BỘ Y TÊ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘIÃ*> ỊŨŨỊ «é> NGUYỄN VIỆT CƯỜNG KHẢO SÁT TÌNH HÌNH s ử DỤNG KHÁNG SINH ĐIỂU TRỊ BỆNH NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP Ở TRẺ EM DƯỚI 5 Tuổi TẠI KHOA NHI BỆNH VIỆN TỈNH
Trang 1BỘ Y TÊ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI
Ã*> ỊŨŨỊ «é>
NGUYỄN VIỆT CƯỜNG
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH s ử DỤNG KHÁNG SINH ĐIỂU TRỊ BỆNH NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP Ở TRẺ EM DƯỚI 5 Tuổi
TẠI KHOA NHI BỆNH VIỆN TỈNH BẮC NINH
VÀ KHOA NHI BỆNH VIỆN HUYỆN TIÊN DU NĂM 2003
(KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Dược sĩK H O Ả ỉ 999-2004)
* Người hướng dẫn : ThS Nguyễn Thị Thanh Hương
* Nơi thực hiện : Bộ môn Quản lý và Kinh tế Dược
* Thời gian thực hiện: 0
Hà Nội, tháng (
■
Trang 2dcÂM ƠQl
^ jồi rXÌn tră n irở n Ịi lu ìif tẴ lòềiự, l%ifí ốn ẫ iĩii ằắe ỈJắi:
- 0/tếểi' Jể tâtợểểựễết Ị7 /ỉ/ (T /ĩếĩti/i 7ổểể'ế9íi(/ — éỉ/V hiự íữêểt (Bộ Q íiíỉểt ẨỈẩ/ ímì It/ểi/t
fê'<^ỉfểWe tâtựểểử/ ềTếĩ fể«/'ứ f/ẻp /ĩ/úỉểiự í/ẩềt Ểậềt ểìềtÁ &à ạìàếtÁ ểtÁì/ếể f/t/9'í ạ/iiềt ế/Sểểp đTá' ểâ/ ffr?ểiự áư áỉ ạ /là ỉềùềĩA f/uế'ử ú/ẻểt ắĩÂiứr /ềểâềt ểíứ ffợÁ/êp ềtàự
- (Bàe ắự tâíợiẩựễềt íừ ăềt Ị7ểfỉ/t - Qề^ẩkhiự pAềỳsiự Ếẩnự /fífp (BẻềtA ẩÙêềt /iíểí/ẻẩề CTíéểể (ữư
- £7/ĩếểe Jự tâíựiểựễềt ÍỈSàsi ^ổf/ểfự “ Ợ)/tế)ftế/ ^Kẻ /rrýỢử/r tâstự /itfp (Bẻết/ể íũéềt fíẩf/f
(B ưe tfúVf/r
- (Bàe áậ rflựfiụ/ềt Q/fff Qihảở — ^ /tớ lỉ Ọ ữ t/ (BềếtA tùêết í/ếtÁ (8ếfế? tfí/ễt/t
ẨỈIÌ fi/iíĩ'f i(/ Siựí/êế íTếĩ fợớ đ ĩềiể íưêềt /Â i/âềt Ạ / ÍMÌ eếí ếiÁ/7'f tự i/ &/éềể ếTểĩểtạ Ợếíp ỢMự ấềÍẩể ớ/tớ f â / fềW tự ạ iể à M ểtA f/tể/'e ểùềềt ế tề Ếà/ ềiàự
£7ể5/ etlnụ dcin tră n tr&ềiỊ} eÂm đn :
(Bếiềt ế//fỉSM ỉiểé/ể &fv/'ffoĩự s& a/ ỉtớ e ^Dưktế
f/fếểẩ/ eâ ạ /á n , ớtíểt â é p /ĩớ ft(/ /w ềt — ểrưằếtự <&ại /iế9{' d )f/’ ếfc' ếTếĩ ế/ọự ế/á ỨÁ/
/ưíf}ý ựíiíp đ íĩ fàể áuàí ỉ/ufá ạ/asi Aọe fập f ạ / ểnể&ềtự
ẽếíử f/tếỉự eâ ạ/ềíở fềW iự (Bậ m âst Qíểếht /ể j fU/ /k/sỉA Ểề'fZ)iẩ&è
@/tư m ẹ, ớếíử lểẩi/i e / t / fềW tự ạ /ư ếtĩếi/t đ ã ỢểVểp đđỹý ếTâstự ít/êểt, &/ffểẩ/êft
ểâ / ểr/vstự á ểể rì/ ự/ếíềi ểắ ĩ /tế9ứ /ộ p
'Jôà Qlộỉ ếiụủụ 20 tháng, 5 nãm 2004
Sinh viên Nguyễn Việt Cường
Trang 3MỤC LỤC
Trang
1.1.1 Đặc điểm giải phẫu sinh lý bộ phân hô hấp trẻ em 2
1.3.3 Kháng sinh trong điều trị nhiễm khuẩn hô hấp trẻ em 91.3.4 Lựa chọn kháng sinh theo loại vi sinh gây bệnh 101.3.5 Tinh hình kháng kháng sinh của vi khuẩn 111.4 Một vài nét về Bệnh viện tỉnh Bắc Ninh và Bệnh viện 12huyện Tiên Du
PHẦN II: ĐỔI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u 13
2.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 14
Trang 4PHẦN III: KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u 15
3.1.2 Mô hình bệnh tật tại 2 bệnh viện năm 2003 183.1.3 Tỷ lệ bệnh nhân nhiễm khuẩn hô hấp điều trị tại khoa nhi
3.2 Tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị nhiễm khuẩn
3.2.3 10 thuốc sử dụng nhiều nhất tại mỗi bệnh viện 23
3.2.6 Tần suất sử dụng kháng sinh tại khoa Nhi 2 bệnh viện 27
3.2.10 Thời gian điều trị và chi phí sử dụng thuốc kháng sinh 32
3.3 Mối liên quan giữa mô hình bệnh tật và thuốc sử dụng tại
Trang 5CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ARI Acute Respữatory Infection
ICD International Classiíication DiseasesUBND u ỷ Ban Nhân Dân
STT Số thứ tự
NKHHT Nhiễm khuẩn hô hấp trên
VPQ Viêm phế quản
H influenzae Haemophilus influenzae
s pneumoniae Streptococcus Pneumoniae
M catarrhalis Moraxella catarrhalis
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỂ
Nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ em hiện nay là vấn đề không những Việt Nam
mà ngay cả thế giới rất quan tâm Việt Nam và Tổ chức y tế thế giới đều đã có chương trình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính nhằm bảo vệ trẻ em dưới 5 tuổi mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính [10]
Theo số liệu của Tổ chức y tế thế giới, hàng năm có khoảng 13 triệu trẻ dưới 5 tuổi tử vong do mọi nguyên nhân thì có 4,3 triệu trẻ tử vong do viêmphổi (chiếm 30 %) Ở các nước đang phát triển, tỷ lệ mắc và tử vong do viêm phổi cao hơn nhiều lần so với các nước đã phát triển Tại Việt Nam theo thống
kê của chương trình phòng chống viêm phổi thì trung bình mỗi năm 1 đứa trẻ
có thể mắc nhiễm khuẩn hô hấp từ 3-5 lần trong đó 1-2 lần là viêm phổi.[18].Nguyên nhân của bệnh nhiễm khuẩn hô hấp trẻ em chủ yếu là do vi khuẩn và virus gây ra sử dụng kháng sinh hợp lý là yếu tố quan trọng trong điều trị bệnh Hiện nay việc lạm dụng kháng sinh và lựa chọn kháng sinh không hợp lý là nguy cơ gây ra các chủng vi khuẩn kháng thuốc, mặt khác cũng gây lãng phí và các tác dụng không mong muốn cho bệnh nhân đặc biệt
là trẻ em
Để góp phần đánh giá việc sử dụng kháng sinh trong điều trị nhiễm
