1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khảo sát đa dạng cá theo hiện trạng sử dụng đất và các dạng thủy vực chính tại thành phố cần thơ

109 344 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 7,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, nghề khai thác thuỷ sản nội địa trong thời gian qua chưa được quan tâm đúng mức, nhiều vấn đề như: chuyển đổi hình thức sử dụng đất, cơ cấu cây trồng làm ảnh hưởng nơi sinh số

Trang 1

TR Ư ỜNG Đ ẠI HỌC CẦN TH Ơ KHOA MÔI TR Ư ỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

BỘ MÔN QUẢN LÝ MÔI TR Ư ỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

LUẬN V Ă N TỐT NGHIỆP Đ ẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TR Ư ỜNG

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

BỘ MÔN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

Cần Thơ, 11/2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập ở giảng đường đại học đến nay, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý thầy cô, gia đình và bạn bè

Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô Trường Đại học Cần Thơ, đặc biệt là thầy cô của Khoa Môi Trường & Tài nguyên Thiên nhiên

đã cùng với bao tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho mỗi sinh viên trong suốt thời gian học tập tại trường

Tôi xin chân thành cảm ơn thầy Lê Văn Dũ đã tận tình chỉ dạy, hướng dẫn, giúp

đỡ, động viên và luôn cho tôi những lời khuyên quý báu trong suốt quá trình thực hiện

đề tài này

Xin chân thành cảm ơn cô Bùi Thị Bích Liên - Cố vấn học tập lớp Quản lý Môi trường K36 đã quan tâm, dìu dắt, động viên và giúp đỡ chúng tôi trong suốt khóa học Xin cảm ơn các bạn lớp Quản lý môi trường K36, các bạn sinh viên Khoa Môi trường

và Tài nguyên thiên nhiên, các anh chị học viên cao học đã hỗ trợ, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực nghiệm

Xin trân trọng cảm ơn ban lãnh đạo và các cán bộ của Chi cục Bảo vệ môi trường TP Cần Thơ, Trung tâm Quan trắc môi trường TP Cần Thơ, Sở Tài nguyên và Môi trường TP Cần Thơ… đã tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu

Cảm ơn các nông hộ đã tích cực tham gia trả lời phỏng vấn, hợp tác và giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát thực tế

Cảm ơn anh Lý Hoàng Phi, anh Lý Văn Lợi đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ để tôi có thể học hỏi nhiều kinh nghiệm thực tế và hoàn thành đề tài này

Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến cha, mẹ và người thân đã luôn ủng hộ, tạo mọi điều kiện về vật chất và tinh thần cho tôi trong suốt thời gian học tập

Xin chân thành cảm ơn!

Cần Thơ, ngày 27 tháng 11 năm 2013

Sinh viên thực hiện

Tạ Thanh Lục Tố

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC HÌNH iv

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi

CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1 Giới thiệu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Nội dung nghiên cứu 2

CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3

2.1 Tổng quan về nguồn lợi thủy sản nội địa Việt Nam 3

2.1.1 Nguồn lợi thủy sản nội địa Việt Nam 3

2.1.2 Thực trạng nguồn lợi thủy sản nội địa Việt Nam 5

2.1.3 Sự đa dạng giống loài cá ở lưu vực sông Mekong 6

2.2 Nguồn lợi thủy sản nước ngọt ở Đồng bằng sông Cửu Long 6

2.3 Sơ lược TP Cần Thơ 8

2.3.1 Điều kiện tự nhiên TP Cần Thơ 8

2.3.2 Nguồn lợi thủy sản và hiện trạng khai thác cá TP Cần Thơ 10

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 11

3.2 Phương tiện nghiên cứu 11

3.3 Phương pháp nghiên cứu 12

3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 12

3.3.2 Phương pháp xác định vị trí 12

3.3.3 Phương pháp phỏng vấn 12

3.3.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 13

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 14

4.1 Thông tin các ô khảo sát thực tế 14

4.2 Thông tin chung về kết quả phỏng vấn 16

4.2.1 Đặc điểm về giới tính và tuổi 16

Trang 5

4.2.2 Thông tin về trình độ học vấn 16

4.2.3 Thông tin về thu nhập 17

4.2.4 Thông tin về kiểu sử dụng đất 18

4.3 Tình hình khai thác cá 20

4.3.1 Ngư cụ khai thác 20

4.3.2 Nơi đánh bắt 21

4.4 Thành phần loài cá trên địa bàn TP Cần Thơ 22

4.4.1 Thành phần loài cá tính theo bộ 22

4.4.2 Thành phần loài cá tính theo họ 22

4.4.3 Thành phần loài cá phân bố theo cấp độ đa dạng sinh học 23

4.4.4 Thành phần loài cá phân bố theo kiểu sử dụng đất 24

4.4.5 Thành phần loài cá phân bố theo thủy vực 26

4.5 Xu hướng 27

4.5.1 Xu hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng 27

4.5.2 Xu hướng biến động số loài cá 28

4.6 Nguyên nhân suy giảm số loài cá 29

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 31

5.1 Kết luận 31

5.2 Kiến nghị 32

TÀI LIỆU THAM KHẢO 33

PHỤ LỤC 34

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Vị trí ô khảo sát dựa trên mức đa dạng sinh học tiềm năng 11

Hình 4.1 Vị trí khảo sát thực tế và phỏng vấn hộ dân 14

Hình 4.2 Biểu đồ cơ cấu tuổi của người tham gia trả lời phỏng vấn 16

Hình 4.3 Trình độ học vấn của người tham gia trả lời phỏng vấn 17

Hình 4.4 Nguồn thu nhập chính của các hộ được khảo sát 17

Hình 4.5 Biểu đồ thể hiện các kiểu sử dụng đất theo số hộ 18

Hình 4.6 Biểu đồ thể hiện kiểu sử dụng đất theo số trường hợp 19

Hình 4.7 Biểu đồ thể hiện ngư cụ đánh bắt cá theo số hộ 20

Hình 4.8 Biểu đồ thể hiện ngư cụ đánh bắt cá theo số trường hợp 20

Hình 4.9 Nơi đánh bắt cá của các hộ được khảo sát 21

Hình 4.10 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ số loài cá giữa các bộ 22

Hình 4.11 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ số loài cá giữa các họ 23

Hình 4.12 Biểu đồ thể hiện số loài cá theo cấp độ đa dạng sinh học 23

Hình 4.13 Biểu đồ thể hiện số loài cá theo các kiểu sử dụng đất 24

Hình 4.14 Biểu đồ thể hiện số loài cá theo các loại hình thủy vực 26

Hình 4.15 Chuyển đổi cơ cấu cây trồng 27

Hình 4.16 Thời gian huyển đổi hình thức canh tác lúa 27

Hình 4.17 Xu hướng biến động số lượng loài cá theo giai đoạn 28

Hình 4.18 Nguyên nhân suy giảm cá tự nhiên 29

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Sự đa dạng của cá nước ngọt ở Việt Nam 4

Bảng 2.2 Sản lượng khai thác thủy sản theo quận/huyện thuộc TP Cần Thơ 10

Bảng 4.1 Vị trí ô khảo sát: 14

Bảng 4.2 Kết quả so sánh trung bình số loài cá theo cấp độ đa dạng sinh học 24

Bảng 4.3 Kết quả so sánh trung bình số loài cá theo kiểu sử dụng đất 25

Bảng 4.4 Kết quả so sánh trung bình số loài cá theo loại hình thủy vực 26

Bảng 4.5 Xu hướng biến động số loài cá theo giai đoạn 29

Trang 8

- MRC: Ủy hội Sông Mekong (Mekong River Commission)

- NN&PTNT: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

- SHƯD: Sinh học ứng dụng

- TNTN: Tài nguyên thiên nhiên

- TP: Thành phố

Trang 9

CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Giới thiệu

Việt Nam có khoảng 2.360 con sông, trong đó có 106 sông chính, từ 3-5 nghìn

hồ chứa các loại, trên 700 loài và phân loài thuỷ sản, cho thấy đây là tiềm năng nguồn lợi thủy sinh nội địa rất phong phú và đa dạng Nghề cá nội địa, nhất là trên các đồng bằng hay xuất hiện lũ, vùng canh tác lúa ở đồng bằng sông Cửu Long, là một nguồn quan trọng cung cấp các sản phẩm thủy sản, đem lại dinh dưỡng và thu nhập thời vụ cho người dân nông thôn Mặt khác, nghề cá nội địa cũng đã góp phần tăng giá trị kim

ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam (Nguồn: Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản

- Bộ NN&PTNT, 2013)

Cũng theo số liệu của Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản (2013), Bình quân các bãi đánh bắt khai thác thủy sản nội địa ước tính khai thác được khoảng 200.000 tấn mỗi năm Tuy nhiên, MRC ước tính bình quân sản lượng khai thác thủy sản nội địa ở các vùng đồng bằng châu thổ của Việt Nam có thể lên đến từ 300.000 đến 900.000 tấn/năm Điều này cho thấy, tiềm năng khai thác thuỷ sản ở Việt Nam còn rất lớn, nhưng hiện nay, sản lượng khai thác thủy sản nội địa lại đang có xu hướng giảm, nhất

là ở trên các sông, hồ lớn Nếu như sản lượng khai thác nội địa năm 2001 đạt 243.000

tấn, thì đến năm 2012, con số này chỉ còn 204.000 tấn (Nguồn:

http://dangcongsan.vn , truy cập ngày 17/08/2013)

