1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Kết hợp giáo dục kĩ năng sống vào công tác chủ nhiệm

24 1,7K 33

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 172,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên hiệp quốc UNESCO, KNS gắn với 4trụ cột của giáo dục, đó là: Học để biết Learning to know, gồm các kĩ năng tư duy như: tưduy phê phán, tư

Trang 1

PHẦN A: ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lý do- mục đích chọn đề tài

Vấn đề con trẻ thiếu kỹ năng sống, thiếu tính tự tin, tự lập, sống ích kỷ, vô tâm, thiếutrách nhiệm với gia đình và bản thân đang là những cản trở lớn cho sự phát triển của thanhthiếu niên khiến không ít các bậc cha mẹ phải phiền lòng vì con, trong một xã hội phát triểnnăng động như hiện nay

Nhiều vị phụ huynh lo lắng trước tình trạng con của mình thiếu tự tin, luôn tỏ ra rụt rèkhi có cơ hội thể hiện mình trước đám đông hoặc các cháu không biết cách xử lý tình huống

dù là thật đơn giản như kêu gọi sự giúp đõ từ người khác, tìm đường, định hướng, đi xebuýt,

Thêm nữa trước tình trạng bạo lực học đường ngày càng gia tăng thì kỹ năng tự bảo vệmình cũng cần được coi trọng khi các nhóm trẻ xấu luôn lấy sức mạnh cơ bắp hoặc đám đông

để bắt nạt, ức hiếp các trẻ hiền, ngoan, ít nói

Nhiều em học sinh có cuộc sống khép kín với thực tại, đắm chìm trong thế giới ảo củaInternet của thế giới game, mà quên đi và đánh mất những cơ hội kết bạn , thể hiện nhữngkhả năng tiềm ẩn của mình, lo sợ rụt rè khi tiếp xúc với cộng đồng, xã hội

Việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh là một điều rất cần thiết và cấp bách Nhưng đểlàm được điều đó có hiệu quả, cần có sự kết hợp giữa 3 môi trường giáo dục gia đình, nhàtrường và xã hội Trong đó môi trường giáo dục trong nhà trường đóng một vai trò rất quantrọng Trong đó vai trò của người giáo viên đóng vai trò định hướng, tác động rất lớn tới việchình thành cho học sinh những nhân cách và những kĩ năng cần thiết để vui chơi, học tập vàhoà nhập vào cuộc sống

Trước những yêu cầu hết sức thiết thực, tôi xin trình bày sáng kiến kinh nghiệm “ Kếthợp giáo dục kĩ năng sống vào công tác chủ nhiệm” và chỉ ra đây những điều rút ra được thựctiễn mong muốn chia sẻ cùng đồng nghiệp nhằm đóng góp phần nào kinh nghiệm giáo dụccho con em chúng ta trở thành những con người toàn diện, năng động, sáng tạo hòa nhậpcùng cộng đồng, và có ích cho xã hội

2 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

Việc giáo dục kỹ năng sống cần được tiến hành ở mọi cấp học, tùy theo lứa tuổi, giớitính chúng ta cần có những vấn đề khác nhau để đưa vào nội dung giáo dục kỹ năng sốngcho các em học sinh

Phạm vi đề tài nay chỉ giới hạn trong lứa tuổi trung học cơ sở, vì đây là lứa tuổi cónhiều biến đổi về tâm sinh lý, và cũng vì đây là đối tượng chủ yếu trong nhà trường phổthông, là thế hệ tương lai của đất nước

3 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tổng hợp tư liệu

Trang 2

- Phương pháp tổng kết, phân tích

- Phương pháp diễn dịch, quy nạp

- Phương pháp điều tra thực tế giáo dục

PHẦN B: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 Cơ sở lý luận

1.1 Khái niệm kĩ năng sống

Kỹ năng sống chính là năng lực của mỗi người giúp giải quyết những nhu cầu và tháchthức của cuộc sống một cách có hiệu quả

- Theo WHO (1993) “Năng lực tâm lý xã hội là khả năng ứng phó một cách có hiệu quả vớinhững yêu cầu và thách thức của cuộc sống Đó cũng là khả năng của một cá nhân để duy trìmột trạng thái khoẻ mạnh về mặt tinh thần, biểu hiện qua hành vi phù hợp và tích cực khitương tác với người khác, với nền văn hóa và môi trường xung quanh Năng lực tâm lý xã hội

có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức khoẻ theo nghĩa rộng nhất về mặt thể chất, tinhthần và xã hội Kỹ năng sống là khả năng thể hiện, thực thi năng lực tâm lý xã hội này”

- Theo UNICEF, giáo dục dựa trên Kỹ năng sống cơ bản là sự thay đổi trong hành vi hay một

sự phát triển hành vi nhằm tạo sự cân bằng giữa kiến thức, thái độ và hành vi Ngắn gọn nhất

