Đất đai là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố khu dân cư và là nơi diễn ra các hoạt động kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng Giao đất nông - l
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN VĂN LƯU
TĂNG CƯỜNG GIAO ĐẤT GIAO RỪNG PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN VĂN LƯU
TĂNG CƯỜNG GIAO ĐẤT GIAO RỪNG PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ : 60.34.04.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN TUẤN SƠN
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả
nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng để bảo vệ ở bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án này đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Lưu
Trang 4Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS TS Nguyễn Tuấn Sơn, người thầy tâm huyết đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn Đạt được kết quả này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến quý thầy, cô giáo trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã nhiệt tình giảng dạy giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
Tôi cảm ơn lãnh đạo và các phòng ban của huyện Hương Sơn, cùng toàn thể lãnh đạo 3 xã Sơn Kim 1, Sơn Phú, Sơn Mai và các hộ nông dân của 3 xã trên đã giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân luôn bên cạnh tôi động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết, tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy, cô giáo; đồng chí và đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
2.1.1 Một số khái niệm về “giao đất, giao rừng” 5
2.1.3 Tiến trình thực hiện giao đất giao rừng cho hộ gia đình 13 2.1.4 Các chính sách quy định việc giao đất giao rừng 15 2.1.5 Tác động của chính sách giao đất, giao rừng 19 2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc thực hiện giao đất, giao rừng 21
2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trong giao đất giao rừng nhằm phát triển
2.2.2 Thực tiễn giao đất giao rừng của nước ta từ 2006 đến nay 26
Trang 62.2.3 Kết quả giao đất nông - lâm nghiệp ở nước ta 38
3.1.1 Đặc điểm về tự nhiên của huyện Hương Sơn 41 3.1.2 Đặc điểm về kinh tế xã hội của huyện Hương Sơn 43 3.1.3 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của huyện trong phát triển kinh tế 51
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu và mẫu điều tra 52
4.1 Tình hình triển khai giao đất giao rừng trên địa bàn huyện Hương Sơn 58 4.1.1 Khái quát tình hình quản lý đất đai trên điạ bàn huyện Hương Sơn 58 4.1.2 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Hương Sơn 59 4.1.3 Tình hình quản lý và sử dụng đất của 3 xã nghiên cứu 62 4.2 Ảnh hưởng của giao đất, giao rừng đến sản xuất nông lâm nghiệp của
4.2.1 Tình hình đầu tư của các hộ nhận đất, rừng trên địa bàn huyện Hương Sơn 75 4.2.2 Hiệu quả của công tác giao đất giao rừng trên địa bàn huyện Hương Sơn 81 4.3 Các yếu tố ảnh hưởng triển khai thực hiện giao đất giao rừng ở huyện
4.3.1 Chính sách giao đất giao rừng của Nhà nước 92 4.3.2 Công tác triển khai thực hiện chính sách giao đất giao rừng tại địa phương 93 4.3.3 Ý thức của người dân trong việc phát triển sản xuất nông lâm nghiệp 94 4.4 Giải pháp nhằm tăng cường giao đất giao rừng, phát triển sản xuất nông lâm nghiệp ở huyện Hương Sơn thời gian tới 96
Trang 7PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98
Trang 9DANH MỤC BẢNG
3.1 Đặc điểm khí hậu, thời tiết của huyện Hương Sơn 43 3.2 Dân số và lao động của huyện Hương Sơn qua 3 năm (2012 – 2014) 44 3.3 Kết quả sản xuất của huyện Hương Sơn qua 3 năm (2012 – 2014) 49
4.1 Tình hình đất đai của huyện Hương Sơn qua 3 năm (2012 – 2014) 61
4.3 Diện tích và cơ cấu sử dụng đất của 3 xã năm 2014 68 4.4 So sánh tình hình sử dụng đất của 3 xã trước và sau khi giao đất 69 4.5 So sánh tình hình sử dụng đất của từng xã trước và sau khi giao đất 70
4.7 Ý kiến người dân về tiếp cận chính sách giao đất giao rừng 73 4.8 Tình hình đầu tư tư liệu sản xuất của các hộ gia đình (Trước và sau khi
4.9 Tình hình vay vốn của 300 hộ gia đình ở 3 xã điều tra 79
4.11 Cơ cấu diện tích một số cây trồng chính của các hộ gia đình sau khi giao
4.12 So sánh năng suất một số loại cây trồng chính trước và sau khi giao đất 84 4.13 Tình hình mua sắm tài sản của hộ gia đình ở 3 xã điều tra 86 4.14 So sánh tình hình tranh chấp đất đai và sử dụng đất sai mục đích ở 3 xã
4.15 Số hộ nhận biết được đất của gia đình trên bản đồ 94 4.16 Số hộ xin được giao đất sẽ phát triển sản xuất nông nghiệp 95 4.17 Đánh giá của người dân về năng lực cán bộ địa phương 95
Trang 10DANH MỤC HÌNH
4.1 Tỷ lệ đất lâm nghiệp được giao cho các nhóm sử dụng 93
Trang 11PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của quốc gia Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, giới hạn về diên tích, hình thể nhưng mức độ sản xuất lại phụ thuộc vào sự đầu tư, khai thác sử dụng của con người Đất đai là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố khu dân cư và là nơi diễn ra các hoạt động kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng
Giao đất nông - lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông - lâm nghiệp theo quy hoạch và kế hoạch là một chủ trương chính sách lớn của Đảng và Nhà nước từ nhiều năm nay, nhằm gắn lao động với đất đai tạo động lực phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp, từng bước ổn định và phát triển tình hình kinh tế xã hội, tăng cường an ninh quốc phòng
Luật đất đai sửa đổi năm 1993 được quốc hội thông qua ngày 14/07/1993
và có hiệu lực từ ngày 15/10/1995 đã thừa nhận 5 quyền cơ bản của người sử dụng đất quan hệ sản xuất nông lâm nghiệp được xác lập trên cơ sở giao đất cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài đã trở thành động lực thúc đẩy sản xuất ngành nông lâm nghiệp phát triển
Bên cạnh đó, còn có một số văn bản như Nghị định 64/CP ngày 27/09/1993 quy định “ Giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích nông nghiệp” Nghị định 02/CP ngày 15/01/1994 quy định “giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, tổ chức, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp” Nghị định 163/1999/NĐ-CP ban hành ngày 16/11/1999 bổ sung và thay thế một số điều trong nghị định 02/CP
Luật bảo vệ và phát triển rừng do Quốc hội khóa XI thông qua năm 2004
và các văn bản có liên quan đến giao đất giao rừng và hưởng dụng rừng như Nghị định 135/2005 NĐ-CP về giao khoán đất, quyết định 186/2006/QĐ-CP về
Trang 12quy chế quản lý rừng, quyết định số 40/2005/QĐ–BNN về khai thác và chế biến lâm sản
Thực tiễn những năm qua cho thấy, chính sách giao đất giao rừng đã thực
sự đi vào cuộc sống, đáp ứng được nguyện vọng của người dân, tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống, nhiều hộ nông dân có thu nhập khá
từ các hoạt động sản xuất kinh doanh trên đất được giao Tuy nhiên, việc vận dụng triển khai chính sách ở các địa phương lại có những thuận lợi và khó khăn riêng Chính vì vậy, mà tác động của chính sách này đến sản xuất nông lâm nghiệp của mỗi địa phương cũng khác nhau và mang tính đặc thù của mỗi vùng
Do đó việc đánh giá công tác quản lý giao đất giao rừng nhằm phát triển sản xuất nông lâm nghiệp là một yêu cầu hết sức cần thiết
Huyện Hương Sơn nằm về phía Tây của tỉnh Hà Tĩnh là một trong những huyện đã triển khai sớm chính sách giao đất giao rừng trên toàn tỉnh Hương Sơn
có dân số gần 12 vạn người và diện tích đất tự nhiên là 110.31 ha; diện tích đất nông nghiệp chiếm 60% diện tích đất tự nhiên và lao động nông nghiệp chiếm 66,8% tổng dân số Hoạt động sản xuất của huyện Hương Sơn chủ yếu là sản xuất nông lâm nghiệp với đa dạng các loại hình kinh tế vườn, trồng lúa, rau màu, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng
Tuy nhiên, công tác giao đất giao rừng và việc quản lý đất, rừng trong thời gian qua ở huyện Hương Sơn còn nhiều bất cập, hạn chế như: hiệu quả sử dụng còn thấp, một số diện tích sử dụng chưa đúng mục đích, nguồn thu từ rừng chưa tương xứng với tiềm năng; tiến độ giao đất, giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đát còn chậm Trong khi đó, đời sống của một số bộ phận người dân ở gần rừng còn gặp nhiều khó khăn, thiếu đất sản xuất Xuất phát từ những
vấn đề cầm tháo gỡ trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Tăng cường giao đất giao rừng phát triển sản xuất nông lâm nghiệp trên địa bàn huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh”
Trang 131.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác giao đất giao rừng ở huyện Hương Sơn thời gian qua đề xuất các giải pháp tăng cường giao đất giao rừng nhằm phát triển sản xuất nông lâm nghiệp tại địa phương thời gian tới
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu này được đặt ra nhằm trả lời các câu hỏi sau đây liên quan đến công tác giao đất, giao rừng phát triển sản xuất nông lâm nghiệp ở huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh:
1 Tình hình triển khai giao đất giao rừng tại huyện Hương Sơn thời gian qua diễn ra như thế nào?
2 Sản xuất nông lâm nghiệp phát triển như thế nào sau khi thực hiện giao đất giao rừng cho các hộ gia đình?
3 Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc triển khai giao đất, giao rừng cho các hộ gia đình trên địa bàn huyện Hương Sơn?
