Ý nghĩa khoa học - Tuyển chọn các giống cây thức ăn mới, bổ sung vào bộ giống cỏ năng suất, chất lượng cao phục vụ phát triển chăn nuôi bò sữa nói riêng và chăn nuôi gia súc ăn cỏ nói c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
HOÀNG VĂN TẠO
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SẢN XUẤT ĐẶC TÍNH CHỊU HẠN VÀ LƢỢNG ĐẠM BÓN CHO MỘT SỐ CÂY THỨC ĂN
GIA SÚC TẠI NGHĨA ĐÀN, NGHỆ AN
Trang 2Công trình hoàn thành tại:
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Có thể tìm hiểu luận án tại
- Thƣ viện Quốc gia Việt Nam
- Thƣ viện Học Viện Nông nghiệp Việt Nam
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam bắt đầu chăn nuôi bò sữa từ những năm 60 của thế kỷ trước Nhưng chương trình nuôi bò sữa ở quy mô công nghiệp thì bắt đầu từ năm 2001, khi Chính phủ có riêng quyết định khuyến khích phát triển đàn bò sữa Trong 10 năm đó, tổng đàn bò sữa của nước ta đã tăng
từ 41.000 năm 2001 lên trên 145.000 con năm 2010 với tổng sản lượng sữa tươi sản xuất hàng năm tăng trên 5,5 lần, dự kiến số lượng bò sữa của Việt Nam sẽ tăng 15% từ 2010 đến 2015 và sẽ tăng 10% từ 2015 đến
2020 với sản lượng sữa sẽ đạt trên 1triệu tấn để đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng sữa của Việt Nam vào năm 2020 (Đỗ Kim Tuyên, 2009) Một trong những hạn chế cho sự phát triển chăn nuôi bò nói chung
và bò sữa nói riêng là việc đảm bảo nguồn thức ăn xanh, bởi không như các loài gia súc khác, gia súc nhai lại thức ăn xanh chiếm từ 60 - 100% khẩu phần ăn hàng ngày Nghĩa Đàn là một trong những huyện trung du miền núi nằm ở phía Bắc - Tây Bắc của tỉnh Nghệ An với đặc điểmkhí hậu, đất đai thuận lợi, chăn nuôi luôn là một ngành quan trọng trong sản xuất nông nghiệp của huyện, nên được chú trọng đầu tư và phát triển trong những năm gần đây Bò là đối tượng chăn nuôi đem lại hiệu quả cao cho người dân, tình đến nay đàn bò trong dân đã lên đến hàng ngàn Tận dụng lợi thế đó từ tháng 8 năm 2009, tại Nghệ An có một dự án lớn
về chăn nuôi bò sữa qui mô công nghiệp tập trung của công ty sữa TH được triển khai Để cung ứng đủ nguồn thức ăn cho trên 12.000 con bò sữa nhập khẩu và trên 3.000 con bê sữa mới sinh là cả một vấn đề Nếu không áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trồng trọt bằng công nghệ cao để sản xuất thức ăn thì dự án không thể có ngày hôm nay Bởi vậy, nguồn thức
ăn xanh, thức ăn thô bình quân hàng trăm tấn/ngày (Sao Mai, 2011)
Để trồng cỏ theo phương thức thâm canh, cùng với chọn giống cỏ
có khả năng chịu hạn, thì cần có kỹ thuật sản xuất tốt, trong đó bón phân
có vai trò quan trọng để cây sinh trưởng tốt cho năng suất, chất lượng cao Đối với cây trồng đạm là yếu tố chính, yếu tố quyết định sự sinh trưởng phát triển và năng suất chất lượng của cây Các loài cỏ có khả năng cho năng suất chất xanh rất cao trong 5 - 8 đợt cắt/năm nên có yêu cầu rất cao về phân khoáng nhất là phân đạm
Tuy nhiên cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu mang tính
