1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cẩm nang luyện thi quốc gia ngữ văn phiên bản mới nhất phan danh hiếu p2 (link phần 1: http://123doc.org/document/3069453-cam-nang-luyen-thi-quoc-gia-ngu-van-phien-ban-moi-nhat-phan-danh-hieu-p1.htm)

267 2,5K 28
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 267
Dung lượng 48,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài thơ đã khép lại mà những con sóng dạt dào, khắc khoải vẫn im võ nhịp trong lòng độc giả, vẫn cất tiếng ngân vang một tâm hồn, một tình yêu bất diệt.. Nghệ thuật: Vẻ đẹp tâm hồ

Trang 1

Cách nĩi ấy hơi ngược Phải nĩi là “xuơi Nam“.“ngược Bắc” mới đúng Nhung nĩi như thế, Xuân Quỳnh đã làm hiện rõ [ưÄg mình: cuộc đời dẫu cĩ thế nào đi chăng nữa thì em vẫn mãi mãi yêu anh Tình yêu cĩ thể làm đảo lộn phương hướng Bắc, Nam nhưng phương hứớng thế nào khơng quan trọng, quan trọng nhất vẫn là “phương anh”

Noi nào em cũng nghĩ

Hướng tỀ anh - một phương Xuân Quỳnh buộc chặt bà “sợi nhớ, sợi thương” nghiêng hết tình, dốc hết

Ẩn dụ, nhân hĩa, đối lập, lặp cấu trúc, thé tho

ng nhớ thương Sĩng trong bài thơ là một hình

thức Càng nồng nàn hơn nữa bởi tình yêu mãnh liệt của nữ sĩ Xuân Quỳnh Đoạn thơ đã thể hiện rất gợi cảm, sinh động những trạng thái cảm xúc, những khát khao mãnh liệt của một người phụ nữ đang yêu khiến mỗi lân gấp trang sách lại

ta khơng thể nào quên Từ đoạn thơ, ta cĩ thể nĩi: “Tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam trong tình yêu táo bạo, mạnh mẽ nhưng vẫn giữ được nét truyền thống :

sự thủy chung, gắn bĩ, đáng yêu mang đậm tâm hồn người phụ nữ Việt Nam”

Đề 3 Cảm nhận đoạn thơ sau trong bài thơ “Sĩng” - Xuân Quỳnh:

Ở ngồi kia đại dương Trăm ngàn con sĩng đĩ

Con nào chẳng tới bờ

Da musi ‘ach trẻ

298

Trang 2

Ctụ TNHH MTV DVVH Khang Việt

Cuộc đời tuy dai thé Năm tháng vẫn đi qua

Như biển kia dẫu rộng

Mây vẫn bay Về xa

Lam sao-được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu

trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước)

tiêu biểu cho hồn thơ của Xuân Quỳnh luôn luôn trăn trổ,

thương gắn bó Bài thơ được in trong tập “Hoa đỀu chẾn hŠÖ” (1968) Doan

thơ sắp phân tích sau đây nằm ở phần cudieiia bai thonGs thé xem đó là đoạn

tiêu biểu nhất của tác phẩm về nội du tế và nghệ thuật biểu hiện

Khao khat 8th yéu Bai thơ có hai hình tượng cùng song hành và hòa điệu, đó

là “Sóäg” và “Em” Hai hình tượng này đã tạo nên nét đáng yêu cho bài thơ Đoạn thơ ta sắp phân tích là ba khổ cuối của bài thơ “Sóng”

2 Nội dung cảm nhận, phân tích:

a Khổ thơ thứ nhất, nhà thơ thể hiện niềm tin của mình vào tình yêu đích thực:

Ở ngoài kia đại dương Trăm ngàn con sóng đó

Con nào chẳng tới bờ

Dù muôn tời cách trở

299

Trang 3

Nhà thơ nhìn những con sóng ngoài đại dương vầ‹thấy được hàng trăm, hàng ngàn, hàng triệu con sóng biển Và những cón Sống đó đang hướng vào

bờ dù gặp bao nhiêu khó khăn trắc trở Đó cũng,là ẩn dụ nghệ thuật để chỉ

tình yêu mãnh liệt của người con gái Sóng %a-vời cách trở vẫn tìm được tới bờ như tìm về nguồn cội yêu thương “con nào chẳng tới bờ”, cũng như anh và em

sẽ vượt qua mọi khó khăn để đến vóï'nhau, để sống trong hạnh phúc trọn vẹn

của lứa đôi “dù muôn vời cách trở'›Bði như ông bà ta từng nói:

Tình ta như hàng câu

Đã qua mùa bão gió Tình ta như dòng sông

khoăn, lo lắng Đó à la tình yêu:

đề đời tuụ dài thế

Năm tháng vin di qua

Nhw bién kia déu réng May vain bay vé xa

à pÑÊ bình Chu Văn Sơn đã có một nhận xét rất hay về thơ Xuân Quỳnh

như §au: “Thơ Xuân Quỳnh là thơ của một cánh chuồn chuồn bay tìm chỗ nương thân trong nắng nôi đông bão của cuộc đời Thế giới thơ ca Xuân Quỳnh là sự tương tranh không ngừng giữa khắc nghiệt va yên lành oới những biểu hiện sống động à biến hóa khôn cùng của chúng Ở đó trái tim thơ Xuân Quỳnh là cánh chuồn chuồn báo bão cứ chao đi chao tề, mệt nhoài giữa biến động tà yên định , bão tố uà bình yên, chiến tranh

tù hòn bình, thác lũ uà êm trôi, tình yêu nà cách trở, ra đi nà trở lại, chảu trôi phiêu bạt

tà trụ oững kién gan, t6 dm va dòng đời, sóng nà bờ, thuyền tà biển, nhà qa 0à con tàu,

trời xanh tà bom đạn, gió Lào tà cát trắng, thủy chung tà trắc trở, xuân sắc tà tàn phai, ngọn lừa cô đơn uà đại ngàn tối sẫm ” Có lẽ cũng là vì Xuân Quỳnh là người phụ

nữ đa cảm luôn luôn dự cảm những giông bão cuộc đời dù lòng chị vẫn tin yêu Trong tình yêu, Xuân Quỳnh cũng gặp nhiều trắc trở, những khổ đau, cay đắng

Bởi vậy, tì êu với chị ï chỉ là ảnh khắc

Trang 4

như chứa đựng Rous nó ít nhiều nỗi âu lo và những ngậm ngùi

tuy dài nhưng tuổïtrẻ của mỗi con người là hữu hạn Cho nê:

nổi “năm thang van đi qua” Giống như biển khơi kỉ:

ngăn được một đám mây bay về cuối chân trời Nhạy cả

thời gian nên Xuân Quỳnh tiếc cho sự hữu hạn Êu

Xuân Diệu cũng rất đồng cảm với Xuân Quỳnh:

bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời

tin tưởng, tin tưởng ở tấm lòng nhân hậu và tình yêu

sẽ vượt qua tất cả Có thể nói Xuân Quỳnh yêu thương

tha iệt nhưng cũng tỉnh táo nhận thức dự cảm những trắc trở, thử

người phụ nữ vượt qua thử thách đến với bến bờ hạnh phúc Cho nên, sóng sẽ đến bờ, năm tháng sẽ đi qua thời gian dài đẳng đẳng và mây nhỏ bé sẽ vượt

qua biển rộng để bay về xa Một loạt hình ảnh thơ ẩn dụ được bố trí thành một

hệ thống tương phản, đối lập để nói lên dự cảm tỉnh táo, đúng đắn và niềm tin

mãnh liệt của nhà thơ vào sức mạnh của tình yêu Trong bài thơ “Thơ tình cuối

mùa thu” chị cũng đã từng viết:

“Thời gian nhú là gió Mùa đi theo tháng năm

Tuổi theo mùa đi mãi

Trang 5

Chỉ còn anh nà em Cùng tình yêu ở lại”

Chị thường đặt tình yêu giữa không gian bao-la (biển khơi, đất trời, mây gió ) và thời gian bất tận (mùa thu đi, ký G “thời gian trắng”, “thời gian ơi

sao không đổi sắc màu” ) để đi đến tậ*cùng xứ sở, đến tận cùng khổ đau của cuộc đời chị đã nếm trải Cho`nểR, thật dé hiểu cái khát vọng ngày càng dâng lên mãnh liệt khôn cùng trong trái tìm người nữ thi sĩ của tình yêu và hạnh phúc đời thường Phân tíêh Khổ cuối ta sẽ thấy rõ điều đó

c Khổ thơ cuối, nhân vật trữ tình khao khát hòa tình yêu con són/

của mình vào biển lớn tình yêu bao la, rộng lớn - để sống hết nữnh trong

tình yêu, để tình yêu riêng hoá thân vĩnh viễn thành tình yêu

Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm con v6

Bốn câu thơ khép lại bài thơ “Sóng”

Quỳnh Đó là khao khát muốn mì

Vâng! Con sóng sẽ không còn là

khất vọng mãnh liệt của nhà thơ Xuân ra“ thành “trăm con sóng nhỏ”

¡ biết sống cho riêng mình Sóng,

Điết giữ cho riêng mình thì sẽ tàn phai theo

tử khi tình yêu đó hòa vào biển lớn của tình

đã thể hiện một khát vọng mãnh liệt muốn làm trăm con lại dương bao la, hòa mình vào biển lớn tình yêu để một

ốn bất tử hóa tình yêu của nữ sĩ Xuân Quỳnh? Vâng! Đây chính là khát

vọng, mãnh liệt, tha thiết của người phụ nữ với trái tim hồn hậu, chân thành,

giàu trực cảm Trái tìm ấy không hề nhỏ nhoi, cô đơn trước sự vĩnh cửu mà rộng,

lớn, khao khát sẻ chia và hoà nhập vào cõi vĩnh hằng, vào mọi cuộc đời Tị

nồng nhiệt ấy ẩn chứa một khát vọng lớn lao được sống mãi trong tình yêu, bất

tử với tình yêu Bài thơ đã khép lại mà những con sóng dạt dào, khắc khoải vẫn

im

võ nhịp trong lòng độc giả, vẫn cất tiếng ngân vang một tâm hồn, một tình yêu

bất diệt Sóng sẽ mãi mãi còn nổi sóng!

Xuân Quỳnh viết bài thơ này vào những năm 1967, khi cuộc kháng chiến của

nhân dân miền Nam ở vào giai đoạn ác liệt, khi thanh niên trai gái ào ào ra trận

“Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, khi sân ga, bến nước, gốc đa, sân trường diễn

ra những “Cuộc chia ly màu đỏ” Cho nên có đặt bài thơ vào trong hoàn cảnh ấy

ta mới càng thấy rõ nỗi khát khao của người con gái trong tình yêu

Trang 6

Ctụ TNHH MTV DVVH Khang Việt

3 Nghệ thuật: Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trồng bài thơ được thể

hiện qua những yếu tố nghệ thuật đặc sắc: âm điệu; nhịp điệu như nhịp sóng thể hiện nhịp tâm hồn, nhịp tình cảm trong tâm hồn người phụ nữ; hình tượng,

sóng, hình tượng trung tâm, xuyên suốt bãi (hơ với đủ mọi sắc thái, cung bậc như tâm hồn người phụ nữ đang yêu; sự kết hợp hài hòa giữa hình tượng

sóng và em, tuy hai mà một, có lúc pHậi) chia, có lúc lại hoà nhập để nói lên

những nét, những phương diện phòng phú, phúc tạp, nhiều khi mâu thuẫn

nhưng thống nhất trong tâm hồn ñgười con gái đang yêu

II KẾT BÀI

Tóm lại, qua cảm nhật ba khổ thơ cuối nói riêng và bài thơ “Sóng” nói

chung, ta càng ngưỡng ihố Hơn những con người phụ nữ Việt Nam,s§Ếững con người luôn thuỷ chung, luôn sống hết mình vì một tình yêu Xuẩn Qlỳnh

xứng đáng là một nhà thơ nữ của tình yêu lứa đôi, chị đã làm,ðẾong phú Rèn

dai điệu tình yêu cho nền thơ ca nước nhà

Đề 4: Phân tích hình tượng “Sóng” trong bài thơ “$óng“ củấ Xuân Quỳnh Nêu cảm nhận về vẻ đẹp tâm hồn ngữời phụ nữ trong tình yêu

