1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu chuỗi cung ứng sản phẩm gas tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên kinh doanh khí hóa lỏng hà nội

108 434 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty 33 4.1 Chuỗi cung ứng sản phẩm gas tại công ty TNHH MTV kinh doanh khí hóa lỏng 4.1.1 Các tác nhân tham gia chuỗi cung ứng sản phẩm gas

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, các số liệu thu được trong quá trình điều tra là hoàn toàn đúng với thực tế và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực

và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này là đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Nguyễn Tiến Dũng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được luận văn này trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các thầy cô giáo Khoa kế toán và Quản trị kinh doanh, Viện đào tạo sau đại học, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam, ban lãnh đạo Công ty TNHH MTV kinh doanh khí hóa lỏng Hà Nội đã luôn tạo điều kiện để tôi hoàn thành tốt khóa học này Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Nguyễn Quốc Chỉnh người Thầy đã định hướng và tận tâm hướng dẫn để tôi hoàn thành tốt đề tài này

Tôi xin cảm ơn quản đốc Trạm triết nạp LPG Đình Xuyên, Yên Viên, Gia Lâm, Hà Nội, phòng bán hàng, bộ phận kho, lái xe bồn, bộ phận bảo vệ, bộ phận bốc xếp và bộ phận vận hành triết nạp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để giúp

đỡ tôi trong quá trình làm đề tài

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn trân thành nhất đến gia đình tôi, bạn bè và đồng nghiệp, những người đã luôn động viên, giúp đỡ và cổ vũ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập

Hà nội, ngày tháng năm 2015

Tác giả

Nguyễn Tiến Dũng

Trang 5

2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG 4

2.1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng 16

2.2.1 Tình hình phát triển chuỗi cung ứng trên thế giới 20

3 ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26 3.1 Đặc điểm cơ bản về Công ty TNHH MTV kinh doanh khí hóa lỏng Hà Nội 26 3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty 26

Trang 6

3.1.3 Tình hình lao động của Công ty 30 3.1.4 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty 33

4.1 Chuỗi cung ứng sản phẩm gas tại công ty TNHH MTV kinh doanh khí hóa lỏng

4.1.1 Các tác nhân tham gia chuỗi cung ứng sản phẩm gas tại công ty 42

4.1.3 Đánh giá chuỗi cung ứng sản phẩm gas tại công ty TNHH MTV kinh doanh

4.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của chuỗi 57

4.3 Một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy chuỗi cung ứng sản phẩm gas tại công

4.3.1 Cơ sở khoa học để xuất giải pháp thúc đẩy chuỗi cung ứng sản phẩm gas tại 62 4.3.2 Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh chuỗi cung ứng sản phẩm gas tại công ty TNHH MTV kinh doanh khí hóa lỏng Hà Nội 67

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 Tình hình biến động lao động của Công ty qua 3 năm (2012 – 2014) 32 Bảng 2 Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty qua 3 năm (2012 – 2014) 35 Bảng 3 Số phiếu điều tra các tác nhân tham gia vào chuỗi cung ứng sản

phẩm gas tại công ty TNHH MTV kinh doanh khí hóa lỏng Hà Nội 38

Bảng 5 Kết quả bán hàng theo khu vực địa lý 2011 – 2013 (đơn vị: tấn) 43

Bảng 7 Bảng tổng hợp chi phí của trung tâm bán lẻ 46

Bảng 9 Bảng hạch toán hiệu quả kinh tế của trung tâm bán lẻ (1 quý) 47

Bảng 11 Chính sách giảm giá theo sản lượng tiêu thụ LPG của đại lý 50 Bảng 12 Chi phí, giá bán và giá trị tăng thêm của 1kg gas 51 Bảng 13 Phân tích SWOT chuỗi cung ứng sản phẩm gas tại công ty TNHH

Bảng 14 Phân tích các cặp của ma trận SWOT (S-O; W-T; S-T; W-O) 66

Trang 8

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1 Chuỗi cung ứng (Lee & Billington, 1995) 5

Sơ đồ 2 Chuỗi cung ứng giản đơn (Micheal Hugos, 2003) 8

Sơ đồ 3 Chuỗi cung ứng mở rộng (Micheal Hugos, 2003) 8

Sơ đồ 4 Thành viên chuỗi cung ứng (Micheal Hugos, 2003) 9

Sơ đồ 5 5 Thành phần chính của chuỗi cung ứng 11

Sơ đồ 9 Chuỗi cung ứng sản phẩm gas tại công ty TNHH MTV kinh doanh

Trang 9

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TT Từ viết tắt Nghĩa của từ viết tắt

1 AHP Analytie hierachy process

2 ESCAP Ủy ban kinh tế và xã hội châu Á Thái Bình Dương

3 GDP Tổng sản phẩm nội địa

4 GPP Tiêu chuẩn về xây dựng nhà máy chế biến và xử lý khí

5 GTGT Giá trị gia tăng

6 HHGVN Hiệp hội gas Việt Nam

8 LPG Khí hóa lỏng, khí dầu mỏ hóa lỏng hay khí gas

15 SCM Supply Chain Management

16 WTO Tổ chức thương mại thế giới

Trang 10

mẽ về kinh tế, kèm theo đó là quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa diễn ra nhanh, do vậy nhu cầu thị trường về các loại khí đốt cũng tăng đột biến

Thành phố Hà Nội là thành phố lớn nhất Việt Nam về diện tích với 3328,9

km2, đồng thời cũng là địa phương đứng thứ nhì về dân số với 6.699.600 người (2011) Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, Hà Nội hiện nay gồm 12 quận, 1 thị xã và 17 huyện ngoại thành Hiện nay, Hà Nội là một trong những trung tâm kinh tế - xã hội đặc biệt quan trọng của Việt Nam Năm 2009, sau khi mở rộng, GDP của thành phố tăng khoảng 6,67%, tổng thu ngân sách khoảng 70.054 tỷ đồng Thủ đô Hà Nội có vị trí ở khu vực trung tâm của miền Bắc, bên cạnh con sông Hồng, giao thông từ Hà nội đến các tỉnh khác của miền Bắc hết sức thuận tiện, bao gồm cả đường không, đường bộ, đường thủy và đường sắt (Tổng cục thống kê Việt Nam) Do có sự tăng mạnh về diện tích và dân số cùng với quá trình

đô thị hóa, các khu công nghiệp mọc lên nhanh chóng đã khiến Hà Nội trở thành thị trường tiêu thụ các sản phẩm khí hóa lỏng và các sản phẩm dầu khí mạnh nhất khu vực miền Bắc

Công ty TNHH MTV kinh doanh khí hóa lỏng Hà Nội là doanh nghiệp chuyên cung cấp khí hóa lỏng LPG và các sản phẩm dầu khí cho thị trường miền

Trang 11

Bắc (chiếm khoảng hơn 30% thị trường miền Bắc) trong đó sản phẩm chính là LPG

và thị trường tập trung là Hà Nội Hoạt động này mang lại 98% doanh thu cho doanh nghiệp (Báo cáo phân tích tài chính PVG HN 2011 ), trong quá trình hoạt động công ty đã xây dựng được một chuỗi cung ứng riêng cho sản phẩm khí hóa lỏng của mình Tuy nhiên trong một vài năm trở lại đây thị trường cung cấp khí hóa lỏng đã có sự cạnh tranh hết sức khốc liệt, do ngày càng có nhiều doanh nghiệp mới thành lập tham gia vào thị trường này như Công ty TNHH MTV khí đốt gia đình (Anpha petrol), Công ty TNHH MTV khí hóa lỏng Việt Nam (VT GAS), Công ty TNHH khí đốt Thăng Long (TL GAS) và còn rất nhiều doanh nghiệp khác nữa đã làm cho hoạt động chuỗi cung ứng khí hóa lỏng của công ty bộc lộ những vấn đề bất hợp

lý, vấn đề quản trị chuỗi cung ứng còn tồn tại khá nhiều bất cập làm suy giảm khả năng cạnh tranh và gây ảnh hưởng tới hiệu quả chuỗi cung ứng của công ty

Trước tình hình cấp thiết đó, doanh nghiệp cần tìm lời giải đáp cho câu hỏi: Làm thế nào để khắc phục những điều bất hợp lý trong chuỗi cung ứng khí hóa lỏng của doanh nghiệp, từ đó góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh, nâng cao hiệu quả hoạt động tiêu thụ sản phẩm khí hóa lỏng của doanh nghiệp trong bối cảnh thị trường tiêu thụ các sản phẩm dầu khí cạnh tranh khốc liệt và trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay? Cho nên việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng chuỗi cung ứng sản phẩm khí hóa lỏng nhằm tìm ra giải pháp thích hợp cho công tác thúc đẩy chuỗi cung ứng này là một đòi hỏi bức xúc của công ty? Xuất phát từ vấn đề trên, tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu chuỗi cung ứng sản phẩm gas tại công ty TNHH MTV kinh doanh khí hóa lỏng Hà Nội”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở nghiên cứu phân tích thực trạng chuỗi cung ứng sản phẩm gas tại Công ty TNHH MTV kinh doanh khí hóa lỏng Hà Nội đánh giá hoạt động của chuỗi cung ứng gas, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy chuỗi cung ứng sản phẩm gas

Trang 12

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chuỗi cung ứng

- Nghiên cứu phân tích thực trạng chuỗi cung ứng sản phẩm gas tại Công ty TNHH MTV kinh doanh khí hóa lỏng Hà Nội

- Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy chuỗi cung ứng sản phẩm gas tại công ty nghiên cứu trong thời gian tới

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Chuỗi cung ứng sản phẩm gas của Công ty TNHH MTV kinh doanh khí hóa lỏng Hà Nội, các tác nhân tham gia chuỗi và mối quan hệ giữa các tác nhân trong chuỗi cung ứng sản phẩm gas

c Phạm vi về nội dung:

- Các vấn đề lý luận và thực tiễn về chuỗi cung ứng

- Thực trạng cung ứng sản phẩm của Công ty TNHH MTV kinh doanh khí hóa lỏng Hà Nội

- Các giải pháp nhằm thúc đẩy chuỗi cung ứng sản phẩm gas tại Công ty nghiên cứu trong thời gian tới

1.4 Câu hỏi nghiên cứu

- Những tác nhân nào tham gia chuỗi cung ứng sản phẩm gas?

- Mối quan hệ giữa các tác nhân trong chuỗi cung ứng sản phẩm gas tại Công

ty như thế nào?

