Luận văn: Xây dựng và sử dụng hồ sơ tư liệu điện tử trong dạy học lịch sử lớp 10 THPT(chương trình chuẩn) theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh. Chương 1 XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỒ SƠ TƯ LIỆU ĐIỆN TỬ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH- MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1. Cơ sở lí luận và xuất phát của đề tài 1.1.1.Một số khái niệm cơ bản sử dụng trong đề tài * Hồ sơ và hồ sơ tư liệu Theo cuốn từ điển Tiếng Việt phổ thông của Trương Văn Hùng, Nxb Thanh Niên (2007) "Hồ sơ là tập ghi chép tài liệu về một việc gì, một người nào: lập hồ sơ”[26; 582] Theo luật lưu trữ Việt Nam "Hồ sơ là một tập tài liệu có liên quan với nhau về một vấn đề, là một sự việc, một đối tượng cụ thể hoặc có đặc điểm chung, hình thành trong quá trình theo dõi, giải quyết công việc thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân (Khoản 10 Điều 2)".[ http://www. google.com] Cũng theo cuốn từ điển Tiếng Việt phổ thông của Trương Văn Hùng, Nxb Thanh Niên (2007) "Tài liệu là giấy tờ vật liệu để chứng minh một việc gì: Tài liệu lịch sử, Tài liệu bằng ảnh, Phim tài liệu".[26; 1120] Như vậy, có thể hiểu hồ sơ tư liệu là tập hợp hệ thống thông tin, tài liệu về một vấn đề hay một đối tượng nào đó nhằm lưu giữ hoặc phục vụ cho việc nghiên cứu những vấn đề liên quan về sau. * Hồ sơ tư liệu điện tử trong DHLS: Hồ sơ tư liệu trong dạy học là hệ thống những tư liệu, tài liệu,… có liên quan đến hoạt động dạy và học bộ môn của thầy và trò, phù hợp với nội dung chương trình, có tính giáo dục và phát triển HS trong quá trình học tập.[16; 113]. Trên cơ sở đó, chúng ta có thể quan niệm HSTLĐT trong DHLS là: một hệ thống các nguồn tư liệu do GV sưu tầm, xử lí, chọn lọc, phân loại, đánh giá và xây dựng theo cấu trúc và mục đích sử dụng. Nó bao gồm tất cả các nguồn tư liệu, tài liệu điện tử như: sách, báo, tranh ảnh, lược đồ,… được thể hiện trên máy tính hay các thiết bị công nghệ (được xây dựng có sự hỗ trợ của CNTT) có liên quan đến hoạt động dạy – học LS của GV và HS. Mục đích của việc xây dựng và sử dụng HSTLĐT nhằm bổ sung nguồn tư liệu cho GV trong quá trình DHLS, góp phần đổi mới PP và nâng cao hiệu quả bài học. Trong DHLS, khi nói đến HSTLĐT là nói đến nguồn tư liệu phục vụ cho hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS, muốn sử dụng chúng phải có sự hỗ trợ của công nghệ, kĩ thuật, điện tử.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYÔN THµNH TUY£N
x©y dùng vµ sö dông hå s¬ t liÖu ®iÖn tö
trong d¹y häc lÞch sö líp 10 thpt (ch¬ng tr×nh chuÈn) theo híng ph¸t huy tÝnh tÝch cùc cña häc sinh
Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học Lịch sử
Mã số: 60.14.01.11
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2014
LỜI CẢM ƠN
Trang 2Để có thể hoàn thành chương trình cao học và thực hiện luận văn thạc
sĩ, bên cạnh sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, em đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của quí Thầy /Cô, cũng như sự động viên, ủng hộ của gia đình, bạn bè trong suốt thời gian học tập.
Trước hết, em xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS.Nguyễn Mạnh người thầy đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn.
Hưởng-Em xin chân thành cảm ơn quí Thầy/ Cô khoa Lịch sử Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội, đặc biệt là các Thầy/ Cô trong tổ bộ môn Lí luận và phương pháp dạy học Lịch sử đã tạo tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường.
Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, tổ Văn-Sử Trường THPT số
2 Mường Khương – huyện Mường Khương - tỉnh Lào Cai đã tạo mọi điều kiện để em thực nghiệm và hoàn thành tốt luận văn.
Cuối cùng, em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè những người đã không ngừng động viên, hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tốt nhất trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn.
-Mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng để hoàn thiện luận văn, song không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được những đóng góp quí báu của quí Thầy/ Cô và các bạn.
Trang 3Chữ viết tắt Viết đầy đủ
Bộ GD – ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trang 4MỤC LỤC
HÀ NỘI - 2014 1
PHỤ LỤC CHƯƠNG 1
PHỤ LỤC CHƯƠNG 3
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta đang sống trong thời đại bùng nổcông nghệ thông tin (CNTT), thời đại của nền kinh tế tri thức Con ngườiđang vươn lên chiếm lĩnh đỉnh cao của khoa học - công nghệ và ứng dụng novào trong mọi mặt của đời sống xã hội Chính những thành tựu đo đã mang lạilợi ích to lớn trong việc nâng cao hiệu quả công việc cũng như chất lượngcuộc sống Ở nhiều quốc gia trên thế giới, giáo dục luôn được ưu tiên hàngđầu, được coi là quốc sách, là chìa khoa thành công cho sự phát triển và hộinhập Ở Việt Nam, nền giáo dục đang đứng trước những bước đi đầy tháchthức, đòi hỏi một cuộc cách mạng mạnh mẽ và táo bạo mới co thể xây dựngđược một nền giáo dục thực sự đáp ứng được nhu cầu của thời đại Đảng vàNhà nước ta luôn quan tâm đến giáo dục, mỗi môn học ở nhà trường phổthông với đặc trưng của mình đều phải gop phần đào tạo thế hệ trẻ một cáchtoàn diện, trong đo co môn LS
Lịch sử (LS) là môn học bắt buộc ở trường phổ thông co vai trò rất quantrọng trong giáo dục thế hệ trẻ Thực tế cho thấy, LS không phải là môn họctruyền thụ kiến thức mà quan trọng hơn, bộ môn LS rất co lợi thế trong giáodục đạo đức, tư tưởng, gop phần xây dựng nhân cách và phát triển tư duy toàndiện cho các thế hệ thanh, thiếu niên Ngay từ thời cổ đại, người ta đã xem LS
“là cô giáo của cuộc sống”,“là bó đuốc soi đường đi đến tương lai”[57;
204], và cho đến nay vai trò ấy vẫn không hề thay đổi Để thực hiện được vaitrò này, việc DHLS ở trường phổ thông không phải chỉ là cung cấp kiến thức
mà quan trọng phải phát huy tính tích cực cho người học, thông qua nhữngnguồn tư liệu thiết thực co giá trị LS, với những hình ảnh trực quan, sinh động
về tất cả những gì đã diễn ra trong quá khứ, tái hiện lại những bức tranh LSchân thực, sinh động, đánh thức được trái tim của người học, tạo cho các emnhững rung cảm từ đo nảy sinh hứng thú và yêu thích LS một cách tự nhiên
Trang 6Tiếc rằng trong những năm gần đây, chất lượng dạy và học của bộ môncòn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của giáo dục và sự phát triển của xã hội.Một thực tế đáng lo ngại hiện nay là nhiều học sinh (HS) đang thờ ơ với LS.
Sự yêu thích bộ môn cũng như chất lượng học tập đang co chiều hướng giảmsút, hiện tượng HS vô cảm trước LS ngày càng nhiều, Đây là vấn đề lớnkhông chỉ ngành giáo dục mà cả xã hội quan tâm
Nguyên nhân của tình trạng trên là sự tổng hợp của nhiều yếu tố kháchquan và chủ quan Theo các nhà nghiên cứu giáo dục và giáo dục LS, nguyênnhân này đến từ nhiều hướng như: quan niệm chưa đúng về bộ môn, việc đầu
tư cơ sở vật chất, thời gian cho dạy học (DH) bộ môn chưa nhiều, HS thườnghọc tập đối pho làm cho giáo viên (GV) giảm tâm huyết trong giảng dạy,
Trong các nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên thì dư luận xã hội hiệnnay rất quan tâm đến chương trình, sách giáo khoa (SGK), đặc biệt là phươngpháp (PP) dạy và học Trong PP dạy và học, việc khai thác, xây dựng và sửdụng nguồn tư liệu điện tử (TLĐT) với sự trợ giúp của các phương tiện hiệnđại vào DHLS còn nhiều hạn chế Thực tiễn trên đặt ra yêu cầu phải sớm conhững giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn LS,trong đo co việc ứng dụng CNTT vào xây dựng và sử dụng HSTLĐT
Chương trình LS lớp 10 (cả phần LS thế giới cũng như LS dân tộc) chứađựng một khối lượng kiến thức lớn, co nhiều nguồn tư liệu phản ánh những
“mảnh vụn”, “dấu tích” của quá khứ Nếu GV biết khai thác ưu điểm của CNTT,xây dựng và sử dụng hiệu quả nguồn TLĐT sẽ giúp HS học tập hiệu quả
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn vấn đề “Xây dựng và sử
dụng hồ sơ tư liệu điện tử trong dạy học lịch sử lớp 10 THPT(chương trình chuẩn) theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh” làm đề tài luận văn
thạc sĩ, chuyên ngành Lí luận và Phương pháp dạy học Lịch sử
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trang 7Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) noi chung, PPDH LS noiriêng trong đo co xây dựng và sử dụng HSTLĐT, đã và đang được các nhà líluận DH, các nhà giáo dục LS trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Tìmhiểu các nguồn tư liệu liên quan đến đề tài, chúng tôi xin khái quát các côngtrình tiêu biểu sau đây:
2.1 Nhóm tài liệu về Giáo dục học, Tâm lí học và PPDH nói chung
2.1.1 Tài liệu nước ngoài
B.P.Êxipôp trong cuốn “Những cơ sở của lý luận dạy học” đã nêu ra các
nguyên tắc DHLS, trong đo nhấn mạnh đến tính hệ thống và tính vững chắc của
việc lĩnh hội kiến thức Ông cho rằng "sự lĩnh hội kiến thức là quá trình liên tục đào sâu, chính xác hóa và củng cố kiến thức" [9; 75] Tác giả cũng cho
rằng để phát huy tính tự giác, tích cực của HS, cần thay đổi PP cũ, thay vì
“nắm tay học sinh dẫn từng bước trên một con đường phẳng phiu của những chân lý đã dọn sẵn thì bây giờ cần phải sử dụng một phương thức dạy học khác [9; 68]
Tác giả I.F.Kharlamốp trong tác phẩm “Phát huy tính tích cực của họcsinh như thế nào”, đã khẳng định DH là quá trình lĩnh hội một cách vững chắc
kiến thức của HS, việc nhận thức của HS không chỉ do GV mà HS phải“thực
sự nắm vững cái mà chính bản thân giành được bằng lao động của chính mình” [39, 17]
Đảm bảo tính trực quan là một trong những nguyên tắc cơ bản của lí luận
DH chung và DHLS noi riêng Từ thế kỉ XVI – XVII, J.A Cômenxki (1592 1670), nhà giáo dục người Tiệp Khắc (nay là nước Cộng hòa Séc) được biết đến
-là người đầu tiên đưa ra yêu cầu phải "đảm bảo tính trực quan trong DH” Ông cho rằng, trực quan là “quy tắc vàng ngọc” của GV [36; tr 151 ]
Theo K Đ Usinxki (1824 1870), nhà giáo dục học người Nga thì “tính trực quan phải là cơ sở quan trọng nhất của việc DH”, vì những hình ảnh đặc
biệt được lưu lại trong oc HS đều thu thập được thông qua trực quan [ 36; tr.12 ].Trong một số công trình của các nhà giáo dục và giáo dục LS, như:
Trang 8“Giáo dục học”, tập I của N.V Savin; “Giáo dục học”, tập II của T.A Ilina,
“PPDH lịch sử ở trường phổ thông trung học” của A.A Vagin, “DH nêu vấn đề” của I Ia Lecne,“Developments in history teaching” của Ian Steele;
“Tiến tới một PP sư phạm tương tác” của J Marc Denommé và Madeleine
Roy,… đều nhấn mạnh vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng đồ dùng trực quannoi chung, phương tiện kĩ thuật nghe – nhìn trong DH noi riêng Theo J Marc
Denommé và Madeleine Roy: khi HS học tập, “ những hình ảnh nhìn thấy được bao trùm rộng hơn là những hình ảnh nghe hoặc chuyển động… Không
có gì làm người ta khó chịu hơn là nhìn mà không thấy” [36; tr.152]
N.G.Đairi (Nhà giáo dục LS Liên Xô trước đây) trong tác phẩm “Chuẩn
bị giờ học lịch sử như thế nào”? đã nhấn mạnh công tác chuẩn bị của ngườithầy giáo mà trước hết là chuẩn bị về mặt nội dung Ngoài ra ông cũng nhấn
mạnh tính cụ thể, hình ảnh trong DHLS Ông coi việc “sử dụng tài liệu trực quan như là một nguồn nhận thức, đem lại tính cụ thể và hình ảnh của sự kiện, có giá trị lớn lao, vì chúng cho phép HS hình dung lại quá khứ” [ 36;tr.9, 25]
Như vậy từ rất sớm các nhà giáo dục, tâm lí học trên thế giới đã đề cậpđến các vấn đề liên quan đến PPDH, nguyên tắc trực quan, DH phát huy tínhtich cực của HS, đề cập đến tính hệ thống và tính vững chắc của việc lĩnh hộikiến thức Tuy nhiên, theo lí luận DHLS hiện đại, PPDH co sự phát triểnkhông ngừng đáp ứng yêu cầu giáo dục hiện nay Các tác giả trên chưa đề cậpđến vấn đề xây dựng và sử dụng HSTLĐT, theo hướng phát huy tính tích cực,chủ động của HS
Trang 92.1.2 Tài liệu trong nước
Ở Việt Nam, từ những năm 70 của thế kỉ XX một số nhà giáo dục cũngviết nhiều công trình, đề tài đề cập đến nguyên tắc trực quan trong DH, bao
gồm cả PP sử dụng phương tiện kĩ thuật, như: “Giáo dục học” tập I của Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt; “Lí luận DH đại cương” (tập I và II ) Nguyễn Ngọc Quang (1989), “những vấn đề cơ bản của giáo dục học hiện đại” (1999), “ Giáo dục học hiện đại” (2001) của Thái Duy Tuyên …
Từ nhưng năm 70 của thế kỉ XX, các nhà giáo dục LS nước ta bắt đầunghiên cứu lí luận và PPDH bộ môn, coi trọng tính hình ảnh trực quan và việc
sử dụng các loại thiết bị, phương tiện kĩ thuật trong DH Co thể kể đến: “Đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông cấp II” của Phan Ngọc Liên, Phạm Kỳ Tá; “Phương pháp DHLS” của Phan Ngọc Liên, Trần
Văn Trị (chủ biên) đã xuất bản , tái bản co sửa chữa và bổ sung nhiều lần,…;
“Phương pháp DHLS” của Phan Ngọc Liên (chủ biên), Trịnh Đình Tùng và Nguyễn Thị Côi; “Một số chuyên đề về Phương pháp DHLS” của Phan Ngọc
Liên, Trịnh Đình Tùng và Nguyễn Thị Côi, Trần Vĩnh Tường (đồng chủ
biên); "Hệ thống các Phương pháp DHLS ở trường THCS” của Trịnh Đình
Tùng (chủ biên),
Trong cuốn “Phương pháp dạy học truyền thống và hiện đại” của
Thái Duy Tuyên cũng trình bày một số tư tưởng DH tích cực như DH lấy HSlàm trung tâm, DH nêu vấn đề, DH theo lý thuyết kiến tạo, DH tương tác Các tư tưởng DH này đều đề cao vai trò trung tâm của người học cũng nhưvai trò tổ chức, điều khiển quá trình DH của người thầy Khi tổ chức cho HStiếp nhận kiến thức mới, người thầy cần chú ý đến việc đồng hoa kiến thức
mới với kiến thức cũ và “trong nhiều trường hợp phải sắp xếp lại cấu trúc của hệ thống tri thức để hoàn thiện dễ nhớ, dễ vận dụng” [49, 114] Tác giả
nhấn mạnh đến các PPDH phát huy tính tích cực của HS, trong đo co PPthảo luận thường được sử dụng rộng rãi trong các môn khoa học xã hội, norất phù hợp với các chủ đề co sự tham gia ý kiến của nhiều người hoặc
Trang 10những vấn đề co thể co một số cách giải quyết khác nhau
Trong cuốn giáo trình PP DHLS sử do Phan Ngọc Liên và Trần Văn Trịchủ biên (tái bản năm 2001) khẳng định việc tiến hành giáo dục phải tính đếnhiệu quả học tập, phải căn cứ vào trình độ chương trình, vừa sức với học tập ởmỗi lứa tuổi và sự vươn lên của HS để nắm những kiến thức Muốn vậy,ngoài việc nắm vững kiến thức cơ bản cần hệ thống các tài liệu đã học thànhcác vấn đề để nắm một cách tường tận, co khả năng ứng pho được các loạicâu hỏi, bài tập
Trong các tài liệu tập huấn giáo viên trung học cơ sở, trung học phổthông (THCS, THPT) hàng năm của Vụ giáo dục trung học đều nhấn mạnhđến sự cần thiết phải đổi mới PPDH ứng dụng CNTT vào DH, tuy nhiênnhững lần tập huấn chưa triệt để, đôi khi còn mang hình thức
Bên cạnh đo, chúng tôi cũng tiếp cận và tham khảo các bài viết trên cáctạp chí, luận án, các luận văn, khoa luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu.Như vậy, qua tiếp cận nhiều nguồn tài liệu, các tác giả đều khẳng địnhviệc sử dụng đồ dùng trực quan trong DH không những không hạ thấp vai trò
của người thầy, mà còn“làm tăng hiệu quả dạy học ở các mặt: thu nhận thông tin, tư duy, nghi nhớ và vận dụng kiến thức” [36; tr.43] Ngoài ra cáctác giả đề cập đến PPDH, DH phải tính đến hiệu quả việc học tập, Tuy nhiênchưa co tài liệu cụ thể nghiên cứu sâu về sử dụng CNTT để xây dựng và sửdụng tư liệu điện tử (TLĐT) trong DH
2.2 Nhóm tài liệu liên quan đến xây dựng và sử dụng hồ sơ tư liệu trong dạy học nói chung, dạy học lịch sử ở trường phổ thông nói riêng.
2.2.1 Tài liệu nước ngoài
Từ những thập niên cuối thế kỉ XX, việc tìm hiểu về vai trò, ý nghĩacũng như đề xuất các biện pháp ứng dụng CNTT nhằm nâng cao chất lượnggiáo dục, đào tạo đã được nhiều nước quan tâm như Mĩ, Anh, Pháp,
Australia, Canađa, Nhật Bản, Hàn Quốc, …
Timothy J Newby và các tác giả cộng sự trong cuốn “Intructional Technology for Teaching and Learning” (gồm 11 chương) đã đề cập đến vai
Trang 11trò, ý nghĩa của việc sử dụng các loại thiết bị, phương tiện kĩ thuật trong DHtheo hướng phát huy tính tích cực của người học, đồng thời đề xuất các biệnpháp sử dụng phương tiện, kĩ thuật hiệu quả [ 36; tr 18].