đó là khả năng chuyển đổi kiến thức (phải làm gì) và thái độ (ta đang nghĩ gì, cảm xúc như thếnào, hay tin tưởng vào giá trị nào) thành hành động (làm gì và làm như thế nào)

- Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên hiệp quốc (UNESCO), KNS gắn với 4trụ cột của giáo dục, đó là: Học để biết (Learning to know), gồm các kĩ năng tư duy như: tưduy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề, nhận thức được hậu quả…Họclàm người (Learning to be) gồm các kĩ năng cá nhân như ứng phó với căng thẳng, kiểm soátcảm xúc, tự nhận thức, tự tin…Học để sống với người khác ( Learning to live together) gồmcác kĩ năng xã hội như giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm,thể hiện sự cảm thông…Học để làm (Learning to do) gồm kĩ năng công việc và các nhiệm vụnhư kĩ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm…

Từ những kĩ năng trên, có thể thấy KNS bao gồm một loạt các kĩ năng cụ thể, cần thiếtcho cuộc sống hàng ngày của con người Bản chất của KNS là kĩ năng tự quản lý bản thân và

kĩ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc cho hiệu quả.Nói cách khác, KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợpvới những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộcsống

1.2 Phân loại kỹ năng sống

- Theo UNESCO, WHO, UNICEF có thể xem KNS gồm các kĩ năng cốt lõi sau:

+ Kỹ năng giải quyết vấn đề

+ Kỹ năng giao tiếp và thương thuyết

Trang 3

+ Kỹ năng lựa chọn và quyết định

+ Kỹ năng hợp tác và tìm kiếm sự giúp đỡ

+ Kĩ năng suy nghĩ, tư duy phê phán

+ Kĩ năng giao tiếp và ứng xử cá nhân

+ Kĩ năng tự nhận thức, tự trọng và tự tin của bản thân

+ Kĩ năng thể hiện sự cảm thông

+ Kĩ năng ứng phó với căng thẳng và cảm xúc

+ Kỹ năng rất cần thiết như: Kỹ năng nghe ,nói ,đọc, viết

+ Kỹ năng biết nấu cơm nhanh, ít tốn nhiên liệu

+ Kỹ năng cắm trại, leo núi, du thuyền ,…

+ Kỹ năng làm vườn và chăm sóc cây cảnh

+ Kỹ năng cấp cứu khi có người gặp tai nạn hoặc bệnh tật hiểm nghèo

- Trong giáo dục ở Vương quốc Anh, KNS được chia thành 6 nhóm chính:

+ Hợp tác nhóm

+ Tự quản

+ Tham gia hiệu quả

+ Suy nghĩ, tư duy, bình luận, phê phán

+ Suy nghĩ sáng tạo

+ Nêu vấn đề và giải quyết vấn đề

- Trong giáo dục chính quy ở nước ta, KNS được chi theo các mối quan hệ:

+ Nhóm kĩ năng nhận biết và sống với chính mình, bao gồm các KNS cụ thể như tựnhận thức, xác định giá trị, ứng phó với căng thẳng, tìm kiếm sự hỗ trợ…

+ Nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với người khác: gồm các kĩ năng: giao tiếp cụthể, giải quyết mâu thuẫn, thương lượng, từ chối, bày tỏ sự cảm thông, hợp tác…

+ Nhóm các kĩ năng ra quyết định một cách có hiệu quả, bao gồm các KNS cụ thể nhưtìm kiếm và xử lí thông tin, tư duy phên phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấnđề…

Tuy nhiên, mọi cách phân loại đều chỉ là tương đối, vì trên thực tế các KNS thườngkhông hoàn toàn tách rời nhau mà có liên quan chặt chẽ đến nhau

1.3 Giáo dục kỹ năng sống

1.3.1 Vì sao phải rèn luyện kỹ năng sống cho HS trong nhà trường:

Trang 4

- Kỹ năng sống không phải là những gì quá cao siêu, phức tạp Việc giáo dục kỹ năngsống cho HS bao gồm những nội dung hết sức đơn giản, rất gần gũi với các em, đây là nhữngkiến thức tối thiểu để các em có thể tự lập trong học tập, vui chơi giải trí và sinh hoạt thườngngày.

- Mặc dù, hiện nay chúng ta trong thời đại Công nghệ-Thông tin và hội nhập quốc tế,

HS có những hiểu biết khá phong phú nhờ truy cập Internet, nhưng kỹ năng sống của các emcòn nhiều hạn chế Ở lứa tuổi bắt đầu " bước vào đời", bắt đầu sống độc lập, làm việc và sẽ cónhững va chạm xã hội, các em cũng rất cần được trau dồi kỹ năng sống Một trong những nộidung quan trọng của phong trào thi đua " Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" làviệc phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội để cung cấp kiến thức về kỹ năng sống chohọc sinh,;đặc biệt cho học sinh nữ nhằm giúp các em có kỹ năng tự bảo vệ trước những vấn đề

xã hội có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe và an toàn cuộc sống như: kỹ năng nhận diện mộtvấn đề, biết cách xác định tình huống, biết cách từ chối, kỹ năng xử lý mâu thuẫn, kỹ năng raquyết định, biết nấu ăn, tự chăm sóc sức khỏe