Đồng bằng sông Cửu Long là vùng có nhiều tiềm năng pháp triển ngành thủy sản Nằm ở hạ nguồn lại có sự giao thoa giữa các môi trường sinh thái (mặn - lợ - ngọt) đã tạo nên một vùng sinh thái đặc thù hiếm có Đồng thời với địa hình thiên nhiên ưu đãi, đặc thù của miền Tây Nam Bộ, nơi đây từ xưa đã nổi tiếng là vùng đất lắm tôm nhiều cá nhờ vào hệ thống sông ngòi, kênh rạch dày đặc cùng với những ngư trường khai thác rộng lớn trên biển, hàng năm có khoảng 1 triệu hecta diện tích ngập

lũ trong 2-4 tháng Vì vậy, nguồn lợi thủy sản ở đây rất đa dạng và phong phú Theo kết quả thống kê năm 2008, ĐBSCL chiếm hơn 70% diện tích khai thác; đánh bắt và nuôi trồng thủy sản cả nước.Trong đó sản lượng khai thác tự nhiên chiếm 39%, nuôi

trồng thủy sản và xuất khẩu chiếm 90% (Nguồn: http://dangcongsan.vn , truy cập ngày 17/08/2013)

Nghề cá ở Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và TP Cần Thơ nói riêng đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống người dân Việt Nam; là sinh kế của nhiều ngư dân ở các vùng ven sông Tuy nhiên, nghề khai thác thuỷ sản nội địa trong thời gian qua chưa được quan tâm đúng mức, nhiều vấn đề như: chuyển đổi hình thức sử dụng đất, cơ cấu cây trồng làm ảnh hưởng nơi sinh sống của nhiều loài cá trên địa bàn;

Trang 10

xung điện để đánh bắt gây ảnh hưởng lớn đến nguồn lợi thủy sản nội địa; các thông tin quản lý nguồn lợi thủy sản nói chung và về cá nói riêng trên địa bàn TP Cẩn Thơ còn thiếu Trước tình hình đó, việc thực hiện khảo sát thành phần loài cá và tình hình biến động về thành phần cũng như số lượng loài cá nội địa thuộc địa bàn TP Cần Thơ là rất

cần thiết Vì vậy, đề tài “Khảo sát đa dạng cá theo hiện trạng sử dụng đất và các dạng thủy vực chính tại Thành phố Cần Thơ” cần được thực hiện

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 11

CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Tổng quan về nguồn lợi thủy sản nội địa Việt Nam

2.1.1 Nguồn lợi thủy sản nội địa Việt Nam

Việt Nam có khoảng 2.360 con sông, trong đó có 106 sông chính, bên cạnh hệ thống suối phân bố khắp vùng núi và trung du Đây là hệ thống thủy vực có mức độ đa dạng sinh học nguồn lợi thủy sản cao nhất trong các thủy vực nội địa, đặc biệt ở các hệ thống sông Cửu Long, sông Đồng Nai, sông Hồng, sông Thái Bình,… cùng với khoảng 230 hồ tự nhiên với diện tích 34.602 ha tập trung nhiều ở phía Bắc, từ 3-5 nghìn hồ chứa các loại được xây dựng cho các mục đích thủy lợi, thủy điện, ngăn mặn Các thủy vực nước ngọt nội địa Việt Nam rất đa dạng về hệ thực vật cũng như

hệ động vật, bao gồm các nhóm vi tảo, rong, các loài cây cỏ ngập nước và bán ngập nước, động vật không xương sống và cá

Cho đến nay đã thống kê và xác định được 1.438 loài tảo thuộc 259 chi và 9 ngành 794 loài động vật không xương sống Trong đó, đáng lưu ý là trong thành phần loài giáp xác nhỏ, có 54 loài và 8 giống lần đầu tiên được mô tả ở Việt Nam Riêng hai nhóm tôm, cua (giáp xác lớn) có 59 loài thì có tới 7 giống và 33 loài (55,9% tổng số loài) lần đầu tiên được mô tả Trong tổng số 147 loài trai ốc, có 43 loài (29,2% tổng số loài), 3 giống lần đầu tiên được mô tả, tất cả đều là những loài đặc hữu của Việt Nam hay vùng Đông Dương Điều đó cho thấy sự đa dạng và mức độ đặc hữu của khu hệ tôm, cua, trai, ốc nước ngọt nội địa Việt Nam là rất lớn

Thành phần loài cá các thủy vực nước ngọt nội địa Việt Nam bao gồm trên 700 loài và phân loài, thuộc 228 giống, 57 họ và 18 bộ Riêng họ cá chép có 276 loài và phân loài thuộc 100 giống và 4 họ, 1 phân họ được coi là đặc hữu ở Việt Nam Số lượng loài cá ở các cửa sông dao động từ 70 đến hơn 230 loài, với tổng cộng hơn 580 loài, thuộc 109 họ và 27 bộ Có thể thấy tiềm năng nguồn lợi thủy sinh nội địa rất phong phú và đa dạng Mỗi năm, sản lượng khai thác thủy sản nội địa đạt trung bình từ

150 – 200 tấn, góp phần quan trọng vào việc đáp ứng nhu cầu tiêu thụ lương thực, thực phẩm của người dân, đặc biệt là từ các địa phương không có biển

(Nguồn: http://dangcongsan.vn , truy cập ngày 17/08/2013)

Sự đa dạng về nguồn tài nguyên cá nước ngọt ở Việt Nam thể hiện qua sự đa dạng, phong phú về số họ, số giống, số loài và phân loài trong các bộ cá ở Bảng 2.1:

Trang 12

Bảng 2.1 Sự đa dạng của cá nước ngọt ở Việt Nam

giống

Số loài và phân loài

Trang 13

ao nuôi khoảng 0,1 ha mỗi hộ Nuôi trồng thủy sản chiếm trên 50% tổng sản lượng ngành thủy sản Sản lượng thủy sản nuôi trồng năm 2012 ước đạt 3,1 triệu tấn, tăng 6,1% so với năm 2011, trong đó cá đạt 2,4 triệu tấn, tăng 6,5%; tôm 473,9 nghìn tấn, giảm 1%, còn lại là các loài khác như: cua và các loài thân mềm khác

2.1.2 Thực trạng nguồn lợi thủy sản nội địa Việt Nam

Hoạt động của con người trong quá trình phát triển đã gây ra những tổn thất lớn lao đối với các hệ sinh thái ở các thủy vực nước ngọt Ở nước ta, nhiều hệ sinh thái ở

các thủy vực nước ngọt cũng biến đổi rất mạnh Hiện nay, sản lượng khai thác thủy

sản nội địa có phần giảm đi so với các năm trước Một số đối tượng cá truyền thống như cá bơn, cá lẹp, cá chày, cá chép và các loài cá đồng khác như cá trê, cá chạch, cá lóc,… đang có chiều hướng suy giảm mạnh

Sản lượng khai thác nội địa giai đoạn 2001-2009 giảm 20%, từ 243 nghìn tấn năm 2001 xuống còn 191 nghìn tấn năm 2009 Có sự thay đổi sản lượng do nguồn lợi suy giảm và môi trường thủy sinh thay đổi

Theo số liệu của Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản (2013), bình quân các bãi đánh bắt khai thác thủy sản nội địa ước tính khai thác được khoảng 200.000 tấn mỗi năm Tuy nhiên, Theo Ủy hội Sông Mekong (2013), ước tính bình quân sản lượng khai thác thủy sản nội địa ở các vùng đồng bằng châu thổ của Việt Nam có thể lên đến từ 300.000 đến 900.000 tấn/năm Điều này cho thấy, tiềm năng khai thác thuỷ sản ở Việt Nam còn rất lớn, nhưng hiện nay, sản lượng khai thác thủy sản nội địa lại đang có xu hướng giảm, nhất là ở trên các sông, hồ lớn Nếu như sản lượng khai thác nội địa năm

2001 đạt 243.000 tấn, thì đến năm 2012, con số này chỉ còn 204.000 tấn

Phương tiện khai thác thủy sản nội địa chủ yếu là tàu thuyền thủ công không lắp máy, trên một số hồ, đầm phá…tàu thuyền thường được lắp máy công suất dưới 15CV Hiện nay lượng phương tiện khai thác nội địa còn số lượng lớn, cùng với việc chưa đăng ký đầy đủ, phân tán nhiều nơi Điều này dẫn tới áp lực khai thác nội địa lớn, gây khó khăn trong công tác quản lý và bảo vệ nguồn lợi thủy sản

Phương thức khai thác chủ yếu vẫn là các nghề khai thác truyền thống như lưới

rê, chài quăng, lồng bẫy, vó bè…, những nghề này thường cho sản lượng không cao Gần đây có du nhập một số nghề mới như lồng Trung Quốc, Thái Lan…, những nghề mới này vi phạm quy định về kích thước mắt lưới trong việc bảo vệ nguồn lợi

