- Nhóm các tác giả viết về đề tài thanh tra, kiểm tra thuế với phạm vi nghiên cứu là toàn ngành thuế gồm có một số tác giả: Nguyễn Chí Dũng 2009, Thanh tra, kiểm tra nhằm nâng cao tín
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 3Lêi cam ®oan
T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i C¸c sè liÖu, kÕt qu¶ nªu trong luËn v¨n lµ trung thùc Nh÷ng kÕt luËn khoa häc cña luËn v¨n ch-a tõng ®-îc c«ng bè trong bÊt cø c«ng tr×nh nµo
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô Trường Đại học Kinh tế - Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô trường Đại học Kinh tế, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Trần Anh Tài đã dành rất
nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng nỗ lực, tìm tòi, nghiên cứu để hoàn thiện luận văn, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp tận tình của quý thầy cô và các bạn
Trang 5Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Trần Anh Tài
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu:
Tìm kiếm các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác Kiểm tra thuế ta ̣i
thành phố Hà Giang trong thời gian tới
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hê ̣ thống hóa và làm rõ lý luận về kiểm tra nói chung và trong ngành thuế nói riêng Khẳng định sự cần thiết khách quan của việc phải tăng cường và hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với NNT tại TP Hà Giang do Chi cục Thuế quản lý
- Nghiên cứu những vấn đề về công tác kiểm tra thuế tại TP Hà Giang giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2013 (5 năm) Dựa trên khung lý thuyết để đánh giá kết quả thực hiện công tác kiểm tra thuế, chỉ ra tồn tại, hạn chế và nguyên nhân Qua đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm tra thuế tại TP Hà Giang trong thời gian tới
Những đóng góp mới của luận văn:
Luận văn đã hệ thống hóa, phân tích và làm rõ một số vấn đề lý luận về kiểm tra thuế, hiệu quả kiểm tra thuế Luận văn nêu rõ các vai trò, nguyên tắc hoạt động của kiểm thuế: nhấn mạnh việc kiểm tra thuế cần tuân theo pháp luật, đúng quy trình và phải đảm bảo hiệu quả
Luận văn đánh giá thực trạng công tác kiểm tra thuế tại Chi cục giai đoạn 2009 – 2013, nêu lên kết quả đạt được cũng như hành vi sai phạm của người nộp thuế, và các biện pháp đã xử lý trong thời gian qua
Trang 6Luận văn đã đề xuất một số giải pháp mới nhằm góp phần nâng cao hiệu quả kiểm tra ở Chi cục thuế thời gian tới Đổi mới công tác xây dựng kế hoạch kiểm tra; nâng cao biện pháp nghiệp vụ kiểm tra, chất lượng đội ngũ công chức; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác kiểm tra và
tổ chức tốt công tác xử lý sau kiểm tra; xây dựng cơ sở cơ sở dữ liệu tập trung
về người nộp thuế Các giải pháp có cơ sở lý luận và thực tiễn và tương đối phù hợp với điều kiện thực tiễn của Chi cục thuế trong thời gian tới
Trang 7MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH VẼ iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 3
VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ 3
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
1.1.1 Nhóm luận văn nghiên cứu về đổi mới công tác kiểm tra, thanh tra thuế 3
1.1.2 Nhóm luận văn nghiên cứu về quản lý rủi ro trong kiểm tra, thanh tra thuế.4 1.1.3 Nhóm báo cáo nghiên cứu về hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế theo chỉ đạo của Tổng cục Thuế 4
1.2 Khái niệm, nguyên tắc, vai trò của công tác kiểm tra thuế 7
1.2.1 Khái niệm về kiểm tra thuế 7
1.2.2 Nguyên tắc kiểm tra thuế 8
1.2.3 Vai trò kiểm tra thuế 10
1.2.4 Mục tiêu kiểm tra thuế 11
1.3 Các hình thức, phương pháp và nội dụng kiểm tra thuế 12
1.3.1 Các hình thức kiểm tra thuế 12
1.3.2 Các phương pháp sử dụng trong nghiệp vụ kiểm tra thuế 16
1.3.3 Nội dung kiểm tra thuế 25
1.3.4 Quy trình kiểm tra thuế 27
1.3.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến kiểm tra thuế 36
1.4 Tiêu chuẩn đánh giá 41
1.5 Một số kinh nghiệp kiểm tra thuế trong nước và thế giới 42
1.5.1 Kinh nghiệm kiểm tra thuế đối với người nộp thuế trên thế giới 42
Trang 81.5.2 Kinh nghiệm kiểm tra thuế đối với NNT tại một số địa phương trong
nước 46
1.6 Bài học rút ra từ kinh nghiệm Quốc tế và một số tỉnh đã được tham khảo 48 CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 50
2.1 Phương pháp nghiên cứu 50
2.1.1 Cơ sở phương pháp luận: 50
Cơ sở phương pháp luận được sử dụng trong đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử 50
2.1.2 Phương pháp thu thập số liệu: 50
2.1.3 Phương pháp tổng hợp số liệu: 51
2.2 Hiệu quả hoạt động kiểm tra thuế 51
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 52
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ TẠI THÀNH PHỐ HÀ GIANG 53
3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội TP Hà Giang 53
3.1.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên 53
3.1.2 Tình hình kinh tế- xã hội 53
3.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý Chi cục Thuế thành phố Hà Giang 57
3.2.1 Chức năng và nhiệm vụ của Chi cục thuế thành phố Hà Giang 57
3.2.2 Chức năng nhiệm vụ của Đội kiểm tra 59
3.3 Thực trạng công tác kiểm tra thuế tại thành phố Hà Giang 62
3.3.1 Quy trình kiểm tra 66
3.3.2 Công tác xây dựng kế hoạch kiểm tra 67
3.3.3 Kết quả đạt được 68
3.3.4 Tổ chức kiểm tra 81
3.4 Một số nhận xét về công tác kiểm tra thuế tại thành phố Hà Giang năm 2009- 2013 82
3.4.1 Những kết quả đạt được 82
3.4.2 Những hạn chế 85
Trang 93.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 89
CHƯƠNG 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ TẠI TP HÀ GIANG 94
4.1 Định hướng công tác kiểm tra tại thành phố Hà Giang 94
4.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm tra thuế 96
4.2.1 Nhóm giải pháp về cải cách thể chế 96
4.2.2 Nhóm giải pháp về đổi mới và tăng cường năng lực công tác kiểm tra người nộp thuế 98
4.2.3 Nhóm giải pháp về công nghệ thông tin và phối hợp trong quản lý thuế 109
4.2.4 Nhóm giải pháp về tuyên truyền hỗ trợ NNT 111
KẾT LUẬN 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 116
Trang 10i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Nguyên nghĩa
13 TTHT NNT Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế
Trang 11ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 1.1 Một số tỷ suất thường dùng trong phân tích báo cáo
2 Bảng 3.1 Tổng hợp số thu Ngân sách Nhà nước của thành phố
3 Bảng 3.2 Kết quả kiểm tra hồ sơ khai thuế tại cơ quan thuế 69
4 Bảng 3.3 Kết quả kiểm tra thuế ta ̣i tru ̣ sở người nô ̣p thuế 71
5 Bảng 3.4 Tỷ lệ NNT được kiểm tra trong tổng số NNT đang
6 Bảng 3.5 Tình hình thực hiện kế hoạch kiểm tra NNT 2009-2013 74
7 Bảng 3.6 Kết quả truy thu thuế từ 2009-2013 75
8 Bảng 3.7 Tình hình nợ thuế của NNT sau kiểm tra 2009-2013 77
9 Bảng 3.8 Số NNT đã kiểm tra trên tổng số công chức kiểm tra 78
10 Bảng 3.9 Tình hình sử dụng nguồn nhân lực cho hoạt động
Trang 12iii
DANH MỤC HÌNH VẼ
1 Hình 3.1 Bộ máy tổ chức Chi cục Thuế TPHG 58
Trang 131
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước, phản ánh bản chất của chế độ xã hội Do vậy để đảm bảo nguồn thu cho ngân sách, đồng thời động viên được sự đóng góp của toàn dân trong việc tạo ra một nguồn lực tài chính đủ mạnh
để phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng đất nước, đòi hỏi phải thực hiện vấn đề quản
lý thuế một cách hiệu quả Trong những vấn đề về quản lý thuế thì công tác kiểm tra