1 Khái quát truéc khi phan ti¢h: Séng 18 hinh tuong trung tam cua bai tho

và là một hình tượng _ẩn dụ, Cùng vối,hìnlẾ tượng em (hai hình tượng này

song hành suốt tác phẩm), sống thê hiện những trạng thái, quy luật riêng của tình yêu cùng vẻ đẹp tâmìhồn Rgười phụ nữ rất truyền thống mà rất hiện đại

2 Sóng có nÍïiều đối.cựè.như tình yêu có nhiều cung bậc, trạng thái và như tâm hồn người phụ nữ có những mặt mâu thuẫn mà thống nhất (Phân

tích hai câu đãÑ với kết cấu đối lập - song hành và với việc đặt các từ dịu êm,

lặẩy lẽ ở cuối tâu tạo điểm nhấn)

3, Hằnh: trình của sóng tìm tới biển khơi như hành trình của tình yêu hướng về cái vô biên, tuyệt đích, như tâm hồn người phụ nữ không chịu

chấp nhận sự chật hẹp, tù túng (Phân tích hai câu sau của khổ 1 với kiểu nói

nhấn mạnh như không hiểu nổi, tìm ra tận )

4 Điểm khởi đầu bí ẩn của sóng giống điểm khởi đầu và sự mầu nhiệm,

khó nắm bắt của tình yêu (Phân tích các khổ 3, 4 của bài thơ với điệp từ nghĩ

và sự xuất hiện của nhiều câu hỏi )

5 Sóng luôn vận động như tình yêu gắn liền với những khát khao, trăn

trở không yên, như người phụ nữ khi yêu luôn da diết nhớ nhung, cồn cào

ước vọng về một tình yêu vững bền, chung thủy (Phân tích các khổ 5, 6, 7, 8

của bài thơ với lối sử dụng điệp từ, điệp ngữ, điệp cú pháp; với hiệu quả của hình thức đối lập trên - dưới, thức - ngủ, bắc - nam, xuôi - ngượi

303

Trang 7

6 Sóng là hiện tượng thiên nhiên vĩnh cửu như tình yêu là khát vọng,

muôn đời của con người, trước hết là người phụ nữ (nhân vật trữ tình) muốn dâng hiến cả cuộc đời cho một tình yêu đích thực.(Phân tích khổ cuối của bài

thơ với ý nghĩ và cách nói rất táo bạo của n†ệknđười con gái hiện đại: Làm sao

được tan ra )

7 Nêu cảm nhận về vẻ đẹp tâm-hồn người phụ nữ trong tình yêu qua hình tượng sóng,

-_ Trước hết, hình tượng sóng cho ta thấy được những nét đẹp truyền thống của người phụ nữ trong tình yêu: thật đằm thắm, dịu dàng, thật#hồ hậu dễ thương, thật chung'thủy

-_ Hình tượng sóng cũng thể hiện được nét đẹp hiện đại củ:

trong tình yêu: tẩo.Bạð, mãnh liệt, dám vượt qua mọi trở ngấf dé gi

phúc, dù có phẩp-phỏng trước cái vô tận của thời gian,

vào sức mạnh của tình yêu

nh quả đã tìm được một hình tượng thơ

\g mà mãnh liệt, gần gũi, riêng tư mà rộng mở, BÀI LÀM

ở mệnh danh chị là “Nữ hoàng của thi ca tình yêu” Thơ của chị

là tiểng nói nhân hậu, thủy chung, giàu trực cảm và da diết khát vọng hạnh

phúc đời thường “Sóng” là bài thơ được làm năm 1967 nhân chuyến đi thực tế

ở biển Diêm Điền Bài thơ sau đó được in trong tập Hoa đọc chiến hào “Sóng” là

bài thơ tiêu biểu nhất cho phong cách thơ tình yêu của Xuân Quỳnh Bài thơ để lại trong lòng bạn đọc hình tượng sóng và em

Sóng là một hình tượng động, bất biến cũng như “Vì tình yêu muôn thuở /

Có bao giờ đứng yên” Vì vậy cho nên sóng được các nhà thơ chọn làm thi liệu

để biểu tượng cho tình yêu Nếu Xuân Diệu mượn sóng để biểu tượng cho tình yêu của anh “Anh xin làm sóng biếc/ Hôn mãi cát vàng em/ Hôn thật khẽ thật êm/ Hôn êm đềm mãi mãi/ Đã hôn rồi hôn lại/ Cho đến nát cả trời/ Anh mới thôi dào dạt” Thì Xuân Quỳnh lại mượn sóng là biểu tượng cho những cung bậc tình cảm của người phụ nữ trong tình yêu nhiều khao khát và biến động

304

Trang 8

Cty TNHH MIV DVVH Khang Viét

cũng là sóng Sóng và em hòa quyện vào nhau, có lúc %bÌển ta không nhận ra đâu là em đâu là sóng nhưng có lúc lại tách ra, $oÈchiếu vào nhau, tôn lên những vẻ đẹp vừa đa dạng lại vừa phong phú

Hình tượng sóng trước hết được gợi ra từ ârh hưởng dào đạt, nhịp nhàng của bài thơ Thể thơ năm chữ có tác dụng tað ra những nhịp điệu của sóng, Cả bài thơ là một đại dương, mỗi khổ thơ là một con sóng lớn, mỗi câu thơ là một con sóng nhỏ Tất cả đã tạo nênmột âm hưởng mênh mang, dào đạt của những con sóng lòng nhiều cưng,

Dữ đội tà dịu êm

Gn ào oà lặng lẽ

„Sống không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể

— Hai câu thờ đầu với nghệ thuật đối: “Dữ đội” - “dịu ê

⁄“ đã làm hiện lên vẻ đẹp của những con sóng biển ngi

ngọn lửa mãnh liệt của tình yêu, khôi

khát “Vì tình yêu muôn thuở/ Có

của người con gái nào bao gĩ

liệt hết mình với nhũ “cả trong mơ còn thức”, đôi khi ghen tuông giận hờn vô có:

định mà đây biến động, khao ên” Đúng như vậy, tình yêu

phải cách xa nhau Biển chỉ còn sóng gió

Nếi phải cách xa anh

Em chỉ còn bão tố

(Thuyền và Biển) Những cũng có lúc người con gái lại thu mình trở về với chất nữ tinh dang

yêu, họ lặng lẽ, dịu êm ngắm soi mình và lặng im chiêm nghiệm:

Có những tình yêu không thể nói bằng lời

Chỉ hiểu nhau qua từng ánh mắt Nhưng đó là tình yêu bền ong nhất

Bởi thứ ồn ào là thứ dé lang quén

(Đinh Thu Hiền) Sóng của Xuân Quỳnh là tiếng nói của một tâm hồn thiếu nữ đang trong độ

tuổi hai mươi, tiếng nói của một trái tim chân thành và đam mê, luôn rực cháy

chất trẻ trung mãnh liệt, khao khát được sống hết mình và yêu hết mình Vì thế

Trang 9

Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra lận bể

Ba hình ảnh “sông”, “sóng”, “bể” như là những chỉ tiết bổ sung cho nhau:

sông và bể làm nên đời sóng, sóng chỉ thực Sự-eó đời sống riêng khi ra với biển khơi mênh mang thăm thằm Mạch sóng.mạnh mẽ như bứt phá không gian

chật hẹp để khát khao một không, gian lớn lao Hành trình tìm ra tận bể chất

chứa sức sống tiềm tàng, bền bi để vùơn tới giá trị tuyệt đích của chính mình

Sóng không cam chịu một củộc“sống đời sông chật hẹp, tù túng nên nó làm cuộc hành trình ra biển khơi-bao la để thỏa sức vẫy vùng Tình yêu của

Quỳnh cũng vậy, tình yêú của người phụ nữ cũng không thể đứng,

một tình yêu nhỏ hẹp-mà Phấi vươn lên trên tất cả mọi sự nhỏ hụ

niệm tình yêu*tiến bộ và mạnh mẽ của người phụ nữ

xưa quan niệm tinh yêu cổ hủ “cha mẹ đặt đâu con nị

đã phải cất lên lời than van ai oán:

Thân em nhưt giống giữa

Hoặc:

biét vio tay ai

c cái mới mẻ trong quan niệm tình yêu của

Tì i 1a khát vọng của tuổi trẻ, nó làm bồi hồi, xao xuyến rung,

ủa lứa đôi, của con trai con gái, của em và anh

Ôi con sóng ngà xưa

Và ngay sau van the N6i khat vong tinh yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ 'Từ “Ôi!” cảm thán như tiếng lòng thốt lên từ nỗi thổn thức của trái tìm yêu

Nghệ thuật đối lập “ngày xưa” ~ “ngày sau” càng làm tôn thêm nét đáng yêu

của sóng Sóng là thế muôn đời vẫn thế vẫn dữ dội ồn ào vẫn dịu êm lặng lẽ

như tình yêu tuổi trẻ có bao giờ đứng yên Bởi tình yêu tuổi trẻ luôn khát vọng,

luôn khát khao và mơ ước Nó làm ta bồi hồi khát khao và nhung nhớ bởi

“Làm sao sống được mà không yêu/ Không nhớ không thương một kẻ nào”

hay “Bắt chim bướm thả vào vườn tình ái” (Xuân Diệu) Tình yêu làm điên đảo tuổi trẻ với những nhớ nhung giận hờn, những cồn cào da diết như lời thơ

iết “Những ngày không gặp nh

Trang 10

Cty TNHH MIV DVVH Khang Viét

vỡ/ Những ngày không gặp nhau/ Biển bạc đầu mong hhðồ” Có yêu nhau mới

thấy được cồn cào của vị nhớ, mùi ái ân, mới eo thế nào là “bồi hồi

trong ngực trẻ”

Tình yêu là sóng, là gió Và qua sóng, hi; gj, nhà thơ đã nói lên thật đễ thương cái nhủ cầu tự nhận thức, tự phân tích, lí giải, nhưng lại không thể cắt nghĩa nổi của tình yêu Tình yêu cũng như sóng biển, gió trời vậy thôi, nó

tự nhiên, hồn nhiên như thiên nhiên và cũng khó hiểu, nhiều bất ngờ như

Tedg muôn trùng sóng bể`

Em, nghi vé anh, em

Em nghi vé bign lon

Sóng bắt đầu từ gió Gió bắt đầu từ đâu

Em cũng không biết nữa

Khi nào ta yeu

Người phụ nữ băn khoăn về khởi ủa tình yêu và bộc bạch một cách hồn nhiên, chân thành sự bất lực ¥ giai được câu hỏi muôn đời ấy trong,

nghia vé tinh yéu rat Xuan cách cắt nghĩa rất nữ tính, rất trực cảm

Lí giải được

ì thi nhân lại ấp úng “Em cũng không biết

u của anh và em nó đến rất bất ngờ và tự nhiên bởi

i không báo động” Câu thơ “Em cũng không biết nữa” đầu nhè nhẹ, bâng khuâng và phân vân Đến câu hỏi “Khi nào

giải nổi nhất là những bạn trẻ đang yêu và đắm say trong men tình ái Tình yêu là vậy, khó lí giải, khó định nghĩa Xuân Diệu - ông hoàng của thi ca tình yêu cũng đã từng băn khoăn khi định nghĩa về tình yêu “Đố ai định nghĩa được tình yêu/ Có khó gì đâu một buổi chiều/ Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt/ Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu” Chính vì không thể lí giải rõ ngọn ngành nên tình yêu vì thế mà trở nên đẹp và là cái đích để cho muôn người đi tìm và khám phá Tình yêu không có tuổi cũng như “xuân không ngày tháng” Tình yêu là một ẩn số giữa hai thế giới tâm hồn chứa đầy bí mật

Dù tin tưởng chung một đồi một mộng

Anh là anh van lie

307

Trang 11

Cĩ thể nào qua Vạn Lý Trười($\ Thành

Cria hai vit tru chica diay bi mat Những tâm hồn bí mật ấy luơn khao khát già hịa, khao khát khám phá

nhưng lại khơng lý giải nổi tình yêu Bởi tìhh-yếu là bài tốn chưa cĩ lời giải

đáp, tình yêu như bài thơ chưa cĩ hồi kết Vì thế tình yêu luơn đẹp, luơn mới

và hấp dẫn Cĩ lẽ vì thế mà thi sĩ đã lắc đầu “Em cũng khơng biết nữa/ Khi nào

Tình yêu gắn liền với nỗi nhớ =rhột trong những gam màu chủ đạo của tình yêu Bao kẻ nhớ người mình yêu mà đảo điên:

Trời cịn cĩ bữa sao quên.rọ€)

2X" Anh chẳng đêm nào chẳng nhớ em A

OY (Xuân Diệu)

Nhớ ai bổi hồ bồi hồi

Như đứng đống lửa như ngồi đống thân

(Ca đạo)

Cịn Xuân Quỳnh thì:

Con sĩng đWới lịi

hơng ngủ được

em nhớ đến anh trong mơ cịn thức

n sĩng: sĩng thơ, sĩng lịng, ta tìm về cõi sâu kín của

g là của muơn kiếp “má hồng” Bài thơ “Sĩng” ra đời khi

\g lịng dâng lên dữ đội, những con sĩng nhớ thương, thao thức

của; Sĩng là em, cplà gen; nh: la; tâmauhơ'a;em:e

Trang 12

Cty TNHH MIV DVVH Khang Viét

Xuân Quỳnh vô cùng tỉnh tế khizmượn một hình tượng rất động để diễn

ta nỗi niềm của người phụ nữ khí ÿêu Sóng muôn đời vẫn thế, có bao giờ thôi vỗ sóng, có khi nào chẳng;cồn cào, có khi nào thôi ngừng hành trình đến với bờ dù muôn vời cách trở: Sóng chẳng còn là sóng nếu tĩnh yên, lặng lẽ Vì

vậy mà sóng đã được Xuân Quỳnh diễn tả bằng một từ ngữ rất sán;

“không ngủ được” Sóng là 9ậy, dù lăng yên dưới lòng biển hay dũ

chấp cả thời gian “ngày đêm không ngủ được”

cho thỏa nỗi niềm mong nhớ

Và nếu sóng nhớ bờ thì em nhớ

nói “lòng em nhị

yêu thương mà

gười mình yêu Nỗi nhớ không chỉ có mặt trong thời

gắn với tiềm thức - thời gian trong mơ Vị ngọt ngào yêu lan tỏa trong cách nói nghịch lý “cả trong mơ còn thức” trong mơ còn thức” lóe lên điểm sáng của nghệ thuật Nó làm

giấc giờ điều độ” Ca dao có câu:

Đêm nằm lưng chẳng tới giường,

Cứ mong trời sáng ra đường gặp anh

Nỗi nhớ không chỉ làm lòng em “bổi hổi bồi hồi, như đứng đống lửa như

ngồi trong than” nó còn làm cho em nhớ nhung, thao thức ngay cả trong giấc

ngủ Có thể nói, với câu thơ ấy, Xuân Quỳnh đã có thể được xem là thi sĩ tài

năng bật nhất của thi ca hiện đại Việt Nam

Sóng và em đan quyện vào nhau Em lặng đi để sóng trào lên Nhưng

sóng cũng là em, sóng trào lên mang theo lớp lớp tâm tình của em

“Dẫu xuôi tề phương Bắc

De sitytlgự(ơng lam:

Trang 13

Thế giới của Anh và Em khơng giới hạn chiều dài BẮC Nam, khơng khoanh

vùng địa bàn mà nơi nào cũng cĩ nỗi nhớ thường (rc của tình yêu vĩnh viễn Xuân Quỳnh đã tiếp nhận nỗi nhớ ấy bằng tất cá sự nhạy cảm của lứa tuổi đơi

mươi và khẳng định cho một cái tơi của cịn người luơn vững tin ở tình yêu

Từ xưa đến nay người ta vẫn thường nổïXuơi Nam, ngược Bắc” giờ đây Xuân Quỳnh lại nĩi “Xuơi Bắc, ngược Nạh” là cách nĩi ngược Phải chăng tình yêu đã làm cho con người bị đảo lộiphương hướng ? Nhưng cĩ một phương

mà em khơng thể nào lẫn lộn, khơäg thể nào nguơi nhớ đĩ là phương anh:

“Nữi hào em cũng nghĩ _ CHướng tề anh một phương”

Xuân Quỳnh buộc chặÈba6 “sợi nhớ, sợi thương” về phương

v^ ⁄Ÿ Chỉ riêng điều được sống cùng anh

`» Niềm mơ ước trong em là lớn nu

Trái tìm nhỏ nằm trong lồng nị

Giâu phút nào tim đập 'Thế mới biết tình yêu của chị nồng nà

thì cĩ thể thay đổi nhưng với lời khẳ#ế định chắc nịch “một phương” thì nơi

qui chiếu” của đời em Từ đĩ

nhà thơ đã nĩi đến nỗi nh bất: d hoảng cách, tình yêu là sự gặp

gỡ giữa hai tâm hồn khơng i théng cho cuéc ddi Xuan Quynh,

ta cang hiéu thém ti

rở vé ding nghia trai tim em

Là máu thịt, đời thường ai chẳng cĩ Vẫn ngừng đập lúc cuộc đời khơng cịn nữa Nhưng biết yéu anh cả khi chết đi rồi”

íu NĐữừ những khổ thơ trước nhà thơ nĩi về niềm vui sướng dao dat, những nhung nhớ giận hờn thì đoạn thơ này nhà thơ lại thể hiện những băn

khoăn, lo lắng Đĩ cũng là trực cảm của tình yêu

“Ở ngồi kia đại dương

nỗi yêu thương Cũng như “em” muốn được gần bên anh, được hịa nhịp vào

trong tình yêu với anh Tình yêu của người con gái thật mãnh liệt, nồng nàn

Trang 14

Cty TNHH MIV DVVH Khang Viét

tin tưởng, tin tưởng ở tấm lờng nhân hậu và tình yêu chân thành của ẽ vượt qua tất cả như ấhg"mây kia như năm tháng kia Có thể nói X4

yêu sẽ giúp người phụ nữ vượt qua thử thách đến với

nên, sóng sẽ đến bờ, năm tháng sẽ đi qua thời gian dài

nhỏ bé sẽ vượt qua biển rộng để bay về xa Một lodÈhình ảnh thơ ẩn dụ được

a để nói lêđự cảm tỉnh táo, đúng đắn và niềm tin mãnh liệt của nhà thơ đào sứcẩuanh của tình yêu

Yêu thương mãnh liệt nhưng ¡ tha Nhân vật trữ tình khao khát hòa tình yêu con sóng, ì biển lớn tình yêu - tình yêu bao

la, rộng lớn — để sống ifết mì yêu, để tình yêu riêng hoá thân vĩnh viễn thành tình yêu mị

sao duoc tan ra

sĩ Xuân Quỳnh, số phận cá nhân không thể tách khỏi cộng đồng, sự tồn tại của mỗi cá thể là sự hóa thân vào cuộc đời rộng lớn là “Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình” Nhà thơ đã thể hiện một khát vọng mãnh liệt muốn làm “trăm con sóng” để hòa mình vào đại dương bao la, hòa mình vào biển lớn tình yêu

để một đời vỗ điệu yêu thương “Để ngàn năm còn vỗ” Phải chăng đó là khát vọng muốn bất tử hóa tình yêu của nữ sĩ Xuân Quỳnh? Vâng! Tình yêu chỉ có thể vĩnh hằng khi tình yêu đó hòa vào bể lớn của tình yêu nhân loại

Xuân Quỳnh viết bài thơ này vào những năm 1967, khi cuộc kháng chiến của

đền Ni

Trang 15

“xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, khi sân ga, bến nước; gốc đa, sân trường diễn

ra những cuộc chia ly màu đỏ Cho nên có đặt bài tơ Vằo trong hoàn cảnh ấy ta mới càng thấy rõ nỗi khát khao của người con gái trong tình yêu

Tóm lại, bài thơ Sóng là bài thơ giàu giá'ti-nội dung và nghệ thuật Thành công của bài thơ là nhờ vào thủ pháp nghệ thuật nhân hóa, ẩn dụ, so sánh, đối lập nhất là thể thơ ngũ ngôn giàu nhịp điệu Nhịp điệu của sóng, nhịp điệu của tâm hồn Tất cả đã làm hiện lêÄ về đẹp rất Xuân Quỳnh giàu trắc ẩn suy tư

và khát vọng trong tình yêu Öọế xóng bài thơ “Sóng” ta càng ngưỡng mộ hơn những con người phụ nữ Việt Nam, những con người luôn thuy chung,duén

sống hết mình vì một tình'yêu Xuân Quỳnh xứng đáng là một nhà thế nữ của

tình yêu lứa đôi và là“Ñữ höàng của thi ca tình yêu” p

1 Liên hệ tình têu của giới trẻ ngay nay (Xem những trang đầu Nôwña sách)

2 Đặt bài thơ nào hoàn cảnh lịch sử những nãi lá chin hống Mỹ cứu

nước, em hiểu thêm điều gì vé tim tu, tìnhreảm ia Se Việt Nam thời kỳ

ấy? (Lạc quan, yêu đời, tình yêu tuổi trẻ fan SƠI

(Trong cuốn “Tạp chí Nhà văn”: Với thi phẩm đặc sắc vi in đậm dấu ấn phong

€ hồN nữa một phong cách mới mẻ của thơ Việt Nam hiện đại, Đàn ghả ta của Lor-

ạnh Thảo thực sự đã đánh thức nà thử thách khả năng cảm thụ không đơn tuyết,

không một chiều của học sinh (một thói quen công nhận, nhàm chán theo chiều hướng, định hướng bất di bất dịch - kiểi

* Nhà phê bình văn học Chu Văn Sơn: “Là một tay bút ham cách tân, Thanh

Thảo cũng đã lạt sang âm nhạc tay mượn không it tốn liếng đem uề đầu tư cho thơ

mình Để làm các trường ca “Những người đi tới biểu”, “Những nghĩa sĩ Cần Giuộc”, “Bùng nổ của mùa xuân”, “Đêm trên cát” anh đã mướn cấu trúc của những bản giao hưởng 0à xônát Khiến cho các thi phẩm ấu có cái dáng là lạ như một thứ trường-ca- giao-hưởng Còn để tiệt thơ ngắn, lắm khi anh lại giật tạm cất trúc của ca khúc Có lúc thì đem tề lai ghép để tạo ra một diện mạo mới Cũng có lúc lại lầm theo kiểu biến đổi gen mà tạo ra giống mới Nhiều bài thơ ngắn được anh tổ chức khá ngon lành theo thể thức của bài hát”

: yêu, căm, chiến, lạc - khi giảng thơ ca cách mạng)

Trang 16

Ctụ TNHH MTV DVVH Khang Việt

Đề 1: Cảm nhận của Anh/chị về đoạn thơ sau trong bài thơ “Đàn ghita của Lorca” (Thanh Thao):

“những tiếng dan bọt nước

tiếng ghita ròng rồng táu chả”

DAN Ý PHÂN TÍCH

1 Vài nét về tác giả, tác:phẩm:

-_ Thanh Thảo là một gưỡng mặt tiêu biểu của thơ chống Mĩ, cũng là cây

bút luôn nỗ lực cách tân:sau T975, nổi bật là sự kiếm những cách biếi

cho thơ

“Đàn ghỉ tâ€ửa Lor-ca” là bài thơ lấy cảm hứng từ cái c

nhà thơ lớn ngừời Tây Ban Nha bị bọn phát xít Phrăng-cô giết

một Xe những sáng tác tiêu biểu cho nghệ thuật thơ Thanh, Thao

- Hinh tugng nguoi nghé sĩ Lor-ca

+ Là người nghệ sĩ tài hoa, yêu

+ Là hiện thân của văn hoá

là vẻ đẹp của nghệ thuật Lor-ca

+ Tiếng đàn là ! aiphanctia Lor-ca, cũng là thân phận của nghệ thuật

nói chung trong mot thy tại Tà cái ác ngự trị

= Sir dung nhiều biện pháp nghệ thuật có hiệu quả: đối lập, nhân hoá, ẩn

dụ chuyển đổi cảm giác,

HƯỚNG DẪN CHI TIẾT

1 MỞ BÀI

Thanh Thảo là nhà thơ tiên phong trong việc cách tân thơ sau năm 1975

Ông luôn tìm tòi khám phá, sáng tạo tìm cách biểu đạt mới qua hình thức câu

313

Trang 17

thơ tự do, đem đến một mĩ cảm hiện đại cho thơ bằnế thï ảnh và ngôn từ mới

mẻ Bài thơ “Đàn ghita của Lorca” trích từ “Khối(vũôhg Rubic” là một trong những bài thơ hay của thơ ca giai đoạn sau 1975: Bài thơ lấy cảm hứng từ sự hi sinh của Ph.G.Lorca một nghệ sĩ lớn của đất nước Tây Ban Nha Tác phẩm để lại giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc rà tiêu biểu là đoạn thơ sau đây:

những tiếng đàn bọÌ nước rong rongyndu chảy

II THÂN BÀI

1 Khái quát: Làm nêf:cảm hứng của bài thơ là hình tượng thơ orca

~ một tên tuổi lớn của đất nước Tay Ban Nha Đó là người

chống lại chủsnghĩa phát xít và cách tân nền nghệ thu:

nước Tây Ban Nha Anh hi sinh khi sự nghiệp dang 6 di Jai trong lòng nhân dân Tây Ban Nha nói riêng và nhân dân thế giới nội chiấtg niềm tiếc thương vô hạn Từ hình tượng ấy, Thanh Thảo đã c bà

2 Nội dung phân tích, cảm nhận:

a Khổ thơ thứ nhất, Than]

người tự do, nghệ sĩ cách tâ

hóa của Tây Ban Nha:

đã hiện lên hình ảnh Lorca, con

chính trị và nghệ thuật, văn

đàn áo choàng đỏ gắt 0F nước

la li-la li-la

ï lang thang 0ề miền đơn độc tới tầng trăng chếnh choáng

trên yên ngựa mỏi mòn

cách diễn đạt của Thanh Thảo, hình ảnh Lorca hiện lên qua các biểu

tượng đầy sức ám ảnh: tiếng đàn bọt nước, áo choàng đỏ gắt, hoa li la

Câu thơ đầu rất gợi cảm gây ấn tượng mạnh về thính giác và thị giác :

“những tiếng đàn bọt nước” Tiếng đàn là âm thanh được nhà thơ cảm nhận bằng thính giác và thị giác Từ đó người đọc hình dung được vẻ đẹp của tiếng đàn dựa trên những liên tưởng ngoài thơ Âm thanh của tiếng đàn như bọt nước Đó chính là tiếng đàn trong trẻo, nhưng mong manh, ngắn ngủi, đễ vỡ Phải chăng câu thơ đầu đã tạo cho người đọc về vẻ đẹp và số phận của Lorca ? Tính dự báo về số phận mà người nghệ sĩ tài hoa đang phải đón nhận một mệnh bạc phía trước ?

Câu thơ thứ hai “Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt mở ra không gian văn hoá

Tây,

Trang 18

với nền nghệ thuật già nua Ở đó thể ehế chính trị độc tài chính là những con bò

tót hung bao và đối lại chúng chính là chiến sĩ, kiém si Lorca

Câu thơ thứ ba với âm điệu của tiếng đàn “Li la li la lila” gợi nhiều liên tưởng Đó là những từ ngữ-mô phỏng âm thanh của tiếng đàn nhưng,

nâng đỡ cho người nghệ sĩ vút bay lên trên bạo tà

Ba câu cuối với hệ thống thi ảnh: “1 ang, mi

say của Lorca Ta cũng thường

cũng như từng thấy trăng, 6 dai, oang trong thơ Thanh Thảo Có

lang ci Wrẻ đi khắp nơi để sáng tác và hát lên những khúc ca tranh

đấ Ó inh trình của Lorca trên con đường sáng tạo nghệ thuật và đấu

tranh vì dân chủ của nhân dân Tây Ban Nha Trong thế giới ấy ta thấy

Lorca người đơn độc đáng thương

b Khổ thơ thứ hai, Thanh Thảo đã dựng lại phút giây bỉ tráng của Lorca trước nòng súng quân thù:

Tay Ban Nha hat nghéu ngao

bỗng kinh hoàng

áo choàng bê bêt đỏ Lorca bị điệu tề bãi bắn

chàng đi như người mộng du

Năm ấy (1936) nhà thơ vừa ba mươi tám tuổi, con đường, tranh đấu đang,

315

Trang 19

sức hút và ảnh hưởng to lớn của Lorca Bởi vậy diễn tả,Khoảnh khắc người chiến

sĩ ấy bị bọn phát xít sát hại, Thanh Thảo cũng đã dựng rên bầu khơng gian kinh hồng bởi những ấn tượng chết chĩc Thủ pháp nghệ thuật đối lập giữa lạc quan, yêu đời (hát nghêu ngao) và sự thật Phũ-phàng (áo chồng bê bết đỏ) đã làm nên một đoạn thơ ấn tượng về sự hi sinh bí tráng của người chiến sĩ Lorca

“Bỗng kinh hồng”: ba tiếng ngắn-ngủi như tiếng thốt lên đây đau đớn của nhà tho Thanh Thảo Nĩ đặc tả trạng thái bất ngờ, sửng sốt trước cái chết gây chấn động Tây Ban Nha và thế giới: “Áo chồng bê bết đở” là màu đỏ của máu Lor-ca đã đổ, là hình ảnh hoản dụ để chỉ cái chết của Lorca Đây là số phận oan khuất của Lorca, anh đã“dự cảm về cái chết nhưng chính người anh hùng,

ấy cũng khơng thể ngờ'đừợc cái chết sẽ đến với mình nhanh đến vậy Trước

đĩ một năm Lofea'đãtừng dự cảm về cái chết : “Tơi khơng muén nhin thay mau chảy!” Một nắm sá đĩ, đúng hơm nay, máu đã chảy tràn khắp Tây Ban Nha

vì nội chiến và máu đã nhuốm “bê bết” áo chồng Lorca

nào trước cái chết cũng trở

ĩ những lời hơn mọi bài ca

6 những con người như chân lý sinh ra

(đố Hữu)

tiếng ghi-ta nâu bầu trời con gái ấy tiếng ghi-ta lá xanh biết mất tiếng ghi-ta trịn bọt nước ỡ tan tiếng ghỉ -ta rịng rịng

mắn chảy

Nhà phê bình văn học Chu Văn Sơn đã nhận xét về Thanh Thảo như thế này: “Là một tay bút ham cách tân, Thanh Thảo cũng đã tạt sang âm nhạc vay muon khơng ít uốn liễng đem uề đầu tư cho thơ mình Đểlàm các trường ca Những người

đi tới biển, Những nghĩa sĩ Cân Giuộc, Bùng nổ của mùa xuân, Đêm trên c‹

316

Trang 20

Ctụ TNHH MTV DVVH Khang Việt

anh đã mướn cất trúc của những bản giao hưởng va xônákKhiến cho các thi phẩm ấn

có cái dáng là lạ như một thứ trường-ca- giao-hưởng Cồn để oiết thơ ngắn, lắm khi anh lại giật tam cấu trúc của ca khúc Có lúc thì đêm ve lai ghép để tạo ra một diện mạo mới Cũng có lúc lại làm theo kiểu biến đồi gen mà tạo ra giống mới Nhiều bài thơ ngắn được anh tổ chức khá ngon lành theo Ìhể thức của bài hát” Quả như vậy,

đọc bài thơ “Đàn ghita của Lorca“ ta.tó cảm giác như Thanh Thảo đang tạo nên một bản đàn với đầy đủ hợp âfa Và giai điệu

Nghệ thuật điệp ngữ “Tiếng ghỉ ta” được lặp đi lặp lại bốn lần và biến hoá linh hoạt, thay màu chuyển-gam, biến áo mang nhiều xúc cảm Nghệ thuật

chuyển đổi cảm giác càng làm đoạn thơ mang nhiều màu sắc của tình cải thì tiếng ghỉ ta nâu: thính giác biến thành thị giác “màu nâu” ` Đó là

cây đàn, của ý nghĩ, mẫu của đất đai Màu của suy tư về người

trời cao rộng trọng đó có cô gái Ana Maria đáng yêu thủy chị

điệu Slow trong Bản nhạc

_ Tir digu slow, Thanh Thảo chuyển hướng qua điệu

xuân tươi đẹp của

ốt lên sự nuối tiếc „ thá huỷ Tiếng vỡ oà, tức tưởi

cất lên đau đớn đến xót xa

từ thính giác qua thị giác nhà thơ nước vỡ tan”, Điệu SlowRock đã chen

t dau nhanh lên “Tròn bọt nước” gợi nên sôi nảy nở không ngừng, những âm thanh này

ae bao âm thanh khác tiếp nối Âm thanh “bọt nước”

iéng dan nhưng đồng thời qua đó nhà thơ đã hiện thực hoá cái

la Lorca đầy xót thương ai oán

Câu thơ tiếp theo “tiếng ghỉ ta ròng ròng máu chảy” gợi nhiều ấn tượng

Âm thanh được cảm nhận bằng thị giác tạo cảm giác mạnh Điệu Rock đã nổi lên đây cao trào Âm thanh tuôn chảy “ròng ròng” gây ấn tượng mãnh liệt Tiếng đàn như một cơ thể, có sinh mệnh, có trái tim, biết quặn đau, biết chảy máu Khoảnh khắc Lorca bị hành hình thật khủng khiếp “ròng ròng máu chảy” và trong phút giây ấy tiếng ghi ta cũng uất nghẹn cũng khóc ca đồn đập, nghẹn ngào như từng tiếng nấc, như nỗi uất xót trào lên

Một cung gió thảm mây sầu Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay

317

Trang 21

3 Nghệ thuật: Thành công của đoạn thơ trên chínf-lŸ nhờ vào một số thủ

pháp nghệ thuật: câu thơ không viết hoa dau dang tao cảm xúc liền mạch; ngôn ngữ giàu hình ảnh (tượng trưng siêu thực) Hình tượng thơ có sự song hành và chuyển hoá lẫn nhau giữa ba hệ tiốủg Hình ảnh: Tây Ban Nha, Lor-ca

và tiếng đàn Lời thơ giàu nhạc tính với việè đùng những từ láy, điệp từ, điệp ngữ, chuỗi từ tượng thanh mô phỏng tiếng đàn Sử dụng nhiều biện pháp

nghệ thuật có hiệu quả: đối lập, nhâï-hòá, ẩn dụ chuyển đổi cảm giác,

Ill KẾT BÀI

Tom lai, đoạn thơ trên trong bai thơ “Đàn Ghita của Lorca“ là một đoạn.thơ

đặc sắc Qua đó, Thanh Thao da tao dựng nên hình ảnh người chiến.sẾ nhân

dân chống phát xít bạð.tần vừa mang màu sắc lãng mạn vừa mang mầu sắc

tráng ca Đoạn thơ-cũng vừa kết hợp được chất thơ và chất mặc tạo nên một khúc ca sâu lắng vềngười anh hùng nhân dân Ph Gacia lệrca;