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới sản lượng thuỷ sản khai thác nội địa có xu hướng ngày càng giảm, phương pháp khai thác tận thu vẫn còn khá phổ biến tại các địa phương, một số vi phạm như dùng kích điện, xung điện, chất nổ, chất độc, ngư cụ có mắt lưới nhỏ hơn quy định Nhưng trong đó, nguyên nhân chủ yếu là do ô nhiễm

Trang 14

làm mất môi trường sinh sản và sinh trưởng của các loài cá tại địa phương, cá di trú cũng như các loài thủy sinh khác.Môi trường nước nội địa đang bị ô nhiễm do phương thức khai thác và tác động của các ngành kinh tế khác đã ảnh hưởng xấu tới môi trường sống của hệ thủy sinh vật

( Nguồn: http://dangcongsan.vn , truy cập ngày 17/08/2013)

2.1.3 Sự đa dạng giống loài cá ở lưu vực sông Mekong

Mekong là một trong 10 con sông lớn nhất thế giới với tổng chiều dài khoảng 4.800 km, bắt nguồn từ Trung Quốc và chảy qua các quốc gia Myanmar, Lào, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam Dòng Mekong đã tạo ra một lưu vực rộng lớn có diện tích khoảng 810.000 km2 với hệ sinh thái đất ngập nước vô cùng phong phú và đa dạng Chính hệ sinh thái này đã mang lại nhiều nguồn lợi cho các quốc gia và người dân sinh sống trong lưu vực Theo ước tính, khoảng 60 triệu người hạ lưu vực đang phụ thuộc các vùng đất ngập nước thuộc lưu vực sông Mekong trong sản xuất nông

nghiệp, đánh bắt thủy sản và các hoạt động phục vụ sinh kế khác (Nguồn: Ủy hội Sông Mekong, 1997)

Sông Mekong mang lại nguồn lợi thủy sản nước ngọt phong phú nhất thế giới Theo ước tính của Ủy hội Sông Mekong, hàng năm khoảng 2,6 triệu tấn cá tự nhiên và tài nguyên thủy sản khác được đánh bắt ở dòng sông này, trị giá khoảng 2 tỷ USD

Sông Mekong có sản lượng cá nội địa lớn nhất thế giới, 2/3 trong số đó là cá

trắng, những loài cá có đặc tính di cư Cá trưởng thành di chuyển lên phía thượng lưu

để sinh sản, sau đó trứng, cá con và cá trưởng thành di chuyển xuống hạ lưu để tìm thức ăn sinh trưởng

Sông Mekong và các hồ nước của nó cung cấp 17% lượng cá nước ngọt toàn thế giới Sông Mekong là nơi cư trú của khoảng 850 loài cá và là nơi tập trung nguồn thủy sản nội địa lớn nhất thế giới.Nguồn lợi thủy sản ở Hạ Lưu Sông Mekong rất đa dạng và phong phú, hơn 1.300 loài cá nước ngọt đã được ghi nhận, và hàng năm cung cấp sản lượng hơn 1 triệu tấn thuỷ sản nước ngọt cho khoảng 60 triệu dân sống trong lưu vực Dòng sông Mekong cũng là nơi s ở hữu sự đa d ạng rất l ớn về thủy sinh vật, chỉ đứng sau sông Amazon

Quỹ Quốc tế Bảo vệ thiên nhiên cho biết các nhà khoa học tìm kiếm các sinh vật như cá úc, cá trê, cá đuối gai độc khổng lồ, cá nhái răng nhọn, cá chép lớn, cá tầm

và cá tầm ăn thịt ở sông Mekong Đặc biệt, sông Mekong còn có các loài cá chiên và

cá lăng quý hiếm

2.2 Nguồn lợi thủy sản nước ngọt ở Đồng bằng sông Cửu Long

Đồng bằng Sông Cửu Long là một bộ phận của vùng châu thổ sông Mekong có diện tích 39.747 km2, trong đó có khoảng 65% diện tích đất được dùng để sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản Cùng với hệ thống sông ngòi chằng chịt đã làm

Trang 15

cho nguồn lợi thủy sản ở đây rất phong phú và đa dạng về thành phần loài cũng như sản lượng

Theo Trung tâm Quốc gia Giống thủy sản nước ngọt Nam bộ, Đồng bằng Sông Cửu Long có khoảng 250 loài cá nước ngọt thuộc 43 họ, 130 giống Có khoảng 50 loài

cá có giá trị kinh tế cao, trong đó có khoảng 20 loài cá quý kiếm

Theo Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn, vùng Đồng bằng Sông Cửu Long có 175 loài cá thuộc 109 giống, 48 họ, 17 bộ Trong đó bộ cá chép

(Cypriniformes) có thành phần loài đa dạng nhất chiếm 36% tổng số loài; tiếp theo là

bộ nheo (Siluriformes) chiếm 27%; bộ cá vược (Perciformes) chiếm 19%, bộ cá cơm (Clupeiformes) chiếm 6%; bộ cá bơn (Pleuronectiformes) chiếm 3%, 12 bộ còn lại chỉ

chiếm 1% tổng số loài Hầu hết thành phần loài cá thuộc nhóm cá trắng chiếm 74%,

nhóm cá đen chiếm 7% Ngoài ra nhóm cá nước lợ chiếm 11% như cá đối (Mugil spp.), cá mề gà (Coilia spp.), cá mặt quỷ (Eleutheronema tetradactylum), cá lạt vàng (Congresox talabonoides) Nhóm cá có nguồn gốc nước mặn chiếm 7%, tiêu biểu là cá thu (Scomberomorus sinensis) và cá mập trắng (Carcharhinus leucas)

Về sản lượng khai thác: sản lượng cá úc (Arius spp.) chiếm tỉ trọng cao nhất với

16% tổng sản lượng, là loài thường phân bố vùng cửa sông ven biển; cá rô đồng

(Anabas testudineus) được xếp thứ hai chiếm 10% là loài cá đen đặc trưng cho vùng ngập lụt; cá phèn (Polynemus spp.) chiếm 8% tổng sản lượng được xếp thứ ba; cá mè vinh (Barbonymus gonionotus), cá linh (Henicorhynchus siamensis) và cá dảnh trắng (Puntioplites proctozysron) mỗi nhóm cùng chiếm 6% tổng sản lượng khai thác Sản

lượng khai thác nguồn lợi cá trong vùng có mối tương quan mật thiết với mực nước lũ, khi mực nước lũ cao thì sản lượng khai thác cũng cao và ngược lại Do đó bất kỳ một yếu tố nào ảnh hưởng đến mực nước đều ảnh hưởng đến nguồn lợi thủy sản trong vùng

(Nguồn: www.tongcucthuysan.gov.vn truy cập ngày 19/08/2013)

Dựa vào đặc điểm sinh thái học có thể phân chia thành các nhóm cá sau:

Nhóm cá trắng (cá sông): Đặc trưng của nhóm cá này là sống chủ yếu trên sông

Mekong và các nhánh sông rạch lớn Hàng năm các loài cá này có sự di cư vào và ra khỏi vùng ngập trũng theo sự lên xuống của mức lũ và khi mùa lũ về cũng chính là

mùa sinh sản của các loài cá Một số loài cá điển hình như: cá leo (Wallago attu), cá trèn (Hemisilarus mekongensis), cá cóc (Cyclocheilichthys enoplos), cá he vàng (Barbus altusthe), cá mè vinh (Puntius daruphani), cá dảnh (Puntius bulu), cá sửu (Pseudosciaenasoldado); và các loài cá thuộc họ cá tra (Pangasiidae), họ cá leo

(Siluridae), họ cá thát lát (Notopteridae) Đến khi mùa lũ qua đi chúng theo dòng nước kênh rạch ra sông và trở về dòng sông chính Ngoài ra, đây là nhóm cá có kích thước

Trang 16

biệt cá linh là loài có quần đàn lớn, chiếm tỷ lệ cao trong sản lượng khai thác cá nước ngọt và hàng trăm triệu cá tra bột được vớt hàng năm trên sông Tiền và sông Hậu

Nhóm cá đen (cá đồng): đây là nhóm đặc trưng cho cá nội đồng, thích ứng ở

vùng nước tĩnh Phần lớn nhóm cá đen ăn động vật hoặc thức ăn thối rửa, có khả năng

di chuyển trên cạn, chúng có khả năng thích nghi với điều kiện môi trường khắc nghiệt như thiếu oxy, pH thấp, mực nước thấp khi vào mùa khô thiếu nước; nhờ có cơ quan

hô hấp thụ để sự dụng khí trời Đây là nhóm cá nội tại sinh sản và phát triển trong suốt vòng đời tại các thủy vực nội địa Đầu mùa mưa là mùa sinh sản chính của các loài cá

nội đồng Một số loài cá đại diện: cá lóc (Channa striata), cá rô (Anabas testudineus),

cá sặc rằn (Tricchogaster pectoralis), cá sặc bướm (Tricchogaster trichopterus), cá trê trắng (Clarias batrachus),…