- Cách rèn luyện kỹ năng cho HS được phát triển từ dễ đến khó Như bài học giới thiệubản thân “Em hãy nói vài câu về bản thân em và làm quen với mọi người” Ban đầu, các emcòn nói năng lí nhí, mắt không dám nhìn thẳng, gương mặt căng thẳng, sợ hãi vì lần đầu tiênphải nói trước đám đông Nhưng sau vài lần, các em không còn những cái nhìn ái ngại, dạn dĩhơn, cảm thấy tự tin và câu nói chắc gọn, cộng thêm một môi trường giáo dục thân thiện hoàđồng, cho phép các em tiến đến gần và hoà nhập với nhau, sau đó là những bài học khác như:khám phá bản thân, tư duy hiệu quả và đặc biệt kỹ năng làm việc đồng đội, các em được trang

bị lý thuyết cụ thể, rồi thực hành để hiểu Với kỹ năng làm việc đồng đội, các em được tập làmviệc để biết cách hợp tác và chấp nhận lẫn nhau trong mọi hoàn cảnh Mục đích quan trọngnhất là giúp các em tự tin hơn, tự lập hơn trong cuộc sống, đây là điều rất cần thiết trong cuộcsống của các em sau này

- Ngoài ra, phải đưa nội dung giáo dục kỹ năng sống của HS cho các bậc phụ huynh vàonhững lần họp phụ huynh; cung cấp cho các bậc phụ huynh những kiến thức và phương phápchăm sóc, giáo dục con em phù hợp với đặc điểm từng độ tuổi, từng vùng miền; đặc biệt pháthiện sớm những biểu hiện rối loạn tâm thần ở HS, các bệnh tật học đường; cung cấp địa chỉnhững dịch vụ hỗ trợ tại cộng đồng để giúp gia đình và xã hội tham gia chăm sóc giáo dục con

em tốt hơn

- Trong thời gian gần đây hay nhắc đến vấn đề thiếu kỹ năng sống trong HS, trong lứatuổi thanh thiếu niên Vì vậy thầy cô cần trang bị cho các em một nhận thức mới rằng: Sốngtrong xã hội, thì ai cũng có thể có những sai lầm và bất cứ lúc nào, ở đâu đó cũng sẽ có nhữnghành vi không chuẩn mực, vì thế HS phải biết bảo vệ mình Hãy dạy cho các em biết cảnhgiác, có óc hoài nghi một cách khoa học, không phải hoài nghi bi quan, xa lánh và phản biện.Nhưng không chỉ các em mà cả nhiều bậc phụ huynh, thậm chí ngay cả các thầy cô giáo cũngđang thiếu kỹ năng này Muốn như thế, chính các bậc phụ huynh, thầy cô cũng phải tự trang bịcho mình kỹ năng sống, không được suy nghĩ một cách chủ quan và hời hợt Phải khẳng địnhrằng nhà trường không có trách nhiệm phải bồi dưỡng, trang bị những kỹ năng sống cho các

Trang 5

giáo viên để dạy họ phải biết ứng xử với học sinh Nhưng bản thân các thầy cô, các ban ngànhđoàn thể và các bậc phụ huynh phải có trách nhiệm trang bị cho nhau những kiến thức loạinày.

- Học và rèn luyện kỹ năng sống là ưu tiên hàng đầu của HS trong độ tuổi từ đầu cấp 1đến hết cấp 2 mà Bộ GD&ĐT đã quan tâm Bên cạnh những kiến thức văn hoá được trang bị,hầu hết các bậc phụ huynh đều muốn con cái ngày càng tự lập và được đào tạo từ bé Những

kỹ năng sống rất quan trọng nhưng các em không được học trong nhà trường, vì coi học vănhoá là quan trọng Nhưng nếu các em không biết chủ động, độc lập thì điều đó còn nguy hiểmhơn là thiếu văn hoá Ra đường chúng không biết phải làm thế nào cho an toàn, làm sao đểtránh người lạ lợi dụng, làm sao đối phó với những tình huống đơn giản… Đây là những kiếnthức bổ trợ văn hoá, và quan trọng nhất các em có thể ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày đểsống an toàn hơn khi không có bố mẹ bên cạnh

1.3.2 Mục tiêu giáo dục kĩ năng sống

- Trang bị cho HS những kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù hợp Trên cơ sở đó hìnhthành cho HS những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; loại bỏ những hành vi, thói quentiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống và hoạt động hàng ngày

- Tạo cơ hội thuận lợi để HS thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và phát triển toàn diện vềthể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức

2 Cơ sở thực tiễn

- Thực ra, Ở các nước phát triển, trẻ em sống rất độc lập, vì thế chúng tránh được nhiềurủi ro đáng tiếc Nhưng ở Việt Nam, vấn đề này chưa được quan tâm đúng mức Theo chỉ thị

số 40/2008/Bộ GD&ĐT đưa vào nôi dung rèn kỹ năng sống cho HS, vì nhận thấy có nhiều trẻ

em bị xâm hại, bị lạm dụng chỉ vì thiếu kỹ năng sống Đã đến lúc dạy cho HS kỹ năng sống đểcác em không bị sốc trong mọi hoàn cảnh Cái trước tiên cần làm là chuẩn bị cho các em tâm líchủ động để tiếp nhận cuộc sống, như chuyển lớp, chuyển thầy cô giáo chủ nhiệm, chuyển cấp,chuyển trường hoặc khi tham gia các họat động ngòai giờ lên lớp, sinh hoạt tập thể

- Tuy nhiên, hiệu quả đào tạo kỹ năng sống không đo đếm được bằng những con sốchính xác nhưng được thể hiện bằng những biểu hiện cụ thể Khi về nhà, các em có ý thức, thái

độ khác với mọi người trong gia đình không? Với bạn bè, có hoà đồng hơn không? Khi nóinăng, có tự tin hơn không? Có biết tránh những người lạ hay không? vv Đó chính là hiệu quảđào tạo kỹ năng sống Trong khi đó, để tạo thành kỹ năng, phản xạ tốt thì cần phải được rènluyện thường xuyên, liên tục đến mức thuần thục Do đó, vai trò gia đinh là không thể thiếu vàgiữ vị trí rất quan trọng Việc rèn luyện kỹ năng sống cho HS tiến bộ và đạt hiệu quả đến đâuphụ thuộc rất nhiều vào đội ngũ thầy cô giáo, cách giáo dục mỗi trường, văn hoá sống của mỗigia đình

- Vấn đề bạo lực học đường, nạn bạo hành không phải đến bây giờ mới xảy ra Chẳngqua, hiện nay những câu chuyện bạo hành trở nên " nở rộ " hơn là bởi chính áp lực của truyền

Trang 6

thông và công luận Còn biết bao nhiêu chuyện bạo hành trường học đau lòng khác xảy ra ởnhiều nơi mà chưa được can thiệp Đây không chỉ là vấn đề đạo đức của người thầy mà liênquan đến chuyện rèn luyện kỹ năng sống của mỗi người trong xã hội chúng ta Chuyện làm sao

để những đứa trẻ trưởng thành, ngoài kiến thức còn được trang bị những kỹ năng sống vữngvàng

- Kỹ năng sống vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội, nó cần thiết đối với thanhthiếu niên để họ có thể ứng phó một cách tự tin, tự chủ và hoàn thiện hành vi của bản thântrong giao tiếp, giải quyết các vấn đề của cuộc sống với mọi người xung quanh mang lại chomỗi cá nhân cuộc sống thoải mái, lành mạnh về thể chất, tinh thần và các mối quan hệ xã hộikhi môi trường thân thiện, dễ hoà đồng và cảm hoá lành mạnh

- Hiện nay, đội ngũ giáo viên trong các trường học đang gặp phải một khó khăn, đó là

họ chưa được đào tạo bài bản về việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Điều này cũng đãhạn chế đi hiệu quả của công tác giáo dục kĩ năng sống cho học sinh

Qua nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn, ta thấy được tầm quan trọng của việcgiáo dục KNS cho học sinh trong nhà trường là:

- KNS thúc đẩy sự phát triển của cá nhân và xã hội

- Giáo dục KNS là yêu cầu cấp thiết đối với thế hệ trẻ

- Giáo dục KNS nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới của giáo dục phổ thông,

- Giáo dục KNS cho học sinh trong các nhà trường phổ thông là xu thế chung của nhiềunước trên thế giới

3 Nội dung giáo dục kỹ năng sống

- Kĩ năng tự nhận thức: là khả năng tự nhìn nhận, tự đánh giá về bản thân, là nền tảng

để con người giao tiếp, ứng xử phù hợp và hiệu quả với người khác cũng như để có thể cảmthông với người khác

- Kĩ năng xác định giá trị: là khả năng nhận thức, đánh giá, hiểu rõ cái gì là quan trọng,

có ý nghĩa với bản thân, có tác dụng định hướng cho suy nghĩ, hành động và lối sống của bảnthân trong cuộc sống Kĩ năng này còn giúp người con người biết tôn trọng người khác

- Kĩ năng kiểm soát cảm xúc: là khả năng con người nhận thức rõ cảm xúc của mìnhtrong tình huống nào đó và hiểu ảnh hưởng của cảm xúc với bản thân và người khác để điềuchỉnh phù hợp Kĩ năng này giúp giảm căng thẳng trong giao tiếp, thương lượng đạt hiệu quảcao hơn và giải quyết vấn đề tốt hơn

- Kĩ năng ứng phó với căng thẳng: là khả năng con người bình tĩnh, sẵn sàng đón nhậnnhững tình huống căng thẳng như là một phần tất yếu của cuộc sống, là khả năng nhận biết sựcăng thẳng, hiểu được nguyên nhân, hậu quả của căng thẳng, cũng như biết cách suy nghĩ vàứng phó một cách tích cực Kĩ năng này giúp con người biết suy nghĩ và ứng phó một cách tích

Trang 7

cực khi căng thẳng, duy trì được trạng thái cân bằng, không tổn hại sức khoẻ, thể chất và tinhthần của bản thân; xây dựng những mối quan hệ tốt đẹp…

- Kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ: giúp chúng ta có thể nhận được những lời khuyên, sự canthiệp để tháo gỡ, giải quyết những vấn đề, tình huống khó, đồng thời là cơ hội để chúng ta chia

sẻ, giãi bày, giúp cá nhân không thấy cô đơn, bi quan Đây là kĩ năng rất cần thiết để giải quyếtvấn đề, giải quyết mâu thuẫn và ứng phó với căng thẳng

- Kĩ năng thể hiện sự tự tin: là sự hài lòng, có niềm tin với bản thân, giúp cá nhân giaotiếp hiệu quả hơn, mạnh dạn bày tỏ suy nghĩ và ý kiến của mình, quyết đoán trong việc raquyết định và giải quyết vấn đề, thể hiện sự kiên định, giúp bản thân có suy nghĩ tích cực vàlạc quan trọng trong cuộc sống Đây là một yếu tố cần thiết trong giao tiếp, thương lượng, raquyết định, đảm nhận trách nhiệm

- Kĩ năng giao tiếp: là khả năng bày tỏ ý kiến của bản thân, giúp con người biết đánh giátình huống giao tiếp và điều chỉnh cách giao tiếp một cách phù hợp, hiệu quả mà không gâytổn thương cho người khác Kĩ năng này giúp chúng ta có các mối quan hệ tích cực với ngườikhác và cũng là yếu tố cần thiết cho bản thân con người trong việc hình thành các kĩ năngkhác

- Kĩ năng lắng nghe tích cực: là sự tập trung chú ý và thể hiện sự quan tâm, lắng nghe ýkiến người khác, biết cho ý kiến phản hồi mà không vội đánh giá, đồng thời có đối đáp hợp lýtrong quá trình giao tiếp, khiến bản thân trở thành người biết lắng nghe người khác, biết tôntrọng và quan tâm đến người khác, làm cho việc giao tiếp hiệu quả hơn

- Kĩ năng thể hiện sự cảm thông: là khả năng có thể hình dung và đặt mình trong hoàncảnh của người khác, để hiểu rõ cảm xúc và tình cảm của người khác và cảm thông với hoàncảnh của họ Kĩ năng này này có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường hiệu quả giao tiếp

và ứng xử với người khác, thể hiện sự cảm thông, quan tâm, gần gũi với người khác

- Kĩ năng thương lượng: là khả năng trình bày suy nghĩ, phân tích, giải thích, đồng thời

có thảo luận để đạt được một sự ddieuf chỉnh và thống nhất về cách suy nghĩ, cách làm hay vềmột vấn đề gì đó Kĩ năng này giúp bản thân tự tin, kiên định, giải quyết vấn đề hiệu quả

- Kĩ năng giải quyết mâu thuẫn: là khả năng nhận thức được nguyên nhân xảy ra mâuthuẫn, và giải quyết những mâu thuẫn với thái độ tích cực, hoà bình

- Kĩ năng hợp tác: là khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, biết cam kết cùng làmviệc có hiệu quả với các thành viên khác trong nhóm Kĩ năng này giúp cá nhân sống hài hoà

và tránh xung đột trong mối quan hệ với người khác

- Kĩ năng tư duy phê phán: là khả năng phân tích một cách khách quan, toàn diện cácvấn đề, sự vật, hiện tượng…, giúp con người đưa ra những quyết định, hành động phù hợp.Đây là kĩ năng quan trọng đối với mỗi cá nhân

- Kĩ năng tư duy sáng tạo: là khả năng nhìn nhận và giải quyết vấn đề theo một cáchmới, với ý tưởng mới, theo phương thức mới, cách sắp xếp và tổ chức mới Kĩ năng này giúp

Trang 8

con người năng động với nhiều sáng kiến và óc tưởng tượng, biết cách phán đoán và thíchnghi, có tầm nhìn và khả năng suy nghĩ rộng hơn, giúp bản thân có thể ứng phó với mọi hoàncảnh bất ngờ một cách linh hoạt và phù hợp.

