Bởi vì thôngqua việc tính toán, phân tích tình hình tài chính cho ta biết những điểm mạnh hay yếutrong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như những tiềm năng cầnphát huy
Trang 1MỤC LỤCLỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH VÀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP.
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÀI CHÍNH, TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP.
1.1.1 Khái niệm, chức năng, vai trò của tài chính.
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của tài chính doanh nghiệp.
1.1.3 Vai trò của tài chính doanh nghiệp.
1.1.4 Chức năng của tài chính doanh nghiệp.
1.1.5 Các mối quan hệ tài chính chủ yếu.
1.2 CÔNG TÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP.
1.2.1 Khái niệm, nội dung tổ chức tài chính doanh nghiệp.
1.2.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức tài chính doanh nghiệp.
1.2.3 Nguyên tắc tổ chức tài chính doanh nghiệp.
1.3 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP.
1.3.1 Khái niệm phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.
1.3.2 Mục đích của phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.
1.3.3 Ý nghĩa của phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.
1.4 CÁC PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG TRONG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP.
1.4.1 Phương pháp so sánh.
1.4.2 Phương pháp liên hệ cân đối.
1.4.3 Một số phương pháp khác.
1.5 TÀI LIỆU PHÂN TÍCH.
1.5.1 Bảng cân đối kế toán.
1.5.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
1.5.3 Thuyết minh báo cáo tài chính.
1.5.4 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
1.6 NỘI DUNG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP.
Trang 2CHƯƠNG II : PHÂN TÍCH KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 4 NĂM 2013.
2.1 GIỚI THIỆU VỀ TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 4.
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển.
2.1.2 Mô hình hoạt động và cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý.
2.1.3 Giới thiệu về phòng tài chính – kế toán.
2.1.4 Số liệu tài chính của Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4.
2.2 PHÂN TÍCH VỀ QUY MÔ VỐN DOANH NGHIỆP SỬ DỤNG TRONG KÌ VÀ KHẢ NĂNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP.
2.2.1 Mục đích, nội dung và chỉ tiêu phân tích.
2.2.2 Phương pháp phân tích.
2.2.3 Phân tích quy mô vốn sử dụng và khả năng huy động vốn của Tổng công ty.
2.3 PHÂN TÍCH KHÁI QUÁT VỀ KHẢ NĂNG THANH TOÁN CỦA DOANH NGHIỆP.
2.3.1 Nội dung, chỉ tiêu phân tích và phương pháp phân tích.
2.3.2 Phân tích khả năng thanh toán hiện hành của Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4
2.4 PHÂN TÍCH TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG CỦA DOANH NGHIỆP.
CHƯƠNG III : PHÂN TÍCH CHI TIẾT TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 4.
3.1 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH ĐẢM BẢO VỐN CHO SẢN XUẤT KINH DOANH.
3.1.1 Phân tích tình hình đảm bảo vốn cho sản xuất kinh doanh bằng nguồn vốn chủ sở hữu.
3.1.2 Phân tích tình hình đảm bảo vốn cho sản xuất kinh doanh bằng nguồn vốn chủ sở hữu
và vốn vay.
3.1.3 Phân tích mức độ đảm bảo nguồn vốn ngắn hạn cho tài sản ngắn hạn.
3.1.4 Phân tích mức độ đảm bảo nguồn vốn dài hạn cho tài sản dài hạn.
3.2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH BIẾN ĐỘNG VÀ PHÂN BỔ TÀI SẢN.
3.2.1 Mục đích, ý nghĩa và phương pháp phân tích.
3.2.2 Phân tích biến động và phân bổ tài sản.
3.3 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH BIẾN ĐỘNG VÀ CƠ CẤU NGUỒN VỐN.
Trang 33.3.1 Mục đích, ý nghĩa và phương pháp phân tích.
3.3.2 Phân tích biến động và cơ cấu nguồn vốn.
3.4 PHÂN TÍCH KHẢ NĂNG THANH TOÁN CỦA TỔNG CÔNG TY.
3.4.1 Hệ số khả năng thanh toán tức thời (Ktt).
3.4.2 Hệ số khả năng thanh toán nhanh (Knhanh ).
3.4.3 Hệ số khả năng thanh toán bằng tiền.
3.4.4 Số vòng luân chuyển các khoản phải thu khách hàng.
3.4.5 Thời gian quay vòng của các khoản phải thu khách hàng.
3.4.6 Hệ số vòng quay hàng tồn kho.
3.5 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH QUA BÁO CÁO KẾT QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA TỔNG CÔNG TY.
LỜI KẾT.
Trang 4LỜI MỞ ĐẦUQuản trị tài chính là một bộ phận quan trọng trong quản trị doanh nghiệp Tất cảcác hoạt động kinh doanh đều ảnh hưởng tới tình hình phát triển của doanh nghiệp, tìnhhình tài chính tốt hay xấu sẽ tác động đến sự phát triển hay kìm hãm quá trình kinhdoanh Do đó, cần phải tổ chức phân tích tình hình tài chính cho tương lai Bởi vì thôngqua việc tính toán, phân tích tình hình tài chính cho ta biết những điểm mạnh hay yếutrong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như những tiềm năng cầnphát huy và những nhược điểm cần khắc phục, từ đó các nhà quản lý có thể tìm ra nguyênnhân, giải pháp cải thiện tình hình tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vịmình trong tương lai.
Với bất kì một doanh nghiệp nào khi hoạt động đều muốn có hiệu quả cao và thu
về lợi nhuận tốt nhất Để làm được điều đó đòi hỏi cần có rất nhiều yếu tố cấu thành nênnhư vốn, nhân lực, công nghệ…Một trong những việc cần làm là phân tích báo cáo tàichính của doanh nghiệp Và sau đây em xin trình bày bài luận văn về đề tài “Phân tíchtình hình tài chính của Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4”
Nội dung đề tài gồm 3 chương :
CHƯƠNG I : Tổng quan về tài chính và phân tích hoạt động tài chính doanhnghiệp
CHƯƠNG II : Phân tích khái quát tình hình tài chính công ty Cổ phần tư vấn đầu
tư và xây dựng giao thông vận tải năm 2012
CHƯƠNG III : Phân tích chi tiết tình hình tài chính của công ty Cổ phần tư vấnđầu tư và xây dựng giao thông vận tải năm 2012
Vì những hạn chế nhất định về trình độ hiểu biết và thời gian, bài luận văn của emkhông tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong thầy cô và các bạn góp ý để bài luận văncủa em được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH VÀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1. Một số vấn đề chung về tài chính, tài chính doanh nghiệp.
1.1.1. Khái niệm, chức năng, vai trò của tài chính.
1.1.1.1. Khái niệm tài chính:
Tài chính là phạm trù kinh tế phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dướihình thức giá trị phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối các quỹ tiền tệ của các chủthể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định
Tài chính còn là quan hệ phân phối sản phẩm xã hội và sự vận động các quỹ tiền tệ
1.1.1.2. Bản chất, vai trò tài chính:
Tài chính có quan hệ đến sự vận động của tiền tệ, nhưng tài chính không phải là tiền
tệ và tài chính cũng không phải là bản thân các quỹ tiền tệ
Tài chính được đặc trưng bằng sự vận động độc lập tương đối của tiền tệ chủ yếu vớichức năng phương tiện thanh toán và phương tiện cất giữ trong quá trình tạo lập và sửdụng các quỹ tiền tệ đại diện cho những sức mua nhất định ở các chủ thể kinh tế xã hội.Tài chính phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế trong phân phối các nguồn lực tàichính thông qua việc tạo lập hay sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng nhu cầu khácnhau trong đời sống kinh tế xã hội
Vai trò của tài chính được phát huy nhiều hay ít phụ thuộc vào trình độ khai thác,quản lý và sử dụng các chức năng của tài chính; phụ thuộc vào thể chế kinh tế của nềnkinh tế
Tài chính có những vai trò chủ yếu sau đây:
Điều tiết kinh tế
Nhà nước thực hiện vai trò này thông qua sự kết hợp hai chức năng: phân phối vàgiám đốc Trên cơ sở kiểm tra, giám sát bằng đồng tiền, Nhà nước nắm được thực tế hoạtđộng của nền kinh tế, từ đó phát hiện ra những vấn đề cần can thiệp, điều tiết Bằng cácchính sách phân phối, Nhà nước điều tiết nền kinh tế theo kế hoạch đã định Nhà nước cóthể dùng biện pháp đầu tư thêm vốn, bổ sung vốn để đẩy mạnh những ngành phát triểnkém và các lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế quốc dân Nhà nước cũng có thể dùng biệnpháp giảm vốn đầu tư và hỗ trợ để hạn chế phát triển những ngành và những khâu chưacần thiết Đồng thời, Nhà nước cũng có thể thông qua việc nâng cao hoặc hạ thấp thuế
Trang 6suất để điều tiết hoạt động đầu tư kinh doanh giữa các ngành Với tác dụng điều tiết kinh
tế, tài chính là công cụ trọng yếu thúc đẩy nền kinh tế quốc dân phát triển cân đối theođịnh hướng các mục tiêu kinh tế vĩ mô
Xác lập và tăng cường các quan hệ kinh tế - xã hội
Các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều được tự chủ về vốn kinh doanhthông qua vốn tự có, các loại vốn tín dụng và một phần do chiếm dụng vốn lẫn nhau, dẫnđến tình trạng nợ nần dây dưa làm rối loạn tài chính Để làm lành mạnh hoá quan hệ tàichính, một mặt, Nhà nước cần có những biện pháp điều chỉnh các quan hệ tài chính kể cảbiện pháp cấp bách buộc các doanh nghiệp thanh toán nợ nần trong thời gian ngắn Mặtkhác, Nhà nước còn phải chủ động tạo điều kiện thúc đẩy sự ra đời các thị trường vốntrung hạn, dài hạn, nhất là thị trường chứng khoán và hướng dẫn chúng phát triển đúnghướng
Tích tụ và tập trung vốn, cung ứng vốn cho các nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trong nền kinh tế luôn diễn ra quá trình di chuyển nguồn tài chính hai chiều từ lĩnhvực sản xuất sang lĩnh vực phi sản xuất, từ trong nước ra nước ngoài và ngược lại NếuNhà nước có chính sách tốt điều chỉnh các quan hệ tài chính nảy sinh trong các quá trình
di chuyển nói trên thì có thể thúc đẩy quá trình tập trung vốn cho đầu tư phát triển, giảmbớt các chi phí không cần thiết và thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài Đây lànhiệm vụ cực kỳ quan trọng, nhất là trong giai đoạn đầu của công nghiệp hoá, hiện đạihoá nhằm xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội
Tăng cường tính hiệu quả của sản xuất, kinh doanh
Thông qua việc điều chỉnh các quan hệ thu - chi tài chính và phân phối thu nhập theonguyên tắc khuyến khích vật chất, xử lý chính xác mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữanhà nước, doanh nghiệp và người lao động, tài chính có thể nâng cao hiệu quả hoạt độngsản xuất, kinh doanh; thông qua giám đốc tài chính mà duy trì kỷ luật tài chính, góp phầnđẩy lùi lãng phí, tham ô
Hình thành quan hệ tích luỹ, tiêu dùng hợp lý
Trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, việc phân phối thu nhập được thựchiện theo nhiều nguyên tắc khác nhau, trong đó có nguyên tắc phân phối theo vốn haytheo tài sản, có khả năng dẫn đến sự phân phối không công bằng, thiếu hợp lý Chính vìvậy, Nhà nước cần thường xuyên thực hiện việc phân phối lại và điều chỉnh sự phân phối
Trang 7từng bước cho phù hợp với định hướng xã hội chủ nghĩa Nhà nước có thể điều tiết bằngcách đánh thuế thu nhập người có thu nhập cao, hỗ trợ người có thu nhập thấp; hoặc cũng
có thể thành lập các quỹ xoá đói, giảm nghèo, quỹ hỗ trợ tạo việc làm cho người nghèo,nâng lương cho người lao động ở các ngành có thu nhập thấp
Củng cố liên minh công - nông, tăng cường vai trò của Nhà nước và an ninh quốc phòng
Lý luận và kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, một nền tài chính lành mạnh theo hướngtăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ xã hội, sẽ tạo ra cơ sở kinh tế - xã hội vững chắccho việc củng cố liên minh công - nông - trí thức, nền tảng cho việc tăng cường vai tròcủa Nhà nước và an ninh quốc phòng
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm của tài chính doanh nghiệp.
1.1.2.1. Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế biểu hiên dưới hình thức giá trị, phátsinh trong quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm phục vụ quátrình sản xuất kinh doanh trong mỗi doanh nghiệp và góp phần tích lũy vốn cho Nhànước
Tài chính doanh nghiệp là toàn bộ các quan hệ tài chính biểu hiện qua quá trình huyđộng và sử dụng vốn để tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp Hai yếu tố đó gắn liền vớinhau qua hoạt động đầu tư vì đầu tư tạo điều kiện cho sự vận động của các quỹ tiền tệtrong toàn xã hội Tài chính được xem như là một hệ thống trong đó thị trường tài chính làtrung tâm của quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ Hoạt động của ngân sáchnhà nước, tài chính doanh nghiệp, bảo hiểm và của mọi tổ chức tín dụng đều xoay quanhthị trường tài chính
“Huy động” chỉ quá trình tạo ra các quỹ tiền tệ từ các nguồn lực bên trong và bên ngoài
để doanh nghiệp hoạt động trong lâu dài với chí phí thấp nhất
“Sử dụng vốn” hay còn gọi là đầu tư, liên quan đến việc phân bổ vốn ở đâu, lúc nào saocho vốn được sử dụng có hiệu quả nhất
1.1.2.2. Đặc điểm tài chính doanh nghiệp:
Gắn liền với quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có các quan hệ tàichính doanh nghiệp đa dạng phát sinh như quan hệ nộp, cấp giữa doanh nghiệp vớinhà nước, quan hệ thanh toán với chủ thể khác trong xã hội, với người lao độngtrong doanh nghiệp
Trang 8 Sự vận động của quỹ tiền tệ, vốn kinh doanh có những nét riêng biệt đó là: sự vậnđộng của vốn kinh doanh luôn gắn liền với các yếu tố vật tư và lao dông, ngoài phầntạo lập ban đầu chúng còn được bổ sung từ kết quả kinh doanh, sự vận động của vốnkinh doanh vì mục tiêu doanh lợi.
1.1.3. Vai trò của tài chính doanh nghiệp.
1.1.3.1. Là công cụ khai thác, thu hút các nguồn tài chính nhằm đảm bảo nhu cầu vốn cho đầu tư
kinh doanh của doanh nghiệp
Cạnh tranh và khát vọng lợi nhuận đã thực sự trở thành động lực thôi thúc các doanhnghiệp tăng cường đầu tư, đổi mới công nghệ, đầu tư vào những ngành nghề mới, đầu tư
để chiếm lĩnh thị trường….Điều đó làm gia tăng nhu cầu vốn của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước hiện nay, sự hoạt động củaquy luật cung - cầu rất mạnh mẽ Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, doanhnghiệp luôn nảy sinh nhu cầu vốn để đáp ứng các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.Khi các doanh nghiệp có nhu cầu vốn thì tất yếu thị trường vốn sẽ được hình thành vớinhững hình thức đa dạng của nó Đây là môi trường hết sức thuận lợi để các doanh nghiệpchủ động khai thác, thu hút các nguồn vốn trong xã hội (kể cả vốn nước ngoài) nhằm phục
vụ các mục tiêu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Để thực hiện mọi quá trình kinh doanh của doanh nghiệp trước hết phải có một yếu tốtiền đề đó là vốn kinh doanh Vai trò của tài chính trước hết được thể hiện ở việc xác địnhđúng đắn nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp trong từng thời kì Tiếp đóphải lựa chọn các phương pháp và hình thức huy động vốn thích hợp, đáp ứng kịp thời cácnhu cầu vốn về hoạt động của các doanh nghiệp được thực hiện một cách nhịp nhàng liêntục với chi phí huy động vốn thấp nhất
1.1.3.2. Là công cụ quan trọng trong việc sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả
Cũng như việc khai thác, huy động vốn, việc sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quảđược coi là điều kiện tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp
có vai trò quan trọng trong việc đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư, chọn ra dự án đầu tưtối ưu, huy động tối đa số vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh, phân bổ hợp lý các nguồnvốn, sử dụng các biện pháp để tăng nhanh vòng quay của vốn, nâng cao khả năng sinh lờicủa vốn kinh doanh Trong điều kiện hiện nay, yêu cầu của các quy luật kinh tế (quy luậtcạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luật giá trị) đã đặt ra trước mọi doanh nghiệp những
Trang 9chuẩn mực hết sức khắt khe: sản xuất kinh doanh không thể với bất cứ giá nào; phải bánđược những sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ mà thị trường cần và chấp nhận được, chứ khôngphải bán những gì mà mình có Trước sức ép nhiều mặt của thị trường đã buộc các doanhnghiệp phải sử dụng vốn một cách tiết kiệm và có hiệu quả.
Nói chung, sự gia tăng hiệu quả kinh tế sẽ bao hàm cả yếu tố tăng chỉ tiêu lợi nhuận.Song ngược lại, có những trường hợp tăng chỉ tiêu lợi nhuận nhưng lại không có hiệu quả,
ví dụ: để đạt được mức lợi nhuận tăng gấp đôi mà phải sử dụng vốn tăng gấp 10 lần thì đókhông phải hiệu quả kinh tế Vì thế, hiệu quả kinh tế chỉ có thể có được khi vốn được sửdụng tiết kiệm mà vẫn đảm bảo mức gia tăng lợi nhuận
1.1.3.3. Kích thích, thúc đẩy sản xuất kinh doanh
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay các quan hệ tài chính doanh nghiệpđược mở ra trên một phạm vi rộng lớn Đó là những quan hệ với hệ thống ngân hàngthương mại, với các tổ chức tài chính trung gian, các thành viên góp vốn đầu tư kinhdoanh, các cổ đông, các khách hàng mua bán sản phẩm, dịch vụ và các quan hệ tài chínhtrong nội bộ doanh nghiệp… Các quan hệ này có thể diễn ra khi cả hai bên cùng có lợi vàtrong khuôn khổ của pháp luật Dựa vào khả năng này, doanh nghiệp có thể sử dụng cáccông cụ tài chính như: đầu tư, xác định lãi suất, cổ tức, giá bán hoặc giá mua sản phẩm,dịch vụ, tiền lương, tiền thưởng… để kích thích tăng năng suất lao động, kích thích tiêudùng, kích thích thu hút vốn… nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng trong hoạt động kinh doanh Vai trò của tài chính doanh nghiệp được thể hiện thông qua việc tạo ra sức mua hợp lý
để thu hút vốn đầu tư, lao động, vật tư, dịch vụ, đồng thời xác định giá bán hợp lý khi pháthành cổ phiếu, hàng hoá bán, dịch vụ và thông qua hoạt động phân phối để phân phối thunhập của doanh nghiệp, phân phối quỹ tiền thưởng, quỹ tiền lương, thực hiện các hợp đồngkinh tế
1.1.3.4. Là công cụ quan trọng để kiểm tra các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Tình hình tài chính phản ánh trung thực mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệpthông qua các chỉ tiêu tài chính mà các nhà quản lý doanh nghiệp sử dụng như: hệ số nợ,
hệ số khả năng thanh toán, hiệu quả sử dụng vốn, cơ cấu vốn…Qua đó, người quản lý cóthể dễ dàng nhận thấy thực trạng quá trình kinh doanh của doanh nghiệp để có thể đánh giákhái quát và kiểm soát được các mặt hoạt động của doanh nghiệp, phát hiện kịp thời những
Trang 10vướng mắc, tồn tại để từ đó đưa ra các quyết định điều chỉnh các hoạt động kinh doanhnhằm đạt mục tiêu đã định.
Vai trò của tài chính doanh nghiệp sẽ trở nên tích cực hay thụ động phụ thuộc vào
sự nhận thức và vận dụng các chức năng của tài chính doanh nghiệp và các nguyêntắc cần quán triệt trong mọi hoạt động tài chính doanh nghiệp, môi trường kinhdoanh, cơ chế tổ chức tài chính doanh nghiệp
1.1.4. Chức năng của tài chính doanh nghiệp.
1.1.4.1. Chức năng phân phối
Chức năng phân phối là chức năng vốn có khách quan của tài chính doanh nghiệp, nóthể hiện công dụng và khả năng của tài chính trong việc phân phối dưới hình thức giá trịcủa cải xã hội trên các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh
Chức năng phân phối được coi là chức năng vốn có khách quan của tài chính doanhnghiệp vì: Để tiến hành bất kỳ một quá trình sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải cómột lượng vốn ban đầu Song như thế vẫn chưa đủ, mà số vốn đó phải được phân chiathành những phần vốn nhỏ hơn (vốn cố định, vốn lưu động, …) tương ứng với các yếu tốcần thiết của quá trình sản xuất kinh doanh Khi kết thúc một chu kỳ sản xuất kinh doanh
và để tiếp tục chu kỳ sản xuất kinh doanh tiếp theo thì thu nhập của doanh nghiệp lạiđược phân phối, một phần để bù đắp những chi phí đã bỏ ra, một phần được tích lũy
Và như vậy, phân phối đã trở thành một đòi hỏi tất yếu khách quan của mọi quá trình sảnxuất kinh doanh
Quan niệm về phân phối và đối tượng phân phối:
+ Phân phối tài chính có thể diễn ra giữa 2 chủ thể khác nhau, chuyển dịch một bộphận giá trị từ hình thức sở hữu này sang hình thức sở hữu khác; hoặc có thểdiễn ra trong cùng một hình thức sở hữu; hoặc diễn ra trong từng khâu của quátrình sản xuất kinh doanh
+ Phạm vi và đối tượng phân phối là phân phối thu nhập và tích lũy tiền tệ
+ Phân phối tài chính doanh nghiệp biểu hiện ở việc phân phối thu nhập củadoanh nghiệp, tức là sau khi kết thúc một chu kỳ sản xuất kinh doanh, doanhnghiệp thu được một khoản tiền về tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ, hoặc các khoản
Trang 11thu từ hoạt động tài chính Để tiếp tục chu kỳ sản xuất kinh doanh tiếp theo, thunhập của doanh nghiệp tất yếu phải được phân phối.
1.1.4.2. Chức năng giám đốc tài chính
Chức năng giám đốc tài chính cũng là một chức năng vốn có khách quan của phạmtrù tài chính doanh nghiệp, nó thể hiện khả năng của tài chính trong việc giám sát tínhmục đích, tính hiệu quả của việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp Tính khách quan của chức năng giám đốc tài chính được xuất phát từ một nguyên lýđơn giản: Mục đích của doanh nghiệp là khi bỏ vốn và sử dụng vốn trong sản xuất kinhdoanh đều có một mong muốn là đưa lại hiệu quả cao, vốn phải được sinh lợi, do đó cầnthiết phải giám sát tính tiết kiệm, tính hiệu quả của đồng vốn được đầu tư
Đặc trưng cơ bản của giám đốc tài chính là giám đốc bằng đồng tiền thông qua cácchỉ tiêu tài chính Bởi các chỉ tiêu tài chính phản ánh trung thực và toàn diện quá trìnhsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó đánh giá được thực trạng về năng lực tài chínhcủa doanh nghiệp tại các kỳ nhất định, giúp cho lãnh đạo doanh nghiệp tăng cường quản
lý, điều chỉnh hoạt động tài chính của doanh nghiệp
Biểu hiện của chức năng giám đốc tài chính là giám đốc quá trình hình thành và sửdụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp Quá trình phân phối sẽ tạo ra hàng loạt các quỹtiền tệ của doanh nghiệp, nhưng các quỹ này phải được hình thành từ các nguồn tài chínhhợp lý và sử dụng phải có hiệu quả, do vậy đây chính là công việc của chức năng giámsát Ví dụ như: Vốn doanh nghiệp được hình thành từ nhiều nguồn vốn khác và trong quátrình sản xuất kinh doanh, nó thường xuyên biến động và được bổ sung như vốn vay,phát hành trái phiếu, cổ phiếu hoặc có thể điều chỉnh từ nguồn vốn cố định sang nguồnvốn lưu động trong nội bộ Khả năng giám đốc tài chính cho phép người quản lý lựachọn những quyết định tài chính đúng đắn trong việc hình thành và sử dụng các nguồn tàitrợ và các quỹ của doanh nghiệp, cho phép lựa chọn những dự án đầu tư có hiệu quả vàhạn chế được rủi ro trong kinh doanh Chức năng giám đốc tài chính trong doanh nghiệpcòn giúp cho các nhà quản lý ở các cấp có biện pháp làm lành mạnh hoá quan hệ tàichính trong quá trình sản xuất kinh doanh
Trang 12 Tóm lại: Tài chính doanh nghiệp có hai chức năng là phân phối và giám đốc, hai chức
năng này có quan hệ hữu cơ với nhau, ở đâu có phân phối tài chính thì ở đó có giám đốctài chính Nhờ có phân phối mà tài chính doanh nghiệp có khả năng giám đốc và ngượclại nhờ có giám đốc thì phân phối mới đúng hướng,có hiệu quả và lành mạnh
1.1.5. Các mối quan hệ tài chính chủ yếu.
1.1.5.1. Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với ngân sách Nhà nước
Quan hệ này thể hiện thông qua việc phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm quốcdân (GNP) và thu nhập quốc nội (GDP) Quan hệ kinh tế này ít chịu sự chi phối của quan
hệ sở hữu mà chịu sự chi phối của các quan hệ có tính luật pháp thông qua các sắc luật thuế
mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải thực hiện
Trong các doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, vốn sản xuất kinh doanh ban đầu dongân sách Nhà nước cấp để các doanh nghiệp hoạt động và ngân sách Nhà nước hỗ trợ trựctiếp các nguồn tài chính để doanh nghiệp thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của Nhànước Doanh nghiệp có quyền lợi và trách nhiệm quản lý sử dụng, bảo toàn và phát triểnvốn sản xuất kinh doanh, đồng thời nộp đầy đủ các khoản phải thu theo luật định cho ngânsách Nhà nước Trong các doanh nghiệp này không có sự chuyển dịch quan hệ về sở hữuvốn, tài sản thuộc về Nhà nước, còn quyền sử dụng lại được trao cho doanh nghiệp Ngượclại, trong các loại hình doanh nghiệp khác như: công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân,công ty trách nhiệm hữu hạn… mặc dù ngân sách Nhà nước không cấp phát vốn trực tiếpban đầu nhưng có thể Nhà nước tham gia góp vốn cổ phần hoặc cho vay trong các công ty
cổ phần, hoàn thuế, miễn thuế, trợ giá… Ngân sách Nhà nước được hưởng cổ tức theo tỷ lệtham gia vốn tương ứng (trong công ty cổ phần) và ngược lại sự kinh doanh thua kém củacông ty dẫn đến hao hụt vốn trong kinh doanh thì vốn ngân sách Nhà nước cũng phải chia
sẻ tổn thất hao hụt
Như vậy, quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với ngân sách Nhà nước được biểu hiệnkhác nhau tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp:
+ Đối với các doanh nghiệp Nhà nước, các quan hệ này phản ánh hai chiều:
• Một mặt ngân sách Nhà nước là người giao vốn sản xuất kinh doanh banđầu cho các doanh nghiệp khi doanh nghiệp mới bước vào hoạt động Với tưcách là người nhận được quyền sử dụng vốn, các doanh nghiệp có tráchnhiệm sử dụng, bảo toàn, phát triển và nâng cao hiệu quả sử dụng
Trang 13• Mặt khác doanh nghiệp có trách nhiệm trích nộp đầy đủ, kịp thời các khoảnphải nộp Ngân sách.
+ Đối với các loại hình doanh nghiệp khác, quan hệ này là quan hệ một chiều, các doanhnghiệp có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ các khoản nộp ngân sách Nhà nước
1.1.5.2. Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh doanh
Quan hệ này phát sinh khi doanh nghiệp tiến hành các nghiệp vụ huy động vốn, chovay vốn với các doanh nghiệp khác… Khi đã thực hiện các quan hệ này để phục vụ cáchoạt động sản xuất kinh doanh thì quan hệ mua bán cũng nảy sinh như mua bán nguyên vậtliệu, công cụ dụng cụ, tài sản cố định, hàng hóa… Tất cả các mối quan hệ kinh tế này phụthuộc vào các điều kiện của thị trường hàng hóa, thị trường vốn, thậm chí là thị trường laođộng Nói đúng hơn, các quan hệ kinh tế này luôn bị chi phối bởi các quy luật kinh tế: quyluật giá trị, quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh Thế nhưng bao trùm toàn bộ lên hệthống thị trường chứa đựng các quan hệ kinh tế này là sự quản lý của pháp luật Nhà nước.Xét cả về lý luận và thực tiễn, các nhà khoa học kinh tế đều cho rằng :trong cơ chế kinh tế,các quan hệ kinh tế này của doanh nghiệp là hết sức quan trọng đối với hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp Nếu coi nhẹ, không nắm bắt được và thiếu hiểu biết về nó thì sứccạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cũng không thể đạt tới đỉnh cao.Doanh nghiệp thực hiện quá trình trao đổi mua bán các sản phẩm nhằm thoả mãn mọinhu cầu về vốn của mình Trong quá trình đó, doanh nghiệp luôn phải tiếp xúc với thịtrường tài chính mà chủ yếu là thị trường tiền tệ và thị trường vốn
+ Thị trường tiền tệ : Thông qua các hệ thống ngân hàng, doanh nghiệp có thể tạo ra đượcnguồn vốn ngắn hạn và trung hạn để tài trợ cho mọi hoạt động của mình Đồng thời, mỗidoanh nghiệp cần phải mở tài khoản tại một ngân hàng nhất định và thực hiện các giaodịch mua bán chuyển khoản
+ Thị trường vốn : Doanh nghiệp có thể tạo được nguồn vốn dài hạn bằng cách phát hànhchứng khoán của mình như : cổ phiếu,… mặt khác, doanh nghiệp có thể tiến hành kinhdoanh trên thị trường chứng khoán để kiếm lời
Với quan hệ này, doanh nghiệp vừa đóng vai trò là “người bán”, “người mua”, vừađóng vai trò sử dụng hoặc tạo lập các quỹ tiền tệ hay vốn sản xuất kinh doanh
Trang 14+ Với tư cách là người mua: các doanh nghiệp chủ động sử dụng vốn, quỹ của mình đểmua các yếu tố sản xuất như: máy móc thiết bị, nguyên vật liệu,… hoặc đầu tư vào thịtrường vốn: mua cổ phiếu, trái phiếu… của doanh nghiệp khác.
+ Với tư cách là người bán: các doanh nghiệp bán sản phẩm, dịch vụ do mình sản xuất ra
để tạo vốn và quỹ của mình
1.1.5.3. Quan hệ kinh tế trong nội bộ doanh nghiệp
Biểu hiện của quan hệ này là sự luân chuyển vốn trong doanh nghiệp Đây là các quan
hệ tài chính giữa các bộ phận sản xuất kinh doanh với nhau, giữa các đơn vị thành viênvới nhau, giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn… Các mối quan hệ này được biểu hiệnthông qua chính sách tài chính của doanh nghiệp như: Chính sách phân phối thu nhập chongười lao động, chia lãi cho các cổ đông, các chính sách về cơ cấu nguồn vốn, chính sách
về cơ cấu nguồn vốn đầu tư và cơ cấu đầu tư
Quan hệ kinh tế trong nội bộ doanh nghiệp bao gồm:
+ Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các phòng ban, xí nghiệp, đội sản xuất trong việcnhận tạm ứng, thanh toán tài sản, vốn…
+ Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với cán bộ công nhân viên trong quá trình phân phốithu nhập cho người lao động dưới hình thức tiền lương, tiền thưởng, tiền phạt và lãi cổphần
Những quan hệ kinh tế trên được biểu hiện trong sự vận động của tiền tệ thông quaviệc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ Vì vậy thường được xem là các quan hệtiền tệ Những quan hệ này một mặt phản ánh rõ doanh nghiệp là một đơn vị kinh
tế độc lập, chiếm địa vị chủ thể trong quan hệ kinh tế, đồng thời phản ánh rõ nétmối liên hệ giữa tài chính doanh nghiệp với các khâu trong hệ thống tài chính cảnước
1.2. Công tác tổ chức tài chính doanh nghiệp.
1.2.1. Khái niệm, nội dung tổ chức tài chính doanh nghiệp.
1.2.1.1. Khái niệm tổ chức tài chính doanh nghiệp
Để sử dụng có hiệu quả công cụ tài chính, phát huy vai trò tích cực của chúng trongsản xuất kinh doanh, cần thiết phải tổ chức tài chính doanh nghiệp
Trang 15Tổ chức tài chính doanh nghiệp là việc hoạch định những chiến lược tài chính choviệc tạo lập, sử dụng và phân phối quỹ tiền tệ và hệ thống các biện pháp để thực hiệnchiến lược đó nhằm đạt được các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.1.2. Nội dung tổ chức tài chính doanh nghiệp
Tham gia đánh giá, lựa chọn các dự án đầu tư và kế hoạch kinh doanh
Việc xây dựng, đánh giá và lựa chọn các dự án đầu tư và kinh doanh do nhiều bộphận trong doanh nghiệp cùng phối hợp thực hiện Trên góc độ tài chính, điều chủ yếucần phải xem xét là hiệu quả tài chính của dự án – tức là xem xét cân nhắc giữa chi phí
bỏ ra, những rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp phải và khả năng thu lợi nhuận khi thựchiện dự án, dùng thước đo tài chính để lựa chọn được những dự án có mức sinh lợi cao.Vấn đề quan trọng của người quản lý tài chính doanh nghiệp ở đây là xem xét việc sửdụng vốn như thế nào Trên cơ sở tham gia đánh giá, lựa chọn dự án đầu tư, cần chú ý tớiviệc tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp để đảm bảo đạt hiệu quả kinh tếtrước mắt và lâu dài
Xác định nhu cầu vốn, tổ chức huy động các nguồn vốn để đáp ứng kịp thời cho cáchoạt động của doanh nghiệp
Mọi hoạt động của doanh nghiệp đòi hỏi phải có vốn Bước vào kinh doanh, tài chínhdoanh nghiệp phải xác định nhu cầu vốn cần thiết cho các hoạt động của doanh nghiệptrong kỳ Vốn hoạt động gồm: vốn dài hạn và vốn ngắn hạn Tiếp theo, phải tổ chức huyđộng các nguồn vốn để đáp ứng kịp thời, đầy đủ cho các hoạt động của doanh nghiệp Việc
tổ chức huy động các nguồn vốn có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của một doanh nghiệp
Để đi đến quyết định lựa chọn hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp, cần xemxét, cân nhắc trên nhiều mặt như: kết cấu nguồn vốn, những điểm lợi và bất lợi của cáchình thức huy động…
Tổ chức sử dụng có hiệu quả số vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản thu, chi,đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp phải tìm ra các biện pháp góp phần huy động tối đa số vốnhiện có vào hoạt động kinh doanh, giải phóng kịp thời các khoản vốn còn bị ứ đọng Theodõi chặt chẽ và thực hiện tốt việc thu hồi tiền bán sản phẩm, các khoản thu khác, đồng thờiquản lý chặt chẽ cá khoản chi tiêu phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp
Trang 16Thường xuyên tìm các biện pháp lập lại sự cân bằng giữa thu và chi bằng tiền để đảm bảocho doanh nghiệp luôn có khả năng thanh toán Mặt khác, cũng cần xác định rõ các loại chiphí kinh doanh của doanh nghiệp, các khoản thuế mà doanh nghiệp phải nộp, xác định cáckhoản chi phí nào là chi phí hoạt động kinh doanh, những khoản chi phí nào thuộc về cáchoạt động khác Những chi phí vượt quá mức quy định hay những chi phí đã thuộc về cácnguồn kinh phí khác tài trợ, không được tính là chi phí hoạt động kinh doanh.
Thực hiện tốt việc phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp
Thực hiện việc phân phối hợp lý lợi nhuận sau thuế cũng như trích lập và sử dụng tốtcác quỹ của doanh nghiệp sẽ góp phần quan trọng vào việc phát triển doanh nghiệp và cảithiện đời sống của người lao động trong doanh nghiệp Lợi nhuận là mục tiêu của hoạtđộng kinh doanh, là chỉ tiêu mà doanh nghiệp phải đặc biệt quan tâm vì nó liên quan đến
sự tồn tại, phát triển và mở rộng của doanh nghiệp Không thể nói doanh nghiệp hoạtđộng kinh doanh tốt, hiệu quả cao trong khi lợi nhuận hoạt động lại giảm Doanh nghiệpcần có phương án tối ưu trong việc phân chia lợi nhuận, trong việc định tỷ lệ và hoànthành các quỹ của doanh nghiệp như: quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹkhen thưởng phúc lợi…
Đảm bảo kiểm soát thường xuyên đối với tình hình hoạt động của doanh nghiệp và thựchiện tốt việc phân tích tài chính
Thông qua tình hình thu chi tiền tệ hàng ngày, tình hình thực hiện các chỉ tiêu tàichính cho phép tài chính doanh nghiệp thường xuyên kiểm tra, kiểm soát tình hình hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp Mặt khác, cần định kỳ tiến hành phân tích tình hìnhtài chính doanh nghiệp nhằm đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu về tình hình tài chính
và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như khả năng thanh toán, tình hình luânchuyển vốn, hiệu quả hoạt động kinh doanh… Từ đó đưa ra những quyết định đúng đắn
về sản xuất và tài chính, xây dựng được kế hoạch tài chính khoa học, đảm bảo mọi tàisản, tiền vốn và mọi nguồn tài chính của doanh nghiệp được sử dụng một cách có hiệuquả nhất
Thực hiện tốt việc kế hoạch hóa tài chính
Các hoạt động tài chính của doanh nghiệp cần được dự kiến trước thông qua việc lập
kế hoạch tài chính Thực hiện tốt việc lập kế hoạch tài chính là công việc cần thiết giúp
Trang 17doanh nghiệp có thể chủ động đưa ra các giải pháp kịp thời khi có sự biến động của thịtrường Quá trình thực hiện kế hoạch tài chính là quá trình đưa ra các quyết định tài chínhthích hợp nhằm đạt tới các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức tài chính doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp tư nhân
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Những đặc điểm riêng về mặc hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp giữa cácdoanh nghiệp trên có ảnh hưởng lớn đến việc tổ chức tài chính của doanh nghiệp như:
- Tổ chức và huy động vốn
- Phân phối lợi nhuận
Chẳng hạn, doanh nghiệp Nhà nước được Ngân sách Nhà nước đầu tư vốn toàn bộhoặc một phần vốn điều lệ ban đầu Ngoài vốn Nhà nước đầu tư, doanh nghiệp đượcquyền huy động vốn dưới các hình thức phát hành trái phiếu, vay vốn, nhận góp liêndoanh… nhưng không thay đổi hình thức sở hữu của doanh nghiệp Việc phân phối lợinhuận sau thuế được thực hiện theo quy định của chính phủ Đối với doanh nghiệp tưnhân thì vốn là do chủ doanh nghiệp tư nhân tự bỏ ra, cũng có thể huy động thêm từ bênngoài dưới hình thức đi vay Loại doanh nghiệp này không được phép phát hành một loạichứng khoán nào trên thị trường để tăng vốn Phần thu nhập sau thuế thuộc quyền sở hữu
và sử dụng của chủ doanh nghiệp Còn đối với công ty trách nhiệm hữu hạn thì vốn điều
lệ của công ty là do các thành viên đóng góp Trong quá trình hoạt động vốn có thể tăngnên nhờ kết nạp thêm thành viên mới, trích từ quỹ dự trữ hoặc đi vay bên ngoài nhưng
Trang 18không được phép phát hành chứng khoán Việc phân chia lợi nhuận sau thuế do các thànhviên quyết định, mức lợi nhuận các thành viên nhận được phụ thuộc vào vốn đóng góp…
1.2.2.2. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành kinh doanh
Tổ chức tài chính doanh nghiệp còn chịu ảnh hưởng bởi đặc điểm kinh tế - kỹ thuậtcủa ngành kinh doanh, thể hiện ở:
+ Ảnh hưởng của tính chất ngành kinh doanh: Thể hiện trong thành phần và cơ cấu, quy
mô vốn kinh doanh của doanh nghiệp Mỗi ngành kinh doanh có đặc điểm về mặt kinh tế
và kỹ thuật riêng Những đặc điểm đó đã ảnh hưởng đến cơ cấu vốn kinh doanh củadoanh nghiệp (ngành công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến vốn cố định chiếm tỷtrọng khác nhau trong tổng số vốn kinh doanh); ảnh hưởng đến tốc độ luân chuyển vốn(tốc độ luân chuyển vốn của doanh nghiệp sản xuất chậm hơn tốc độ luân chuyển vốn củacác doanh nghiệp thương mại dịch vụ)…
+ Ảnh hưởng của tính thời vụ và chu kỳ sản xuất kinh doanh: thời vụ và chu kỳ sản xuấtkinh doanh (chu kỳ ngắn hoặc dài) ảnh hưởng đến nhu cầu vốn và doanh thu tiêu thụ sảnphẩm
1.2.2.3. Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp
Môi trường kinh doanh bao gồm tất cả các điều kiện bên ngoài ảnh hưởng tới hoạtđộng của doanh nghiệp Do đó, việc tổ chức tài chính doanh nghiệp phải tính đến tácđộng của môi trường kinh doanh
Môi trường kinh doanh bao gồm: sự ổn định về kinh tế, thị trường, lãi suất, cơ sở hạtầng của nền kinh tế, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, chính sách kinh tế,tài chính của nhà nước… Sự ổn định của nền kinh tế sẽ tạo môi trường thuận lợi cho hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp Nền kinh tế biến động có thể gây nên những rủi rocho kinh doanh, những rủi ro đó ảnh hưởng tới các khoản chi phí đầu tư, ảnh hưởng nhucầu về vốn, ảnh hưởng tới thu nhập của doanh nghiệp, cơ sở hạ tầng của nền kinh tế pháttriển cũng ảnh hưởng đến tiết kiệm chi phí trong kinh doanh…
Thị trường tài chính, thị trường hàng hoá phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho doanhnghiệp huy động vốn từ bên ngoài cũng như mua vật tư, thiết bị bán hàng hoá của doanhnghiệp được dễ dàng
Trang 19Giá cả, lãi suất đều ảnh hưởng tới sự tăng giảm về chi phí tài chính và sự hấp dẫn củacác hình thức tài trợ khác nhau Mức lãi suất cũng là một yếu tố đo lường khả năng huyđộng vốn vay.
Sự tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ đòi hỏi doanh nghiệp không ngừng cảitiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ đảm bảo cho sản phẩm của doanh nghiệp tồn tại và pháttriển, đứng vững trong cạnh tranh Từ đó, đòi hỏi doanh nghiệp phải có vốn đầu tư lớn vàchọn hướng đầu tư thích hợp…Chính sách kinh tế và tài chính của nhà nước đối vớidoanh nghiệp (như chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách thuế, chính sách tín dụng
và lãi suất, chính sách ngoại hối, chế độ khấu hao…) phù hợp với môi trường tài chính vĩ
mô sẽ ổn định, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư phát triển, khuyến khích cácdoanh nghiệp tích tụ vốn, sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả
1.2.3. Nguyên tắc tổ chức tài chính doanh nghiệp.
1.2.3.1. Nguyên tắc tôn trọng luật pháp
Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu chung của các doanh nghiệp là đều hướngtới lợi nhuận Vì lợi nhuận tối đa mà các doanh nghiệp có thể kinh doanh với bất cứ giánào có thể phương hại tới lợi ích quốc gia và lợi ích của doanh nghiệp khác Do đó , songsong với bàn tay vô hình của nền kinh tế thị trường cần phải có sự điều chỉnh của Nhànước Nhà nước sử dụng các công cụ quản lý vĩ mô như : luật pháp, chính sách tài chínhtiền tệ, giá cả để điều tiết nền kinh tế thị trường nhằm tạo điều kiện kích thích đầu tư vàtạo môi trường kinh doanh lành mạnh công bằng Một nền kinh tế thi trường hoàn hảocần thiết phải tồn tại cả hai cơ chế: Thị trường và sự quản lý của nhà nước
Những phân tích trên đây cho thấy, trong nền kinh tế thị trường hiện nay không thểvắng mặt sự quản lý của nhà nước Để quản lý thị trường nói chung, các doanh nghiệpnói riêng, nhà nước phải sử dụng các công cụ vĩ mô như luật pháp, các chính sách tàichính, tiền tệ, giá cả Các công cụ quản lý vĩ mô của nhà nước, một mặt tạo điều kiện
mở rộng đầu tư, tạo môi trường kinh doanh, mặt khác tạo ra khuôn khổ luật pháp kinhdoanh rất chặt chẽ Vì vậy, nguyên tắc hàng đầu của tổ chức tài chính doanh nghiệp làphải tôn trọng pháp luật Người cán bộ tài chính cần phải hiểu luật để làm đúng pháp luật,đồng thời hiểu luật để hướng kinh doanh đầu tư vào những nơi được nhà nước khuyến
Trang 20khích (như giảm thuế, có tài trợ tín dụng ) Đó chính là một hướng đi khôn ngoan củacác nhà doanh nghiệp trong cơ chế thị trường.
1.2.3.2. Nguyên tắc hạch toán kinh doanh
Tức là lấy thu nhập bản thân doanh nghiệp để bù đắp chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ
ra đảm bảo có lãi, để thực hiện điều đó thì việc tổ chức tài chính doanh nghiệp phải được
tự chủ về mặt tài chính, tự chủ trong kinh doanh và phải hướng vào một loạt các phươngpháp như : chủ động khai thác các nguồn vốn, bảo toàn và phát huy hiệu quả nguồn vốn,chủ động tìm kiếm thị trường, khách hàng và kí kết hợp đồng, tuyển thuê lao động theoyêu cầu kinh doanh, chủ động áp dụng phương thức quản lý khoa học hiện đại để nângcao hiệu quả và khả năng cạnh tranh… từ chối và tố cáo mọi yêu cầu cung cấp các nguồnlực không được luật pháp quy định Hạch toán kinh doanh là nguyên tắc quan trọng nhất,quyết định tới sự sống còn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Hạch toán kinh doanh chỉ có thể được phát huy tác dụng trong môi trường đích thựccủa nó là nền sản xuất hàng hoá thực thụ, mà đỉnh cao của nó là cơ chế thị trường Sở dĩnhư vậy là do yêu cầu tối cao của nguyên tắc này (lấy thu bù chi, có doanh lợi) đã hoàntoàn trùng hợp với mục tiêu của các doanh nghiệp là kinh doanh để đạt được lợi nhuận tối
đa Do có sự thống nhất đó, nên trong nền kinh tế thị trường, hạch toán kinh doanh khôngchỉ có điều kiện thực hiện, mà còn là một nhu cầu bắt buộc các doanh nghiệp phải thựchiện, nếu như không muốn doanh nghiệp của mình bị phá sản
Để thực hiện được nhu cầu lấy thu bù chi, có doanh lợi của nguyên tắc hạch toánkinh doanh, việc tổ chức công tác tài chính và doanh nghiệp phải hướng vào hàng loạtcác biện pháp như: chủ động tận dụng khai thác các nguồn vốn; bảo toàn và phát huyhiệu quả đồng vốn; việc đầu tư vốn phải bám sát những yêu cầu của thị trường tất cảcác biện pháp trên đây đều nhằm thực hiện một mục đích là kinh doanh phải có hiệu quả
Đó là mục tiêu số một bao trùm và chi phối toàn bộ hoạt động tài chính của mọi doanhnghiệp trong nền kinh tế thị trường
1.2.3.3. Nguyên tắc giữ chữ tín
Là nguyên tắc nghiêm ngặt trong kinh doanh Để thực hiện nguyên tắc này thì doanhnghiệp phải nghiêm túc tôn trọng kỉ luật thanh toán, tôn trọng những điều khoản ghi tronghợp đồng kinh tế, tôn trọng các cam kết đã kí.Giữ chữ tín không chỉ là một tiêu chuẩn đạo
Trang 21đức trong đời thường, mà còn là một nguyên tắc nghiêm ngặt trong kinh doanh nói chung,trong tổ chức tài chính doanh nghiệp nói riêng Trong các hợp đồng kinh tế, các quan hệ tàichính, nếu vì một lời hứa mà chúng ta bị thô lỗ thì tốt nhất là chúng ta chịu mất tiền, cònhơn là mất danh dự, mất uy tín để làm ăn Trong thực tế kinh doanh đã cho thấy: kẻ làmmất chữ tín, chỉ tham lợi trước mắt sẽ bị bạn hàng xa lánh Đó là một nguy cơ dẫn đến phásản Mặt khác để giữ chữ tín doanh nghiệp cũng cần mạnh dạn đầu tư, đổi mới công nghệ,cải tiến kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm để luôn giữ được giá trị của thương hiệucủa doanh nghiệp.
Trong công tác tổ chức tài chính doanh nghiệp, để giữ gìn chữ tín, cần nghiên túc tôntrọng kỷ luật thanh toán, các điều khoản trong hợp đồng kinh tế, các cam kết trong liêndoanh, góp vốn, hùn vốn, đầu tư và phân chia lợi nhuận
Trong kinh doanh, đi đôi với việc giữ gìn chữ tín cũng phần phải tỉnh táo, đề phòng sựbội tín của đối phương để đảm bảo an toàn về vốn kinh doanh
1.2.3.4. Nguyên tắc an toàn phòng ngừa rủi ro bất trắc
Đảm bảo an toàn, đề phòng rủi ro bất trắc cũng được coi là một trong những nguyên
tắc kinh doanh nói chung, trong tổ chức tài chính doanh nghiệp nói riêng Đảm bảo an
toàn là cơ sở vững chắc cho việc thực hiện các mục tiêu kinhdoanh có hiệu quả
Nguyên tắc an toàn là nguyên tắc cần quán triệt trong mọi khâu của công tác tàichính của doanh nghiệp Có nghĩa là an toàn trong việc chọn nguồn vốn, an toàn trongviệc góp vốn đầu tư liên doanh, an toàn trong sử dụng vốn Để đảm bảo an toàn, trướckhi ra một quyết đinh tài chính, cần cân nhắc, xem xét trên nhiều phương án, nhiều góc
độ khác nhau Có thể chấp nhận một phương án đầu tư mang lại mức lợi nhuận vừa phảicòn hơn là một phương án có lợi nhuận cao nhưng lại phiêu lưu, mạo hiểm Tuy nhiên antoàn và mạo hiểm trong kinh doanh là hai thái cực đối lập nhau Mạo hiểm trong đầu tư
có cơ hội lớn mang lại hiệu quả cao hơn nhưng cũng có rất nhiều rủi ro Còn lựa chọngiải pháp an toàn thì nguy cơ rủi ro ít tuy nhiên lợi nhuận thu được của doanh nghiệpít.Ngoài biện pháp lựa chọn các phương án, để đảm bảo an toàn trong kinh doanh, cầnthiết phải tạo lập các quỹ dự phòng (quỹ dự trữ tài chính) hoặc mua bảo hiểm Trong việc
Trang 22thành lập công ty, hình thức phát hành cổ phiếu cũng là một biện pháp vừa để tập trungvốn, vừa để san sẻ rủi ro cho nhiều cổ đông, nhằm làm tăng độ an toàn cho vốn kinhdoanh.
1.2.3.5. Nguyên tắc tập trung dân chủ
Xét ở tầm vĩ mô, tập trung là sự hướng dẫn chỉ đạo một cách thống nhất của hệ thốngtài chính Nhà nước và của hệ thống pháp luật hiện hành Dân chủ thể hiện ở việc cácdoanh nghiệp được quyền chủ động trong sản xuất kinh doanh và được quyền tự chủ vềtài chính, chủ động tạo nguồn vốn và đưa ra những quyết định về tài chính của doanhnghiệp mình… với điều kiện đảm bảo sản xuất kinh doanh có hiệu quả, bảo đảm lợi íchcủa Nhà nước , doanh nghiệp và người lao động
Xét ở tầm vi mô, tập trung thể hiện ở quyền quản lý và quyền quyết định các vấn đềsản xuất kinh doanh thuộc về người đứng đầu doanh nghiệp Dân chủ thể hiện ở việctham gia đóng góp ý kiến của tập thể và người lao động
Như vậy, nhà quản lý tài chính chịu trách nhiệm điều hành hoạt động tài chính vàthường đưa ra các quyết định tài chính trên cơ sở các nghiệp vụ tài chính thường ngày docác nhân viên cấp thấp cung cấp Do vậy, trong quá trình thực hiện cấp dưới phản ánhnhững kiến nghị của mình lên cấp trên, chủ động sáng tạo trong hoạt động thực hiện củamình cho phù hợp và cấp trên thu thập những ý kiến của cấp dưới để đưa ra các quyếtđịnh đúng đắn
1.2.3.6. Nguyên tắc quản lý theo kế hoạch gắn với thị trường
Tất cả các quyết định tài chính đều phải xem xét, cân nhắc cho phù hợp với yêu cầucủa thị trường, phù hợp với diễn biến của thị trường, phải coi thì trường là nơi kiểmnghiệm tính đúng đắn và hiệu quả của các quyết định tài chính
Các nhà quản lý khi đưa ra các quyết định tài chính cần hiểu rõ về thị trường vàquản lý kế hoạch có gắn thị trương để đạt hiệu quả cao nhất trong các quyết định quản lý
1.2.3.7. Nguyên tắc trách nhiệm và quyền lợi vật chất
Xét ở góc độ vĩ mô, doanh nghiệp được quyền sử dụng vốn một cách linh hoạt, đượcquyền phân phối thu nhập Bên cạnh đó, doanh nghiệp có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ
Trang 23nộp ngân sách Nhà nước Xét ở góc độ vi mô, nguyên tắc trách nhiệm và quyền lợi vậtchất thể hiện ở việc áp dụng các hình thức thưởng phạt vật chất phù hợp.
Người đưa ra các quyết định quản lý phải chịu trách nhiệm về các quyết định củamình Bên cạnh với các trách nhiệm thì họ cũng có được những quyền lợi nhất định.Nếu không có các quy định về trách nhiệm vật chất thì sẽ không thể đảm bảo đượcmọi người, mọi tập thể tự giác và có trách nhiệm đầy đủ trong việc thực hiện nghĩa vụ.Điều này sẽ góp phần vào việc người lao động sẽ cố gắng hoàn thành nghĩa vụ của mình,đồng thời đảm bảo được kỷ luật, trật tự trong doanh nghiệp Song, trách nhiệm luôn đicùng với quyền lợi Quyền lợi vật chất là động lực thúc đẩy cho việc hoàn thành các tráchnhiệm vật chất một cách có hiệu quả
1.3. Phân tích tình hình tài chính trong doanh nghiệp.
1.3.1. Khái niệm phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là tập hợp các công cụ và phương phápcho phép thu thập, xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác trong quản lý doanhnghiệp, nhằm đánh giá tình hình tài chính hiện tại và trong quá khứ của doanh nghiệp,đánh giá hiệu quả kinh doanh cũng như đánh giá khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp,giúp các nhà quản lý đưa ra các quyết định tài chính và các quyết định quản lý phù hợpPhân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp, mà trọng tâm là phân tích các báo cáo tàichính và các chỉ tiêu đặc trưng tài chính thông qua một hệ thống các phương pháp, công
cụ và kỹ thuật phân tích, giúp cho việc đánh giá toàn diện, tổng hợp, khái quát và xem xétmột cách chi tiết hoạt động tài chính của doanh nghiệp Trên cơ sở đó nhận biết, phánđoán, dự báo và đưa ra các quyết định tài chính, quyết định tài trợ đầu tư phù hợp
1.3.2. Mục đích của phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.
+ Cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư, các chủ nợ để họ có thể đưa ra cácquyết định đầu tư, tín dụng đúng đắn
+ Cung cấp thông tin để các đối tượng sử dụng có thể đánh giá số lượng, thời gian và rủi
ro của các khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp
Trang 24+ Cung cấp thông tin về các nguồn lực kinh tế, về nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với cácnguồn lực đó, về tác động của những sự kiện, những nghiệp vụ… làm thay đổi nguồn lực
và thay đổi nghĩa vụ…
+ Cung cấp thông tin và phân tích rõ thực trạng tài chính để phục vụ cho chính bản thândoanh nghiệp trong việc lập và điều hành phương án sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp sao cho đạt hiệu quả cao nhất
+ Phân tích tài chính là đánh giá những gì đã làm được, dự kiến những gì sẽ xảy ra, trên
cơ sở đó kiến nghị các biện pháp để tận dụng triệt để các điểm mạnh và khắc phục cácđiểm yếu
1.3.3. Ý nghĩa của phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.
Hoạt động tài chính của doanh nghiệp có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sảnxuất kinh doanh ở doanh nghiệp Do đó tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều cóảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp Ngược lại tình hình tài chính tốt hayxấu đều có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh
Hoạt động tài chính là nội dung chủ yếu của hoạt động sản xuất kinh doanh Các báocáo tài chính phản ánh kết quả và tình hình của các mặt hoạt động của doanh nghiệp,bằng các chỉ tiêu kinh tế, những báo cáo này do kế toán soạn thảo định kỳ, nhằm mụcđích cung cấp thông tin về kết quả và tình hình tài chính của doanh nghiệp, hoặc của tổchức cho những người cần sử dụng chúng
Mục đích quan trọng nhất của phân tích tình hình tài chính là giúp những người ra quyếtđịnh đánh giá chính xác thực trạng, tiềm năng của doanh nghiệp, từ đó lựa chọn phương
án hành động tối ưu
1.4. Các phương pháp sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp.
Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp bao gồm một hệ thống các cách thức,các công cụ, các biện pháp nhằm nghiên cứu các sự kiện, các hiện tượng, các mối liên hệbên trong, bên ngoài, các luồng di chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài chính tổnghợp và chi tiết nhằm đánh giá thực trạng tài chính doanh nghiệp
Trang 25Người ta sử dụng rất nhiều phương pháp phân tích tài chính khác nhau Tuy nhiên, trênthực tế thường sử dụng hai phương pháp phổ biến đó là phương pháp so sánh và phươngpháp phân tích tỉ lệ.
1.4.1. Phương pháp so sánh.
Phương pháp này được sử dụng rộng rãi để xác định hướng và mức độ biến động củacác chỉ tiêu phân tích Khi sử dụng phương pháp này, trước hết cần phải xác định gốc sosánh, điều kiện so sánh và mục tiêu so sánh
Gốc so sánh
Tuỳ theo mục đích của việc so sánh mà ta chọn gốc khác nhau:
+ Nếu nghiên cứu nhịp độ biến động hay tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu thì gốc sosánh là trị số thực tế của chỉ tiêu ở kỳ trước
+ Nếu đánh giá mức độ biến động so với mục tiêu dự kiến (kế hoạch đề ra) thì gốc sosánh là trị số kế hoạch của chỉ tiêu
+ Nếu nghiên cứu khả năng đáp ứng với nhu cầu của thị trường thì gốc so sánh là mứccủa hợp đồng đã ký
Ngoài ra còn có thể so sánh theo không gian (giữa các đơn vị trực thuộc) Khi đó gốc sosánh là trị số của các chỉ tiêu của một đơn vị điển hình nào đó trong từng lĩnh vực
Điều kiện so sánh
Các chỉ tiêu khi đưa ra so sánh phải chú ý các điều kiện sau:
+ Nội dung kinh tế của các chỉ tiêu so sánh phải giống nhau
+ Phương pháp tính các chỉ tiêu so sánh phải giống nhau
+ Đơn vị đo của các chỉ tiêu so sánh phải giống nhau
Đối với các chỉ tiêu thời gian thì cần chú ý thêm:
+ Phạm vi tính toán của các chỉ tiêu so sánh phải giống nhau
+ Độ dài thời gian tính các chỉ tiêu so sánh phải giống nhau
Mục tiêu so sánh
Mục tiêu so sánh trong phân tích hoạt động kinh tế là xác định mức độ biến động tuyệtđối và mức độ biến động tương đối cùng xu hướng biến động của chỉ tiêu phân tích
a. So sánh định gốc.
Trang 26+ Số chênh lệch tuyệt đối:
a0 : trị số của chỉ tiêu ở kỳ gốc
a1, ….an : trị số của chỉ tiêu ở kỳ phân tích
Ngoài ra, có thể xác định tỷ lệ hoàn thành:
t = x 100
b. So sánh liên hoàn (gốc so sánh tuần tự thay đổi khi kỳ phân tích thay đổi)
+ Số chênh lệch tuyệt đối:
Trang 27Phương pháp so sánh sử dụng kỹ thuật so sánh theo chiều dọc và so sánh theo chiềungang:
+ So sánh dọc trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp chính là việc sử dụng các tỷ lệ,các hệ số thể hiện mối tương quan giữa các chỉ tiêu trong từng báo cáo tài chính, giữa cácbáo cáo tài chính của doanh nghiệp Thực chất của việc phân tích theo chiều dọc trên báocáo tài chính là phân tích sự biến động về cơ cấu hay những quan hệ tỷ lệ giữa các chỉtiêu trong hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp Chẳng hạn, phân tích tình hình biếnđộng về cơ cấu tài sản và nguồn vốn trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, hoặcphân tích các mối quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận với doanh thu, với tổng giá vốn hàng bán,với tổng tài sản,…trên báo cáo tài chính doanh nghiệp
+ So sánh ngang trên các báo cáo tài chính của doanh nghiệp chính là việc so sánh, đốichiếu tình hình biến động cả về số tuyệt đối và số tương đối trên từng chỉ tiêu, trên từngbáo cáo tài chính Tuy nhiên, phân tích theo chiều ngang cần chú ý là trong điều kiện xảy
ra lạm phát, kết quả tính được chỉ có ý nghĩa khi chúng ta đã loại trừ ảnh hưởng của biếnđộng về giá Thực chất của việc phân tích này là phân tích sự biến động về quy mô và củatừng khoản mục trên từng báo cáo tài chính của doanh nghiệp Qua đó, xác định đượcmức biến động về quy mô của chỉ tiêu phân tích và mức độ ảnh hưởng của từng chỉ tiêunhân tố đến chỉ tiêu phân tích Chẳng hạn, phân tích tình hình biến động về quy mô tàisản, nguồn hình thành tài sản, tình hình biến động về quy mô của từng khoản, từng mục ở
cả hai bên tài sản và nguồn hình thành tài sản trên bảng cân đối kế toán của doanhnghiệp…
Phương pháp so sánh là một trong những phương pháp được sử dụng rộng rãi và phổbiến nhất trong bất kỳ một hoạt động phân tích nào của doanh nghiệp Trong phân tíchtình hình hoạt động tài chính của doanh nghiệp, nó được sử dụng rất đa dạng và linh hoạt
1.4.2. Phương pháp liên hệ cân đối.
Phương pháp này dùng để xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố có quan hệtổng số với chỉ tiêu phân tích Sự cân bằng về lượng sẽ dẫn tới sự cân bằng cả về biếnđộng
Trang 28Dựa vào nguyên lý của sự cân bằng về lượng giữa hai mặt của các yếu tố và quá trìnhkinh doanh, người ta có thể xây dựng phương pháp phân tích mà trong đố, các chỉ tiêunhân tố có quan hệ với chỉ tiêu phân tích được biểu hiện dưới dạng là tổng số hoặc hiệu
số Bởi vậy, để xác định ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêuphân tích, cần xác định mức độ chênh lệch của từng nhân tố giữa hai kỳ, giữa các nhân tốmang tính chất độc lập
Các báo cáo tài chính đều có đặc trưng chung là thể hiện tính cân đối: cân đối giữa tàisản và nguồn vốn; cân đối giữa doanh thu, chi phí và kết quả; cân đối giữa dòng tiền vào vàdòng tiền ra, cân đối giữa tăng và giảm Cụ thể là các cân đối cơ bản:
Tổng tài sản = TSNH + TSDH Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn
Lợi nhuận = Doanh thu - Chi phí Dòng tiền thuần = Dòng tiền vào - Dòng tiền ra Dựa vào những cân đối cơ bản trên, trong phân tích tài chính thường vận dụngphương pháp liên hệ cân đối để xem xét ảnh hưởng của từng nhân tố đến biến động củachỉ tiêu phân tích Chẳng hạn, với biến động của tổng tài sản giữa hai thời điểm, phươngpháp này sẽ cho thấy loại tài sản nào (hàng tồn kho, nợ phải thu, TSCĐ ) biến động ảnhhưởng đến biến động tổng tài sản của doanh nghiệp Như vậy, dựa vào biến động củatừng bộ phận mà chỉ tiêu phân tích sẽ được đánh giá đầy đủ hơn
1.4.3. Một số phương pháp khác.
1.4.3.1. Phương pháp loại trừ
Loại trừ là một phương pháp nhằm xác định mức độ ảnh hưởng lần lượt của từngnhân tố đến chỉ tiêu phân tích và được thực hiện bằng cách: Khi xác định sự ảnh hưởngcủa nhân tố này thì phải loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố khác
Các nhân tố có thể làm tăng, có thể làm giảm, thậm chí có những nhân tố không cóảnh hưởng gì đến các kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Nó có thể là những nhân tốkhách quan, nhân tố chủ quan, có thể là nhân tố số lượng, có thể là nhân tố thứ yếu, cóthể là nhân tố tích cực và có thể là nhân tố tiêu cực…
Trang 29Để xác định được mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết quả của các hoạt độngtài chính, phương pháp loại trừ có thể được thực hiện bằng hai cách sau:
+ Cách một: Dựa vào sự ảnh hưởng trực tiếp của từng nhân tố, được gọi là “phương pháp
số chênh lệch” Theo phương pháp này, trước hết phải biết được số lượng các chỉ tiêunhân tố ảnh hưởng, mối quan hệ giữa các chỉ tiêu nhân tố với chỉ tiêu phân tích, từ đó xácđịnh được công thức lượng hóa sự ảnh hưởng của nhân tố đó Tiếp đó, xác định thứ tựảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích Nghĩa là nhân tố số lượng xếp trước,nhân tố chất lượng xếp sau Trong trường hợp có nhiều nhân tố số lượng và nhiều nhân tốchất lượng thì nhân tố chủ yếu xếp trước, nhân tố thứ yếu xếp sau Sau đó, xác định sựảnh hưởng lần lượt của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích
+ Cách hai: Thay thế sự ảnh hưởng lần lượt của từng nhân tố, được gọi là “phương phápthay thế liên hoàn” Theo phương pháp này, tiến hành lần lượt thay thế từng nhân tố theomột trình tự nhất định Nhân tố nào được thay thế là nhân tố sẽ xác định mức độ ảnhhưởng của nó đến chỉ tiêu phân tích Còn các nhân tố chưa được thay thế thì phải giữnguyên ở kỳ kế hoạch, hoạc kỳ kinh doanh trước (kỳ gốc) Cuối cùng tổng hợp sự ảnhhưởng của tất cả các nhân tố bằng một phép cộng đại số
1.4.3.2. Phương pháp đồ thị
Đồ thị là một phương pháp nhằm phản ánh trực quan các số liêu phân tích bằng biểu
đồ hoặc đồ thị Qua đó, mô tả xu hướng, mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích, hoặcthể hiện mối quan hệ kết cấu cảu cá bộ phận trong một tổng thể nhất định
Phương pháp đồ thị có tác dụng minh họa kết quả tài chính tính toán được và đượcbiểu thị bằng biểu đồ hay đồ thị, giúp cho việc đánh giá bằng trực quan, thể hiện rõ ràng
và mạch lạc diễn biến của chỉ tiêu phân tích qua từng thời kỳ Trên cơ sở đó, xác định rõnhững nguyên nhân biến động của chỉ tiêu phân tích, đưa ra các giải pháp nhằm nâng caohiệu quả của hoạt động tài chính doanh nghiệp
Phương pháp đồ thị có thể phản ánh dưới những góc độ sau:
+ Biểu thị quy mô (độ lớn) các chỉ tiêu phân tích qua thời gian, như: Tổng tài sản, tổngdoanh thu, sản lượng, hiệu quả sử dụng vốn, hiệu quả sử dụng chi phí, tỷ suất lợinhuận….hoặc có thể biểu hiện tốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu phân tích qua thời gian,
Trang 30như: tốc độ tăng của tài sản tốc độ tăng vốn chủ sở hữu, tốc độ tăng hiệu quả sử dụngvốn, tốc độ tăng vốn đầu tư,….
+ Biểu hiện mối quan hệ giữa chỉ tiêu phân tích với các chỉ tiêu nhân tố như: Tỷ suất sinhlời của tổng tài sản chịu ảnh hưởng của tỷ suất sinh lời của tổng doanh thu thuần và tốc
độ chu chuyển của tổng tài sản hoặc sức sinh lời của tài sản dài hạn phụ thuộc vào hệ sốcủa tài sản dài hạn với sức sinh lời của vốn chủ sở hữu
1.5. Tài liệu phân tích.
Để tiến hành phân tích tình hình tài chính, người phân tích phải sử dụng rất nhiều tàiliệu khác nhau, trong đó chủ yếu là các báo cáo tài chính Báo cáo tài chính rất hữu íchđối với việc quản trị doanh nghiệp và là nguồn thông tin tài chính chủ yếu đối với nhữngngười ngoài doanh nghiệp Báo cáo tài chính không những cho biết tình hình tài chínhcủa doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo mà còn cho thấy những kết quả hoạt động màdoanh nghiệp đạt được trong tình hình đó Các báo cáo tài chính chủ yếu được sử dụnggồm : bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyểntiền tệ và thuyết minh báo cáo tài chính
1.5.1. Bảng cân đối kế toán.
Khái niệm, ý nghĩa.
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính phản ánh tổng quát tình hình tài sảncủa doanh nghiệp, tại một thời điểm nhất định, dưới hình thái tiền tệ theo giá trị tài sản vànguồn hình thành tài sản Về bản chất, bảng cân đối kế toán là một bảng cân đối tổng hợpgiữa tài sản với vốn chủ sở hữu và công nợ phải trả
Bảng cân đối kế toán là tài liệu quan trọng để nghiên cứu, đánh giá một cách tổngquát tình hình và kết quả kinh doanh, trình độ sử dụng vốn và những triển vọng kinh tế,tài chính của doanh nghiệp
+ Phần phản ánh giá trị tài sản gọi là “Tài sản” Phần “Tài sản” phản ánh giá trị ghi sổcủa toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp đến cuối năm kế toán đang tồn tại dưới cáchình thái và trong tất cả các giai đoạn, các khâu của quá trình kinh doanh Các chỉ tiêuphản ánh trong phần tài sản được sắp xếp theo nội dung kinh tế của các loại tài sản củadoanh nghiệp
Trang 31+ Phần phản ánh nguồn hình thành tài sản gọi là “Nguồn vốn” Các chỉ tiêu ở phần nguồnvốn được sắp xếp theo từng nguồn hình thành tài sản của đơn vị Tỷ lệ và kết cấu củatừng nguồn vốn trong tổng số nguồn vốn hiện có phản ánh tính chất hoạt động, thực trạngtài chính của doanh nghiệp.
Hai phần “Tài sản” và “Nguồn vốn” có thể được trình bày theo hình thức cân đối 2bên (bên trái và bên phải) hoặc theo hình thức cân đối 2 phần liên tiếp (phía trên và phíadưới) Mỗi phần đều có số tổng cộng và số tổng cộng của hai phần bao giờ cũng bằngnhau, tức là:
Tài sản = Nguồn vốnhoặc: Tài sản = Vốn chủ sở hữu + Công nợ phải trả
Kết cấu.
a. Phần tài sản
Nội dung phần tài sản
A-Tài sản ngắn hạn
I Tiền và các khoản tương đương tiền
II Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạnIII Các khoản phải thu ngắn hạn
IV Hàng tồn kho
V Tài sản ngắn hạn khácB-Tài sản dài hạn
I Các khoản phải thu dài hạn
II Tài sản cố địnhIII Bất động sản đầu tư
IV Các khoản đầu tư tài chính dài hạn
V Tài sản dài hạn khác+ Về mặt kinh tế, các chỉ tiêu của phần “Tài sản”, cho phép đánh giá tổng quát về quy môvốn, cơ cấu vốn, quan hệ giữa năng lực sản xuất và trình độ sử dụng tài sản
+ Về mặt pháp lý, phần “Tài sản” thể hiện số tiềm lực mà doanh nghiệp có quyền quản
lý, sử dụng lâu dài gắn với mục đích thu được các khoản lợi ích trong tương lai
Trang 32b. Phần nguồn vốn: Phản ánh các nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp.
Nội dung phần nguồn vốn
A-Nợ phải trả
I Nợ ngắn hạn
II Nợ dài hạnB-Vốn chủ sở hữu
I Vốn chủ sở hữu
II Nguồn kinh phí và quỹ khác+ Về mặt kinh tế, phần “nguồn vốn” thể hiện các nguồn hình thành tài sản hiện có, căn cứvào đó có thể biết tỷ lệ, kết cấu của từng loại nguồn vốn đồng thời phần “nguồn vốn”cũng phản ánh được thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp
+ Về mặt pháp lý, người sử dụng bảng cân đối kế toán thấy được trách nhiệm pháp lý vềmặt vật chất của doanh nghiệp đối với các đối tượng cấp vốn (nhà nước, ngân hàng, cổđông ); hay nói cách khác thì các chỉ tiêu phần “nguồn vốn” thể hiện trách nhiệm củadoanh nghiệp về tổng số vốn đã đăng ký kinh doanh với Nhà nước, về số tài sản đã hìnhthành và trách nhiệm phải thanh toán với các khoản nợ (với người lao động, nhà cungcấp, vốn nhà nước)
1.5.2. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
Khái niệm, ý nghĩa
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một trong những báo cáo tài chính tổnghợp, phản ánh tổng quát tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,đồng thời phản ánh tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh theo từng loại hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán và tình hình thực hiện nghĩa vụ vớiNhà nước về thuế và các khoản khác
Căn cứ vào số liệu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,người sử dụng thông tin có thể có nhận xét và đánh giá khái quát tình hình và kết quảhoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng như tình hình thanh toán các khoản vớiNhà nước Thông qua việc phân tích số liệu trên báo cáo này, ta có thể biết được xuhướng phát triển và hiệu quả kinh doanh của Công ty kỳ này so với các kỳ trước.v.v
Trang 33 Nội dung, kết cấu
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phản ánh tình hình kết quả (lãi, lỗ) hoạt độngcủa doanh nghiệp theo từng hoạt động (sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính và hoạtđộng bất thường) Các chỉ tiêu được phản ánh ở báo cáo này liên quan đến quá trình tínhtoán, xác định kết quả kinh doanh của từng loại hoạt động cũng như tổng lợi tức trong kỳcủa doanh nghiệp
Các chỉ tiêu ở phần này đều được phản ánh số liệu của kỳ trước, số phát sinh trong kỳ
và số luỹ kế từ đầu năm theo từng cột tương ứng để phục vụ cho việc so sánh, phân tích
và cung cấp số liệu cho việc lập báo cáo kỳ sau
1) Tổng doanh thu: Phản ánh tổng số doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ của doanhnghiệp
Ngoài ra, đối với các doanh nghiệp có tiến hành hoạt động kinh doanh xuất khẩu, chỉ tiêunày còn chi tiết theo doanh thu của hàng xuất khẩu
2) Các khoản giảm trừ: Chỉ tiêu này phản ánh các khoản giảm trừ vào doanh thu bánhàng bao gồm:
- Chiết khấu bán hàng: Là số tiền thưởng cho khách hàng do khách hàng thanh toán trướcthời hạn quy định mà doanh nghiệp đã chấp nhận
- Giảm giá hàng bán: Là số tiền mà đơn vị chấp nhận giảm cho người mua theo chínhsách bán hàng của doanh nghiệp cho số hàng hoá, thành phẩm, dịch vụ phát sinh trongkỳ
- Hàng bán bị trả lại : Phản ánh doanh thu của số hàng tiêu thụ bị khách hàng trả lại
- Thuế doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu: Phản ánh số thuế doanh thu, thuếtiêu thu đặc biệt và thuế xuất khẩu phải nộp cho Nhà nước theo doanh thu phát sinh trong
Trang 346)Doanh thu hoạt động tài chính: phản ánh doanh thu tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức, lợinhuận được chia và doanh thu hoạt động tài chính khác của doanh nghiệp
7)Chi phí tài chính: phản ánh những khoản chi phí hoạt động tài chính bao gồm các khoảnchi phí hoặc các khoản lỗ liên quan đến các hoạt động đầu tư tài chính, chi phí cho vay và
đi vay vốn, chi phí góp vốn liên doanh, liên kết, lỗ chuyển nhượng chứng khoán ngắnhạn, chi phí giao dịch bán chứng khoán
8)Chi phí bán hàng: phản ánh các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình bán sản phẩm,hàng hoá, cung cấp dịch vụ bao gồm các chi phí chào hàng, giới thiệu sản phẩm, quảngcáo sản phẩm, hoa hồng bán hàng, chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hoá (trừ hoạt độngxây lắp), chi phí bảo quản, đóng gói, vận chuyển,…
9)Chi phí quản lý doanh nghiệp: phản ánh các chi phí quản lý chung của doanh nghiệp gồmcác chi phí về lương nhân viên bộ phận quản lý doanh nghiệp (Tiền lương, tiền công, cáckhoản phụ cấp, .); bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn của nhân viênquản lý doanh nghiệp; chi phí vật liệu văn phòng, công cụ lao động, khấu hao TSCĐdùng cho quản lý doanh nghiệp; tiền thuê đất, thuế môn bài; khoản lập dự phòng phải thukhó đòi; dịch vụ mua ngoài (Điện, nước, điện thoại, fax, bảo hiểm tài sản, cháy nổ .);chi phí bằng tiền khác
10) Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh: Được tính bằng lợi nhuận gộp cộng vớikhoản chênh lệch giữa doanh thu hoạt động tài chính và chi phí tài chính, trừ đi chi phíbán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
11) Thu nhập khác: phản ánh các khoản thu nhập khác, các khoản doanh thu ngoài hoạtđộng sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp
12) Chi phí khác: phản ánh những khoản chi phí phát sinh do các sự kiện hay các nghiệp
vụ riêng biệt với hoạt động thông thường của các doanh nghiệp
13) Lợi nhuận khác: là phần chênh lệch giữa doanh thu khác và chi phí khác
14) Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế: Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy nhuận thuần
từ hoạt động kinh doanh cộng với lợi nhuận khác
Trang 3515) Chi phí thuế TNDN hiện hành: phản ánh chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiệnhành phát sinh trong năm của doanh nghiệp( số thuế mà Công ty phải nộp tính trên lợinhuận chịu thuế)
16) Chi phí thuế TNDN hoãn lại: phản ánh chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lạiphát sinh trong năm của doanh nghiệp
17) Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp: Là phần còn lại của lợi nhuận kinh doanhsau khi đã nộp thuế TNDN
1.5.3. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
Khái niệm, ý nghĩa.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính phản ánh việc hình thành và sử dụnglượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp Thông tin phản ánh trong bảngcung cấp cho các đối tượng sử dụng thông tin có cơ sở để đánh giá khả năng tạo ra tiền vàviệc sử dụng những khoản tiền đã tạo ra trong các hoạt động của doanh nghiệp
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ nhằm:
+ Cung cấp thông tin để đánh giá khả năng tạo ra các khoản tiền, các khoảntương đương tiền và nhu cầu của doanh nghiệp trong việc sử dụng các khoảntiền
+ Đánh giá, phân tích thời gian cũng như mức độ chắc chắn của việc tạo ra cáckhoản tiền và việc sử dụng những khoản tiền đã tạo ra đó trong hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp
+ Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động kinh doanh, đầu tư và tài chính của doanhnghiệp đối với tình hình tài chính
+ Cung cấp thông tin để đánh giá khả năng thanh toán và xác định nhu cầu vềtiền của doanh nghiệp trong kỳ hoạt động tiếp theo
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ bao gồm: tiền tại quỹ, tiền đang chuyển và các khoản tiềngửi không kỳ hạn, còn các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn (khôngquá 3 tháng kề từ ngày mua khoản đầu tư đó), có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành mộtlượng tiền xác định và không có nhiều rủi ro trong chuyển đổi thành tiền (kỳ phiếu ngânhàng, tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi…) Doanh nghiệp được trình bày các luồng tiền
Trang 36từ các hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và các hoạt động tài chính theo nhiều cáchthức phù hợp nhất với đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp.
Nội dung, kết cấu:
Gồm 3 phần:
+ Phần lưu chuyển tiền từ hoạt đông kinh doanh: Các chỉ tiêu phần này phản ánh toàn bộdòng tiền thu chi có liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhưtiền thu bán hàng, tiền thu từ các khoản phải thu của khách hàng, tiền trả cho người cungcấp, tiền trả cho công nhân viên, tiền nộp thuế, các khoản chi phí cho công tác quản lýv.v
+ Phần lưu chuyển từ hoạt động đầu tư : Các chỉ tiêu phần này phản ánh toàn bộ dòng tiền
có liên quan trực tiếp đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp Trong phần này cần phânbiệt 2 loại đầu tư khác nhau :
- Đầu tư cơ sở vật chất - kỹ thuật của doanh nghiệp như đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắmtài sản cố định, v.v
- Đầu tư vào đơn vị khác dưới các hình thức, các khoản này trong báo cáo lưu chuyển tiền
tệ không phân biệt đầu tư ngắn hạn hay đầu tư dài hạn
Các khoản thu chi được phản ánh vào phần này gồm toàn bộ các khoản thu do bán tài sản
cố định, thanh lý tài sản cố định, thu hồi các khoản đầu tư vào đơn vị khác, thu lãi đầu tưv.v Các khoản chi đầu tư mua sắm tài sản cố định, xây dựng cơ bản, chi để đầu tư vàođơn vị khác v.v
+ Phần lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính : Các chỉ tiêu phần này phản ánh toàn bộdòng tiền thu chi có liên quan trực tiếp đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp Hoạtđộng tài chính gồm các nghiệp vụ làm tăng, giảm nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp.Các khoản thu, chi được tính vào phần này gồm tiền thu do đi vay, thu do các chủ sở hữugóp vốn, tiền thu từ lãi tiền gửi, tiền trả nợ các khoản vay, trả lại vốn cho các chủ sở hữu,tiền trả lãi cho những người đầu tư vào doanh nghiệp v.v
Với nội dung như vậy nên báo cáo lưu chuyển tiền tệ được kết cấu thành các dòng đểphản ánh các chỉ tiêu liên quan đến việc hình thành và sử dụng các khoản tiền theo từng
Trang 37loại hoạt động Các cột ghi chi tiết theo từng loại hoạt động Các cột ghi chi tiết theo số
kỳ này và kỳ trước để có thể đánh giá, phân tích, so sánh giữa các kỳ với nhau.
1.6. Nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp:
Trong điều kiện kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lí vĩ mô của nhà nước, cácdoanh nghiệp đều được bình đẳng trước pháp luật trong kinh doanh Đối với mỗi doanhnghiệp, ngoài chủ doanh nghiệp quan tâm tới tình hình tài chính của doanh nghiệp còn cócác đối tượng khác quan tâm tới như các nhà đầu tư, các nhà cung cấp, các nhà cho vay Chính vậy mà việc thường xuyên phân tích tình hình tài chính sẽ giúp cho người sử dụngthông tin nắm được thực trạng hoạt động tài chính của doanh nghiệp và mức độ ảnhhưởng của từng nhân tố đến tình hình tài chính Từ đó đưa ra các biện pháp hữu hiệu đểnâng cao chất lượng công tác quản lí kinh doanh
Từ những lí luận trên nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp sẽ đánhgiá đầy đủ nhất và là bức tranh toàn cảnh khái quát về tình hình tài chính doanh nghiệp.Nội dung phân tích bao gồm:
- Phân tích tình hình đảm bảo vốn cho sản xuất kinh doanh
+ Phân tích tình hình đảm bảo vốn cho sản xuất kinh doanh bằng nguồn vốn chủ
sở hữu
+ Phân tích tình hình đảm bảo vốn cho sản xuất kinh doanh bằng nguồn vốn chủ
sở hữu và vốn vay
+ Phân tích mức độ đảm bảo nguồn vốn ngắn hạn cho tài sản ngắn hạn
+ Phân tích mức độ đảm bảo ngồn vốn dài hạn cho tài sản dài hạn
- Phân tích tình hình biến động và phân bổ tài sản
+ Mục đích, ý nghĩa và phương pháp phân tích
+ Phân tích biến động và phân bổ tài sản
- Phân tích tình hình biến động và cơ cấu nguồn vốn
+ Mục đích,ý nghĩa và phương pháp phân tích
+ Phân tích biến động và cơ cấu nguồn vốn
- Phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp
+ Hệ số khả năng thanh toán tức thời (Ktt)
+ Hệ số khả năng thanh toán nhanh (Knhanh)
+ Hệ số khả năng thanh toán bằng tiền
+ Số vòng luân chuyển các khoản phải thu khách hàng
+ Thời gian quay vòng của các khoản phải thu khách hàng
Trang 38+ Hệ số vòng quay hàng tồn kho.
- Phân tích tình hình tài chính qua báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
CHƯƠNG II : PHÂN TÍCH KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA TỔNG
CÔNG TY XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 4 2.1 Giới thiệu về tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4 :
- Tên đơn vị : TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 4
- Tên giao dịch bằng tiếng Anh: CIVIL ENGINEERING CONSTRUCTION
chuyển sang làm nhiệm vụ khôi phục và xây dựng kinh tế và được đổi tên thành Xí
Trang 39nghiệp liên hợp công trình I Cuối năm 1982 đổi tên thành Liên hiệp các xí nghiệp Xây dựng công trình giao thông 4 Năm 1991, Bộ Giao thông vận tải quyết định tách lực lượng xây dựng cơ bản trong Liên hiệp và thành lập Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông Miền Trung Tháng 12/1995, Tổng công ty được Bộ Giao thông vận tải thành lập lại (tại quyết định số 4985/QĐ-BGTVT) và đổi tên thành Tổng công Xây dựng công trình giao thông 4 Ngày 22/8/2007 Bộ Giao thông vận tải ra quyết định số 2601/QĐ-BGTVT về việc thành lập Công ty mẹ - Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 4.
Ngày 25/6/2010 Bộ Giao thông vận tải có Quyết định số 1757/QĐ-BGTVT
chuyển Công ty mẹ - Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 4 thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Bộ Giao thông vận tải làm chủ sở hữu
Một số công trình tiêu biểu của Tổng công ty đã thi công 10 năm qua:
Đơn vị tính: Triệu đồng
Tên công trình
Địa điểm Công trình
Giá trị hợp đồng
XD cầu trên QL1A từ
Sài Gòn - Cần Thơ
(Dự án 24 cầu)
Long An,TiềnGiang,VĩnhLong
8/1999 4/2002
Nâng cấp QL1A, đoạn
Đông Hà - Phú Bài
QuảngTrị, ThừaThiênHuế
92.000 PMU 1 6/2000 5/2002
Trang 40Tên công trình
Địa điểm Công trình
Giá trị hợp đồng Chủ đầu tư
Thời gian thực hiện Khởi
công
Hoàn thành
Xây dựng đường
Hồ Chí Minh
QuảngBìnhQuảng TrịKon Tum
522.848
Ban QLDAđường
Đường tránh Tp Huế
ThừaThiênHuế
52.000 Ban QLDA
Biển Đông 5/2001 5/2003
Xây dựng cầu Trường Hà
ThừaThiênHuế
Xây dựng cầu Đà Nông Phú Yên 31.200 Ban QLDA
GT Phú Yên 10/2001 2/2003Xây dựng cầu Bến Lức Long An 94.450 PMU 18 12/2001 12/2002
Xây dựng cầu Dinh Nghệ An 18.230 Ban QLDA
GT Nghệ An 12/2001 2/2003Xây dựng cầu Hà Nha Quảng 65.733 PMU Biển 12/2001 2/2004