Nhóm cá nước lợ: gồm học cá trích (Clupeidae), họ cá bè (Carangidae), họ cá

thu (Scombridae), họ cá đối (Mugiidae), họ cá đù (Scianidae), họ cá nhụ (Polynemidae), họ cá chẽm (Centropomidae), bộ phụ cá bống (Gobiidae)

Nhóm cá di cư: chủ yếu các loài cá có nguồn gốc từ biển, chúng di cư vào vùng nước ngọt để tìm thức ăn hoặc sinh sản Đại diện một số loài như cá tớp (Lycothrissa crocodilus), cá lẹp (Septipina melanochis), cá thu sông (Scomberomorus chinensis) và một số loài cá thuộc họ cá bơn (Soleidae), cá lưỡi trâu (Cynoglossidae)

Các loài phân bố rộng thuộc bộ cá chép (Cypriniformes) có khoảng 38 loài, khi

đó chỉ có 27 loài thuộc các bộ khác (bộ cá nheo, bộ cá đối, bộ cá quả, bộ cá vược, bộ

cá chạch sông, bộ cá kìm, bộ cá mang) Ngoài ra, các thủy vực nội địa còn đặc trưng bởi nhiều loài cá như: họ cá thát lát, họ cá bơn, họ cá nóc, họ cá bống trắng Tuy nhiên, thành phần loài cá phân bố ở vùng cửa sông phong phú hơn so với khu vực nội

đồng và biến động lớn theo mùa vụ trong năm (Đào Văn Tự, 2003)

Riêng Đồng bằng Sông Cửu Long, hàng năm có khoảng 220.000 – 440.000 tấn

cá trắng bị đe dọa, chưa tính đến nguồn cá đen tổn thất do mất nguồn cá trắng làm thức

ăn và sự thay đổi môi trường Ngoài ra, khi các đập thủy điện này được xây dựng, năng suất hải sản của hơn 730 km bờ biển của vùng cũng bị đe dọa nghiêm trọng vì lượng phù sa sông Mekong bị giản sút (chỉ còn 1/4) Bên cạnh đó, hiện tượng sạt lở bờ sông, mất ổn định dòng chảy vùng hạ lưu và sạt lở bờ biển cũng sẽ xuất hiện với cường độ mạnh hơn

2.3 Sơ lược TP Cần Thơ

2.3.1 Điều kiện tự nhiên TP Cần Thơ

Trang 17

Giang; phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp và tỉnh Vĩnh Long; phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang; phía Nam giáp tỉnh Hậu Giang

Thành phố Cần Thơ có tọa độ địa lý 105O13’38” - 105O50’35” kinh độ Đông và

9O55’08” - 10O19’38” vĩ độ Bắc Đơn vị hành chính của TP Cần Thơ gồm 5 quận (Ninh Kiều, Cái Răng, Bình Thủy, Ô Môn, Thốt Nốt) và 4 huyện (Phong Điền, Cờ Đỏ, Vĩnh Thạnh, Thới Lai) với 85 đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn ( 5 thị trấn,

36 xã, 44 phường)

2.3.1.2 Đặc điểm địa hình

Địa hình:

Nhìn chung tương đối bằng phẳng, phù hợp cho sản xuất nông, ngư nghiệp Cao

độ trung bình khoảng 1,00 – 2,00 m dốc từ đất giồng ven sông Hậu, sông Cần Thơ thấp dần về phía nội đồng (từ Đông Bắc sang Tây Nam) Do nằm cạnh sông lớn, nên Cần Thơ có mạng lưới sông, kênh, rạch khá dày Bên cạnh đó, thành phố còn có các cồn và cù lao trên sông Hậu như Cồn Ấu, Cồn Khương, Cồn Sơn, Cù lao Tân Lập Địa chất:

Địa bàn được hình thành chủ yếu qua quá trình bồi lắng trầm tích biển và phù sa của sông Cửu Long, trên bề mặt ở độ sâu 50 m có hai loại trầm tích: Holocen (phù sa mới) và Pleistocene (phù sa cổ)

2.3.1.3 Khí hậu

Cần Thơ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới - gió mùa Khí hậu điều hoà dễ chịu,

ít bão, quanh năm nóng ẩm, không có mùa lạnh Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình năm khoảng 28ºC, số giờ nắng trung bình cả năm 2.249,2h Lượng mưa trung bình năm: 1600 mm (năm 2000 khoảng 1.911, năm 2004 khoảng 1.416mm)

2.3.1.4 Thủy văn

Sông Hậu là con sông lớn nhất với tổng chiều dài chảy qua thành phố là 65 km đoạn qua Cần Thơ có chiều rộng khoảng 1,6km Tổng lượng nước sông Hậu đổ ra biển khoảng 200 tỷ m3/năm (chiếm 41% tổng lượng nước của sông Mekong), lưu lượng nước bình quân tại Cần Thơ là 14.800 m3/giây Tổng lượng phù sa của sông Hậu là 35 triệu m3/năm (chiếm gần 1/2 tổng lượng phù sa sông Mekong)

Sông Cần Thơ bắt nguồn từ khu vực nội đồng tây sông Hậu, có chiều dài khoảng 16 km, chiều rộng từ 280-350m, đi qua các quận Ô môn, huyện Phong Điền, quận Cái Răng, quận Ninh Kiều và đổ ra sông Hậu tại bến Ninh Kiều Sông Cần Thơ

Trang 18

Bên cạnh đó, TP Cần Thơ còn có hệ thống kênh rạch dày đặc, với hơn 158 sông, rạch lớn nhỏ là phụ lưu của 2 sông lớn là Sông Hậu và sông Cần Thơ đi qua thành phố nối thành mạng đường thủy Các sông rạch lớn khác là rạch Bình Thủy, Trà Nóc, Ô Môn, Thốt Nốt, kênh Tham Rôn và nhiều kênh lớn khác tại các huyện ngoại thành là Thốt Nốt, Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ và Phong Điền, cho nước ngọt suốt hai mùa mưa nắng, tạo điều kiện cho nhà nông làm thủy lợi và cải tạo đất

2.3.2 Nguồn lợi thủy sản và hiện trạng khai thác cá TP Cần Thơ

Với hệ thống sông ngòi chằng chịt, TP Cần Thơ có rất nhiều tiềm năng để phát triển nghề khai thác, nuôi trồng thủy sản TP Cần Thơ có trên 14.000 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản nước ngọt Dự kiến đến năm 2014, Cần Thơ đạt sản lượng 221.000 tấn thủy sản và nâng lên 269.000 tấn vào năm 2016 để đến năm 2020 đạt 335.000 tấn Tuy nhiên, áp lực đầu ra, việc khai thác quá mức, tác động bất thường của thời tiết,… làm cho ngành khai thác và nuôi trồng thủy sản của TP Cần Thơ gặp rất nhiều khó khăn Vấn đề bảo vệ nguồn lợi thủy sản để phục vụ nuôi trồng, khai thác theo hướng bền vững được xem là nhiệm vụ cấp bách

Thống kê sản lượng khai thác thủy sản TP Cần Thơ giai đoạn 2005-2010 được thể hiện trong Bảng 2.2

Bảng 2.2 Sản lượng khai thác thủy sản theo quận/huyện thuộc TP Cần Thơ

ĐVT: Tấn

Tổng số 6.454 6.310 6.223 6.121 6.053 5.935 Quận Ninh Kiều 11 9 5 - 12 11

Quận Ô Môn 662 622 576 554 447 422

Quận Bình Thủy 61 66 79 62 92 81

Quận Cái Răng 246 494 481 466 235 250

Huyện Thốt Nốt 1.536 1.453 1.392 1.382 1.072 1.021 Huyện Vĩnh Thạnh 2.016 2.108 1.848 1.814 1.315 1.239 Huyện Cờ Đỏ 1.452 941 1.294 1.303 1.405 1.437 Huyện Phong Điền 470 617 548 540 510 501

Huyện Thới Lai - - - - 965 974

Dấu gạch (-) thể hiện không có số liệu

(Nguồn: Niên giám thống kê Thành phố Cần Thơ, 2010)

Trang 19

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trong thời gian từ tháng 07/2013 đến tháng 11/2013

Vị trí phỏng vấn, thu mẫu dựa trên bản đồ tiềm năng đa dạng sinh học của TP Cần Thơ

Hình 3.1 Vị trí ô khảo sát dựa trên mức đa dạng sinh học tiềm năng

3.2 Phương tiện nghiên cứu

Trang 20

3.3 Phương pháp nghiên cứu

Chọn ngẫu nhiên 22 ô khảo sát thuộc 4 vùng có tiềm năng đa dạng sinh học (ĐDSH cao, trung bình, thấp, rất thấp) trên địa bàn TP Cần Thơ theo tài liệu nghiên cứu của TS.Dương Văn Ni (2012) để tiến hành phỏng vấn Các ô khảo sát không nằm trong khu vực đô thị và có diện tích 1 km2 được thể hiện trên Hình 3.1

3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Số liệu về hiện trạng nguồn cá, kiểu sử dụng đất được thu thập từ Niên giám thống kê Thành phố Cần Thơ, các nghiên cứu từ Khoa Thủy Sản, Khoa Nông Nghiệp