Với nhan đề “Teaching with Technology: Creating Student Claassrooms” (gồm 11 chương), Judith H Sandholtz và các tác giả đã trình bày về dự án “The Apple Classrooms Tomorrow”(viết tắt là ACOT ) giới thiệu
Centered-một số cách ứng dụng công nghệ máy vi tính vào DH theo hướng lấy HS làmtrung tâm, nêu lên tác động của no đối với nền giáo dục hiên đại [ 36; 18]
Cuốn "Learning with Technology: A Contrustivis Perspective” (gồm 8
chương) của một nhom giáo sư người Mĩ tập trung trình bày những tác độngtích cực của công nghệ máy tính đối với cách dạy của GV và PP học tập của
HS Theo David H Jonassen, nếu GV co PP sử dụng đa truyền thông trongquá trình DH sẽ kích thích một cách tích cực các giác quan của HS, giúp HSphát huy tốt năng lực, sở thích, năng khiếu riêng để tự khám phá kiến tạo trithức,…[36; tr 19]
Hiện nay liên quan đến vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo noichung, bộ môn LS với sự hỗ trợ của CNTT noi riêng còn co nhiều nguồn tài
liệu nước ngoài khác Tiêu biểu như:“Handbook of Research for Education Communication and Teachnology” của David H Jonassen, “Using ICT in History: A Teachers Resource Guide” của David Gardner;“The training of trainers program”, Block one two and three course materials (The Viet Nam – Australia training project the VAT project); “Strategies for E- Learning in Universities” của Chris Curran; “101 Esseninal List for Using ICT in the Classroom” của George Cole; "Educational Multimedia” của Usha V và
Reddi, …[36; tr 19] Dù tiếp cận ở goc độ khác nhau, nhưng các tác giả đều
co chung hướng nhận định: với ưu thế về mặt kĩ thuật và tiềm năng về tính cụthể, hình ảnh (do công nghệ máy tính đem lại), nếu GV ứng dụng hiệu quảCNTT trong DH sẽ gop phần quan trọng vào việc cải tiến PPDH, qua đo nângcao chất lượng giáo dục Đây không chỉ là xu thế tất yếu của nền giáo dục
Trang 12hiện đại, mà còn thể hiện sự nắm bắt kịp thời những tiến bộ của khoa học kĩthuật trên thế giới Dưới đây là những nét chủ yếu về một số tài liệu này:Trong nhiều bộ SGK và tài liệu giáo khoa của Mĩ, bên cạnh nội dungkênh chữ thì kênh hình luôn chiếm tỉ lệ lớn, nhằm hỗ trợ tư liệu hình ảnh cho
GV ứng dụng CNTT, hướng dẫn HS khai thác kiến thức trong quá trình họctập và rèn luyện các kĩ năng khác [36; 19 ],… Dựa vào những bức ảnh mầu cosẵn trong SGK, GV co thể scan lại, thiết kế trên các slide giáo án điện tử(GAĐT) để tổ chức DH, còn HS thì nghiên cứu, phát hiện và phát triển năng
lực nhận thức Ví như, chương 9 “Two War Are Fought” của cuốn “Exploring world history – A Global approach” đề cập đến hai cuộc chiến tranh mà người
Mĩ tham gia ở Triều Tiên và Việt Nam chỉ gồm 5 trang, nhưng co tới 5 hìnhảnh xen kẽ kênh chữ và câu hỏi Giống như nhiều chương khác, chương này co
phần “Developing Ideas and Skills” (phát triển nhận thức và kĩ năng), kèm
theo câu hỏi và bức hình Bài tập yêu cầu HS sử dụng lược đồ (co sẵn trongSGK, nhưng GV phải chuẩn bị và phong to trên màn hình) để các em trả lời 3câu hỏi: 1) Nhận diện và điền vào chỗ trống (….) những nước ở khu vực châu
Á là “cộng sản chủ nghĩa”; 2) Những quốc gia ở Đông Nam Á từng là thuộc
địa của Pháp trước khi Mĩ đến can thiệp; 3) Hai nước ở châu Á bị chia cắt,
diễn ra cuộc chiến tranh giữa một bên là “công sản chủ nghĩa” với bên kia
“không phải là cộng sản chủ nghĩa”,…[36; 21]
Cuốn “The training of trainers program” (Block one) của các nhà giáo
dục Australia đã chỉ ra 7 nguyên tắc dạy - học đối với GV và HS, trong đophải co sử dụng thiết bị DH hiện đại Bởi vì, nếu người học vừa được nghe,
vừa được nhìn thông qua hình ảnh, kết hợp với các hoạt động khác (tức huy động cùng nhiều giác quan một lúc) thì kết quả lĩnh hội kiến thức đạt hơn
Trang 13thông” Môn LS nêu rõ: “HS nên được tạo cơ hội để vận dụng và phát triển năng lực CNTT của mình vào học tập LS”[36; tr 22] Trong bài “Young people and ICT”, nhà giáo dục Mc Alister cho biết: 86% thế hệ trẻ Anh quốc
thừa nhận CNTT giúp chúng rất nhiều trong học tập; 74% phụ huynh các emtin tưởng con em mình sẽ học sáng tạo hơn nếu GV thường xuyên sử dụngCNTT khi DH [36; 22]
Co thế noi rằng tài liệu nước ngoài đã đề cập đến vai trò, ý nghĩa củaCNTT từ rất sớm Các tác giả của những nguồn tài liệu trên đều rất đề caoviệc ứng dụng CNTT vào giáo dục Song, các tác giả đề cập rất ít đến vấn đềứng dụng CNTT vào xây dựng và sử dụng HSTLĐT
2.2.2 Tài liệu trong nước
Trong giáo trình“Phương pháp dạy học lịch sử”(hai tập), nhà xuất bản
Đại học sư phạm Hà Nội (2002), của tập thể tác giả Phan Ngọc Liên (chủbiên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi, đã đề cập đến sự cần thiết của việc
sử dụng tài liệu tham khảo ngoài SGK Bởi vì,“do đặc trưng của việc học tập
LS, các tài liệu khác góp phần nhất định vào việc khôi phục, tái hiện hình ảnh quá khứ, các tài liệu này là phương tiện có hiệu quả để hiểu rõ hơn SGK”[52;
92] Đồng thời, các tác giả cũng khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc xây dựng
và sử dụng đồ dùng trực quan trong DHLS, trình bày cụ thể các loại đồ dùng
trực quan, nguyên tắc và PP sử dụng chúng Sách nhấn mạnh "việc sử dụng
đồ dùng trực quan trong DHLS hiện nay không chỉ giới hạn việc sử dụng bản
đồ, tranh ảnh, mô hình mà còn có các loại phương tiện kĩ thuật hiện đại”
[52; tr 61]
Như vậy, đối với hệ thống sách giáo trình các tác gia đã đề cập đến sựcần thiết của việc sử dụng tài liệu tham khảo ngoài SGK Tuy nhiên các tácgiả chưa đề cập đến việc xây dựng hệ thống tài liệu đo thành những bộ hồ sơtrong DHLS như thế nào để phát huy tính tích cực của HS
Trong nước, từ những năm 90 của thế kỉ XX, hướng nghiên cứu trên
được các nhà giáo dục quan tâm Ví dụ,“Phương tiện kĩ thuật và đồ dùng
Trang 14DH” của Nguyễn Cương;“Mấy quan điểm sử dụng máy tính điện tử như là công cụ DH” của Nguyễn Bá Kim và Đỗ Thị Hồng Ánh;“Đổi mới PP giảng dạy bằng CNTT- Xu thế của thời đại”,“Đưa tin học vào nhà trường phổ thông” của Quách Tuấn Ngọc,…;“Dùng CNTT để cải tiến dạy và học” của
chương trình Microsoft Partners in Learning [36; 25]
Trong cuốn “Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn Lịch sử” Nxb Đại
học sư phạm Hà Nội (năm 2009) của tập thể tác giả Nguyễn Thị Côi (chủ biên),Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Mạnh Hưởng, Đoàn Văn Hưng,… đã trình bày mộtcách tổng quan về kĩ năng xây dựng và sử dụng các loại hồ sơ tư liệu DHLS.Các tác giả đã nêu ra mục đích, ý nghĩa của hồ sơ tư liệu đối với việc DHLS, cácloại hồ sơ, kĩ năng sưu tầm, tích lũy và thiết lập hồ sơ tư liệu DHLS
Cuốn“Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả DHLS ở trường phổ thông” của tác giả Nguyễn Thị Côi, Nxb Đại học sư phạm Hà Nội (tái
bản năm 2011) tuy không đề cập trực tiếp nhưng cũng đặt ra vấn đề cần phải
sử dụng tư liệu, TLĐT trong quá trình DHLS
Bộ sách, hướng dẫn sử dụng kênh hình trong SGK LS lớp 10, Nxb Đạihọc sư phạm Hà Nội (năm 2013) của tập thể tác giả Nguyễn Thị Côi (chủbiên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Mạnh Hưởng; Hướng dẫn sử dụng kênh hìnhtrong SGK LS lớp 11, Nxb Đại học sư phạm Hà Nội (năm 2012) của tập thểtác giả Nguyễn Thị Côi (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Mạnh Hưởng,Nguyễn Thị Thế Bình; Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong SGK LS lớp 12.Nxb Đại học sư phạm Hà Nội (năm 2013) của tập thể tác giả Nguyễn Thị Côi(chủ biên), Nguyễn Mạnh Hưởng, Nguyễn Thị Thế Bình Qua bộ sách này,các tác giả đã tập hợp, đưa ra những biện pháp hướng dẫn khai thác hệ thốngkênh hình trong SGK LS cấp THPT
Đối với các sách chuyên khảo đã nêu, các tác giả đề cập đến vấn đề liênquan như: sử dụng tư liệu, TLĐT, hướng dẫn sử dụng Song các tác giả không
đề cập đến việc xây dựng và sử dụng HSTLĐT
Nhiều tài liệu khác như "Hướng dẫn sử dụng các hình ảnh về Chủ tịch
Trang 15Hồ Chí Minh trên CD và phần mềm Microsoft PowerPoint dạy học lịch sử”
của tác giả Nguyễn Thị Côi, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Mạnh Hưởng; Các đĩaEncatar từ năm 2000 đến năm 2007 chứa nhiều bài viết và hình ảnh LS, vănhoa, nghệ thuật, nhân vật LS Nhiều bài viết của các nhà giáo dục LS viết vềứng dụng CNTT trong DHLS như:
- Phan Ngọc Liên, “Sử dụng CNTT góp phần đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông”,Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 159-2007.
- Hoàng Thanh Tú, Nguyễn Tiến Trình, “Sử dụng phim tư liệu trong dạy học lịch sử”, Tạp chí dạy và học ngày nay số 4-2007.
- Trịnh Đình Tùng, Kiều Thế Hưng, "Xây dựng và sử dụng bản đồ trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông”, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục
- Trong luận án TS của tác giả Nguyễn Mạnh Hưởng trường Đại học
sư phạm Hà Nội (2011),"Nâng cao chất lượng DH môn LS ở trường THPT với sự hỗ trợ của CNTT", tác giả đã dày công nghiên cứu đưa ra biện pháp
cụ thể nâng cao chất lượng các bài nội khoa, tăng cường các hoạt độngngoại khoa, tổ chức kiểm tra, đánh giá môn LS ở trường THPT với sự hỗtrợ của CNTT Như vậy, tác giả đã đề cập đến nhiều khía cạnh từ việc ứngdụng CNTT vào để nâng cao chất lượng bộ môn, song chưa đề cập đếnviệc ứng dụng CNTT xây dựng và sử dụng HSTLĐT trong DHLS ở trườngphổ thông, theo hướng phát huy tính tích cực của HS
Vấn đề liên quan đến đề tài còn biết đến trong các Luận văn Thạc sĩ
khoa học Giáo dục của Dương Thị Thu, Sử dụng kênh hình trong sách giáo
khoa theo hướng phát huy tính tích cực học tập của HS khi dạy học lịch sử lớp 11 trung học phổ thông, Đại học Sư phạm Hà Nội (2007) Trong các khoa
Trang 16luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Hoàng Huệ, Nguyễn Thị BíchThủy, Nguyễn Thị Ánh Vân,…(2005) trường Đại học Sư phạm Hà Nội Cáctác giả cũng đề cập đến vấn đề xây dựng và sử dụng HSTLĐT trong DHLS
ở trường phổ thông, song chỉ dừng lại ở một phần, một chương mà chưa đisâu tìm hiểu tổng thể toàn bộ chương trình của một khối lớp hoàn chỉnh
Để đẩy mạnh đổi mới PPDH noi chung, DHLS noi riêng, với nguồnTLĐT phong phú và được tập hợp một cách co hệ thống, cùng PP và hướngdẫn sử dụng sẽ thuận lợi cho GV khai thác trong quá trình DH Hình thức này
đã được đề cập đến đối với chương trình LS lớp 11 được trình bày trong cuốngiáo án và tư liệu DH điện tử LS Lớp 11 bởi các tác giả Trịnh Đình Tùng,Nguyễn Mạnh Hưởng, Nguyễn Thị Côi, Lê Thị Thu (sách kèm theo đĩa CD-Room tư liệu hình ảnh) Ngoài phần thiết kế giáo án theo tinh thần đổi mới inthành sách, trên đĩa CD-Room kèm theo rất nhiều TLĐT như tranh ảnh, bản
đồ, lược đồ, khái niệm, trò choi LS của chương trình LS lớp 11, được các tácgiả chọn lọc, trình bày theo từng bài
Với những kinh nghiệm và tài liệu tham khảo của các nhà giáo dục LS đitrước đã gợi mở cho tôi khi vào thực hiện đề tài này
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình dạy - học LS lớp 10 ở
trường THPT với việc xây dựng và sử dụng HSTLĐT theo hướng phát huy tính tích cực của HS.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài không đi sâu vào kĩ thuật sử dụng CNTT trong DHLS, mà trên cơ
sở nghiên cứu lí luận, thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng HSTLĐT trongDHLS, chúng tôi áp dụng PP sưu tầm, chọn lọc, xử lí các nguồn tư liệu đểxây dựng thành HSTLĐT trên đĩa CD-Room phục vụ cho việc DHLS lớp 10THPT – chương trình chuẩn Đồng thời, chúng tôi cũng đưa ra một số gợi ý
về PP sử dụng nguồn TLĐT khi DHLS chương trình này theo hướng phát huytính tích cực của HS
Trang 174 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
4.1 Trên cơ sở tìm hiểu lí luận DHLS noi chung, môn LS noi riêng, đề
tài tiếp tục khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc xây dựng và sử dụngHSTLĐT trong DHLS, được vận dụng cụ thể vào chương trình LS lớp 10THPT- chương trình chuẩn theo hướng phát huy tính tích cực của HS
4.2 Để thực hiện mục đích trên, đề tài tập trung giải quyết một số nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng HSTLĐTtrong DHLS noi chung và LS lớp 10 THPT- chương trình chuẩn noi riêng
- Khảo sát, điều tra thực trạng DHLS và việc xây dựng, sử dụngHSTLĐT trong DHLS bằng hệ thống câu hỏi, phiếu điều tra
- Tìm hiểu chương trình, SGK LS lớp 10 (chương trình chuẩn) để bámsát nội dung chương trình LS ở trường phổ thông khi sưu tầm, xử lí và sửdụng HSTLĐT trong DH
- Sưu tầm và xử lí các nguồn tư liệu, (hình ảnh, tài liệu tham khảo,…)qua đo thiết kế và xây dựng HSTLĐT phục vụ DHLS lớp 10 THPT- chươngtrình chuẩn
- Đề xuất hình thức và PP khi sử dụng những tư liệu đã xây dựng trongHSTLĐT theo tinh thần phát huy tính tích cực của HS
- Soạn giáo án và thực nghiệm sư phạm (TNSP) để khẳng định tính khảthi của đề tài
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở phương pháp luận
Cơ sở PP luận của đề tài dựa trên những lí luận của chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước ta
Mác-về công tác giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ qua môn LS, đặc biệt là chủ trươngcủa Đảng và Nhà nước ta định hướng chỉ đạo đổi mới PPDH nhằm nâng caochất lượng và hiệu quả của bộ môn
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực giáo dục học, vì vậy PP nghiên cứu của
Trang 18chúng tôi tuân thủ theo những yêu cầu của một công trình khoa học giáo dục.Bên cạnh đo, do đặc trưng của đề tài thuộc chuyên ngành lí luận và PPDH LS,nên PP nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào bốn nhom chính:
- Nghiên cứu lí thuyết
* Nghiên cứu các tác phẩm của các tác giả kinh điển của chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng ta về giáodục và giáo dục LS
Mác-* Nghiên cứu các công trình của các nhà khoa học giáo dục, các nhà giáodục LS về việc sử dụng HSTLĐT, SGK và các tài liệu LS co liên quan đến đềtài nhằm phát huy tính tích cực học tập của HS
* Nghiên cứu nội dung chương trình LS lớp 10 THPT- chương trìnhchuẩn trong tổng thể nội dung chương trình giáo dục LS phổ thông
- Nghiên cứu thực tiễn
* Tìm hiểu thực tiễn DHLS noi chung để biết được tình hình giảng dạycủa bộ môn LS, thực tiễn việc xây dựng và sử dụng HSTLĐT trong DHLS ởtrường phổ thông co sự trợ giúp của CNTT
* Điều tra thực tế về tình hình học tập bộ môn LS của HS ở trường THPT
* Sưu tầm, chọn lọc, xác minh, đánh giá, xử lí nguồn tư liệu Trên cơ sở
đo, chúng tôi tổng hợp lại và xây dựng thành HSTLĐT, đưa vào đĩa Room, phục vụ trong DHLS lớp 10 THPT- chương trình chuẩn
CD TNSP: tiến hành TNSP ở trường THPT qua DHLS bài 1 “Sự xuất hiện loài người và bầy người nguyên thủy” ở lớp 10 THPT – chương trình chuẩn.
- Sử dụng toán học thống kê để xử lí các số liệu trong quá trình thực hiện đề tài
6 Giả thuyết khoa học
Nếu GV biết khai thác và vận dụng co hiệu quả những biện pháp sưphạm được đề xuất trong luận văn, phù hợp với điều kiện cụ thể của địaphương, từng nhà trường thì sẽ nâng cao hiệu quả của việc DHLS lớp 10 -chương trình chuẩn bằng việc xây dựng và sử dụng HSTLĐT trong DHLS,theo hướng phát huy tính tích cực của HS
7 Ý nghĩa của đề tài
Trang 197.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài gop phần làm phong phú thêm lí luận
PPDH bộ môn về vấn đề xây dựng và sử dụng HSTLĐT trong DHLS ởtrường THPT
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Thực hiện đề tài này không chỉ giúp cho bản thân tác giả luận văn nắmvững kiến thức bộ môn, áp dụng thành thạo, linh hoạt trong PP giảng dạy màcòn rèn kĩ năng, thao tác trong việc tìm kiếm, chọn lọc và xử lí nguồn TLĐT
để xây dựng HSTLĐT trong DHLS ở trường phổ thông, gop phần đổi mới PPDHLS, nâng cao chất lượng DH bộ môn Luận văn cũng sẽ là nguồn tài liệutham khảo cần thiết cho sinh viên, học viên cao học, GV và những ngườiquan tâm
8 Đóng góp của luận văn
- Làm rõ thêm lý luận và thực tiễn của PP DHLS noi chung về xây dựng
và sử dụng HSTLĐT trong DHLS noi riêng
- Xây dựng được HSTLĐT trong DHLS lớp 10 THPT – chương trình
chuẩn phục vụ thiết thực cho việc dạy và học của GV và HS Đây sẽ là nguồntài liệu tham khảo cho tác giả và sinh viên, học viên cao học chuyên ngànhPPDH LS để nâng cao chất lượng dạy – học bộ môn
9 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dungluận văn gồm ba chương:
Chương 1: Xây dựng và sử dụng hồ sơ tư liệu điện tử trong dạy học lịch
sử ở trường trung học phổ thông - Một số vấn đề lí luận và thực tiễn
Chương 2: Xây dựng hồ sơ tư liệu điện tử trong dạy học lịch sử lớp 10
trung học phổ thông - chương trình chuẩn
Chương 3: Hình thức, phương pháp sử dụng hồ sơ tư liệu điện tử trong
dạy học lịch sử lớp 10 trung học phổ thông - chương trình chuẩn
Trang 20Chương 1XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỒ SƠ TƯ LIỆU ĐIỆN TỬ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC
CỦA HỌC SINH- MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lí luận và xuất phát của đề tài
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản sử dụng trong đề tài
* Hồ sơ và hồ sơ tư liệu
Theo cuốn từ điển Tiếng Việt phổ thông của Trương Văn Hùng, Nxb
Thanh Niên (2007) "Hồ sơ là tập ghi chép tài liệu về một việc gì, một người nào: lập hồ sơ”[26; 582]
Theo luật lưu trữ Việt Nam "Hồ sơ là một tập tài liệu có liên quan với nhau về một vấn đề, là một sự việc, một đối tượng cụ thể hoặc có đặc điểm chung, hình thành trong quá trình theo dõi, giải quyết công việc thuộc phạm
vi chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân (Khoản 10 Điều 2)".[
http://www google.com]
Cũng theo cuốn từ điển Tiếng Việt phổ thông của Trương Văn Hùng,
Nxb Thanh Niên (2007) "Tài liệu là giấy tờ vật liệu để chứng minh một việc gì: Tài liệu lịch sử, Tài liệu bằng ảnh, Phim tài liệu".[26; 1120]
Như vậy, co thể hiểu hồ sơ tư liệu là tập hợp hệ thống thông tin, tài liệu
về một vấn đề hay một đối tượng nào đo nhằm lưu giữ hoặc phục vụ cho việcnghiên cứu những vấn đề liên quan về sau
* Hồ sơ tư liệu điện tử trong DHLS:
Hồ sơ tư liệu trong dạy học là hệ thống những tư liệu, tài liệu,… co liên
quan đến hoạt động dạy và học bộ môn của thầy và trò, phù hợp với nộidung chương trình, co tính giáo dục và phát triển HS trong quá trình học tập.[16; 113]
Trên cơ sở đo, chúng ta co thể quan niệm HSTLĐT trong DHLS là: một
Trang 21hệ thống các nguồn tư liệu do GV sưu tầm, xử lí, chọn lọc, phân loại, đánh giá
và xây dựng theo cấu trúc và mục đích sử dụng No bao gồm tất cả các nguồn
tư liệu, tài liệu điện tử như: sách, báo, tranh ảnh, lược đồ,… được thể hiệntrên máy tính hay các thiết bị công nghệ (được xây dựng co sự hỗ trợ củaCNTT) co liên quan đến hoạt động dạy – học LS của GV và HS Mục đíchcủa việc xây dựng và sử dụng HSTLĐT nhằm bổ sung nguồn tư liệu cho GVtrong quá trình DHLS, gop phần đổi mới PP và nâng cao hiệu quả bài học.Trong DHLS, khi noi đến HSTLĐT là noi đến nguồn tư liệu phục vụ chohoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS, muốn sử dụng chúng phải co
sự hỗ trợ của công nghệ, kĩ thuật, điện tử
1.1.2 Đặc trưng của kiến thức LS và con con đường hình thành kiến thức cho HS trong DHLS ở trường THPT
1.1.2.1 Đặc điểm của kiến thức lịch sử
So với nhiều môn học, kiến thức LS co những đặc điểm riêng biệt
Thứ nhất, kiến thức LS mang tính quá khứ Tất cả các sự kiện, hiện
tượng LS noi chung mà con người đang tìm hiểu là chuyện đã xảy ra Bởivậy, chúng ta không thể trực tiếp quan sát mà nhận thức thông qua nhiềunguồn tài liệu: tài liệu thành văn, hiện vật, di tích LS, hay là những ghi chép,nhận thức của người đương thời Tuy vậy, chúng lại co độ xác thực khácnhau Điều này đòi hỏi GV phải xác minh tính chính xác của tài liệu trước khi
tổ chức HS nghiên cứu, học tập Tuy vậy, dưới một goc độ khác, tính quá khứcủa kiến thức LS lại giúp GV bồi dưỡng, phát triển trí tưởng tượng của HSthông qua việc tri giác tài liệu và đồ dùng trực quan
Thứ hai, tính không lặp lại LS là một chuỗi hệ thống các sự kiện, hiện
tượng Song, nhìn chung chúng mang tính không lặp lại cả về không gian vàthời gian Mỗi sự kiện chỉ xảy ra ở một không gian và thời gian nhất định.Không co sự kiện, hiện tượng LS nào hoàn toàn giống nhau, dù co điểm giốngnhau Đo chỉ là sự lặp lại trên cơ sở không lặp lại Vì vậy, khi xây dựng và sửdụng HSTLĐT, GV phải xem xét tính cụ thể về các sự kiện, hiện tượng LS
Trang 22Thứ ba, tính cụ thể Trong quá trình phát triển, LS của mỗi quốc gia,
dân tộc đều co diện mạo khác nhau, do điều kiện riêng về tự nhiên, kinh tế,chính trị, xã hội, con người, trình độ quy định Mặt khác, mặc dù chịu tácđộng của quy luật chung nhưng họ co sự tiếp thu, thích ứng riêng và tạo ratiến trình phát triển không hoàn toàn giống nhau Đặc điểm này đòi hỏi trongquá trình xây dựng và sử dụng HSTLĐT, GV cần phân loại theo chương, bài,hoặc theo các nội dung kênh chữ và kênh hình, Việc làm này của GV càng
cụ, chi tiết, khoa học thì quá trình DH càng thuận tiện, dễ dàng hấp dẫn ngườihọc, phát huy tính chủ động tích cực của HS
Thứ tư, tính hệ thống Nội dung kiến thức LS rất phong phú, đề cập đến
tất cả các lĩnh vực của đời sống Song, chúng không tồn tại riêng lẻ mà luônliên quan chặt chẽ, chi phối, ảnh hưởng và quy định lẫn nhau Điều này đòihỏi GV khi xây dựng và sử dụng HSTLĐT phải chú ý tới mối quan hệ giữa sựkiện này với các sự kiện khác, cung cấp cho người học tri thức LS khoa học,mang tính thệ thống, hoàn chỉnh; tạo điều kiện cho các em nắm tính logic vàbản chất của vấn đề
Thứ năm, tính thống nhất giữa “sử” và “luận” LS là một ngành của
khoa học xã hội Ghi chép của các nhà sử học đã để lại nguồn tư liệu phongphú, nhưng đôi khi chúng bị chi phối bởi quan điểm cá nhân, giai cấp Dovậy, khi xây dựng và sử dụng HSTLĐT một bài học LS nào đo, GV phảiđảm bảo sự thống nhất giữa trình bày sự kiện với giải thích, bình luận Mọigiải thích, bình luận đều phải xuất phát từ sự kiện LS cụ thể, chính xác, đángtin cậy; giải thích để làm sáng tỏ bản chất sự kiện, hiện tượng đo
Thứ sáu, tính tương đối Bên cạnh sự chính xác, kiến thức LS còn thể
hiện tính tương đối nếu xét dưới goc độ nào đo Điều này được biểu hiện ởmột số khía cạnh như: những số liệu LS được trình bày trong SGK chỉ mangtính chất tương đối, gần đúng với thực tế; nhiều mốc thời gian cũng chỉ xác
Trang 23định là thuộc khoảng nào đo Vì vậy, GV không nên bắt HS nhớ quá chínhxác ngày tháng hay số liệu.
Xác định đúng và am hiểu những đặc điểm của kiến thức LS noi chung,kiến thức về CNTT sẽ giúp GV tìm ra các con đường, biện pháp phù hợp choviệc xây dựng và sử dụng HSTLĐT nhằm nâng cao hiệu quả bài học
1.1.2.2 Con đường hình thành kiến thức LS cho HS ơ trường phổ thông
Con đường hình thành kiến thức LS cho HS tuân thủ theo quy luật nhận
thức “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng trở
về thực tiễn”, nghĩa là phải trên cơ sở tư liệu sự kiện, tạo biểu tượng, hình thành
khái niệm, rút ra quy luật, bài học LS phục vụ cho thực tiễn cuộc sống
Nhận thức của HS trong học tập LS ở trường phổ thông cũng vậy, để đi
từ “biết” đến “hiểu”, rồi “vận dụng” kiến thức vào cuộc sống, trước tiên HS
phải được “nhìn thấy”, tức là trực tiếp quan sát sự kiện, hiện tượng, rồi mới tưduy trừu tượng quá khứ
Tuy nhiên, bộ môn LS lại co nét đặc trưng riêng biệt LS là mônhọc nghiên cứu về những sự kiện đã xảy ra trong quá khứ, hiện khôngtồn tại nguyên vẹn như thực tiễn, ngoài những dấu vết chứng minh mộtquá khứ co thực đã tồn tại Do đo, nhận thức LS chủ yếu không phảinhận thức bằng con đường trực tiếp hoặc tiến hành các thí nghiệm nhưnhiều môn học khác
Bên cạnh đo, khoa học LS còn co đặc trưng là những hoạt động của conngười diễn ra trong quá khứ, không kể thời gian ngắn hay dài Do vậy, trong
học tập LS, HS không thể bắt đầu từ “trực quan sinh động” thông qua các
giác quan theo kiểu sờ mo, ngửi, nhìn, nếm …quá khứ
Vì đặc trưng của bộ môn LS mang “tính quá khứ” và “tính không lặp lại” nên nhiều nhà nghiên cứu giáo dục bộ môn đã khẳng định: Con đường
hình thành kiến thức cho HS ở trường phổ thông bao giờ cũng phải từ cơ sởban đầu là nắm vững các sự kiện LS cụ thể để tạo nên những biểu tượng LSchân thực [58; 270, 271] Chúng ta co thể khái quát hoa sơ đồ về con đường
Trang 24hình thành kiến thức LS cho HS ở trường THPT như sau:
Hình 1: Sơ đồ về con đường hình thành kiến thức LS cho HS
ở trường THPT[36; tr.46]
Nhìn vào sơ đồ trên, quá trình nhận thức của HS trong học tập LS luônmang “tính đặc thù”, khiến người học gặp nhiều kho khăn khi ghi nhớ, ghinhớ lâu dài để hiểu và vận dụng kiến thức Từ quy luật nhận thức chung vềthế giới khách quan và sự nhận thức đặc thù của HS khi học tập LS giúpchúng ta hiểu rằng: Nếu GV không được trang bị tốt về PPDH, chỉ tiến hànhcác bài học trên lớp theo SGK, không nắm vững chuyên môn, nghiệp vụ sưphạm, không co sự đầu tư chuẩn bị về tư liệu thì rất kho khăn trong việc giúp
HS nhận thức Do vậy, để HS nhận thức đúng đắn LS như no đã xảy ra, từ đo
co tư tưởng tình cảm đúng thì phải khôi phục lại bức tranh LS chân thực,chính xác Muốn khôi phục được bức tranh sinh động về các sự kiện hiệntượng LS phải thông qua nhiều kiến thức, lời noi sinh động, đồ dùng trựcquan và tài liệu học tập Như vậy, việc xây dựng và sử dụng HSTLĐT là biệnpháp tốt giúp GV chủ động trong quá trình DH
1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của việc xây dựng và sử dụng HSTLĐT trong DHLS ở trường THPT
1.1.3.1 Vai trò
* Đối với giáo viên:
Trong giai đoạn hiện nay việc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục ViệtNam là yêu cầu bức thiết Trong đo đổi mới PPDH noi chung, PPDH LS noiriêng là một trong những yêu cầu hàng đầu nhằm nâng cao chất lượng DHLS
Trang 25Muốn nâng cao chất lượng DHLS, trước hết phải nâng cao hiệu quả củatừng bài học LS Để đạt được điều đo, GV phải co chuyên môn tốt, sử dụngnhiều biện pháp và biết kết hợp một cách linh hoạt, nhuần nhuyễn các PPDH.Một trong những biện pháp co tác dụng tích cực đối với việc nâng cao hiệuquả của bài học là sử dụng các loại TLĐT trong DHLS.
Đairi - nhà nghiên cứu lí luận DH của Liên Xô trước đây đã nêu ra sơ đồnổi tiếng về việc xây dựng các loại tài liệu phục vụ giảng dạy, nhằm làm nổibật và khắc sâu kiến thức cơ bản cho HS như sau:
Từ sơ đồ trên cho thấy, GV phải biết đâu là kiến thức cơ bản (ô số 2) cotrong SGK, đâu là tài liệu cần đọc, nghiên cứu thêm làm sáng tỏ, phong phú kiếnthức cơ bản vừa co trong SGK, vừa co trong bài giảng trên lớp của thầy (ô số 1),đâu là kiến thức HS co thể tự tìm hiểu dưới sự hướng dẫn của GV (ô số 3)
Như vậy, GV sử dụng SGK như thế nào để đảm bảo khai thác triệt đểnội dung chính của bài học, giúp HS nắm vững kiến thức trọng tâm của bàihọc nhưng tiết học không nặng nề, khô khan mà trái lại no sinh động, thu hút
và kích thích được hứng thú học tập của các em Đo cũng chính là mục đíchcuối cùng mà những người làm công tác giáo dục LS hướng tới Để làm đượcđiều đo, trong quá trình chuẩn bị kế hoạch bài học cũng như tiến hành bàigiảng, GV phải sử dụng nhiều tư liệu tham khảo khác ngoài SGK Những tưliệu tham khảo này đã được GV nghiên cứu kĩ lưỡng, sau khi đã thẩm định vàphân loại, sau đo mới vận dụng vào từng bài học, từng đơn vị nội dung kiếnthức cụ thể Tác dụng của nguồn tư liệu khi sử dụng, không chỉ làm rõ kiếnthức cơ bản trong SGK mà còn kích thích hứng thú học tập của HS
Xây dựng và sử dụng HSTLĐT co vai trò lớn đối với GV như sau:
Thứ nhất, việc xây dựng và sử dụng HSTLĐT trong DHLS sẽ giúp GV
không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Việc xây dựng và sử dụng HSTLĐT trong DHLS, không đơn thuần chỉ
là việc tìm kiếm, sưu tầm nguồn tư liệu để xây dựng trong HSTLĐT mà vớibản kế hoạch giáo án chi tiết, thông qua các bài giảng cụ thể, điều này giúp
Trang 26GV không ngừng học hỏi, đúc rút kinh nghiệm Vì vậy việc nghiên cứu, tựbồi dưỡng kiến thức, khai thác và sử dụng nguồn tư liệu một các hợp lí, khoahọc điều đo giúp GV làm chủ kiến thức không ngừng nâng cao trình độchuyên môn nghiệp vụ.