- Kĩ năng ra quyết định: là khả năng cá nhân biết quyết định, lựa chọn phương án tối ưu

để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống một cách kịp thời, giúp conngười có được sự lựa chọn phù hợp và kịp thời, đem lại thành công trong cuộc sống

- Kĩ năng giải quyết vấn đề: là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương

án tối ưu và hành động theo phương án đã chọn để giải quyết vấn đề hay tình huống gặp phảitrong cuộc sống, giúp con người ứng phó với những tình huống gặp phải trong cuộc sống

- Kĩ năng đàm nhận trách nhiệm: là khả năng con người thể hiện sự tự tin, chủ động và

ý thức cùng chia sẻ công việc với các thành viên khác trong nhóm, giúp công việc được giảiquyết nhanh hơn, tích cực hơn

- Kĩ năng đặt mục tiêu: là khả năng con người biết đề ra mục tiêu cho bản thân trongcuộc sống cũng như lập kế hoạch để thực hiện được mục tiêu đó, giúp chúng ta sống có mụcđích, có kế hoạch và có khả năng thực hiện những mục tiêu của mình

- Kĩ năng kiên định: là khả năng con người nhận thức được những gì mình muốn và lí

do dẫn đến sự mong muốn đó, giúp chúng ta tự bảo vệ được chính kiến, quan điểm, thái độ vànhững quyết định của bản thân, đứng vững trước những áp lực tiêu cực của cuộc sống

- Kĩ năng quản lí thời gian: là khả năng con người biết sắp xếp các công việc theo thứ tự

ưu tiên, biết tập trung vào giải quyết công việc trọng tâm trong một thời gian nhất định, gópphần cho thành công của cá nhân và tập thể

- Kĩ năng tìm kiếm và xử lí thông tin: giúp con người lấy được thông tin nhanh nhất mộtcách đầy đủ, khách quan, chính xác và kịp thời

4 Nguyên tắc giáo dục kỹ năng sống

- Tương tác: KNS không thể được hình thành chỉ qua việc nghe giảng, và tự đọc tài

liệu, mà phải thông qua các hoạt động tương tác với người khác Khi tham gia hoạt động cótính tương tác, học sinh có thể thể hiện ý tưởng của mình, xem xét ý tưởng của người khác,được đánh giá và xem xét theo kinh nghiệm Vì vậy việc tổ chức các hoạt động tương tác tạo

cơ hội giáo dục KNS cho học sinh hiệu quả

- Trải nghiệm: KNS chỉ được hình thành khi người học được trải nghiệm qua các tình

huống thực tế Kinh nghiệm có được khi các em hành động trong các tình huống đa dạng giúpcác em dễ dàng sử dụng và điều chỉnh các kĩ năng phù hợp với điều kiện thực tế

- Tiến trình: Giáo dục KNS không thể hình thành trong một thời gian ngắn mà phải

qua một quá trình, từ nhận thức- hình thành thái độ- thay đổi hành vi Quá trình này có mỗiyếu tố đều có thể là khởi đầu của một chu trình mới Do đó việc giáo dục cũng có thể tác độnglên bất kì một mắt xích nào trong quá trình đó

Trang 9

- Thay đổi hành vi: Mục đích cao nhất của giáo dục KNS là giúp người người học thay

đổi hành vi theo hướng tích cực Đây là một quá trình khó khăn, không đồng thời, do đó cầnkiên trì chờ đợi

- Thời gian: GD KNS cần thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc và thực hiện càng sớm càng tốt

đối với trẻ em

5 Phương pháp giáo dục kỹ năng sống

- Phương pháp Chia nhóm: có nhiều cách chia nhóm: theo số điểm danh, theo các màusắc, theo các loại hoa, các mùa trong năm, theo hình ghép, theo sở thích, theo tháng sinh…nhằm tạo cơ hội cho các em giao lưu, học hỏi lần nhau

- Phương pháp Giao nhiêm vụ: giao nhiệm vụ phù hợp với mục tiêu, hoạt động, trình

độ, không gian sống, cơ sở vật chất…khi giao nhiệm vụ phải cụ thể, rõ ràng

- Phương pháp Đặt câu hỏi: giáo viên dùng câu hỏi để gợi mở, dẫn dắt học sinh tìmhiểu, khám phá…

- Phương pháp “Khăn trải bàn”: học sinh được chia nhỏ từ 4-6 người, sử dụng một tờgiấy A0 đặt trên bàn, phần xung quanh dùng để ghi các ý tưởng của thành viên trong nhóm,sau khi nhóm bàn bạc, thảo luận thì viết vào phần giữa tờ giấy A0

- Phương pháp “Trình bày 1 phút”: mỗi học sinh suy nghĩ, viết câu hỏi ra giấy, sau đótrình bày trước lớp trong thời gian 1 phút

- Phương pháp “Hỏi và trả lời”: giáo viên nêu chủ đề, giáo viên hoặc một học sinh sẽbắt đầu đặt một câu hỏi về chủ đề và yêu cầu một học sinh khác trả lời, sau khi trả lời xong,một câu hỏi nữa lại được đặt ra…Quá trình này sẽ tiếp tục cho đến khi nào giáo viên quyếtđịnh dừng hoạt động này