& SHƯD, Khoa Môi trường & TNTN, Đại học Cần Thơ

Điều tra phỏng vấn trực tiếp 107 hộ dân trong 22 ô khảo sát

Thông tin chung về điều kiện kinh tế - xã hội của nông hộ: họ tên, độ tuổi, trình

độ học vấn, số nhân khẩu, nguồn thu nhập, cơ hội nghề nghiệp phụ

Hiện trạng sử dụng đất canh tác, cách hình thức chuyển đổi kiểu sử dụng đất trong quá khứ

Hiện trạng khai thác cá, các loại ngư cự được sử dụng để khai thác

Hiện trạng về nguồn lợi thủy sản: thành phần loài cá, hiện trạng khai thác, biến động thành phần loài cá, nhận thức về biến động các loài cá; nguyên nhân sự suy giảm hoặc biến mất các loài cá trong tự nhiên

Thông qua phỏng vấn thu thập số liệu về số loài cá theo cấp độ đa dạng sinh học, kiểu sử dụng đất và dạng thủy vực trong Bảng 3.1

Bảng 3.1 Quan hệ giữa đa dạng sinh học, kiểu sử dụng đất và các dạng thủy vực

1 Đa dạng cao Đất ở nông thôn Ao, Kênh rạch

2 Đa dạng trung bình Đất trồng cây lâu năm Mương vườn, Ao, Kênh rạch

3 Đa dạng thấp Đất trồng lúa nước Kênh rạch, Ruộng

4 Đa dạng rất thấp Đất trồng cây hằng năm Kênh rạch

Đất nuôi thủy sản Ao

Trang 21

3.3.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

- Sử dụng Microsoft Office Excel để nhập, xử lý số liệu và vẽ đồ thị

- Dùng phần mềm SPSS Statistics 17.0 phân tích số liệu thống kê mô tả, tần xuất

và phép thử Independent-Samples T Test để so sánh trung bình số loài cá phỏng vấn được từ các hộ trong các ô được chọn dựa theo cấp độ đa dạng sinh học, kiểu sử dụng đất và loại hình thủy vực

- Kết hợp Microsoft Word để viết báo cáo

Trang 22

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Thông tin các ô khảo sát thực tế

Hình 4.1 Vị trí khảo sát thực tế và phỏng vấn hộ dân

Đề tài nghiên cứu được khảo sát trên địa bàn TP Cần Thơ bằng cách phỏng vấn một cách ngẫu nhiên các hộ gia đình thuộc 22 ô khảo sát Kết quả điều tra được 107 hộ dân (n=107) thuộc 7 trong tổng số 9 quận/huyện trên địa bàn TP Cần Thơ Vị trí các ô khảo sát được thể hiện trên Hình 4.1

Trang 24

4.2 Thông tin chung về kết quả phỏng vấn

4.2.1 Đặc điểm về giới tính và tuổi

Tất cả người tham gia trả lời phỏng vấn là nam giới theo yêu cầu của tiêu chí chọn hộ Phần lớn những người tham gia phỏng vấn trong độ tuổi trung niên từ 40 đến

60 tuổi chiếm tỷ lệ 64,5% (69 trong tổng số 107 người tham gia trả lời phỏng vấn), tỷ

lệ người cao tuổi trên 60 tuổi tham gia trả lời phỏng vấn là 27,1% (29 người), tỷ lệ

người có độ tuổi dưới 40 chiếm tỷ lệ nhỏ 8,4% (9 người)

Hình 4.2 Biểu đồ cơ cấu tuổi của người tham gia trả lời phỏng vấn

Phần lớn người tham gia trả lời phỏng vấn sinh sống lâu đời tại địa phương phỏng vấn (ô khảo sát) và có tuổi đời trên 40 nên có khả năng am hiểu các loài cá có mặt tại địa phương cũng như những loài cá bị mất đi trong quá khứ

4.2.2 Thông tin về trình độ học vấn

Trình độ học vấn của các người dân được phỏng vấn tương đối thấp Số người đạt trình độ học vấn bậc Trung học phổ thông hoặc cao hơn là 10 người chiếm tỷ lệ lần lượt là 6,5% (7 người) và 2,8% (3 người) Trình độ học vấn bậc Tiểu học chiếm tỷ lệ cao nhất 44,9% với 48 người, Trung học cơ sở là 31 người chiếm tỷ lệ 29% Trong khi

số người Mù chữ khá cao là 11 người chiếm 10,3% Còn lại 6,5% (7 người) là số người biết đọc viết không thông qua trường lớp

Phần lớn người dân tích cực tham gia trả lời phỏng vấn, chỉ có một vài trường hợp là người dân từ chối trả lời phỏng vấn do bận việc đồng án

Trang 25

Hình 4.3 Trình độ học vấn của người tham gia trả lời phỏng vấn

4.2.3 Thông tin về thu nhập

Nguồn thu nhập của các hộ dân tham gia trả lời phỏng vấn chủ yếu là từ các hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp

Hình 4.4 Nguồn thu nhập chính của các hộ được khảo sát

Trong tổng số 107 hộ tham gia trả lời phỏng vấn, số hộ có thu nhập từ trồng trọt

Trang 26

hộ) Thu nhập chính từ công việc làm thuê tự do cũng chiếm tỷ lệ 5,6% (6 hộ) chủ yếu làm các công việc như chăm sóc ruộng vườn hoặc thu hoạch nông sản thuê cho người khác do không có đất canh tác Thu nhập từ hoạt động đánh bắt cá tự nhiên bằng các ngư cụ: chài, lưới, đặt dớn, đặt lú,… chiếm tỷ lệ 3,7% (4 hộ) Hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm chủ yếu là: heo, gà, vịt tạo ra nguồn thu nhập chính cho 1,9% (2 hộ) số người tham gia trả lời phỏng vấn Những người có trình độ học vấn bậc Cao hơn trong Biểu đồ cơ cấu trình độ học vấn ở Hình 4.3 có thu nhập chính từ lương công chức, viên chức nhà nước chiếm tỷ lệ 2,8% (3 hộ) Còn lại 3,7% người tham gia trả lời phỏng vấn có nguồn thu nhập khác chủ yếu từ: buôn bán, làm hàng thủ công mỹ nghệ Trên thực tế, các hộ dân có nhiều nguồn thu nhập khác nhau, nhất là người tham gia các hoạt động trồng trọt, họ còn tham gia các hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi thủy sản hoặc đi làm thuê khi có thời gian rảnh, nhưng có thu nhập chính từ hoạt động trồng trọt

4.2.4 Thông tin về kiểu sử dụng đất

Các kiểu sử dụng đất của hộ dân tham gia trả lời phỏng vấn được thể hiện ở Hình 4.5 gồm 5 kiểu sử dụng đất: đất ở nông thôn, trồng cây lâu năm, trồng lúa nước, trồng cây hằng năm và đất nuôi trồng thủy sản

Hình 4.5 Biểu đồ thể hiện các kiểu sử dụng đất theo số hộ

Đất để làm đất ở nông thôn được 93 chiếm tỷ lệ 87% trong tổng số 107 hộ dân

sử dụng Các sinh cảnh ao, mương trong kiểu sử dụng đất này thường được người dân

để tự nhiên nên có nhiều loài cá sinh sống

Có 33 hộ dân, tỷ lệ 31% sử dụng đất cho mục đích trồng cây lâu năm chủ yếu là

Trang 27

các loại cây ăn trái: cam, mận, dâu, sầu riêng, vú sữa,… Kiểu sử dụng đất này cũng tạo

ra các sinh cảnh ao, vũng, kênh rạch bán tự nhiên dẫn nước vào vườn cây để các loài

cá sinh sống

Đất trồng lúa nước được 91 hộ sử dụng chiếm 85% số hộ Kiểu sử dụng đất này tạo ra những khu đất rộng với mực nước thấp thay đổi theo mùa hay thời gian canh tác được gọi là ruộng và các kênh rạch dẫn nước tạo điều kiện cho các loài cá sinh sống Đất trồng cây hằng năm chủ yếu là trồng các loại hoa màu: dưa hấu, bắp cải, cà chua, các cây họ đậu,… được 14 hộ sử dụng chiếm tỷ lệ 13% Kiểu sử dụng đất để trồng cây hằng năm tạo ra nhiều rãnh giữa các luống, các kênh đào nhỏ dẫn nước là nơi sinh sống cho cá

Nuôi trồng thủy sản chiếm tỷ lệ 12% với 13 hộ, chủ yếu nuôi các loài cá nước ngọt với hình thức nuôi công nghiệp hoặc trại ươm cá bột để bán con giống cho các hộ nuôi khác

Nhìn chung phần lớn các kiểu sử dụng đất thực tế khảo sát đều gồm có các dạng thủy vực tự nhiên (kênh rạch) hay nhân tạo (kênh đào, mương dẫn nước).và đây là môi trường sống phù hợp của các loại cá nước ngọt địa phương, cá di cư theo dòng lũ