- Các giải pháp cần áp dụng nhằm thúc đẩy chuỗi cung ứng sản phẩm gas tại Công ty nghiên cứu trong thời gian tới

Trang 13

2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG

2.1 Cơ sở lý luận về chuỗi cung ứng

2.1.1 Chuỗi cung ứng

2.1.1.1 Nguồn gốc chuỗi cung ứng

Chuỗi cung ứng là một giai đoạn phát triển của lĩnh vực Logistics (hậu cần) Ban đầu, logistics được sử dụng như một từ chuyên môn trong quân đội, được hiểu với nghĩa là công tác hậu cần Đến cuối thế kỷ 20, Logistics được ghi nhận như là một chức năng kinh doanh chủ yếu, mang lại thành công cho các công ty cả trong khu vực sản xuất lẫn trong khu vực dịch vụ Ủy ban kinh tế và xã hội châu Á Thái Bình Dương (Economic and Social Commission for Asia and the Pacific - ESCAP) ghi nhận Logistics đã phát triển qua ba giai đoạn:

Giai đoạn 1: Phân phối (Distribution)

Đó là quản lý một cách có hệ thống các hoạt động liên quan với nhau nhằm đảm bảo cung cấp sản phẩm, hàng hóa cho khách hàng một cách hiệu quả nhất Giai đoạn này bao gồm các hoạt động nghiệp vụ sau: Vận tải, phân phối, bảo quản hàng hóa, quản lý kho bãi, bao bì, nhãn mác, đóng gói

Giai đoạn 2: Hệ thống Logistics

Giai đoạn này có sự phối kết hợp công tác quản lý của cả hai mặt trên vào cùng một hệ thống có tên là Cung ứng vật tư và Phân phối sản phẩm

Giai đoạn 3: Quản trị dây truyền cung ứng

Theo ESCAP thì đây là khái niệm mang tính chiến lược về quản trị chuỗi quan

hệ từ nhà cung cấp nguyên liệu – đơn vị sản xuất – đến người tiêu dùng Khái niệm quản trị chuỗi dây truyền chú trọng việc phát triển các mối quan hệ với đối tác, kết hợp chặt chẽ giữa nhà sản xuất với nhà cung cấp, người tiêu dùng và các bên liên quan như các công ty vận tải, kho bãi, giao nhận và các công ty công nghệ thông tin

2.1.1.2 Cấu trúc chuỗi cung ứng

Một dây chuyền cung ứng sản xuất tối thiểu gồm 3 yếu tố: nhà cung cấp, bản thân đơn vị sản xuất và khách hàng

Nhà cung cấp là các công ty bán sản phẩm, dịch vụ là nguyên liệu đầu vào cần thiết cho quá trình sản xuất, kinh doanh Thông thường, nhà cung cấp được hiểu

Trang 14

là đơn vị cung cấp nguyên liệu trực tiếp như vật liệu thô, các chi tiết của sản phẩm, bán thành phẩm

Đơn vị sản xuất là nơi sử dụng nguyên liệu, dịch vụ đầu vào, áp dụng các quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm cuối cùng Các nghiệp vụ về quản lý sản xuất được sử dụng tối đa tại đây nhằm tăng hiệu quả, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo nên sự thông suốt của dây chuyền cung ứng

Khách hàng là người sử dụng sản phẩm của đơn vị sản xuất

Ở chuỗi cung ứng mở rộng có thêm 3 đối tượng tham gia truyền thống đó là: nhà cung cấp của các nhà cung cấp hay nhà cung cấp cuối cùng ở vị trí bắt đầu của chuỗi cung ứng mở rộng; khách hàng của các khách hàng hay khách hàng ở vị trí kết thúc của chuỗi cung ứng; tổng thể các công ty cung cấp dịch vụ cho các công ty khác trong chuỗi cung ứng Đây là các công ty cung cấp về dịch vụ hậu cần, tài chính, tiếp thị và công nghệ thông tin

2.1.1.3 Khái niệm chuỗi cung ứng

Nói đến chuỗi cung ứng là nói đến tất cả mạng lưới gồm các tổ chức có liên quan, thông qua các mối liên kết phía trên và phía dưới, trong các quá trình và hoạt động khác nhau, sản sinh ra giá trị dưới hình thức sản phẩm dịch vụ trong tay người tiêu dùng cuối cùng Đã có nhiều quan niệm khác nhau về chuỗi cung ứng Theo Lee & Billington (1995) thì chuỗi cung ứng là mạng lưới các phương tiện phục vụ thu mua nguyên vật liệu thô, chuyển hóa chúng thành những sản phẩm trung gian, tới sản phẩm cuối cùng và giao sản phẩm đó tới khách hàng thông qua

hệ thống phân phối Chuỗi cung ứng được thể hiện theo sơ đồ sau:

Sơ đồ 1: Chuỗi cung ứng (Lee & Billington, 1995)

Trang 15

Chuỗi cung ứng là sự liên kết của các công ty để mang những sản phẩm và dịch vụ cho thị trường (người trích dẫn Michael hugos, 2003)

Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các hoạt động liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp làm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm các nhà sản xuất, các nhà cung cấp mà còn có những người vận chuyển, hệ thống kho bảo quản, những nhà bán lẻ và cả khách hàng (Chopra & Meindl, 2001)

Chuỗi cung ứng là mạng lưới của các phương tiện, cách lựa chọn phân phối nhằm thực hiện chức năng thu mua nguyên vật liệu, biến đổi chúng thành các sản phẩm trung gian và sản phẩm cuối cùng, phân phối những sản phẩm cuối cùng đó tới khách hàng (Ganeshan & Harrison, 1995)

Chuỗi cung ứng là môi trường nơi dòng sản phẩm, dịch vụ, thông tin di chuyển từ nhà cung ứng đầu tiên tới khách hàng cuối cùng và ngược lại (David Sharpe, 2008)

Theo Christopher (1998), chuỗi cung ứng là mạng lưới của các tổ chức liên quan trực tiếp và gián tiếp tới những quy trình và hoạt động khác nhau nhằm chuyển giá trị của sản phẩm, dịch vụ tới khách hàng cuối cùng

Chuỗi cung ứng là mạng lưới của các tổ chức, con người, công nghệ, các hoạt động, thông tin và nguồn lực tham gia vào việc di chuyển sản phẩm dịch vụ từ các nhà cung cấp tới khách hàng (Từ điển bách khoa toàn thư)

Trong cuốn “The practice of supply chain management: where theory and application convergy”, tác giả Terry P Harrison đã định nghĩa chuỗi cung ứng như sau:

“Chuỗi cung ứng là sự tạo lập chuỗi giá trị thông qua sự kết nối hoạt động

từ các nhà cung cấp của công ty tới những khách hàng của công ty Cơ sở các hoạt động của chuỗi cung ứng thể hiện:

Tiếp nhận đầu vào từ các nhà cung cấp → tạo lập giá trị →phân phối sản phẩm, dịch vụ tới khách hàng”

Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các doanh nghiệp tham gia, một cách trực tiếp hay gián tiếp trong việc đáp ứng nhu cầu khách hàng (giáo trình quản trị chuỗi cung ứng)

Trang 16

Như vậy, chuỗi cung ứng là một hệ thống phức tạp nhưng có mối liên kết chặt chẽ giữa các thành viên trong việc tạo ra và phân phối các sản phẩm hoàn chỉnh nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng Do đó, nó trở thành chìa khóa tạo nên sự khác biệt tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm

2.1.1.4 Đặc điểm của chuỗi cung ứng

Chuỗi cung ứng được cấu tạo bởi 5 thành phần cơ bản, các thành phần này là các nhóm chức năng khác nhau và cùng nằm trong dây chuyền cung ứng: sản xuất, vận chuyện, tồn kho, định vị, thông tin

Sản xuất là khả năng tạo ra và lưu trữ sản phẩm của chuỗi cung ứng Phân

xưởng, nhà kho là cơ sở vật chất, trang thiết bị chủ yếu của thành phần này Trong quá trình sản xuất, các nhà quản trị thường phải đối mặt với vấn đề cân bằng giữa khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng và hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp

Vận chuyển là bộ phận đảm nhiệm công việc vận chuyển nguyên vật liệu,

cũng như sản phẩm giữa các nơi trong dây truyền cung ứng Ở đây, sự cân bằng giữa khả năng đáp ứng nhu cầu và hiệu quả công việc được biểu thị trong việc lựa chọn phương thức vận chuyển

Tồn kho là việc hàng hóa sản xuất ra tiêu thụ như thế nào Chính yếu tố tồn

kho sẽ quyết định doanh thu và lợi nhuận của công ty bạn Nếu tồn kho ít tức là sản phẩm của bạn sản xuất ra bao nhiêu tiêu thụ hết bấy nhiêu, từ đó chứng tỏ hiệu quả sản xuất của công ty bạn ở mức cao và lợi nhuận đạt mức tối đa

Định vị là việc tìm kiếm các nguồn nguyên vật liệu sản xuất ở đâu? Nơi nào

là địa điểm tiêu thụ tốt nhất? Đây chính là những yếu tố quyết định sự thành công của dây chuyền cung ứng Định vị tốt sẽ giúp quy trình sản xuất được tiến hành một cách nhanh chóng và hiệu quả

Về thông tin: những thông tin gì cần được thu thập? Thông tin gì nên chia

sẻ? Thông tin càng nhanh, càng chính xác sẽ giúp cho các thành viên trong chuỗi đưa ra các quyết định phù hợp với từng hoàn cảnh khác nhau

Trả lời những câu hỏi này, các công ty trong chuỗi cung ứng sẽ đưa ra những quyết định ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả của toàn chuỗi Tuy nhiên để trả lời được những câu hỏi trên, các doanh nghiệp tham gia chuỗi phải ý thức rõ thị trường

Trang 17

mà họ phục vụ cũng như đối tượng khách hàng mà họ hướng tới Sự năng động của chuỗi cung ứng trong việc nắm bắt những tín hiệu của thị trường sẽ giúp cho việc thỏa mãn những nhu cầu khách hàng nhanh chóng hơn và hiệu quả hơn

Tùy từng giai đoạn các công ty có những mục tiêu khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau Nhưng xét cho cùng, bất kỳ công ty nào cũng theo đuổi mục tiêu lợi nhuận của toàn chuỗi Lợi nhuận của chuỗi cung ứng là tổng hợp lợi nhuận được chia sẻ cho các thành viên trong chuỗi chứ không chỉ ở một giai đoạn riêng lẻ nào trong chuỗi Nguồn tạo ra lợi nhuận của chuỗi cung ứng là từ các khách hàng cuối cùng Điều này cũng làm sáng tỏ hơn cho câu hỏi tại sao cần tiếp cận quản trị chuỗi cung ứng một cách hệ thống