hệ thống thực hiện để lựa chọn được bộ giống cỏ phù hợp với điều kiện sinh thái (nhất là khô hạn) tại huyện Nghĩa Đàn - Nghệ An, cũng như có những giải pháp kỹ thuật canh tác thích hợp giúp cây cỏ sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất và chất lượng cao đáp ứng được với yêu cầu
Trang 4của kế hoạch phát triển chăn nuôi bò sữa của huyện là việc làm rất cần thiết và mang tính cấp bách hiện nay
2 Mục tiêu của đề tài
- Tuyển chọn một số giống cỏ (hòa thảo và họ đậu) năng suất cao, chất lượng tốt có khả năng chịu hạn, phù hợp với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng của huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An
- Xác định mức bón phân đạm phù hợp cho các giống cỏ được chọn lọc để đảm bảo năng suất cao, chất lượng tốt và giá chi phí sản xuất thấp
- Đánh giá khả năng phát triển của các giống cây thức ăn xanh (CTAX) đã được chọn để đưa ra sản xuất đại trà
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Tuyển chọn các giống cây thức ăn mới, bổ sung vào bộ giống cỏ năng suất, chất lượng cao phục vụ phát triển chăn nuôi bò sữa nói riêng và chăn nuôi gia súc ăn cỏ nói chung của huyện Nghĩa Đàn và tỉnh Nghệ An
- Góp phần lựa chọn và phát triển các giống chịu được điều kiện khô hạn của vùng đồi núi Nghĩa Đàn, bổ sung thông tin làm cơ sở cho công tác nghiên cứu các giống cỏ, cây thức ăn chăn nuôi chịu hạn khác
- Xác định được mức bón phân đạm tối ưu cho năng suất, chất lượng tốt, giảm chi phí sản xuất và hoàn thiện quy trình kỹ thuật trồng thâm canh các giống cây thức ăn gia súc trong vùng
- Đánh giá khả năng cho năng suất và chất lượng của giống cỏ đã được chọn lọc trong sản xuất đại trà sẽ kiểm chứng lại toàn bộ các biện pháp kỹ thuật canh tác được giải quyết trong phạm vi thực hiện của đề tài và tiếp cận kế thừa của các công trình nghiên cứu trước để hoàn thiện các quy trình sản xuất cho từng giống cỏ trong vùng trên cơ sở đó khuyến cáo nhân rộng ra toàn tỉnh
- Sản phẩm thức ăn xanh từ một số giống cỏ có chất lượng cao là nguồn bổ sung dinh dưỡng một cách cân đối về hàm lượng protein thực vật cho gia súc, tạo ra sản phẩm sạch phục vụ cho xã hội góp phần xây dựng ngành chăn nuôi bò sữa phát triển ổn định và bền vững
Trang 54 Những đóng góp mới về học thuật và lý luận của đề tài
- Xác định được giống cỏ: Brachiria MulatoII; P.M Mombasa; Stylosanthes CIAT 184; Stylosanthes Ubon có khả năng chịu được điều
kiện khô hạn, năng suất cao, chất lượng tốt trồng thích hợp trên vùng đất
đỏ bazan và điều kiện thời tiết khí hậu thuộc huyện Nghĩa Đàn, bổ sung vào bộ giống cây thức ăn cho gia súc ăn cỏ của tỉnh Nghệ An
- Xác định được mức bón phân đạm là 250 kg N/ha/năm phù hợp có hiệu quả kinh tế cao đối với cỏ hòa thảo, 125 kg N/ha/năm đối với cây họ đậu trong sản xuất thâm canh các giống cỏ chọn lọc phục vụ chăn nuôi bò sữa và làm cơ sở cho việc xây dựng các quy trình trồng các giống cỏ trong phạm vi toàn tỉnh