Hình 4.6 Biểu đồ thể hiện kiểu sử dụng đất theo số trường hợp

Qua điều tra 107 hộ dân, ghi nhận tổng cộng 244 trường hợp sử dụng đất thuộc

5 kiểu sử dụng với cơ cấu như sau: đất ở nông thôn và đất trồng lúa nước có tỷ lệ cao 38,1% và 37,3%, đất trồng cây lâu năm chiếm 13,5%, đất trồng cây hằng năm có tỷ lệ thấp là 5,7% Thấp nhất là đất nuôi trồng thủy sản với tỷ lệ 5,4%

Trang 28

4.3 Tình hình khai thác cá

4.3.1 Ngư cụ khai thác

Qua kết quả khảo sát ở Hình 4.7 và Hình 4.8 về các loại ngư cụ đánh bắt cá tự nhiên của 107 hộ dân với 198 trường hợp cho thấy: có 6 ngư cụ được sử dụng phổ biến cho việc khai thác cá trên địa bàn thành phố Cần Thơ gồm có: chài, lưới, câu, xiệc điện và đặt dớn,lú

Hình 4.7 Biểu đồ thể hiện ngư cụ đánh bắt cá theo số hộ

Hình 4.8 Biểu đồ thể hiện ngư cụ đánh bắt cá theo số trường hợp

Trang 29

Lưới giăng là ngư cụ phổ biến nhất chiếm tỷ lệ 41,4% với 82 hộ dân sử dụng Khai thác cá bằng cách đặt dớn, đặt lú được 37 hộ sử dụng (18,7%) Loại ngư cụ này được đặt dưới kênh rạch để bắt các loại cá, mùa nước cũng có thể được đặt trên ruộng Chài có 29 hộ (14,6%), câu 20 hộ (10,1%), khai thác cá bằng cách xiệc điện được 9 hộ

sử dụng (4,5%) Ngoài ra, các cách khai thác khác như: nôm, đặt lộp, đăng, vó được

21 hộ sử dụng (10,7%)

4.3.2 Nơi đánh bắt

Kết quả điều tra cho thấy trên địa bàn TP Cần Thơ có 5 loại hình thủy vực chính: sông, kênh rạch, ao, mương vườn và ruộng

Hình 4.9 Nơi đánh bắt cá của các hộ được khảo sát

Kênh rạch là nơi các hộ dân khai thác ca nhiều nhất với 47 hộ chọn làm nơi khai thác chính chiếm tỷ lệ 43,9% Thủy vực được hộ dân khai thác nhiều kế đến là ruộng với tỷ lệ 29% (31 hộ) Có 15 hộ dân (14%) khai thác trên sông do các hộ này sinh sống gần các sông lớn Còn lại 13,1% các hộ dân khai thác cá từ ao, mương vườn

Trang 30

4.4 Thành phần loài cá trên địa bàn TP Cần Thơ

Qua phỏng vấn đã xác định có 76 loài cá được xếp vào 27 họ thuộc 9 bộ cá khác nhau có mặt trên địa bàn TP Cần Thơ Sắp xếp dựa theo Mô tả định loại cá Đồng bằng Sông Cửu Long, Việt Nam của Trần Đắc Định năm 2013

4.4.1 Thành phần loài cá tính theo bộ

Hình 4.10 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ số loài cá giữa các bộ

Kết quả khảo sát cho thấy có 76 loài cá được xác định với tỷ lệ giữa các bộ như

Hình 4.10: Bộ cá chép (Order Cypriniformes), Bộ cá da trơn (Order Siluriformes) và

Bộ cá vược (Order Perciformes) có số loài bằng nhau là 22 (chiếm tỷ lệ 29%), Bộ cá mang liền (Order Synbranchiformes) có 3 loài (chiếm tỷ lệ 4%), Bộ cá lìm kìm (Order

Beloniformes) và Bộ cá thát lát (Order Osteoglossiformes) có cùng số loài là 2 (chiếm

3%), còn lại là các loài cá thuộc các bộ khác chiếm 4% gồm: Bộ cá trích (Order Clupeiformes), Bộ cá bơn (Order Pleuronectiformes) và Bộ cá nóc (Order Tetraodontiformes) mỗi bộ có 1 loài

4.4.2 Thành phần loài cá tính theo họ

Kết quả khảo sát được thể hiện ở Hình 4.11 cho thấy trong tổng số 27 họ thì họ

cá chép (Family Cyprinidae) có số lượng loài lớn nhất với 21 loài chiếm tỷ lệ 28% tổng số loài, kế đến là họ cá ngạnh (Family Bagridae) và họ cá tra (Family Pangasiidae) có số loài bằng nhau là 7 loài (9%), Họ cá rô đồng (Family Anabantidae)

với 6 loài (8%), còn lại 23 họ khác (mỗi họ từ 1 đến 3 loài) với 35 loài (46%)

Trang 31

Hình 4.11 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ số loài cá giữa các họ 4.4.3 Thành phần loài cá phân bố theo cấp độ đa dạng sinh học

Qua điều tra khảo sát cho thấy số loài cá có mặt trên địa bàn TP Cần Thơ dựa theo các cấp độ đa dạng sinh học như sau:

Hình 4.12 Biểu đồ thể hiện số loài cá theo cấp độ đa dạng sinh học

Cấp độ đa dạng sinh học trung bình tương ứng với kiểu sử dụng đất trồng cây lâu năm có số loài cá được tìm thấy cao nhất là 63 loài (chiếm 82,9% trong tổng số 76

Trang 32

kiểu sử dụng đất làm đất ở nông thôn tìm thấy 39 loài (51,3%) Cấp độ đa dạng sinh học rất thấp gồm 2 kiểu sử dụng đất là trồng cây hằng năm và nuôi thủy sản có 33 loài được tìm thấy (43,6%)

Bảng 4.2 Kết quả so sánh trung bình số loài cá theo cấp độ đa dạng sinh học

Trong cùng một cột, những số có chữ theo sau khác nhau thể hiện mức khác nhau có ý nghĩa thống kê p

= 0.05 qua phép thử Independent-Samples T Test

Qua kết quả so sánh trung bình số loài cá được tổng hợp từ phỏng vấn 107 hộ dân (tổng số mẫu N=244) ở Bảng 4.2 cho thấy trung bình số loài cá được phỏng vấn giữa cấp độ đa dạng sinh học trung bình (n=33) và đa dạng thấp (n=91) không khác biệt có ý nghĩa thống kê với trung bình số loài cá lần lượt là 43,55 và 44,3 loài - có trung bình số lượng loài cao trong các cấp đa dạng Cấp đa dạng cao (n=93) có trung bình số lượng loài thấp là 20,68 Cấp đa dạng sinh học rất thấp (n=27) có trung bình số loài thấp nhất với 13,41 loài

Thông qua kết quả khảo sát số loài tìm thấy ở Hình 4.12 và kiểm định so sánh trung bình Bảng 4.2 cho thấy sự đa dạng về số loài cá không tỷ lệ thuận với cấp độ đa dạng sinh học

4.4.4 Thành phần loài cá phân bố theo kiểu sử dụng đất

Hình 4.13 Biểu đồ thể hiện số loài cá theo các kiểu sử dụng đất

Trang 33

Kết quả khảo sát thành phần loài cá theo 5 kiểu sử dụng như sau: Kiểu sử dụng đất trồng lúa nước (bao gồm 2 loại hình thủy vực: kênh rạch, ruộng) có 62 loài cá được xác định Đất trồng cây lâu năm gồm 3 loại thủy vực (ao, mương vườn, kênh rạch) có

54 loài Đất ở nông thôn với 2 loại thủy vực (ao, mương vườn) có số lượng loài là 39 trong khi với đất trồng cây hằng năm (có kiểu thủy vực kênh rạch) con số này là 33 Thấp nhất là đất trồng cây thủy sản (thủy vực đặt trưng là ao) chỉ xác định 24 loài sinh sống trong tổng số 76 loài có mặt

Các hộ dân tham gia trả lời phỏng vấn cho rằng: Số lượng loài cá chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố: tập tính sinh học, chế độ nước, nguồn sáng, nguồn thức ăn,… loại hình thủy vực nào đáp ứng tốt các điều kiện sống của cá sẽ có nhiều loài cá sinh sống Số loài cá thường phong phú hơn trên các thủy vực nước sâu, có nguồn thức ăn dồi dào, nhất là đối với những thủy vực nước động, ở các thủy vực nước ít lưu thông

số loài cá thường ít đa dạng hơn Ngoài ra một số loài cá chỉ thích nghi với những loại hình nhất định Kiểu sử dụng đất nào tạo ra nhiều loại hình thủy vực hơn sẽ chiếm ưu thế hơn về số loài cá

Bảng 4.3 Kết quả so sánh trung bình số loài cá theo kiểu sử dụng đất

Trong cùng một cột, những số có chữ theo sau khác nhau thể hiện mức khác nhau có ý nghĩa thống kê p