Thứ hai, việc xây dựng và sử dụng HSTLĐT trong DHLS sẽ gop phần
thiết thực và hiệu quả trong việc cải tiến, đổi mới PP dạy và học LS hiện nay.Trong quá trình khai thác, xây dựng và sử dụng HSTLĐT trong DHLS
GV không chỉ nghiên cứu về nội dung làm giàu kiến thức cho mình mà nhữngkiến thức từ trong nguồn tư liệu đo no vô cùng phong phú, không đơn thuần
là những bài viết tham khảo mà còn co cả hệ thống các kênh hình, nhữngđoạn phim tư liệu, tài liệu bồi dưỡng GV qua những lần tập huấn, những sángkiến kinh nghiệm của bạn bè đồng nghiệp,… Đặc biệt no chứa đựng cả nhữngnguồn tài liệu gốc quý giá, khi GV sử dụng trong quá trình DH, với hệ thốngnguồn tư liệu khoa học áp dụng vào từng nội dung đơn vị kiến thức cụ thể,
điều này không chỉ chống lại lối “dạy chay”, “học chay” mà giúp cải tiến,
đổi mới PP một cách thiết thực và hiệu quả
Thứ ba, việc xây dựng và sử dụng HSTLĐT trong DHLS giúp GV học
tập và bồi dưỡng thêm kiến thức liên môn, rèn kĩ năng, kĩ xảo… trong việcứng dụng CNTT trong DHLS
Trong quá trình khai thác sử dụng HSTLĐT, GV không chỉ co thêm tài liệuchuyên môn, liên môn mà còn rèn kĩ năng sử dụng các ứng dụng những phươngtiện công nghệ DH hiện đại Đo chính là việc ứng dụng các phần mềm tin học vào
DH noi chung, DHLS noi riêng, với một số phần mềm như: Photoshop, Flash,Adobe Audition, Photo Storry, Mindjet Manager, Violet… sẽ giúp GV xử lí tưliệu hình ảnh, xử lí, cắt ghép các đoạn phim, âm thanh… phù hợp với nội dungyêu cầu của từng bài học Việc sử dụng các chức năng cơ bản, các hiệu ứng phongphú, đa dạng… của phần mềm Microsoft PowerPoint sẽ giúp GV thiết kế và sửdụng co hiệu quả hệ thống các loại kênh hình theo yêu cầu bài giảng và ý đồ sưphạm của mình
Với khả năng siêu liên kết thông tin(hyperlink) của phần mềm này, GV
Trang 27co thể đưa vào bài giảng các hình ảnh, âm thanh, đoạn phim tư liệu đãđược xử lí, chọn lọc và biên tập theo ý tưởng của GV Nhờ đo, GV co thểphát huy tính sáng tạo trong nghiên cứu khoa học với những tình huống sư
phạm cụ thể Khi sử dụng các loại tư liệu là kênh hình “động” mà GV tự thiết
kế, giúp quá trình khai thác hiệu quả và sinh động hơn rất nhiều so với đồdùng trực quan truyền thống mà lại tiết kiệm được thời gian, công sức, tiềnbạc như: phải lên thư viện tìm kiếm, tự vẽ hay phải đi mua, GV sử dụngđược lâu dài, đúc rút kinh nghiêm, chỉnh sửa những hạn chế, bổ sung ưu điểmqua những lần khai thác, sử dụng giúp GV tổ chức cho HS nhận thức LSthông qua nguồn tư liệu này, HS khắc sâu được kiến thức trọng tâm và co hệthống, khái quát tốt nội dung bài học
* Đối với học sinh
Việc xây dựng và sử dụng HSTLĐT trong DHLS sẽ bổ sung và làmphong phú thêm nguồn tư liệu học tập cho HS ngoài SGK Nếu không conguồn tư liệu hoặc nguồn tư liệu không đầy đủ, không chính xác, thiếu cơ
sở khoa học thì việc nhận thức LS của HS trở nên kho khăn, nguy hiểmhơn là việc nhận thức LS hết sức mơ hồ, thậm chí làm mất đi giá trị LS vốn
co của no
Việc xây dựng và sử dụng HSTLĐT trong DHLS, cũng giúp HS khắc sâuđược kiến thức trọng tâm của từng bài học, sự kiện, hiện tượng, biến cố LS,…Sau khi học xong mỗi bài, từng chương, từng phần hay khoa trình, các em co thể
hệ thống được kiến thức cơ bản của cả khoa trình đo Việc học tập LS không chỉ
để “biết” mà trên cơ sở “biết” các em phải hiểu sâu sắc ngọn ngành
Ngoài ra, việc GV xây dựng và sử dụng HSTLĐT trong DHLS còn co
vai trò to lớn trong việc thu hút, tạo hứng thú và kích thích học tập của cácem
1.1.3.2 Ý nghĩa
Việc GV xây dựng và sử dụng HSTLĐT trong DHLS thường xuyên vàhiệu quả sẽ đem lại ý nghĩa to lớn cho HS trên cả ba mặt :
Trang 28* Về kiến thức
- Đây sẽ là biện pháp quan trọng giúp HS lĩnh hội kiến thức LS (thông qua cung cấp sự kiện, tạo biểu tượng LS),…
Ví dụ, khi dạy Mục 1"Cách mạng công
nghiệp ở Anh" (bài 32- SGK LS 10-chương trình
chuẩn) GV cung cấp những kiến thức về thành tựu
của cách mạng công nghiệp, sau đo GV sử dụng
HSTLĐT ở bài 32 trong thư mục kênh hình vận
dụng vào bài giảng bằng hình ảnh máy hơi nước
giúp HS trực quan theo dõi Sau khi yêu cầu HS trình bày hiểu biết của mình
về máy hơi nước qua bức ảnh, GV tiếp tục sử dụng bức ảnh để tạo biểu tượng
về máy hơi nước cho HS « Nhắc đến máy hơi nước, người ta liên tưởngngay đến một người co tên là Giêm Oát- nhà phát minh nổi tiếng của nướcAnh xuất thân từ một người thợ học nghề Cống hiến chủ yếu nhất của ông là
đã phát minh ra máy hơi nước khi cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh vừamới bắt đầu Trước Diêm Oát cũng đã co người phát minh ra máy hơi nước,nhưng còn rất thô sơ, chỉ dùng vào việc hút nước ở giếng mỏ Năm 1705, ởAnh co người thợ rèn Niu-cô-men đã chế tạo được một máy hơi nước đặt tên
là "máy lửa" Nhưng loại máy này còn rất nhiều sai sot: khi dùng người taphải tốn rất nhiều than, mà sức kéo lại không lớn, rất kho sử dụng rộng rãi Vìthế, Giêm Oát đã nghiên cứu kĩ chiếc "máy lửa" đo, tìm ra các sái sot để tìmcách cải tiến Sau 6 năm mày mò làm đi thử lại, cuối cùng vào năm 1784,Giêm Oát đã thành công trong việc sáng chế loại máy hơi nước kiểu mới.Loại máy này không những hơn hẳn "máy lửa" về chất lượng và sức kéo, màchất lượng than dùng chỉ tốn 2/3 so với máy cũ »
- Giúp HS hiểu sâu, nhớ lâu kiến thức, thấy được mối liên hệ qua lại của các yếu tố tạo nên sự kiện LS.
Ví dụ, khi dạy Mục 1"Các mạng công nghiệp ở Anh" (bài 32- SGK LS
10-chương trình chuẩn) Để giúp HS hiểu sâu, nhớ lâu kiến thức thấy được mốiliên hệ qua lại của các yếu tố tạo nên sự kiện LS, GV tiếp tục đi sâu phân tích
Trang 29sự kiện máy hơi nước như sau: Máy hơi nước của Giêm Oát là một phát minhquan trọng thuộc lĩnh vực công cụ sản xuất Thành tựu này ra đời đã giải quyếtđược hàng loạt kho khăn của ngành công nghiệp dệt ở Anh vào thế kỷ XVIIInhư nhà máy được xây dựng ở nơi thuận tiện hơn, tăng năng suất lao động,giảm sức lao động cơ bắp của con người…Không chỉ vậy, phát minh này củaGiêm Oát còn đặt nền mong cho việc cải tiến, sáng tạo máy moc và sử dụngchúng một cách phổ biến trong hoạt động sản xuất, đánh dấu bước chuyểnquan trọng của nhân loại từ lao động cơ bắp sang sử dụng máy moc.
* Về giáo dục
Sử dụng HSTLĐT trong DHLS dưới sự hướng dẫn của GV, HS hiểu sâusắc sự kiện, hiện tượng LS, từ đo các em co những tình cảm, xúc cảm LS, nhưthái độ khâm phục, kính yêu hay căm ghét, vui mừng giận dữ …
Việc xây dựng và sử dụng HSTLĐT trong DHLS một cách khoa học với
hệ thống nguồn tư liệu như hệ thống kênh hình, kênh chữ (khái niệm, thuậtngữ…) sẽ co tác dụng rất lớn đối với việc giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức
và thẩm mĩ cho HS Trong quá trình phát triển của xã hội cùng với sự nỗ lựckhông ngừng của ngành giáo dục các em ngày càng co điều kiện học tập tốthơn Vì thế, trong học tập LS và nhận thức LS lại càng đòi hỏi các em co thái
độ đúng đắn và trách nhiệm đối với những sự kiện, hiện tượng, chứng tích LS,
… rút ra được những bài học LS cần thiết để vận dụng một cách phù hợp vàotrong thực tế cuộc sống Việc khắc sâu kiến thức qua ví dụ trên, giáo dục HSthái độ nghiêm túc trong lao động, học tập, thấy được giá trị của lao động đặcbiệt vai trò của những phát minh khoa học co hàm lượng tri thức cao
* Về phát triển
Sử dụng HSTLĐT trong DHLS gop phần phát triển năng lực nhận thứccủa HS, trong đo đặc biệt là khả năng tư duy độc lập, phát triển oc quan sát,trí tưởng tượng, tư duy ngôn ngữ và rèn luyện kĩ năng thực hành bộ môn chocác em Khi các em được tiếp cận, được học với nhiều nguồn tư liệu khácnhau để tham khảo cho nội dung bài học, dưới sự hướng dẫn tổ chức của GV
Trang 30điều này co tác dụng rèn cho các em cách tiếp cận khoa học, đi đến phân tích,
so sánh, khái quát, rút ra kết luận Khi ấy các thao tác tư duy của HS càngđược rèn luyện và phát triển hơn
Ví dụ, cũng qua ví dụ trên giúp HS rèn luyện khả năng tư duy, phát triển
oc sáng tạo, trí tưởng tượng Từ việc biết được quá trình mày mò nghiêng cứucủa Giêm Oát để phát minh máy hơi nước, người đầu tiên đặt nền mong choviệc cải tiến, sáng tạo máy moc và sử dụng chúng một cách phổ biến trong hoạtđộng sản xuất, đánh dấu bước chuyển quan trọng của nhân loại từ lao động cơbắp sang sử dụng máy moc Điều này rèn cho HS tính kiên trì bền bỉ trong họctập nghiên cứu, nẩy sinh những ý tưởng khoa học và làm nghiên cứu khoa họa– kĩ thuật ngay từ khi còn ngồi trên nhà trường
1.1.4 Những biểu hiện về tính tích cực của HS trong DHLS ở trường THPT
∗Nhận thức tích cực
Theo tâm lí học: tính tích cực của HS co mặt tự phát và mặt tự giác:Mặt tự phát: là những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh thể hiện ở tính tò mò,hiếu kì, hiếu động, linh hoạt và sôi nổi trong hành vi mà trẻ đều co ở nhữngmức độ khác nhau
Mặt tự giác: là trạng thái tâm lí co mục đích và đối tượng rõ rệt, do đo cohoạt động để chiếm lĩnh đối tượng đo Tính tích cực tự giác thể hiện ở ocquan sát, tính phê phán trong tư duy, trí tò mò khoa học
Nhận thức tích cực còn biểu hiện sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác vớiđối tượng trong quá trình học tập, nghiên cứu; thể hiện sự nỗ lực của hoạtđộng trí tuệ, sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lí (như hứng thú,chú ý, ý chí ) nhằm đạt được mục đích đặt ra với mức độ cao
Từ những quan điểm trên, theo chúng tôi hiểu:
Nhận thức tích cực là quá trình nhận thức chủ động, tự giác của chủ thể, nhằm chiếm lĩnh đối tượng nhận thức bằng sự nỗ lực cao của hoạt động trí tuệ và sự huy động tối ưu các chức năng tâm lý, dựa trên nền tảng
Trang 31của hứng thú và khát vọng sáng tạo.
∗Những biểu hiện về tích cực của HS trong DHLS ở trường THPT
Nhận thức lịch sử, và theo đo là nhận thức tích cực trong DHLS, bêncạnh những cái chung còn co những cái riêng
Tính riêng của nhận thức tích cực trong DHLS được quy định bởi chínhđặc trưng của nhận thức lịch sử và DHLS, với những nội dung cơ bản dưới đây:
Một là, nhận thức lịch sử là nhận thức về các sự kiện đã xảy ra trong quá
khứ mà hiện không tồn tại vẹn nguyên trong thực tiễn Do đo, nhận thức lịch sửchủ yếu không phải nhận thức bằng con đường trực tiếp hoặc tiến hành các thínghiệm như nhiều môn học khác Việc tiếp nhận kiến thức quá khứ đòi hỏi tínhtrừu tượng rất cao và oc tưởng tượng rất phong phú, để dựng lại hình ảnh chânthật về một sự kiện đã qua, mà sự kiện đo không còn tồn tại trong hiện tại
Hai là, nhận thức lịch sử, xét cho đến cùng là tìm hiểu bản chất của quá
khứ chứ không phải chỉ là nhận thức ở bề ngoài, là kể lại diễn biến sự kiện,
mà là nhận thức bản chất của sự kiện, của quy luật phát triển của xã hội Bảnchất của sự kiện lịch sử không bao giờ bộc lộ trực diện và trực tiếp ở nhữngbiểu hiện bên ngoài mà giác quan của con người co thể trực tiếp cảm nhậnđược Đây cũng là một trong những đặc điểm chung của quá trình nhận thứcbản chất của mọi sự vật, hiện tượng
Trong tính thống nhất và hệ thống của mình, bản chất của quá trình lịch
sử thể hiện ở những khái niệm trừu tượng, thông qua những khái niệm trừutượng, từ ở mức độ thấp trong phạm vi bản chất một sự kiện, của một giaiđoạn lịch sử cụ thể, đến bản chất của một thời đại, một thời kỳ lịch sử, cũngnhư cả quá trình phát triển của lịch sử nhân loại
Ba là, nhận thức bản chất của sự kiện, của quá trình lịch sử - mặc dù rất
quan trọng – nhưng chưa phải là mục tiêu cuối cùng của nhận thức lịch sử noichung và hoạt động DHLS noi riêng Vấn đề ở chỗ, phải khai thác được giá trịcủa sự kiện lịch sử cho việc giáo dục thế giới quan và nhân sinh quan của HS,
Trang 32là vận dụng việc hiểu biết quá khứ vào thực tiễn cuộc sống Đo là một nguyêntắc rất cơ bản của hoạt động dạy học [33].
Từ những nội dung trên đây, theo chúng tôi, co thể hiểu khái quát:
Nhận thức tích cực trong học tập lịch sử là quá trình nhận thức chủ động, tự giác của người học, nhằm chiếm lĩnh tri thức lịch sử bằng sự nỗ lực cao của hoạt động trí tuệ và tự huy động tối ưu các chức năng tâm lý dựa trên nền tảng của hứng thú và khát vọng sáng tạo, phù hợp với đặc trưng, bản chất của tri thức lịch sử và vận dụng sáng tạo tri thức đó vào cuộc sống.
dục, đặt dấu mốc cho bước đột phá phát triển mạnh mẽ giáo dục nước nhà.Một trong những điều kiện tiên quyết đo là việc đổi mới PPDH theo hướngtích cực hoa các hoạt động học tập của HS Đối với bộ môn LS, việc DHLS ởtrường phổ thông hiện nay còn nhiều hạn chế ở tất cả các khâu trong quá trình
DH, trong đo co cả yếu tố chủ quan và khách quan Tuy nhiên điều mà cả xãhội quan tâm nhiều nhất đo chính là PPDH của GV còn chậm đổi mới
Để co cơ sở đánh giá thực tiễn việc xây dựng và sử dụng HSTLĐT trongDHLS của GV và HS ở trường phổ thông hiện nay, chúng tôi thu thập dữ liệuqua nhiều kênh thông tin như sách, báo, bài nghiên cứu, thâm nhập thực tế(điều tra, dự giờ, trao đổi chuyên môn…) Từ các kênh thông tin chúng tôi rút
ra một số kết luận chung:
Thứ nhất, về xây dựng và sử dụng HSTLĐT, nhìn chung GV các trường
phổ thông co ý thức đã cố gắng thu thập, xây dựng và sử dụng trong quá trình
Trang 33DHLS Song co sự phân hoa rõ rệt ở các thế hệ GV Với lớp GV trẻ, vấn đềnày được chú trọng ngay trong quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện tạitrường đại học Đây là điều dễ hiểu bởi quá trình phát triển và ứng dụngCNTT vào DH mới chỉ bắt đầu từ những thập niện cuối của thế kỉ XX, nhưng
đã co sự bùng nổ mạnh mẽ trong vài năm trở lại đây Tuy nhiên số lượng GV
và những bộ HSTLĐT phục vụ cho DH không nhiều
Thứ hai, ngược lại với thế hệ GV trẻ, không ít Thầy/Cô sau nhiều năm
công tác giảng dạy, vẫn không co được HSTLĐT để phục vụ quá trình giảngdạy, chỉ khi nào co dự giờ, thi GV dạy giỏi, thi hội giảng…cần đến nguồn tưliệu, mới tìm kiếm một cách bị động, còn hàng ngày chỉ sử dụng SGK giảngdạy ở trên lớp một cách đơn thuần
Thứ ba, cách thức xây dựng và PP sử dụng còn nhiều hạn chế, bất cập.
Co nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, trong đo co cả nguyên nhânchủ quan và khách quan Điều này thể hiện ở những điều kiện như cơ sở vậtchất, trang thiết bị phục vụ DH, cơ chế quản lí các cấp lãnh đạo cũng nhưnhận thức của GV và HS còn hạn chế Tuy nhiên, điều thật sự đáng lo ngại đochính là năng lực của GV khi thực hiện việc xây dựng và sử dụng HSTLĐTtrong DHLS còn thiếu và yếu về kĩ năng ứng dụng các phương tiện DH hiệnđại, dẫn đến việc co thực hiện nhưng hiệu quả không cao (chúng tôi sẽ noi kĩ
ở mục 1.1.2)
1.2.2 Thực tiễn xây dựng và sử dụng HSTLĐT trong DHLS lớp 10 THPT- chương trình chuẩn
1.2.2.1 Đối tượng, địa bàn, nội dung và phương pháp điều tra
Về phía GV, chúng tôi thực hiện điều tra ở một số trường THPT: Lào
Cai, Phú Thọ, Nam Định, Ninh Thuận, Lâm Đồng ngoài ra còn co học viêncao học Khoa lịch sử khoa K23 trường Đại học Sư phạm Hà Nội (xem ở bảngthống kê)
Trang 34STT Tỉnh Trường Số GV,học viên
được điều tra
Về phía HS, chúng tôi tiến hành điều tra ở nhiều trường THPT gồm: THPT
số 1,2,3 TP.Lào Cai; THPT số 2 Mường Khương (Lào Cai); THPT HùngVương, TX Phú Thọ (Phú Thọ); THPT Bảo Lộc, (TP Bảo Lộc - Lâm Đồng)
Nội dung điều tra gồm: quan niệm, hình thức, PP, mức độ sử dụng,
những thuận lợi và kho khăn, hiệu quả của GV và HS khi xây dựng và sửdụng HSTLĐT trong DHLS
Hình thức và PP điều tra của chúng tôi khá phong phú như dự giờ, trao
Trang 35đổi chuyên môn, noi chuyện với GV và HS… trong đo biện pháp chủ yếu làphát phiếu điều tra cho GV, HS và học viên cao học k22 Khoa Lịch sử trườngĐại học Sư phạm Hà Nội.
1.2.2.2 Kết quả điều tra về phía giáo viên (ở từng nhóm câu hỏi )
Thông qua số liệu điều tra về quan niệm trong nhận thức của ban lãnhđạo các trường, GV dạy LS các trường THPT cho thấy: về cơ bản lãnh đạo,
GV LS đều quan niệm môn LS là môn phụ, môn học thuộc nên ít được quantâm, (tỉ lệ này là 28/38 ý kiến, chiếm tới 73.68%) Đồng thời co tới (26/38 ýkiến, chiếm tới 68.42%) cho rằng môn LS là môn học quan trọng, co ưu thếtrong giáo dục truyền thống yêu nước và tinh thần đoàn kết dân tộc… đối vớithế hệ trẻ Song thực tế cho thấy chỉ co số ít (5/38) quan niệm rằng môn LS làmôn học chính, được quan tâm ngang hàng với bộ môn khác chiếm (13,15%)
Về chuyên môn, quan niệm của GV LS về HSTLĐT trong DHLS co sựkhác nhau Nhưng tựu chung lại họ hiểu rằng, đo chính là nguồn tư liệu phục
vụ cho hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò, muốn sử dụng hiệuquả phải co sự hỗ trợ của công nghệ, kĩ thuật, điện tử (38/38 đồng ý, chiểm tỉ
lệ 100%) Xuất phát từ quan niệm về HSTLĐT trong DHLS như vậy, GV cho
rằng: việc xây dựng và sử dụng HSTLĐT trong DHLS là rất cần thiết, vì bàihọc nào cũng cần phải sử dụng để mở rộng kiến thức (với 26/38 đồng ý,chiếm 68.42%), và chỉ co 2/38 đồng ý, chiểm 5.26% đây là tỉ lệ rất ít cho rằng
không cần thiết, vì HS không yêu thích LS (xem bảng 1.1- phụ lục 1c)
Để đánh giá được khách quan về mức độ ứng dụng CNTT vào DHLS ởcác trường THPT, cũng phần nào phản ánh sự chính xác trong việc xây dựng
và sử dụng HSTLĐT trong DHLS Qua con số điều tra cho thấy, GV từngứng dụng CNTT vào DHLS, song tần suất ứng dụng còn khá là khiêm tốn chỉ
co (5/38 đồng ý, chiếm 13.15%) Số GV mà ứng dụng bình thường khi dưới(dưới 2 lần/ một học kì) hay khiếm khi (chỉ khi nào hội giảng, thi GV dạygiỏi,…), tỉ lệ này lại khá cao từ (86.84% đến 92.10 %) Phản ánh việc ứng
Trang 36dụng CNTT trong DHLS hiện nay còn rất khiêm tốt Trong khi đo hình thức
và PP sử dụng tư liệu trong DHLS, tuy đã co nhiều cố gắng, song do nhiềunguyên nhân chủ quan và khách quan mà GV mới chủ yếu tự tìm hiểu vàtrình bày nội dung kiến thức tư liệu cho HS (27/38 đồng ý, chiếm 71.05%)
Các hình thức, PP khác tuy co thực hiện nhưng hiệu quả chưa rõ ràng (xem bảng 1.2- phụ lục 1c).
Qua bảng số liệu điều tra chúng ta thấy những gì đã và đang diễn ra cònnhiều bất cập, hạn chế Ví dụ, số GV đã và đang xây dựng nhưng rời rạc,không co hệ thống, vì chưa hình dung một HSTLĐT như thế nào (5/38 đồng
ý, chiếm 13.15%) Số GV đã và đang xây dựng rất khoa học theo từng bài,chương, phần… tạo thành một hệ thống hồ sơ tư liệu hoàn chỉnh để thuận lợicho việc sử dụng chỉ co (3/38 đồng ý, chiếm 7.89%) Đây thật sự là lỗ hổnglớn, hạn chế tồn tại trong một thời gian dài Trong khi đo nhom GV chưa baogiờ xây dựng, chỉ sưu tầm và sử dụng khi thao giảng, hoặc thi GV dạy giỏi…(76.31%), rất hình thức, đối pho để thi đua về thành tích Nhom GV mongmuốn xây dựng nhưng điều kiện không cho phép, không thuận lợi thì thực tếchiếm tỉ lệ cao (86.84%)
Từ thực tế cho thấy, trong điều kiện hiện nay cũng như trong thời giantới muốn xây dựng và sử dụng HSTLĐT trong DHLS đạt hiệu quả, GV phảithật sự tâm huyết, đầu tư thêm thời gian, được tham gia các lớp tập huấn, bồidưỡng về chuyên môn, PP, kĩ năng ứng dụng CNTT, trong đo co xây dựng và
sử dụng HSTLĐT
Thông qua điều tra, khảo sát thấy rằng hầu hết các GV dạy LS đều gặpnhững kho khăn nhất định khi xây dựng HSTL Song nổi bật cho những khokhăn mà GV gặp phải đo chính là chưa thành thạo về CNTT và mất quá nhiềuthời gian cho công tác chuẩn bị, dẫn đến tâm lí ngại làm, ngại ứng dụng vào
trong DHLS(xem bảng 1.3- phụ lục 1c).