khuẩn hô hấp ở trẻ em đề tài “Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh điều trị nhỉễm khuẩn hô hấp ở trẻ em dưới 5 tuổi tại khoa Nhi Bệnh viện tỉnh Bắc Ninh và khoa Nhi Bệnh viện huyện Tiên Du” được thực hiện với các
mục tiêu:
- Tìm hiểu tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị nhiễm khuẩn hô hấp trẻ
em dưới 5 tuổi tại khoa Nhi Bệnh viện Bắc Ninh và Bệnh viện Tiên Du
- Tìm hiểu mối liên quan giữa mô hình bệnh nhiễm khuẩn hô hấp và thuốc
kháng sinh sử dụng trong điều trị ở trẻ em dưới 5 tuổi
- Đưa ra một số ý kiến đề xuất giúp cho việc quản lý sử dụng kháng sinh trong điều trị nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ em dưới 5 tuổi
Trang 7PHẦNI
T Ổ N G Q U A N
1.1 BỆNH NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP TRẺ EM
1.1.1 Đặc điểm giải phẫu sinh lý bộ phận hô hấp trẻ em [17]
Bộ phận hô hấp bao gồm các phần của đường dẫn khí từ mũi họng, thanh quản, khí quản, phế quản đến phổi và màng phổi
Bộ phận hô hấp trẻ em khác với người lớn, không những nhỏ hơn về kích thước mà còn có những đặc điểm riêng biệt về giải phẫu và sinh lý bởi vì các
tổ chức tế bào của bộ phận hô hấp nói chung và phổi nói riêng chưa hoàn toàn biệt hoá và đang ở giai đoạn phát triển
1.1.2 Nguyên nhân gây bệnh [5] [7] [8] [17] [18] [26]
Nguyên nhân gây nhiễm khuẩn hô hấp trẻ em chủ yếu do vi khuẩn và virus Ngoài ra nấm, Mycoplasma và ký sinh trùng có thể gây viêm phổi nhưng tỷ lệ này thấp
• Những virus thường gặp gây nhiễm khuẩn hô hấp trẻ em là
- Virus hợp bào hô hấp (Respiratory Syncitial Virus)
- Virus cúm (Influenzae virus)
- Virus á cúm (Parainfluenzae virus)
- Virus hạch (Adenovirus)
- Virus sởi
- Enterovirus
• Ở các nước đang phát triển như nước ta nguyên nhân vi khuẩn vẫn chiếm tỷ
lệ cao trong nhiễm khuẩn hô hấp trẻ em Các vi khuẩn thường gặp gây nhiễm khuẩn hô hấp trẻ em là:
- s Pneumoniae, H Infỉuenzae, M Catarrhalis là những vi khuẩn hay gặp
nhất, từ 6 tuổi trở lên viêm phổi do H Influenzae ít gặp
2
Trang 8- Staphylococcus aureus, vi khuẩn gram (-) (Klebsiella, E coli) thường gây
nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ em dưới 6 tháng tuổi, các vi khuẩn này cũng thường
là nguyên nhân gây nhiễm khuẩn hô hấp mắc phải ở bệnh viện
- Pneumocystis carinỉi có thể gặp ở trẻ suy giảm miễn dịch, đang dùng
corticoid
- Một số vi khuẩn đường ruột và vi khuẩn thuộc nhóm khác cũng có thể là căn nguyên gây nhiễm khuẩn đường hô hấp
- Mycoplasma thường gặp ở trẻ viêm phổi trên 5 tuổi.
Theo nghiên cứu của Phan Lê Thanh Hương tại Viện Nhi Quốc Gia, phân lập vi khẩn gây bệnh với bệnh phẩm là dịch tỵ hầu trẻ dưới 5 tuổi bị viêm phổi Có 56,7 % số bệnh phẩm phân lập được vi khuẩn Tỷ lệ phân lập từng vi khuẩn thể hiện ở bảng sau
Bảng 1.1: Tỷ lệ vi khuẩn phân lập được ở Viện Nhi Quốc Gia năm 2003
Tác giả cũng kết luận H Influenzae, s Pneumoniae có thể gặp ở mọi lứa
tuổi song phổ biến nhất là từ 6 - 24 tháng tuổi
Theo Đỗ Thị Thanh Xuân nghiên cứu lấy dịch tiết đường thở từ vùng mũi họng của 558 trẻ viêm phổi từ 1 - 5 tuổi điều trị tại khoa nhi Bệnh viện Bạch
Trang 9Mai có 51,9 % cho kết quả dương tính trong đó tỷ lệ của từng loại vi khuẩn
được thể hiện ở bảng 1.2.
Bảng 1.2: Tỷ lệ vi khuẩn phân lập được ở khoa Nhi
Bệnh viện Bạch Mai năm 2000
1.1.3 Các yếu tố nguy cơ [17]
Nhiều công trình nghiên cứu ở cắc nước đang phát triển và ở nước ta đều
có nhận xét chung về các yếu tố dễ gây nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ, các yếu tố
đó là:
- Trẻ thiếu cân: dưới 2.500g
- Suy dinh dưỡng
- Không được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ
- ô nhiễm nội thất, khói bụi trong nhà
- Thuốc lá
- Thời tiết lạnh, thay đổi
- Ngoài ra: nhà ở chật chội, thiếu vệ sinh, đòi sống kinh tế thấp, thiếu Vitamin A cũng là những yếu tố nguy cơ gây nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ
Trang 10• Phân loại theo vị trí giải phẫu
- Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên bao gồm viêm mũi họng, VA, viêm amidan, viêm tai giữa, các trường hợp ho, cảm lạnh
- Nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới ít gặp hơn nhưng thường là nặng bao gồm các trường hợp: viêm thanh quản, viêm khí quản, viêm phế quản, viêm tiểu phế quản viêm phổi và viêm màng phổi,
• Đối với bệnh viêm phổi có các cách phân loại như sau
- Theo tổn thương giải phẫu bệnh
+ Viêm phổi thuỳ
+ Viêm phế quản phổi
- Theo nguyên nhân gây bệnh
+ Viêm phổi do phế cầu
+ Viêm phổi do tụ cầu
+ Viêm phổi do vi khuẩn kỵ khí
+ Viêm phổi do virus
- Theo biểu hiện lâm sàng
+ Viêm phổi thể điển hình
+ Viêm phổi thể không điển hình
- Theo nơi mắc bệnh
+ Viêm phổi mắc phải tại cộng đồng
+ Viêm phổi mắc phải tại bệnh viện
• Phân loại theo mức độ nặng nhẹ
Để xử trí kịp thời các trường hợp nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, Tổ chức y
tế thế giới đã đưa ra phác đồ phân loại các trường hợp nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính như sau:
- Không viêm phổi (nhiễm khuẩn hô hấp nhẹ) Trẻ chỉ có dấu hiệu ho, chảy nước mũi, không thở nhanh, không rút lõm lồng ngực
Trang 11- Viêm phổi (nhiễm khuẩn hô hấp thể vừa) Trẻ có dấu hiệu thở nhanh, không rút lõm lồng ngực.
- Viêm phổi nặng (nhiễm khuẩn hô hấp thể nặng) Trẻ có dấu hiệu rút lõm lồng ngực
- Viêm phổi rất nặng: Nếu trẻ có một trong các dấu hiệu sau: Không uống được, co giật, ngủ li bì khó đánh thức, thở rít khi nằm yên, suy dinh dưỡng nặng Ở trẻ nhỏ dưới 2 tháng tuổi có dấu hiệu bỏ bú, sốt hoặc hạ nhiệt, thở khò khè
Bảng 1.3: Tỷ lệ đến khám vì nhiễm khuẩn hô hấp tại 1 số nước năm 1991
6
Trang 12Bảng 1.4 : Số lần mắc nhiễm khuẩn hô hấp trong 100 trẻ
tại 1 số nước năm 1991
Theo Tổ chức y tế thế giới (1993), các nguyên nhân gây tử vong cho trẻ dưới
5 tuổi là viêm phổi (35 %), tiêu chảy (22 %), liên quan đến sinh đẻ (17%), sau
đó đến các bệnh tật khác
1.2.2 Tại Việt Nam [18] [10] [15] [24]
Việt Nam là 1 nước đang phát triển nên cũng có mô hình bệnh tật của 1 nước đang phát triển Bệnh đường hô hấp (chủ yếu là viêm phổi) vẫn chiếm tỷ
lệ cao Theo Nguyễn Thu Nhạn và cộng sự nghiên cứu mô hình bệnh tật trẻ
em Việt Nam hai năm 1998 - 1999 cho thấy bệnh hô hấp chiếm tỷ lệ cao (33%) chỉ sau bệnh đường tiêu hoá (34%)
Theo một nghiên cứu khác tại Việt Nam có 8 - 10 triệu lần trẻ mắc nhiễm khuẩn hô hấp Trẻ dưới 5 tuổi tử vong mỗi năm do viêm phổi là 25.000 đến 30.000 trẻ Tử vong chung của trẻ dưới 5 tuổi là 12,75 phần nghìn còn tử
vong do nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ dưới 5 tuổi là 5,2 phần nghìn.
Năm 1996 : + Tại Bệnh viện Xanh phôn:
Tử vong do - = - = 10,2
Bệnh tiêu chảy 52
Trang 13+ Tại Bệnh viện Bắc Ninh.
Tử vong do viêm phổi là 3/8 trẻ = 31 %
Do tầm quan trọng của bệnh nhiễm khuẩn hô hấp, ở Việt Nam đã có
chương trình quốc gia phòng chống bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính(chương trình ARI (Acute Respiratory Infection) Chương trình bắt đầu từ năm 1984 dưới sự tài trợ của UNICEF Trong điều kiện kinh phí chương trình hoạt động giảm đi đáng kể so với những năm trước, chủ yếu dựa vào kinh phí của Chính phủ qua vốn vay Ngân hàng Thế Giới và từ ngân sách Bộ y tế, nhưng mọi hoạt động của chương trình trên toàn quốc vẫn được duy trì Chương trình ARI quốc gia cũng đã đưa ra phác đồ xử lý trẻ viêm đường hô
hấp cấp tính nhằm giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi do
nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (Phụ lục 1)
1.3.2 Nguyên tắc phối hợp kháng sinh [3] [11]
Thường dùng 1 kháng sinh, lựa chọn đúng và đủ liều là có kết quả Chỉ những trường hợp nặng mới dùng phối hợp
Mục đích của việc phối hợp kháng sinh là nới rộng phổ tác dụng, tănghiệu quả điều trị và giảm tính kháng thuốc
- Các phối hợp tạo tác dụng hiệp đồng là: các Penicillin với các Aminosid, Sulfamethoxazol với Trimethoprim
Trang 14- Các phối hợp gây tác dụng đối kháng là:
+ Kháng sinh kìm khuẩn với kháng sinh diệt khuẩn (ví dụ: Penicillin với Tetracyclin)
+ Các kháng sinh có cùng đích tác dụng (ví dụ: Erythromycin với nhóm Lincosamid hoặc với Chloramphenicol)
+ Các tương kỵ với nhau (ví dụ: Gentamicin với Penicillin) không nên trộn lẫn các thuốc này trong cùng 1 bơm tiêm hoặc dịch truyền để tránh làm mất tác dụng của thuốc
1.3.3 Kháng sinh trong điều trị nhiễm khuẩn hô hấp trẻ em [17]
Theo Tổ chức y tế thế giới kháng sinh sử dụng điều trị nhiễm khuẩn hô hấp có thể chia ra làm 2 loại:
- Kháng sinh tuyến 1 (điều trị các trường hợp viêm phổi nhẹ) tại cơ sở như Cotrimoxazol, Amoxicilin không nên dùng Cotrimoxazol với trẻ đẻ non
Trường hợp viêm tai giữa cấp có thể dùng các loại kháng sinh Amoxicilin, Ampicilin, hoặc Cotrimoxazol
Trang 151.3.4 Lựa chọn kháng sinh theo loại vi sinh yật gây bệnh [12]
Bảng 1.5 : Các kháng sinh được lựa chọn theo loại vi sinh vật gây viêm phổi
s pneumoniae Penicillin G hay V loại uống, hoặc Erythromycin,
Cephalosporin
H.influenzae Ceíotaxim hoặc Cefuroxim
Tụ cầu vàng
- Với chủng không sản xuất Penicillinase:
Penicillin G hay V loại uống hoặc Cephalosporin -Với chủng sản xuất Penicillinase:
loại Penicillin chống lại Penicillinase hoặc Cephalosporin
- Với loại chống Methicilin: Vacomycin
Klebsiella pneumoniae
Hay dùng: Ceíotaxim, Ceítriaxon, Ceftazidim Với nhiễm khuẩn nặng dùng Cephalosporin + Aminosid, Ampicilin - Sulbactam (hoặc Ticarcillin, Clavulanic acid), Amoxicilin - Clavulanic acid)
E coli Như với Klebsiella pneumoniae
Pseudomonas
aeruginosa
Betalactam phổ rộng phối hợp với Aminosid
Vi khuẩn kỵ khí Pinicillin G hoặc: Clindamycin, Chloramphenicol,
Metroniazol với Pinicillin
Mycoplasma Erythromycin, Tetracyclin, Doxyciclin
Các chủng Legionella Erythromycin, Cotrimoxazol
Chlamydiae
pneumoniae
Tetracyclin, Erythromycin, Clarithromycin
1Q
Trang 16Moraxella catarrhalis Cotrimoxazol, Amoxicillin - Clavulanic acid,
Erythromycin, Tetracyclin, Ceíuroxim
Pneumicystis carinii Cotrimoxazol
1.3.5 Tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn [16]
Việc lựa chọn kháng sinh không hợp lý và lạm dụng kháng sinh trong điều trị là những nguyên nhân gia tăng tính kháng thuốc của vi khuẩn Theo một số tác giả nghiên cứu tình hình kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn phân lập dược tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2003 thì tình hình đề kháng của 3 loại vi khuẩn hay gặp trong nhiễm khuẩn hô hấp như sau:
Bảng 1.6 : Tình hình kháng kháng sinh tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2003
Trang 171.4 MỘT VÀO NÉT VỂ BỆNH VIỆN BẮC NINH VÀ BỆNH VIỆN TIÊN DU
- Bệnh viện tỉnh Bắc Ninh là Bệnh viện đa khoa hạng II Bệnh viện nằm trên địa bàn thị xã Bắc Ninh, cách Hà Nội 30 km về phía Bắc Số cán bộ bệnh viện
được thể hiện ở bảng 1.7.
- Bệnh viện huyện Tiên Du là bệnh viện đa khoa hạng III Bệnh viện nằm tại Thị trấn Lim - Huyện Tiên Du - Tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội 24 km về phía Bắc Số cán bộ bệnh viện được thể hiện ở bảng 1.7
Bảng 1.7 : Số cán bộ Bệnh viện Bắc Ninh và Bệnh viện Tiên Du năm 2003
Trang 18PHẦN II
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN c ứ u
Bệnh án của những bệnh nhân dưới 5 tuổi mắc nhiễm khuẩn hô hấp được điều trị tại khoa nhi Bệnh viện Bắc Ninh và khoa nhi Bệnh viện Tiên Du trong năm 2003
n: là cỡ mẫu cần cho nghiên cứu
Z: được tra trong bảng tính sẵn
a: là mức ý nghĩa thống kê
p: là tỷ lệ ước tính dựa trên các nghiên cứu trước đó, hoặc nghiên cứu thử d: là khoảng sai lệnh cho phép giữa tỷ lệ thu được từ mẫu và tỷ lệ của quần thể
Trang 19Thay các giá trị vào công thức (*) ta có:
0,9 X (1 - 0 ,9 )
n = 1,96 X _ =138,3
0,052 Như vậy mỗi bệnh viện chúng tôi lấy 150 bệnh án nghiên cứu 2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
Trang 203.1 THÔNG TIN CHUNG
Trang 21* Các khoa lâm sàng bao gồm:
9 Khoa Vật lý trị liệu Phục hồi chức
* Các khoa cận lâm sàng bao gồm:
1 Khoa Huyết học truyền máu
2 Khoa Hóa sinh
7 Khoa Thăm dò chức năng
8 Khoa Giải phẫu bệnh
4 Phòng Tài chính - kế toán
5 Phòng Y tá điều dưỡng
6 Phòng Vật tư, thiết bị y tế
* Các hội đồng tư vấn gồm:
1 Hội đồng nghiên cứu khoa học kỹ thuật
2 Hội đồng thuốc và điều trị
* Các đoàn thể
16
Trang 22♦ Sơ đồ tổ chức Bệnh viện Tiên Du
Sơ đồ 2: S ơ ĐỔ TỔ CHỨC BỆNH VIỆN HUYỆN TIÊN DU
TRUNG TÂM Y TÊ HUYỆN
sàng
• Các khoa lâm sàng và cận lâm sàng bao gồm:
- Khoa Nội tổng hợp
- Khoa Ngoại sản
- Khoa Dược - Xét nghiệm - X quang
- Khoa Hồi sức cấp cứu
- Phòng khám trung tâm
• Ghi chú:
BVBMTE - KHHGĐ: Bảo Vệ Bà Mẹ Trẻ Em - Kế Hoạch Hoá Gia Đình
Trang 233.1.2 Mô hình bệnh tật tại hai bệnh viện năm 2003
Tổng số bệnh nhân vào điều trị năm 2003 tại Bệnh viện Bắc Ninh là 123.268 bệnh nhân, tại Bệnh viện Tiên Du là 3.145 bệnh nhân Cơ cấu bệnh
của hai bệnh viện được thể hiện ở bảng 3.1 và hình 3.1
Bảng 3.1 : Mô hình bệnh tật của 2 bệnh viện năm 2003
Sô
TT Nhóm bệnh
Mã ICD X
Bệnh viện Bắc Ninh Bệnh viện Tiên Du
Sô bệnh nhân
Tỷ lệ (%) (n= 23268)
Số bệnh nhân
Tỷ lệ(%) (n = 3145)
Trang 2411 :DỊ tật, dị dạng bẩm sinh và bất thường nhiễm sắc thể
H ình 3.1: Mô hình bệnh tật hai bệnh viện năm 2003
Từ bảng 3.1 và hình 3.1 cho thấy ba nhóm bệnh: bệnh hệ hô hấp, chửa
đẻ, sau đẻ, chấn thương ngộ độc là ba nhóm bệnh chiếm tỷ lệ cao nhất ở 2 bệnh viện Trong khi tại Bệnh viện Bắc Ninh bệnh hô hấp chiếm tỷ lệ cao nhất (19,0%) thì tại Bệnh viện Tiên Du bệnh hệ hô hấp đứng thứ hai (18,6%) sau nhóm bệnh chửa đẻ, sau đẻ (25,7%)
Lý do nhóm bệnh chửa đẻ, sau đẻ chiếm tỷ lệ cao tại hai bệnh viện là: hầu hết các bà mẹ không sinh đẻ ở các trạm y tế xã mà thường lên tuyến huyện và tuyến tỉnh, đặc biệt là tuyến huyện Mặt khác cũng do các trạm y tế
xã trang thiết bị y tế còn ít
Trong khi tại Bệnh viện Bắc Ninh bệnh hệ tiêu hoá đứng thứ tư với tỷ lệ (12,2%) thì tại Bệnh viện Tiên Du bệnh hệ tiêu hoá đứng thứ sáu với tỷ lệ