= 0.05 qua phép thử Independent-Samples T Test

Kết quả so sánh trung bình số loài cá được tổng hợp từ phỏng vấn 107 hộ dân (tổng số mẫu N=244) ở Bảng 4.3 thể hiện kiểu đất ở nông thôn và đất trồng cây hằng năm không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với số loài trung bình lần lượt là 20,68 (cỡ mẫu n=93) và 16,71 (n=14) Đất trồng lúa nước có trung bình số loài cao nhất là 44,30 loài (n=91) trong khi đất trồng cây lâu năm là 43,55 loài (n=33) và giữa chúng cũng không khác biệt có ý nghĩa thống kê Đất nuôi thủy sản có số lượng trung bình loài thấp nhất 9,85 (n=13 mẫu)

Trang 34

4.4.5 Thành phần loài cá phân bố theo thủy vực

Hình 4.14 Biểu đồ thể hiện số loài cá theo các loại hình thủy vực

Có 5 loại hình thủy vực chính được xác định trong các ô khảo sát gồm: sông, kênh rạch, ruộng, ao và mương vườn Trong đó, sông và kênh rạch là loại hình thủy vực có số lượng loài cá phong phú với 75 và 65 loài, 48 loài sinh sống trong loại hình thủy vực mương vườn, ở ao có 32 loài và ở ruộng có ít loài cá sinh sống nhất với con

số là 27

Bảng 4.4 Kết quả so sánh trung bình số loài cá theo loại hình thủy vực

Trong cùng một cột, những số có chữ theo sau khác nhau thể hiện mức khác nhau có ý nghĩa thống kê p

= 0.05 qua phép thử Independent-Samples T Test

Kết quả so sánh trung bình số loài cá được tổng hợp từ phỏng vấn 107 hộ dân (tổng số mẫu N=329) ở Bảng 4.4 cho thấy loại hình thủy vực sông chiếm ưu thế nhất

về trung bình số loài cá sinh sống với 52,79 loài, cỡ mẫu n=24 Loại hình thủy vực kênh rạch đứng thứ hai với trung bình số loài là 37,25 (n=104) Thủy vực mương vườn

có số mẫu n=27 với trung bình 23,7 loài Trung bình số loài cá của ao là 17,94 (n=83) Thủy vực ruộng với cỡ mẫu n=91 có trung bình số loài thấp nhất là 14,57 loài

Trang 35

4.5 Xu hướng

4.5.1 Xu hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng

Hình 4.15 Chuyển đổi cơ cấu cây trồng

Qua điều tra khảo sát, có 2 hình thức chuyển đổi cơ cấu cây trồng chính các hộ dân áp dụng chủ yếu cho việc chuyên canh cây lúa: hình thức chuyển từ lúa 1 vụ thành lúa 2 vụ và hình thức chuyển từ làm lúa 2 thành lúa 3 vụ Hai hình thức chuyển đổi này 154 trường hợp chiếm tỷ lệ trên 90% (tổng số 171 trường hợp chuyển đổi)

Trang 36

Hình thức chuyển từ các tác lúa 1 vụ sang lúa 2 vụ có trung bình thời gian chuyển đổi là 20,4 năm

Hình thức chuyển từ làm lúa 2 vụ thành lúa 3 vụ có thời gian chuyển đổi trung bình là 11,2 năm

4.5.2 Xu hướng biến động số loài cá

Xu hướng theo biến động số loài cá được chia theo các giai đoạn tương ứng với các mốc thời gian cách đây 30-20 năm, 20-10 năm, 10 năm trở lại đây và giai đoạn hiện nay

Hình 4.17 Xu hướng biến động số lượng loài cá theo giai đoạn

Nhìn chung, số lượng loài cá giảm qua các giai đoạn: từ 75 loài ở giai đoạn 1 đến giai đoạn 4 còn 67 loài giảm 8 loài:

Từ giai đoạn 1 đến giai đoạn 2 (mốc thời gian giữa hai giai đoạn là 20 năm) số lượng loài giảm từ 76 xuống còn 71 Giai đoạn này tương ướng với thời gian chuyển đổi lúa 1 vụ thành 2 vụ với sự dần mất đi (sự mất đi ở đây có nghĩa: loài cá này không

còn tìm thấy ở TP Cần Thơ, ở những nơi khác có thể vẫn còn) của các loài cá: Cá basa (Pangasius bocourti), Cá leo (Wallago attu), Cá lóc bông (Channa micropeltes), Cá trê vàng (Clarias macrocephalus)

Từ giai đoạn 2 sang giai đoạn 3, mốc giữa hai giai đoạn là 10 năm tương ứng với thời gian từ làm lúa 2 vụ sang lúa 3 vụ, số lượng loài cá tiếp tục giảm từ 71 loài

xuống còn 65 loài Loài cá bị mất đi trong giai đoạn này là: Cá nóc (Tetraodon

Trang 37

fluviatilis), Cá sặc rằn (Trichogaster pectoralis), Cá tai tượng (Osphronemus goramy),

Cá rô biển (Pristolepis fasciatus), Cá chốt bông (Pseudomystus siamensis), Cá chạch lấu (Mastacembelus armatus)

Từ giai đoạn 3 sang giai đoạn 4, số loài cá tăng từ 65 lên 67 loài do có sự xuất

hiện vá phát triển của một số loài cá mới: Cá lau kiếng (Hypostomus plecostomus), Cá

rô phi (Oreochromis niloticus), sự xuất hiện lại của loài Cá nóc (Tetraodon fluviatilis)

Ở giai đoạn này vẫn có loài cá bị mất đi là loài Cá lia thia đồng (Betta taeniata)

Bảng 4.5 Xu hướng biến động số loài cá theo giai đoạn

Giai đoạn 1 Từ 1983 đến trước 1993 n = 107 54,13 a ± 10,328 Giai đoạn 2 Từ 1993 đến trước 2003 n = 107 51,53 a ± 10,212 Giai đoạn 3 Từ 2003 đến trước 2013 n = 107 47,83 b ± 10,728 Giai đoạn 4 Hiện nay (2013) n = 107 44,45 c ± 12,094

Trong cùng một cột, những số có chữ theo sau khác nhau thể hiện mức khác nhau có ý nghĩa thống kê p

= 0.05 qua phép thử Independent-Samples T Test

Kết quả so sánh trung bình số loài cá theo giai đoạn ở Bảng 4.5 cho thấy trung bình loài cá có xu hướng giảm theo thời gian Ở giai đoạn 1 có số lượng loài cá nhiều nhất với trung bình 54,13 loài đến giai đoạn 2 giảm còn 51,53 (kết quả kiểm định trung bình giữa giai đoạn này không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, xem như lượng giảm không đáng kể), giai đoạn 3 trung bình số loài tiếp tục giảm còn 47,83 loài và ở giai đoạn 4 con số này là 44,45 loài

4.6 Nguyên nhân suy giảm số loài cá

Hình 4.18 Nguyên nhân suy giảm cá tự nhiên

Trang 38

mức với 98 ý kiến chiếm tỷ lệ 33,5% và do làm lúa 3 vụ chiếm 32,4% với 95 ý kiến Một số ý kiến cho rằng lũ về ít nên lượng cá giảm (29 ý kiến chiếm 9,9%), 25 ý kiến

do bồi lắng sông rạch (8,5%), ảnh hưởng từ hoạt động trồng cây ăn trái, hoa màu có 14

ý kiến (4,8%) Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác (10,9%): ô nhiễm nước do chất thải từ hoạt động công nghiệp, rác thải sinh hoạt, hoạt động của máy móc và phương tiện giao thông đường thủy, sự phát triển của sinh vật ngoại lai xâm hại,…

Khai thác quá mức gây ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng cá thể trong mỗi loài Việc sử dụng những ngư cụ để đánh bắt cả cá con khiến cho số lượng cá không có khả phục hồi dẫn đến suy giảm Sử dụng xung điện, chất độc, chất nổ, để đánh bắt cá dẫn đến tình trạng nguồn lợi thủy sản bị giảm sút, một số loài có nguy cơ bị tuyệt chủng, giảm tính đa dạng sinh học

Làm lúa 3 vụ là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự suy giảm các loài cá tự nhiên

do ảnh hưởng của hóa chất sử dụng Đặc biệt, trong giai đoạn chuyển đổi từ lúa 2 vụ sang 3 vụ (cách 10 năm), các nông hộ sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật dành cho cây công nghiệp để phun xịt cho lúa, các loại thuốc này rất độc khiến nhiều loài cá bị chết khiến số lượng cá suy giảm nghiêm trọng và khó có khả năng phục hồi Hiện nay, các loại thuốc bảo vệ thực vật dành cho lúa không còn gây chết cá nhưng vẫn làm ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng và phát triển chúng Làm lúa 3 vụ làm mất nơi cư trú của cá: việc đắp đê ngăn nước để làm lúa 3 vụ không cho nước lũ rửa độc chất ra khỏi vùng sản xuất làm ô nhiễm nguồn nước, tăng lượng thuốc trừ sâu phun xịt tác động tiêu cực đến sự phát triển của cá, làm rút ngắn thời gian không có lúa trên đồng làm giảm giảm nguồn thức ăn và thời gian cư trú của cá trên đồng ruộng

Bồi lắng sông rạch và hoạt động của lũ lụt cũng có ảnh hưởng đến số lượng cá:

bờ sông rạch bị sạt lở khiến lòng sông cạn đi làm thay đổi điều kiện sống của một số loài cá sống đáy nên chúng không còn xuất hiện, còn mức lũ lụt thấp cao có tác động đến lượng cá từ thượng nguồn về trong mùa nước nổi