4 Để tăng cường giao đất, giao rừng phát triển sản xuất nông lâm nghiệp của địa phương thời gian tới cần đề xuất những giải pháp nào?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác giao đất, giao rừng phát triển sản xuất nông lâm nghiệp trên địa bàn huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
Trang 14Đối tượng khảo sát là các đơn vị thực hiện giao đất, giao rừng và các hộ gia đình nhận đất rừng phát triển sản xuất nông lâm nghiệp ở huyện Hương Sơn
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi về nội dung
Đề tài tập trung vào đánh giá thực trạng giao đất giao rừng, nghiên cứu các yếu
tố ảnh hưởng đến công tác giao đất giao rừng, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường giao đất giao rừng phát triển sản xuất nông lâm nghiệp
* Phạm vi về không gian
Đề tài được nghiên cứu tại huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
* Phạm vi về thời gian
- Số liệu thu thập phục vụ nghiên cứu đề tài trong giai đoạn 2010 – 2014
- Đề tài được nghiên cứu từ tháng 4/2014 – 5/2015
Trang 15PHẦN II
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm về “giao đất, giao rừng”
Quản lý đất đai bao gồm các quy trình để sử dụng tài nguyên đất có hiệu quả Đây chủ yếu là trách nhiệm của chủ sở hữu đất Chính phủ cũng có mục tiêu tăng cường quản lý đất đai hiệu quả như là một phần của mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội bền vững (Bộ Tài nguyên & Môi trường, 1993)
Quản lý hành chính về đất đai liên quan đến việc xây dựng cơ chế quản
lý quyền đối với đất đai và sử dụng đất, quá trình sử dụng đất và giá trị của đất đai thuộc thẩm quyền của Chính phủ để thúc đẩy quản lý đất đai hiệu quả, bền vững và bảo đảm quyền về tài sản (Bộ Tài nguyên & Môi trường, 1993)
Quản lý Nhà nước về đất đai có thể có nhiều nghĩa khác nhau tại các nước khác nhau Quản lý nhà nước về đất đai có thể đồng nghĩa với quản lý đất đai, tập trung vào cách thức Chính phủ xây dựng và thực hiện các chính sách đất đai và quản lý đất đai cho tất cả các loại đất không phân biệt quyền sử dụng đất
Cụ thể hơn, đây là quá trình Nhà nước quản lý đất đai thuộc sở hữu của Nhà nước và giao đất cho các mục đích sử dụng khác nhau (Bộ Tài nguyên & Môi trường, 1993)
Giao đất là việc Nhà nước với vai trò là chủ sở hữu về đất đai tiến hành giao đất cho các tổ chức thuộc Nhà nước và bên ngoài Nhà nước như hộ gia đình
và cá nhân nhằm sử dụng đất theo kế hoạch đã được Nhà nước phê duyệt Trong
cơ chế này, mối quan hệ giữa Nhà nước và các nhóm được giao đất, thông qua đất đai, được điều chỉnh bằng pháp luật hành chính, với quyền lợi và trách nhiệm của người giao và người nhận đất được quy định cụ thể theo luật đất đai (Bộ Tài nguyên & Môi trường, 1993)
Giao đất giao rừng cho các hộ gia đình và cá nhân (sau đây được gọi chung là hộ) sẽ giúp hộ tiếp cận tốt hơn đối với đất đai Theo cách lập luận này, khi các hộ được nhận đất và các quyền sử dụng đất lâu dài hộ sẽ có động lực để
Trang 16đầu tư phát triển và bảo vệ rừng, tạo cơ hội nâng cao sinh kế và ổn định cuộc sống, từ bỏ canh tác nương rẫy Theo cách nghĩ này, khi sinh kế các hộ được cải thiện hộ sẽ có điều kiện tiếp tục thực hiện đầu tư vào phát triển và bảo vệ rừng,
cải thiện môi trường sinh thái (Bộ Tài nguyên & Môi trường, 1993)
2.1.2 Quy trình về giao đất, giao rừng
2.1.2.1 Trách nhiệm thực hiện
Theo luật đất đai năm 2003 của Bộ Tài nguyên & Môi trường, trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong thực hiện giao đất, giao rừng như sau:
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
a) Chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc và hướng dẫn địa phương thực hiện việc giao rừng, thuê rừng gắn liền với giao đất, thuê lâm nghiệp theo quy định của pháp luật
b) Hướng dẫn và tổng hợp thống kê, kiểm kê tình hình quản lý, sử dụng rừng trên phạm vi toàn quốc bảo đảm sự thống nhất với thống kê diện tích đất lâm nghiệp
do ngành Tài nguyên và Môi trường thực hiện
c) Cung cấp thông tin về rừng và tình hình giao rừng, cho thuê rừng trong toàn quốc cho Bộ Tài nguyên và Môi trường
d) Chỉ đạo công tác thông tin tuyên truyền về giao rừng, thuê rừng gắn liền với giao đất, thuê đất lâm nghiệp
e) Tổ chức chỉ đạo xây dựng, cập nhật cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin và lưu trữ cơ sở dữ liệu về giao rừng, thuê rừng; hồ sơ giao rừng, thuê rừng gắn liền với giao đất, thuê đất lâm nghiệp; cung cấp các thông tin trong cơ sở dữ liệu cho Bộ Tài nguyên và Môi trường
Bộ Tài nguyên và Môi trường
a) Chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc và hướng dẫn địa phương trong công tác giao đất, thuê đất lâm nghiệp gắn liền với giao rừng, thuê rừng theo quy định của pháp luật
b) Hướng dẫn và tổng hợp việc thống kê, kiểm kê tình hình quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp trên phạm vi toàn quốc bảo đảm sự thống nhất với thống kê diện tích rừng do ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện
c) Cung cấp thông tin về đất lâm nghiệp và tình hình giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 17d) Tổ chức chỉ đạo xây dựng, cập nhật và lưu trữ hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu địa chính, Giấy chứng nhận thống nhất với hồ sơ giao rừng, thuê rừng; cung cấp các thông tin trong cơ sở dữ liệu cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
a) Chỉ đạo việc lập, phê duyệt và tổ chức thực hiện đề án giao rừng, cho thuê rừng tổng thể gắn liền với giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp trên địa bàn; tổ chức thực hiện việc thu hồi rừng, đất lâm nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng
b) Chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã) phối hợp thực hiện đồng thời việc giao rừng, thuê rừng gắn liền với giao đất, thuê đất lâm nghiệp theo hướng dẫn tại Thông tư này c) Chỉ đạo cơ quan chức năng các cấp phối hợp kiểm tra, xử lý dứt điểm tình trạng tranh chấp, vi phạm pháp luật đất đai của các tổ chức đang quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp
d) Quyết định việc giao rừng, thuê rừng thống nhất, gắn liền với việc giao đất, thuê đất lâm nghiệp và cấp Giấy chứng nhận theo thẩm quyền
đ) Chỉ đạo các cơ quan chức năng, Ủy ban nhân dân cấp dưới hoàn chỉnh hồ sơ
và quyết định việc giao rừng, cho thuê rừng đối với thửa đất đã giao, đã cho thuê,
đã được công nhận quyền sử dụng đất; quyết định việc giao đất, cho thuê đất và cấp Giấy chứng nhận đối với thửa đất đã giao rừng, cho thuê rừng
e) Chỉ đạo các cơ quan Tài nguyên và Môi trường cung cấp các thông tin trong
hồ sơ địa chính, bản đồ địa chính và tài liệu có liên quan đến đất lâm nghiệp cho
cơ quan Kiểm lâm tại địa phương để phục vụ cho công tác giao rừng, thuê rừng
Ủy ban nhân dân cấp huyện
a) Chỉ đạo việc lập phương án giao rừng, cho thuê rừng tổng thể trên địa bàn huyện trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt và tổ chức thực hiện; phê duyệt các phương án giao rừng tổng thể của Ủy ban nhân dân cấp xã
b) Chỉ đạo thực hiện việc giao rừng, thuê rừng, thu hồi rừng thống nhất với việc giao đất, thuê đất và thu hồi đất lâm nghiệp theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng
Trang 18c) Quyết định việc giao, cho thuê rừng thống nhất, gắn liền với việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp và cấp Giấy chứng nhận theo thẩm quyền
d) Chỉ đạo các cơ quan chức năng hoàn chỉnh hồ sơ và quyết định việc giao rừng, cho thuê rừng đối với thửa đất đã giao, đã cho thuê, đã được công nhận quyền sử dụng đất; quyết định việc giao đất, cho thuê đất và cấp Giấy chứng nhận đối với thửa đất đã giao rừng, cho thuê rừng
Ủy ban nhân dân cấp xã
a) Thông báo công khai và cung cấp đầy đủ các thông tin về công tác giao rừng, thuê rừng và giao đất, thuê đất lâm nghiệp, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất và chủ rừng trên địa bàn