- Phương pháp “Bản đồ tư duy”: tên chủ đề, ý tưởng đặt ở trung tâm, từ trung tâm vẽcác nhánh chính, trên mỗi nhánh chính viết nội dung lớn của chủ đề hoặc các ý tưởng có liênquan, từ các nhánh chính lại vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp các nội dung thuộc nhánh chínhđó

- Phương pháp “Hỏi chuyên gia”: mỗi nhóm học sinh tạo thành các nhóm chuyên gia vềmột chủ đề nhất định Các thành viên trong nhóm cùng nghiên cứu, thảo luận về những vấn dềtrong chủ đề đó Các học sinh trong lớp sẽ đặt câu hỏi để nhóm chuyên gia giải đáp

- Phương pháp “Viết tích cực”: giáo viên đặt câu hỏi và co học sinh tự do viết câu trảlời, sau đó yêu cầu học sinh chia sẻ nội dung mà các em đã viết

- Phương pháp “Hoàn tất một nhiệm vụ”: giáo viên đưa ra một vấn đề, một công việc,một bức tranh…mới chỉ được giải quyết một phần và yêu cầu học sinh giải quyết nốt phần cònlại

Ngoài ra, còn một số phương pháp cũng được sử dụng rất hiệu quả như:

Trang 10

· Các hoạt động kích thích tưởng tượng và động não

- Sắm vai

· Phân tích tình huống

· Trò chơi, bài hát, nghe nhạc

· Các loại hình nghệ thuật: vẽ, múa

· Chia sẻ kinh nghiệm

· Thư giãn

· Thực tập

· Tham quan

6 Giáo viên chủ nhiệm với công tác giáo dục kĩ năng sống

6.1 Vai trò của người giáo viên chủ nhiệm

- GVCN là người thay mặt hiệu trưởng quản lý toàn diện học sinh của một lớp

Trong một trường học có rất nhiều học sinh được phân thành nhiều lớp Hiệu trưởngkhông thể quản lý quá trình phát triển nhân cách của từng học sinh trong trường Vì vậy cần cóGVCN giúp hiệu trưởng quản lý học sinh cụ thể hơn

Công tác quản lý học sinh thể hiện ở những công việc cơ bản nào?

- Nắm được chỉ số về quản lý như: tên, tuổi, số lượng, đặc điểm tâm sinh lý và hoàncảnh sống, trình độ, sở thích, năng lực, những thay đổi, điều kiện, hoàn cảnh gia đình, các mốiquan hệ xã hội, bạn bè…

- Mặt khác phải dự báo được xu hướng phát triển nhân cách của học sinh và tập thể họcsinh để lập kế hoạch cho việc tổ chức giáo dục cho phù hợp với điều kiện, khả năng học sinh,tập thể và nhà trường Cụ thể:

+ Để lập kế hoạch giáo dục khoa học, hợp lý cần phải có thời gian chuẩn bị và tìm hiểu

cụ thể đối tượng giáo dục, mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục của cấp học, trường học,lớp học, sự phát triển của học sinh và tập thể học sinh

+ Tổ chức cho học sinh và tập thể thực hiện kế hoạch đã đề ra Công việc này cần có sựphân công rõ ràng

+ Chỉ đạo cho học sinh và cán bộ lớp thực hiện kế hoạch Chỉ đạo thể hiện sự lãnh đạo,hướng dẫn, điều khiển, điều chỉnh và động viên kịp thời của GVCN Không nên chỉ ra lệnh,yêu cầu cao mà nên thuyết phục, tôn trong người học, phát huy tính tích cực của học sinh, vaitrò tự quản của tập thể lớp

Trang 11

+ Kiểm tra, đánh giá, tổng kết việc thực hiện kế hoạch, đánh giá sự phát triển nhân cáchcủa học sinh Từ đó chỉ đạo sự học tập, rèn luyện của học sinh tốt hơn.

+ GVCN cùng GV bộ môn giúp hiệu trưởng xếp loại học lực và hạnh kiểm cho họcsinh Việc xếp loại phải khách quan, toàn diện, hệ thống, công khai và căn cứ theo tiêu chuẩn

- GVCN có khả năng cụ thể hóa chủ trương, kế hoạch của nhà trường thành nguyệnvọng và chương trình hành động của tập thể lớp và học sinh

- GVCN là người tập hợp ý kiến và hiểu rõ nguyện vọng của học sinh để phản ánh vớihiệu trưởng, với giáo viên bộ môn và các tổ chức giáo dục trong nhà trường

- Thường xuyên tiếp nhận thông tin và giải quyết sự việc trong phạm vi cho phép đểgiáo dục học sinh

- Phải hiểu được tâm tư, nguyện vọng của học sinh, giải tỏa được những băn khoăn,vướng mắc của học sinh

- GVCN phải bảo vệ mọi quyền lợi của học sinh, góp phần thực hiện các điều khoảncủa Liên Hiệp Quốc về nhân quyền trẻ em, Luật bảo vệ và chăm sóc giáo dục trẻ em của nướcta

- GVCN là người cố vấn cho các hoạt động tự quản của tập thể học sinh

- Quan hệ giữa GVCN với các tổ chức Đoàn, Đội TNTP HCM của học sinh không phải

là quan hệ quản lý mà là quan hệ phối hợp GVCN phải là người cố vấn đáng tin cậy cho tổchức Đoàn, Đội trong nhà trường

- Tuy theo sự phát triển của tập thể học sinh đến giai đoạn nào để GVCN đưa ra các góp

ý, chỉ bảo ở chừng mực nhất định Quan trọng là để học sinh phát huy hết khả năng độc lập,tích cực của họ

- Định hướng, điều khiển, điều chỉnh tình cảm, thái độ, hành vi, hoạt động của từng cánhân học sinh và tập thể lớp

- Chức năng cố vấn thực hiện trên tất cả các mặt giáo dục, kế hoạch hoạt động của cánhân và tập thể, từ học tập đến việc rèn luyện đạo đức, văn nghệ,vui chơi, giải trí

Trang 12

- GVCN là người đại diện cho nhà trường trong công tác phối hợp với cha mẹ HS và các lực lượng XH nhằm thực hiện mục tiêu GD ( hướng dẫn tự học)

- Đây là công việc quan trọng liên quan đến hiệu quả tổ chức giáo dục học sinh chủnhiệm

- GVCN cần căn cứ vào đặc điểm, điều kiện của lớp, nhà trường, cộng đồng và gia đình

…để tổ chức phối hợp các lực lượng GD Thống nhất yêu cầu, mục tiêu GD học sinh để tạo rasức mạnh tổng hợp và môi trường GD thuận lợi, tích cực

- Đây cũng là nguyên tắc GD nhằm tạo ra sự giáo dục thường xuyên, liên tục đối với

HS Nó phải được thể hiện trong tất cả các hoạt động giáo dục của nhà trường

- Sự phối hợp này phải xây dựng được chương trình, kế hoạch hoạt động thống nhất.GVCN phải khai thác triệt để và hợp lý mọi tiềm năng của các lực lượng GD

6.2 Vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong giáo dục kỹ năng sống cho học sinh

Giáo viên, đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm đóng vai trò quan trọng trong việc “kết nối”giữa nhà trường với HS và phụ huynh Không chỉ có vậy, giáo viên bộ môn và giáo viên chủnhiệm giống như người bạn thường xuyên tiếp xúc, gần gũi với HS Do đó, chính giáo viênmới là kênh truyền đạt những mong muốn, suy nghĩ của HS, biết rõ HS mình cần gì, thiếu gì

Theo một nghiên cứu mới được ngành giáo dục công bố, có trên 95% các em nhận thứcchưa đúng về kỹ năng sống; 77,7% chưa bao giờ được đào tạo, tập huấn về kỹ năng sống;76,4% trả lời rất cần được tập huấn kiến thức về kỹ năng sống Hầu hết các em lúng túng khitrả lời hoặc chưa biết cách xử lý các tình huống thường gặp trong cuộc sống

Từ kết quả này cho thấy, việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ngày càng trở nên thiết yếunhằm góp phần đào tạo “con người mới” với đầy đủ các mặt “đức, trí, thể, mỹ”, “nhân, lễ,nghĩa, trí, tín” hay “nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm”… Nhưng việc giáo dục kỹ năng sống cho họcsinh phải phù hợp với lứa tuổi, cấp học, văn hóa của từng vùng… sao cho học sinh cảm thấygần gũi với cuộc sống của bản thân, gia đình, nhà trường và xã hội, chứ không chỉ trên sách vởhay những lời nói suông

Là một người giáo viên, nhất là giáo viên chủ nhiệm - người luôn được các bậc phụ huynh,học sinh nhìn nhận như người cha, người mẹ thứ 2 của học sinh bởi sự gần gũi với các em nêntôi nhận thấy tầm quan trọng rất lớn của việc nên giáo dục cho các em về kĩ năng sống thôngqua những giờ sinh hoạt 15 phút, giờ sinh hoạt …

6.3 Các hình thức giáo dục kỹ năng sống và rèn luyện cho học sinh:

- Gắn với các hoạt động học tập như: Những người yêu thích văn học, câu lạc bộ thơ văn,những nhà vật lí, toán học trẻ, sinh học và môi trường, thi tìm hiểu theo chủ đề ,…

- Gắn với các hoạt động giáo dục thể chất như: Bóng đá, bóng chuyền , cầu lông, võ dân tộc,

du lịch (leo núi, bơi lội ), trò chơi dân gian…

Ngày đăng: 18/09/2015, 01:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w