và xử lý vi phạm pháp luật về thuế có tầm quan trọng đặc biệt Vì kiểm tra là hoạt động thường xuyên, tất yếu của quản lý nhà nước nói chung và quản lý về thuế nói riêng Kiểm tra thuế có mục tiêu đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế, phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật thuế của người nộp thuế trên
cơ sở đó có biện pháp uốn nắn, chấn chỉnh và xử lý kịp thời, nghiêm minh các trường hợp vi phạm pháp luật thuế
Thực tiễn cho thấy nếu hoạt động kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật thuế được thực hiện một cách nghiêm túc, có hiệu quả sẽ làm tăng tính tự giác tuân thủ pháp luật của người nộp thuế Ngược lại, nếu hoạt động này lỏng lẻo, không được coi trọng sẽ là điều kiện làm lan nhanh sự không tuân thủ pháp luật, hậu quả không chỉ thiệt hại đến ngân sách Nhà nước mà còn tạo ra sự bất công đối với người chấp hành tốt nghĩa vụ thuế
Tại Chi cục Thuế TP Hà Giang, trong những năm qua công tác kiểm tra thuế đối với Doanh nghiệp, HTX đã được coi trọng đúng với vai trò và vị trí của nó Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện vẫn còn những vấn đề tồn tại, hạn chế, những điểm bất cập cần phải được khắc phục, hoàn thiện Mặt khác, việc nghiên cứu
về đề tài này tại Chi cục Thuế TP Hà Giang vẫn chưa được tiến hành Vì vậy, học
viên đã mạnh dạn chọn đề tài “Hoàn thiện công tác Kiểm tra thuế tại thành phố Hà
Giang” làm luận văn thạc sỹ kinh tế, chuyên ngành quản lý kinh tế
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu: Tìm kiếm các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác Kiểm tra thuế ta ̣i thành phố Hà Giang trong thời gian tới
Trang 142
2.2 Nhiệm vụ:
- Hê ̣ thống hóa và làm rõ lý luận về kiểm tra nói chung và trong ngành thuế nói riêng Khẳng định sự cần thiết khách quan của việc phải tăng cường và hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với NNT tại TP Hà Giang do Chi cục Thuế quản lý
- Nghiên cứu những vấn đề về công tác kiểm tra thuế tại TP Hà Giang giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2013 (5 năm) Dựa trên khung lý thuyết để đánh giá kết quả thực hiện công tác kiểm tra thuế, chỉ ra tồn tại, hạn chế và nguyên nhân Qua đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm tra thuế tại TP Hà Giang trong thời gian tới
3 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi đặt ra đối với vấn đề nghiên cứu là: Công tác kiểm tra thuế đối với NNT
ở TP Hà Giang còn những bất cập, hạn chế gì? Cần có những giải pháp nào để hoàn
thiện công tác kiểm tra thuế đối với người nộp thuế (NNT) tại thành phố Hà Giang?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng: Công tác kiểm tra thuế đối với NNT tại thành phố Hà Giang
4.2 Phạm vi:
Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu vào công tác Kiểm tra thuế đối với NNT là các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế do Chi cục Thuế thành phố Hà Giang quản lý
Về thời gian: Luận văn phân tích, đánh giá thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với NNT ở TP Hà Giang từ năm 2009 đến 2013 và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra thuế đến năm 2020
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, kết cấu của luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về công tác kiểm tra thuế
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng công tác kiểm tra thuế tại thành phố Hà Giang
Chương 4: Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm tra thuế tại thành phố Hà Giang
Trang 153
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Kiểm tra thuế là 1 trong 4 chức năng cơ bản của hoạt động quản lý thuế Chính vì vậy trong thời gian qua ở Việt Nam có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu cả hai nội dung về thanh tra, kiểm tra thuế dưới dạng giáo trình, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ hoặc một số bài báo Dưới đây là tóm tắt một số nội dung nghiên cứu của các tác giả có liên quan đến thanh tra, kiểm tra thuế, hiệu quả thanh
tra, kiểm tra thuế
1.1.1 Nhóm luận văn nghiên cứu về đổi mới công tác kiểm tra, thanh tra thuế
- Nhóm các tác giả viết về đề tài thanh tra, kiểm tra thuế với phạm vi nghiên
cứu là toàn ngành thuế gồm có một số tác giả: Nguyễn Chí Dũng (2009), Thanh tra, kiểm tra nhằm nâng cao tính tuân thủ của người nộp thuế trong điều kiện Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội ; Lê Thị Phương Thảo (2009), Đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế ở Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội ; Ngô Thị Thu Hương (2011), Nâng cao hiệu quả thanh tra, kiểm tra đối với người nộp thuế trong tiến trình hiện đại hóa công tác quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ
kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội;
- Nhóm các tác giả viết về đề tài thanh tra, kiểm tra thuế ở địa phương các
tỉnh gồm: Đặng Đình Long (2012), Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra ở Cục Thuế Nam Định, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội; Phạm Đức Long (2012), Hoàn thiện công tác kiểm tra, thanh tra thuế tại Cục Thuế Thái Bình, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội ; Phan Thị Minh Hiền (2012), Nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế của Cục Thuế đối với các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội,
Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội
Trang 164
1.1.2 Nhóm luận văn nghiên cứu về quản lý rủi ro trong kiểm tra, thanh tra thuế
- Nhóm các tác giả viết về đề tài quản lý rủi ro trong kiểm tra, thanh tra thuế
gồm có một số tác giả: Nguyễn Thị Thu Vân (2009), Áp dụng quản lý rủi ro trong thanh tra, kiểm tra thuế, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội; Nguyễn Thu Thủy (2010), Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra thuế trên cơ sở áp dụng kỹ thuật phân tích rủi ro tại Chi cục Thuế Cầu Giấy, Luận văn
Thạc sĩ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội
1.1.3 Nhóm báo cáo nghiên cứu về hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế theo chỉ đạo của Tổng cục Thuế
- Nhóm tác giả viết về kết quả thanh tra, kiểm tra thuế 2012, nhiệm vụ công
tác 2013 trình bày tại hội nghị Tổng kết ngành Thuế: Vụ thanh tra thuế (2012), Tác động của công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với công tác quản lý thuế, báo cáo
chuyên đề, Tổng cục Thuế Nhà nước
Những vấn đề đã được nghiên cứu:
Phạm vi hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế mà các tác giả đề cập nêu trên tương đối rộng, bao gồm: kiểm tra, thanh tra thuế; kiểm tra nội bộ; giải quyết khiếu nại tố cáo; áp dụng quản lý rủi ro trong thanh tra, kiểm tra thuế Ở cấp độ ngành cũng có báo cáo tổng kết công tác thanh tra, kiểm tra hàng năm Mỗi luận văn, mỗi báo cáo đều nghiên cứu NNT quản lý ở cấp Chi cục Thuế, Cục Thuế và Tổng cục Thuế, các tác giả đã đạt được các kết quả cụ thể:
Luận văn của tác giả Nguyễn Chí Dũng tập trung vào việc phân tích NNT dưới giác độ tuân thủ, đã nêu được vai trò của kiểm tra, thanh tra thuế đối với việc nâng cao tính tuân thủ của NNT Tác giả đã đưa ra các nhóm giải pháp xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả kiểm tra, thanh tra thuế như: Tỷ lệ (%) số cuộc thanh tra, kiểm tra/ số doanh nghiệp trong vòng 1 năm; tỷ lệ (%) độ chính xác trong việc phân tích hồ sơ so với kết quả thanh tra, kiểm tra
Luận văn của tác giả Lê Thị Phương Thảo đã phân tích thực trạng kiểm tra, thanh tra thuế qua ba nội dung: Đăng ký thuế; chấp hành chế độ kế toán sổ sách chứng từ, hóa đơn; kê khai, tính thuế và nộp thuế Trên cơ sở đó, luận văn phân tích
Trang 175
những điểm mạnh, điểm yếu của việc xây dựng kế hoạch kiểm tra, thanh tra thuế từ
2005 – 2008 Phần giải pháp đề xuất để đổi mới cần tập trung vào một số vấn đề như: Xây dựng bộ tiêu chí, đánh giá, lựa chọn xếp loại doanh nghiệp để xây dựng
kế hoạch kiểm tra, thanh tra thuế cho phù hợp; phân cấp quản lý doanh nghiệp cho các cấp để chủ động trong việc thực hiện nhiệm vụ ngân sách
Luận văn của tác giả Ngô Thị Thu Hương có hàm lượng nghiên cứu về hiệu quả kiểm tra, thanh tra thuế là đáng kể so với các công trình trước đó Tác giả đã kế thừa, đưa ra những tiêu chí định lượng và định tính về hiệu quả kiểm tra, thanh tra thuế, nêu lên được các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kiểm tra, thanh tra thuế như điều kiện kinh tế xã hội, trình độ dân trí, mô hình quản lý thuế, cơ chế quản lý thuế
Luận văn của tác giả Đặng Đình Long tóm tắt kết quả thanh tra, kiểm tra thuế của Cục Thuế tỉnh Nam Định giai đoạn 2010 – 2011 qua số tiền thuế truy thu và xử phạt Tác giả chỉ ra những tồn tại, hạn chế về công tác thanh tra, kiểm tra thuế ở cả cơ quan thuế và trụ sở NNT Giải pháp mà tác giả cần tập trung nêu ra để khắc phục hạn
đó là tổ chức lại bộ máy, công tác chuyên môn và hoàn thiện chính sách thuế
Luận văn của tác giả Phạm Đức Long trình bày lý luận tương đối phong phú
và chi tiết các phương pháp kiểm tra, thanh tra thuế Tác giả trình bày cách tính và ý nghĩa của từng tiêu chí về định lượng và định tính qua việc xây dựng bốn tiêu chí định lượng và ba tiêu chí định tính về hiệu quả kiểm tra, thanh tra thuế
Luận văn của tác giả Phan Thị Minh Hiền đã trình bày lý luận hiệu quả kiểm
tra, thanh tra thuế với các nội dung: khái niệm và các tiêu chí xác định hiệu quả
kiểm tra, thanh tra thuế Hiệu quả của kiểm tra, thanh tra thuế được xác định qua các tiêu chí: số thu tăng, chi phí thấp, mức độ thực thi pháp luật, công bằng xã hội
Luận văn của tác giả Nguyễn Thị Thu Vân đã nêu được khái quát lý luận về quản lý rủi ro trong kiểm tra, thanh tra thuế, phân tích thực trạng quản lý rủi ro ở cấp chiến lược (Tổng cục Thuế) và cấp hoạch định triển khai (các Cục Thuế địa phương), cấp chiến thuật (ở các Chi cục Thuế) Luận văn đã đưa ra ba nhóm tiêu chí đánh giá rủi ro gồm: phân loại NNT, đánh giá mức độ rủi ro về thuế và tiêu chí đánh giá mức độ rủi ro tờ khai thuế Phần giải pháp, luận văn nhấn mạnh “để hoạt
Trang 18đã đưa ra được một số tiêu chí đánh giá rủi ro và xếp hạng rủi ro theo chấm điểm doanh nghiệp Tác giả nhấn mạnh việc hoàn thiện kỹ thuật phân tích rủi ro là một giải pháp quan trọng để công tác kiểm tra thuế có hiệu quả
- Báo cáo chuyên đề về công tác thanh tra, kiểm tra thuế năm 2012 và nhiệm vụ
2013 trình bày tại hội nghị Tổng kết công tác thuế năm 2012 của Tổng cục Thuế Nhóm tác giả phân tích làm rõ các nội dung liên quan đến kết quả công tác thanh tra thanh tra, kiểm tra thuế 2012, kế hoạch và giải pháp năm 2013 trong toàn ngành thuế
Qua nội dung tóm tắt các công trình đã nghiên cứu về vấn đề này cho thấy, hầu hết các tác giả chưa đề cao tính chuyên sâu, chuyên nghiệp, hiệu quả và áp dụng hiệu quả các kỹ năng thanh tra, kiểm tra vào công tác quản lý thuế ở cấp Chi cục Thuế thể hiện qua yếu tố định tính như: Tỷ lệ người nộp thuế (NNT) được kiểm tra trên tổng số NNT
do cơ quan thuế quản lý đạt tối thiểu 30%; tỷ lệ trường hợp kiểm tra phát hiện có sai phạm đạt tối thiểu 90%; tỷ lệ số thuế điều chỉnh giảm sau khiếu nại không quá 3% so với
số thuế truy thu theo quyết định Và đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào về công tác kiểm tra thuế đối với tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuộc Chi cục Thuế thành phố Hà Giang quản lý Những vấn đề lý luận hoặc một số phần thực tiễn của Tổng cục Thuế nói chung và Cục Thuế các tỉnh nói riêng đã được đề cập ở các luận văn trên hoặc nhiều công trình khoa học Tác giả coi đây là lý luận căn bản mà luận văn này có thể kế thừa để đi sâu nghiên cứu thực tiễn vào hoạt động kiểm tra thuế đối tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuộc Chi cục Thuế thành phố Hà Giang
Trang 197
1.2 Khái niệm, nguyên tắc, vai trò của công tác kiểm tra thuế
1.2.1 Khái niệm về kiểm tra thuế
Kiển tra thuế được hiểu là việc xem xét các chủ thể chấp hành các chính sách pháp luật về thuế đúng hay không, kiểm tra việc thực hiện các chính sách về thuế do nhà nước ta ban hành
Theo Luật Quản lý thuế hiên hành số 78/2006/QH ngày 29 tháng 11 năm 2006 của Quốc hội khoá XI, Kỳ họp thứ 10 (Điều 77): Kiểm tra thuế là công việc thường xuyên đối với các hồ sơ thuế nhằm đánh giá đầy đủ, chính xác các thông tin, chứng từ trong hồ sơ thuế, sự tuân thủ pháp luật của NNT Việc kiểm tra được thực hiện ngay tại trụ sở cơ quan thuế hoặc tại trụ sở NNT tùy tính chất, đặc điểm công việc
Kiểm tra thuế là một trong bốn chức năng cơ bản của quản lý thuế Bên cạnh việc tôn trọng kết quả tự khai, tự nộp thuế của NNT, cơ quan thuế thực hiện các biện pháp giám sát hiệu quả vừa đảm bảo khuyến khích sự tuân thủ tự nguyện, vừa đảm bảo phát hiện ngăn ngừa các trường hợp vi phạm pháp luật thuế Kiểm tra thuế
là một biện pháp hữu hiệu nhằm phát hiện ngăn ngừa vi phạm, giúp NNT nhận thấy luôn có một hệ thống giám sát hiệu quả tồn tại và kịp thời phát hiện các hành vi vi phạm của họ
Kiểm tra thuế là hoạt động giám sát của cơ quan thuế đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của NNT, nhằm bảo đảm pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống kinh tế- xã hội
Tại cơ quan Tổng cục Thuế có các Vụ, bộ phận kiểm tra được Tổng cục trưởng giao nhiệm vụ
Tại cơ quan Cục Thuế có các Phòng Kiểm tra thuế để kiểm tra thuế các DN, HTX do Cục Thuế quản lý
Tại cơ quan Chi cục Thuế có các Đội Kiểm tra thuế để kiểm tra thuế các DN, HTX do Chi cục quản lý
Trang 208
1.2.2 Nguyên tắc kiểm tra thuế
Nguyên tắc của thanh tra thuế và kiểm tra thuế được quy định trong Luật Quản lý thuế (Luật Quản lý thuế, 2013, tr.152) như sau:
“1 Thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến NNT, đánh giá việc chấp hành pháp luật của NNT, xác minh và thu thập chứng cứ để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế;
2 Không cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là NNT;
3 Tuân thủ quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.”
Từ những quy định nêu trên cho thấy thanh tra, kiểm tra thuế là loại hình thanh tra, kiểm tra chuyên ngành, do đó thanh tra, kiểm tra thuế đồng thời vừa phải tuân thủ theo nguyên tắc của thanh tra, kiểm tra chuyên ngành quy định trong Luật Thanh tra về thanh tra chuyên ngành, vừa phải tuân theo nguyên tắc quy định trong Luật Quản lý thuế
Các nguyên tắc cơ bản của kiểm tra thuế được cụ thể hóa như sau:
Một là: Nguyên tắc tuân thủ pháp luật (Trường cán bộ thanh tra, 2010, tr.4)
Pháp luật thể hiện ý chí của Nhà nước, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân Kiểm tra thuế là việc thực hiện pháp luật nên kiểm tra thuế cũng phải tuân theo pháp luật Đây cũng là nguyên tắc cần thiết để đề cao trách nhiệm của chủ thể kiểm tra; nâng cao hiệu lực của công tác kiểm tra thuế; ngăn ngừa tình trạng làm trái pháp luật, vô hiệu hóa hoạt động kiểm tra
Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi công chức kiểm tra thuế phải thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn mà pháp luật qui định; xem xét đúng, sai của đối tượng kiểm tra phải căn cứ vào qui định của pháp luật mà không tuân theo ý kiến tác động của bất cứ một cơ quan hoặc một cá nhân nào
Hai là: Nguyên tắc chính xác, khách quan (Trường cán bộ thanh tra, 2010,
tr.4) Đảm bảo chính xác, khách quan là vấn đề có tính nguyên tắc cao trong hoạt động kiểm tra Có chính xác trong công tác kiểm tra mới cho phép đánh giá đúng thực trạng của đối tượng kiểm tra, giúp cho việc xử lý đúng người, đúng việc, đúng pháp luật
Trang 219
Nguyên tắc khách quan đòi hỏi, mọi công việc tiến hành trong hoạt động kiểm tra phải xuất phát từ thực tiễn quản lý nhà nước Mọi quyết định, kết luận hay kiến nghị trong hoạt động kiểm tra đều phải xuất phát từ thực tiễn khách quan đó chứ không phải là kết quả của việc suy diễn chủ quan, hời hợt hay mang tính áp đặt Muốn khách quan trong hoạt động kiểm tra, công chức kiểm tra thuế phải có trình độ hiểu biết về chính trị, pháp luật, am hiểu chuyên môn nghiệp vụ để có thể độc lập, khách quan trong suy nghĩ và hành động của mình
Ba là: Nguyên tắc công khai, dân chủ và kịp thời (Trường cán bộ thanh tra,
2010, tr.4) Công khai trong hoạt động kiểm tra tức là phải công khai quyết định, nội dung và kế hoạch kiểm tra để DN, HTX nắm được Việc công khai bao gồm các vấn đề cụ thể như sau: công khai quyết định kiểm tra, công khai tiếp xúc với các đối tượng có liên quan và công khai biên bản kiểm tra Tuy nhiên, tuỳ theo tính chất vụ việc mà có hình thức công khai cho phù hợp, trong phạm vi cho phép, vừa đảm bảo lợi ích của Nhà nước và công dân, vừa đảm bảo hiệu quả kiểm tra cao nhất
Dân chủ trong hoạt động kiểm tra là thể hiện sự tôn trọng khách quan, tôn trọng quần chúng, lấy dân làm gốc Phải lôi cuốn quần chúng nhân dân tham gia hoạt động kiểm tra, đấu tranh, ngăn ngừa, đẩy lùi tiêu cực, phát huy các nhân tố tích cực Đồng thời cũng chính nhân dân là lực lượng thúc đẩy các quyết định, kiến nghị của kiểm tra Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi phải coi trọng việc tiếp nhận, thu thập ý kiến của mọi đối tượng có liên quan, tạo điều kiện cho đối tượng kiểm tra trình bày ý kiến của mình, nhất là khi xem xét giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, cần tránh mọi biểu hiện
tự mãn, áp đặt chủ quan, bất chấp ý kiến của người khác
Kịp thời cũng là nguyên tắc quan trọng trong kiểm tra nhằm nhanh chóng khắc phục những yếu kém, bất cập trong quản lý của Nhà nước Để đảm bảo tính kịp thời trong kiểm tra, cần qui định cụ thể thời gian đối với từng vụ việc kiểm tra, tùy theo qui mô, tính chất phức tạp của vụ việc, tùy theo số lượng và chất lượng của đội ngũ công chức làm công tác kiểm tra
Bốn là: Nguyên tắc bảo vệ bí mật (Luật Quản lý thuế, 2013, tr.152) Cần quán
triệt nguyên tắc này trong kiểm tra thuế vì trong quá trình kiểm tra, người làm công tác
Trang 2210
này tiếp cận với nhiều vấn đề, nhiều tài liệu liên quan đến bí mật, bí quyết kinh doanh của doanh nghiệp và bí mật quốc gia Nếu để lộ cho những đối tượng không được phép biết sẽ làm thiệt hại đến lợi ích của quốc gia và các doanh nghiệp Do vậy, họ chỉ cần báo cáo cho những người có thẩm quyền được biết
Quán triệt nguyên tắc này không hề mâu thuẫn với nguyên tắc công khai, vì việc công khai được thực hiện với những vấn đề được phép công khai, nên yêu cầu phải công khai Những vấn đề bí mật liên quan đến bí quyết kinh doanh của doanh nghiệp thì cần được bí mật
Năm là: Nguyên tắc hiệu quả (Luật Quản lý thuế, 2013, tr.152) Nguyên tắc
này đòi hỏi kiểm tra thuế phải đảm bảo tính hiệu quả, nghĩa là phải có tác dụng đề phòng, ngăn ngừa những thiếu sót, vi phạm Phải đảm bảo giúp các đối tượng kiểm tra thực hiện đúng chính sách thuế Thực hiện nguyên tắc này mới đảm bảo cho kiểm tra thuế đạt được mục đích của nó
Thực hiện đầy đủ các nguyên tắc trên đây chính là các điều kiện để thực hiện đúng mục đích, yêu cầu, chức năng, nhiệm vụ của kiểm tra một cách có hiệu quả cao nhất, phát huy hiệu lực, hiệu quả quản lý thuế Góp phần hoàn thành sứ mệnh của ngành thuế với 4 giá trị cốt lõi: ”Minh Bạch – Chuyên Nghiệp – Liêm Chính - Đổi Mới”
1.2.3 Vai trò kiểm tra thuế
Kiểm tra thuế đã góp phần hoàn thiện cơ chế chính sách pháp luật về thuế:
Hệ thống thuế ở nước ta hiện nay bao gồm nhiều sắc thuế khác nhau Mỗi sắc thuế điều tiết đến một số đối tượng xã hội nhất định và có những phương pháp quản lý thu khác nhau Về cơ bản mỗi sắc thuế trước khi ban hành đều đã được nghiên cứu
kỹ và chuẩn bị chu đáo nhưng do đặc điểm nền kinh tế nước ta đang dần hình thành một nên KTTT đầy đủ nên không tránh khỏi những khiếm khuyết, bất cập Chính vì vậy, kiểm tra thuế là nơi cung cấp các căn cứ, các bằng chứng cụ thể phản ánh một bức tranh chân thực, rõ nét về hoạt động kinh tế đang diễn ra Việc làm như vậy giúp cho cơ quan Tổng cục Thuế tham mưu Chính phủ, Quốc hội sửa đổi, bổ sung các chính sách pháp luật thuế cho phù hợp với thực tiễn
Trang 2311
Kiểm tra thuế là phương tiện phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm nảy sinh trong hoạt động quản lý thuế: với tư cách là công cụ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, kiểm tra thuế chính là việc xem xét tại chỗ việc làm của các
tổ chức, cơ quan và các cá nhân có đúng quy định của chính sách, pháp luật về thuế hay không? Qua đó sử dụng các biện pháp chế tài bằng mệnh lệnh hoặc các quyết định hành chính nhằm ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật của ĐTNT
Thực tế cho thấy không có hệ thống pháp luật nào có thể đảm bảo là không khiếm khuyết Đây chính là nguyên nhân để các đối tượng lợi dụng, cố tình lách luật để trục lợi cá nhân Kiểm tra thuế thực hiện tốt sẽ ngăn ngừa hành vi trốn thuế, gian lận thuế, tạo sân chơi bình đẳng cho các DN trên thị trường
Kiểm tra thuế có vai trò quan trọng trong việc cải cách thủ tục hành chính cả
về quy chế và tổ chức thực hiện Thông qua hoạt động kiểm tra thuế giúp hạn chế mức tối đa các thủ tục, quy chế không cần thiết gây khó khăn cho các DN, HTX trong quá trình cơ quan thuế kiểm tra tại đơn vị
1.2.4 Mục tiêu kiểm tra thuế
Kiểm tra thuế là một trong những biện pháp chống thất thu thuế hữu hiệu nhất Luật thuế có những quy định thông thoáng nên các DN, HTX dễ dàng lợi dụng
sơ hở này để cố tình lách luật, trục lợi cá nhân gây thất thu cho NSNN Chính vì vậy, việc tăng cường công tác kiểm tra thuế đối với các DN, HTX một cách thường xuyên, liên tục sẽ hạn chế được tình trạng vi phạm pháp luật về thuế, các DN, HTX cũng không có điều kiện để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật hoặc họ sợ bị
xử phạt mà không dám vi phạm pháp luật về thuế
Thông qua công tác kiểm tra thuế đánh giá việc chấp hành pháp luật thuế của các DN, HTX và công chức quản lý thuế nhằm phát huy nhân tố tích cực, đấu tranh ngăn ngừa và xử lý những mặt tiêu cực
Căn cứ vào những kiến nghị thông qua việc kiểm tra thuế Cơ quan thuế các cấp có thể đề ra các giải pháp cụ thể để thực hiện Từng bước đưa Luật thuế vào cuộc sống, đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện luật Thuế, đồng thời cải cách được các quy trình quản lý thu thuế ngày càng phù hợp với thực tiễn
Trang 2412
Thông qua công tác kiểm tra thuế, giúp DN, HTX nắm vững thêm chính sách pháp luật thuế, thấy được quyền lợi và nghĩa vụ khi thực hiện luật thuế Đồng thời, nâng cao trách nhiệm của công chức thuế khi thi hành công vụ
Kiểm tra thuế thực hiện tốt sẽ giúp cho việc phòng ngừa, ngăn chặn các hành
vi vi phạm, kịp thời xử phạt nếu phát hiện sai phạm và góp phần hoàn thành nhiệm
vụ giao Ngoài ra, cơ quan thuế gắn trách trách nhiệm của từng công chức thuế trong thực thi nhiệm vụ để xây dựng ngành thuế trong sạch, vững mạnh
Công tác kiểm tra thuế phải được thực hiện đúng chức năng, thẩm quyền, trình tự, thời hạn do pháp luật qui định phải đảm bảo tính chính xác, khách quan, dân chủ, kịp thời
1.3 Các hình thức, phương pháp và nội dụng kiểm tra thuế
1.3.1 Các hình thức kiểm tra thuế