- Xác định được hướng phát triển thâm canh một số giống cỏ trong sản xuất đại trà phục vụ chăn nuôi bò sữa của huyện Nghĩa Đàn làm cơ sở khuyến cáo rộng ra các vùng chăn nuôi gia súc ăn cỏ trong toàn tỉnh
5 Giới hạn của đề tài
- Đề tài được thực hiện từ năm 2010 - 2013, tại huyện Nghĩa Đàn, Nghệ An
- Giống cỏ nghiên cứu: 15 giống cỏ (8 giống cỏ họ hòa thảo và 7 giống
cỏ họ đậu) là vật liệu nghiên cứu ban đầu để đánh giá và tuyển chọn
- Lượng đạm bón khác nhau cho 1 số giống cỏ là biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất và chất lượng chất xanh phục vụ chăn nuôi bò sữa
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái niệm về cây thức ăn xanh và nhóm giống sử dụng trong nghiên cứu
1.1.1 Khái niệm về cây thức ăn xanh
Cây thức ăn xanh (forages) bao gồm cả các loại cây thức ăn tự
nhiên và được trồng trong điều kiện canh tác với mục đích sử dụng làm thức ăn cho gia súc, bao gồm tất cả các loài thực vật thuộc họ hoà thảo
(Grasses), họ đậu (Legumes), cây đậu thân gỗ (Tree legumes) và những
cây trồng lấy ngọn lá, thân, rễ,… có thể sử dụng được để làm thức ăn cho gia súc (chủ yếu cho động vật nhai lại) Cây thức ăn xanh được chia
ra thành 2 nhóm chính: nhóm hòa thảo và nhóm họ đậu
thí nghiệm
1.1.2.1 Brachiaria sp
Brachiaria Ruziziensis: Cỏ Ruzi có nguồn gốc từ Rwanda Hiện
tại phân bố khắp các nước Châu Phi nhiệt đới, Ấn Độ, Úc và Thái Lan,
Trang 6Phân bố ở độ cao dưới 2000m, lượng mưa hàng năm trên 1200mm, nhiệt
độ thích hợp 28-330
C, không chịu được nhiệt độ lạnh và sương muối, tính chịu hạn cao và lưu gốc qua mùa khô rất tốt Yêu cầu đất nhẹ đến trung bình, pH từ 5-6 Là giống cỏ thân bụi, trồng một lần thu hoạch nhiều năm (3-4 năm), ra hoa vào giữa tháng 10 ở đồng bằng Bắc Bộ Năng suất chất xanh từ 80-130 tấn/ha, tuỳ thuộc vào mức phân bón đầu
tư và nước tưới trong mùa khô
1.1.2.2 Panicum maximum (Panicum polygamum, Guinea grass)
Panicum maximum cv (P.M.) hay cỏ Ghinê, có số lượng nhiếm
sắc thể 2n=18, 32, 36, 48 và có nguồn gốc ở Châu Phi Các giống cỏ
P.M có thể sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện khô hạn và nóng
ẩm, nhưng không chịu được ngập úng, (Lenné and Sonoda, 1990)
1.1.2.3 Sorghum bicolor cv
Sorghum bicolor (L) Moench, tên thường gọi là Sorghum và ở
Việt nam thường gọi là cao lương Sorghum bao gồm một số giống trồng chính để lấy hạt làm lương thực cho con người, một số giống trồng làm thức ăn xanh cho chăn nuôi và một số giống bao gồm cả 2 mục đích trên
(Harada et al., 2000)
1.1.2.4 Zea mays
Cây ngô (Zea mays) là cây lương thực quan trọng ở các nước nhiệt
đới và bán nhiệt đới và là nguồn thức ăn quan trọng cho gia súc và gia cầm Nguồn gốc của cây ngô có thể từ vùng Đông Nam Á (Anderson, 1945), nhưng một số tài liệu lại cho rằng rất có thể ngô bắt nguồn từ
Mexico, Guatemala (Stadelman and Raymond, 1940; Mangelsdorf et al., 1942) Hiện nay ngô phân bố rất rộng ở các nước nhiệt đới và ôn đới
trên thế giới Ngô được trồng nhiều từ 50 độ vĩ Bắc đến 40 độ vĩ Nam và lên độ cao 3300m ở châu Mỹ
1.1.3 Đặc điểm thực vật học của các nhóm giống thuộc họ đậu thí nghiệm
1.1.3.1 Giống cỏ Stylo (Stylosanthes guianensis )
Phân bố tự nhiên ở trung và nam Mỹ, từ Brasil nhập vào Australia những năm 1930, nhưng sau chiến tranh thế giới lần thứ II mới được chú ý đến Đây là loại cây thức ăn gia súc được phát triển đáng
kể ở nhiệt đới và cận nhiệt đới, đã nhập vào nhiều nước như: Malaysia,
Công-gô, Nam Trung Quốc Giống cỏ Stylo được nhập lần đầu từ
Singapore, Australia vào Việt Nam từ năm 1967 Đây là nhóm giống cỏ bao gồm các giống mọc lưu niên nhưng cũng có giống hàng năm Hai nhóm giống Stylo đang gieo trồng phổ biến ở các nước vùng nhiệt đới là
nhóm giống thuộc giống cây lâu niên: Stylosanthes guianensis (common
Trang 7stylo), Stylosanthes scabra (Shrubby stylo) và nhóm giống cây hàng năm: Stylosanthes hamata (Caribbcan stylo), Stylosanthes humilis
(Townsville stylo)
1.1.3.2 Leucaena leucocephala
Keo dậu hay keo giậu (Leucaena leucocephala), ở Việt Nam cây
keo dậu còn có tên gọi khác là bình linh (Nam Bộ), táo nhơn (Trung Bộ) hoặc còn một số tên gọi khác keo giun hay cây bọ chit Loài cây này tại Việt Nam thường được trồng làm hàng rào nên người ta thường gọi là keo dậu Keo dậu là một loài cây thân gỗ nhỏ cao tới 5m, thuộc về chi keo dậu trong họ đậu và sinh trưởng thích hợp ở vùng nhiệt đới Cây có tán rộng, vỏ cây màu xám lá kép lông chim hai lần chẵn, trên cuống lá cấp 1 có các tuyến hình chậu (một đặc điểm điển hình thuộc phân họ trinh nữ), cuống chung dài 12-20mm, lá lông chim 4-8 đôi, lá chét 12-18 đôi gần như không cuống và hình lưỡi liềm, dài 10-15mm, rộng 3-4mm Hoa tự đầu trạng, tràng hoa màu trắng quả đậu dẹt màu nâu tạo thành chùm dài 13-14cm, rộng 15mm, đầu quả có mỏ nhọn, hạt 15-20, dẹt, lúc non màu lục, khi già màu nâu nhạt, cứng, nhẵn Mùa hoa tháng 4-6, quả tháng 7-9, quả khi hạt còn xanh có thể ăn được và thường dùng làm
thuốc trục giun, khi quả chín, hạt chuyển màu nâu đen
1.2 Tình hình nghiên cứu và chọn tạo cây thức ăn xanh trên thế giới
và giống địa phương có năng suất cao và chất lượng tốt phù hợp với các vùng sinh thái khác nhau trong cả nước Kết quả chỉ ra rằng một tập
Trang 8đoàn giống cỏ hoà thảo phong phú đã được tìm ra và rất nhiều giống đã
và đang được phát triển rộng trong sản xuất như những kết quả nghiên cứu của (Nguyễn Ngọc Hà và cs.,1985)
1.3 Ảnh hưởng của hạn đến năng suất và chất lượng cây thức ăn xanh
Trong các yếu tố ảnh hưởng của môi trường sống thì nhu cầu về nước của các giống cây trồng nông nghiệp là yếu tố giới hạn nhất đến
NS, chất lượng, hiệu quả kinh tế và khả năng cung cấp thức ăn cho con
người (Roche et al., 2009)
1.4 Ảnh hưởng của phân đạm đến năng suất và chất lượng cây thức
ăn xanh
Đạm là thành phần chính của diệp lục, nguyên sinh chất, các loại men cần thiết cho quá trình trao đổi chất trong cây Đạm trong cây thường chiếm tỷ lệ 1 - 3% trọng lượng vật chất khô Trong cây, đạm ở dạng protít đơn (các amino axít), protít kép protein) các alcaloid và Glucozit (Nguyễn Xuân Trường và cs., 2000) Theo (Nguyễn Vy và Phạm Thúy Lan, 2006) đạm có trong thành phần protein, các axit amin
và các hợp chất khác tạo nên tế bào Đạm có trong thành phần chất diệp lục, nguyên sinh chất Đạm có trong các men của cây, trong AND, ARN, nơi cư trú các thông tin di truyền của nhân bào (Ngô Thị Đào và Vũ Hữu Yêm, 2007) Cây được bón đủ đạm, lá có màu xanh tươi, sinh trưởng khỏe mạnh (Đào Văn Bảy và Phùng Tiến Đạt, 2007) Đủ đạm, chồi búp cây phát triển nhanh, cành lá, nhánh phát triển mạnh đó là cơ sở để cây trồng cho năng suất cao (Ngô Thị Đào và Vũ Hữu Yên, 2007)
1.5 Một số kết quả nghiên cứu về thức ăn gia súc và đặc điểm khí hậu đất đai vùng nghiên cứu Nghĩa Đàn
1.5.1 Một số kết quả nghiên cứu về thức ăn gia súc tại Nghĩa Đàn
Nguyễn Hữu Chí (2011), Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất chất xanh của một số giống ngô làm thức ăn cho chăn nuôi gia súc trong vụ đông tại huyện Nghĩa Đàn: Trong điều kiện vụ đông ở Nghĩa Đàn khi có điều kiện dài ngày nên trồng giống C919 ở mật độ 10,3 – 12,5 vạn cây/ha để làm thức ăn cho gia súc Còn với điều kiện ngắn ngày thì giống LVN23 có thể trồng với mật độ tối đa 13,3 vạn cây/ha mà vẫn đảm bảo được hàm lượng dinh dưỡng
1.5.2 Vị trí địa lý
Nghĩa Đàn là một huyện miền núi nằm về phía bắc của tỉnh Nghệ An, cách thành phố Vinh khoảng 120km Huyện Nghĩa Đàn nằm trong khoảng
từ 19o13’ đến 19o33’ vĩ độ Bắc và 105o18’ đến 105o35’ độ kinh Đông
Trang 91.5.3 Đặc điểm địa hình
Nghĩa Đàn có diện tích tự nhiên là 64.776 ha ha, chiếm 4,5% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Nghệ An, có quốc lộ 48 chạy dọc xuyên suốt huyện, có đường mòn Hồ Chí Minh chạy ngang, điều kiện giao thông thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu, địa điểm, thời gian nghiên cứu
2.1.1 Vật liệu nghiên cứu
Bao gồm 15 giống cỏ thí nghiệm trong đó có: 8 giống họ hòa thảo
và 7 giống cỏ họ đậu được sử dụng trong nghiên cứu ban đầu để đánh giá
và tuyển chọn những giống có tiềm năng đưa vào tiếp tục nghiên cứu trong các nội dung 2, 3 và 4
- Về phân bón: Phân đạm ure, phân lân và kaliclorua
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Công trình nghiên cứu của đề tài được tiến hành tại 2 địa điểm chính là khu vực đất tại huyện Nghĩa Đàn tỉnh Nghệ An và trong nhà lưới của Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội (nay là Học Viện Nông nghiệp Việt Nam)
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
- Thí nghiệm 1: từ tháng 2 năm 2010
- Thí nghiệm 2: từ
- Thí nghiệm 3: từ
- Thí nghiệm 4: từ
2.1.4 Nội dung nghiên cứu
Đề tài bao gồm 4 nội dung nghiên cứu và được bố trí mỗi nội dung
là 1 thí nghiệm và tổng là 4 thí nghiệm
Nội dung 1: Nghiên cứu tính năng sản xuất và chất lượng của một
số giống cỏ và cây thức ăn gia súc cho bò sữa
Nội dung 2: Đặc điểm quang hợp liên quan đến chịu hạn của một
số cỏ họ hòa thảo (Poaceae) và họ đậu (Fabaceae) thức ăn gia súc cho
bò sữa
Nội dung 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân đạm khác
nhau đến khả năng sản xuất của một số giống cỏ trên vùng đất Nghĩa
Đàn – Nghệ An
Nội dung 4: Xây dựng mô hình sản xuất của các giống cỏ thí nghiệm trên vùng đất Nghĩa Đàn – Nghệ An
Trang 102.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu khả năng sản xuất, chất lượng của một
số giống cỏ và cây thức ăn gia súc cho bò sữa tại huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An
Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) mỗi giống thí nghiệm được trồng riêng rẽ trong 1 ô và được lặp lại 3 lần, tổng
số ô thí nghiệm là 45 ô Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 30 m2, trên tổng diện diện tích thí nghiệm là 2100m2 (bao gồm các hàng bảo vệ)
2.2.2 Thí nghiệm 2: Đặc điểm quang hợp liên quan đến chịu hạn của một số cỏ họ hòa thảo (Poaceae) và họ đậu (Fabaceae) thức ăn gia súc cho bò sữa
2.2.2.1 Thiết kế thí nghiệm cho các giống cỏ thí nghiệm
Thí nghiệm được thiết kế với 2 công thức thí nghiệm là:
1) H0 và H1 được sử dụng là yếu tố chính Trong đó:
(i) H0: Công thức Đối chứng (không xử lý hạn)
(ii) H1: Công thức xử lý hạn với mức là 60Kpa
Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB), 4 giống cỏ sử dụng trong thí nghiệm là các giống có các đặc điểm năng suất, chất lượng và tính chịu hạn cao được chọn lọc từ thí nghiệm 1 và 2 Mỗi giống thí nghiệm được bố trí theo 6 công thức, cỏ hòa thảo: (i)
Không bón (đối chứng), (ii) Bón 50 kg N/ha/năm, (iii) Bón 100 kg N/ha/năm, (iv) Bón 150 kg N/ha/năm, (v) Bón 200 kg N/ha/năm và (vi) Bón 250 kgN/ha/năm
Cây họ đậu: (i) Không bón (đối chứng), (ii) Bón 25 kg N/ha/năm, (iii) Bón 50 kg N/ha/năm, (iv) Bón 75 kg N/ha/năm, (v) Bón 100 kgN/ha/năm và (vi) Bón 125 kgN/ha/năm
Mỗi giống thí nghiệm được trồng riêng rẽ trong 1 ô và được lặp lại 3 lần, tổng số ô thí nghiệm là 18 ô thí nghiệm/giống Diện tích mỗi ô thí nghiệm
là 150 m2, trên tổng diện diện tích thí nghiệm là 3000m2 (bao gồm cả các hàng bảo vệ)
2.2.4 Thí nghiệm 4: Xây dựng mô hình sản xuất của bộ giống cỏ thí nghiệm tại vùng đất Nghĩa Đàn
- Thí nghiệm được tiến hành tại các khu vực sản xuất thức ăn xanh
Trang 11cho bò sữa của Công ty Cổ phần Sữa TH True Milk trên địa bàn huyện Nghĩa Đàn, Tỉnh Nghệ An từ tháng 5/2012 đến tháng 5/2013 với cách tiếp cận là lựa chọn các giống có khả năng chịu hạn cao hơn và mức phân bón
mà các giống đó và mức phân bón đó được đánh giá là phù hợp về cả tiêu chí kỹ thuật và kinh tế trong sản xuất mô hình ngay tại vùng chăn nuôi bò sữa trọng điểm ở các thí nghiệm 2 và thí nghiệm 3 trong nghiên cứu này
- Giống thí nghiệm trong sản xuất đại trà: 4 giống cỏ: Brachiaria Mulato II; Panicum maximum Mombasa, Stylosanthes guianensis CIAT
184 và Stylosanthes guianensis Ubon
- Diện tích thí nghiệm (bảng 2.1)
Bảng 2.1 Diện tích sử dụng trong thí nghiệm 4
STT Giống cỏ thí nghiệm Diện tích (ha)
3 Stylosanthes guianensis CIAT 184 1,0
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Khả năng sản xuất và chất lượng của một số giống cỏ, cây thức
ăn gia súc cho bò sữa tại huyện Nghĩa Đàn
độ đồng đều của thảm cỏ và sẽ có ý nghĩa đặc biệt khi gieo trồng trong điều kiện sản xuất ở quy mô lớn áp dụng công nghiệp hóa
3.1.2 Năng suất chất xanh, năng suất protein của các giống cỏ thí nghiệm
Năng suất trung bình trong năm các giống cỏ họ đậu khác nhau rất
rõ rệt giống cỏ có năng suất trung bình cao nhất là các giống: cỏ Stylo CIAT 184 (31,17 tấn/ha/lứa cắt); Stylo Ubon (29,79 tấn/ha/lứa cắt), còn thấp nhất là cỏ Croataria (4,07 tấn/ha/lứa cắt) và cỏ Sardy ten chỉ đạt 1,18 tấn/ha/lứa cắt
Năng suất protein thô là yếu tố rất quan trọng để lựa chọn và sản xuất cây thức ăn gia súc cho chăn nuôi bò sữa Sản lượng protein ở họ
Trang 12hòa thảo 2,3-7,7 tấn/ha/năm và cao nhất là Panicum maximum Mombasa 7,7 tấn/ha/năm Đối với 3 giống cỏ Panicum maximum Mombasa có năng suất protein cao hơn so với Panicum maximum TD58 là 1,0
tấn/ha/năm NS protein ở các giống cỏ/cây họ đậu 0,1- 4,5 tấn/ha/năm
Hai giống cỏ Stylsanthes guianesis CIAT 184 và Stylsanthes guianesis
Ubon có sản lượng Protein là cao hơn so với tất cả các giống còn lại, cả hai giống đạt 3,3 tấn/ha/năm
3.1.3 Thành phần hóa học và dinh dưỡng của các giống cỏ thí nghiệm
Kết quả phân tích thành phần hóa học và dinh dưỡng của cỏ ở độ tuổi thu hoạch cho thấy vật chất khô (VCK) là yếu tố quan trọng, cho biết được tổng lượng chất khô thu được trên 1 đơn vị diện tích gieo trồng và tương ứng với số lượng có thể cung cấp cho gia súc sử dụng Kết quả bảng 3.4 đã chỉ ra rằng ở họ hòa thảo tỷ lệ vật chất khô biến động từ 19,61- 23,1%, thấp nhất là cao lương (19,61%) và cao nhất là cỏ voi (23,1%) Tỷ lệ vật chất khô trong ba giống họ ghine cao nhất là Ghine Mombasa và thấp nhất là Ghine purple TD58 Đối với các giống họ đậu: Tỷ lệ vật chất khô biến động từ 18,54 - 26,12%, thấp nhất là giống Sardy Ten (18,54%) và cao nhất là giống
Burgady bean (26,12%) Đối với hai giống Stylo thì Stylo Ubon (23,51%)
cho tỷ lệ vật chất khô cao hơn Stylo Ciat 184 (21,69%)
Hàm lượng protein thô chứa trong phần thu cắt chất xanh của các
giống cỏ hòa thảo biến động từ 8,2%-13,8%, cao nhất là giống P Purpureum
cv 13,8%, thấp nhất là giống ngô C919 8,2% Hàm lượng này được xem xét
là phù hợp cho chăn nuôi bò sữa vì nếu như hàm lượng protein thô trong cỏ nhỏ hơn 7% sẽ làm giảm lượng ăn vào hàng ngày của gia súc (Milford và
Minson, 1966) Về năng lượng trao đổi (ME) cao nhất là giống P purpreum cv: 2.127,0 và thấp nhất là giống P.M TD58: 1919 Kcal Kết quả phân tích
cho thấy rằng các giống cỏ họ đậu chứa hàm lượng protein thô khá cao từ
14,3-26% đặc biệt là giống L Leucocephala hàm lượng protein thô cao nhất đạt 26%, giống thấp là Stylosanthes 13,3% nhất (tính theo VCK) Giống cỏ Stylosanthes guianensis Ubon và Stylosanthes guianensis CIAT 184 trong
nghiên cứu này chứa hàm lượng protein thô khá cao (14,3 %- 16,1%), tỷ lệ này tương đương với nhiều báo cáo đã được công bố trong cả nước Năng lượng trao đổi (ME) trong các giống cỏ họ đậu thí nghiệm dao động từ 1815,0
đến 2631,0 ME cao nhất là giống L Leucocephala 2.631,0, thấp nhất là giống Stylosanthes guianensis Ubon 1815,0
Chất béo trong cây cung cấp một số axit béo giúp cho động vật dễ tiêu hoá, kích thích tiêu hoá Ở họ hoà thảo, tỷ lệ chất béo từ 0,07 - 2,17%,
Trang 13thấp nhất là ghine purple TD58 (0,07%), cao nhất là cao lương (2,17%) Đối với ghine mombasa và mulato II thì tỷ lệ chất béo khá cao, tương ứng là 1,95 và 1,6% Cây họ đậu tỷ lệ chất béo cao hơn so với họ hoà thảo, tỷ lệ chất béo trong họ đậu từ 0,82 - 4,91%
Tro là chất khoáng vô cơ trong cây thức ăn gia súc, cung cấp K và Na
Ở họ hoà thảo, tỷ lệ tro từ 6,28-13,33%, thấp nhất là ngô C919 với 6,28%, cao nhất là mulato II với 13,33% mhine mombasa có tỷ lệ tro khá cao là 6,63% Hàm lượng Ca, P là chất khoáng rất cần thiết cho tiêu hoá và tăng trưởng, ở
họ hoà thảo và họ đậu có tỷ lệ Ca và P gần tương đương nhau
NDF là xơ tẩy trung tính, thể hiện chất xơ tiêu hóa được trong dạ dày của gia súc, NDF cao thì khả năng tiêu hoá càng lớn Nhìn chung ở cây họ hoà thảo có tỷ lệ NDF cao hơn so với họ đậu
ADF là chất xơ tẩy axit, không tiêu hoá được trong môi trường dạ
cỏ nhưng tiêu hoá được trong môi trường axit, nếu ADF quá cao thì không tốt cho gia súc Ở họ hoà thảo, ADF từ 61,97-78,45%, ở họ đậu ADF từ 36,1-72,17%
ADL tiêu hoá được trong môi trường axít, nếu ADL quá cao thì chất lượng cây thức ăn gia súc kém và ngược lại Ở họ hoà thảo, ADL từ 7,07-17,08% Cỏ mulato II và ghine mombasa có tỷ lệ ADL thấp, tương ứng là 7,07% và 7,64% Ở họ đậu, ADL từ 5,75-19,9%, thấp nhất là Stylo Ubon với 5,75%
ME là năng lượng trao đổi trong cây thức ăn mà gia súc sử dụng, đây là chỉ tiêu rất quan trọng, ME trong cây thức ăn gia súc càng cao thì chất lượng càng tốt và ngược lại ME trong chất khô của họ hoà thảo và
họ đậu là khá cao, từ 1874 (Stylo Ciat 184)-2631Kcal/kg chất khô (keo dậu) Còn ME trong chất xanh từ 396,08 (Ghine purple TD58)-550,61 Kcal/kg chất xanh (Burgady bean)
3.1.4 Tình hình sâu bệnh
Trong quá trình theo dõi về ảnh hưởng của sâu bệnh kết quả cho thấy phát hiện một số loại sâu bệnh hại như sâu xanh, sâu xám, bệnh thán thư…tuy nhiên các loại sâu bệnh đó thường xuất hiện và gây hại ở mức độ nhẹ và ở giai đoạn sau trồng
3.2 Đặc điểm quang hợp liên quan đến chịu hạn của một số cỏ họ hòa thảo (Poaceae) và họ đậu (Fabaceae) thức ăn gia súc cho bò sữa
3.2.1 Cường độ quang hợp và các yếu tố
3.2.1.1 Cường độ quang hợp của các giống cỏ thí nghiệm
Quang hợp có vai trò vô cùng quan trọng đến sinh trưởng, phát
-95% chất khô cây xanh tổng hợp được từ