Một chuỗi cung ứng có nhiều thành viên tham gia Chuỗi cung ứng đơn giản nhất bao gồm công ty, các nhà cung cấp và các khách hàng của công ty

Sơ đồ 2: Chuỗi cung ứng giản đơn (Micheal Hugos, 2003)

Chuỗi cung ứng mở rộng ngoài ba thành viên trên còn có thêm ba thành viên khác đó là nhà cung cấp của các nhà cung cấp, khách hàng của khách hàng và toàn bộ các công ty cung cấp dịch vụ cho các công ty trong chuỗi cung ứng Các công ty cung cấp dịch vụ này sẽ cung cấp dịch vụ hậu cần, tài chính, tìm hiểu thị trường, thiết kế sản phẩm và công nghệ thông tin cho các công ty khác trong chuỗi cung ứng

Sơ đồ 3: Chuỗi cung ứng mở rộng (Micheal Hugos, 2003)

Trang 18

Cụ thể hơn, dọc theo một chuỗi cung ứng bắt đầu từ các công ty Các công ty này chính là nhà sản xuất, chế biến, phân phối, nhà bán lẻ, khách hàng và khách hàng của khách hàng

Sơ đồ 4: Thành viên chuỗi cung ứng (Micheal Hugos, 2003)

Nhà sản xuất: nhà sản xuất, chế biến là các công ty làm ra sản phẩm Nhà sản xuất ở đây gồm các nhà sản xuất ra nguyên vật liệu (nhà cung ứng nguyên vật liệu)

và nhà sản xuất ra sản phẩm

Nhà phân phối: là các cá nhân, công ty mua lượng lớn sản phẩm từ các nhà sản xuất và bán các sản phẩm đó Họ chịu trách nhiệm phân phối sản phẩm đến tay khách hàng khi họ muốn và đến nơi họ cần Đây là thành viên gần gũi với khách hàng, nắm bắt, theo dõi nhu cầu của khách hàng Không chỉ thực hiện những chiến dịch khuyến mại, các nhà phân phối còn thực hiện các chức năng như quản lý vận hành các kho hàng, vận chuyển các sản phẩm, hỗ trợ khách hàng và phục vụ khách hàng

Nhà bán lẻ: thực hiện chức năng dự trữ sản phẩm và bán các sản phẩm với lượng bán nhỏ hơn Đây là thành viên gần gũi với khách hàng nhất (khách hàng cuối cùng) Tổng hợp những thông tin về khách hàng từ nhà bán lẻ sẽ giúp nhà phân phối cũng như các công ty nắm bắt tốt hơn những nhu cầu của khách hàng trên thị trường

Khách hàng: là những đối tượng mua các sản phẩm của công ty Một khách hàng có thể mua sản phẩm của công ty và bán cho khách hàng khác và sử dụng nó

Nhà cung cấp dịch vụ: có chức năng cung cấp các dịch vụ cho nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ, khách hàng Sự xuất hiện của các nhà cung cấp dịch vụ trên chuỗi cung ứng sẽ làm các hoạt động hiệu quả hơn bởi đôi khi những dịch vụ

mà những nhà cung cấp cung ứng có mức giá thấp hơn hẳn so với việc các thành viên của chuỗi tự làm

Trang 19

Như vậy, ranh giới của một chuỗi cung ứng rất linh hoạt, ranh giới của một chuỗi cung ứng kéo dài từ nhà sản xuất (nhà sản xuất nguyên vật liệu) tới khách hàng của khách hàng của họ

Có ba dòng chảy xuyên suốt chuỗi cung ứng Đó là dòng chảy của sản phẩm, của thông tin và tài chính Chính các dòng chảy này tạo ra chi phí của chuỗi cung ứng Khách hàng là nguồn doanh thu duy nhất của chuỗi cung ứng

Sự phối hợp chặt chẽ của dòng chảy sản phẩm, thông tin và tài chính là vô cùng quan trọng trong chuỗi cung ứng Đặc biệt là vai trò cầu nối của dòng chảy thông tin bởi nó ảnh hưởng lớn tới việc đáp ứng các nhu cầu khách hàng đúng lúc Tại một cửa hàng bán lẻ, khách hàng sẽ được cung cấp các sản phẩm, giá cả và sự sẵn sàng, đầy đủ về thông tin (sản phẩm, nhà sản xuất, khuyến mãi…) và ngược lại khách hàng sẽ thanh toán tiền sản phẩm mà họ mua Nhà bán lẻ sẽ gửi thông tin liên quan đến việc bán hàng, đơn đặt hàng đến các nhà phân phối để họ chuyển hàng tới Cách cửa hàng bán lẻ sẽ chuyển tiền cho nhà phân phối sau khi nhận được hàng Nhà phân phối cũng đổi cho nhà bán lẻ những thông tin về sản phẩm, giá cả…Vòng tuần hoàn bắt đầu với việc nhận những đơn đặt hàng của khách hàng và kết thúc khi khách hàng thanh toán đơn đặt hàng của họ Cứ như vậy, dòng sản phẩm, tài chính

và thông tin được luân chuyển trong chuỗi cung ứng

Bất kỳ chuỗi cung ứng nào cũng cần cân nhắc giữa tính đáp ứng nhanh và tính hiệu quả Đặc biệt trong điều kiện hiện nay nếu chỉ tập chung vào tính hiệu quả

mà bỏ qua tính đáp ứng nhanh các nhu cầu của khách hàng thì các công ty, các chuỗi cung ứng không thể thành công Cùng sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ, các công ty ngày càng chú trọng, chuyên môn hóa vào các sản phẩm mà

nó thực hiện tốt nhất để cạnh tranh được với đối thủ khác Chính điều này đã thúc đẩy các công ty khác nhau liên kết lại với nhau cùng thực hiện các hoạt động trong chuỗi cung ứng như sự liên kết của các công ty chịu trách nhiệm sản xuất với các công ty chuyên về vận chuyển, phân phối, bán lẻ

Trang 20

2.1.2 Các yếu tố trong chuỗi cung ứng

Mỗi chuỗi cung ứng dù có quy mô, cấu trúc và nhu cầu thị trường riêng, nhưng nhìn trung đều có cấu tạo từ 5 thành phần cơ bản: sản xuất, tồn kho, địa điểm, vận tải và thông tin (Michael Hugos, 2003)

Sơ đồ 5: 5 Thành phần chính của chuỗi cung ứng

Sản xuất

Sản xuất chính là khả năng tạo ra và lưu trữ sản phẩm của chuỗi cung ứng Nhà máy và nhà kho là những cơ sở vật chất trong sản xuất Vấn đề cơ bản của những nhà quản lý khi ra quyết định sản xuất là làm thế nào để cân bằng giữa khả năng đáp ứng nhanh các nhu cầu của khách hàng và tính hiệu quả trong hoạt động sản xuất Nếu phân xưởng và nhà kho được thiết kế với công suất quá lớn, các doanh nghiệp có thể linh hoạt và nhanh chóng đáp ứng được sự thay đổi về nhu cầu sản phẩm Nếu hầu hết công suất của nhà máy và nhà kho được sử dụng thì chuỗi cung ứng khó có thể phản ứng kịp thời với sự thay đổi nhu cầu khách hàng Nói cách khác, công suất dư thừa làm tiêu tốn tiền của, công suất đó là công suất vô ích,

Trang 21

không mang lại doanh thu Do đó, công suất càng dư thừa thì việc sản xuất càng kém hiệu quả Các nhà máy có thể được xây dựng để thích nghi với một trong hai phương thức sản xuất

- Tập trung sản phẩm: Nhà máy thực hiện một loạt các hoạt động để tạo ra một dòng sản phẩm, từ việc sản xuất các bộ phận khác nhau của sản phẩm đó, rồi lắp ráp các bộ phận này thành một sản phẩm hoàn chỉnh

- Tập trung chức năng: phương pháp này tập trung thực hiện chỉ một vài hoạt động hoặc là chỉ sản xuất một nhóm bộ phận của sản phẩm hoặc chỉ lắp ráp Những chức năng này có thể được áp dụng để sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau

Phương thức tập trung sản phẩm thường dẫn đến việc phát triển chuyên sâu

vè một dòng sản phẩm ở mức chi phí giống với việc tập trung chuyên sâu vào một chức năng cụ thể Các công ty phải quyết định thực hiện theo phương thức nào hoặc kết hợp những gì từ hai cách thức sản xuất đó để đạt được công suất và chuyên môn như mong đợi, đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng

Tồn kho

Hàng tồn kho bao gồm nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm do nhà sản xuất, nhà phân phối và người bán lẻ tồn trữ dàn trải trong suốt chuỗi cung ứng Một lần nữa, các nhà quản lý lại phải quyết định tồn kho ở đâu nhằm cân đối giữa tính đáp ứng và tính hiệu quả Tồn trữ số lượng lớn hàng tồn kho cho phép công ty đáp ứng nhanh chóng những biến động về nhu cầu của khách hàng Tuy nhiên, việc xuất hiện và tồn trữ hàng tồn kho tạo ra mộ chi phí đáng kể và để đạt hiệu quả cao thì chi phí tồn kho nên thấp nhất có thể Có 3 loại tồn kho cơ bản:

- Tồn kho chu kỳ: là lượng hàng tồn kho cần thiết để thỏa mãn nhu cầu về sản phẩm trong một giai đoạn giữa các chu kỳ mua hàng Các doanh nghiệp có xu hướng sản xuất hoặc mua một lượng lớn hàng hóa nhằm đạt được hiệu quả kinh tế theo quy mô Tuy nhiên, hàng hóa nhiều làm gia tăng chi phí tồn kho gồm: chi phí lưu kho, xử lý và bảo hiểm hàng tồn kho Các nhà quản lý phải cố gắng cân bằng giữa việc đạt được chi phí đặt hàng thấp, giá rẻ và việc gia tăng chi phí tồn kho khi mua hàng với khối lượng lớn

Trang 22

- Tồn kho an toàn: là lượng hàng tồn kho được lưu trữ nhằm đối phó với sự bất ổn Nếu dự báo nhu cầu được thực hiện chính xác thì hàng tồn kho chỉ cần thiết giữ ở mức tồn kho định kỳ Tuy nhiên, mọi dự báo đều có sai số, vì thế để đối phó với sai số trong trường hợp nhu cầu tăng đột biến so với dự báo thì tồn kho dự phòng là cần thiết Ở đây, cần phải cân nhắc giữa chi phí tồn kho gia tăng với phần thua lỗ do tồn kho thiếu

- Tồn kho theo mùa: là lượng tồn kho được xây dựng dựa trên cơ sở dự báo

sự gia tăng nhu cầu về hàng hóa diễn ra vào những thời kỳ nhất định trong năn Ví dụ: dự báo về nhu cầu về áo chống rét sẽ tăng mạnh vào mùa đông Một công ty sản xuất quẩn áo ở mức công suất nhất định, công ty này có thể thay đổi công suất khi mùa đông đến Vì thế công ty sẽ cố gắng sản xuất áo chống rét ở một mức công suất

cố định trong năm và lưu kho sản phẩm trong suất thời kỳ nhu cầu về áo rét thấp, để

bù đắp cho giai đoạn nhu cầu tăng quá cao, vượt mức công suất của nhà máy Một lựa chọn thay thế cho tồn kho theo mùa là hướng đến đầu tư khu vực sản xuất linh hoạt, có thể nhanh chóng thay đổi công suất sản xuất các sản phẩm khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu gia tăng Trong trương hợp này, vấn đề chính là sự đánh đổi giữa chi phí lưu kho theo mùa và chi phí để có được khu vực sản xuất kinh hoạt

Địa điểm

Địa điểm đề cập đến vị trí địa lý cho những nhà máy trong chuỗi cung ứng, cũng như các quyết định về những hoạt động được thực hiện trong mỗi nhà máy này Đánh đổi giữa tính đáp ứng nhanh và tính hiệu quả là việc ra quyết định hoặc phân tán các hoạt động ở những khu vực gần khách hàng và nhà cung ứng để hoạt động diễn ra nhanh chóng hoặc tập trung hoạt động ở một vài địa điểm để đạt được hiệu quả kinh tế theo quy mô Quyết định về địa điểm được xem như là một quyết định chiến lược vì ảnh hưởng lớn đến tài chính trong kế hoạch dài hạn Khi quyết định về địa điểm, nhà quản lý cần xem xét hàng loạt các yếu tố có liên quan như: chi phí phòng ban, lao động, kỹ năng cần có trong sản xuất, điều kiện cơ sở hạ tầng, thuế và vị trí gần với nhà cung cấp hay ngươi tiêu dùng Quyết định địa điểm có tác động mạnh đến chi phí và đặc tính hoạt động của chuỗi cung ứng Quyết định địa điểm phản ánh chiến lược cơ bản của một công ty về việc xây dựng và phân phối

Trang 23

sản phẩm đến thị trường Khi định được địa điểm, số lượng và kích cỡ chúng ta xác định được số lượng kênh phân phối sản phẩm đến người tiêu dùng cuối cùng

Vận tải

Vận tải liên quan đến sự di chuyển mọi thứ từ nguyên liệu thô đến thành phẩm giữa các giai đoạn khác nhau trong chuỗi cung ứng Sự cân bằng giữa tính đáp ứng nhanh và tính hiệu quả được biểu hiện thông qua việc lựa chọn phương thức vận tải Phương thức vận tải nhanh như máy bay dù rất nhanh chóng nhưng chi phí rất cao Ngược lại, các phương thức như vận tải đường biển và đường sắt dù đạt được hiệu quả về chi phí nhưng đáp ứng không kịp thời Có 6 phương thức vận tải

cơ bản:

- Vận tải đường biển: chi phí thấp nhưng lại là phương thức vận tỉa chậm nhất Phương thức này chỉ được sử dụng để vận chuyển hàng hóa giữa những địa điểm gần đường thủy hoặc đường biển như: kênh, rạch…

- Đường sắt: giá thành rẻ, chi phí trung bình nhưng cũng bị hạn chế do bị phụ thuộc và hệ thống đường ray

- Đường ống: tương đối hiệu quả nhưng bị giới hạn hàng hóa như: nước, dầu, khí gas…

- Đường bộ: là phương thức vận tải nhanh và rất thuận tiện Xe tải hầu như

có thể đi khắp mọi nơi, tuy nhiên chi phí dễ biến động vì chi phí nhiên liệu biến động và đường xá thay đổi

- Đường hàng không: là hình thức vận chuyển rất nhanh, đáp ứng rất kịp thời Đây cũng là hình thức có chi phí đắt nhất vì bị hạn chế bởi công suất vận chuyển

- Vận chuyển điện tử: là hình thức vận chuyển nhanh nhất, rất linh hoạt và

có hiệu quả về chi phí Hình thức này chỉ được sử dụng để vận chuyển lại sản phẩm như năng lượng điện, dữ liệu và các sản phẩm được tạo từ dữ liệu như hình ảnh, nhạc, văn bản

Các nhà quản lý cần phải kết hợp những phương thức vận tải khác nhau với những địa điểm trong chuỗi cung ứng để thiết kế ra lộ trình và mạng lưới phân phối sản phẩm đến thị trường Lộ trình là một đường dẫn mà sản phẩm sẽ di chuyển qua

Trang 24

và mạng lưới gồm các lộ trình và những địa điểm được kết nối bởi những đường dẫn này Theo nguyên tắc chung, hàng hóa có giá trị càng cao (như linh kiện điện

tử, hàng dược phẩm…) thì mạng lưới vận chuyển càng phải tập trung vào tính kịp thời; hàng hóa có giá trị thấp hơn (như các loại hàng: ngũ cốc, gỗ…) thì càng nên nhấn mạnh đến tính hiệu quả

Thông tin

Thông tin là cơ sở để đưa ra những quyết định có liên quan đến bốn yếu tố thúc đẩy chuỗi cung ứng Thông tin chính là yếu tố kết nối tất cả các hoạt động và vận hành chuỗi cung ứng Nếu thông tin là chính xác, kịp thời, các công ty trong chuỗi cung ứng có thể đưa ra những quyết định về hoạt động sản xuất đúng đắn Điều này mang lại khả năng tối đa hóa lợi nhuận cho toàn chuỗi cung ứng Thông tin được sử dụng nhằm 2 mục đích:

- Phối hợp những hoạt động hàng ngày có liên quan đến 4 yếu tố là: sản xuất, tồn kho, địa điểm và vận tải Trong chuỗi cung ứng, các công ty sử dụng các dữ liệu sẵn có về cung và cầu hàng hóa để quyết định lịch trình sản xuất hàng tuần, các mức tồn kho, tuyến đường vận tải và địa điểm lưu trữ hàng hóa

- Dự báo và lập kế hoạch để lường trước và đáp ứng kịp thời nhu cầu về sản phẩm trong tương lai Các dự báo mang tính chiến thuật dựa trên cơ sở những thông tin sẵn có, giúp doanh nghiệp lựa chọn lịch trình, thời gian biểu cho việc sản xuất hàng tháng, hàng quý Bên cạch đó, thông tin đóng vai trò rất lớn trong việc đưa ra những dự báo mang tầm chiến lược như: xây dựng phân xưởng mới, thâm nhập thị trường mới hoặc rút lui khỏi thị trường hiện tại

Trong phạm vi một công ty, cân đối giữa tính kịp thời và tính hiệu quả là đo lường lợi ích mà thông tin đem lại so với chi phí có được thông tin đó Thông tin chính xác, kịp thời có khả năng đưa ra những quyết định sản xuất hiệu quả, những

dự báo chuẩn xác, kịp thời có khả năng đưa ra những quyết định sản xuất hiệu quả, những dự báo chuẩn xác; nhưng chi phí để xây dựng và lắp đặt hệ thống cung cấp thông tin lại rất lớn Trong phạm vi chuỗi cung ứng, các công ty quyết định tính kịp thời và tính hiệu quả chính là quyết định bao nhiêu thông tin chia sẻ cho các công ty khác và bao nhiêu thông tin được giữ lại Các công ty chia sẻ với nhau càng nhiều

Trang 25

thông tin về sản phẩm, nhu cầu khách hàng, dự báo thị trường, lịch trình sản xuất…thì mỗi công ty càng đáp ứng kịp thời hơn Tuy nhiên, một khi thông tin được tiết lộ, lại kiến các công ty gia tăng lo ngại về việc thông tin đó bị đối thủ cạnh tranh sử dụng để chống lại chính mình Chi phí tiềm ẩn này cộng thêm sự cạnh

tranh ngày càng khốc liệt, có thể gây thiệt hại đến lợi nhuận của doanh nghiệp

2.1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng

2.1.3.1 Các yếu tố dẫn dắt chuỗi cung ứng

Thị trường mà cụ thể là những nhu cầu của khách hàng sẽ quyết định những sản phẩm, dịch vụ cũng như phương thức phân phối của chuỗi Ở một số thị trường khách hàng sẽ sẵn sàng trả cho mức phục vụ cao, sự đáp ứng nhanh nhưng ở một số thị trường khác khách hàng chỉ sẵn sàng trả cho những sản phẩm, dịch vụ đáp ứng được tính hiệu quả thể hiện qua giá của sản phẩm Do đó, việc quyết định sẽ đưa sản phẩm gì, số lượng, chất lượng cũng như giá cả sản phẩm là bao nhiêu là vấn đề

mà các công ty phải cân nhắc khi tham gia vào thị trường Nếu quyết định này đúng

sẽ mang lại sự hiệu quả cho toàn chuỗi và ngược lại

Ngoài thị trường mà chuỗi tham gia, chuỗi cung ứng còn chịu tác động trực tiếp từ các yếu tố dẫn dắt nó Đó là: sản xuất, hàng tồn kho, địa điểm, vận chuyển và thông tin

Sản xuất: Phương tiện sản xuất là các nhà máy và nhà kho Quyết định cơ

bản của các công ty khi sản xuất là làm thế nào để cân đối giữa tính đáp ứng nhanh

và tính hiệu quả Để đáp ứng nhanh các nhu cầu công ty phải xây dựng nhà máy và kho thừa công suất, nhưng điều này lại làm sản xuất kém hiệu quả khi lãng phí nguồn lực và chứa đựng nhiều rủi ro bởi nhu cầu luôn thay đổi Các nhà máy có thể được xây dựng theo hai hướng: tâm điểm sản phẩm và tâm điểm chức năng Theo tâm điểm sản phẩm, công ty sẽ thực hiện các công đoạn từ chế tạo đến lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh Theo tâm điểm chức năng, công ty sẽ chuyên về một chức năng

cụ thể thay vì một sản phẩm sẵn có

Kho hàng cũng được thiết kế thích ứng theo các phương pháp khác nhau, như lưu kho đơn vị, cho phép lấy và đóng gói hiệu quả hơn có thể sử dụng phương pháp lưu kho theo công năng, hoặc để năng cao hiệu suất của chuỗi cung ứng có thể

Trang 26

sử dụng lưu kho chéo Lưu kho chéo là phương pháp lưu kho mà Wal – mart đó sử dụng Theo phương pháp này các kho hàng chứa quy trình chứ không chứa sản phẩm

Hàng tồn kho: Hàng tồn kho không chỉ là những sản phẩm cuỗi cùng được

lưu trữ tại các kho hàng, mà nó cũng bao gồm nguyên vật liệu cho sản xuất cũng như các sản phẩm trung gian Do đó, tất các thành viên trong chuỗi cung ứng đều nắm giữ lượng hàng tồn kho nhất định Hàng tồn kho cũng chịu ảnh hưởng từ mâu thuẫn giữa tính đáp ứng nhanh và tính hiệu quả Để hiệu quả, mục tiêu của các công

ty là làm giảm chi phí hàng tồn kho Nhưng để đáp ứng nhanh nhu cầu của khách hàng, các công ty phải tăng thêm chi phí dành cho hàng tồn kho Có ba quyết định

cơ bản về tồn trữ hàng tồn kho Đó là hàng tồn kho cho kỳ, hàng tồn kho an toàn, hàng tồn kho thời vụ

Hàng tồn kho chu kỳ là lượng hàng tồn kho cần thiết để thỏa mãn nhu cầu sản phẩm trong kỳ giữa những lần thu mua Tuy nhiên việc không thể dự báo chính xác nhu cầu sản phẩm đó khiến các công ty phải tốn kém thêm để dự phòng trong trường hợp nhu cầu tăng cao, vì vậy đã đẩy chi phí tồn kho, chi phí vần chuyển tăng Các công ty sẽ cân nhắc giữa chi phí tăng lên với phần doanh thu bị mất nếu không tồn kho để đưa ra những quyết định của mình Tất nhiên các công ty đều không ưu thích phương thức tồn kho này Tại những thời điểm nhất định trong năm

dự báo nhu cầu sẽ tăng cao, các công ty cũng lựa chọn hàng tồn kho theo thời vụ

Vị trí: Liên quan đến tính đáp ứng nhanh và hiệu quả của các công ty Để

đáp ứng nhanh công ty phải hoạt động ở nhiều vị trí (về mặt địa lý) khác nhau, gần với khách hàng để dễ dàng cho việc đáp ứng nhu cầu của họ Nhưng để hiệu quả, công ty chỉ nên hoạt đông ở một số vị trí chủ chốt để giảm thiểu chi phí Dó đó, việc lựa chọn các vị trí có tác động lớn tới chi phí và đặc trưng, sự phân phối sản phẩm của chuỗi cung ứng cũng như việc tìm kiếm và “giữ chân” khách hàng

Vận chuyển: Tại các địa điểm khác nhau trong chuỗi cung ứng có những

cách thức khác nhau Người quản lý chuỗi cung ứng cần lập ra những lộ trình khác nhau để đưa sản phẩm từ kho sản xuất đến mạng lưới các nhà phân phối, bán lẻ thông qua các phương tiên vận chuyển Việc lựa chọn các phương tiện vận chuyển, con đường vận chuyển ảnh hưởng trực tiếp tới chi phí và từ đó gián tiếp ảnh hưởng

Trang 27

tới lợi nhuận toàn chuỗi Nguyên tắc chung trong vận chuyển sản phẩm là giá trị càng cao thì càng nhấn mạnh tính đáp ứng nhanh, giá trị càng thấp thì càng nhấn mạnh tính hiệu quản

Thông tin: Đây là yếu tố then chốt trong việc ra quyết định của tất cả các thành viên trong chuỗi cung ứng Nó được xem là yếu tố kết nối các hoạt động về sản xuất, hàng tồn kho, vị trí, phương thức vận chuyển trong chuỗi Nắm bắt thông tin giúp công ty dự đoán và lên kế hoạch giúp thỏa mãn nhu cầu khách hàng trong tương lai Bất kỳ chuỗi cung ứng nào cũng phải cân nhắc giữa tính đáp ứng nhanh

và tính hiệu quả, nếu có thông tin tốt, các công ty có thể so sánh được chi phí, lợi nhuận liên quan tới quyết định các vấn đề trên, đồng thời so sánh giữa chi phí để có được thông tin và lợi ích có được từ thông tin đó Thông tin nhanh, chính xác, đầy

đủ sẽ giúp thực hiện mục tiêu lợi nhuận của toàn chuỗi cung ứng

2.1.3.2 Hiệu ứng “Roi da – Bullwhip” trong chuỗi cung ứng

Một trong những tác động phổ biến nhất trong chuỗi cung ứng là hiện tượng

có tên gọi “Roi da” Đó là hiện tượng khi có thay đổi nhỏ về nhu cầu sản phẩm từ khách hàng, điều này sẽ chuyển thành những thay đổi lớn hơn về nhu cầu ở các công ty cuối chuỗi cung ứng Dao động hay tác động bắt đầu khi nhu cầu thị trường lớn mạnh tạo ra sự thiếu hụt sản phẩm Các nhà sản xuất và phân phối gia tăng sản xuất và mức tồn kho để đáp ứng nhu cầu cung ứng sản phẩm lớn hơn mức nhu cầu đáp ứng Nhà sản xuất và phân phối không nhận ra việc cung cấp đang lớn hơn nhu nên tiếp tục thiết lập việc cung ứng sản phẩm và kết quả là lượng sản phẩm dư thừa quá lớn khi công ty nhận ra điều này Nhà sản xuất sẽ ngưng hoạt động máy móc và cắt giảm nhân viên Nhà phân phối gặp khó khăn trong hàng tồn kho và làm cắt giảm giá trị sản phẩm trên thị trường

Trang 28

Hình 1 Hiệu quả Bullwhip

(Nguồn: Chin-Hung Chen, 2002)

Tác động “Roi da” có thể mô hình hóa trong chuỗi cung ứng đơn giản bao gồm nhà bán lẻ, nhà phân phối và nhà sản xuất

Hình 2 Tác động roi da

(Nguồn: Micheal Hugos, 2006)

Để giải quyết tác động “Roi da” thì cách tốt nhất là chia sẻ dữ liệu giữa các công ty trong chuỗi cung ứng Nhu cầu đó có thể là những con số về mức tiêu thụ,

dự đoán mức tiêu thụ, về những quyết định trong tất cả các công ty, các thành viên của chuỗi cung ứng Bởi sự thành công của từng thành viên, của một phần chuỗi cung ứng sẽ tạo nên thành công của cả chuỗi cung ứng Đó như một phản ứng dây chuyền

Trang 29

Nếu mỗi công ty có nhu cầu thông tin từ những công ty khác trong chuỗi cung ứng, thì thông tin đó sẽ hỗ trợ cho mỗi người quyết định về năng suất sản xuất

và mức lưu trữ hàng tồn kho Các công ty cần xem xét nhu cầu thông tin từ khách hàng trực tiếp và cũng từ khách hàng cuỗi cùng Các công ty có thể làm việc với nhau để tạo ra các chuỗi cung ứng hiệu quả thì đó sẽ là các công ty làm việc tốt nhất trong dài hạn Các công ty có thể quyết định chia sẻ dữ liệu một cách hiệu quả thì

đó sẽ là những công ty tạo ra các chuỗi cung ứng có khả năng cạnh tranh nhất

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Tình hình phát triển chuỗi cung ứng trên thế giới

Trong nền sản xuất - thương mại toàn cầu hóa hiện nay, khi các công ty đẩy mạnh hoạt động ở những lãnh thổ mới để tìm kiếm chi phí thấp hơn, chuỗi cung ứng được phát triển dài hơn và phức tạp hơn Việc vận dụng tốt chuỗi cung ứng đã giúp cho các tập đoàn như Dell, Wal-Mart, Coca-cola… trở nên vượt trội hơn các công

ty khác trong cạnh tranh quốc tế Tuy nhiên, cũng có không ít bài học về việc các chuỗi cung ứng quá phụ thuộc đã suy yếu và bị phá vỡ trước thảm họa thiên nhiên Trận lũ lụt lịch sử ở Thái Lan vừa qua đã gây thiệt hại cho nhiều đại gia hàng đầu thế giới trong ngành chế tạo là một ví dụ minh họa sinh động

Nhiều nhà sản xuất từ Nhật, Mỹ và những nước khác thường tập trung xây dựng một vài trung tâm chế tạo quan trọng trên thế giới Thái Lan đã nổi lên như một trong những điểm đến hấp dẫn cho xu hướng này từ những năm 1980 Nhiều công ty đa quốc gia đã chọn Thái Lan do bị hấp dẫn bởi những chính sách đầu tư cho phép công ty nước ngoài sở hữu đất để xây nhà máy, cùng với cơ sở hạ tầng tương đối tốt Khi các ngành công nghiệp phụ trợ nội địa được mở rộng, nhiều nhà máy sản xuất ổ cứng, thiết

bị bán dẫn và chế biến thực phẩm đã mọc lên ở đây Thái Lan, một đất nước có diện tích trung bình, với 67 triệu dân, đã trở nên rất quan trọng với chuỗi cung ứng trong sản xuất toàn cầu của nhiều công ty lớn như Toyota Motor Corp., Ford Motor Co., Michelin…

Khi lũ lụt kéo dài ở Thái Lan, quá trình sản xuất, vận hành của các công ty này trên toàn cầu bị đình trệ đáng kể Đó là chưa nói đến nhiều công ty bị ảnh hưởng khác Các nhà máy của Western Digital Corp tại Thái Lan đã đóng cửa do lũ lụt, trong khi

Trang 30

Seagate Technology PLC hay nhà sản xuất máy tính xách tay Đài Loan CompalElectronics Inc thi e ngại sẽ sớm đối mặt với tình trạng thiếu linh kiện Toshiba đã phải chuyển sang sản xuất ổ cứng tại Philippines sau khi buộc phải đóng cửa 9 nhà máy ở Thái Lan Mazda Motor thì xem xét nhập khẩu linh kiện từ các nhà sản xuất ở Trung Quốc và Nhật Bản để phục hồi sản xuất cho các nhà máy ở Thái Tập đoàn Nidec (Nhật), chuyên sản xuất linh kiện cho các loại ổ cứng, cũng tăng sản lượng ở các nhà máy ở Philipines và Trung Quốc

Thực tế, động đất và sóng thần ở Nhật hồi tháng 3 năm ngoái đã tác động đến tốc độ tăng trưởng quý 2 của nhiều quốc gia trên thế giới do việc sản xuất các linh kiện điện tử và các hợp chất hóa học quan trọng bị đình đốn Năm trước, núi lửa phun trào ở Iceland cũng làm gián đoạn vận chuyển hàng không và du lịch trong khu vực Đại Tây Dương Những sự kiện đó đã làm nhiều nhà sản xuất nâng cao nhận thức về nguy cơ của những chuỗi cung ứng theo diện hẹp.(http://www.vlr.vn)

2.2.2 Tình hình chuỗi cung ứng tại Việt Nam

Phát triển chuỗi cung ứng được đánh giá có thể mang lại nhiều lợi ích cho ngành công nghiệp VN, nhưng đến nay số lượng công ty Việt Nam trong ngành hỗ trợ

có đủ năng lực để tham gia chuỗi cung ứng còn quá ít Theo TS Trương Thị Chí Bình, Giám đốc Trung tâm Phát triển Doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ thuộc Viện nghiên cứu chiến lược, chính sách công nghiệp (Bộ Công thương), hiện nay chỉ có khoảng 300

DN VN đủ năng lực tham gia chuỗi cung ứng cho công nghiệp chế tạo ở VN Trong số

đó, không ít doanh nghiệp (DN) khó tiếp cận các chuỗi cung ứng hiện hữu của các công ty lớn chuyên về lắp ráp, chế tạo Lĩnh vực này đang bị chiếm lĩnh chủ yếu từ các công ty có vốn đầu tư nước ngoài và liên doanh

Đối với ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn như may mặc, chuỗi cung ứng dệt may cũng bị “đứt gãy” Theo số liệu tại buổi hội thảo hôm 12.4 vừa qua do Dự án hỗ trợ thương mại đa biên giai đoạn III (EU-Việt Nam Mutrap III) tài trợ, trong số 3.700

DN của ngành này, có 70% là DN may, trong khi DN dệt, sợi, nhuộm chỉ chiếm lần lượt 17%, 6% và 4% Cụ thể, VN phải nhập khẩu bông để đáp ứng 99% nhu cầu bông trong nước và nhập 70% xơ nhân tạo Nhưng 65% sợi sản xuất ra phải xuất khẩu vì VN yếu trong khâu dệt, nhuộm Rồi sau đó VN nhập vải về để cắt, may Mỗi năm, VN nhập khẩu 5,2 tỉ mét vải để đáp ứng nhu cầu 6 tỉ mét

Trang 31

Ngành da giày VN cũng không thoát khỏi tình trạng này Theo bà Nguyễn Thị Tòng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Da Giày VN, hiện VN đã sản xuất được đế giày và một

số nguyên phụ liệu trong ngành da giày Tuy nhiên, vì DN giày VN chủ yếu làm gia công, nên nếu khách hàng muốn dùng nguyên phụ liệu của một công ty ở nước ngoài thì DN VN vẫn phải nhập về

Ngành nông nghiệp cũng rơi vào tình hình tương tự Tác giả Đinh Thế Phong, công tác tại Bộ Khoa học - Công nghệ, đã từng nhận xét khá xác đáng: “Trước đây, các ngành sản xuất - chế biến VN bị chặn ở đầu ra do không bán, xuất khẩu được sản phẩm, chủ yếu do giá thành quá cao so với thị trường, ví dụ trong công nghiệp ôtô, điện tử Gần đây, các ngành sản xuất - chế biến VN lại bị chặn thêm ở đầu vào vì mua không được nguyên liệu trong nước, ví dụ chế biến thủy sản, rau hoa quả, hạt tiêu ” Không mua được nguyên vật liệu cho sản xuất có nghĩa khâu sản xuất không có mối liên kết với khâu nguyên vật liệu, tức là đã bị cắt đứt khỏi chuỗi cung ứng Điều đó thể hiện mối liên kết lỏng lẻo giữa các bên tham gia Chẳng hạn, thị trường phân bón thường xuyên có những bất ổn trong những giai đoạn cao điểm của vụ sản xuất Sự liên kết giữa các chủ thể trong chuỗi cung ứng mặt hàng này còn chồng chéo nên chi phí đã

bị đẩy lên khá nhiều trong khâu phân phối, dẫn tới giá bán sản phẩm đến tay nông dân cao bất hợp lý Trong khi đó, các đầu mối Trung Quốc thu mua được nguyên liệu của nhà nông Việt dẫn đến một nghịch lý trong chuỗi cung ứng là nhà nông Việt lại liên kết chặt chẽ hơn với khâu sản xuất trong chuỗi cung ứng của họ

Trong lĩnh vực chuỗi cung ứng đối với hàng hóa tiêu dùng, các công đoạn sản xuất, chế biến và phân phối vẫn chưa thực sự gắn kết với nhau và nếu có thì vẫn ở tình trạng manh mún, mạnh ai nấy làm Tại buổi hội thảo “Kinh nghiệm quản lý chuỗi cung ứng đối với một số mặt hàng thiết yếu”, được Bộ Công thương tổ chức mới đây tại TP.HCM, các đại biểu cho rằng, thị trường VN vẫn còn những diễn biến phức tạp, nhiều rủi ro là do sự mất cân đối cung cầu cục bộ Các tác động mang tính tâm lý này

là do chuỗi cung ứng chưa được tổ chức tốt và sự liên kết giữa những chủ thể thiếu chặt chẽ, dễ bị tổn thương khi có diễn biến bất thường Điều này thể hiện trong việc thương lái tự do dễ dàng thu gom nông sản để xuất khẩu sang các nước lân cận khi thị trường

có hiện tượng giảm cung, bất ổn của giá khiến nhà nông không yên tâm sản xuất

Trang 32

2.2.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan

2.2.3.1 Trần Lan Hương (2008) đã nghiên cứu “Chuỗi cung ứng sản phẩm gas tại Công ty Cổ phần Gas Petrolimex”

Nghiên cứu đã tiếp cận một cách toàn diện về quản trị chuỗi cung ứng tại

Công ty Cổ phần Gas Petrolimex và đã giải quyết được một số vấn đề sau:

Về mặt lý luận, nghiên cứu đã hệ thống hóa được những vấn đề cơ bản về quản trị chuỗi cung ứng

Về thực tiễn, nghiên cứu đã tập trung nghiên cứu thực trạng áp dụng mô hình quản trị chuỗi cung ứng của Công ty Cổ phần Gas Petrolimex đến thời điểm năm

2007 Tác giả tìm ra những yếu tố ảnh hưởng đến quản trị chuỗi cung ứng là máy móc, thiết bị, công nghệ sản xuất, lao động, nguyên vật liệu, nguồn vốn, sản phẩm

và thị trường tiêu thụ; đưa ra được cấu trúc chuỗi cung ứng hàng hóa của công ty và nội dung tương ứng với các nội dung của SCM nói chung trong doanh nghiệp [7]

2.2.3.2 Trần Long Phượng (2011) Nghiên cứu chuỗi giá trị tôm sú nghiên liệu cho xuất khẩu tại Nghệ An

Nghiên cứu của tác giả đã chỉ ra chuỗi giá trị Tôm Sú nguyên liệu cho xuất khẩu tại Nghệ An có sự bất hợp lý trong phân phối thu nhập và lợi nhuận giữa các tác nhân trong chuỗi Cụ thể: Ở kênh phân phối thứ nhất lợi nhuận của người nuôi chiếm 37,55% tổng lợi nhuận của chuỗi, lợi nhuận của các tác nhân thương lái thu gom là 38,28% và lợi nhuận của nhà máy chế biến là 24,17%, lợi nhuận của các tác nhân thu gom chiếm 21,8% Trong khi đó người nuôi dễ bị rủi ro nhất, còn hai tác nhân còn lại rất ít bị rủi ro trong kinh doanh Ở kênh phân phối thứ hai thì chỉ có hai tác nhân là người nuôi và nhà máy chế biến, không có tác nhân thương lái thu gom,

tỷ lệ lợi nhuận của người nuôi tôm rất cao (chiếm 76,36% tổng lợi nhuận)

Tuy nhiên bên cạnh đó, nghiên cứu của tác giả cũng có nhiều tồn tại và hạn chế như: đầu vào chưa chủ động được nguồn tôm giống bố mẹ nên không kiểm soát được chất lượng tôm bột sản xuất Chi phí đầu vào ngày càng tăng, nguồn thức ăn công nghiệp/thuốc thủy sản không kiểm soát được về chất lượng và tình trạng gian lận thương mại phổ biến; chưa có thuốc chị đúng bệnh cho tôm Người nuôi tôm luôn trong tình trạng thiếu vốn sản xuất, trong khi đó người nuôi lại không kiểm

Trang 33

soát được giá đầu ra và lệ thuộc vào thị trường; tình trạng nuôi nhỏ lẻ, manh mún khiến cho việc áp dụng kỹ thuật tiên tiến vào quy trình nuôi trở nên khó khăn; sản xuất hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên về thời tiết; sản phẩm tiêu thụ qua nhiều kênh trung gian, người nuôi thường bị ép giá; ý thức liên kết giữa những người nuôi chưa cao nên việc quản lý môi trường nuôi chưa tốt Thiếu thông tin thị trường có nguy cơ bị thiệt hại và không đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường Trong khâu thu gom tôm thương phẩm, tình trạng bơm chích tạp chất không được kiểm soát làm gia tăng nguy cơ mất an toàn vệ sinh Những yếu tố kể trên là mối đe dọa và nguy cơ mất thị trường tiêu thụ, gây thiệt hại lớn cho các doanh nghiệp trước mắt và lâu dài

2.2.3.3 Lê Thị Phượng (2009) Nghiên cứu Chuỗi cung ứng sản phẩm lúa gạo huyện Hải Hậu Nam Định

Nghiên cứu của Lê Thị Phượng đã đề cập một cách toan diện về chuỗi cung ứng lúa gạo huyện Hải Hậu, Nam Định và đã đưa ra nhiều kết luận đáng quan tâm Chuỗi cung ứng lúa gạo huyện Hải Hậu, Nam Định đã hình thành với đầy đủ các thành viên: Nhà sản xuất (nông dân), tác nhân chế biến (bán buôn, xay sát), tác nhân bán buôn, tác nhân bán lẻ Trong đó, tác nhân chế biến là tác nhân hoạt động

có hiệu quả trong chuỗi bởi khối lượng sản phẩm giao dịch của tác nhân này cao nhằm giảm bớt chi phí, lợi nhuận thu được là lớn nhất trong chuỗi chiếm 39,2% tổng lợi nhuận toàn bộ chuỗi Tác nhân sản xuất là người phải bỏ chi phí sản xuất nhiều nhất, sự phân bổ giữa lợi nhuận và lao động chưa hợp lý vì thế giá trị thực của công lao động người nông dân quá thấp Tác giả đã đưa ra các nhóm giải pháp về nguồn hàng, về liên kết, về thị trường tiêu thụ Đó là cần mở rộng sản xuất; liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi với nhau, các tác nhân trong chuỗi với các tác nhân ngoài chuỗi nhằm tìm kiếm thị trường tiêu thụ; quảng bá nâng cao thương hiệu [9]

2.2.3.4 TS Lê Anh Tuấn (2009) Nghiên cứu Chuỗi cung ứng sản phẩm thủy sản

Đây là nghiên cứu về chuỗi cung ứng sản phẩm thủy sản nói chung của Việt Nam Tác giả đã nghiên cứu và đưa ra mô hình một chuỗi cung ứng các sản phẩm thủy sản và qua đó nhận thấy chuỗi cung ứng sản phẩm thủy sản còn tồn tại 3 vấn

đề lớn, đó là:

Trang 34

1/ Khả năng đáp ứng yếu tại từng khâu trong chuỗi Vấn đề này có thể nhận thấy rõ nhất ở khâu nuôi trồng và đánh bắt thủy sản Các hộ nuôi trồng, đánh bắt cần phải cung cấp nguyên liệu với đủ số lượng và chất lượng yêu cầu cho nhà sản xuất Các hộ nông dân nuôi trồng thủy sản thường là các hộ nhỏ lẻ, không có khả năng dự đoán sự vận động của thị trường trong dài hạn để có các điều chỉnh hợp lý Một phần nữa là, một số hộ nông dân do chạy theo lợi ích đã sử dụng quá mức các loại thuốc, hóa chất làm ảnh hưởng tới chất luợng của nguyên liệu thủy sản Ví như tôm, thường bị nhiễm dư lượng hóa chất, kháng sinh cấm sử dụng Đây là tình trạng chạy theo năng suất mà quên đi chất lượng Chất lượng của nguyên liệu thủy sản còn bị ảnh hưởng do không đủ kho lạnh để bảo quản Với các đơn vị đánh bắt nhỏ

lẻ, việc dây dựng kho lạnh đủ tiêu chuẩn là việc rất khó thực hiện Để giải quyết vấn

đề cho khâu này cần có sự liên kết hỗ trợ từ các khâu khác trong chuỗi cung ứng 2/ Thông tin không được chia sẻ tốt giữa các thành viên trong chuỗi Năng lực của các khâu trong chuỗi cung ứng là có hạn, do vậy họ cần có được thông tin tốt từ thị trường và nhu cầu sản phẩm để có những phản ứng và giải pháp kịp thời Nếu bộ phận xuất khẩu có thể cung cấp những thông tin chính xác về nhu cầu thị trường, bộ phận chế biến sẽ có thời gian chuẩn bị năng lực để sản xuất và bộ phận nguyên liệu sẽ có thời gian để chuẩn bị nguồn nguyên liệu được tốt hơn Nếu thông tin không tốt, có thể xảy ra hai tình huống tại bộ phận cung cấp nguyên liệu: khi nhu cầu nguyên liệu tăng cao, khâu đánh bắt không thể đáp ứng được; khi nhu cầu giảm, nhưng đánh bắt quá nhiều sẽ làm cho giá nguyên liệu sụt giảm gây thiệt hại cho khâu cung cấp nguyên liệu

3/ Không có sự cam kết chặt chẽ giữa các thành viên trong chuỗi Khi các thành viên trong chuỗi hợp tác với nhau, họ phải có được sự cam kết vững chắc, đảm bảo các bên tuân thủ hợp đồng đã ký, không vì lợi ích trước mắt mà vi phạm hợp đồng Việc này ảnh hưởng rất nhiều đến sư ổn định của chất lượng sản phẩm đầu ra – một trong những vấn đề cốt yếu của sản phẩm thủy sản Việt Nam

Trang 35

3 ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm cơ bản về Công ty TNHH MTV kinh doanh khí hóa lỏng Hà Nội

3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty

Công ty kinh doanh khí hoá lỏng miền Bắc được thành lập theo Quyết định số 826/QĐ-DKVN ngày 12/4/2006 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam trên cơ sở Xí nghiệp kinh doanh sản phẩm Khí miền Bắc thuộc Công ty Chế biến và Kinh doanh sản phẩm khí (được thành lập theo Quyết định số 2062/QĐ-HĐQT ngày 29/11/2000 của Hội đồng quản trị Tổng công ty Dầu khí Việt Nam) và bộ phận kinh doanh khí hoá lỏng của Công ty Thương mại Dầu khí tại các tỉnh phía Bắc

Để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, tạo chủ động cho doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh, ngày 20/12/2006 Bộ trưởng Bộ Công nghiệp đã ký Quyết định số 3733/QĐ-BCN về việc phê duyệt phương án và chuyển Công ty Kinh doanh khí hoá lỏng Miền Bắc thành Công ty cổ phần Kinh doanh khí hoá lỏng Miền Bắc Hiện nay, PVGas North là thành viên của Tổng công ty Khí trực thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam

Công ty TNHH MTV kinh doanh khí hóa lỏng Hà Nội là công ty thành viên của Công ty cổ phần kinh doanh khí hoá lỏng miền Bắc, thuộc Tập Đoàn Dầu Khí Việt Nam, Công ty hạch toán độc lập, có trụ sở tại thành phố Hà Nội, có con dấu riêng để giao dịch và được mở tài khoản tại hệ thống Ngân hàng và kho bạc nhà nước theo quy định của Pháp luật

Công ty được thành lập theo quyết định số 37/QĐ-KMB ngày 23/07/2007 của Hội Đồng Quản Trị Công ty cổ phần kinh doanh khí hóa lỏng Miền Bắc về việc thành lập Công ty TNHH MTV kinh doanh khí hóa lỏng Hà Nội

Công ty có nhiệm vụ nhận và sử dụng hiệu quả, bảo toàn và phát triển nguồn vốn được giao, sử dụng hiệu quả tài nguyên đất đai và các nguồn lực khác để phục

vụ mục tiêu sản xuất kinh doanh Chịu sự quản lý và giám sát của chủ sở hữu, các

cơ quan chức năng trong việc xây dựng và thực hiện chiến lược kinh doanh, cơ cấu

tổ trức quản lý của công ty Thực hiện các nghị quyết, quyết định của chủ sở hữu có liên quan đến công ty Báo cáo định kỳ và đột xuất tình hình mọi mặt của công ty, tạo điều kiện để đại diện chủ sở hữu kiểm tra, giám sát hoạt động của công ty Chịu

Trang 36

sự kiểm tra, kiểm soát của chủ sở hữu trong việc thực hiện Điều lệ công ty, các nghị quyết, quyết định của chủ sở hữu và các quy định của pháp luật

Các lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của công ty bao gồm: kinh doanh khí hoá lỏng và các sản phẩm dầu khí; kinh doanh vật tư, thiết bị, phụ kiện; kho bãi, trạm chiết nạp khí hoá lỏng; dịch vụ vận tải khí hoá lỏng; tư vấn, thiết kế, đầu tư, chuyển giao công nghệ, bảo dưỡng, sửa chữa, lắp đặt máy, thiết bị và các dịch vụ khác phục

vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh gas; đại lý mua, bán, ký gửi hàng hoá;

Hình thức, tên gọi, địa chỉ của Công ty

- Tên rút gọn: Công ty khí hóa lỏng Hà Nội

- Tên giao dịch quốc tế: HANOI PETROVIETNAM GAS COMPANY LIMITED

- Tên viết tắt: PVGAS HN CO.,LTD

Ngành nghề kinh doanh của công ty

- Kinh doanh khí hoá lỏng và các sản phẩm dầu khí;

- Kinh doanh vật tư, thiết bị, phụ kiện; kho bãi, trạm chiết nạp khí hoá lỏng;

Trang 37

- Xuất khẩu các mặt hàng công ty kinh doanh;

- Đại lý mua, bán, ký gửi hàng hoá;

- Sản xuất thùng, bể chứa và dụng cụ chứa bằng kim loại và tương tự kim loại để chứa hoặc phục vụ sản xuất; Sản xuất thùng chứa bằng kim loại cho nén và hoá lỏng khí đốt;

- Sửa chữa và bảo dưỡng thùng chứa, bể chứa bằng kim loại và dụng cụ chứa tương tự kim loại để chứa hoặc phục vụ sản xuất hoặc nén và hoá lỏng khí đốt;

- Giám định kỹ thuật chai chứa khí hoá lỏng và các thiết bị chịu áp lực;

- Kiểm định kỹ thuật an toàn đối với chai chứa khí hoá lỏng và các thiết bị chịu áp lực

Từ khi thành lập, với sự quan tâm và hỗ trợ thường xuyên từ công ty mẹ, công ty đã không ngừng phát triển và ngày càng lớn mạnh hơn Công ty đã tạo dựng được uy tín trên thị trường với các đại lý và các hãng gas khác Bình gas có thương hiệu petrovietnam trên thị trường từ khi ra đời cho đến nay đã có mặt tại hầu hết các tỉnh thành của công ty hoạt động Công ty đã tạo dựng được những mối quan hệ khăng khít với đa số các khách hàng đã từng làm việc với công ty trong định hướng chung, cùng hợp tác và phát triển để hướng tới tương lai bền vững

Công ty chủ động trong việc xác lập giá bán LPG cho từng thị trường, từng khách hàng cụ thể trong những giai đoạn nhất định, nhằm mục đích ổn định giá trong những thời kỳ giá gas trên thị trường tăng quá cao hoặc bất ổn về giá bán Nhờ có sự ổn định về giá và chất lượng nên khách hàng đến với công ty ngày một tăng qua các thời kỳ Năm 2007 Công ty Hà Nội có 38 đại lý, 8 khách hàng sản xuất trực tiếp, hai cửa hàng trực thuộc công ty Năm 2010 Công ty đã có 106 đại lý 32 khách hàng lớn, 26 cửa hàng trực thuộc Năm 2013 Công ty đã tăng vọt số đại lý thành 198 đại lý và có 9 đơn vị trực thuộc tại Hà Nội và các tỉnh phía Bắc