1.2.2.3 Kết quả điều tra về phía học sinh( ở từng nhóm câu hỏi)
Bảng 1.4 Kết quả khảo sát quan niệm của HS về môn LS
Trang 37Nội dung khảo sát Đồng
ý
Tỉ lệ (%)
1 Ở trường em, Thầy/Cô và các bạn quan niệm như thế nào về bộ
môn LS?
“môn phụ”, môn “học thuộc” nên ít quan tâm
môn học chính, được quan tâm ngang hàng với bộ môn khác
môn học quan trọng, co ưu thế trong giáo dục truyền thống yêu
nước và tinh thần đoàn kết dân tộc… đối với thế hệ trẻ.
môn học “kho”, “khô khan”, không co ích gì cho xã hội
255 45 225 125
78.46 13.85 69.23 38.46
Bảng 1.4 cho thấy đa phần HS và GV cho rằng LS là môn phụ, môn họcthuộc co tới 255 HS đồng ý (chiếm 78,46%) Trong khi đo chỉ co 45HS quanniệm LS là môn học chính (chiếm 13.85%) Đây là tỉ lệ quá thấp co quanniệm đúng nghĩa về vị trí của bộ môn, song bên cạnh đo co 225HS (chiếm69.23%) đồng ý cho rằng môm học quan trọng, co ưu thế trong giáo dụctruyền thống yêu nước và tinh thần đoàn kết dân tộc… đối với thế hệ trẻ Cotới 125 HS đồng ý (chiếm 38.46%) cho rằng đây là môn học kho, khô khan,
không co ích gì cho xã hội (xem bảng 1.4)
Bảng 1.5 Kết quả khảo sát tần suất HS được học tập khi Thầy/Cô sử dụng
nguồn tư liệu điện tử
Nội dung khảo sát Đồngý Tỉ lệ (%)
1 Trong học tập LS, em thấy Thầy/Cô có thường xuyên sử dụng“tư
liệu điện tử” trong DH không?
thường xuyên (bài học nào cũng co)
thỉnh thoảng.
hiếm khi (chỉ khi nào hội giảng, thi GV dạy giỏi, )
chưa bao giờ
32 295 298 0.0
9.85 90.76 91.69 0.00
Qua những số liệu cho thấy, GV thỉnh thoảng hoặc hiếm khi sử dụngTLĐT co sự hỗ trợ của CNTT vào trong DHLS, co tới 295-298HS đồng ý
(chiếm tỉ lệ từ 90.76 đến 91.69%) (Xem bảng 1.5)
Một trong những nội dung quan trọng HS được hỏi về sự hứng thú, sinhđộng của những giờ học Thầy/Cô sử dụng các nguồn TLĐT thì co tới276/325HS trả lời đồng ý (chiếm 84.92%) Ngược lại co tới 289/325HS
Trang 38chiếm (88.92%) cho rằng: không khí nặng nề, nhàm chán, tẻ nhạt, không hiểubài và chán học khi Thầy/Cô chỉ noi lại những gì trong SGK Hầu hết các emcho rằng khi GV sử dụng TLĐT thì được mở rộng kiến thức, được rèn luyện kĩnăng cần thiết cho việc học tập, co 235 HS đồng ý (chiếm 72.30%) Bên cạnh
đo co 90 HS đồng ý (chiếm 27.69%) cho rằng khi Thầy/Cô giao nhiệm vụ nhiều
quá cũng sẽ là một áp lực cho các em (xem bảng 1.6 - phụ lục 1d)
Số liệu tổng hợp câu trả lời qua điều tra khảo sát, ở bảng 1.7 và 1.8 tiếptục cung cấp cho chúng ta thực trạng của việc học tập LS của HS không liênquan tới nguồn TLĐT đây là cơ sở quan trọng để chúng tôi rút ra kết luận
(xem bảng 1.7 và 1.8 - phụ lục 1d).
1.2.3 Một số kết luận chung rút ra từ khảo sát, điều tra thực tiễn
Một là, phần lớn GV và ban lãnh đạo quản lí các trường THPT, đều quan niệm môn LS là là “môn phụ”, môn “học thuộc” nên ít được quan tâm chiếm
tỉ lệ (73.68%) Tuy nhiên co không ít ý kiến cho rằng môn LS là môn học quantrọng, co ưu thế trong giáo dục truyền thống yêu nước và tinh thần đoàn kếtdân tộc… đối với thế hệ trẻ (tỉ lệ 68.42%) Đây là tín hiệu tốt noi lên ưu thế,của bộ môn LS trong việc giáo dục thế hệ trẻ
Hai là, hầu hết GV LS ở các trường THPT đều quan niệm HSTLĐT trong DHLS là nguồn tư liệu phục vụ cho hoạt động dạy của thầy và hoạt
động học của trò, muốn sử dụng hiệu quả phải co sự hỗ trợ của CNTT, kĩthuật điện tử (100%)
Ba là, việc trang bị các điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị DH hiện đại
chưa đồng bộ giữa các trường phổ thông ở các khu vực, vùng miền Nhữngtrường THPT ở khu vực thị xã, thành phố, ở miền xuôi được trang bị tốt, đồng
bộ và đầy đủ hơn, chính vì thế GV đã co nhiều cố gắng trong việc tìm hiểukhai thác, xây dựng và sử dụng nguồn TLĐT phục vụ cho quá trình giảng dạytốt hơn như trường THPT số 1,2,3 (TP Lào Cai); THPT Hùng Vương Thi xãPhú Thọ (Phú Thọ); THPT Bảo Lộc (TP Bảo Lộc-Lâm Đồng) Một số trường
ở tại các huyện vùng cao khu vực miền núi, điều kiện còn kho khăn, tuy chưa
Trang 39trang bị một cách đầy đủ và đồng bộ, song với sự cố gắng của các cấp, từchính quyền địa phương, lãnh đạo các trường THPT và sự nỗ lực của chínhbản thân những Thầy/Cô giáo dạy LS, bước đầu đã khai thác nguồn TLĐT đểphục vụ công tác giảng dạy.
Bốn là, hầu hết các GV LS đều nhận thức về việc xây dựng và sử dụng
HSTLĐT trong DHLS là rất cần thiết (68.42%), vì mỗi một bài học cần phải
sử dụng tài liệu tham khảo không chỉ mở rộng kiến thức mà điều quan trọnggiúp cho bài học thêm sinh động, nhẹ nhàng, thu hút sự chú ý, kích thích cáchoạt động học tập, tư duy, sáng tạo của HS, từ đo các em yêu quý và say mêvới môn học
Năm là, trong quá trình DH việc xây dựng và sử dụng HSTLĐT của GV
còn gặp nhiều kho khăn, lúng túng Mức độ ứng dụng CNTT vào DHLS cònhạn chế cả về số lượng và chất lượng Hình thức và PP sử dụng HSTLĐT của
GV trong DHLS về cơ bản dừng lại ở việc tự tìm hiểu, sau đo trình bày nộidung kiến thức cho HS
Sáu là, về phía HS, các em còn khá thụ động trong việc học tập, phần
lớn các em ở những vùng miền thuộc khu vực nông thôn, miền núi điều kiệncho học tập còn gặp nhiều kho khăn Mong muốn của các em được học tậptrong điều kiện và môi trường tốt hơn
Ngoài ra nội dung kiểm tra đánh giá cần được đổi mới phù hợp với đổimới DH cũng như xu thế của thời đại
1.3 Hệ thống các loại tư liệu có thể khai thác và sử dụng trong DHLS ở trường THPT
* Kênh chữ
Kênh chữ là những thông tin thành văn chủ yếu được dùng trong DHLS
co cả trong hoặc ngoài SGK “Kênh chữ” là cơ sở cho những nội dung của
“kênh hình” Đo là những sự kiện, hiện tượng LS, niên đại, nhân vật LS,những khái niệm, quy luật, bài học LS cơ bản giúp HS hiểu được bản chất của
Trang 40sự kiện LS.
Tư liệu kênh chữ co thể khai thác trong DHLS là vô cùng phong phú.Ngoài những nguồn tư liệu đưa vào SGK co tính ổn định về mặt khoa học,được thừa nhận để dạy cho HS, còn rất nhiều nguồn tư liệu kênh chữ khácngoài SGK, GV co thể khai thác dùng làm tài liệu tham khảo, bồi dưỡng, mởrộng kiến thức theo hướng chuyên sâu Đo là hệ thống sách giáo trình LS,sách tham khảo LS, bài viết trên các báo và tạp chí chuyên ngành, kỉ yếu hộithảo khoa học, trong các tư liệu hồi kí, tiểu thuyết, sách văn học, những câuchuyện LS được tập hợp lại thành sách tham khảo….đặc biệt là kho tàinguyên khổng lồ từ nguồn internet
Tư liệu kênh chữ co thể chia thành nhiều loại trong đo co tư liệu gốc, bài
viết Ví dụ khi dạy mục 2 "Cuộc khởi nghĩa của Khúc Thừa Dụ" (bài
16-SGK LS lớp 10-chương trình chuẩn) GV co thể dùng đoạn trích tư liệu gốc
để kể chuyện về công lao của nhà Họ khúc đối với LS dân tộc với nội dung
như sau “ Họ Khúc là một dòng họ lớn lâu đời ở Hồng châu (1) Khúc Thừa Dụ tính khoan hòa, hay thương người, được dân chúng suy tôn Gặp thời loạn lạc, nhân danh là hào trưởng một xứ, Thừa Dụ tự xưng là tiết độ sứ(2)
và xin mệnh lệnh với nhà Đường, nhân thế vua Đường cho làm chức ấy”.
[http://www.ebook.edu.net.vn]
Đánh giá về công lao của họ Khúc, sử thần Lê Tung đầu thế kỉ XV nhận
xét: “Khúc tiên chúa(Thừa Dụ) mấy đời là hào tộc, mạnh sáng trí lược, nhân nhà Đường mất, lòng người yêu mến, suy tôn làm chúa, dựng đô La Thành, dân yên, nước trị, công đức truyền mãi, nhưng hưởng tuổi không dài Khúc trung chúa(Thừa Hạo) nối cơ nghiệp trước, khoan hòa có phong thái của ông nội, trù hoạch quyết thắng, ngoài ý mọi người, chống chọi các nước Bắc triều, là bậc chúa hiền của nước Việt” [http://www.ebook.edu.net.vn]
- Tư liệu gốc bao gồm các văn kiện, tài liệu co liên quan trực tiếp đến sự
kiện, ra đời vào thời điểm xảy ra các sự kiện như các văn tự cổ, các hiệp ước,