Đề 2: Cảm nhận của Anh/chị về đoạn thơ sau trong bài the “Dn ghita

của Lorca” (Thanh Thảo):

không ai chôn cấttiếng dan l tiếng đàn như €ỏ moehoang

giọt nước Phát vằng trăng

lonẩÏầnh trồng đáy Øiếng

'đường chỉ tay đã đứt

- dòñg sông rộng vô cùng

Íor-ca bơi sang ngang trên chiếc ghỉ ta màu bạc

chàng ném lá bùa cô gái Di-gan

Vào xoáy nước chàng ném trái tim minh vào lặng yên bất chợt li-la li-la li-la

HUONG DAN CHI TIET

Thanh Thảo là nhà thơ tiên phong trong việc cách tân thơ sau năm 1975

Ông luôn tìm tòi khám phá, sáng tạo tìm cách biểu đạt mới qua hình thức câu

thơ tự do, đem đến một mĩ cảm hiện đại cho thơ bằng thi ảnh và ngôn từ mới

mẻ Bài thơ “Đàn ghita của Lorca” trích từ “Khối vuông Rubie” là một trong

những bài thơ hay của thơ ca giai đoạn sau 1975 Bi

sinh của Ph.G.Lorca - một nghệ sĩ lớn của đất nước Tây Ban Nha Tác phẩm để

Trang 22

Cty TNHH MIV DVVH Khang Viét

không ai chôn cất tiếng đàn C lila — lỉ la — lỉ la °

1 Khái quát trước khi phân tích: Làm nên cảm hứng của bài thơ là hình

tượng tho Gacia Lorca - một tên thổi lớn của đất nước Tây Ban Nha Đó là

người nghệ sĩ tranh đấu chống lại chủ nghĩa phát xít và cách tân nền nghệ thuật đã gia nua cua đất nước Tây Ban Nha Anh hỉ sinh khi sự nghiệp đang ở đinh cao, để lại trong lòng“nhần dân Tây Ban Nha nói riêng và nhân dâu giới nói chung niềm tiếề*tHữơng vô hạn Từ hình tượng ấy, Thanh

sáng tác bài thơ này,

hiện lên nhiều liên ,, “Không ai chôn cất tiếng đàn/ Tiếng dụ, nhân hóa làm tiếng đàn

ới di nguyện này, Lorca mong muốn người đời

ủa anh, nghệ thuật của anh Mai hậu phải biết vượt qua

sp tục con đường cách tân Lorca không muốn mình là cái

sự tiến bước của những tài năng trẻ Điều mà người nghệ sĩ

Nguyễn Du đã từng tìm sự đồng cảm ấy qua câu thơ chất chứa bao nỗi niềm:

Bất trỉ tam bách dư niên hậu Thiên hạ hà nhân khốc Tố Như

(Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa Người đời ai khóc Tổ Như chăng) Chưa đến ba trăm năm sau, Nguyễn Du đã được Tố Hữu - một nhà tho hiện đại đồng cảm:

“Ngàn năm sau nhớ Nguyễn Du

Tiếng thơ như tiếng mẹ ru những ngà”

Nhưng bưồn thay cho Lorca, người đời vì quá tôn sùng anh nên “không ai

ìnhreng „ nị đại lại không;thxie#viện di

Trang 23

chúc của anh mà lại chôn vùi khát vọng của anh Và nữ Vậy, rốt cục Lorca vẫn

là cái bóng quá lớn ngăn cản người đến sau

Hình ảnh thơ ấy cũng thể hiện sự băn khoăn của Thanh Thảo Đó là nỗi băn khoăn về sự nghiệp cách tân mà Lor-ca để lại Không biết ai sẽ là người kế tục

sự nghiệp vĩ đại của Lorca Và nếu khôngQí iếp tục thì sợ rằng nghệ thuật của Lor-ca sẽ thành “cỏ mọc hoang”

Đọc lại hai câu thơ một lần nữata lại phát hiện một tầng nghĩa mới “Không,

ai chôn cất tiếng đàn/ Tiếng đàn như cỏ mọc hoang” Tiếng đàn là tượng trưng cho tài năng và số phận của Lồrca Bọn phát xít đã vùi chôn Lorca nÏ chúng không thể nào đập tắt được nghệ thuật, tài năng và nhân

Lorca Cách so sánh “nhừ›cô“mọc hoang” cho thấy tiếng đàn ho:

bừng một sức sống khổng có gì có thể đập tắt được nên Lor:

vàng trăng- longnh trong đáy giếng”: Hệ thống thi

nghệ thuật siêu thực của Lorca Nó vừa gần

nước mắt vầng trăng” có thể hiểu thành: “giọt ni

cao quý của tâm hồn; “vâng trăng” là

vĩnh hằng, vĩnh cửu

¡ nhau tạo nên vẻ đẹp lung linh

“giotnuécmiấtvồng trăng” Gig ấy lại “long lanh trong đáy giếng”

einen ta od tone tới sự u anh nién xung phong trong bai

ig trời đã nằm tên trong đất

ôm đêm, tâm liền em tỏa sáng

irng 0ì sao ngời chói, lung linh

m Va đáy giếng nơi những người chiến sĩ ấy ngã xuống là hiện thân tôi ù nhưng kỳ lạ thay, nơi mà kẻ thù ngỡ đã vùi lấp được những người anh hùng ấy lại là nơi trở thành vì sao ngời chói lung linh, nơi tâm hồn

họ long lanh trong đáy giếng

b Khổ thơ cuối là sự suy tư về cuộc giải thoát và cách giã từ của Lor-ca:

đường chỉ tay đã đứt đòng sông rộng 0ô cùng

Lor-ca bơi sang ngang

trên chiếc ghỉ ta màu bạc

chàng ném lá bùa cô gái Di-gan

ĐÀO Xoắ/ nước chàng ném trái tim mình vio ling yên bất chợt

li

320

Trang 24

có nhiều cách để “bơi” Có người #hợn cách bơi theo dòng chảy của dòng sông, (chấp nhận buông xuôi) Có gởi bơi ngược dòng sông (vẫy vùng chống lại định mệnh), Ở đây Lorca “bơi sahg ngang“ là sự dứt khoát chối bỏ tất cả để về cõi siêu sinh

Hình ảnh cây đàn cổ sử biến ảo từ màu nâu, màu xanh, màu đỏ

hóa thành “màu bae > màu hư ảo Chàng đi về cõi vĩnh hằng cõi

chợt” Lorca không bơi xuôi theo dòng sông, không bơi nị

chống lại số phận nghiệt ngã của mình, mà chàng chọn

chính là sự đứt khoát giã từ

Với một tâm thế hành động kiên quyết “ném lá Bùa cỗ gái

tim mình” Lá bùa là thần hộ mệnh, trái+im, là sự số Hồ nhưng giờ đây chàng

Câu thơ cuối anh của tiếng đàn “1li-la-li-la-li-la” tạo nên một khúc nhạc trầm š ứng tiếng, bee dem cuối Si cùng nhằm tạo lọ những

mang tên loi a như một sự sống lặng lẽ tỏa hương, hiện hữu giữa

ca của chúng ta đã ra đi trong âm thanh và mùi hương hoa ấy Chuỗi âm “lila' ấy còn gợi nên một ý nghĩa khác: nó gợi hình ảnh những tràng loa chuỗi hoa bật tím liên tiếp Đó là những đoá hoa người đời, người thơ thầm kính viếng hương hồn Lorca hay chính là ngàn muôn đoá hoa của sự sống đang nảy nở từ cái chết đau thương của nhà thi sĩ, thể hiện sức sống bất diệt của những giá trị chân chính trên cõi đời này

3 Nghệ thuật: Thành công của đoạn thơ trên chính là nhờ vào một số thủ

pháp nghệ thuật: câu thơ không viết hoa đầu dòng tạo cảm xúc liền mạch;

ngôn ngữ giàu hình ảnh (tượng trưng siêu thực); điệp ngữ; ẩn dụ chuyển đổi

tất cả đã mang đến một giọng thơ mới lạ,

cảm giác; thơ kết hợp với âm nhạ

trừu tượng nhưng cũng rất dễ hiểu

321

Trang 25

II KẾT BÀI

Tóm lại, đoạn thơ ta vừa phân tích ở trên là một đoản thơ hay trong bài thơ

“Đàn ghita của Lorca” Thanh Thảo đã tạo dựng chân dung người nghệ sĩ -

chiến sĩ Garcia Lorca một cách trung thực^khiến người đọc cảm nhận rõ vẻ

đẹp tâm hồn, tính cách đậm chất Tây Ban Nha của Lorca Bài thơ gây xúc động,

mãnh liệt cho người đọc, sự cảm thương tiếc nuối trước người nghệ sĩ, chiến sĩ

tài hoa bạc mệnh Càng yêu quý Lorea Ìa càng căm ghét những thế lực bạo tàn

đã cướp đi người nghệ sĩ vĩ đạ(Cuš chúng ta Câu mong cho anh được yên nghỉ trong mùi hương li - la Vĩ\h hằng Nhân loại sẽ mãi nhớ đến anh ! Cả

Đề 3: Phân tích bài thơ “Đàn ghita của Lorca” của

(Sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập 1, NXB Giáo Dục 20!

* lila — lila — lila

hứng của bài tho Bi hình tượng thơ Gacia Lorca — một tên tuổi

ủa đất nước Tây Ban Nha Đó là người nghệ sĩ tranh đấu chống lại chủ

ja phat xit va cach tân nền nghệ thuật đã già nua của đất nước Tây Ban

Nha Anh hi sinh khi sự nghiệp đang ở đỉnh cao, để lại trong lòng nhân dân Tây Ban Nha nói riêng và nhân dân thế giới nói chung niềm tiếc thương vô

hạn Từ hình tượng ấy, Thanh Thảo đã sáng tác bài thơ này

Thanh Thảo mở đầu bài thơ bằng chính di nguyện của Lor-ca “Khi tôi chết hãy chôn tôi tới cây đàn” Day là một di nguyện vừa thiêng liêng vừa cao

thượng Anh không muốn suốt đời là cái bóng ngăn cản sự phát triển của những tài năng trẻ của đất nước mình Đây chính là cái tâm của người nghệ sĩ

lớn suốt đời hỉ sinh cho nghệ thuật và đấu tranh chống phát xít bạo tàn Về

một ý nghĩa khác Đàn ghita đã gắn với giây phút cuối cùng của cuộc đời Lor-

ca Cái chết của người nghệ si ay va ERHETE phẩm chat tài năng của anh đã bắt gặp hồ

32

Trang 26

Ctụ TNHH MTV DVVH Khang Việt

Băi thơ có lối diễn đạt không viết hoa đầu dòng tấo.nín một sự liền mạch

như một đòng chảy của cảm xúc không có điểm đừng Sự tăi hoa của Thanh

Thảo còn lăm ta liín tưởng băi thơ như một bản đăn ngđn vang với đm thanh

“li-la” mính mang, dìu dặt vút cao chắp cảnh đưa người nghệ sĩ bay vút lín

trín tất cả bạo tăn vă chết chóc

những tiếng đăn bọmlớc

Tđy Ban Nha ấ choăng đỏ gắt

1ila, li-la, lila,

di lang thang oề miền đơn độc tới uầngrtrăng chuếnh choâng trếhjền ngựa mỏi mòn Những cđu tu Phở đầu giău sức gợi mang đến một trường liến tưởng về

một đất nước đẹp-tươi với tiếng ghi ta lăm mí say lòng ig vil Digan vĩi lan da ram nắng vă vũ khúc Flamenco chay Bỏi dau

bò rực ele va danh dự của THÍ ease sĩ vă Nă thể thiếu ĩn thao

trước val mau «âo Sông di theo sau tiếng đăn bọt nước ấy chính lă

2 fu trong bd tot ngay trong sy chuyĩn

gam của Thanh đhả o, một đấu trường chính trị khổng 13, ngột ngạt, căng thẳng, mau ctia Tay Ban Nha thời đó Mău âo của kiếm sĩ « đỏ

gat » líi trị độc tăi thđn phât xít đang thiíu đốt tự do dđn chủ

triển của một nền nghệ thuật đang giă cỗi Đđy lă một ñữa một bín lă khât vọng dđn chủ của nhđn dđn nói chung, của

cuộc xửng đột giữa khât vọng câch tđn của nhă thơ với nền nghệ thuật giă nua Xĩt ở phương diện năo thì Lorca cũng lă một chiến sĩ đơn độc đâng thương Giữa lúc trận đấu đang căng thẳng thì bỗng vang lín đm thanh du dương, bổng trầm của tiếng đăn: li-la, li-la, lila một thanh đm trong trẻo, thanh tao quyện hòa mùi hương hoa Lila dìu dịu, lan tỏa với những cânh hoa mău tím nồng năn đđy sức sống giữa khung cảnh bạo tăn vă chết chóc Đấu trường khốc liệt nhường chỗ cho sự thăng hoa của nghệ thuật Ai nói nghệ thuật không có sức mạnh Không ! Nghệ thuật chính lă sức mạnh vô địch có thể hóa giải mọi hận thù Vă chăng nghệ sỹ của chúng ta đang thăng hoa trong bản hòa tấu Ghita đầy lêng mạn Người đọc như đang doi mắt theo từng bước chđn

lêng tử của nị nghệ sỹ trín hănh trình “lang thang 0ề miền đơn độc” cùng với

323

Trang 27

“tầng trăng — yên ngựa” Đây là một hệ thống thi ảnh tường bắt gặp trong thơ Lorca, chàng kị sỹ một mình trên lưng “con ngựa đénoầng trăng đỏ” với những,

bản đàn ghita phiêu bồng cùng giấc mơ tranh đấu Trong thơ Thanh Thảo,

Lorca hiện lên với dáng điệu “chuếnh choáïg” Đây là một hình ảnh mang cái

hồn say của người nghệ sỹ, không phải(Cải Say tâm thường của những cốc

rượu vang đỏ mà là say trong tranh đấu, say trong sáng tạo nghệ thuật Nếu

như chàng Đôn-ki-hô-tê trong trang văn của Xec-van-tec mải miết với giấc mơ

hiệp sĩ thì Lorca mãi “mỏi mòn” tíöng hành trình chống lại tộc ác của bè lũ Phờ-

xăng-cô Nhưng đáng thương thay, trong hành trình khát vọng ấy, Lorca là

một nghệ sĩ cô đơn trong¬sáng tạo nghệ thuật và cô độc trong chỉ

Nhung khéng vi thé “€n fioa mi ciia xit Granada lại ngừng hót”„Ñành vẫn

phat xit da

đánh hạ Lorca đáng thương Thanh Thảo thốt lê sờ “Đồng kinh hoàng”

giới nín lặng, bản giao hưởng chùng xuống đồi lại vút cao lên theo “máu anh

phun như lửa đạn cầu tồng” Thị do tag dung cai chết đây bi phẫn của

a pháp nghệ thuật đối lập Đối lập

it vong “hat nghêu ngao” với sự that phat

là màu máu của Lorca làm tấm áo choàng đỏ Đối với Lorca, anh luôn dự cảm về cái chết nhưng

ờ rằng cái chết lại đến với mình nhanh đến thế Anh đã ông muốn nhìn thấy máu!” Nhưng máu đã đổ Người kiếm

ái chết vinh quang giữa đấu trường cùng với đôi kiếm sắc nhưng, lành hình một cách lén lút bất minh Nhưng Lorca chấp nhận như ngudPcach mang da chap nhan “Dain thin ô là phải chịu tì đày/ Gươm kề cổ súng

kề tai! Là thân sống chỉ coi còn một nửa” Và vì chấp nhận, người anh hùng đã ung dung, bình thản ra giữa pháp trường “chàng đi như người mộng du” Mộng

du là trạng thái của tâm hồn đã rời thể xác nhưng không có nghĩa là biến mất

khỏi thể xác Tâm hồn và tỉnh thần của Lorca đã gửi tất cả vào cuộc tranh đấu

và vì thế bước chân mộng du đã hóa thành những bước chân anh hùng Càng, tiếc thương chàng nghệ sĩ bao nhiêu chúng ta lại càng căm phẫn tội ác bấy

nhiêu Va Lorca da hi sinh nhưng những kẻ thất bại lại chính là bè lũ phát xít

Bởi chúng chỉ có thể hủy điệt được thân xác của Lorca nhưng không thể hủy diệt được sức sống của anh đang bung nở giữa bản hòa tấu trầm hùng mang

âm hưởng của những tiếng Ghita nồng nàn ví diệu:

giữa niềm tin, tình y

phang “áo choàng bô

324

Trang 28

Cty TNHH MIV DVVH Khang Viét

tiếng ghỉ -ta nâu

bầu trời c6 gai ay tiếng ghỉ -la lá xanh biết mấy

tiếng ghỉ -ta tròn bọt nướề Đỡ lan tiếng ghỉ -ta ròng ròng tẫu chảu Điệp khúc đồn đập qua nhip tHo/Thanh Thao như đã lột tả được cái bàng hoang cam phan trong ban ghi ta bi tráng! Tôi gọi đây là khúc biến tấu của

tiếng đàn, nó thay màu chuyểh.gấm rất lẹ, biến ảo không ngừng và đặc biệt

luôn sinh sôi nảy nở, giọt ee di, giot kia Mai tr trao ra không dứt Đó chính là

đã ngước nhìn lên bầu trời xanh tha thiết “bầu trời cô gái

khát vọng, bầu trời yêu thương nơi có bóng hì

ung, Đối lập với màu nâu trầm ñnh là màu xanh của “tiếng #hửa lá xan] biệt mấĩy” Màu xanh là sự hóa thân của Lorca và tiếng, i n mang sức sống cỏ cây: màu xanh của những vườn cam mà của thảo nguyên và những rang Oliu hay hàng bạch dương nội yên nghỉ Hai tiếng biết mấy nằm ở cuối câu vừa là sự i cảm của người nghệ sĩ Thanh Thảo vừa để tôn thêi

suốt đời hi sinh và lí t ï trẻ Lorca - vẻ đẹp của người chiến sĩ

nói

ẫn bạo tàn Hay nói đúng hơn đó là tiếng kêu cứu của

¡ day đến bờ vực của sự tuyệt diệt

tiếng ghỉ -ta tròn bọt nước 0ỡ tan tiếng ghỉ -ta ròng ròng máu chả

Hai tiếng vỡ tan, vừa là sự vỡ ra của bọt nước vừa là sự phập phồng thổn

thức của tiếng đàn Nó đã cất lên lời ca tranh đấu lên án bè lũ phát xít đã hủy diệt cái tài, hủy diệt cái đẹp Và vì thế bản ghita bi tráng đẩy đến độ cao trào

của sự bi phẫn, nó ròng ròng máu chảy, nó uất nghẹn, tức tưởi đến bật máu thành từng dòng đau thương trong một bản đàn giao hưởng hào sảng Nỗi đau của tiếng đàn cũng là nỗi đau của người nghệ sĩ khi khát vọng chưa thành Ta cũng đã từng bắt gặp nỗi đau của người nghệ sĩ trong Truyện Kiều của

Nguyễn Du “Một cưng gió thửm mây sầu! Bốn đây nhỏ máu năm đầu ngón tay”

Trang 29

Đó chính là sự đồng cảm giữa nghệ thuật và tâm hồn.€ủa hgười sinh ra nó Thì

ra nghệ thuật trong bản thể của nó cũng là một sinhí đệnh

Với thủ pháp nghệ thuật so sánh và liên tưởng, Thanh Thảo đã làm sống day một không gian sinh tôn đây sức sống thành liệt

không ai chôn cất tiếng đần

tiếng đàn như củ một lionng

giọt nước mắt ïy trăng

long lanh troltg đá giếng

“Không ai chôn cất tiếng.đần” lay không ai có thể chôn cất được tiến;

sĩ nhân dân ThứÈHäi Bởi sức sống mãnh liệt và hoang dại

mọc hoang khồng-gì có thể ngăn nổi chúng Đây chí

hằng của nghệ thuật Dù Lorca hí sinh nhưng sản phẩ

lại đó chính là tâm hồn mình, nghệ thuật của ững bài ca tranh đấu của Lorca vẫn đồng hành cùng thời gian.và đi cùng đằm tháng thăng trầm của lịch sử và nó mãi mãi được hát vang tẾong lòng của nhẫn dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới

hồn anh Ở khổ cuối của bài thơ, Thanh Thảo đưa người đọc vào thế giới suy

tư về sự giải thoát của Lorca:

đường chỉ tay đã đứt dong sông rộng tô cùng

Lorca boi sang ngang trên chiếc ghita màu bạc chàng ném lá bùa cô gái Digan ĐÀO X0á/ nước

Trang 30

Cty TNHH MIV DVVH Khang Viét

Và cuối cùng chàng nghệ si của chúng ta đã dùñg bước giang hồ trước dòng sông của định mệnh khi đường chỉ tay đã(đũt Sinh mệnh cham dit Chàng rũ bỏ mọi hệ lụy trần gian để trở về cõi Vinh hing Dòng sông vô hình dung là dòng sông cuộc đời, dòng sông cửa số phận và cũng là đường ranh giới ngăn cách giữa sự sống và cõi chết Trên dòng sông ay, Lorca dang bơi sang ngang cùng di vật đàn ghita Màu-bạc của cây đàn là sự biến ảo từ màu nâu trầm nh sang xanh thiết tha'hÏvọng và cuối cùng là màu của sự hư ảo trong cõi siêu sinh Lorca đanÿ;bới.trên con thuyền thi ca mà cây đàn chính là con thuyền bàng bạc chở tình.yêử và nỗi nhớ của chàng đang trôi đần vào bến

bờ bất tử Chàng đút khoát rũ bỏ mọi hệ lụy trần gian ném lá bùa vào

nguy trên dòng sôi của định mệnh? Cõi lặng yên phải chăng I

trái tìm người nghệ sĩ ngừng đập? Có lẽ ta không cần phải lẾ giải

Lorca da vé noi an nghỉ cuối cùng Chỉ còn vang vọn,

tiếng đàn li-la, li-la, li-la như bản nhạc thiết tha,

loài hoa Lila đưa người nghệ sĩ

tiếc thương vô hạn Tôi chợt nhớ tới bài hi nhớ củ:

Cỗ lẽ ở một nơi nào đó, chàng nghệ sĩ nhân dân đang được sống giữa những

sự yên Vui và đây ánh nắng của tự do nơi đó không có bạo tàn và chết chóc

Bài thơ đã rất thành công khi tạo dựng một tượng đài Lorca bằng ngôn ngữ của thơ và âm nhạc Với lối thơ không viết hoa đầu dòng, cảm xúc liền mạch, Thanh Thảo đã mang đến cho người đọc một mĩ cảm hiện đại giàu tính sáng tạo

Sự trộn lẫn giữa trường phái tượng trưng siêu thực và sức sáng tạo của Thanh Thảo đã cho ra đời một tuyệt bút đầy ngẫu hứng giàu chất nhạc Trên hết là nhà thơ đã mang đến cho người đọc một tình yêu vô bờ bến đối với nhà thơ nhân dân chống phát xít bạo tàn Bất kỳ một cuộc chiến nào cũng có người chiến thắng và kẻ bại trận nhưng những người biết hi sinh vì mọi người luôn luôn là người anh hùng với chiến thắng vĩ đại nhất Gacxia Lorca là một người như thế

327

Trang 31

HƯỚNG VẬN DỤNG

1 Liên hệ đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” (Vũ Như Tô — Nguyễn Huy

Tưởng) Anh/ chị hãu nêu oai trò của nhân tài đối ới sự phát triển của đất nước nà nhà nước cần làm gì để những người làm nghệ thuật có thể phát huy được hết khả năng sáng tạo nghệ thuật của mình

8 ra: Binh gidhg bai thơ “Tiếng hát con tàu” của nhà thế Chế Lan Viễn,

1 Vài nét về tác giả và tác phẩm:

Chế Lan Viên là bút danh của nhà thØếPhan Ngọc Hoan (1920-1989) Trude

1945, Chế Lan Viên nổi tiếng với tập thơ “Điêu tàn” Sau 1945, ông nổi tiếng với tập “Ánh sáng và phù sa”.'Đó là cuộc hành trình từ “Thung lũng đau thương” ra “cánh đồng vui9

Phong cách: Thơ Ghế Lal} ViỂÑÈgiàu chất suy tưởng, mang vẻ đẹp trí tuệ, hình ảnh luôn mới lạ, ngồn ngô sắc sảo

Xuất xứ: “Ting hẩtếon lầu” viết trong thời kỳ miền Bắc xây dựng XHCN, đặc biệt năm 19ổ8 có đợt kêu gọi đồng bào miền xuôi lên vùng núi Tây Bắc đi xây dựng Vùng kinh tế mới Tác phẩm được rút ra từ tập thơ “Ánh sáng và

Phù đã,

2 Ý nghĩa nhan đề Tiếng hát con tàu:

Trước 1945, “Với tập thơ “Điêu làn”, Chế Lan Viên xuất hiện giữa làng thơ Việt Nam như một niềm kinh dị” (Hoài Thanh) Trong các nhà thơ mới “Thế Lữ muốn thoát lên tiên, Lưu Trọng Lư phiêu lưu trong trường tình, Xuân Diệu đốt

cảnh bồng lai xua mình về hạ giới”, còn họ Chế trốn tránh cuộc đời trong “tỉnh

cầu giá lạnh”:

Hãu cho tôi một tỉnh cầu giá lạnh

Một tì sao tro troi cudi trời xa

Để nơi đó tháng ngày tôi lẫn tránh

Những tru phiên đau khổ tới sầu lo Chế Lan Viên đắm chìm trong suy tư vô trong “thế giới điêu tàn”, thế giới

của “Muô Hoi sò ng dắt Nhung st a 6 ủ ách

Trang 32

Cty TNHH MIV DVVH Khang Viét

mạng tháng Tám như một luồng gió mới thổi vào tâm hồầ con người, vào tâm hồn người nghệ si, da làm phục sinh tâm hồn tưởng bừng như đã vụt tắt của

họ Và từ đó Chế Lan Viên đã tìm cho mình một niềm vui mới và lẽ sống mới

bằng “Ánh sáng và phù sa” Đó cũng chính ]à lúể Chế Lan Viên từ bỏ “tinh cầu

giá lạnh”, từ bỏ nỗi cô đơn, đưa cái tôi hòã nhập vào cuộc đời rộng lớn của nhân dân, nhà thơ gọi quá trình từ bỏ'đỏ là “Từ thung lũng đau thương” ra

“cánh đồng vui”, từ thế giới “Điêu tàn” đến với “Ánh sáng và phù sa” Hay

mượn cách nói của một nhà thợ P áp “Từ chân trời một người đến chân trời

mọi người” Bài thơ “Tiếng hát con tàu” chính là hành trình đến với Tây Bắc, đến với nhân dân, với cội hgwồn sáng tạo

Hình tượng con tàu: sử thật những năm Chế Lan Viên viết bài thì

ng ging chiéu hep

lò nát cuộc đời con”

ep đó đã thực sự mở rộng sau Cách mang, đó là lúc

sĩ đã mở rộng đón gió, đón nhận hương sắc cuộc đời,

1? c6 riêng gì Tây Bắc Khi lòng ta đã hoá những con tàu

Khi tổ quốc bốn bề lên tiếng hát Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu

“Tây Bắc” là ở đâu? Tây Bắc chỉ vùng cực Tây của Tổ quốc, nơi trải qua cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp day dau thương nhưng hào hùng của đân tộc, đó là nơi “Máu rỏ tâm hồn ta thấm đất”, đó cũng là nơi “Tình em đang mong tình mẹ đang chờ”, nơi hồi sinh đất chết “Nay dạt dào đã chín trái đầu xuân”, là nơi cần những bàn tay kiến thiết, cần những tâm hồn xây dựng Tác giả khẳng định trong câu hỏi: “Tây Bắc u? Có riêng gì Tây Bắc”

329

Trang 33

Tây Bắc không chỉ là một hình ảnh cụ thể mà Tây Bắc èòn là biểu tượng của đất nước, của Tổ quốc, có nghĩa là nơi nào trên Tổ quốc của chúng ta cần đến

nhưng bàn tay lao động, những bàn tay kiến thiết thì ở đó có “lòng ta” “ Khi

Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát” thì đó là lúc “Lòng ta hóa những con tàu” Đặc

biệt hơn nữa, đó là sự gắn kết giữa “Lòng la”, “tâm hồn ta“ với Tổ quốc Tổ

quốc không ở đâu xa mà ở ngay tâm-lồn ta: “Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn

đâu” Như vậy “Con tàu” chính lầ lồng ta, tâm hồn ta mang tất cả sức mạnh, mang niềm vui, mang khát vồng¿ mang cống hiến để lên đường theo tiếng gọi

Tổ quốc Cũng như vậy, bốn'câu thơ đề từ là nguồn cảm hứng cho toàn bộ:bài

thơ đó là cảm hứng lên đường, cảm hứng hòa nhập vào cuộc đời rội của

nhân dân, từ đó khơi-npuồn cảm hứng sáng tạo cho thơ ca và thuậb “Ở đâu chưa di thì lòng, sẽ đền/ Khi ta về lòng ngậm những cái

4 Hai khổ thơ đầu (giục giã lên đường):

Hai khổ thơ đầu là tâm trạng và nỗi niềm băn Kho:

chuyện đi hoặc ở lại Đi tức là đến với vùng đất Bắc nhiễu khó khăn, gian

khổ Ở chính là ở lại Hà Nội (cuộc sối y đủ) Tẩằ trạng ngại đi xa, ngại

khó khăn gian khổ là một sự thật, kÌ igtiéng nha tho ma o rất nhiều tâm trạng con người sau ngày hòa bì ai, thơ chính là cuộc đấu tranh tư

tưởng “Bang khuâng đứngỆbiữa hài óc/ Chọn một dòng hay để nước

trôi” (Xuân Diệu)

Và để tô đậm tâ

hàng loạt câu he t

nỗi niềm băn khoăn ấy, nhà thơ đã sử dụng

iệu thơ đầy ám ảnh, giục giã:

'on tàu nàu lên Tây Bắc anh đi chăng?”

“Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi?”

“Tàu gọi anh đi, sao chita ra di?”

\y chính là những câu hỏi đây hối thúc, đầy giục giã làm lay động tâm hồn người nghệ sĩ Nếu như chọn “giữ trời Hà Nội” thì đó là cuộc sống ích kỷ,

hưởng thụ, chỉ sống riêng cho bản thân mình, đó chắc chắn là cuộc sống tù

túng chật hẹp Nhà thơ cũng tự phê bình chính bản thân mình qua phép đối lập, đối lập giữa đất nước mênh mông và sự nhỏ hẹp của đời anh Và chắc chắn sống trong cuộc đời như vậy thì không bao giờ tìm được cảm hứng cho văn nghệ: “Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép” Người nghệ sĩ sẽ có thể

tìm được cảm hứng văn nghệ khi đi về phía nhân dân, về phía sáng tạo “tâm

hồn anh chờ gặp anh trên kia” “Trên kia” chính là Tây Bắc, là Tổ quốc, là nhân dân, là nguồn cảm hứng mãnh liệt, đồi dào cho sức sống của nghệ thuật “Tây Bắc ơi Người là Mẹ của hồn thơ” Đó là nơi “gió ngàn đang rú gọi” đang mời gọi giục giã nhà thơ lên đường

330

Trang 34

Cty TNHH MIV DVVH Khang Viét

Chi tiết “Tàu đói những vành trăng” chỉ sự nghèo đối ca cảm hứng tâm hồn

nghệ sĩ và cũng cho thấy con tàu mang khát vọng [ễÄ đường nhưng chưa thực

sự đủ sức lên đường Bởi nó đang thiếu di niềm nhiệt huyết của con người

5 Hai khổ thơ tiếp theo là khát vọng trở.lại Tây Bắc Chính là sự hồi

tưởng của nhà thơ về cội nguồn Tây Bắc, những kỷ niệm về mười năm chiến

Trên Tây Bắ!-Ôi mười năm Tây Bắc

Xứ thiếNg liêng rừng núi đã anh hùng Ngiulátfỏ tâm hồn ta thấm đất 4a rạt rào đã chín trái đầu xuân

Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lử Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường:

đường”„Đất bị an Viên còn tự hào gọi Tây Bắc là “Mẹ yêu thương”

Cách ay an thức sâu sắc của Chế Lan Viên về cội ngưồn đất nước

à thơ viết hoa chữ “Mẹ” được xem như mỹ từ, đó là mẹ Tổ quốc,

là mệ của đẫŸnước, là mẹ của cội nguồn cảm hứng nghệ thuật

n khổ thơ kế tiếp: là sự trở về của nhà thơ với vùng đất Tây Bắc, cội

ngưồn của yêu thương Đó là sự trở về để đền ơn đáp nghĩa, để sống trong

lòng của nhân dân Đó chính là về với mẹ nuôi, người anh du kích, đứa em liên

lạc, cô gái Tây Bắc

Với nhà thơ Chế Lan Viên thì việc gặp lại nhân dân là một niềm vui lớn,

khao khát lớn, hạnh phúc lớn được thể hiện qua bốn câu thơ:

Con gặp lại nhân dân nhút nai tề suối cũ

Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa

331

Trang 35

Nhà thơ sử dụng thủ pháp nghệ thuật so sánh quahinh ảnh “nai về suối

ũ”, “cỏ đón giêng hai”, “chim én gặp mùa”, “đứa ttẻ thơ đói lòng gặp sữa”

Cách so sánh này vừa quen lại vừa lạ, thể hiện niềm hạnh phúc của nhà thơ khi tìm về ngưồn cội bởi cuộc đời đẹp nhất là khf gắn bó với Tổ quốc, với nhân

dân Câu thơ đầu với lối so sánh rất độc đảo Nếu mùa đông đàn nai đi vào rừng hẻo lánh xa xôi để tìm kiếm nguồn thức ăn, khi mùa xuân ấm áp trở lại

thì chúng lại tìm về suối cũ Và cồn gì vui bằng khi nai về suối cũ và vui gì

bằng khi con gặp lại nhân đần.“Cách so sánh làm đồng hiện ân nghĩa thủy

chung ở đời Niềm vui đó cờn được thể hiện qua so sánh với thế giới của

nhiên, gặp lại nhân dân mà vui như “cỏ đón giêng hai”, vui như ký úefẩlôi thơ

“đới lòng gặp đòng sữá ngọt lành”, vui như khi “gặp cánh tay d

ngủ trẻ thơ” Đặe Biệt “nhà thơ lại sử dụng những cặp từ a

nhau, cái này ]à sự Sống cho cái kia và ngược lại: Con gắấ) v‹

? chính là những người đã hi sinh, những người

ï bộ đội trong cuộc kháng chiến gian lao Đó chính là anh

“Con nhớ anh con người anh du kích Chiếc áo nâu anh mặc đêm công đồn Chiếc áo nâu suốt một đời va rach Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con”

Đó là vẻ đẹp của con người cần lao anh đũng Nhà thơ đã gọi là “anh con”

như thể máu mủ ruột rà và nhà thơ đặc biệt nhấn mạnh một chỉ tiết “chiếc áo

nâu” Đó chính là hình ảnh của sự nghèo khổ một đời vá rách nhưng chiếc áo đó

là chiếc áo nâu của ân tình ân nghĩa “Đêm cuối cùng anh gửi lại cho con” Chiếc

áo nâu đó được truyền lại cho con như truyền lại sự sống và tỉnh thần chiến đấu

Nhân dân còn là hình ảnh của người em liên lạc giàu lòng dũng cảm, gan

da, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà cách mạng giao phó: “Sáng bản Na,

chiều em qua bản Bắc/Mười năm tròn chưa mất một phong thư” Hình ảnh

người em liên lạc trong thơ của Chế Lan Viên khiến ta nhớ tới nhân vật Tnú

Trang 36

Cty TNHH MIV DVVH Khang Viét

trong tác phẩm “Rừng xà nu”, chú bé Lượm trong thơ Tổ Hữu, anh Kim Đồng,

anh Lé Van Tam

Tập trung tình cảm nhiều nhất đó chính là hình ảnh người me nuôi đã gắn

bó với nhà thơ trong những năm tháng đầu Sôilửa bỏng của chiến tranh:

Con nhớ mê! Lửa hồnghsoi toc bạc

Năm con đau, mộ'tc một mùa dài Con v6i mế không phải hòn máu cắt

Nhưng trợh đời con nhớ mãi ơn nuôi

Hình ảnh lửa hồng = tóẽ bạc là hình ảnh đẹp Ngọn lửa đó là hiện thân

mủ ruột thịt nhưng ì người mẹ đó luôn xem cán bộ như là con

“trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi” Nhà thơ đã sử dụng rất nhỉ

chỉ sự gắn bó “một mùa dài”, “tron doi”,

ngữ thể hiện quan hệ gắn bó không thể tách rời

'nhớ mãi

g việc nuôi giấu cán

Dang ngay xia ay Ông sợ tù gong chấp súng qươm”

: Khổ một tập trung thể hiện niềm vui của nhà thơ khi trở Ba khổ thơ tiếp theo cụ thể hóa hình ảnh nhân dân: người mẹ,

nhân dân và Tổ quốc Tất cả đều để lại trong trái tim nhà thơ và bạn đọc tình cảm thiết tha „ gắn bó

7 Nhớ người rồi lại nhớ cảnh: nếu như trong Tây Tiến, nhà thơ Quang

Dũng “nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi” và trong thơ Tố Hữu “Nhớ gì như nhớ người yêu/Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương”, còn Chế Lan Viên nhớ Tây Bắc bằng nỗi nhớ mang màu triết lý:

Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mâu phủ Nơi nào qua, lòng lại chẳng yêu thương ? Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở

Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn!