Trang 38

- Bình 45 kg 5.000 tấn/năm

* Thành tích và Thương hiệu: :

- Huân chương lao động hạng nhất

- Huân chương lao động hạng nhì

- Hàng Việt Nam chất lượng cao: do người tiêu dùng bình chọn

3.1.2 Bộ máy tổ chức của công ty

Để đảm bảo quản lý tốt sản xuất nhằm sản xuất có hiệu quả Công tác quản

lý của nhà máy được tổ chức theo mô hình trực tiếp chức năng với bộ máy quản lý gọn nhẹ, quản lý theo chế độ một thủ trưởng đứng đầu là Giám đốc công ty là người đại diện pháp nhân của công ty được Tổng công ty khí bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng và kỷ luật theo đề nghị của Tổng công ty khí Việt Nam

- Giám đốc: Là người đại diện cho công ty, có quyền quyết định và điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty theo các quy định của pháp luật nhà nước và chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động và kết quả sản xuất kinh doanh của công ty

- Công ty có 4 phòng ban chức năng chuyên môn nghiệp vụ tham mưu giúp việc cho giám đốc

Sơ đồ 6: Sơ đồ bộ máy quản lý của Công ty

(Nguồn: Phòng tổ chức hành chính)

GIÁM ĐỐC

PHÒNG TÀI CHÍNH KẾ TOÁN

PHÒNG KỸ THUẬT

AN TOÀN CL

PHÒNG KINH DOANH

PHÒNG TỔ CHỨC

HÀNH CHÍNH

Trang 39

* Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban

- Phòng tổ chức hành chính: Có chức năng xây dựng phương án kiện toàn bộ máy tổ chức trong công ty, quản lý nhân sự, thực hiện công tác hành chính quản trị

- Phòng kinh doanh: Chịu trách nhiệm về mảng kinh doanh, vốn

- Phòng kỹ thuật và an toàn chất lượng: Chịu trách nhiệm về lĩnh vực kỹ thuật sản xuất, chất lượng sản phẩm và an toàn trong làm việc

- Phòng kế toán tài chính: Có chức năng giúp Giám đốc về công tác quản lý tài chính, kế toán, thống kê trong toàn công ty nhằm đảm bảo các hoạt động tài chính,

kế toán thống kê của công ty theo đúng quy định của pháp luật và chế độ hiện hành

* Chức năng và nhiệm vụ của các bộ phận còn lại trong công ty

- Trung tâm kỹ thuật: Là trung tâm kiểm tra bảo trì bình chứa gas, sữa chữa làm mới bình gas theo định kỳ hoặc theo yêu cầu

Sơ đồ 7: Sơ đồ mặt bằng bên trong phân xưởng

- Trạm nạp LPG: Trung tâm chiết nạp gas lỏng từ bồn dung tích lớn sang các bình chứa dung tích nhỏ hơn

- Ngoài ra còn có tổ bảo vệ: Chịu trách nhiệm về an toàn ở những khâu đầu tiên và giám sát an toàn cháy nổ

3.1.3 Tình hình lao động của Công ty

Lao động là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh có ảnh hưởng quyết định đến quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Năng lực chủ yếu của

Trang 40

doanh ngoài vốn, công nghệ thì lao động cũng là một chỉ tiêu để đánh giá Do đó muốn hoạt động kinh doanh có hiệu quả thì phải quản lý và sử dụng hợp lý nguồn lao động

* Xét về mặt số lượng: Năm 2011 số lao động tại Công ty là 91 người So với

năm 2011, năm 2012 tăng 7 người, tương ứng với tỷ lệ 3,7% Đến năm 2013 toàn Công ty có 90 lao động Lực lượng lao động của Công ty có sự giảm sút so với năm

2012 là 8 người, tương ứng với tỷ lệ 4,2% Năm 2014, lao động của toàn Công ty là

82 người, so với năm 2013 giảm 8 người, tương ứng với tỷ lệ 4,6%

* Xét về mặt trình độ lao động: Công ty chủ trương nâng cao trình độ tay

nghề cho cán bộ công nhân viên Qua mỗi năm, lao động có trình độ đại học đều tăng lên Năm 2012 tăng hơn so với năm 2011 là 2 người tương ứng với 7,1% Năm

2013 lao động có trình độ đại học là 18 người, tương ứng với tỷ lệ 9% Năm 2014 lao động trình độ đại học là 19 người, tương ứng với tỷ lệ 2,7% Trình độ trên đại học 9 người, đều nắm giữ những chức vụ chủ chốt trong Công ty

* Xét về mặt giới tính: Qua biến động lao động của Công ty qua bốn năm

2011 – 2014 thì ta thấy nam nhiều hơn nữ và chiếm gần như đa số so với lao động toàn Công ty Năm 2011 là 83/91 ứng với tỷ lệ là 91,21% Năm 2012 là 86/98 ứng với 87,75% Năm 2013 tỷ lệ nam/nữ là 79/11 ứng với 87,78% Năm 2014 tỷ lệ nam/nữ là 73/9 ứng với 89,02% Điều này phù hợp với tính chất công việc của Công ty khí hóa lỏng Hà Nội Một ví dụ điền hình như: tại các phòng kế toán, văn phòng công ty hầu hết là nữ chiếm phần nhiều Còn khối sản xuất, khối kỹ thuật thì chủ yếu là nam giới

* Xét theo tính chất sản xuất: Là doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nên lao

động trực tiếp chiếm tỷ trọng lớn trong lao động của Công ty Năm 2011 có lao động trực tiếp là 80 người Năm 2012 có 85 lao động trực tiếp, tăng thêm 5 lao động tương ứng với 3% Tới năm 2013 lao động trực tiếp là 81 người, giảm so với năm 2012 là 4 người ứng với 2,4% Năm 2014, số lao động trực tiếp là 74 người so với năm 2013 giảm 7 người, tương ứng 4,5% Sự biến động về lao động tại Công ty đang dần hợp lý Lao động được bố trí và sử dụng hiệu quả, tận dụng tối đa nguồn lực, giúp giảm chi phí, tăng lợi nhuận

Ngày đăng: 17/09/2015, 20:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Chuỗi cung ứng (Lee & Billington, 1995) - nghiên cứu chuỗi cung ứng sản phẩm gas tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên kinh doanh khí hóa lỏng hà nội
Sơ đồ 1 Chuỗi cung ứng (Lee & Billington, 1995) (Trang 14)
Sơ đồ 3: Chuỗi cung ứng mở rộng (Micheal Hugos, 2003) - nghiên cứu chuỗi cung ứng sản phẩm gas tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên kinh doanh khí hóa lỏng hà nội
Sơ đồ 3 Chuỗi cung ứng mở rộng (Micheal Hugos, 2003) (Trang 17)
Sơ đồ 5: 5 Thành phần chính của chuỗi cung ứng - nghiên cứu chuỗi cung ứng sản phẩm gas tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên kinh doanh khí hóa lỏng hà nội
Sơ đồ 5 5 Thành phần chính của chuỗi cung ứng (Trang 20)
Hình 2. Tác động roi da - nghiên cứu chuỗi cung ứng sản phẩm gas tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên kinh doanh khí hóa lỏng hà nội
Hình 2. Tác động roi da (Trang 28)
Hình 1. Hiệu quả Bullwhip - nghiên cứu chuỗi cung ứng sản phẩm gas tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên kinh doanh khí hóa lỏng hà nội
Hình 1. Hiệu quả Bullwhip (Trang 28)
Sơ đồ 6: Sơ đồ bộ máy quản lý của Công ty - nghiên cứu chuỗi cung ứng sản phẩm gas tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên kinh doanh khí hóa lỏng hà nội
Sơ đồ 6 Sơ đồ bộ máy quản lý của Công ty (Trang 38)
Sơ đồ 7: Sơ đồ mặt bằng bên trong phân xưởng - nghiên cứu chuỗi cung ứng sản phẩm gas tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên kinh doanh khí hóa lỏng hà nội
Sơ đồ 7 Sơ đồ mặt bằng bên trong phân xưởng (Trang 39)
Bảng 1: Tình hình biến động lao động của Công ty qua 3 năm (2012 – 2014) - nghiên cứu chuỗi cung ứng sản phẩm gas tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên kinh doanh khí hóa lỏng hà nội
Bảng 1 Tình hình biến động lao động của Công ty qua 3 năm (2012 – 2014) (Trang 41)
Bảng 2: Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty qua 3 năm (2012 – 2014) - nghiên cứu chuỗi cung ứng sản phẩm gas tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên kinh doanh khí hóa lỏng hà nội
Bảng 2 Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty qua 3 năm (2012 – 2014) (Trang 44)
Sơ đồ 8:  Khung phân tích - nghiên cứu chuỗi cung ứng sản phẩm gas tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên kinh doanh khí hóa lỏng hà nội
Sơ đồ 8 Khung phân tích (Trang 45)
Bảng 3 : Số phiếu điều tra các tác nhân tham gia vào chuỗi cung ứng sản phẩm - nghiên cứu chuỗi cung ứng sản phẩm gas tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên kinh doanh khí hóa lỏng hà nội
Bảng 3 Số phiếu điều tra các tác nhân tham gia vào chuỗi cung ứng sản phẩm (Trang 47)
Bảng 4:  Phân tích ma trận SWOT - nghiên cứu chuỗi cung ứng sản phẩm gas tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên kinh doanh khí hóa lỏng hà nội
Bảng 4 Phân tích ma trận SWOT (Trang 49)
Bảng 8: Giá bán gas qua các năm - nghiên cứu chuỗi cung ứng sản phẩm gas tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên kinh doanh khí hóa lỏng hà nội
Bảng 8 Giá bán gas qua các năm (Trang 56)
Bảng 11: Chính sách giảm giá theo sản lượng tiêu thụ LPG của đại lý - nghiên cứu chuỗi cung ứng sản phẩm gas tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên kinh doanh khí hóa lỏng hà nội
Bảng 11 Chính sách giảm giá theo sản lượng tiêu thụ LPG của đại lý (Trang 59)
Sơ đồ 9: Chuỗi cung ứng sản phẩm gas tại công ty TNHH MTV kinh doanh khí hóa lỏng Hà Nội - nghiên cứu chuỗi cung ứng sản phẩm gas tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên kinh doanh khí hóa lỏng hà nội
Sơ đồ 9 Chuỗi cung ứng sản phẩm gas tại công ty TNHH MTV kinh doanh khí hóa lỏng Hà Nội (Trang 62)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w