1.3.1.1 Theo kế hoạch: Là hoạt động kiểm tra thuế được thực hiện dưới hình thức kiểm tra theo chương trình, kế hoạch và kiểm tra đột xuất
Kiểm tra theo kế hoạch được tiến hành theo chương trình, kế hoạch đã được phê duyệt hàng năm
Kiểm tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật, theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc
do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giao
1.3.1.2 Theo nội dung và phạm vi kiểm tra thuế: Kiểm tra thuế chia thành hai loại
là kiểm tra toàn diện và kiểm tra hạn chế
Kiểm tra toàn diện: là loại hình kiểm tra tổng hợp, toàn diện tình hình tuân thủ pháp luật thuế của NNT, mà NNT đó có nghĩa vụ thực hiện và ngành thuế có trách nhiệm quản lý
Với chức năng này, kiểm tra toàn diện tức là cơ quan chức năng thực hiện việc kiểm tra trên diện rộng, toàn bộ sắc thuế: Thuế GTGT, thuế TNDN, thuế TNCN… trong việc tính, kê khai và nộp thuế
- Kiểm tra hạn chế: là kiểm tra trong phạm vi hẹp gồm:
+ Kiểm tra một sắc thuế; một hoặc một số kỳ tính thuế;
+ Kiểm tra một hoặc một số bộ hồ sơ hoàn thuế;
Trang 25Kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế được thực hiện thường xuyên đối với các hồ sơ khai thuế nhằm đánh giá đầy đủ, chính xác của các thông tin, chứng từ đã kê khai trong hồ sơ thuế, sự tuân thủ pháp luật về thuế của NNT
Khi kiểm tra hồ sơ khai thuế, công chức quản lý thuế thực hiện việc đối chiếu, so sánh nội dung trong hồ sơ thuế với các thông tin, tài liệu có liên quan, các quy định của pháp luật về thuế, kết quả kiểm tra thực tế hàng hoá trong trường hợp cần thiết đối với hồ sơ xin hoàn thuế, hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu (Luật Quản lý thuế, 2013, tr.153)
Việc xử lý kết quả kiểm tra thuế được quy định như sau:
+ Trường hợp hồ sơ thuế có nội dung cần làm rõ liên quan đến số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm, số tiền thuế được hoàn, cơ quan quản lý thuế gửi thông báo yêu cầu NNT giải trình hoặc bổ sung thông tin, tài liệu Trường hợp người nộp thuế đã giải trình hoặc bổ sung thông tin tài liệu chứng minh được số thuế khai là đúng thì Bản giải trình, tài liệu bổ sung hoặc Biên bản làm việc (nếu làm việc trực tiếp) được chấp nhận và lưu lại cùng với hồ sơ khai thuế Trường hợp người nộp thuế đã giải trình hoặc bổ sung thông tin tài liệu nhưng không chứng minh số thuế khai là đúng thì công chức kiểm tra thuế báo cáo Thủ trưởng cơ quan Thuế ra thông báo lần 2 yêu cầu người nộp thuế tiếp tục giải trình hoặc bổ sung thêm thông tin tài liệu Thời hạn yêu cầu người nộp thuế tiếp tục giải trình hoặc bổ sung thêm thông tin tài liệu được ghi trong thông báo không quá 5 ngày làm việc kể từ ngày Thủ trưởng cơ quan Thuế ký thông báo (Luật Quản lý thuế, 2013, tr.153)
Trang 2614
+ Trường hợp hết thời hạn theo thông báo của cơ quan quản lý thuế mà NNT không giải trình, bổ sung thông tin, tài liệu hoặc không khai bổ sung hồ sơ thuế hoặc giải trình, khai bổ sung hồ sơ thuế không đúng thì thủ trưởng cơ quan quản lý thuế quản lý trực tiếp ấn định số tiền thuế phải nộp hoặc ra quyết định kiểm tra thuế tại trụ sở của NNT (Luật Quản lý thuế, 2013, tr.153)
+ Quyết định kiểm tra thuế phải được gửi cho NNT trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày ký Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định kiểm tra thuế mà NNT chứng minh được số thuế đã khai là đúng hoặc nộp đủ số tiền thuế phải nộp thì cơ quan quản lý thuế bãi bỏ quyết định kiểm tra thuế (Luật Quản lý thuế, 2013, tr.154)
Công chức thuế thực hiện việc kiểm tra nội dung kê khai trong hồ sơ thuế, đối chiếu với cơ sở dữ liệu của NNT và tài liệu có liên quan về NNT” (Luật Quản lý thuế, 2013, tr.154), để phân tích, đánh giá tính tuân thủ hoặc phát hiện các trường hợp khai chưa đầy đủ dẫn tới việc thiếu thuế hoặc trốn thuế, gian lận thuế
Trường hợp phát hiện trong hồ sơ chưa đủ tài liệu theo quy định hoặc khai chưa đầy đủ các chỉ tiêu theo quy định thì cơ quan thuế thông báo cho NNT biết để hoàn chỉnh hồ sơ Đối với hồ sơ trực tiếp tại cơ quan thuế, công chức thuế có trách nhiệm thông báo, hướng dẫn trực tiếp cho người nộp hồ sơ Đối với trường hợp tiếp nhận hồ sơ qua đường bưu chính hoặc thông qua giao dịch điện tử, cơ quan thuế phải ban hành thông báo bằng văn bản trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ (Luật Quản lý thuế, 2013, tr.158)
Kiểm tra thuế tại trụ sở NNT
Việc kiểm tra thuế tại trụ sở NNT chỉ được thực hiện khi có quyết định kiểm tra thuế tại trụ sở NNT NNT có quyền từ chối việc kiểm tra khi không có quyết định kiểm tra thuế
Quyết định kiểm tra thuế tại trụ sở NNT do thủ trưởng cơ quan thuế ban hành
* Các trường hợp kiểm tra thuế tại trụ sở của NNT:
Trường hợp NNT không giải trình, bổ sung thông tin, tài liệu; không khai bổ sung hồ sơ thuế hoặc giải trình, khai bổ sung hồ sơ thuế nhưng không chứng minh
Trang 27* Trình tự, thủ tục kiểm tra thuế được quy định như sau (Luật Quản lý thuế,
2013, tr.154 - 155):
Công bố quyết định kiểm tra thuế khi bắt đầu tiến hành kiểm tra thuế;
Đối chiếu nội dung khai báo với sổ kế toán, chứng từ kế toán, báo cáo tài chính, các tài liệu có liên quan, tình trạng thực tế trong phạm vi, nội dung của quyết định kiểm tra thuế;
Thời hạn kiểm tra thuế không quá năm ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định kiểm tra; trường hợp kiểm tra theo kế hoạch đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thì thời hạn không quá mười lăm ngày;
Trong trường hợp cần thiết, quyết định kiểm tra thuế được gia hạn một lần; thời gian gia hạn không quá thời hạn quy định năm ngày làm việc;
Lập biên bản kiểm tra thuế trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn kiểm tra;
Xử lý kết quả kiểm tra: Chậm nhất là 5 ngày làm việc kể từ ngày ký Biên bản kiểm tra thuế, Trưởng đoàn kiểm tra phải báo cáo Thủ trưởng cơ quan Thuế về kết quả kiểm tra thuế và dự thảo các quyết định xử lý về thuế hoặc kết luận kiểm tra thuế
Trường hợp phải xử lý truy thu về thuế; xử phạt vi phạm hành chính về thuế thì trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày ký biên bản kiểm tra, Thủ trưởng cơ quan Thuế phải ký Quyết định xử lý truy thu về thuế; xử phạt vi phạm hành chính
Trang 2816
về thuế Trường hợp không phải xử lý truy thu về thuế; không phải xử phạt vi phạm hành chính về thuế thì trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày ký biên bản kiểm tra, Thủ trưởng cơ quan Thuế phải ký kết luận kiểm tra thuế
Qua kiểm tra thuế nếu phát hiện người nộp thuế có dấu hiệu trốn thuế, gian lận về thuế thì trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày phát hiện, Trưởng đoàn kiểm tra thuế có trách nhiệm báo cáo Thủ trưởng cơ quan Thuế để bổ sung vào kế hoạch thanh tra của cơ quan Thuế
1.3.2 Các phương pháp sử dụng trong nghiệp vụ kiểm tra thuế
1.3.2.1 Các phương pháp kiểm tra thuế cơ bản
* Phương pháp đối chiếu, so sánh: Nội dung của phương pháp này là thực
hiện việc so sánh, đối chiếu nội dung cần kiểm tra với các nguồn thông tin khác nhau để đánh giá, xem xét nội dung cần kiểm tra Công chức thuế cần so sánh, đối chiếu các nguồn thông tin kê khai của NNT, phân tích so sánh thông tin về NNT qua các kỳ kê khai với nhau và với biến động của ngành, của nền kinh tế để xác
định mức độ ổn định và sự tuân thủ của NNT
* Phương pháp kiểm tra từ tổng hợp đến chi tiết: Đây được coi là phương
pháp tối ưu để kiểm tra số liệu kế toán Theo phương pháp này, việc kiểm tra được thực hiện từ kiểm tra từ số liệu tổng hợp đến số liệu chi tiết, tức là từ báo cáo tổng hợp (báo cáo tài chính và các báo cáo thuế khác) đến sổ sách kế toán (sổ tổng hợp), nhật ký chứng từ, sổ chi tiết và cuối cùng là chứng từ gốc Phương pháp này nhằm rút ra những nhận xét tổng quát để từ đó định hướng những nội dung cần đi sâu kiểm tra chi tiết
* Phương pháp kiểm tra chứng từ gốc: Phương pháp này được thực hiện
xuôi theo đúng trình từ hạch toán bắt đầu từ chứng từ gốc đến bảng kê, bảng phân bổ, sau đó đến sổ nhật ký sổ cái và cuối cùng là các báo cáo tổng hợp
+ Có ba cách kiểm tra chứng từ gốc:
Kiểm tra theo trình tự thời gian là việc kiểm tra chứng từ gốc đã được sắp xếp theo trình tự thời gian phát sinh Cách thức này mất nhiều thời gian và hiệu quả thấp nên ít được sử dụng
Trang 2917
Kiểm tra theo loại nghiệp vụ là việc thực hiện kiểm tra chứng từ gốc đã được phân loại, sắp xếp theo một nghiệp vụ nhất định, như chứng từ thu, chi tiền mặt, chứng từ ngân hàng, chứng từ xuất nhập kho… Phương pháp này được áp dụng khi cần rút ra kết luận đầy đủ về một loại nghiệp vụ theo yêu cầu của nội dung kiểm tra
Kiểm tra điển hình là việc kiểm tra ngẫu nhiên một số chứng từ của một loại nghiệp vụ kinh tế phát sinh từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc Phương pháp này tiết kiệm nhiều thời gian nhưng độ tin cậy của kết luận không cao
* Phương pháp kiểm tra bổ trợ: Gồm 2 loại phương pháp đó là:
Phương pháp phỏng vấn: phương pháp này được sử dụng khi cần thu thập thông tin từ những người có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp đến nội dung kiểm tra Phương pháp này giúp công chức kiểm tra có được cái nhìn tổng quát ban đầu về hoạt động của NNT Trong một số trường hợp, qua phỏng vấn công chức thuế có thể phát hiện được những nghi ngờ, mâu thuẫn để có định hướng kiểm tra
Phương pháp quan sát, tham quan cơ sở doanh nghiệp giúp công chức kiểm tra nắm bắt tình hình SXKD thực tế của doanh nghiệp, từ đó so sánh với số liệu báo cáo trong hồ sơ khai thuế Ngoài ra còn một số phương pháp như: phương pháp thẩm tra, xác nhận từng phần
1.3.2.2 Phương pháp kiểm tra thuế trên cơ sở quản lý rủi ro
Kiểm tra là một trong những công cụ quan trọng nhất để quản lý rủi ro về thuế Hơn thế nữa, yêu cầu của cải cách và hiện đại hoá công tác kiểm tra thuế là phải đổi mới cách thức, phương pháp và quy trình quản lý rủi ro về thuế dưới sự hỗ trợ của công nghệ máy tính Nói cách khác, kỹ thuật quản lý rủi ro trong công tác kiểm tra thuế là những cách thức, phương pháp, công nghệ và quy trình quản lý rủi
ro được áp dụng trong công tác kiểm tra thuế
+ Về cách thức: Để quản lý rủi ro, người ta thường phân loại rủi ro theo các
cách thức khác nhau như:
Phân theo hình thức rủi ro, có loại rủi ro từ chính sách thuế, từ thủ tục hành chính thuế, từ NNT, từ công chức thuế hoặc loại rủi ro từ đăng ký thuế, kê khai thuế, hoàn thuế, miễn giảm thuế Phân theo mức độ rủi ro, có loại rủi ro cao, rủi ro vừa, rủi ro thấp, loại không đáng kể ; Phân theo mức độ tuân thủ gồm đối tượng tuân thủ
Trang 3018
thấp thì rủi ro cao và ngược lại đối tượng tuân thủ cao thì rủi ro thấp; Phân loại rủi ro theo NNT: theo quy mô có rủi ro từ doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ, các cá nhân không kinh doanh; theo loại hình doanh nghiệp có rủi ro từ doanh nghiệp nhà nước, từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, từ doanh nghiệp NQD; theo ngành kinh tế
có rủi ro từ ngành điện, ngành than, ngành xây dựng, ngành cơ khí Tuy nhiên, theo cách thức tiếp cận hiện đại thì rủi ro trong công tác kiểm tra thuế được phân loại theo
4 tiêu thức chuẩn tắc sau đây:
- Rủi ro tiềm tàng (còn gọi là rủi ro cố hữu- Inherent risks IR): là rủi ro tiềm ẩn
có khả năng xảy ra trong một môi trường nhất định Chẳng hạn ngành xây dựng luôn tiềm ẩn rủi ro tạo ra các báo cáo tài chính gian lận, và nếu hoạt động xây dựng trong môi trường thanh toán bằng tiền mặt thì khả năng xảy ra rủi ro cao hơn so với thanh toán qua ngân hàng Để nhận dạng rủi ro tiềm tàng người ta thường đưa ra những định mức kinh tế, kỹ thuật của một ngành; trường hợp doanh nghiệp hoạt động trong ngành đó không đảm bảo định mức thì nguy cơ rủi ro có khả năng xảy ra
- Rủi ro kiểm soát- Control risks (CR): là rủi ro về khả năng kiểm soát tại chỗ không chặt chẽ nên không ngăn ngừa được những sai phạm có thể xảy ra Chẳng hạn sự phân định nhiệm vụ không rõ ràng giữa các nhân viên kế toán của một Công ty sẽ không ngăn ngừa được việc chuẩn bị các báo cáo tài chính gian lận
- Rủi ro phát hiện- Detection risks (DR): là rủi ro mà kiểm tra thuế sẽ không phát hiện được qua các báo cáo tài chính gian lận
- Rủi ro kiểm tra (AR): là rủi ro mà các báo cáo tài chính gian lận được chấp nhận như các báo cáo tài chính trung thực
Mỗi loại rủi ro được biểu hiện như một tỷ lệ phần trăm về khả năng xảy ra Các loại rủi ro nêu trên, có mối quan hệ về toán học như sau:
AR = IR X CR X DR
Như vậy, rủi ro kiểm tra là một chuổi rủi ro với các nhân tử từ rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện mà trong quá trình kiểm tra NNT không được phát hiện
+ Về phương pháp: Thường được tiến hành theo trình tự các bước sau:
Trang 3119
Trước hết sử dụng các phương pháp phân tích để phát hiện và nhận dạng rủi
ro từ báo cáo tài chính của doanh nghiệp:
Phân tích theo chiều ngang: là phân tích diễn biến của từng chỉ tiêu (theo số
tuyệt đối hoặc theo tỷ lệ) trong bản cân đối kế toán, báo cáo thu nhập qua một số năm (thường là từ 3 đến 5 năm) Sự phân tích này cho thấy xu hướng biến đổi của từng chỉ tiêu qua các năm Từ đó phát hiện những bất hợp lý hoặc những bất thường trong từng chỉ tiêu liên quan đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp có nguy cơ xảy ra rủi ro về thuế
Phân tích theo chiều dọc: là sự phân tích diễn biến của mỗi chỉ tiêu trong
bản cân đối kế toán tính bằng tỷ lệ % trên tổng tài sản; và diễn biến của mỗi chỉ tiêu trong báo cáo thu nhập tính bằng tỷ lệ % trên doanh thu Phân tích theo chiều dọc có thể sử dụng cho một năm (biểu hiện quan hệ cơ cấu giữa các chỉ tiêu trong năm), có thể sử dụng cho một giai đoạn nhiều năm (biểu hiện xu hướng chuyển dịch cơ cấu giữa các chỉ tiêu qua các năm) Qua phân tích xu hướng biến đổi cơ cấu trong nhiều năm có thể xác định được các thay đổi căn bản trong xu thế, các bất hợp lý trong cơ cấu, trong từng chỉ tiêu liên quan đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp có nguy cơ xảy ra rủi ro về thuế
Phân tích tỷ suất là phân tích mối quan hệ giữa hai hoặc nhiều mục trong báo cáo tài chính Tỷ suất tài chính thường được phản ánh bằng tỷ lệ phần trăm hoặc số lần
Tỷ suất thường rất có ích khi so sánh NNT này qua các thời kỳ khác nhau hoặc so sánh cùng thời kỳ với các NNT khác hoặc số liệu chuẩn của ngành Các tỷ suất thường được áp dụng: Hệ số thanh khoản (đo lường khả năng đáp ứng các nghĩa vụ ngắn hạn của công ty); Các tỷ suất sinh lời (đo lường khả năng quản lý trong kiểm soát chi phí và thu lợi nhuận đối với các nguồn lực dành cho kinh doanh); Các tỷ suất đòn bẩy (đo lường mức độ bảo hộ của việc cung cấp nguồn tài chính dài hạn và cũng là công cụ trợ giúp cho việc đánh giá khả năng của công ty trong việc huy động các khoản vay nợ bổ sung
và năng lực trả nợ kịp thời của công ty); Các tỷ suất hiệu quả (cung cấp thông tin về
khả năng quản lý trong kiểm soát chi phí và thu lợi nhuận từ các nguồn lực dành cho
Trang 32I Khả năng thanh toán
1 Khả năng thanh toán tổng quát Tổng tài sản/(Nợ ngắn hạn + Nợ dài hạn)
2 Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn Tài sản ngắn hạn/ Nợ ngắn hạn
3 Khả năng thanh toán nhanh (Tiền mặt+Các khoản ĐTNH+TK phải
thu)/ Nợ ngắn hạn
II Các tỷ suất hiệu quả
1 Quay vòng tiền mặt Doanh thu thuần/
Tiền và các khoản tương đương tiền
2 Vòng quay vốn ngắn hạn Doanh thu thuần/
6 Vòng quay các khoản phải thu Doanh thu thuần/
Bình quân tổng các khoản phải thu
III Các tỷ suất đòn bẩy tài chính
1 Tổng nợ trên tài sản Tổng nợ phải trả/
Tổng tài sản
(Nợ dài hạn + Nguồn vốn chủ sở hữu)
3 Nợ trên vốn chủ sở hữu Nợ phải trả/
Tổng nguồn vốn
Trang 3321
4 Tỷ suất bao quát lãi vay Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT)/
Chi phí lãi vay
5 Nợ dài hạn trên vốn lưu động thuần Nợ dài hạn/
(Tài sản lưu động - Nợ ngắn hạn)
IV Các tỷ suất sinh lời
1 Lợi nhuận thuần/Doanh thu thuần (Lợi nhuận thuần từ HĐKD+chi phí lãi vay)/
Doanh thu thuần
2 Lợi nhuận trước thuế/Doanh thu
thuần
(Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế/
Doanh thu thuần
3 Lợi nhuận sau thuế/Doanh thu
thuần
Lợi nhuận sau thuế/
Doanh thu thuần
4 Lợi nhuận gộp/Doanh thu thuần Lợi nhuận gộp/
Doanh thu thuần
5 Lợi nhuận thuần/Tổng tài sản Lợi nhuận thuần/
8 Lợi nhuận sau thuế/Vốn kinh doanh
Lợi nhuận sau thuế/
(Tổng nguồn vốn ĐK + Tổng nguôn vốn CK)/2
9 Lợi nhuận sau thuế/vốn chủ sở hữu Lợi nhuận sau thuế/
Trang 3422
Công chức kiểm tra thực hiện phân tích: Phân tích theo chiều dọc và phân tích theo chiều ngang kết hợp phân tích các tỷ suất để thấy được sự biến động của các khoản mục trong báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, giữa kỳ phân tích với kỳ gốc để nắm được tình hình kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Ngoài ra còn sử dụng phương pháp phân tích đồ thị (đồ thị hình sin, đồ thị hình khối, đồ thị hình tròn) để phân tích sự biến đổi của các chỉ tiêu theo số tuyệt đối và số tương đối và sự biến đổi của cơ cấu theo tỷ lệ Từ đó nhận dạng các rủi ro
về thuế có khả năng xảy ra
Xếp hạng rủi ro: Sau khi phân tích và nhận dạng rủi ro, tiến hành xếp hạng
rủi ro tổng thể và rủi ro từng hồ sơ doanh nghiệp:
Rủi ro tổng thể được xếp hạng theo nhóm gồm: Nhóm có rủi ro cao là các doanh nghiệp có một số chỉ tiêu phân tích biến đổi bất thường, hoặc kinh doanh lỗ
và lỗ do chuyển nhượng tài sản, hoặc tỷ trọng giao dịch giữa các bên liên kết cao, giá trị giao dịch lớn, đột biến, nhất là giao dịch quốc tế, hoặc có nhiều lần thay đổi
về cơ cấu tổ chức Nhóm có rủi ro trung bình là các doanh nghiệp có một số chỉ tiêu phân tích bất hợp lý nhưng không có sự biến đổi lớn, hoặc số lỗ chuyển sang kỳ sau không lớn, hoặc các giao dịch giữa các bên liên kết có giá trị không cao, hoặc doanh nghiệp được mua lại, sát nhập Nhóm có rủi ro thấp là những doanh nghiệp không có sự biến động bất thường từ các chỉ tiêu phân tích, hoặc các giao dịch giữa các bên liên kết có giá trị thấp, hoặc số lỗ chuyển sang kỳ sau ít
Rủi ro theo từng hồ sơ: Xếp hạng từng hồ sơ doanh nghiệp với những vi phạm rủi ro cụ thể, chi tiết theo mức độ rủi ro, loại rủi ro và tính chất rủi ro làm cơ
sở cho việc kiểm tra ban đầu các rủi ro phát hiện
Kiểm tra rủi ro: Các doanh nghiệp được xếp vào các nhóm rủi ro đều phải tiến hành kiểm tra chi tiết các rủi ro đã phát hiện tại cơ quan thuế (kiểm tra tại bàn) trên cơ sở thu thập, phân tích thông tin để đánh giá tính xác thực và mức độ của các rủi ro Đặc biệt các doanh nghiệp đã được xếp loại vào đối tượng có độ rủi ro cao phải được tiến hành kiểm tra ở mức độ chi tiết, cụ thể hơn các rủi ro đã phát hiện qua bước phân tích Kiểm tra phải tiến hành thu thập các thông tin, tài liệu liên quan
Trang 3523
trực tiếp đến rủi ro phát hiện như: các hợp đồng, các chứng từ giao dịch, các thông tin về bảo hiểm xã hội, về giao dịch ngân hàng và các tổ chức tín dụng, về xuất nhập khẩu Từ đó kiểm tra xác định mức độ của từng rủi ro và định lượng từng rủi
ro để tiến hành các phương án xử lý trên cơ sở nguồn lực sẵn có
Lập kế hoạch kiểm tra rủi ro tại doanh nghiệp: Các doanh nghiệp đã xác định được các rủi ro và định lượng được mức độ rủi ro cao hoặc trung bình đều phải đưa vào
kế hoạch kiểm tra Các nhóm phân tích tiếp tục tiến hành phân tích đánh giá tính xác thực và mức độ của các rủi ro đối với các doanh nghiệp đã lập kế hoạch trên cơ sở các thông tin tài liệu thu thập được từ bên ngoài hoặc trực tiếp làm việc với doanh nghiệp tại cơ quan thuế (kiểm tra tại bàn) Đối với các doanh nghiệp không giải trình được các nghi vấn trên thì tiến hành kiểm tra trực tiếp tại doanh nghiệp
+ Về công nghệ: Tất cả các công việc từ phân tích nhận dạng rủi ro, xếp
hạng rủi ro, kiểm tra rủi ro đến việc kiểm tra rủi ro tại doanh nghiệp đều phải có sự
hỗ trợ của công nghệ máy tính Thực tế cho thấy, mức độ thành công của công tác kiểm tra theo kỹ thuật rủi ro phụ thuộc chủ yếu vào mức độ ứng dụng công nghệ máy tính hỗ trợ cho công tác kiểm tra Các ứng dụng tin học hỗ trợ đều được xây dựng theo kiến trúc tin học dạng mở, tức là hệ thống tin học cung cấp cơ sở dữ liệu tích hợp và các ứng dụng cơ bản làm công cụ tính toán và phân tích dữ liệu Các ứng dụng hỗ trợ đều được xây dựng trên yêu cầu nghiệp vụ và kỹ thuật kiểm tra Hiện nay ngành thuế đang sử dụng ứng dụng TTR trong việc hỗ trợ công chức phân tích hồ sơ và kiểm tra hồ sơ khai thuế của doanh nghiệp
+ Về quy trình: Quy định rõ ràng hơn từng bước công việc gắn với trách
nhiệm của từng bộ phận, từng người tham gia quy trình đã tạo nên sự chuyên môn hóa trong công việc và phù hợp với trình độ của từng công chức, hạn chế được tình trạng thông đồng giữa NNT và công chức thuế
Áp dụng kỹ thuật thu thập thông tin, dữ liệu, phân tích, đánh giá rủi ro để lựa chọn chính xác hơn đối tượng cần kiểm tra thuế
Chú trọng khâu lập kế hoạch và chuẩn bị trước khi tiến hành kiểm tra nhằm đảo bảo việc kiểm tra tại cơ sở kinh doanh mất ít thời gian, nguồn lực và hiệu quả nhất
Trang 36so với cơ chế chuyên quản khép kín trước đây
Chuyển từ kiểm tra toàn diện sang kiểm tra theo chuyên đề, nội dung vi phạm Từng nội dung công việc trong công tác kiểm tra theo yếu tố rủi ro đều được quy trình hoá Qui định cụ thể từng bước công việc gắn với trách nhiệm của từng bộ phận, từng công chức trong quy trình Quy trình kiểm tra thuế gắn với yếu tố rủi ro gồm: quy trình nhập, chuyển đổi dữ liệu đầu vào; quy trình phân tích, nhận dạng, xếp hạng rủi ro; quy trình lập kế hoạch và thực hiện kiểm tra; quy trình báo cáo và thẩm định kết quả kiểm tra Nói chung tất cả các quy trình kiểm tra theo kỹ thuật mới từng bước được công nghệ hoá theo yêu cầu hiện đại hoá công tác quản lý thuế
Trong công tác kiểm tra thuế, kỹ thuật quản lý rủi ro là phương pháp tiếp cận mới, đòi hỏi kỹ năng phân tích hoạt động kinh tế, tài chính của doanh nghiệp rất cao với sự hỗ trợ chủ yếu của công nghệ và kỹ thuật máy tính Do vậy, sự thành công của công tác cải cách và hiện đại hoá công tác kiểm tra thuế không chỉ phụ thuộc vào việc thay đổi nhận thức, việc trang bị công nghệ máy tính hiện đại mà quan trọng hơn là phải trang bị kỹ năng phân tích rủi ro, kiến thức chuyên sâu về phân tích kinh tế ngành, phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp cho lực lượng công chức làm công tác kiểm tra trong toàn ngành để từng bước chuyển đổi toàn bộ hoạt động kiểm tra của ngành sang cơ chế kiểm tra theo yếu tố rủi ro
Phân tích thông tin là giai đoạn cuối cùng của quá trình nghiên cứu khoa học,
có nhiệm vụ làm rõ các đặc trưng, xu hướng phát triển của hiện tượng và quá trình nghiên cứu dựa trên các thông tin thống kê đã được thu thập, xử lý và tổng hợp
Trang 3725
nhằm giải đáp các câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra Quá trình phân tích phải xác định
cụ thể các mức độ của hiện tượng, xu hướng biến động cũng như tính chất và mức