Ngoài ra, sự xuất hiện và phát triển của của sinh vật ngoại lai, điển hình là Cá

lau kiếng (Hypostomus plecostomus) Là loài sinh vật ngoại lai có nguồn gốc từ Nam

Mỹ, được xác định là du nhập vào nước ta từ lâu dưới dạng cá cảnh Tuy nhiên, sau một thời gian, cá lau kiếng lại được phát tán ra môi trường tự nhiên và đến nay loài cá này đã có mặt tại khắp các sông ngòi, kênh rạch, ao hồ ở nhiều địa phương trong vùng đồng bằng sông Cửu Long Theo thạc sĩ Nguyễn Quang Trung, Chi cục thủy sản thành

phố Cần Thơ: Nơi sống thích hợp của cá lau kiếng là ở sông, nơi nước chảy và ngập

úng; ăn tảo, thực vật, bùn bã hữu cơ Với tốc độ sinh sản và phát tán nhanh, cá lau kiếng có khả năng phá vỡ chuỗi thức ăn của các loài cá, cạnh tranh thức ăn, lấn át sự phát triển của các loài cá nước ngọt bản địa, đào hang gây xói mòn, sạt lở dọc bờ sông, kênh, rạch

Trang 39

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 5.1 Kết luận

Đa phần các hộ dân được khảo sát có trình độ văn hóa thấp sống dựa vào sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là trồng lúa, hoa màu, cây ăn trái chăn nuôi gia súc gia cầm

và nuôi trồng thủy sản Cây lúa chiếm một vị trí cao trong việc đem lại nguồn thu nhập cho người dân Kiểu sử dụng đất trồng lúa nước chiếm tỷ trọng cao và đang chuyển dịch theo xu hướng thâm canh, tăng vụ

Nhìn chung, cá sinh sống trên địa bàn TP Cần Thơ khá đa dạng cả về số bộ, họ

và loài Qua kết quả phỏng vấn đã xác định 9 bộ, 27 họ, 76 loài cá có mặt, chúng phân

bố trên nhiều kiểu sử dụng đất và loại hình thủy vực khác nhau tùy vào tập tính thích nghi của từng loài: phân bố nhiều nhất trên loại hình thủy vực sông, kênh rạch

Hiện trạng tài nguyên cá đang bị suy giảm cả về lượng cá thể lẫn số lượng loài với những nguyên nhân chủ yếu là do các hoạt động nông nghiệp: trồng lúa 3 vụ làm mất nơi cư trú của cá; do bồi lắng sông rạch và mực lũ thấp làm giảm lượng cá di trú; sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong canh tác ruộng lúa, trồng trọt hoa màu, cây ăn trái; đặc biệt là tình trạng khai thác quá mức với những ngư cụ hủy diệt làm cho tài nguyên cá cạn kiệt khó có thể phục hồi Ngoài ra, nguyên nhân làm suy giảm số loài cá địa

phương còn do các loài cá ngoại lai xuất hiện và phát triển mạnh (cá lau kiếng) cạnh

tranh nguồn sống với các loài cá bản địa

Số lượng loài cá có xu hướng giảm trên tất cả các kiểu sử dụng đất và loại hình

thủy vực Một số loài cá bị mất đi: cá hú , cá lóc bông, cá trê vàng, cá sặc rằn, cá tai

tượng, cá rô biển,…

Việc khai thác các loài cá tự nhiên của người dân địa phương chủ yếu bằng các loại ngư cụ truyền thống: chài, lưới, câu, đặt dớn,… Tuy nhiên vẫn có một bộ phận người dân dùng xung điện để đánh bắt làm ảnh hưởng đến nguồn lợi thủy sản địa phương và tác động xấu đến môi trường

Trang 40

Đưa ra các phương án sử dụng đất hợp lý thay thế cho kiểu sản xuất thâm canh lúa 3 vụ để tránh tác hại của loại hình sản xuất này đối với sự sinh sống của các loài cá

tự nhiên

Tuyên truyền, nâng cao ý thức người dân trong việc bảo vệ nguồn cá tự nhiên

để họ không sử dụng các loại hóa chất, xung điện đánh bắt cá

Ngày đăng: 18/09/2015, 12:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1  Sự đa dạng của cá nước ngọt ở Việt Nam - khảo sát đa dạng cá theo hiện trạng sử dụng đất và các dạng thủy vực chính tại thành phố cần thơ
Bảng 2.1 Sự đa dạng của cá nước ngọt ở Việt Nam (Trang 12)
Hình 3.1 Vị trí ô khảo sát dựa trên mức đa dạng sinh học tiềm năng - khảo sát đa dạng cá theo hiện trạng sử dụng đất và các dạng thủy vực chính tại thành phố cần thơ
Hình 3.1 Vị trí ô khảo sát dựa trên mức đa dạng sinh học tiềm năng (Trang 19)
Hình 4.1 Vị trí khảo sát thực tế và phỏng vấn hộ dân - khảo sát đa dạng cá theo hiện trạng sử dụng đất và các dạng thủy vực chính tại thành phố cần thơ
Hình 4.1 Vị trí khảo sát thực tế và phỏng vấn hộ dân (Trang 22)
Hình 4.2 Biểu đồ cơ cấu tuổi của người tham gia trả lời phỏng vấn - khảo sát đa dạng cá theo hiện trạng sử dụng đất và các dạng thủy vực chính tại thành phố cần thơ
Hình 4.2 Biểu đồ cơ cấu tuổi của người tham gia trả lời phỏng vấn (Trang 24)
Hình 4.4 Nguồn thu nhập chính của các hộ được khảo sát - khảo sát đa dạng cá theo hiện trạng sử dụng đất và các dạng thủy vực chính tại thành phố cần thơ
Hình 4.4 Nguồn thu nhập chính của các hộ được khảo sát (Trang 25)
Hình 4.3 Trình độ học vấn của người tham gia trả lời phỏng vấn - khảo sát đa dạng cá theo hiện trạng sử dụng đất và các dạng thủy vực chính tại thành phố cần thơ
Hình 4.3 Trình độ học vấn của người tham gia trả lời phỏng vấn (Trang 25)
Hình 4.5 Biểu đồ thể hiện các kiểu sử dụng đất theo số hộ - khảo sát đa dạng cá theo hiện trạng sử dụng đất và các dạng thủy vực chính tại thành phố cần thơ
Hình 4.5 Biểu đồ thể hiện các kiểu sử dụng đất theo số hộ (Trang 26)
Hình 4.6 Biểu đồ thể hiện kiểu sử dụng đất theo số trường hợp - khảo sát đa dạng cá theo hiện trạng sử dụng đất và các dạng thủy vực chính tại thành phố cần thơ
Hình 4.6 Biểu đồ thể hiện kiểu sử dụng đất theo số trường hợp (Trang 27)
Hình 4.9 Nơi đánh bắt cá của các hộ được khảo sát - khảo sát đa dạng cá theo hiện trạng sử dụng đất và các dạng thủy vực chính tại thành phố cần thơ
Hình 4.9 Nơi đánh bắt cá của các hộ được khảo sát (Trang 29)
Hình 4.10 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ số loài cá giữa các bộ - khảo sát đa dạng cá theo hiện trạng sử dụng đất và các dạng thủy vực chính tại thành phố cần thơ
Hình 4.10 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ số loài cá giữa các bộ (Trang 30)
Hình 4.11 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ số loài cá giữa các họ - khảo sát đa dạng cá theo hiện trạng sử dụng đất và các dạng thủy vực chính tại thành phố cần thơ
Hình 4.11 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ số loài cá giữa các họ (Trang 31)
Hình 4.14 Biểu đồ thể hiện số loài cá theo các loại hình thủy vực - khảo sát đa dạng cá theo hiện trạng sử dụng đất và các dạng thủy vực chính tại thành phố cần thơ
Hình 4.14 Biểu đồ thể hiện số loài cá theo các loại hình thủy vực (Trang 34)
Hình 4.15 Chuyển đổi cơ cấu cây trồng - khảo sát đa dạng cá theo hiện trạng sử dụng đất và các dạng thủy vực chính tại thành phố cần thơ
Hình 4.15 Chuyển đổi cơ cấu cây trồng (Trang 35)
Hình  thức  chuyển  từ  các  tác  lúa  1  vụ  sang  lúa  2  vụ  có  trung  bình  thời  gian  chuyển đổi là 20,4 năm - khảo sát đa dạng cá theo hiện trạng sử dụng đất và các dạng thủy vực chính tại thành phố cần thơ
nh thức chuyển từ các tác lúa 1 vụ sang lúa 2 vụ có trung bình thời gian chuyển đổi là 20,4 năm (Trang 36)
Hình 4.18 Nguyên nhân suy giảm cá tự nhiên - khảo sát đa dạng cá theo hiện trạng sử dụng đất và các dạng thủy vực chính tại thành phố cần thơ
Hình 4.18 Nguyên nhân suy giảm cá tự nhiên (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm