dạng đặc thù, đòi hỏi
được đáp lại bằng một hình thức đặc thù phù hợp với trình độ văn hóa và tính cách cá nhân của con người
Nhu cầu có khả năng thanh toán là nhu cầu tự nhiên và mong muốn phù hợp với khả năng mua sắm
2.1.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tập trung quán ăn lề đường thành khu phố ăn uống
Hai định nghĩa trên tuy khác nhau nhưng đều thống nhất chia nhu cầu ra làm 3 loại: Nhu cầu cấp thiết (Needs), Mong muốn (Wants) và Yêu cầu (Demands) Do tính chất đề tài mới nên tác giả sẽ sử dụng các khái niệm này
để làm rõ vấn đề nghiên cứu và đề ra bộ tiêu chí các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tập trung các quán ăn lề đường thành khu phố ăn uống của người dân thành phố Cần Thơ
1 Địa điểm thuận tiện, dễ tìm kiếm
2 Đặc trưng của từng gian hàng dễ dàng nhận biết
3 Có bãi giữ xe chung
4 Đảm bảo an ninh, trật tự
5 Không gian rộng rãi, sạch sẽ, thoải mái
6 Có lối đi vào, đi ra rộng rãi
7 Giá cả phù hợp
8 Có nhiều món ăn với các mức giá khác nhau
9 Tập trung nhiều món ăn đặc sản đa dạng, phong phú
10 Thức ăn đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm
11 Các gian hàng không lôi kéo khách
12 Gần khu vui chơi giải trí
Trang 2314
13 Thái độ phục vụ của nhân viên
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu thứ cấp được thu thập từ số liệu của các Sở ngành, các bài báo trên tạp chí khoa học, những nghiên cứu trước trong lĩnh vực thức ăn đường phố, quán ăn vỉa hè và các bài báo có liên quan trên internet
Số liệu sơ cấp trong đề tài được thu thập thông qua bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp những người dân đang sinh sống trên địa bàn thành phố Cần Thơ
a) Phương pháp chọn mẫu
Đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất dựa trên mục đích chủ định, có sự ưu tiên theo mục đích nghiên cứu và dễ dàng thu nhập số liệu Với phương pháp chọn mẫu phi xác suất, tác giả sử dụng hình thức chọn mẫu thuận tiện để thuận lợi trong quá trình thu mẫu, tiết kiệm được thời gian
b) Xác định cỡ mẫu
Hiện nay, theo nhiều nhà nghiên cứu thì kích thước mẫu càng lớn càng tốt (Nguyễn Đình Thọ 2011, 231) Hair & ctg (2006) cho rằng để sử dụng phân tích nhân tố (EFA), kích thước mẫu tối thiểu phải là 50, tốt hơn là 100 và
tỉ lệ quan sát/biến đó lường là 5:1, nghĩa là 1 biến đo lường cần tối thiểu 5 quan sát Cụ thể trong đề tài sử dụng 13 biến đưa vào phân tích nhân tố Do
đó, số mẫu tối thiểu cần thiết là 13 x 5 = 65 mẫu
Vậy cỡ mẫu lớn hơn 65 thì đạt yêu cầu của mô hình nghiên cứu, nên tác giả quyết định chọn cỡ mẫu là 110 để mang tính đại diện cao
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu
Mục tiêu 1:
Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để khái quát thực trạng tình hình kinh doanh của các quán ăn lề đường trên địa bàn thành phố Cần Thơ
Thống kê mô tả
Thống kê mô tả là một trong hai chức năng chính của thống kê (thống kê
mô tả và thống kê ứng dụng) Thống kê mô tả là tập hợp tất cả các phương pháp đo lường, mô tả và trình bày số liệu bằng các phép tính và các chỉ số thống kê thông thường như số trung bình, số trung vị, phương sai, độ lệch chuẩn, mode, cho các biến số liên tục và các tỷ số cho các biến số không liên
Trang 24- Mode: là giá trị có tần số xuất hiện cao nhất trong tổng số hay trong một dãy số phân phối
- Phương sai: là trung bình giữa bình phương các độ lệch giữa các biến
và trung bình của các biến đó
- Độ lệch chuẩn: là căn bậc hai của phương sai
Sử dụng phương pháp tính điểm trung bình để đánh giá mức độ quan trọng và mức độ thể hiện của các yếu tố chất lượng dịch vụ của các quán ăn lề đường
Sử dụng phương pháp kiểm định so sánh cặp để xem sự chênh lệch giữa giá trị mức độ quan trọng và mức độ đáp ứng dịch vụ của các quán ăn lề đường
Mục tiêu 2:
Sử dụng phương pháp thống kê mô tả và tính điểm trung bình để xác định mức độ quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu thành lập khu phố ăn uống của người dân thành phố Cần Thơ
Sử dụng phương pháp kiểm định Cronbach Alpha để kiểm tra độ tin cậy của các biến đưa vào mô hình
Kiếm định độ tin cậy của thang đo (Cronbach’s Alpha)
Được sử dụng để loại bỏ biến các biến không phù hợp trước khi tiến hành phân tích nhân tố Kiểm định độ tin cậy của các biến trong thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu tập trung quán ăn lề đường thành khu phố ăn uống của người dân thành phố Cần Thơ dựa vào hệ số kiểm định Cronbach’s Alpha của các thành phần thang đo và hệ số Cronbach’s Alpha của mỗi biến
đo lường Các biến có hệ số tương quan tổng – biến (Corrected item correlation) nhỏ hơn 0,3 sẽ bị loại Một thang đo có độ tin cậy tốt khi nó biến thiên trong khoảng 0,7 đến 0,8 Nếu Cronbach’s Alpha lớn hơn hoặc bằng 0,6
Trang 2516
là thang đo có thể chấp nhận được về mặt tin cậy (Nunnally & Bernstein 1994)
Phân tích nhân tố khám phá để gom nhóm các biến đưa vào mô hình
Phân tích nhân tố khám phá EFA
Được sử dụng để rút gọn và tóm tắt dữ liệu và xác định các nhóm tiêu chí ảnh hưởng đến nhu cầu thành lập khu phố ăn uống của người dân thành phố Cần Thơ Phương pháp phân tích EFA thuộc nhóm phân tích đa biến phụ thuộc lẫn nhau, nghĩa là không có biến phụ thuộc và biến độc lập mà nó dựa vào mối tương quan giữa các biến với nhau Phân tích EFA dùng để rút gọn một tập k biến quan sát thành một tập f (f<k) các nhân tố ý nghĩa hơn Cơ sở của rút gọn này dựa vào mối quan hệ tuyến tính của các nhân tố với các biến quan sát
Nếu các biến được chuẩn hóa thì mô hình nhân tố được thể hiện bằng phương trình:
Xi = AiF1 + AiF2 + … + AimFim + ViUi
Trong đó:
Xi: biến thứ I được chuẩn hóa
Aij: hệ số hồi quy bội chuẩn hóa của nhân tố j đối với biến i
F: các nhân tố chung
Vi: hệ số hồi quy chuẩn hóa của các nhân tố đặc trưng i đối với biến i
Ui: nhân tố đặc trưng của biến i
M: số nhân tố chung
Các nhân tố đặc trưng có tương quan với nhau và với các nhân tố chung Bản thân các nhân tố chung cũng có thể được diễn tả những kết hợp tuyến tính của các biến quan sát:
Fi = wi1x1 + wi2x2 + … + wikxk
Trong đó:
Fi: ước lượng nhân tố thứ i
Wi: trọng số hay hệ số điểm nhân tố
K: số biến
Trang 2617
Sử dụng phương pháp kiểm định T-test để xem xét sự khác biệt có ý nghĩa về trị trung bình của các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu sau khi đã qua phân tích nhân tố với nhu cầu
Kiểm định sự khác biệt về trị trung bình của hai tổng thể độc lập –
Independent Samples T - test
Để kiểm định sự khác biệt về trị trung bình của hai tổng thể độc lập, ta thực hiện kiểm định Independent Samples T - test
Giả thuyết H0: Giá trị trung bình của 2 tổng thể là bằng nhau
Trong kiểm định này, ta dựa vào kiểm định sự bằng nhau của hai phương sai tổng thể (kiểm định Levane) Phương sai diễn tả mức độ đồng đều hay không đồng đều của dữ liệu quan sát Cụ thể, nếu giá trị sig trong kiểm định Levene nhỏ hơn 0,05 (mức ý nghĩa) thì phương sai hai tổng thể khác nhau, ta
sử dụng kết quả kiểm định t ở dòng Equal variances not assumed Trường hợp ngược lại (sig lớn hơn 0,05) thì phương sai hai tổng thể không khác nhau, ta
sử dụng kết quả kiểm định t ở dòng Equal variances assumed [12, tr 138] Kết quả kiểm định t:
Nếu Sig ≥ (mức ý nghĩa), kết luận là không có sự khác biệt có nghĩa về trung bình của 2 tổng thể
Nếu Sig < (mức ý nghĩa), kết luận là có sự khác biệt có nghĩa về trung bình của 2 tổng thể
Mục tiêu 3:
Dựa trên cái nhìn tổng quan và phân tích thực trạng các quán ăn lề đường kết hợp với việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu của người dân thành phố Cần Thơ, từ đó đề ra giải pháp giúp các quán ăn lề đường đáp ứng tốt hơn nhu cầu ăn uống của người dân thành phố Cần Thơ
Trang 2718
CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ CẦN THƠ VÀ CÁC QUÁN ĂN LỀ ĐƯỜNG TRÊN ĐI ̣A BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
3.1 TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
3.1.1 Vị trí địa lý
Thành phố Cần Thơ là 1 trong 5 thành phố trực thuộc Trung ương của Việt Nam Nằm ở vùng hạ lưu của Sông Mê Kông và nằm giữa đồng bằng sông Cửu Long về phía Tây Sông Hậu, trên trục giao thông thuỷ - bộ quan trọng nối Cần Thơ với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ và các vùng của cả nước, trải dài trên 55km dọc bờ Tây sông Hậu, tổng diện tích
tự nhiên 1.401,61 km2 , chiếm 3,49% diện tích toàn vùng Phía Bắc giáp tỉnh
An Giang; phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp và tỉnh Vĩnh Long; phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang; phía Nam giáp tỉnh Hậu Giang
Thành phố Cần Thơ có tọa độ địa lý 105013’38” - 1050
50’35” kinh độ Đông và 90
55’08” - 100
19’38” vĩ độ Bắc Thành phố Cần Thơ cách thành phố
Hồ Chí Minh 169 km, cách thành phố Cà Mau 178 km, cách thành phố Rạch Giá 128 km, cách biển khoảng 100 km theo đường sông Hậu Với vị trí này, Cần Thơ nối liền các trung tâm kinh tế của vùng, thuận lợi để hình thành các mối liên hệ, liên vùng với quốc tế Thành phố đã và đang củng cố hệ thống cảng biển, sân bay để tạo đà phát triển Cầu Cần Thơ được xây dựng, nối liền các tỉnh miền Tây trên trục quốc lộ 1A
Ngày 19 tháng 4 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 492/QĐ-TTg thành lập Vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long gồm 4 tỉnh, thành phố trực thuôc Trung ương là: Thành phố Cần Thơ, tỉnh An Giang, tỉnh Kiên Giang và tỉnh Cà Mau nhằm phát huy tiềm năng, vị trí địa lý
và các lợi thế so sánh của vùng và từng bước phát triển Vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long thành một trong những vùng phát triển lớn về sản xuất lúa gạo, nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản, có đóng góp lớn vào xuất khẩu nông thủy sản của cả nước Trong đó, thành phố Cần Thơ là một cực phát triển, đóng vai trò động lực thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long
Trang 2819
3.1.2 Khí hậu
Thành phố Cần Thơ nằm trong vùng khí hậu của đồng bằng sông Cửu Long với các đặc điểm chung: nền nhiệt dồi dào, biên độ nhiệt ngày - đêm nhỏ; các chỉ tiêu khí hậu (ánh sáng, lượng mưa, gió, bốc hơi, ẩm độ không khí ) phân hóa thành hai mùa tương phản mùa mưa và mùa khô
Khí hậu nhiệt đới gió mùa của Cần Thơ tương đối ôn hoà Nhiệt độ trung bình khoảng 26 - 270C và không chênh lệch nhiều giữa các tháng trong năm, cao nhất không vượt quá 280C, thấp nhất không dưới 170C, mỗi năm có khoảng 2.500 giờ nắng với số giờ nắng bình quân 7h/ngày, độ ẩm trung bình 82% và dao động theo mùa
Khí hậu Cần Thơ khá ổn định, ít có thiên tai, nhưng sự phân hoá rõ rệt của khí hậu thường xuyên gây ra khó khăn cho sản xuất và đời sống Mùa khô lượng mưa quá ít và thời gian kéo dài dẫn đến tình trạng thiếu nước nghiêm trọng cho sản xuất và đời sống; mưa ít, độ ẩm không khí thấp cũng là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng dậy phèn trong đất Mùa mưa cung cấp nguồn nước ngọt dồi dào cho sản xuất và đời sống, góp phần cải tạo đất phèn mặn; tuy nhiên mùa mưa lại trùng với mùa lũ trên sông Hậu nên dễ gây ngập úng ở các vùng trũng như: Thốt Nốt, Vĩnh Thạnh Ngoài ra, những hiện tượng thời tiết đặc biệt như sương mù, giông, mưa đá, vòi rồng vẫn có thể xảy ra và gây ra những thiệt hại nhất định
3.1.3 Đặc điểm địa hình
Địa mạo, địa hình, địa chất của thành phố bao gồm 3 dạng: đê tự nhiên ven sông Hậu, đồng lũ nữa mở và đồng bằng châu thổ Cao trình phổ biến từ +0,8-1,0m, thấp dần từ Đông Bắc sang Tây Nam Địa bàn được hình thành chủ yếu từ quá trình bồi lắng trầm tích biển và phù sa của sông Cửu Long
Thành phố Cần Thơ nằm toàn bộ trên đất có nguồn gốc phù sa sông Mê Kông bồi lắng hàng thiên niên kỷ nay và hiện vẫn còn tiếp tục được bồi lắng
thường xuyên qua nguồn nước có phù sa của dòng sông Hậu
Địa hình nhìn chung tương đối bằng phẳng, phù hợp cho sản xuất nông,
ngư nghiệp Cao độ trung bình khoảng 1,00 – 2,00m dốc từ đất giồng ven sông Hậu, sông Cần Thơ thấp dần về phía nội đồng (từ Đông Bắc sang Tây Nam) Do nằm cạnh sông lớn, nên Cần Thơ có mạng lưới sông, kênh, rạch khá dày Bên cạnh đó, thành phố còn có các cồn và cù lao trên sông Hậu như Cồn Ấu, Cồn Khương, Cồn Sơn, Cù lao Tân Lập
Trang 2920
Địa mạo bao gồm 3 dạng chính: Ven sông Hậu hình thành dải đất cao
(đê tự nhiên) và các cù lao ven sông Hậu Vùng tứ giác Long Xuyên, thấp trũng, chịu ảnh hưởng lũ trực tiếp hàng năm Đồng bằng châu thổ chịu ảnh hưởng thủy triều cùng lũ cuối vụ
Địa chất: địa bàn được hình thành chủ yếu qua quá trình bồi lắng
trầm tích biển và phù sa của sông Cửu Long, trên bề mặt ở độ sâu 50m có hai loại trầm tích: Holocen (phù sa mới) và Pleistocene (phù sa cổ)
3.1.4 Dân số va ̀ mâ ̣t đô ̣ dân số
Tổng dân số của thành phố Cần Thơ tính đến năm 2011 là 1.209.192 người, mật độ dân số là 863 người/km2 Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 791.800 người, dân số sống tại nông thôn đạt 408.500 người Dân số nam đạt 600.100 người, trong khi đó nữ đạt 600.200 người Tỷ lệ tăng tự nhiên dân
số phân theo địa phương tăng 8,2 ‰
Tính đến năm 2011, tổng lao động của thành phố Cần Thơ là 815.988 người, chiếm 67,48% tổng dân số của thành phố, trong đó lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là 595.006 người chiếm 72,92% tổng lao động và lao động dự trữ là 220.982 người chiếm 27,08% trong tổng lao động của thành phố
Trang 30Quận
Cái Răng
Quận
Ô Môn
Quận
Thốt Nốt
Huyện
Phong Điền
Huyện
Cờ Đỏ
Huyện
Thới Lai
Huyện
Vĩnh Thạnh
Diện tích
(km²) 29,2 70,59 62,53 125,41 117,87 119,48 310,48 255,66 297,59 Dân số
2009(người) 243.794 133.565 86.278 129.683 158.255 99.328 124.069 120.964 112.529 Mật độ dân
7 phường
7 phường
9 phường
1 thị trấn và
6 xã
1 thị trấn và
9 xã
1 thị trấn và
12 xã
2 thị trấn và
9 xã
Năm thành
lập - - - - - - - - -
Nguồn: Website Thành phố Cần Thơ
3.2 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CÁC QUÁN ĂN LỀ ĐƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
3.2.1 Giới thiệu các quán ăn lề đường trên địa bàn thành phố Cần Thơ
Cần Thơ là trung tâm của miền sông nước Tây Nam bộ trù phú với nhiều loại cây trái, rau quả, cá thịt, và là nơi quy tụ những món ăn đặc sắc của vùng
Do đó, nét đặc trưng của ẩm thực Cần Thơ là món ăn luôn được làm từ nguyên liệu đặc sản của địa phương như gạo, nếp và đầy ắp các loại rau tươi ăn sống kèm theo
Đi dọc các tuyến đường của Cần Thơ, ta dễ dàng bắt gặp rất nhiều điểm kinh doanh thức ăn đường phố với nhiều món ăn phong phú Có rất nhiều địa điểm bán thức ăn đường phố được khách hàng ghi nhớ và lan truyền nhanh chóng Những địa điểm đó thường có lượng khách hàng rất đông mỗi ngày, là điểm hẹn dễ ghi nhớ, thuận tiện trong các buổi họp mặt, đồng thời là địa điểm bắt đầu tập trung đầu tiên cho một buổi đi chơi
Thức ăn đường phố tại Cần Thơ nổi tiếng với các món ăn vặt được nhiều bạn trẻ yêu thích như: gỏi khô bò tại bảo tàng thành phố Cần Thơ, cá viên chiên dọc theo đường ra công viên sông Hậu, trứng cút chiên trên đường Lý
Tự Trọng hay con đường với tên gọi thân thuộc là đường Ba Khía với các
Trang 3122
quán ăn nổi tiếng về nghêu, sò, ốc Gần đây, Cần Thơ còn du nhập thêm các món ăn vặt nổi tiếng từ các địa phương khác như: trà chanh chém gió, bánh tráng nướng, chè khúc bạch, hồ lô nướng… Ngập tràn trên các trục lộ chính ở quận Ninh Kiều vào buổi xế chiều và buổi tối là những quán cóc trên vỉa hè với các tiếng cười nói rôm rả của các bạn trẻ, tạo nên nét vui tươi nhộn nhịp cho thành phố Cần Thơ về đêm
Trong thời gian vừa qua, thành phố Cần Thơ đã và đang thực hiện chủ đề
“Trật tự, kỷ cương đô thị”, tăng cường tuần tra kiểm soát, thực hiện nghiêm các biện pháp chế tài để khắc phục tình trạng lấn chiếm lòng lề đường, làm mất mỹ quan đô thị Tuy nhiên, việc chấp hành quy định chỉ mang tính chất đối phó và không thật sự nghiêm túc Song hành cùng những nét đẹp và lợi ích
từ việc kinh doanh thức ăn đường phố mang lại là những vấn đề tiêu cực đến
từ cả người bán lẫn người tiêu dùng
3.2.2 Những mặt tích cực và những mặt tiêu cực trong kinh doanh quán ăn lề đường
3.2.2.1 Những mặt tích cực
Quán ăn lề đường là một trong những nét văn hóa truyền thống của nhiều quốc gia Đây không chỉ là một hình như kinh doanh mang lại thu nhập cho nhiều gia đình với số vốn đầu tư ban đầu không nhiều, nhưng vẫn có thể kiếm được lợi nhuận dù số lượng quán ăn lề đường khá nhiều, tính cạnh tranh ngày càng cao nhưng với lượng khách hàng đông đảo và giá cả sản phẩm thấp thì những người kinh doanh quán ăn lề đường vẫn có thể thu hút được khách hàng Kinh doanh ẩm thực đường phố ngày càng phổ biến vì vừa được mọi người dễ dàng chấp nhận, không đòi hỏi trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ thuật, vừa cần số vốn đầu tư ít ỏi nên đây được xem là kế sinh nhai của nhiều người dân nông thôn di cư lên thành phố để tìm kiếm việc làm mưu sinh qua ngày Điều này mang ý nghĩa nhân văn rất cao, giúp các món ăn truyền thống được lưu truyền và quảng bá rộng rãi ra nhiều địa phương khác nhau, tạo nên nét văn hóa ẩm thực vô cùng phong phú cho nền ẩm thực Việt Nam, đồng thời giải quyết được việc làm cho nhiều lao động
Quán ăn lề đường đã mang lại những lợi ích thiết thực khó có thể thay đổi đối với người tiêu dùng Thức ăn đường phố được bán ở những nơi công cộng như gần trường học, cơ quan làm việc, bệnh viện… nên rất tiện ích cho những đối tượng là nhân viên văn phòng, học sinh, sinh viên hay thân nhân nuôi bệnh của những bệnh nhân ở bệnh viện Người tiêu dùng sẽ tiết kiệm
Trang 3223
được thời gian khi có nhu cầu ăn uống vì không cần phải mất thời gian gửi xe vào chợ, hay phải gửi vật dụng mang theo, chờ tính tiền, lấy hóa đơn như khi
đi vào siêu thị hay cửa hàng mà chỉ cần ghé ngay bên lề đường là có thể mua
về hay vào ăn ngay Hơn nữa, giá cả của quán ăn lề đường là tương đối thấp, phù hợp với những đối tượng có thu nhập trung bình và nhiều tầng lớp khác nhau
Ngoài những quán ăn cố định trên vỉa hè, không thể không nhắc đến những người bán hàng rong di chuyển từ nơi này đến nơi khác Họ tiếp cận với nhiều đối tượng khác nhau từ người sản xuất đến người tiêu dùng Theo
đó, khả năng giao tiếp, liên lạc hay trải nghiệm kiến thức xã hội của họ được nâng cao Quan trọng hơn, những người bán hàng rong luôn tạo được mối quan hệ thân thiện giữa người bán và người mua, điều mà ở các cửa hàng hay siêu thị không có được, khi mà người ta chỉ đối diện với hàng hóa và lạnh lùng
ra quầy tính tiền
3.2.2.2 Những mặt tiêu cực
Chúng ta không thể phủ nhận những mặt tích cực mà kinh doanh quán ăn
lề đường mang lại Tuy nhiên, nếu nhìn từ khía cạnh tiêu cực, hình thức kinh doanh quán ăn lề đường cũng đang làm nảy sinh nhiều vấn đề được cộng đồng quan tâm
Khi nhắc đến quán ăn lề đường, người ta thường nghĩ ngay đến tình hình kinh doanh lấn chiếm lòng lề đường, gây tình trạng ùn tắc giao thông Quán ăn
lề đường xuất hiện ở khắp mọi nơi, từ các tuyến đường lớn đến các con hẻm nhỏ, những người dân thiếu ý thức vô tư dừng lại mua bán, các quán ăn nhỏ thì trưng bày bàn ghế, tủ đồ ăn ra chiếm cả lòng đường Đặc biệt, những người bán hàng rong thường đến bán tại những nơi tập trung đông người vì dễ tìm kiếm khách hàng, nhưng lại gây cản trở lưu thông của các phương tiện qua lại Một khía cạnh khác mà chúng ta cần đề cập đến đó là bên cạnh việc đem lại nét văn hóa ẩm thực truyền thống thì không ít quán ăn lề đường ngày nay đang làm biến đổi những nét đẹp ấy Tình trạng vức rác bừa bãi của những người bán cũng như cả những người tiêu dùng kém ý thức làm mất đi hình ảnh đẹp của hoạt động kinh doanh thức ăn đường phố Rác thải từ hoạt động kinh doanh thức ăn đường phố tràn ngập trên đường phố, không chỉ vậy họ còn vứt rác, nước thải xuống sông làm ô nhiễm môi trường nặng nề
Tình trạng chèo kéo khách hàng tại các điểm du lịch, đặc biệt là du khách nước ngoài, những người bán tranh giành khách, đeo bám, đôi khi còn có tình
Trang 34THÀNH PHỐ CẦN THƠ
4.1 MÔ TẢ CHUNG VỀ MẪU ĐIỀU TRA
Qua phỏng vấn trực tiếp 110 người dân tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ, số mẫu thu về là 100%, không có mẫu nào bị loại Để có cái nhìn tổng quát về đối tượng nghiên cứu, tác giả mô tả khái quát thông tin của đối tượng nghiên cứu thông qua: giới tính, nghề nghiệp, độ tuổi, thu nhập và trình
độ học vấn
4.1.1 Giới tính
Qua kết quả điều tra cho thấy, trong 110 đáp viên được phỏng vấn, tỷ lệ nam chiếm 50,9% và nữ chiếm 49,1% Tỷ lệ giữa nam và nữ không có sự chênh lệch do tác giả tiến hành thu mẫu thuận tiện và tỷ lệ nam, nữ khá đồng đều trong cơ cấu dân số của thành phố Cần Thơ Đây là kết quả phù hợp với tình hình thực tế, vì dịch vụ ăn uống tại quán ăn lề đường rất phổ biến và phù hợp với cả nam và nữ nên không tạo ra sự chênh lệch về giới tính khi sử dụng dịch vụ tại các quán ăn lề đường
Nguồn: Số liệu điều tra năm 2013
Hình 4.1: Giới tính của đáp viên
Trang 3526
4.1.2 Nghề nghiệp
Hình 4.2 cho thấy, thông qua việc phỏng vấn trực tiếp 110 đáp viên, số lượng học sinh, sinh viên chiếm tỷ lệ cao nhất là 76,4% do quán ăn lề đường thường phù hợp với điều kiện sống của đa số học sinh, sinh viên Bên cạnh đó, những người làm trong lĩnh vực kinh doanh, buôn bán chiếm 12,7%, công nhân viên chức nhà nước chiếm 6,4%, nội trợ 1,8% và còn lại là chưa có việc làm chiếm 2,7% Điều này cho thấy học sinh, sinh viên thường là đối tượng khách hàng chủ yếu của các quán ăn lề đường Đa phần học sinh, sinh viên thường sống xa nhà, mức thu nhập còn phụ thuộc vào gia đình nên hạn chế trong việc chi tiêu, cũng như thời gian để tự nấu ăn Do đó, quán ăn lề đường được đông đảo học sinh, sinh viên ủng hộ
Nguồn: Số liệu điều tra năm 2013
Hình 4.2: Nghề nghiệp của đáp viên
ăn lề đường không cao, vì những đáp viên ở độ tuổi này thường đã có việc làm
và đã lập gia đình nên ít có thời gian để đi ăn uống, vui chơi hay gặp gỡ bạn bè như những đáp viên có độ tuổi dưới 25 tuổi
Chưa có việc làm
Trang 36Nguồn: Số liệu điều tra năm 2013
Hình 4.3: Độ tuổi của đáp viên
4.1.4 Thu nhập
Về thu nhập, mức thu nhập thấp nhất là 300.000 đồng vì đa số đáp viên
là học sinh và sinh viên nên thu nhập không cao Và mức thu nhập trung bình
là 2.440.000 đồng là mức thu nhập phổ biến của đa số sinh viên và bộ phận công nhân lao động hiện nay Một số công nhân viên chức nhà nước và những người kinh doanh, buôn bán có thu nhập cao hơn với mức thu nhập cao nhất là 14.000.000 đồng
Bảng 4.1: Thu nhập của đáp viên
ĐVT: Đồng
Giá trị nhỏ nhất
Giá trị lớn nhất
Trung bình Độ lệch
chuẩn Thu nhập 300.000 14.000.000 2.440.000 1918533,461
Nguồn: Số liệu điều tra năm 2013
4.1.5 Trình độ học vấn
Qua hình 4.4, ta thấy trình độ học vấn của các đáp viên khá cao, cụ thể
có 56,4% đáp viên có trình độ đại học chiếm tỷ lệ cao nhất, 30% có trình độ trung cấp, cao đẳng, 8,2% có trình độ sau đại học và thấp nhất là 5,5% đáp viên có trình độ trung học phổ thông hoặc thấp hơn Do đa số đáp viên là học sinh, sinh viên nên trình độ học vấn của các đáp viên từ trung cấp trở lên chiếm trên 80% số mẫu điều tra
Trang 37Qua kết quả phỏng vấn 110 đáp viên có 94,5% đáp viên đã ăn tại quán ăn
lề đường, còn lại 5,5% đáp viên không sử dụng dịch vụ ăn uống tại các quán
ăn lề đường Điều này cho thấy, dịch vụ ăn uống tại các quán ăn lề hầu hết mọi đối tượng sử dụng vì tính thông dụng, thuận tiện và giá cả dễ dàng chấp nhận tạo nên tính phổ biến cho các quán ăn lề đường
Nguồn: Số liệu điều tra năm 2013
Hình 4.5: Tình hình sử dụng quán ăn lề đường trên địa bàn thành phố Cần Thơ Mặc dù quán ăn lề đường là một trong những loại hình ẩm thực phổ biến nhất được hầu hết mọi người lựa chọn sử dụng thì vẫn còn một số ít người dân (5,5%) không sử dụng dịch vụ ăn uống tại các quán ăn lề đường vì nhiều lý do khác nhau được thể hiện trong hình sau:
94,5%
5,5%
Đã từng sử dụng
Không sử dụng
Trang 3829
Nguồn: Số liệu điều tra năm 2013
Hình 4.6: Lý do khách hàng không sử dụng dịch vụ ăn uống
tại quán ăn lề đường Qua hình 4.6 ta có thể thấy, 100% đáp viên không sử dụng quán ăn lề đường khi được hỏi đều cho biết vì thức ăn không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và không gian chật hẹp, không thoải mái Điều này là phù hợp với thực tế hiện nay, do các quán ăn lề đường thường sử dụng vỉa hè của các con đường để bày bán nên diện tích chật hẹp, không gian không thoải mái Bên cạnh đó, vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm tại các quán ăn lề đường đang được cảnh báo tạo tâm lý lo lắng và không sử dụng dịch vụ Mặt khác, chỉ có 16,7% đáp viên quan tâm đến thái độ phục vụ của nhân viên, tỷ lệ này không cao vì giá cả tại các quán ăn lề đường là khá rẻ, với chi phí bỏ ra thấp như vậy thì khách hàng thường không đòi hỏi cao về chất lượng phục vụ mà chỉ quan tâm đến chất lượng sản phẩm họ nhận được
Đối với 94,5% đáp viên đã sử dụng dịch vụ ăn uống tại quán ăn lề đường cho rằng họ sử dụng quán ăn lề đường vì:
Trang 3930
Nguồn: Số liệu điều tra năm 2013
Hình 4.7: Lý do khách hàng sử dụng dịch vụ ăn uống tại quán ăn lề đường
Tỷ lệ các lý do để khách hàng lựa chọn sử dụng dịch vụ ăn uống tại các quán ăn lề đường không có sự chênh lệch lớn Có 68,3% khách hàng cho biết quán ăn lề đường rất thuận tiện và thoải mái, vì phần lớn nằm trên vỉa hè nên chỉ cần ghé lại là có thể mua được ngay, không cần tìm chỗ đậu xe, gửi xe hay phải chờ đợi lâu Yếu tố thức ăn hợp khẩu vị chỉ chiếm 31,7% do khách hàng tiêu dùng chủ yếu vì tình thuận tiện, nhanh chóng, giá cả phù hợp nên yếu tố này không được đánh giá cao Còn lại là 63,5% khách hàng quan tâm đến sự
đa dạng của thức ăn và 61,5% sử dụng vì giá rẻ
Tình hình ăn uống tại các quán ăn lề đường trên địa bàn thành phố Cần Thơ được mô tả khái quát thông qua các tiêu chí sau: mức độ sử dụng, thời gian, kênh thông tin tìm hiểu, số tiền chi trả cho mỗi lần sử dụng…
Việc ăn uống tại các quán ăn lề đường là rất phổ biến bởi sự dễ dàng trong việc trao đổi, mua bán và giá cả cũng không quá cao nên việc sử dụng là khá thường xuyên và số lần sử dụng trung bình trong một tuần được thống kê trong bảng sau:
Trang 4031
Bảng 4.2: Mức độ sử dụng dịch vụ ăn uống tại các quán ăn lề đường
của người dân thành phố Cần Thơ
Nguồn: Số liệu điều tra năm 2013
Theo kết quả điều tra cho thấy, mức độ sử dụng dưới 2 lần chiếm 35,5%,
từ 2 đến 4 lần chiếm tỷ lệ cao nhất là 49,1%, chứng tỏ mức độ sử dụng khá thường xuyên Mặc dù thức ăn lề đường là sản phẩm thiết yếu và dễ sử dụng nhưng tỷ lệ trên 5 lần chỉ chiếm 10%, do người dân nhận thức được chất lượng thực phẩm cũng như vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm không được đảm bảo nên cũng hạn chế việc sử dụng thường xuyên mỗi ngày
Đồng thời, việc sử dụng dịch vụ ăn uống này vào thời gian nào cũng bị ảnh hưởng bởi thói quen mua sắm, sinh hoạt của mỗi người, cụ thể như sau:
Nguồn: Số liệu điều tra năm 2013
Hình 4.8: Thời gian sử dụng dịch vụ ăn uống tại các quán ăn lề đường