độ chặt chẽ của các mối liên hệ giữa các hiện tượng, để từ đó rút ra được những kết luận khoa học về bản chất cũng như tính quy luật của hiện tượng nghiên cứu; dự báo quá trình tiếp theo của hiện tượng trong thời gian ngắn Trong đề tài này, các phương pháp phân tích thống kê được sử dụng bao gồm: phương pháp phân tích dãy
số theo thời gian, phương pháp so sánh, phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
1.3.3 Nội dung kiểm tra thuế
1.3.3.1 Kiểm tra NNT
Kiểm tra NNT là nội dung cơ bản và quan trọng nhất của công tác kiểm tra thuế Theo quy định của pháp luật, NNT phải thực hiện đầy đủ việc đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế, chế độ hạch toán kế toán, hoá đơn, chứng từ…Tuy nhiên, trong thực tế còn nhiều NNT vi phạm các quy định trên, vì vậy phải tăng cường công tác kiểm tra NNT
Nội dung kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tập trung vào những vấn đề chủ yếu sau:
Kiểm tra việc chấp hành những quy định về đăng ký kinh doanh và đăng ký
thuế: Đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế là quyền và nghĩa vụ của người kinh
doanh Đối với mỗi cơ sở kinh doanh khi kiểm tra cần đi sâu xem xét tính pháp lý của đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế; kiểm tra tính trung thực của các tài liệu, số liệu đã kê khai trong đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế về vốn, địa điểm, ngành nghề kinh doanh, ưu đãi thuế, điều kiện hưởng ưu đãi thuế, thời gian thực tế kinh doanh… nhằm phát hiện và xử lý những gian lận trong kê khai đăng ký kinh doanh
và đăng ký thuế Cần coi trọng việc kiểm tra nội dung ghi trong đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế vì đây là những nội dung cơ bản về đặc thù hoạt động SXKD của doanh nghiệp
Kiểm tra việc chấp hành chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ: Việc thực hiện chế
độ kế toán, hoá đơn, chứng từ có liên quan trực tiếp đến việc tính thuế, nộp thuế và công tác quản lý của Nhà nước Nội dung kiểm tra này bao gồm: kiểm tra việc tổ chức thực hiện Luật kế toán của doanh nghiệp, việc lập và sử dụng hóa đơn, chứng từ có liên quan đến việc tính thuế Nội dung của kiểm tra chứng từ, hoá đơn là xác định tính hợp
Trang 38Kiểm tra việc thực hiện kê khai, tính thuế và nộp thuế: Kê khai, tính thuế, nộp thuế là nghĩa vụ của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân kinh doanh Nội dung công tác kiểm tra việc thực hiện kê khai tính thuế, nộp thuế của doanh nghiệp bao gồm:
- Kiểm tra để xác định đúng đối tượng chịu thuế, ĐTNT là yêu cầu bắt buộc phải làm trước khi xác định mức thuế phải nộp Trong thực tế, nhiều hoạt động SXKD của doanh nghiệp khá phức tạp, cần phải kiểm tra để xác định đối tượng chịu thuế, ĐTNT đúng với quy định của từng sắc thuế, tránh bỏ sót nguồn thu
- Kiểm tra căn cứ tính thuế trên cơ sở kiểm tra sổ sách kế toán, hệ thống báo cáo, chứng từ, hoá đơn và các tài liệu có liên quan nhằm xác định chính xác số thuế phải nộp, số thuế đã nộp, số thuế được miễn, giảm, số thuế được hoàn trong
kỳ của doanh nghiệp Đối chiếu số liệu trên các tờ khai, bảng kê, quyết toán thuế, báo cáo tài chính đơn vị đã kê khai với số liệu kiểm tra trên sổ sách kế toán và tình hình thực tế của doanh nghiệp để phát hiện số thuế kê khai thiếu, số thuế ẩn lậu Đây là khâu rất quan trọng trong quá trình kiểm tra thuế, đòi hỏi công chức thuế phải nắm vững nội dung những quy định của các Luật thuế, các văn bản hướng dẫn thực hiện và thông thạo nghiệp vụ kế toán
- Kiểm tra việc chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của NNT để xác định xem cơ sở kinh doanh có thực hiện nghiêm túc quy định về thời hạn nộp thuế, nộp báo cáo của các luật thuế không, có chây ỳ nộp chậm tiền thuế để chiếm dụng NSNN không, có
nợ đọng tiền thuế không Đặc biệt chú trọng đến những doanh nghiệp có biểu hiện
vi phạm nhiều lần, với số lượng lớn nhằm giảm thiểu tối đa khả năng thất thoát tiền thuế của Nhà nước Để đạt được yêu cầu trên, cần đối chiếu thời hạn phải nộp thuế
Trang 391.3.3.2 Kiểm tra nội bộ ngành thuế
Kiểm tra nội bộ là việc kiểm tra công chức trong việc thực hiện các quy trình quản lý thuế Ở cấp Chi cục, bộ phận kiểm tra nội bộ thuộc Đội kiểm tra Hàng năm, căn cứ chức năng nhiệm vụ được giao bộ phận kiểm tra nội bộ sẽ tiến hành kiểm tra các Đội thuộc Chi cục Thuế để xem xét việc thực hiện chức năng của từng
bộ phận, từng công chức thuế có làm việc vô tư, công bằng, nghiêm minh đối với NNT hay không? Có tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình quản lý không? Nhằm đạt được mục đích: Thực hiện nghiêm các Luật thuế hiện hành, các Quy trình quản lý, thu đúng, thu đủ và nộp kịp thời tiền thuế vào NSNN, đảm bảo hoàn thành kế hoạch giao, góp phần củng cố đội ngũ công chức ngành thuế, chống tiêu cực, các hành vi sách nhiễu, cửa quyền trong nội bộ ngành thuế, đưa công tác chỉ đạo và quản lý thu thuế vào nề nếp và xây dựng ngành thuế ngày càng vững mạnh
1.3.4 Quy trình kiểm tra thuế
Quy trình kiểm tra thuế là trình tự và các bước công việc cụ thể bắt buộc phải tuân thủ khi thực hiện một quyết định kiểm tra thuế, một chương trình hay một kế hoạch kiểm tra cụ thể Ngoài công tác lập kế hoạch kiểm tra hàng năm và công tác báo cáo thực hiện kết quả kiểm tra, thì kiểm tra bao gồm một loạt các bước lô gíc với nhau từ lúc công chức kiểm tra nhận hồ sơ cho đến khi hoàn thành
Thực hiện công cuộc cải cách và hiện đại hóa ngành thuế nói chung và công tác kiểm tra thuế nói riêng, Luật quản lý thuế có hiệu lực từ ngày 1/7/2007 đã chi phối quy trình thực hiện kiểm tra thuế Quy trình kiểm tra thuế được thực hiện theo Quyết định số 528/QĐ-TCT ngày 29 tháng 5 năm 2008 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế, nội dung quy trình được quy định cụ thể như sau:
1.3.4.1 Kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan Thuế
* Thu thập, khai thác thông tin để kiểm tra hồ sơ khai thuế
Trang 4028
Bộ phận kiểm tra thuế và công chức kiểm tra thuế sử dụng dữ liệu kê khai thuế của NNT trong hệ thống cơ sở dữ liệu của ngành và những dữ liệu thông tin của NNT chưa được nhập vào hệ thống dữ liệu của ngành (nếu có) để kiểm tra tất
cả các hồ sơ khai thuế; phân tích, đánh giá lựa chọn các cơ sở kinh doanh có rủi ro
về việc kê khai thuế
Ngoài các dữ liệu, thông tin trong hồ sơ khai thuế, bộ phận kiểm tra và công chức kiểm tra thuế còn phải tổ chức thu thập thêm thông tin nếu có liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế của NNT từ các nguồn thông tin của các cơ quan như Ngân hàng, Kho bạc, Kiểm toán, Quản lý thị trường, tài nguyên môi trường, kế hoạch và đầu tư, thanh tra, công an, toà án
* Lựa chọn cơ sở kinh doanh để lập danh sách kiểm tra hồ sơ khai thuế
Hàng năm Đội kiểm tra thuộc Chi cục Thuế phải kiểm tra sơ bộ tất cả các loại hồ sơ khai thuế Phân tích, đánh giá, lựa chọn các cơ sở kinh doanh có rủi ro về thuế để lập danh sách phải kiểm tra theo hướng dẫn sau:
Lựa chọn các cơ sở kinh doanh có ý thức tuân thủ pháp luật về thuế thấp như:
- Nộp hồ sơ khai thuế thường không đầy đủ các tài liệu kèm theo hoặc nộp không đúng hạn các loại hồ sơ khai thuế
- Khai thuế hay sai sót không đúng với số thuế thực tế phải nộp, phải điều chỉnh nhiều lần; cơ quan Thuế đã nhiều lần nhắc nhở nhưng chậm khắc phục
- Vi phạm về hồ sơ khai thuế tháng, quý mà cơ quan Thuế phải ra Quyết định kiểm tra tại trụ sở cơ sở kinh doanh ít nhất 3 lần trong 1 năm
- Không nộp đầy đủ số thuế đã kê khai và nộp chậm kéo dài, thường xuyên
- Có đột biến về doanh thu hoặc số thuế phải nộp tăng (+), giảm (-) trên 20%