b) Rà soát, nắm bắt tình hình quản lý, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp của các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn trên địa bàn xã; phối hợp với các cơ quan chuyên môn cấp trên trong việc rà soát, nắm bắt tình hình quản lý, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp của tổ chức trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài trên địa bàn xã
c) Tổ chức việc tiếp nhận và xử lý hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận, hồ sơ giao rừng theo quy định; tổ chức việc bàn giao rừng hoặc nhận lại rừng ngoài thực địa
d) Thực hiện cập nhật hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quản lý hồ sơ rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn xã
Cơ quan Kiểm lâm các cấp
a) Tham mưu cho cấp có thẩm quyền tổ chức thực hiện công tác giao rừng, thuê rừng gắn liền với giao đất, thuê đất lâm nghiệp
b) Thực hiện công tác giao rừng, cho thuê rừng gắn liền với giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp; quản lý hồ sơ giao rừng, thuê rừng ở địa phương
c) Tổ chức triển khai công tác thông tin tuyên truyền về giao rừng, thuê rừng gắn với giao, thuê đất lâm nghiệp
d) Phối hợp với cơ quan Tài nguyên và Môi trường cùng cấp để cung cấp, trao đổi thông tin cần thiết phục vụ cho công tác giao rừng, thuê rừng và giao đất, thuê đất lâm nghiệp; đảm bảo thông tin về rừng trong hồ sơ giao rừng, thuê rừng phù hợp với hồ sơ địa chính và Giấy chứng nhận
Trang 19đ) Kiểm tra, giám sát việc quản lý, bảo vệ và sử dụng rừng của các chủ rừng sau khi đã được được giao, cho thuê rừng và cấp Giấy chứng nhận
e) Tổ chức xây dựng, cập nhật cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin và lưu trữ cơ sở
dữ liệu về giao rừng, thuê rừng; tổng hợp báo cáo theo quy định hiện hành g) Phối hợp với cơ quan Tài nguyên và Môi trường giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp kiểm tra, thanh tra xử lý các vi phạm và tranh chấp trong việc sử dụng đất lâm nghiệp của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật
Cơ quan Tài nguyên và Môi trường các cấp
a) Tham mưu cho cấp có thẩm quyền tổ chức thực hiện công tác giao đất, thuê đất lâm nghiệp gắn liền với giao rừng, thuê rừng
b) Thực hiện công tác giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp gắn liền với giao rừng, cho thuê rừng; quản lý hồ sơ địa chính ở địa phương
c) Tổ chức triển khai công tác thông tin tuyên truyền về giao rừng, thuê rừng gắn với giao đất, thuê đất lâm nghiệp
d) Kiểm tra, giám sát việc quản lý, bảo vệ và sử dụng đất lâm nghiệp của người sử dụng đất lâm nghiệp sau khi đã được giao, cho thuê đất và cấp Giấy chứng nhận đ) Tổ chức xây dựng, cập nhật cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin và lưu trữ cơ sở
dữ liệu về giao đất, thuê đất lâm nghiệp, cấp Giấy chứng nhận; tổng hợp báo cáo theo quy định hiện hành
e) Phối hợp với cơ quan Kiểm lâm cùng cấp để cung cấp, trao đổi thông tin về giao đất, thuê đất lâm nghiệp gắn liền với giao rừng, thuê rừng; đảm bảo thông tin về rừng trong hồ sơ địa chính và Giấy chứng nhận thống nhất với hồ sơ giao rừng, thuê rừng
g) Phối hợp với cơ quan Kiểm lâm giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp kiểm tra, thanh tra xử lý các vi phạm và tranh chấp trong việc quản lý, bảo vệ và sử dụng rừng của các chủ rừng theo quy định của pháp luật (Bộ Tài nguyên & Môi trường, 1993)
2.1.2.2 Quy trình thực hiện
Chuẩn bị
- Thực hiện như đối với giao rừng cho hộ gia đình, cá nhân hướng dẫn tại khoản 2 và điểm a khoản 4 Mục này Cụ thể, trước khi giao rừng UBND cấp có
Trang 20thẩm quyền quy định tại Điều 24 Nghị định 23/2006/NĐ-CP ngày 3/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng phải xây dựng phương án giao rừng, cho thuê rừng trình HĐND cùng cấp thông qua và báo cáo UBND cấp trên trực tiếp phê duyệt
Phương án giao rừng phải thể hiện cụ thể về hiện trạng các loại rừng của địa phương; nhu cầu quản lý sử dụng rừng; đối tượng được giao sắp xếp theo thứ
tự ưu tiên (đối với giao rừng cho hộ gia đình, cá nhân phải xác định hạn mức giao rừng) địa danh khu vực giao; kế hoạch tiến độ; trách nhiệm và kinh phí tổ chức thực hiện Phương án giao rừng phải thể hiện từng đối tượng được giao rừng cả trong hồ sơ, trên bản đồ
UBND các cấp tổ chức phổ biến, quán triệt chủ trương, chính sách của Nhà nước
về việc giao rừng và nghĩa vụ, quyền lợi của chủ rừng cho nhân dân ở địa phương mình
UBND cấp huyện thành lập Ban chỉ đạo giao rừng và Tổ công tác giao rừng cấp huyện UBND cấp xã thành lập Hội đồng giao rừng của xã, chuẩn bị kinh phí, vật tư kỹ thuật phục vụ cho việc giao rừng
- Cộng đồng dân cư thôn họp thôn để thống nhất các vấn đề chủ yếu: Thông qua đơn đề nghị Nhà nước giao rừng cho cộng đồng thôn; Thông qua kế hoạch quản lý khu rừng sau khi được Nhà nước giao rừng, kế hoạch quản lý rừng
do cộng đồng dân cư thôn; Cuộc họp dân cư thôn phải có ít nhất 70% số hộ gia đình nhất trí đề nghị được giao rừng
Nhận hồ sơ và xét duyệt hồ sơ
- Cộng đồng dân cư thôn nộp 1 bộ hồ sơ tại UBND cấp xã Hồ sơ gồm Đơn đề nghị giao rừng do đại diện thôn ký (Phụ lục 03 Thông tư số 25/2011/TT-BNNPTNT ngày 06/4/2011); Kế hoạch quản lý rừng do cộng đồng dân cư thôn cùng biên bản thông qua của cộng đồng thôn
- UBND cấp xã sau khi nhận được hồ sơ của cộng đồng dân cư thôn có trách nhiệm chỉ đạo Hội đồng giao rừng của xã thẩm tra về điều kiện giao rừng cho cộng đồng báo cáo UBND cấp xã; Kiểm tra thực địa khu rừng dự kiến giao cho cộng đồng dân cư thôn để bảo đảm các điều kiện, căn cứ giao rừng theo quy định
Trang 21của pháp luật; Xác nhận và chuyển đơn của cộng đồng dân cư thôn đến cơ quan chức năng cấp huyện
Thời gian thực hiện là 15 làm việc ngày kể từ sau khi nhận đơn của cộng đồng dân cư thôn
Thẩm định và hoàn thiện hồ sơ
Cơ quan chức năng cấp huyện, sau khi nhận được hồ sơ từ UBND cấp xã chuyển đến thì có trách nhiệm tổ chức việc xác định đặc điểm khu rừng sẽ giao cho cộng đồng dân cư thôn (xác định về chất lượng rừng được giao cho cộng đồng - của cơ quan tư vấn lâm nghiệp có trách nhiệm); Chủ trì việc thẩm định kết quả xác định đặc điểm khu rừng trên cơ sở có xác nhận của tổ chức tư vấn có trách nhiệm về đánh giá rừng (tổ chức tư vấn là người chịu trách nhiệm trách nhiệm chính trong việc đánh giá chất lượng rừng, cùng ký vào biên bản đánh giá còn có chủ rừng, có người đại diện chính quyền địa phương); sự phù hợp của việc giao rừng với quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng hoặc quy hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch ba loại rừng; tính khả thi của kế hoạch quản lý rừng của cộng đồng dân cư thôn; Lập tờ trình, trình UBND cấp huyện về việc giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn
Thời gian thực hiện là 10 ngày làm việc
Quyết định việc giao rừng
UBND cấp huyện sau khi nhận được tờ trình từ cơ quan chức năng chuyển đến có trách nhiệm xem xét và quyết định giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn (phụ lục 4 Thông tư số 38/2007/TT-BNN ngày 25/4/2007); chuyển quyết định giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn, uỷ ban nhân dân cấp xã và cho cơ quan chức năng cấp huyện Thời gian thực hiện là 3 ngày làm việc
Thực hiện quyết định giao rừng
- UBND cấp xã sau khi nhận được quyết định giao rừng của UBND cấp huyện,
có trách nhiệm thông báo và đôn đốc cộng đồng dân cư thôn thực hiện nghĩa vụ tài chính (nếu có); Tổ chức bàn giao rừng ngoài thực địa có sự tham gia của cơ quan chức năng và các chủ rừng có chung ranh giới; lập biên bản bàn giao rừng giữa uỷ ban nhân dân cấp xã với cộng đồng dân cư thôn (phụ lục 5 Thông tư số 38/2007/TT-BNN ngày 25/4/2007)
Trang 22- Cộng đồng dân cư thôn ngay sau khi nhận rừng tại thực địa có trách nhiệm đóng cột mốc khu rừng được giao có sự chứng kiến của đại diện UBND cấp xã
và chủ rừng có chung ranh giới
Trong quá trình thực hiện các bước công việc nêu trên, khi hồ sơ đến cơ quan nào thì cơ quan đó có trách nhiệm xem xét và bổ sung vào hồ sơ giao rừng những nội dung công việc của mỗi bước cho tới khi hoàn thành việc giao rừng; nếu cộng đồng dân cư thôn không đủ điều kiện được giao rừng thì cơ quan nhận
hồ sơ phải trả lại hồ sơ cho cơ quan gửi đến và thông báo rõ lý do về việc cộng đồng dân cư thôn không được giao rừng
Thời gian thực hiện là 3 ngày làm việc
2.1.2.3 Các bên liên quan đến công tác giao đất, giao rừng
Sự phối hợp giữa cơ quan Tài nguyên và Môi trường và cơ quan Kiểm lâm trong việc giao rừng, cho thuê rừng gắn liền với giao đất, cho thuê đất hoặc cấp Giấy chứng nhận lần đầu đối với đất lâm nghiệp có rừng thể hiện như sự phối hợp như sau:
- Cơ quan Tài nguyên và Môi trường sau khi nhận được hồ sơ đề nghị được giao rừng, thuê rừng gắn liền với giao đất, thuê đất lâm nghiệp hoặc hồ
sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận, có trách nhiệm thẩm định hồ sơ về điều kiện giao đất, cho thuê đất, cấp Giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật đất đai; đồng thời sao gửi 01 bộ hồ sơ đề nghị đó cho cơ quan Kiểm lâm cùng cấp
để thẩm định về điều kiện giao rừng, thuê rừng
- Cơ quan Kiểm lâm sau khi nhận được hồ sơ do cơ quan Tài nguyên và Môi trường chuyển đến, có trách nhiệm xem xét, cho ý kiến bằng văn bản về việc giao rừng, cho thuê rừng và gửi cho cơ quan Tài nguyên và Môi trường
- Cơ quan Tài nguyên và Môi trường tập hợp hồ sơ giao rừng, thuê rừng gắn liền với giao đất, thuê đất lâm nghiệp hoặc hồ sơ cấp Giấy chứng nhậnvà lập thủ tục trình Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định giao rừng, thuê rừng
và giao đất, thuê đất lâm nghiệp, cấp Giấy chứng nhận; cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính hoặc cơ sở dữ liệu địa chính
Trang 23- Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền ban hành quyết định giao rừng, thuê rừng gắn liền với giao đất, thuê đất lâm nghiệp, cấp Giấy chứng nhận theo đề nghị của cơ quan Tài nguyên và Môi trường
- Sự phối hợp giữa cơ quan Tài nguyên và Môi trường và cơ quan Kiểm lâm trong việc hoàn thiện hồ sơ giao rừng, thuê rừng đối với trường hợp đã được giao đất, thuê đất lâm nghiệp có rừng hoặc đã được công nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp có rừng nhưng chưa lập hồ sơ giao rừng, thuê rừng
- Cơ quan Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm cung cấp thông tin trong hồ sơ địa chính đối với những diện tích đất lâm nghiệp đã giao, đã cho thuê, đã được công nhận quyền sử dụng đất để cơ quan Kiểm lâm hoàn thiện hồ
sơ giao rừng, thuê rừng
- Cơ quan Kiểm lâm có trách nhiệm tổ chức việc rà soát các thông tin về rừng, bao gồm mục đích sử dụng rừng, diện tích rừng, nguồn gốc, vị trí, ranh giới trên hồ sơ địa chính và thực địa
- Trường hợp các thông tin về rừng trên thực địa phù hợp với hồ sơ địa chính thì cơ quan Kiểm lâm lập hồ sơ giao rừng, thuê rừng theo quy định tại khoản Điều 11, Chương III của Thông tư này và gửi cho cơ quan Tài nguyên và Môi trường để bổ sung thông tin vào Giấy chứng nhận và hồ sơ địa chính hoặc
cơ sở dữ liệu địa chính
- Đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất lâm nghiệp: Phòng Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất kiểm tra hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận về hiện trạng sử dụng đất
và đối chiếu với hồ sơ giao rừng, thuê rừng; lập thủ tục để trình Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp huyện) cấp Giấy chứng nhận đối với diện tích đất đang sử dụng (Bộ Tài nguyên & Môi trường, 1993)
2.1.3 Tiến trình thực hiện giao đất giao rừng cho hộ gia đình
Theo Nghị định 02, tiến trình giao đất bắt đầu bằng việc hộ gia đình viết đơn xin nhận đất, trong đó ghi rõ diện tích đất mà hộ cần nhận, địa điểm đất trên thực địa, tình trạng thảm thực vật trên đất (ví dụ đất trống đồi núi trọc hay đất có
Trang 24rừng, loại rừng cụ thể) Trước khi đơn được gửi lên UBND huyện, đơn cần có sự xác nhận của Chủ tịch UBND xã Cùng với đơn xin nhận đất, hộ còn phải nộp bản kế hoạch sử dụng đất, trong đó chỉ ra kế hoạch sử dụng đất của hộ trong khoảng thời gian 5 năm sau khi nhận đất Cũng giống như đơn xin nhận đất, bản
kế hoạch sử dụng đất của hộ phải có xác nhận của trưởng thôn và Chủ tịch UBND xã Trong những trường hợp cần thiết, UBND xã có thể thành lập Hội đồng giao đất cấp xã, với sự tham gia của đại diện các tổ chức như Hội Nông dân, Hội Cựu Chiến binh cấp xã Dựa trên đơn xin nhận đất và kế hoạch sử dụng đất của
hộ, Chủ tịch UBND huyện ban hành quyết định giao đất cho hộ Quyết định này xác định các quyền và nghĩa vụ của hộ đối với đất được giao Sau khi Quyết định được ban hành, UBND huyện ra quyết định thành lập tổ công tác về giao đất với các thành viên của tổ là đại diện của các cơ quan chuyên môn cấp huyện như hạt kiểm lâm huyện, phòng địa chính Tổ công tác cũng có sự tham gia của UBND xã
Quá trình giao đất tại thực địa có sự tham gia của đại diện thôn với vai trò quan sát viên Trước khi thực hiện các tác nghiệp tại thực địa, tổ công tác tiến hành các cuộc họp về giao đất tại xã và thôn nhằm phổ biến các nội dung và kiến thức có liên quan đến giao đất cũng như tiến trình các bước sẽ tiến hành tại địa phương
Quy trình đầy đủ của việc giao đất giao rừng bao gồm các bước chính sau:
- Bước 1: Chuẩn bị, bao gồm việc thành lập ban chỉ đạo, tổ công tác giao đất cấp huyện, thành lập hội đồng giao đất cấp xã;
- Bước 2: Đánh giá hiện trạng rừng và đất rừng;
- Bước 3: Xây dựng kế hoạch sử dụng đất và phương án giao đất cấp xã;
- Bước 4: Lập kế hoạch giao đất tại thực địa;
- Bước 5: Giao đất tại thực địa;
- Bước 6: Hoàn thiện hồ sơ địa chính;
- Bước 7: Thẩm định, phê duyệt, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Bộ Tài nguyên & Môi trường, 1993)
Cách thức tiến hành giao đất trên thực địa có vai trò quyết định đến hiệu quả của công tác giao đất và sử dụng đất của hộ sau giao Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc thực hiện chính sách tại một số địa phương khác xa so với tiến
Trang 25trình được quy định trong chính sách Thông thường, tổ công tác giao đất giao rừng bỏ qua một số bước trong quy định nhằm tiết kiệm thời gian và kinh phí Cụ thể, đôi khi các cuộc họp tại các thôn và xã thường không được tiến hành theo yêu cầu mà bị cắt ngắn hoặc bỏ qua; tại nhiều nơi, các cuộc họp này không có sự tham gia đầy đủ của các ban ngành có liên quan; giao đất thiếu bản đồ hoặc có bản đồ nhưng bản đồ không cập nhật tình trạng rừng và đất tại thời điểm giao đất; giao đất bỏ qua một số hoạt động ngoại nghiệp khi giao đất Pháp luật không quy định rõ cơ quan quản lý việc giao đất, giao rừng Cụ thể trước năm 1996 cơ quan phụ trách giao đất là Cục Kiểm lâm, cùng với việc cấp sổ Lâm bạ dựa trên Luật Bảo vệ phát triển rừng Sau năm 1996, cơ quan phụ trách giao đất là Phòng Địa chính, cùng với việc cấp “sổ đỏ” trên cơ sở Luật Đất đai Hiện trạng này làm chậm tiến độ triển khai việc giao đất ở một số địa phương
Sự thiếu đồng bộ giữa pháp luật Bảo vệ phát triển rừng và pháp luật đất đai làm cho nhiều địa phương có những cách thực hiện và giải pháp khác nhau trong việc giao đất
Quá trình giao đất, giao rừng không được giám sát chặt chẽ nên luôn xuất hiện các nguy cơ tham nhũng
Sự hỗ trợ công nghệ trong giao đất, giao rừng là rất thấp, vì vậy không tạo được ranh giới sử dụng ổn định, gây nên các tranh chấp, xung đột sau này Các
kỹ thuật như ảnh vệ tinh, máy bay, thiết bị định vị hầu như không được sử dụng
Thiếu sự đầu tư đồng bộ trong giao đất giao rừng, không đáp ứng được yêu cầu đặt ra nên gây lãng phí lớn Năm 2005, Chính phủ Việt Nam đầu tư toàn
bộ kinh phí để vẽ bản đồ địa chính đất rừng trên phạm vi cả nước Dự án này do các công ty đo đạc thuộc Bộ TN&MT thực hiện Năm 2011, dự án này đã hoàn thành và bàn giao cho các địa phương nhưng các bản đồ này hầu như không được
sử dụng và đăng ký, cấp giấy chứng nhận đối với đất rừng
2.1.4 Các chính sách quy định việc giao đất giao rừng
Giao đất giao rừng là một trong những chủ trương lớn được Chính phủ thực hiện từ đầu những năm 1980 Năm 1983, Ban Bí thư đã có Chỉ thị 29 ngày
12 tháng 11 về việc đẩy mạnh giao đất giao rừng, trong đó nhấn mạnh “làm cho
Trang 26mỗi khu đất, mỗi cánh rừng, mỗi quả đồi đều có người làm chủ.” Kể từ đó, Chính phủ đã thực hiện các cơ chế chính sách nhằm hiện thực hóa các mục tiêu của Chỉ thị Như đã đề cập ở phần trên, pháp luật đất đai quy định việc giao đất bao gồm một số chính sách cơ bản sau:
Nghị định 02 ngày 15 tháng 1 năm 1994 của Chính phủ ban hành bản quy định về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp Điều 3 trong Nghị định này quy định Nhà nước giao đất lâm nghiệp có rừng tự nhiên, rừng trồng bằng vốn của Nhà nước giao cho các tổ chức thuộc Nhà nước (Lâm trường, các BQL rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn) để bảo vệ, phát triển và sử dụng ổn định lâu dài theo quy hoạch,
kế hoạch của Nhà nước Cũng theo Điều 3, Nhà nước giao đất lâm nghiệp chưa
có rừng và có chính sách đầu tư, hỗ trợ hợp lý để tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài theo quy hoạch Điều 7 và Điều 8 quy định cụ thể việc giao đất rừng phòng hộ và rừng đầu nguồn cho các BQL rừng thuộc Nhà nước để bảo
vệ và quản lý các khu rừng đó Nghị định cũng khuyến khích các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nhận đất để trồng rừng, sản xuất nông lâm ở những nơi đất trống, đồi núi trọc Nhà nước cũng đảm bảo các chính sách hỗ trợ trồng rừng, tổ chức sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm
Nghị định 163 ngày 16 tháng 11 năm 1999 của Chính phủ quy định về việc Nhà nước giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng
ổn định, lâu dài dưới hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất và cho thuê đất lâm nghiệp, bao gồm đất có rừng tự nhiên và đất đang có rừng trồng, và đất chưa có rừng được quy hoạch để sử dụng vào mục đích lâm nghiệp như trồng rừng, khoanh nuôi, bảo vệ để phục hồi tự nhiên Nhà nước giao đất lâm nghiệp không thu tiền sử dụng đất đối với các hộ gia đình nhận đất mà nguồn sống chủ yếu là thu nhập có được từ các hoạt động sản xuất trên đất Tuy nhiên, nếu hộ gia đình sử dụng đất lâm nghiệp vượt hạn mức quy định (30 ha) thì phải thực hiện việc thuê đất, với thời hạn thuê không vượt quá 50 năm Nhà nước tiến hành cho thuê đất đối với các tổ chức trong nước thuộc mọi thành phần kinh tế, và các tổ chức cá nhân nước ngoài
Trang 27Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ
về thi hành Luật Đất đai, thay thế cho Nghị định 163 về thi hành Luật Đất đai, trong đó có quy định cụ thể về giao đất đối với các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân (Chính phủ, 2004)
Ngoài những chính sách nêu trên còn có những chính sách đặc thù của Trung ương và địa phương có liên quan đến giao đất và một số dự án có mục tiêu tăng cường sự tiếp cận đất đai, đặc biệt cho các hộ và cộng đồng Một ví dụ là Nghị quyết số 30a ngày 27 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ về Chương trình
hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo Nghị quyết quy định các chính sách hỗ trợ các hộ gia đình thuộc các huyện nghèo thông qua khoán, chăm sóc, bảo vệ rừng, giao rừng vào giao đất để trồng rừng sản xuất
Nghị định 01 ngày 1 tháng 1 năm 1995 của Chính phủ ban hành bản quy định về việc giao khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản trong các doanh nghiệp nhà nước Cụ thể trong lĩnh vực lâm nghiệp, các lâm trường quốc doanh, BQL rừng phòng hộ, rừng dặc dụng được Nhà nước giao đất sử dụng vào mục đích sản xuất lâm nghiệp (bên giao khoán) thực hiện việc giao khoán đất lâm nghiệp (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất, đất trống được quy hoạch trồng cây lâm nghiệp) cho bên nhận khoán, bao gồm các hộ gia đình, cá nhân là công nhân, viên chức đang hoặc đã làm việc cho bên giao khoán, các hộ cư trú hợp pháp tại địa phương và các hộ, tổ chức ở các địa phương khác có vốn đầu tư vào sản xuất (Chính phủ, 1995) Nghị định 135 ngày 8 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ về việc giao khoán đất rừng sản xuất trong các lâm trường quốc doanh cho các hộ gia đình và cá nhân Nghị định quy định các lâm trường quốc doanh (bên giao khoán) được quyền giao khoán rừng tự nhiên và rừng trồng, và đất trồng rừng sản xuất cho bên nhận khoán, bao gồm các hộ gia đình có nhu cầu nhận đất, trong đó ưu tiên các hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ có đời sống khó khăn Theo Nghị định, tùy vào trình độ tổ chức sản xuất của bên giao và nhận khoán, hợp đồng khoán có thể được tiến hành theo hình thức khoán ổn định theo chu kỳ cây trồng hoặc chu kỳ kinh doanh, hoặc khoán theo công đoạn, nhưng thời gian khoán tối đa không quá 50 năm
Trang 28Quyết định 304 ngày 23 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ về việc thí điểm giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho các hộ gia đình và cộng đồng trong buôn, làng là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở các tỉnh Tây Nguyên Quyết định này quy định việc giao rừng tự nhiên là RSX, hoặc khoán rừng tự nhiên là rừng phòng hộ hoặc rừng đặc dụng cho các hộ gia đình có đủ tiêu chuẩn (chủ yếu là các hộ nghèo) tiếp cận được với các nguồn lực nhằm thực hiện việc bảo vệ rừng, cải thiện sinh kế Theo Quyết định, trong điều kiện quỹ đất cho phép, các hộ có
đủ tiêu chuẩn và có nguyện vọng có thể được giao dưới 30 ha rừng sản xuất và nhận khoán 15-20 ha đối với rừng phòng hộ và rừng đặc dụng Ngoài ra, các hộ nhận đất và rừng cũng được nhận các hỗ trợ khác nhằm phát triển và bảo vệ vốn rừng được giao một cách hiệu quả (Chính phủ, 2005)
Như vậy cơ chế giao và khoán có những khác biệt rất cơ bản, thể hiện mối quan hệ thông qua đất đai giữa một bên là bên giao đất và bên nhận (đối với cơ chế giao đất) và giữa bên giao khoán và bên nhận khoán (đối với giao khoán) Mối quan hệ này được điều chỉnh bằng các cơ chế luật pháp khác nhau Trong cả
2 cơ chế, Nhà nước đóng vai trò là đại diện chủ sở hữu, có vai trò cao nhất, thực hiện việc giao đất Cụ thể, Nhà nước Có quyền định đoạt đối với đất đai, bao gồm việc quyết định mục đích sử dụng, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất, quyết định việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi và cấp phép cho người sử dụng;
Trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất
ổn định; quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
Thống nhất quản lý về đất đai, bao gồm việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất và tổ chức thực hiện các văn bản đó; xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới và bản đồ hành chính; khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất và quy hoạch; quản lý việc thực hiện kế hoạch, quy hoạch, thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi và chuyển mục đích sử dụng
Trang 29Chịu trách nhiệm về thống kê và kiểm kê đất đai, quản lý và phát triển thị trường đất đai, quản lý và giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người
sử dụng đất, thanh tra, kiểm tra giám sát việc chấp hành các quy định của phát luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai
Có trách nhiệm giải quyết các tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại,
tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất Đối với đất rừng sản xuất, Luật cho phép người nhận đất, bao gồm các hộ gia đình và cá nhân được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế và thế chấp Các quyền này được duy trì đối với người nhận đất với điều kiện người nhận đất phải tuân thủ các quy định của Nhà nước trong quá trình sử dụng đất Nhà nước có thể thu hồi đất và các quyền đi kèm với đất nếu người nhận đất bị vi phạm quy định của Nhà nước
trong sử dụng đất (Bộ Tài nguyên & Môi trường, 1993)
Như vậy cơ chế giao và khoán quy định các loại quyền và phạm vi các quyền rất khác nhau đối với bên nhận đất và bên nhận khoán Các quyền và phạm vi của các quyền đó còn phụ thuộc và tính chất của các loại đất rừng
2.1.5 Tác động của chính sách giao đất, giao rừng
Giao đất giao rừng có tác động to lớn đến sinh kế của hộ, chất lượng và độ che phủ rừng
2.1.5.1 Giao đất và sinh kế hộ
Một trong những mục tiêu cơ bản của giao đất là cải thiện sinh kế hộ, bao gồm (i) thu nhập của hộ từ nguồn đất rừng được giao cho hộ và tiếp cận của hộ đối với đất đai và các quyền với đất và rừng; (ii) công bằng trong thu nhập giữa các hộ trong cùng một cộng đồng và giữa các hộ khác nhau về thành phần dân tộc; (iii) thực thi các quyền đi kèm với đất được giao cho hộ và (iv) mâu thuẫn đất đai do giao đất mang lại
Đề án Giao rừng, cho thuê rừng của Bộ NN&PTNT (2007) nhận định:
“Giao đất giao rừng làm cho rừng có chủ thực sự, gắn quyền lợi với trách nhiệm, tạo điều kiện để người dân bảo vệ được rừng, yên tâm quản lý, đầu tư phát triển rừng trên diện tích rừng được giao”, từ đó góp phần làm tăng thu nhập của hộ gia đình Trong Báo cáo thẩm tra việc thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội về dự
Trang 30án trồng mới 5 triệu ha rừng, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội nhấn mạnh: “Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng (bao gồm cả hạng mục giao đất giao rừng) đã tạo thêm việc làm, tăng thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo cho số lượng lớn người dân khu vực nông thôn miền núi Đã có 470.874
hộ gia đình nhận khoán bảo vệ 2.268,249 ha rừng trồng, trồng mới 1.321,999 ha Bình quân mỗi hộ gia đình thu được 5,55 triệu đồng/hộ/năm ” Báo cáo Tổng kết thực hiện Dự án “Trồng mới 5 triệu ha rừng” và Kế hoạch bảo vệ, phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 của Chính phủ chỉ ra: “Nhà nước hỗ trợ cây giống và một phần phân bón cho các hộ gia đình trồng rừng sản xuất nguyên liệu hỗ trợ trồng rừng sản xuất từ 1,5 đến 5 triệu đồng/ha tùy theo vùng; hỗ trợ khuyến lâm 100.000 đồng/ha trồng rừng sản xuất; hỗ trợ lập hồ sơ giao đất gắn với giao rừng
là 200.000 đồng/ha Thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP, Ngân hàng Nhà nước có thông tư hướng dẫn cho khách hàng là các hộ nghèo vay vốn để trồng rừng sản xuất trên địa bàn 62 xã nghèo được Ngân sách hỗ trợ 50% lãi suất Các
hộ được giao đất và tiếp cận được với nguồn vốn sẽ có cơ hội đầu tư vào phát triển rừng trồng sản xuất, có tiềm năng trong việc nâng cao thu nhập và góp phần cải thiện sinh kế Việc công nhận quyền hợp pháp và lâu dài cho đất nương rẫy
đã tạo tâm lý ổn định cho hộ, tạo động lực cho hộ đặc biệt là các hộ kinh tế khá huy động nguồn lực thực hiện đầu tư trồng cây công nghiệp và trồng rừng trên đất nương rẫy cũ của mình Điều này tạo cơ hội cho các hộ trong việc tạo nguồn thu mới từ cây công nghiệp và rừng trồng trong tương lai (Chính phủ, 2008)
2.1.5.2 Tác động của giao đất giao rừng với chất lượng rừng
Như đã đề cập ở phần trên,Nhà nước không giao những phần đất trên đó còn có rừng còn trữ lượng cho hộ gia đình mà hầu hết các diện tích đó được giao cho các công ty lâm nghiệp và BQL Nói cách khác, người dân hầu như không có tiếp cận đối với nguồn rừng tự nhiên còn trữ lượng trừ khi các hộ có hợp đồng khoán bảo vệ từ các đơn vị này Thực tế, quan niệm này cũng được quy định tương đối rõ ràng trong các văn bản luật Điều này tác động trực tiếp đến kết quả của công tác bảo vệ rừng ở nhiều địa phương, trong đó có vấn nạn khai thác gỗ bất hợp pháp Điều này phần nào lý giải tại sao rừng tự nhiên của Việt Nam vẫn
Trang 31đang bị suy thoái Theo Bộ NN&PTNT, khoảng 75% diện tích rừng tự nhiên hiện còn của Việt Nam là rừng có chất lượng nghèo, chủ yếu là rừng tái sinh và rừng hỗn giao; phần còn lại (25%) là rừng có chất lượng trung bình và giàu (Bộ NN&PTNT, 2011)
Mặc dù tỷ lệ che phủ rừng ở Việt Nam có tăng nhưng chất lượng rừng tự nhiên lại giảm Nguyên nhân do nạn khai thác gỗ lậu và chuyển đổi rừng tự
nhiên sang mục đích nông nghiệp và các mục đích khác (Bộ NN&PTNT 2011; UNREDD và Bộ NN&PTNT, 2010; Tô Xuân Phúc và Trần Hữu Nghị, 2013)
Nói cách khác, ở một số nơi thực hiện giao đất không làm tăng chất lượng rừng Giao đất tạo động lực cho mở rộng diện tích rừng trồng nhưng mở rộng rừng trồng tác động trực tiếp và tiêu cực đến diện tích rừng tự nhiên (Meyfroidt and Lambin, 2009) Nói cách khác, đến nay vẫn chưa có cơ sở khoa học chắc chắn
để khẳng định rằng giao đất đã góp phần làm tăng chất lượng và mở rộng diện tích rừng tự nhiên
Ngược lại,một số nghiên cứu cho rằng ở những địa phương nơi rừng tự nhiên còn trữ lượng, hạn chế về quyền và lợi ích từ rừng đã không tạo được động lực cho hộ và cộng đồng sống gần rừng tham gia bảo vệ rừng và đây cũng là một trong những nguyên nhân chính làm suy giảm chất lượng rừng tự nhiên tại các địa bàn này
2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc thực hiện giao đất, giao rừng
2.1.6.1 Cơ chế chính sách
Là điều kiện quan trọng cho quá trình phát triển sản xuất Trong những năm gần đây, Nhà nước đã tạo điều kiện cho người dân bằng các chính sách hỗ trợ vốn cho nông dân sản xuất nông, lâm nghiệp Tuy nhiên, việc vay vốn còn
có những yêu cầu về thế chấp tài sản trong khi đó sản xuất hàng hóa còn gặp nhiều khó khăn về thị trường đã hạn chế việc vay vốn để đầu tư cho sản xuất nông, lâm nghiệp
2.1.6.2 Nguồn nhân lực và khoa học kỹ thuật
Nguổn nhân lực có trình độ và kỹ năng là điều kiện tiên quyết để nông hô
có thể tiếp thu và ứng dụng KHKT vào phát triển các lĩnh vực KT - XH theo
Trang 32hướng công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn Môt trong những nguyên nhân quan trọng làm hạn chế nguổn nhân lực là lao đông có chất lượng thấp Vì vậy phát triển nguổn nhân lực, nhanh chóng nâng cao chất lượng nguổn nhân lực là môt giải pháp hết sức cấp bách
2.1.6.3 Thị trường
Từng bước mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng cường thông tin giá cả là những việc cần phải làm ngay trong thời gian tới Qua điều tra, phân tích cho thấy các sản phẩm nông nghiệp chưa có thị trường tiêu thụ ổn định Kênh phân phối được bắt đầu từ những người nông dân sản xuất tại các làng xã trong huyện
và kết thúc ở người tiêu dùng sản phẩm cuối cùng thông qua khâu trung gian là những người buôn bán
do việc phân hoá giàu nghèo, đã dẫn đến việc đầu tư trong nông nghiệp thấp Từ
đó, năng suất cây trồng trên đất phát canh thấp hơn trên đất tự canh Bước sang năm 1974 Chính phủ Thái Lan ban hành chính sách cho thuê đất lúa, quy định rõ việc bảo vệ người làm thuê, thành lập các tổ chức người địa phương làm việc theo sự điều hành của trại thuê mướn, Nhà nước tạo điều kiện cho kinh tế hộ gia đình phát triển Luật cải cách ruộng đất năm 1975 quy định các điều khoản với
Trang 33mục tiêu biến tá điền thành chủ sở hữu ruộng đất, trực tiếp sản xuất trên đất Nhà nước quy định hạn mức đối với đất trồng trọt là 3,2 ha (50 rai), đối với đất chăn nuôi 6,4 ha (100 rai), đối với những trường hợp quá hạn mức Nhà nước tiến hành trưng thu để chuyển giao cho tá điền, với mức đền bù hợp lý
Đối với đất rừng, để đối phó với vấn đề suy thoái đất, xâm lấn rừng, bắt đầu từ năm 1979, Thái Lan thực hiện chương trình giấy chứng nhận quyền hoa lợi, trong rừng dự trữ Quốc gia Theo chương trình này, mỗi mảnh đất được chia làm hai miền Miền từ phía dưới nguồn nước là miền đất có thể dùng để canh tác nông nghiệp, miền ở phía trên nguồn nước thì lại hạn chế và giữ rừng, còn miền đất phù hợp cho canh tác mà trước đây những người dân đã chiếm dụng (dưới 2,5 ha) thì được cấp cho người dân một giấy chứng nhận quyền hưởng hoa lợi Đến năm 1976 đã có 600.126 hộ nông dân có đất được cấp giấy chứng nhận quyền hưởng hoa lợi Cùng với chương trình này, đến năm 1975 Cục Lâm nghiệp Hoàng gia Thái Lan đã thực hiện chương trình làng lâm nghiệp nhằm giải quyết cho những hộ gia đình được ở trên đất rừng, quá trình thực hiện chương trình này
đã thành lập được 98 làng lâm nghiệp với 1 triệu hộ gia đình tham gia
Chương trình làng lâm nghiệp được quy định một cách chặt chẽ, mỗi hộ gia đình trong làng được cấp từ 2 - 4 ha đất và được hưởng quyền sử dụng, thừa
kế, nhưng không được bán, mua hay chuyển nhượng diện tích đất đó Quá trình sản xuất của làng được sự hỗ trợ của Nhà nước về điều kiện cơ sở hạ tầng, tiếp thị và đào tạo nghề Đi cùng với chương trình này là việc thành lập các hợp tác
xã nông, lâm nghiệp hoạt động dưới sự bảo trợ của ban chỉ đạo Hợp tác xã (HTX) Cục Lâm nghiệp Hoàng gia sẽ ký hợp đồng giao đất dài hạn cho các HTX yêu cầu và thành lập nhóm chuyên gia đánh giá hiệu quả đầu tư trên đất được giao đó Thái Lan tiến hành giao được trên 200.000 ha đất gắn liền với rừng cho cộng đồng dân cư sống gần rừng, diện tích mỗi hộ gia đình được nhận trồng rừng từ 0,8 ha đến 8 ha
Bước sang thời kỳ những năm 90, Chính phủ Thái Lan tiếp tục chính sách ruộng đất theo dự án mới Trên cơ sở đánh giá, xem xét khả năng của nông dân nghèo, giải quyết khâu cung cầu về ruộng đất theo hướng sản xuất hàng hoá và giải
Trang 34quyết việc làm Dự án này có sự thoả thuận giữa Chính phủ, chủ đất và nông dân nhằm chia sẻ quyền lợi trong giới kinh doanh và người sử dụng ruộng đất Theo dự án này Chính Phủ giúp đỡ tiền mua đất, mặt khác khuyến khích đầu tư trong sản xuất
nông nghiệp, giải quyết việc làm cho nông dân nghèo (Võ Tử Can, 1999)
2.2.1.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc với các chính sách giao đất giao rừng nhằm phát triển sản xuất nông lâm nghiệp
Trong những năm qua việc khai thác và sử dụng đất đai, tài nguyên rừng ở Trung Quốc được điều chỉnh bởi hàng loạt các văn bản chính sách pháp luật đất đai Do vậy, quá trình sản xuất nông, lâm nghiệp ở Trung Quốc đã phát triển và đạt được những kết quả tốt
Đã cải thiện được môi trường sinh thái và nâng cao sản xuất gỗ Đất canh tác được Nhà nước bảo hộ đặc biệt, khống chế nghiêm ngặt việc chuyển đổi mục đích đất nông nghiệp sang đất khác Mỗi hộ nông dân chỉ được dùng một nơi làm đất ở với diện tích giới hạn trong định mức quy định tại địa phương Đất thuộc sở hữu tập thể thì không được chuyển nhượng, cho thuê vào mục đích phi nông nghiệp Đối với đất lâm nghiệp trước những năm 1970, Chính phủ Trung Quốc
đã chỉ đạo nông dân trồng cây bằng biện pháp hành chính, nên hiệu quả trồng rừng thấp, giữa lợi ích cộng đồng và lợi ích của người dân chưa có sự phối kết hợp Bước sang giai đoạn cải cách nền kinh tế, Chính phủ Trung Quốc đã quan tâm khuyến khích hỗ trợ nông dân kinh doanh lâm nghiệp Trung Quốc luôn coi trọng việc áp dụng luật pháp để phát triển lâm nghiệp, bảo vệ rừng và làm cho lâm nghiệp hoạt động có hiệu quả Hiến pháp Trung Quốc đã quy định "Nhà nước phải tổ chức thuyết phục nhân dân trồng cây bảo vệ rừng" Kể từ năm 1984 Luật Lâm nghiệp quy định “…xây dựng rừng, lấy phát triển rừng làm cơ sở, phát triển mạnh mẽ việc trồng cây mở rộng phong trào bảo vệ rừng, kết hợp khai thác rừng trồng ” Từ đó ở Trung Quốc toàn xã hội tham gia công tác lâm nghiệp, Chính phủ chỉ đạo cán bộ có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo mỗi cấp hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch của cấp mình, quá trình thực hiện chính sách này nếu tốt sẽ được khen thưởng, ngược lại sẽ bị xử lý
Giai đoạn từ năm 1979-1992 Trung Quốc đã ban hành 26 văn bản về Pháp
Trang 35luật, Nghị định, Thông tư và Quy định liên quan đến công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng
Đầu năm 1980 Trung Quốc ban hành Nghị định về vấn đề bảo vệ tài nguyên rừng, một trong những điểm nổi bật của Nghị định này là thực hiện chủ trương giao cho chính quyền các cấp từ TW đến cấp tỉnh, huyện, tiến hành cấp chứng nhận quyền chủ đất rừng cho tất cả các chủ rừng là những tập thể và tư nhân Luật Lâm nghiệp đã xác lập các quyền của người sử dụng đất (chủ đất) quyền được hưởng hoa lợi trên đất mình trồng, quyền không được phép xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp và lợi ích của chủ rừng, chủ đất rừng Nếu tập thể hay cá nhân hợp đồng trồng rừng trên đất đồi trọc của Nhà nước hay của tập thể, cây đó thuộc về chủ cho hợp đồng và được xử lý theo hợp đồng
Bên cạnh đó quá trình quy hoạch đất nông, lâm nghiệp, chăn nuôi bảo vệ nguồn nước, phát triển công nghiệp, dân số và giao thông nhằm sử dụng đất có hiệu quả ở miền núi được Chính phủ Trung Quốc quan tâm Trung Quốc từng bước đưa sản xuất nông, lâm nghiệp vào hệ thống phát triển nông thôn để tăng trưởng kinh tế, loại bỏ nghèo nàn Bắt đầu từ năm 1987, Nhà nước đã thực hiện chương trình giúp đỡ nhân dân thoát khỏi nghèo nàn trong những huyện nghèo,
có thu nhập bình quân đầu người dưới 200 nhân dân tệ Các huyện nghèo ở miền núi là đối tượng quan trọng thích hợp để phát triển lâm nghiệp
Trung Quốc đã thực hiện chính sách phát triển trại rừng, kinh doanh đa dạng, sau khi thực hiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ)
Từ đó các trại rừng kinh doanh hình thành bước đầu đã có hiệu quả Lúc đó ngành lâm nghiệp được coi như công nghiệp có chu kỳ dài nên được Nhà nước đầu tư hỗ trợ các mặt như:
- Vốn, khoa học kỹ thuật, tư vấn xây dựng các loại rừng, hỗ trợ dự án chống cát bay
- Mỗi năm Chính Phủ trích 10% kinh phí để đầu tư cho quá trình khai khẩn đất phát triển nông, lâm nghiệp, hỗ trợ các hộ nông dân nghèo
- Quy định trích 20% tiền bán sản phẩm lại để làm vốn phát triển nông,
Trang 36lâm nghiệp (Võ Tử Can, 1999)
2.2.1.3 Kinh nghiệm của Nhật Bản với các chính sách giao đất giao rừng nhằm phát triển sản xuất nông lâm nghiệp
Tháng 12 năm 1945 Nhật Bản đã ban hành Luật cải cách ruộng đất lần thứ nhất với mục đích là xác định quyền sở hữu ruộng đất cho người dân và buộc địa chủ chuyển nhượng ruộng đất nếu có trên 5 ha
Quá trình cải cách ruộng đất lần thứ nhất tại Nhật Bản ban đầu đã mang lại kết quả đáng kể, song lúc đó vai trò kiểm soát của Nhà nước đối với đất đai chưa được chặt chẽ Do vậy, Nhật Bản tiến hành cải cách ruộng đất lần thứ hai với nội dung:
- Nhằm xác lập vai trò kiểm soát của Nhà nước đối với việc thực hiện chuyển nhượng quyền sở hữu ruộng đất là thuộc thẩm quyền của Chính phủ
- Xác lập quyền sở hữu ruộng đất của nông dân nhằm giảm địa tô
- Nhà nước đứng ra mua và bán đất phát canh của địa chủ nếu vượt quá 1
ha Ngay cả với tầng lớp phú nông, có diện tích quá 3 ha nếu sử dụng không hợp
lý Nhà nước cũng trưng thu một phần
Như vậy, qua hai lần cải cách ruộng đất bằng những chính sách cụ thể đã làm thay đổi quan hệ sở hữu cũng như kết cấu sở hữu ruộng đất ở Nhật Bản đó là: Nhà nước đã khẳng định được vai trò kiểm soát đối với việc quản lý và sử dụng đất đai, người dân đã thực sự làm chủ đất để yên tâm đầu tư phát triển sản
xuất (Võ Tử Can, 1999)
2.2.2 Thực tiễn giao đất giao rừng của nước ta từ 2006 đến nay
Thời kỳ đổi mới ở Việt Nam đã đánh dấu bởi Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI tháng 12/1986 với tư tưởng chỉ đạo là triệt để xoá bỏ cơ chế quan liêu bao cấp, chuyển sang nề kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Và sau đó đường lối đổi mới được bổ sung hoàn thiện dần trong các nghị quyết hội nghị Trung ương và các đại hội tiếp theo Đường lối này được Nhà nước thể chế hoá Hiến pháp (1992), luật đất đai 1988, 1993, luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đất đai 1988, 2001 Luật bảo vệ phát triển rừng năm 1991, Luật bảo vệ môi
Trang 37trường năm 1994 và các văn bản pháp luật khác
Chỉ thị 100- CT/TW ngày 13/1/1981 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoán 100) còn một số nhược điểm làm hạn chế vai trò kinh tế nông hộ của nông dân, nên tháng 4/1988 Bộ chính trị Trung ương Đảng (khoá VI) đã đề
ra nghị quyết 10-NQ-TW “Về đổi mới kinh tế nông nghiệp” và sau đó là nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ VI (khoá VI), yêu cầu cơ bản của các nghị quyết này là giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất nhằm khai thác hợp lý tiềm năng lao động, đất đai, tăng sản lượng nông sản hàng hoá lấy hộ xã viên làm đơn vị kinh tế tự chủ (khoán hộ), thực hiện chính sách một giá, thương mại hoá vật tư, nông dân chỉ có một nghĩa vụ nộp thuế Với chính sách đúng đắn này, Nghị quyết 10 đã làm cho sản xuất nông nghiệp và nông thôn có những chuyển biến tích cực, làm nền móng cho chính sách đổi mới trong nông nghiệp và nền kinh tế quốc dân
- Giai đoạn 1986 - 1993
Chủ trương của Nhà nước trong giai đoạn này là phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, ngoài thành phần kinh tế quốc doanh, tập thể, Nhà nước có chủ trương giao đất cho hộ gia đình và cá nhân, điều này đã khuyến khích rất nhiều người nhận diện tích đất trống, đồi núi trọc để đầu tư vốn trồng rừng Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh bằng nhiều hình thức thích hợp tuỳ điều kiện cụ thể theo từng vùng như vườn rừng, trại rừng, vườn cây công nghiệp, cây ăn quả, lương thực, thực phẩm, dược liệu kết hợp với cây rừng (nông lâm kết hợp)
Song song với việc thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 05/04/1988 của
Bộ Chính trị, ngày 19/08/1991 Luật bảo vệ và phát triển rừng đã được Nhà nước công bố, điều 1 của Luật đã xác định: “Nhà nước giao rừng, đất trồng rừng cho tổ chức và cá nhân để phát triển và sử dụng ổn định, lâu dài theo quy hoạch và kế hoạch của Nhà nước”; Tổ chức và cá nhân đang sử dụng hợp pháp đất trồng rừng được tiếp tục sử dụng theo quy định của Luật, điều 3: “Nhà nước bảo hộ quyền lợi hợp pháp của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đầu tư lao động, tiền vốn, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật công nghệ vào các việc gây trồng rừng, bảo vệ rừng, khai thác, chế biến”
Trang 38Ngày 15/09/1992 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định 327/CT (gọi tắt là chương trình 327): “Về việc ban hành một số chủ trương, chính sách sử dụng đất trống đồi núi trọc, rừng, bãi bồi, ven biển và mặt nước hoang” Nội dung chủ yếu của chương trình 327 là tập trung để cải tạo mới rừng phòng hộ
và rừng đặc dụng gồm: bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh, trồng rừng gắn nông nghiệp với lâm nghiệp vừa khôi phục lại môi trường sinh thái, giải quyết một số việc làm, tăng thu nhập, từng bước cải thiện và nâng cao đời sống của đồng bào các dân tộc, tham gia tích cực vào chương trình xoá đói, giảm nghèo, điều chỉnh lại lao động dân cư giữa các vùng Qua đây nhận thức về bảo vệ và chăm sóc rừng, lâm nông kết hợp, tiếp thu kỹ thuật thâm canh, ý thức về sản xuất hàng hoá của đồng bào dân tộc vùng núi đã được nâng lên một bước
- Giai đoạn từ 1993 đến 2003
Luật đất đai năm 1993 được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 14/7/1993 Đây là một bộ Luật quan trọng thể hiện chủ trương chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta về đất đai cụ thể hoá Điều 17 và 18 Hiến pháp 1992 Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Thể chế hoá đường lối cơ bản của Đảng mà trực tiếp là Nghị quyết Hội nghị lần thứ V của Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 6 năm 1993
Luật Đất đai năm 1993 được Quốc hội thông qua đã đánh dấu kết quả một quá trình nghiên cứu, vận dụng thực tiễn để thể chế hoá các chính sách mới về đất đai, vừa đảm bảo phát huy quan hệ sở hữu toàn dân, phù hợp với cách vận hành mới của một nền kinh tế hàng hoá bắt đầu tiếp cận với cơ chế thị trường Bên cạnh đó, Luật Đất đai năm 1993 trong quá trình thực hiện vẫn còn bộc lộ một số bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội, do đó Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998 và 2001 đã có những vấn đề nổi bật đáng lưu ý như:
- Hộ gia đình cá nhân là đối tượng được giao đất sản xuất nông, lâm nghiệp, thay vì giao cho HTX và tập đoàn nông, lâm nghiệp như trước đây
- Người sử dụng đất có quyền sử dụng ổn định, lâu dài, ngoài ra còn có các quyền "Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, góp vốn" tạo cơ sơ pháp lý về những lợi ích cụ thể để người sử dụng đất thực sự làm chủ về sử dụng
và kinh doanh trên đất được giao
Trang 39- Đã khẳng định đất có giá và Nhà nước xác định giá đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại khi bị thu hồi đất
Ngoài ra, Luật Đất đai năm 1993, Luật sửa đổi bổ sung năm 1998, 2001 còn đề cập nhiều vấn đề đổi mới khác như: quy định mức hạn điền, thời hạn sử dụng đất, đất dành cho nhu cầu công ích Đây là những quy định cụ thể hoá bằng các Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993, Nghị định 85/CP ngày 28/08/1999 của Chính phủ ban hành quy định về giao đất nông nghiệp và Nghị định số 02/CP ngày 15/01/1994, Nghị định 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 về việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
a Những quy định về giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân
Chủ trương giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp được quy định tại Điều 18 Hiến pháp
1992, Điều 1, Điều 12 Luật Đất đai năm 1993, Nghị định 64/CP ngày 27/09/1993, Nghị định 85/CP ngày 28/08/1999 của Chính phủ ban hành quy định về giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích nông nghiệp, được thể hiện bằng các quy định về đối tượng được giao, quỹ đất được giao, nguyên tắc giao, thời hạn và hạn mức
* Đối tượng được giao đất nông nghiệp để sử dụng ổn định, lâu dài:
- Các nhân khẩu thường trú tại địa phương kể cả những người đang làm nghĩa vụ quân sự
- Những đối tượng có nhu cầu sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp thì UBND xã, phường, thị trấn căn cứ vào quỹ đất của địa phương, xét đề nghị UBND huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giao đất
+ Những người sống bằng nghề nông nghiệp cư trú tại địa phương nhưng chưa có hộ khẩu thường trú mà được UBND xã phường xác nhận
+ Con của cán bộ, công nhân viên chức Nhà nước và bộ đội nghỉ mất sức hoặc nghỉ việc do sắp xếp lại sản xuất, tinh giảm biên chế chỉ được hưởng trợ cấp một lần
Trang 40+ Xã viên HTX nông nghiệp trước đây đã chuyển sang làm ở HTX tiểu thủ công nghiệp hoặc HTX khác nay không có việc làm, trở lại làm nông nghiệp
* Quỹ đất nông nghiệp để giao cho hộ gia đình, cá nhân:
- Đất nông nghiệp đang sử dụng được giao toàn bộ cho hộ gia đình, cá nhân, trừ đất giao cho các tổ chức, đất dùng cho nhu cầu công ích xã Gồm có: đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, lâu năm, nuôi trồng thuỷ sản, đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hoá được xác định vào sản xuất nông nghiệp Đối với những loại đất nông nghiệp mà không thể giao cho từng hộ gia đình, cá nhân, tổ chức thì tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đó phải thuê đất sản xuất vào mục đích nông nghiệp
* Nguyên tắc để giao đất, sử dụng đất vào mục đích nông nghiệp:
- Giao đất trên cơ sở đảm bảo hiện trạng, đảm bảo đoàn kết, ổn định nông thôn, thúc đẩy sản xuất phát triển, thực hiện chính sách người làm nông nghiệp
có đất để sản xuất
- Người được giao đất, phải sử dụng đúng mục đích trong thời hạn được giao, phải bảo vệ, cải tạo, bồi bổ, sử dụng tiết kiệm, hợp lý để tăng khả năng sinh lợi từ đất và chấp hành đúng pháp luật đất đai
- Đất giao cho hộ gia đình, cá nhân là giao chính thức và cấp GCNQSDĐ
ổn định lâu dài
- UBND huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xét và cấp GCNQSDĐ trên
cơ sở đề nghị của UBND xã, phường, thị trấn
* Thời hạn giao đất nông nghiệp:
- Đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản thì thời hạn giao là 20 năm
- Đất nông nghiệp trồng cây lâu năm thì thời hạn giao là 50 năm
* Thời điểm giao đất:
- Hộ gia đình và cá nhân được giao đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 trở
về trước thì được tính thống nhất tính từ ngày 15/10/1993
- Đối với hộ gia đình, cá nhân được giao đất sau ngày 15/10/1993 thì được tính từ ngày giao đất