333

Trang 37

Câu thơ đầu của khổ: nhà thơ sử dụng dấu phẩy/Ö.giữa tạo thế đăng đối cân xứng hài hòa, cùng đó là điệp từ “nhớ” làm chơ tà Khi đọc lên tưởng chừng

như một bài hát Đó chính là nỗi nhớ vừa thực vừa ảo, nỗi nhớ da điết khôn nguôi mang một màu sắc sương khói hoàÏ*qiệnñ khiến ta liên tưởng đến câu thơ của Tố Hữu: “Nhớ từng bản khói cùag)sương/Sớm khuya bếp lửa người thương đi về” Đằng sau những câu thơ hhư câu hát ấy, nhà thơ tự hỏi lòng mình “Nơi nao qua lòng lại chẳng›yêu thương?”, hỏi cũng là tự đo lòng mình,

đo yêu thương tình nghĩa “Ni ñao” chính là “Nơi nào” đó chính nơi “máu rỏ tâm hồn ta thấm đất” Đây cũng thính là cách nói thể hiện tình yêu đặc biệt,

“Khi 1đ ở chỉ là noi dat 6 Khi 1# đĩ đất đã hóa tâm hồn”

“Đất là cụ thể Nóa'của vật chất nhưng trong hai câu thơ

chuyển hóa thành lĩnh thần, thành tâm hồn Khi ta ở

chắn phải trải qua nhiều năm tháng Ở và di dé chi hi

theo thời gian, không gian của quá khứ và cả i

rất thật, điều mà không thể nào thay đổi ic dé cl

Kẻ vô tâm thì đi là quên hết, còn nơi ỏ i

Người có tâm hồn cao đẹp thì dixicd

mình những kỷ niệm vui buồn,

Như xuân đến chỉm rừng lông trở biếc

Tinh yéu lam dat la hod quê hương

fa thơ lại tiếp tực sử dụng một loạt những so sánh để diễn tả tình yêu và

rung cảm trong lòng mình, đặc biệt mượn quy luật về tự nhiên để diễn tả tình

yêu Mùa đông gắn liền với rét mướt, nhắc tới mùa đông con người không thể

quên cái rét, nhắc tới tình yêu không thể thiếu nỗi nhớ anh và em Chữ “bỗng” trong câu “Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét” thể hiện tình cảm chân thật, nóng bỏng, đột ngột tràn ngập trong lòng thi nhân Ca đao có câu:

“Nhớ ai bồi hồi bồi hồi Nhự đứng đống lửa như ngồi đống than”

Mặt khác, câu thơ còn có ý nghĩa là vào mùa đông đôi lứa cần hơi ấm của nhau những đôi lứa khát khao gần gũi để tìm hơi ấm xua đi lạnh lẽo của thiên nhiên “Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng” được hiểu theo nhiều cách Theo

334

Trang 38

Ctụ TNHH MTV DVVH Khang Việt

nhựa cây bồ đề do con bọ cánh kiến tiết ra dịch thể quánh sệt theo các tuyến

bao quanh khắp mình có màu vàng lấm tấm như điểm hoa, người ta gọi đó là

“cánh kiến hoa vàng”, cánh kiến có mùi thơm giống như mật ong rừng” Từ những kiến thức khoa học đó, các nhà phêtbình văn học đã phát triển ý thơ thành “Đó là tình yêu thơm như cánh kiến, Yực rỡ như hoa vàng hay tình yêu khăng khít bền chặt như cánh kiến và-thơ mộng như hoa vàng hoặc là tình yêu

đã trải qua tháng năm thử thách để đặt đến độ chín cần thiết”

Và tình yêu ấy lại được nẩy ñở; kết tỉnh trong mùa xuân Đó là thời khắc tram hoa dua nở, là mùa củ sự sống, là mùa của tình yêu làm cho chỉm rừng

Tổng trở bits aya sức sing vu thơ es lat Hae mie Tan ta oe thay sy cl

nghĩa bởi chỉ có ân.nghĩa thì dat lạ mới có thể hóa tâm hồn

con người nhân hậu biết sống theo đạo lý, biết ăn ở tro

triết lý đẹp và hay như thế,

Trong tình yêu nhân dân của tác giả,

9 Bốn khổ thơ cuối: là khúc hát lên đường

Mở đầu đoạn thơ là câu hỏi “Đất nước gọi ta hay lòng ta goi?” thể hiện sự giục giã lên đường trong tâm hồn nhà thơ Nói như lời của một cố tổng thống Mỹ

“Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta mà hãy hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc” Câu hỏi

đó cũng chính là vẻ đẹp của cái tôi cá nhân, cái tôi của nhà văn bước ra khỏi cuộc

đời chật chội tù hẹp của đời mình để đến với cuộc sống mới, cuộc sống của nhân dân Những từ ngữ như “tình em đang mong,tình mẹ đang chờ”, “mắt ta thèm”

đã làm cho đoạn thơ một nhịp điệu đồn dập, âm điệu rộn rang đây phấn chấn, say

mê, Đặc biệt là cách nói : “Re người mà đi, vịn tay mà đến” “Mùa nhân dân” cho

Ýy niềm vui và khát vọng mạnh liệt của tác giả khi tìm về với cội nguồn bởi cội ngưồn chính là sự sống, là ngưồn thơ, ngưồn cảm hứng mãnh liệt

335

Trang 39

'Và khơng chỉ khát vọng đi tìm nguồn thơ, hồn thợ Ta tác giả muốn lấy lại

“vàng ta”, lấy lại những giá trị tỉnh thần, đem tình yêu của mình, khát vọng, của mình vun đắp, xây đắp cho Tây Bắc trong đống tro tàn sau chiến tranh:

“Chúng muốn đốt ta thầnh-trổ bụi

Ta héa ving nhén phe licong tri

Chúng muốn ta hán mình ơ nhục

Ta lam sen thom lìgát giữa đầm”

Khổ thơ cuối khép lại bằng Hình ảnh mang tính biểu tượng thể hiện tâm hình tình yêu của nhà thơ với-Tây Bắc, với “mùa nhân dân”

10 Bốn câu thơ cuối:

Đến giây phút này/hÌ con tàu mới thực sự trở thành khát vốẾg sống, khát

vọng lên đường đến' Tây Bắc, hết lịng vì Tổ quốc “Khi.Tổ quốc/Ưốn bề len

tiếng hát” Bây Bi con tàu khơng “đĩi vành trăng” nif em: tàu

mộng tưởng” của ước mơ, khát vọng Đặc biệt, cạn tàu “mợ đêm khuya khơng,

uống một vầng trăng” tượng trưng cho vẻ đẹp TẩềJ nhần dân Đĩ cũng

là vâng trăng của thi ca “Mặt hồng em’, dụ nĩi Ÿệ hiện thực đời sống thể hiện sự thành cơng, bội thu của Tây ắc vớinhững thành cơng ban đầu trong xây dựng và đổi mới Đồng thời đĩ cũng chính là mùa bơi thu của thi ca nghệ thuật Khổ thơ cuối thể hi bự lịng yêu Tổ quốc và nhân dân trong chính bản thar g chính là vẻ đẹp của cái tơi nhân dân

¬ trong tương quan đối lập Giàu tính biểu

name mẻ, độc đáo; Nhiều hình ảnh so sánh, ẩn dụ Giọng,

“ Đọc “Sơng Đà” thấy Tổ quốc ta thật là giàu đẹp Chỉ nĩi riêng Than Uyên

cĩ nào mỏ xỉ măng thiên tạo, mỏ thạch anh làm thuỷ tỉnh ngũ sắc và đồ sứ, mỏ than mở, mỏ lân tỉnh, mỏ đồng, mỏ chì Cảnh Tây Bắc thì tuyệt đẹp, ở đâu tác giả cũng nổi hứng nghệ sĩ ngay giá vẽ mà vẽ Núi lĩ

336

Trang 40

Ctụ TNHH MTV DVVH Khang Việt

mông như biển, sông trắng xoá như từng súc lụa tung, ffải Ỳa, những thung lũng lúa chín vàng choé lên, trên đó mây trắng điểm lơ lửng như thêu nổi v.v Nhưng “Sông Đà” không chỉ nói vẻ đẹp thiến nhiên mà còn đi tìm vẻ đẹp của lòng người Ông gọi đó là chất vàng mười-cửa tâm hồn con người Tây Bắc Ông ngược dòng lịch sử tìm chất vàng đó ở những chiến sĩ cách mạng kiên cường đã theo gương bất khuất ở nhà-tù Sơn La, ở những cán bộ hoạt động bí mật hồi Tây Bắc bị giặc chiếm đống; đã vượt qua những thử thách khủng khiếp để gây cơ sở cách mạnö¿.ở:những chiến sĩ quân đội, những anh chị em dân công hồn tiến quân vào Điện Biên ”

(Nguyễn Đăng Mạulrc⁄Sông Đà” Trích “Nhà tăn Tư tưởng va phon,

NXB Văn học — 1983)

Đề 1: Phân tích hình tượng con Sông Đà trong tùy

Sông Đà” của nhà văn Nguyễn Tuân A

HUONG DAN CHI

1.MỞ BÀI

Việt Nam - đất nước - nơi những, \g thương nhớ chảy về đã dệt

Tang viết của Hoàng Phủ Ngọc

ống” trong thơ của Tấn Hoài, có

“Sông Hồng tiếng hát, trong thơ Chế Lan Viên nay ta lại có

Sông Đà trong trang

Sông Đồ đã trở thành một hình tượng nghệ thuật độc đáo

Dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân, con Sông Đà không phải là thiên nhiên vô trí vô giác mà là một sinh thể sống động, một nhân vật đây sức sống và có tính cách hẳn hoi Ngay từ lời đầu tiên của tác phẩm, tác giả đã dẫn hai câu thơ nổi tiếng của Nguyễn Quang Bích “ Chúng thủy giai Đông tẩu/ Đà giang độc Bắc lưu” Có nghĩa là: mọi dòng sông đều chảy về hương đông, chỉ có sông Đà chảy theo hướng bắc Đó chính là nét ngang tàng khác lạ của đòng sông khiến người đọc không thể không đi sâu vào khám phá những trang tùy bút tài hoa viết về Đà giang của cụ Nguyễn

337

Ngày đăng: 18/09/2015, 00:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  ảnh  luôn  mới lạ, ngồn  ngô  sắc  sảo. - Cẩm nang luyện thi quốc gia ngữ văn phiên bản mới nhất   phan danh hiếu p2 (link phần 1: http://123doc.org/document/3069453-cam-nang-luyen-thi-quoc-gia-ngu-van-phien-ban-moi-nhat-phan-danh-hieu-p1.htm)
nh ảnh luôn mới lạ, ngồn ngô sắc sảo (Trang 31)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm