Luận văn thạc sĩ: TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP HUYỆN HƯNG HÀ (TỈNH THÁI BÌNH) TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2012Trong tiến trình phát triển của lịch sử Việt Nam, nông nghiệp là ngành nghề chính của cư dân Việt. Do đặc điểm của địa hình và khí hậu nước ta nên nông nghiệp trồng lúa nước chính là nghề gốc của nhân dân ta (dĩ nông vi bản). Tuy nhiên, bên cạnh đó,song song với nông nghiệp, người Việt còn có các nghề thủ công khác. Nếu như nông nghiệp đảm bảo cung cấp nhu cầu lương thựcthực phẩm cho người dân, thì TTCN lại đáp ứng các nhu cầu thiết yếukhác của đời sống cư dân nông nghiệp. Cùng với sự phát triển của nông nghiệp thì thủ công nghiệp cũng ra đời từ rất sớm. Trên khắp lãnh thổ nước ta đã hình thành nên một mạng lưới các nghề thủ công hết sức phong phú và hệ thống các làng nghề đa dạng. Tùy vào điều kiện của từng vùng miền mà hình thành các nghề cũng như các làng nghề khác nhau. Các nghề thủ công Việt Nam ra đời cùng với nhu cầu của cư dân nông nghiệp và cũng phụ thuộc chủ yếu vào nông nghiệp. Hưng Hà (Thái Bình) là một huyện nằm trong lưu vực đồng bằng sông Hồng, cư dân Việt đã sinh tụ ở đây từ rất sớm. Nghề nghiệp chính của cư dân Hưng Hà cũng như bao cư dân khác trong vùng, lấy nông nghiệp trồng lúa nước làm nghề chính. Nhưng bên cạnh đó, để phục vụ cho nhu cầu, đảm bảo đời sống của nhân dân trong vùng, người dân ở Hưng Hà còn làm thêm các nghề thủ công khác. Cùng với quá trình tụ cư của người dân Việt ở vùng đất này, các nghề thủ công ở Hưng Hà cũng ra đời từ rất sớm, đồng thời với đó là sự ra đời một hệ thống làng nghề thủ công truyền thống hết sức đa dạng, phong phú với nhiều ngành nghề thủ công khác nhau.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LƯU THỊ VÂN ANH
TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP
HUYỆN HƯNG HÀ (TỈNH THÁI BÌNH)
TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2012
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số:
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS PHẠM THỊ TUYẾT
HÀ NỘI - 2014 LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn trân trọng và sâu sắcnhất tới TS.Phạm Thị Tuyết, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡtác giả trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài khoa học này
Tác giả xin trân trọng cảm ơn Ủy ban nhân dân huyện Hưng Hà, PhòngCông thương huyện Hưng Hà, Phòng Thống kê huyện Hưng Hà, Thư việnhuyện Hưng Hà,…đã tạo điều kiện giúp đỡ và cung cấp cho tác giả những tưliệu hết sức cần thiết, quý báu trong quá trình thực hiện đề tài
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu Trường Đại học
Trang 3Sư phạm Hà Nội, Ban chủ nhiệm khoa lịch sử, các thầy giáo, cô giáo bộ mônlịch sử Việt Nam, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ động viên tác giả trong suốtquá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài.
Hà Nội, tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Lưu Thị Vân Anh
Trang 4Bản đồ hành chính tỉnh Thái Bình (Nguồn: Ủy ban nhân dân huyện Hưng Hà)
Trang 5UBND: Ủy ban nhân dân
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU, BIỂU ĐỒ
Trang 7MỤC LỤC
Trang 8MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong tiến trình phát triển của lịch sử Việt Nam, nông nghiệp là ngànhnghề chính của cư dân Việt Do đặc điểm của địa hình và khí hậu nước ta nênnông nghiệp trồng lúa nước chính là nghề gốc của nhân dân ta (dĩ nông vibản) Tuy nhiên, bên cạnh đó,song song với nông nghiệp, người Việt còn cócác nghề thủ công khác Nếu như nông nghiệp đảm bảo cung cấp nhu cầulương thực-thực phẩm cho người dân, thì TTCN lại đáp ứng các nhu cầu thiếtyếukhác của đời sống cư dân nông nghiệp Cùng với sự phát triển của nôngnghiệp thì thủ công nghiệp cũng ra đời từ rất sớm Trên khắp lãnh thổ nước ta
đã hình thành nên một mạng lưới các nghề thủ công hết sức phong phú và hệthống các làng nghề đa dạng Tùy vào điều kiện của từng vùng miền mà hìnhthành các nghề cũng như các làng nghề khác nhau Các nghề thủ công ViệtNam ra đời cùng với nhu cầu của cư dân nông nghiệp và cũng phụ thuộc chủyếu vào nông nghiệp
Hưng Hà (Thái Bình) là một huyện nằm trong lưu vực đồng bằng sôngHồng, cư dân Việt đã sinh tụ ở đây từ rất sớm Nghề nghiệp chính của cư dânHưng Hà cũng như bao cư dân khác trong vùng, lấy nông nghiệp trồng lúanước làm nghề chính Nhưng bên cạnh đó, để phục vụ cho nhu cầu, đảm bảođời sống của nhân dân trong vùng, người dân ở Hưng Hà còn làm thêm cácnghề thủ công khác Cùng với quá trình tụ cư của người dân Việt ở vùng đấtnày, các nghề thủ công ở Hưng Hà cũng ra đời từ rất sớm, đồng thời với đó là
sự ra đời một hệ thống làng nghề thủ công truyền thống hết sức đa dạng,phong phú với nhiều ngành nghề thủ công khác nhau
Hầu hết các nghề thủ công ở Hưng Hà ngày nay đều là những nghề thủcông truyền thống đã có từ rất lâu đời Theo thời gian biến thiên, các nghề thủcông ở Hưng Hà cũng có nhiều thay đổi theo từng giai đoạn gắn với tiến trình
Trang 9phát triển của dân tộc nói chung và Hưng Hà nói riêng Có những nghề thủcông truyền thống bị mai một đi ở các địa phương, nhưng cũng có nhữngnghề thủ công mới được du nhập, nghề thủ công được phát huy, phát triểnnhờ vào sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sự tâm huyết với nghề của nhữngngười con vùng đất Hưng Hà.
Sự phát triển của TTCN Hưng Hà từ năm 1986 đến năm 2012, từ sau khiđất nước Đổi mới, các ngành nghề TTCN Hưng Hà đã góp một phần khôngnhỏ vào sự phát triển toàn diện của đời sống kinh tế-xã hội ở Hưng Hà, sựchuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Hưng Hà sang hướng công nghiệp hóa-hiệnđại hóa, thúc đẩy các ngành nghề khác phát triển, đảm bảo và nâng cao đờisống nhân dân trong vùng
Nghiên cứu về TTCN ở Hưng Hà từ năm 1986 đến năm 2012, là mộtviệc làm rất cần thiết và bổ ích không chỉ có ý nghĩa trong việc tái hiện lạibức tranh lịch sử về quá trình phát triển TTCN của Hưng Hà từ 1986 đến
2012, mà còn góp phần làm sinh động thêm bức tranh lịch sử kinh tế TháiBình nói chung và Hưng Hà nói riêng Đồng thời, nghiên cứu TTCN Hưng
Hà giai đoạn này, sẽ góp thêm những minh chứng khẳng định tính đúng đắng,phù hợp của những chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước,chính quyền địa phương các cấp Mặt khác, nghiên cứu quá trình chuyển biếncủa TTCN huyện Hưng Hà từ năm 1986 đến năm 2012 cũng sẽ góp phần làmphong phú thêm những nghiên cứu về lịch sử địa phương Thái Bình Quanghiên cứu, tổng kết những thành tựu và hạn chế còn tồn tại, các kết quảnghiên cứu sẽ phần nào giúp các cấp lãnh đạo địa phương ở Hưng Hà rút ranhững bài học kinh nghiệm cho việc quản lý và hoạch định chính sách pháttriển TTCN ở Hưng Hà trong giai đoạn tới Chính vì những lý do trên, tôi
quyết định chọn vấn đề: Tiểu thủ công nghiệp huyện Hưng Hà (tỉnh Thái Bình) từ năm 1986 đến năm 2012 làm đề tài luận văn cao học
Trang 102. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trước 1954 đã có một số sách về địa chí Thái Bình và Hưng Hà có đề
cập ít nhiềuđến các nghề thủ công truyền thống ở Hưng Hà như: Thái Bình
phong vật chícủa Phạm Văn Thụ xuất bản năm 1900, Thái Bình phong vật phú của Dương Quảng Hàm, Tiên Hưng phủ chí của Phạm Nguyễn Hợp Các
bài viết trên tờ báo Nam Phong như:Hưng Nhân ký sựcủa Nguyễn Văn Đào năm 1920; Hưng Nhân kí sự của Đặng Xuân Viện, số 164 năm 1931 Cuốn sách của P.Gourou xuất bản năm 1936 ở Paris “Les paysans du delta
Tonkinois (Người nông dân châu thổ Bắc Bộ) đã phản ánh tương đối rõ nét
tình hình một số hoạt động công nghệ và làng nghề ở Bắc Bộ nói chung vàtrên địa bàn tỉnh Thái Bình nói riêng Trong đó ông đề cập đến hoạt động củamột số làng nghề tiêu biểu của Hưng Hà như làng chiếu Thanh Triều, làng dệtDuyên Hà,…
Sau năm 1954, tác phẩm Sơ thảo lịch sử phát triển tiểu thủ công nghiệp
của tác giả Phan Gia Bền xuất bản năm 1955 đã khái quát về TTCN Việt Namtrước Cách mạng tháng Tám trong đó cũng cho người đọc được một số hìnhdung khái quát nhất về nghề dệt chiếu ở Hưng Nhân-Hưng Hà Tác phẩm
Truyện kể các tổ ngành nghề của Tạ Phong Châu, Nguyễn Quang Vinh (xuất
bản năm 1977) đã lược tả sự phát triển đa dạng của các nghề TTCN Việt Namtrong đó có viết về ông tổ nghề chiếu ở Hưng Nhân là Phạm Đôn Lễ Trong
cuốn Tiểu thủ công nghiệp Việt Nam 1858-1945(xuất bản năm 1996) tác giả
Vũ Huy Phúc đã nhận định rằng ở Thái Bình ngoài các làng nghề chạm bạc,làm đồ trang sức thì nghề dệt và đan lát ở Hưng Hà là phát triển bậc nhất
Những năm gần đây, một số tác phẩm như: Lịch sử Đảng bộ huyện
Hưng Hà 1927-1954 của các tác giả Bùi Phú Hảo, Nguyễn Nhật Lai, Phạm
Minh Trọng; Lịch sử Đảng bộ huyện Hưng Hà 1954-2000 của các tác giả Vũ
Văn Thuyết, Nguyễn Nhật Lai, Lê Vạn, bên cạnh viết về phong trào đấu tranh
Trang 11chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ của nhân dân Hưng Hà còn đề cập tớinhững vấn đề về kinh tế xã hội của địa phương trong giai đoạn kể trên Trong
đó vấn đề TTCN được trình bày tương đối rõ nét cả về chính sách tác động và
những thành tự đã đạt được Cuốn Tiểu thủ công nghiệpThái Bình 1954-1995
lịch sử và di sản của Phạm Quốc Sử trình bày một cách rõ nét những chuyển
biến của TTCN Thái Bình, những ảnh hưởng tích cực của các chính sách củaĐảng và Nhà nước đến sự phát triển TTCN Thái Bình trong giai đoạn 1954-
1995, đồng thời cũng đề cập tới sự phát triển của TTCN Hưng Hà trong cùng
thời gian Tác phẩm Xây dựng và phát triển công nghiệp-tiểu thủ công
nghiệp, nghề và làng nghề ở Hưng Hà của tác giả Nguyễn Bá Phong xuất bản
năm 2007, đã cho thấy một cái nhìn rõ nét về những ảnh hưởng, tác động tíchcực của các chính sách của Đảng và Nhà nước đối với sự phát triển tiểu thủcông nghiệp của Hưng Hà trong giai đoạn 2003-2007
Kỷ yếu hội thảoHoằng Nghị đại vương và việc bảo tồn, tôn tạo khu di
tích lịch sử-văn hóa Phương La do UBND tỉnh Thái Bình và Hội Khoa học
Lịch sử Việt Nam tổ chức năm 2007 đã tập hợp được rất nhiều bài viết củacác nhà nghiên cứu ở cả trung ương và địa phương Bên cạnh việc nghiên cứu
về nhân vật Hoằng Nghị đại vương các tác giả cũng đề cập tới sự phát triểncủa nghề dệt truyền thống ở Phương La, nơi được đánh giá là chỉ sau làngVạn Phúc-Hà Đông
Bên cạnh những tác phẩm trên, còn có nhiều các bài viết khác về TTCNHưng Hà được đăng trên các báo, tạp chí xuất bản tại địa phương Thái Bình
và trên một số cổng thông tin điện tử như: (www.thaibinh.gov.vn;www.lukhach24h.com; www.hungha.gov.vn;www.baothaibinh.com.vn; );
www.socongthuong.thaibinh.gov.vn
Tóm lại, từ trước đến nay, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu có đềcập ít nhiều về vấn đề TTCN Thái Bình nói chung và TTCN Hưng Hà nói
Trang 12riêng Tuy nhiên các công trình nghiên cứu đó mới chỉ dừng lại ở những mức
độ và các khía cạnh khác nhau, chưa có công trình nào đề cập một cách toàndiện về TTCN Hưng Hà từ năm 1986 đến năm 2012
3. Mục tiêu và nhiệm vụ đề tài
* Mục tiêu:Đề tài nhằm nghiên cứu, làm rõ tình hình phát triển của
TTCN huyện Hưng Hà-Thái Bình từ sau Đổi mới 1986 cho đến năm2012,qua đó đánh giá những tác động của sự phát triển TTCN đến tình hìnhkinh tế-xã hội ở địa phương
* Nhiệm vụ:
Đề tài tập trung làm rõ những vấn đề khoa học sau đây:
- Phân tích những yếu tố tác động, ảnh hưởng đến quá trình phát triển củaTTCN Hưng Hà từ năm 1986 đến năm 2012
- Làm rõ quá trình chuyển biến của TTCN huyện Hưng Hà-Thái Bình từnăm 1986 đến năm 2012 trên các phương diện như: ngành nghề, hình thứcsản xuất, vốn đầu tư trang thiết bị, công nghệ, giá trị sản xuất, sản phẩm và thịtrường, những kết quả đạt được và hạn chế còn tồn tại
- Đánh giá những tác động của TTCN đến sự chuyển dịch kinh tế, quátrình công nghiệp hóa-hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, đời sống nhândân, cảnh quan môi trường, văn hóa-xã hội ở Hưng Hà
4. Đối tượng, phạm vi đề tài
Trang 13- Về không gian: Địa bàn huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình gồm 33 xã vàhai thị trấn là thị trấn Hưng Hà (huyện lỵ) và thị trấn Hưng Nhân.
5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
* Nguồn tài liệu
+ Nguồn tài liệu lưu trữ tại các trung tâm lưu trữ, thư viện quốc gia, thưviện địa phương, cụ thể là các văn bản hành chính, văn kiện của Đảng và Nhànước qua các kì đại hội, các tài liệu thống kê, bản đồ,… Đây là nguồn tài liệuquan trọng và rất có giá trị, được tác giả khai thác chủ yếu và khá triệt đểnhằm giải quyết các nhiệm vụ đặt ra của đề tài
+ Các công trình nghiên cứu đã được công bố có nội dung liên quan đến
đề tài bao gồm: sách chuyên khảo, sách tham khảo, luận văn, luận án, bàinghiên cứu, thông tin đăng trên các báo, tạp chí, cổng thông tin điện tử củaTrung ương và địa phương Đây là nguồn tài liệu có giá trị sử dụng khác nhautùy thuộc vào từng thể loại cung cấp những thông tin khái quát hoặc cụ thể vềvấn đề nghiên cứu, giúp tác giả có cái nhìn tổng thể hoặc là so sánh trong mốitương quan
+ Các tài liệu sưu tầm bao gồm các văn bia, hương ước, các tài liệu điền
dã đã bổ sung khá nhiều thông tin cụ thể và chi tiết để góp phần hoàn thiệnnội dung luận văn
* Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn tác giả sử dụng chủyếu hai phương pháp nghiên cứu là phương pháp lịch sử và phương pháplôgic
Ngoài ra tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như:phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, đối chiếu,…nhằm đảmbảo độ tin cậy và tính khách quan, khoa học các kết quả nghiên cứu
6. Đóng góp của luận văn
Trang 14-Tái hiện lại bức tranh về quá trình phát triển của TTCN Hưng Hà từ năm
1986 đến năm 2012 một cách khái quát và có hệ thống
- Khẳng định những thành tựu đã đạt được cũng như những vấn đề còntồn tại của TTCN Hưng Hà và những tác động ảnh hưởng của nó đối với tìnhhìnhkinh tế-xã hội huyện Hưng Hà
- Góp phần khẳng định vai trò to lớn của đường lối đổi mới của Đảng
và Nhà nước đối với sự phát triển TTCN cả nước nói chung và của Hưng
Hà nói riêng
- Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích phục vụ cho công tácnghiên cứu, giảng dạy lịch sử địa phương nói riêng và lịch sử kinh tế ViệtNam nói chung
7. Bố cục luận văn: Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có bố cục như
Trang 15CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CÁC ĐIỀU KIỆN TÁC ĐỘNG TỚI TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP HUYỆN HƯNG HÀGIAI ĐOẠN 1986 - 2012
1.1. Điều kiện địa lý tự nhiên.
1.1.1. Vị trí địa lý
Ngày 17-6-1969, Hội đồng Chính phủ ra quyết định số 93/CP về việchợp nhất hai huyện Hưng Nhân và Duyên Hà thành huyện Hưng Hà, tên gọiHưng Hà xuất hiện từ đó
Huyện Hưng Hà là một huyện thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, códiện tích tự nhiên là 20.012 ha, nằm ở rìa phía Tây Bắc của tỉnh Thái Bình, cótọa độ địa lý từ 20°30'37'' đến 20°40'37'' vĩ độ Bắc và từ 106°06'00'' đến106°19'22'' kinh độ Đông Phía Đông Nam giáp với huyện Đông Hưng, phíaNam giáp với huyện Vũ Thư, phía Đông Bắc giáp với huyện Quỳnh Phụ, phíaTây Bắc giáp hai huyện Tiên Lữ, Phù Cừ của tỉnh Hưng Yên, phía Tây TâyNam giáp với huyện Lý Nhân của tỉnh Hà Nam
Xã Tân Lễ là cực Tây của cả huyện Hưng Hà lẫn tỉnh Thái Bình, nằmtại ngã ba sông, giữa sông Hồng và sông Luộc Cực Nam của huyện là xãHồng Minh, nằm tại ngã ba sông Hồng và sông Trà Lý Cực Đông là xã BắcSơn, nằm tại ngã ba ranh giới của hai huyện Quỳnh Phụ và Đông Hưng
Hưng Hà là một huyện đầu tỉnh Thái Bình, nằm trong phạm vi ảnhhưởng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Ở Hưng Hà có mạng lưới giaothông đường bộ, cũng như đường sông tương đối hoàn chỉnh, tạo điều kiệnthuận lợi cho phát triển kinh tế nói chung và TTCN nói riêng
Về đường bộ: Hưng Hà có 1125 km đường bộ Chạy xuyên suốt địa bàn
huyện Hưng Hà là tuyến quốc lộ 39A, đây là tuyến giao thông đường bộ quantrọng bậc nhất ở Hưng Hà, nối liền giữa Thái Bình và Hưng Yên Tuyếnđường này có tổng chiều dài là 108 km, khởi đầu tại thị trấn Diêm Điền (Thái
Trang 16Thụy) thông với các tuyến quốc lộ 37, 38 Điểm cuối của quốc lộ 39A nối liềnvới quốc lộ 5 tại phố Nối thuộc thị trấn Bần-Yên Nhân huyện Mĩ Hào tỉnhHưng Yên Đoạn chạy qua Hưng Hà có chiều dài khoảng 26 km Từ huyện lỵHưng Hà, dọc theo quốc lộ 39A tới thành phố Hưng Yên khoảng 20 km,thành phố Thái Bình khoảng hơn 30 km, Hà Nội khoảng 80 km Đây chính lànhững thị trường tiêu thụ rộng lớn, hỗ trợ đầu tư, kỹ thuật, chuyển giao kinhnghiệm quản lý, chuyển giao công nghệ thông tin cho sự phát triển kinh tế nóichung và TTCN của huyện nói riêng
Hệ thống đường liên huyện của Hưng Hà cũng khá phát triển, tổng chiềudài của mạng lưới này là 49 km với 3 tuyến đường chính 226, 223, 224 dohuyện quản lý Không những thế, Hưng Hà còn được đánh giá là huyện có hệthống giao thông nông thôn tương đối hiện đại và đồng bộ ở Thái Bình Tínhđến thời điểm năm 2012, mạng lưới giao thông nông thôn có tổng chiều dài
579 km, trong đó đường liên xã-liên thôn là 72 km, đường thôn xóm, đường
ra đồng là 458 km Toàn bộ các tuyến đường này đều được đổ bê tông, trảinhựa, trải đá dăm, mặt đường tương đối rộng, bằng phẳng, đáp ứng nhu cầu đilại, vận chuyển, giao lưu buôn bán của nhân dân giữa các vùng trong huyện,với các huyện trong tỉnh, và các tỉnh khác thuộc đồng bằng sông Hồng
Tuy nhiên, hệ thống giao thông đường bộ ở Hưng Hà hiện cũng có một
số điểm hạn chế Các tuyến đường, nhất là tuyến quốc lộ 39A chạy qua địabàn Hưng Hà đang xuống cấp trầm trọng, mặt đường thì nhỏ hẹp, ổ trâu, ổ voixuất hiện nhiều trên đường Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ tới sự pháttriển TTCN, đặc biệt là quá trình vận chuyển, chuyên chở nguyên vật liệu,hàng hóa sản xuất TTCN ở Hưng Hà
Về đường sông: Hệ thống giao thông đường sông là một thế mạnh tự
nhiên đặc biệt ở Hưng Hà, bao gồm hệ thống sông trong đê và hệ thống sôngngoài đê được nối liền với nhau bằng các cống đập, tạo ra sự thông suốt cho
Trang 17hệ thống giao thông đường sông ở Hưng Hà Hệ thống sông trong đê gồm cósông Tiên Hưng, sông Sa Lung có chiều dài khoảng 20 km Hệ thống sôngngoài đê có sông Hồng chảy qua địa bàn Hưng Hà dài khoảng 25 km, SôngLuộc dài khoảng 27 km, sông Trà Lý dài khoảng 8 km (đây là hai phụ lưu củasông Hồng chảy qua Hưng Hà) Với hệ thống sông như trên đã tạo điều kiệnthuận lợi cho vận chuyển hàng hóa TTCN bằng đường sông
Với vị trí địa lý, giao thông như trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho Hưng
Hà phát triển và mở rộng các ngành nghề TTCN truyền thống và du nhậpthêm nhiều ngành nghề tiểu thủ công nghiệp mới, giao lưu kinh tế với cáchuyện trong tỉnh, với các tỉnh ngoài như Hưng Yên, Hà Nội, Hải Phòng, HảiDương (là các vùng trọng điểm kinh tế Bắc Bộ) và giao lưu quốc tế
1.1.2. Điều kiện tự nhiên
có được những cánh đồng thẳng cánh cò bay và quanh năm tốt tươi như ngàyhôm nay.” [2; 30]
Trang 18Nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng với địa hình bằng phẳng, đó lànhững điều kiện có tác động trực tiếp tới TTCN Hưng Hà trên nhiều khíacạnh, ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn nguyên liệu Vì vậy nó quy định cácngành nghề chủ yếu của huyện; sự hình thành và phân bố nghề và làng nghề;tạo sự thuận lợi lớn cho quá trình hình thành, du nhập và phát triển các ngànhnghề TTCN, giao lưu buôn bán các sản phẩm ở Hưng Hà với các vùng lâncận Đây cũng chính là một trong những nhân tố tác động tới việc thu hút cácnhà đầu tư vào phát triển tiểu thủ công nghiệp ở Hưng Hà cả về vốn và trangthiết bị kỹ thuật.
Đất đai của huyện Hưng Hà được hình thành về cơ bản là do sự bồi đắpphù sa của hệ thống sông Hồng và các phụ lưu của nó (sông Luộc và sông TràLý) Sự bồi tụ được diễn ra từ từ trong một thời gian dài tạo ra một vùng châuthổ khá bằng phẳng có độ cao dưới 2 m so với mực nước biển
Ở Hưng Hà có thể kể đến các loại đất như sau: Đất phù sa trung tínhkhông được bồi đắp hàng năm, phần lớn có độ cao từ 1-2 m Đây là loại đất
có dinh dưỡng khá, chế độ nước ngầm tầng nông tương đối ổn định, ít bịnhiễm mặn Đây là phần đất chính chiếm diện tích khá lớn trong huyện cònđược gọi là đất trong đê, được sử dụng chủ yếu để trồng lúa và các cây hoamàu vào vụ đông
Đất cát ven sông, chủ yếu là các đất cồn cát do sông Hồng bồi tụ đã đượcngọt hóa và không bị nhiễm mặn, là đất thổ cư, đất trồng hoa màu và các câycông nghiệp hàng năm Đây là loại đất có diện tích không lớn, phân bố tùythuộc vào hướng dòng chảy của sông Diện tích loại đất này có thể thay đổitheo dòng chảy của sông Diện tích loại đất này có thể bị thay đổi hàng năm,
có nơi được bồi tụ, có nơi bị dòng chảy của sông sói mòn
Do cấu tạo đất ở Hưng Hà chủ yếu là đất phù sa trung tính có cơ giớithịt từ trung bình đến nặng nên phù hợp với việc sản xuất vật liệu xây dựng và
Trang 19đất phù sa cát ven sông phù hợp với trồng cây màu lương thực, thực phẩm,trồng dâu nuôi tằm,… Đây chính là nguồn nguyên liệu dồi dào cho sự pháttriển TTCN của huyện, ảnh hưởng tới cơ cấu ngành nghề trong huyện
Bảng 1.1: Hiện trạng sử dụng đất ở huyện Hưng Hà-tỉnh Thái Bình năm 2012
Loại đất Diện tích (ha) Cơ cấu (%)Tổng diện tích đất tự nhiên 20.012 ha 100
Nguồn: [Phòng Thống kê Hưng Hà, Báo cáo tình hình kinh tế xã hội
huyện Hưng Hà năm 2012;tr1]
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy, tổng diện tích đất tự nhiên của Hưng Hàđến năm 2012 là 20.012 ha, chiếm 13% so với toàn tỉnh Trong đó quỹ đấtdùng cho nông nghiệp chiếm 66,1%, hơn một nửa tổng diện tích toàn huyện.Với tiềm năng đất đai như trên sẽ tạo điều kiện cho Hưng Hà phát triển kinh
tế nông nghiệp, cung cấp nguồn nguyên liệu tại chỗ hết sức dồi dào cho ngànhchế biến lương thực-thực phẩm trong huyện Ngoài ra, trên địa bàn huyện vẫncòn quỹ đất chưa sử dụng chiếm 1,6% tổng diện tích đất tự nhiên, đây là tiềmnăng có thể khai thác đưa vào phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp, trồngcác cây công nghiệp hàng năm phục vụ sản xuất TTCN
Là một huyện nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, thâm canh cây lúa
và hoa màu, Hưng Hà vẫn được coi là vùng đất chật, người đông, với mật độdân số năm 2009 là 1.268 người/km², trong khi đó mật độ dân số bình quâncủa tỉnh Thái Bình 1.209 người/km² , đứng thứ 2 trong tỉnh Thái Bình chỉ sauthành phố Thái Bình Bình quân diện tích đất nông nghiệp trên một đầu người
ở Hưng Hà là 507m², thấp hơn so với bình quân chung của tỉnh Thái Bình là518,25 m²/đầu người Với diện tích đất nông nghiệp trên đầu người thấp, bêncạnh việc phải thâm canh cao đối với các cây nông nghiệp, người dân Hưng
Trang 20Hà buộc phải làm thêm các nghề phụ để đảm bảo cho đời sống hàng ngày.Chính vì vậy, sản xuất TTCN ở Hưng Hà đã được phát triển từ khá lâu.
* Khí hậu
Nằm trong vùng ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nên Hưng
Hà cũng như các huyện khác của tỉnh Thái Bình có nền khí hậu nhiệt đới ẩmgió mùa với bốn mùa rõ rệt: xuân, hạ, thu, đông Ở Hưng Hà có nhiệt độ trungbình hàng năm 23-26°C, tổng nhiệt độ hoạt động trong năm đạt 8000-8500°C,
số giờ nắng 1600-1800 giờ Tổng lượng mưa hàng năm 1500-2000mm, độ ẩmkhông khí 80-90% Gió mùa mang đến cho Hưng Hà một mùa đông lạnh khô
và ít mưa, mùa hạ nóng ẩm mưa nhiều và hai kì chuyển tiếp ngắn Là mộthuyện chịu ảnh hưởng của khí hậu biển nên khí hậu Hưng Hà được điều hòabởi hơi ẩm từ vịnh Bắc Bộ tràn vào, có sự chênh lệch so với các huyện venbiển như Tiền Hải, Thái Thụy Tuy nhiên, sự phân hóa khí hậu theo lãnh thổgiữa Hưng Hà và các huyện trong tỉnh là không rõ rệt
Đặc điểm khí hậu đó vừa là điều kiện thuận lợi nhưng đồng thời cũng tạo rakhó khăn trong sản xuất, bảo quản sản phẩm TTCN ở Hưng Hà Với nền nhiệt
và số giờ nắng cao tạo thuận lợi cho quá trình sản xuất, đặc biệt là việc phơi sấy
và bảo quản các sản phẩm TTCN, nhất là các sản phẩm thuộc ngành hàng lươngthực-thực phẩm và vật liệu xây dựng được phơi sấy chủ yếu dựa vào nắng tựnhiên Tuy nhiên, độ ẩm cao và lượng mưa lớn, cũng ảnh hưởng không nhỏ tớiquá trình sản xuất, vận chuyển và bảo quản các sản phẩm TTCN
* Thủy văn
Hưng Hà là một huyện phía Bắc của tỉnh Thái Bình và được bao bọc bởicác con sông Hệ thống sông ngòi của Hưng Hà dày đặc được chia làm hailoại: sông trong đê và sông ngoài đê
Sông ngoài đê gồm có sông Hồng chảy qua Hưng Hà ở phía Tây SôngLuộc là một phụ lưu của sông Hồng chảy ở phía Bắc của huyện Đây là nguồn
Trang 21cung cấp nước chủ yếu cho sản xuất và sinh hoạt của người dân vùng phía bắcHưng Hà Sông Trà Lý là một phụ lưu của sông Hồng chảy ở phía Nam củahuyện, đồng thời là ranh giới tự nhiên giữa hai huyện Hưng Hà và Vũ Thư.Sông trong đê gồm có sông Tiên Hưng, vốn là con sông tự nhiên có tổngchiều dài 51 km chảy qua hai huyện Hưng Hà và Đông Hưng Sông Sa Lung
là sông nhân tạo, được khởi công đào từ 1896-1900 chảy qua Hưng Hà Đâychính là nguồn cung cấp nước tưới nội đồng và là tuyến đường giao thôngthủy quan trọng của Hưng Hà
Trong điều kiện mạng lưới giao thông đường bộ chưa phát triển thì việcvận chuyển bằng đường sông thuận tiện đã giúp cho các sản phẩm TTCN Hưng
Hà sớm có điều kiện đến với các thị trường trong và ngoài tỉnh Là một huyệnđược bao bọc bởi các con sông, được phù sa bồi đắp hết sức màu mỡ, là nềntảng quan trọng thu hút dân cư các nơi đến đây tụ cư và đem theo nhiều ngànhnghề thủ công Điều đó làm cho các ngành nghề TTCN ở Hưng Hà rất đa dạng
và xuất hiện tương đối sớm cùng với quá trình tụ cư của cư dân nơi đây
Ở Hưng Hà không có các hồ, đầm lớn, chủ yếu là các ao nhỏ, nằm xen
kẽ xung quanh các xóm làng, ven đê Đây là kết quả của quá trình tạo lập đất
ở của người dân Hưng Hà (đào ao vượt thổ) Một số các điểm trũng tích nướclâu trở thành ao, đầm, hồ tự nhiên Các ao, đầm ở Hưng Hà có diện tíchkhông lớn, trung bình chỉ khoảng 200-300 m², với tổng diện tích khoảng hơn
900 ha
Bên cạnh mục đích phục vụ tưới tiêu ruộng đồng, phục vụ sinh hoạthàng ngày của dân cư trong vùng Trong những năm gần đây, diện tích ao,đầm ở Hưng Hà đã được cải tạo nhằm mục đích phục vụ cho nuôi trồng thủy,hải sản, gia cầm… Đây chính là nguồn nguyên liệu tại chỗ phục vụ chongành chế biến lương thực-thực phẩm ở Hưng Hà phát triển
Trang 22Tài nguyên nước ở Hưng Hà khá dồi dào và đa dạng bao gồm cả nước mặt
và nước ngầm Tổng lượng mưa hàng năm từ 1500-2000 mm Nguồn nước mặtdồi dào từ các sông và một số ao, hồ, đầm có thể đáp ứng thỏa mãn nhu cầu củanhân dân cho sản xuất và trong sinh hoạt Song hiện nay nguồn nước mặt ở Hàđang bị ô nhiễm nghiêm trọng do tình trạng thải chất thải ra môi trường của các
cơ sở sản xuất, các làng nghề Điều này đã ảnh hưởng không tốt tới việc cungcấp nguồn nước cho sinh hoạt, sản xuất TTCN trong huyện
* Tài nguyên
+Tài nguyên khoáng sản: Khoáng sản không có nhiều về số lượng vàchủng loại, chỉ có mỏ đất sét trắng ở xã Cộng Hòa, Canh Tân thuộc vùng vensông Luộc với diện tích phân bố khoảng 90 ha Đây là nguồn nguyên liệu quýtạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các ngành tiểu thủ công nghiệp củahuyện như sản xuất đồ gốm sứ, vật liệu xây dựng
Gần đây đã phát hiện ra mỏ than bùn có trữ lương hàng trăm tỷ tấn trảikhắp lòng đất đồng bằng sông Hồng, trong đó, ở Hưng Hà có trữ lượng lên tớihơn 70 triệu tấn Đây là nguồn năng lượng quý để phát triển sản xuất cầnđược quy hoạch và khai thác trong tương lai
Theo kết quả xét nghiệm của trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nôi, tạivùng đất xã Duyên Hải, ở độ sâu 50 m có nguồn nước nóng 57ºC, ở độ sâu
178 m có nguồn nước nóng 72ºC Đây chính là nguồn nguyên liệu cho việcphát triển sản xuất nước khoáng uống và chữa bệnh cho mọi người trong thờigian tới
1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
1.2.1 Điều kiện kinh tế
Cách đây khoảng 2500 năm, khu vực đất đai của huyện Hưng Hà đãđược hình thành Vào khoảng 600-700 năm TTCN các lớp dân cư từ các
Trang 23vùng trung du Bắc Bộ và Trung Bộ đã tiến dần đến khai phá lập làng, xâydựng cuộc sống định cư trong đó có việc mở mang các nghề thủ công Họ
đã “bám theo các triền sông, tụ cư trên các gò, đống, dải đất cao” dọc theocác triền sông Hồng, sông Luộc, sông Trà lập nên các làng xã đông đúc, đadạng Cùng với sự hình thành của mảnh đất Hưng Hà, các nghề thủ công ởđây đã lần lượt ra đời
Cũng như cư dân của các vùng quê khác, cư dân Hưng Hà sống chủ yếubằng nghề nông, chủ yếu là trồng lúa, bên cạnh đó nhân dân còn trồng nhiềuloại cây lương thực, thực phẩm, cây ăn quả, cây lấy gỗ,… Tính đến năm
2008, tổng diện tích gieo trồng lúa ở Hưng Hà là 12.587 ha, với năng suất134,15 tạ/ha, được đánh giá là huyện có năng suất lúa cao nhất của tỉnh TháiBình Ngoài ra,các cây màu lương thực, cây công nghiệp hàng năm đượctrồng chủ yếu vào vụ đông như: khoai tây, đậu tương, lạc, ngô, mía, đay,dâu… Đây chính là các cây nguyên liệu chính phục vụ cho các ngành nghề:dệt chiếu, chế biến lương thực-thực phẩm,…Việc thâm canh cao các câytrồng nông nghiệp, không chỉ đáp ứng nhu cầu lương thực của nhân dân trongvùng, mà còn là nguồn nguyên liệu tại chỗ vô cùng quý giá để Hưng Hà pháttriển các ngành nghề TTCN trong huyện
Bên cạnh đó,mỗi bộ phận dân cư khi di cư đến vùng đất Hưng Hà đãmang theo nghề thủ công truyền thống của họ, đồng thời họ cũng sáng tạo ranhững nghề mới để phù hợp với điều kiện sống ở vùng đất mới Vì thế mà cácnghề thủ công ở Hưng Hà tương đối đa dạng, “là sự tụ hợp của nhiều nghề thủcông đã có trên hầu khắp đất nước, nhất là ở khu vực miền Bắc” [ 54; 16].Theo thời gian, các nghề thủ công ở Hưng Hà ngày càng phát triển, nó đãkhông còn đóng vai trò chỉ là nghề phụ trong đời sống kinh tế nhân dân Hưng
Hà Một số ngành nghề đã trở thành nghề chính, nguồn thu nhập chính của
Trang 24nhân dân như: dệt chiếu, dệt vải khăn, làm mộc,… Các sản phẩm của cácngành nghề này nổi tiếng khắp cả nước và được xuất khẩu sang nước ngoài
Từ xa xưa, trên mảnh đất Đa Cương Hương (thuộc Hưng Hà ngày nay),
cư dân đã biết dệt vải để đảm bảo nhu cầu mặc, bên cạnh nhu cầu ăn để sinhtồn Họ đã sử dụng đay, gai, bông để dệt vải thô Những dọi se chỉ và dấu vải
in trong các mộ cổ đầu Công nguyên ở Hưng Hà đã nói lên điều đó Ở Hưng
Hà, tại thôn Phú Hà-xã Tân Lễ, đến nay vẫn còn đền thờ nữ tướng ThụcChinh, người có công giúp vua Hùng dựng nước Sau khi hoàn thành, Bàđược cử chấn nhậm vùng đất này, bên cạnh việc dạy dân khai hoang trồnglúa, còn dạy nhân dân trồng dâu nuôi tằm dệt vải Điều đó cho thấy, nghề dệtvải đã xuất hiện ở Hưng Hà từ rất sớm Trải qua hơn 10 thế kỷ, dưới sự thốngtrị của bọn phong kiến phương Bắc, nghề dệt vải ở Hưng Hà vẫn tồn tại trongcác làng xã
Sang tới thời phong kiến, độc lập, tự chủ với những cuộc chiến tranh tànkhốc, làm cho nhiều làng mạc điêu tàn, song nghề dệt vải vẫn tồn tại trong từnggia đình, hương ấp ở Hưng Hà, đặc biệt là trong làng Mẹo Cho đến nay, nghềdệt ở làng Mẹo vẫn phát triển với những bí quyết riêng của mình và ngày càngđược mở rộng cả về quy mô và chất lượng sản phẩm của làng nghề
Nghề dệt chiếu ở Hưng Hà theo truyền lại là có vào khoảng thế kỷ X-XI,nhưng phải đến thế kỷ XV mới được phát triển, gắn liền với công của Trạngnguyên Phạm Đôn Lễ tro ng việc cải tiến kĩ thuật dệt và biên chiếu, giúp chochiếu dệt nhanh hơn, đẹp hơn và bền hơn
Ngoài hai nghề thủ công nổi tiếng, trên đất Hưng Hà từ xưa còn có nghềxây dựng nhà cửa, đóng mộc Ở các làng thời đó đã hình thành nên các tốpthợ giỏi gắn với tên tuổi của làng như: mộc Riệc (Mĩ Giặc-Tân hòa), mộc Vế(Canh Tân) Sản phẩm bún bánh làng Me (Tân Hòa )đã đi vào dân ca, cao daogắn với địa danh của làng Sản xuất các vật dụng từ mây tre đan thì làng nào
Trang 25cũng còn có từ sớm và tồn tại phát triển cho đến ngày nay: Cổ Trai (xã HồngMinh), xã Bình Lăng, xã Văn Cẩm, làm hương ở xã Duyên Hải
Sự phát triển của các nghề và làng nghề thủ công chính là nền tảng, tiềmnăng để Hưng Hà phát triển TTCN với nhiều sản phẩm phong phú và đa dạng.Trải qua hàng nghìn năm chinh phục thiên nhiên, đức tính cần cù, lòngdũng cảm, tính sáng tạo trong lao động sản xuất của người dân Hưng Hà đãđược hun đúc Bằng sức lực và trí tuệ của mình, nhân dân Hưng Hà đã nhanhchóng tiếp thu và làm chủ những kỹ thuật tiên tiến, hiện đại để ngày càng tạo
ra nhiều sản phẩm cho xã hội, góp phần đưa huyện Hưng Hà trở thành huyện
có bước phát triển khá trong tỉnh và trong khu vực
1.2.2 Điều kiện xã hội
Mặc dù hình thành muộn, nhưng Hưng Hà là huyện có mật độ dân sốcao, hiện nay toàn huyện có 35 xã và thị trấn, trong đó có hai thị trấn là thịtrấn Hưng Hà (huyện lỵ-trung tâm kinh tế, chính trị xã hội của toàn huyện),
và thị trấn Hưng Nhân- là trung tâm kinh tế xã hội vùng Đông Bắc của huyện;
có 7 thị tứ được quy hoạch, đó là những trung tâm kinh tế-xã hội của từngvùng Theo kết quả điều tra dân số 2009, dân số toàn huyện là 253.996 người,mật độ dân số 1.268 người/km² chiếm 14,1% dân số của toàn tỉnh Dân sốthành thị là 22.500 người, chiếm 8,85%, dân số nông thôn là 231.496 người,chiếm 91,15% Với sự quan tâm đặc biệt của toàn xã hội, vấn đề dân số, laođộng, việc làm ở Hưng Hà trong những năm gần đây đã có nhiều chuyển biếntheo hướng tích cực
Dân số đông nên lực lượng lao động của Hưng Hà rất dồi dào, lao độngtrong độ tuổi là 152.000 người, chiếm xấp xỉ 58% dân số của toàn huyện.Trong đó số dân làm nông nghiệp kiêm thủ công nghiệp 132.000 người,chiếm 86,8% dân số trong độ tuổi lao động [40; 11]
Trang 26Dân số đông, mật độ dân số cao là một khó khăn lớn của một vùng đấtthuần túy là đồng bằng như Hưng Hà Thế nhưng, đó cũng là một lợi thế vềthị trường đối với các ngành sản xuất TTCN, phục vụ tiêu dùng Nhu cầuphục vụ tại chỗ luôn luôn cao, góp phần kích thích TTCN phát triển Đồngthời đó cũng chính là tiềm năng về nhân lực cho sự phát triển các ngành sảnxuất nói chung, trong đó có TTCN Trong điều kiện đất canh tác chật hẹp, laođộng nông nghiệp dư thừa nhiều, đòi hỏi phải được giải quyết bằng nhiềucách thì không loại trừ việc phát triển các ngành nghề thủ công.
Giáo dục Hưng Hà có sự phát triển vượt bậc cả về cơ sở vật chất và trình
độ giáo viên, chất lượng dạy và học Ngay từ những năm đầu hợp nhất, Hưng
Hà đã chú trọng đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng Hệ thống các trường học đã vàđang được cao tầng hóa Các trang thiết bị giáo dục hiện đại được đưa vào sửdụng giúp học sinh tiếp thu bài giảng được tốt hơn Hưng Hà là một trongnhững huyện đầu tiên của tỉnh Thái Bình hoàn thành phổ cập giáo dục THCS(2001) Toàn huyện đến năm 2012 có 112 trường học ở 3 bậc học Trong đó,Mầm non là 36 trường; 36 trường Tiểu học; 34 trường THCS; 5 trườngTHPT; 1 Trung tâm giáo dục thường xuyên Chất lượng giáo dục từng bướcđược nâng lên, tỷ lệ thu hút học sinh vào bậc THPT ngày càng tăng lên, tỷ lệ
đỗ tốt nghiệp THPT ở mức cao hơn 95%
Cơ sở hạ tầng phát triển nhanh trong những năm đổi mới, trên địa bàntoàn huyện đã hoàn thành chương trình điện khí hóa nông thôn Hệ thống giaothông nông thôn, thông tin liên lạc, chợ, các công trình phúc lợi như: trạm y
tế, nhà văn hóa, trường học ,… được xây dựng ngày càng kiên cố Năm 2012,theo Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Thái Bình, huyện Hưng Hàđược đánh giá là huyện có tỷ lệ hộ nghèo, số hộ nghèo và số khẩu nghèo giảmnhanh nhất tỉnh Đến năm 2013 tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn 3,82% (thấp nhất tỉnhThái Bình), không còn hộ đói Bệnh viện đa khoa huyện và hệ thống trạm y tế
Trang 27xã được xây dựng, nâng cấp, mở rộng mạng lưới chăm sóc và bảo vệ sứckhỏe cộng đồng
Cùng với sự phát triển kinh tế-xã hội từ 1986-2012, đời sống của cư dântrên địa bàn tỉnh cũng không ngừng được cải thiện và từng bước được nângcao cả về vật chất lẫn tinh thần Sản xuất lương thực phát triển đi đôi với thựchiện tốt chính sách dân số-kế hoạch hóa gia đình đã đưa sản lượng lương thựcbình quân trên đầu người tăng nhanh Năm 2012, sản lượng lương thực bìnhquân trên đầu người ở Hưng Hà là 650kg/người/năm (trong đó, tỉnh Thái Bìnhsản lượng lương thực bình quân trên đầu người là 639kg)
Với những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội như trên đã tạocho TTCN Hưng Hà có nhiều điều kiện thuận lợi phát triển như: sự giao lưukinh tế, nguồn nguyên liệu tại chỗ phong phú, nguồn nhân lực dồi dào,…
1.2.3 Truyền thống văn hóa.
Hàng vạn năm về trước, đồng bằng sông Hồng là một vùng đất màu mỡ,với địa hình và khí hậu thuận lợi Từ cổ xưa đến nay nền văn hóa của cư dânĐồng bằng sông Hồng vẫn được xác định là nền văn hóa lúa nước Với mảnhđất Thái Bình nói chung và huyện Hưng Hà nói riêng hơn 90% dân số làmnông nghiệp và sống ở nông thôn (2009) Văn hóa nông nghiệp được xác định
là đến sớm, ở lâu và đi muộn Bằng chứng là hiện nay ở Hưng Hà vẫn còn lưugiữ được nhiều loại hình sinh hoạt văn hóa, văn nghệ dân gian, lễ hội truyềnthống với nghi thức lễ hội nông nghiệp hết sức độc đáo Ví dụ như tục đi lấynước ngoài sông Hồng, Sông Luộc vào dịp đầu năm, lễ hội ở đền thờ Phú Hà-
xã Tân Lễ, đền thờ Tiên La,… với ý nghĩa mong mưa thuận gió hòa.Tính chấtnông nghiệp được thể hiện rõ trong các ngành nghề thủ công nghiệp, đó lànền thủ công nghiệp tự cấp tự túc, phục vụ nông nghiệp và cư dân nôngnghiệp là chủ yếu
Trang 28Ở Hưng Hà có hàng chục lễ hội mỗi năm, bên cạnh các lễ hội với cácnghi thức nông nghiệp, còn có các lễ hội liên quan đến TTCN với ý nghĩa lưutruyền và phát triển nghề thủ công truyền thống Đó là các lễ hội trong cáclàng nghề truyền thống, lễ giỗ tổ nghề Lễ hội đầu xuân làng Hới được tổchức vào ngày 6 tháng 1 (âm lịch) hàng năm Đây là một lễ hội hết sức độcđáo nhằm tưởng nhớ tới vị tổ nghề chiếu Hới là Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ.Ông được mệnh danh là ông tổ nghề chiếu ở Hưng Hà và được lập đền thờngay tại làng Hới Ngày nay, trong các dịp tổ chức lễ hội ở Hưng Hà vẫn còncác cuộc thi dệt chiếu, chọn cói, đánh đay Hay lễ hội đền Trần tại làngPhương La (làng Mẹo) hàng năm với ý nghĩa tưởng nhớ vị tổ nghề dệt làngPhương La là Đức Hoằng Nghị đại vương, người có công lập làng, dạy dântrồng dâu nuôi tằm, dệt vải Bên cạnh phần lễ diễn ra trang trọng, hoành tráng,phần hội với các cuộc thi kéo sợi, may khăn,… đã thể hiện được sự tài hoa,khéo léo của người dân làng Mẹo.
Là một huyện nằm trong khu vực đồng bằng hình thành muộn nên Hưng
Hà không có cư dân bản địa Cộng đồng người sinh sống trong bộ phận lãnhthổ này là kết quả sự tụ cư của nhiều nguồn di cư khác nhau từ các làng Việt
cổ ở các vùng thuộc khu vực miền núi, trung du và đồng bằng Bắc Bộ đếnnhư: Cao Bằng, Tuyên Quang, Vĩnh Phú, Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Ninh,
Hà Nội, Ninh Bình, Hải Dương …, trong suốt quá trình khẩn hoang và pháttriển của vùng đất Hưng Hà [61; 41-42]
Sự hội tụ của các luồng cư dân đã làm cho đời sống văn hóa của các thế
hệ cư dân Hưng Hà không chỉ phong phú mà còn cởi mở, thông thoáng hơnnhiều ở các lĩnh vực tín ngưỡng tôn giáo, phong tục tập quán Tính dân chủtrong cộng đồng làng xã được thể hiện rõ Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới
sự hình thành của TTCN Hưng Hà Sự du nhập nhanh chóng và mạnh mẽ củacác ngành nghề mới tạo nên sự đa dạng của TTCN Cùng với truyền thống
Trang 29cần cù, sáng tạo của cư dân nơi đây, những ngành nghề mới du nhập vào đượcnhân dân Hưng Hà cải tạo và phát triển, làm cho các sản phẩm thủ công mangđặc trưng của vùng đất giàu truyền thống
1.3 Khái quát tình hình tiểu thủ công nghiệp huyện Hưng Hà trước năm 1986
Cho đến trước khi người Pháp trực tiếp đặt ách cai trị ở nước ta, khu vựcHưng Hà có khoảng 40 nghề thủ công Số làng nghề có khoảng 16 làng, trong
đó các nghề và làng nghề điển hình như: dệt chiếu ở làng Hới, dệt vải lụa ởlàng Phương La, nghề mộc ở làng Mĩ Giặc (nay là làng Riệc )… Phần lớncác nghề thủ công theo chân những người dân di cư đến vùng đất Hưng Hà,nhưng cũng có nghề do những người dân đã định cư ở nơi đây học được ở nơikhác đem về Ví như nghề dệt vải lụa của làng Phương La được tương truyền
do Hoằng Nghị Đại vương là thân phụ của Thái sư Trần Thủ Độ truyền dạykhi đến đây định cư Mặc dù hầu hết các nghề được truyền từ bên ngoài vào,nhưng khi đã trở thành công nghệ truyền thống địa phương thì nó lại mangnhững nét độc đáo riêng, gắn liền với tên làng ở Hưng Hà như: “Làm đìnhCao Đà, làm nhà Vế, Riệc” Nét độc đáo của nghề dệt chiếu Hới được thểhiện ở kĩ thuật cải hoa và biên chiếu Ngoài ra, tính độc đáo còn được thể hiện
ở bí quyết công nghệ của nhiều nghề khác như: nghề dệt vải lụa ở Phương La,nghề mộc làng Quan Bế, Mĩ Giặc
Sắc thái đồng bằng được thể hiện rõ ở loại hình các nghề Những nghềlàm nông cụ như cày, bừa, liềm, hái, gàu tát nước, làm nhà tre gỗ, làm đình,đan vó, lưới, làm cối, bện thừng-võng đay, làm hàng xáo,… Chính những nétđộc đáo trong kỹ thuật công nghệ đã tạo nên những nét đặc sắc riêng của thủcông nghiệp truyền thống Hưng Hà Trong điều kiện vận chuyển khó khăn,
Trang 30chủ yếu dựa vào hệ thống giao thông tự nhiên thì những nghề có nguồnnguyên liệu tại chỗ phong phú có những ưu thế phát triển nhất định
Theo P.Gourou thì nghề dệt chiếu xuất hiện sớm nhất ở Hưng Hà sau đómới lan truyền sang các huyện khác trong tỉnh, vì xưa kia khi biển chưa lùi thìHưng Nhân còn là đất trồng cói Nghề đan lát ở Hưng Hà phát triển trước hết
là do sự dồi dào về nhân lực và những nhu cầu về đồ dùng nông nghiệp Songmột điều quan trọng hơn là cây tre, nguyên liệu chính của nghề này đượctrồng phổ biến ở trong các làng xã Hưng Hà Các nghề ươm tơ, dệt lụa, bệnthừng võng, đánh đay, làm đường mật, phát triển mạnh một phần do nguyênliệu các cây đay, dâu, mía được trồng bạt ngàn trên các triền sông Hồng, sôngLuộc, sông Trà [ 54;21]
Vấn đề thị trường có ý nghĩa quan trọng đối với nghề thủ công truyềnthống Trước thời thuộc Pháp, thị trường chủ yếu của các sản phẩm thủ côngcủa Hưng Hà là trong huyện và các huyện lân cận của tỉnh Thái Bình, các tỉnhlân cận chủ yếu là Phố Hiến,Thăng Long, Kinh Bắc, Hải Dương, Hải Phòng,Bắc Giang,… Thị trường nội bộ của thủ công nghiệp Hưng Hà đó là hệ thốngcác chợ trong khu vực, trong đó tiêu biểu như: chợ Hới, chợ Hà (Tân Lễ)-bánchiếu; chợ Mẹo (Thái Phương)-bán tơ, vải, lụa; chợ Thá (Duyên Hà)-bán cácsản phẩm mây, tre đan
Cũng như các vùng khác trên địa bàn tỉnh Thái Bình nói riêng và cảnước nói chung, thủ công nghiệp truyền thống Hưng Hà hoạt động chủ yếutrong các làng nghề Ở các làng nghề, tính chất hàng hóa của thủ công nghiệpbiểu hiện rất rõ Nhờ đó, thủ công nghiệp trong các làng nghề ở mức độ nhấtđịnh đã thoát khỏi sự lệ thuộc và thể hiện tính độc lập tương đối của nó.Nhưng chủ yếu vẫn được bắt đầu từ làng làm nông nghiệp Dựa trên nền tảng
Trang 31nông nghiệp, một hay một số nghề thủ công đã nảy sinh và phát triển Nóicách khác, làng nghề được hình thành trên cơ sở làng nông nghiệp và pháttriển trùng khít lên làng nông nghiệp Đó là làng lưỡng tính: nông nghiệp-thủcông nghiệp.
Mỗi làng thường có một nghề truyền thống với công nghệ riêng, việcbảovệ bí mật kỹ thuật của một nghề là hết sức nghiêm ngặt Biểu hiện rõ nhất làcho đến giữa thế kỷ XX, nghề dệt vải vẫn không truyền ra khỏi địa giới làngPhương La Để làm điều đó, người ta không truyền nghề cho con gái, mà chỉtruyền cho con dâu, con gái phải lấy chồng làng Con gái làng Phương La đi lấychồng thiên hạ buộc phải đóng thêm tiền cheo cho làng Điều đó được thể hiện
rõ trong bản Tục lệ xã Phương La “Một lệ-Con gái cả lấy chồng nộp tiền lannhai (tiền cheo) 3 quan, 2 bình rượu, trầu cau; thứ nữ nộp tiền cheo 1 quan 5mạch; con gái lấy chồng làng khác tăng thêm tiền cheo 1 quan làm lệ” [50,185]
Trước thời cận đại ở một số làng nghề Hưng Hà đã tồn tại hình thức tổchức nghề nghiệp là “phường” nghề như phường chiếu làng Hải Triều (làngHới) Hơn vì mục đích đảm bảo, điều hòa các lợi ích về kinh tế như cácphường nghề ở các tổ chức xã hội phương Tây, thì ở đây chủ yếu là nhằmchăm lo việc thờ cúng vị tổ nghề, duy trì truyền thống công nghệ riêng củalàng mình [ 53;54-61]
Như vậy, cho đến trước khi người Pháp đặt ách cai trị trực tiếp tại nước
ta, khu vực Hưng Hà đã có một nền thủ công nghiệp đa dạng và mang nhữngnét đặc sắc riêng biệt của một khu vực đồng bằng Nhưng trình độ phát triểntrong gần 20 thế kỷ (từ đầu Công nguyên), nền thủ công nghiệp đó mới chỉthể hiện được những bước tiến chậm chạp, và nó vẫn chưa vượt khỏi giới hạncủa thủ công nghiệp gia đình Về mặt kỹ thuật nó vô cùng tinh xảo nhưng
Trang 32việc sản xuất vẫn còn mang tính chất thủ công với những công cụ hết sức thô
sơ [54;23]
Sau khi hoàn thành việc xâm lược thuộc địa, thực dân Pháp bắt đầu tiếnhành khai thác thuộc địa Với chủ trương “phát triển công nghiệp theo hướngkhông cạnh tranh, không có hại cho nền kỹ nghệ chính quốc” tư bản Pháp đãtạo nên ở Việt Nam một nền công nghiệp “què quặt”, lạc hậu [49;66] Trongtình hình đó, dưới những tác động của chủ trương, chính sách của chínhquyền thực dân, đồng thời do nhu cầu của đời sống nhân dân, TTCN phải bùđắp những gì thiếu thốn của đời sống xã hội mà công nghiệp không đáp ứngnổi Trên thực tế, TTCN đã trở thành hậu thuẫn của công nghiệp hiện đại Nóđược bổ sung một loạt nghề mới, có nguồn gốc phương Tây mà trước đâykhông có như: làm kính, sửa chữa đồng hồ, mài dao kéo, chụp ảnh, làm đăngten, thảm đay, thảm cói,…Trong số các sản phẩm ở Bắc Kì được tư bản Phápsớm quan tâm, trước hết phải kể đến các sản phẩm vải lụa và các mặt hàngthủ công mỹ nghệ truyền thống Để đạt được mục tiêu đó chính quyền thuộcđịa ban hành một loạt các biện pháp khuyến khích nghề tơ tằm và mở cáctrường kỹ nghệ
Trong bối cảnh lịch sử nói trên, hoạt động TTCN ở Hưng Hà có nhữngchuyển biến quan trọng, vừa mang nét phổ biến của TTCN Việt Nam thời cậnđại, vừa có nét riêng biệt địa phương Các nghề truyền thống phát triển ởHưng Hà thời kì này là: nghề hàng xáo có 1 làng; nghề mây tre đan có 4 làng;nghề đan vó lưới đánh cá 1 làng; nghề đan võng trong tổng số 750 người toàntỉnh Thái Bình thì ở Hưng Hà có hơn 500 người làm nghề; nghề dệt chiếu-đan rỏ, bị cói có 5 làng chủ yếu tập trung ở xã Tân Lễ với hơn 1000 ngườilàm nghề này.[54; 26-27]
Trang 33Từ nền tảng thủ công nghiệp gia đình, các xưởng thủ công tư nhân (tiểuchủ)-một dạng thức kinh tế tiền tư bản đã được nảy sinh ngày một nhiều.Theo P.Grossin, năm 1896, một người Trung Hoa đã thành lập ở Hưng Hàmột xưởng diệt chiếu có sử dụng tới 100 công nhân, năm đó sản xuất được5.000 cuốn chiếu (mỗi cuốn 3,5m) Năm 1908, người này lại thành lập thêm 2xưởng dệt chiếu khác với khoảng 400 công nhân và gia công đặt hàng chonhiều khung dệt gia đình Nhưng đến cuối năm 1910, cả ba xưởng đều gặpkhó khăn do thị trường xuất khẩu ở Hồng Kông khó khăn 1913 có hai xưởngđược hoạt động với 700 công nhân, sản lượng 2.000 cuốn chiếu/1 tháng Theomột tài liệu khác cho biết, hai xưởng dệt chiếu Vạn Sinh và Minh Kí ở HưngNhân có tới 700 khung dệt chiếu với 2.500 công nhân Riêng làng Hải Triềumỗi năm sản xuất ra 12.000 cuốn chiếu, trong đó 2.000 đến 3.000 cuốn bántại chỗ còn lại xuất khẩu sang Hồng Kông [54;33,34].
Rõ ràng, những chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp có ảnhhưởng trực tiếp đến sự phát triển của TTCN Hưng Hà Cũng vì mục tiêu lợinhuận, thực dân Pháp không thể không tiến hành những chính sách kinh tế,trong đó có chính sách khuyến khích công nghệ nhằm phát triển TTCN theohướng khai thác Những chính sách trên, ở mức độ nhất định đã phát huyđược tác dụng với TTCN Việt Nam nói chung và vùng đất Hưng Hà-TháiBình nói riêng
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp năm 1954 đã đưa miền Bắcvào thời kì cách mạng mới-xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Sau chiếntranh, miền Bắc bị tàn phá nghiêm trọng Các ngành nghề TTCN chỉ còn một
số ít hoạt động, những cơ sở vốn được duy trì trong kháng chiến không đủkhả năng đáp ứng được nhu cầu của nhân dân Tình hình trên đòi hỏi Đảng và
Trang 34Nhà nước phải tập trung thực hiện khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thươngchiến tranh, cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân
Trong bối cảnh công cuộc khôi phục kinh tế diễn ra rộng khắp trên miềnBắc, chủ trương chỉ đạo của Trung ương được vận dụng triệt để vào HưngNhân và Duyên Hà Trong những năm 1955-1957, nhờ có chủ trương khuyếnkhích công nghệ của Nhà nước và của tỉnh, TTCN Hưng Hà trở thành khuvực kinh tế đa thành phần, bao gồm các hợp tác xã TTCN, cơ sở tiểu chủ vàcác cá thể-hộ gia đình
Ngày 30-6-1955, Trung ương Đảng ra chỉ thị về việc xây dựng tổ đổicông Phong trào xây dựng tổ đổi công diễn ra mạnh mẽ khắp các xã của haihuyện Hưng Nhân và Duyên Hà Ở Hưng Nhân có 17 nghề thủ công nghiệp:dệt chiếu, dệt vải, dệt khăn, rèn nông cụ, đan võng, đánh đay, bện thừng,…gồm 14.610 lao động tham gia, sản xuất 305 mặt hàng khác nhau Quá trìnhcải tạo xã hội chủ nghĩa toàn huyện đã đưa từ 51% lên 99% số hộ vào hợp tác
xã thủ công, gồm 14.380 người, trong đó có 3 hợp tác xã chuyên nghiệp với
922 xã viên; 88 hợp tác xã cung tiêu sản xuất gồm 5.241 xã viên; 226 cơ sởnông nghiệp kiêm thủ công nghiệp gồm 8.217 xã viên Năm 1959, Hải Triều
là một bộ phận chủ yếu để đi đến thành lập hợp tác xã dệt chiếu chuyên toàn
xã (Hợp tác xã Hợp Thành), với 250 khung dệt và hơn 500 lao động, năngsuất từ 85.000 đến 90.000 lá chiếu phục vụ trong nước và xuất khẩu Ngoài ra
ở Hưng Nhân còn có một số hợp tác xã dệt chiếu chuyên nghiệp khác nhưngnăng lực sản xuất thấp hơn Việc cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao độngbước đầu được chú trọng
Đầu năm 1965, hoạt động công nghiệp, TTCN của Thái Bình bắt đầu có
sự chuyển hướng trong điều kiện vừa sơ tán, vừa sẵn sàng chiến đấu Dưới sự
Trang 35chỉ đạo của Tỉnh ủy, hai huyện Duyên Hà và Hưng Nhân đã có nhiều biệnpháp xây dựng cải tạo và phát triển công nghiệp và TTCN đạt hiệu quả thiếtthực Nhiều cơ sở sản xuất một số mặt hàng phục vụ nông nghiệp và phục vụđời sống nhân dân như: xưởng gỗ, trạm máy kéo quốc doanh, các hợp tác xãvận tải thuyền, hợp tác xã cơ khí, gốm sứ, may mặc, gạch ngói, vôi,…
Ở Hưng Nhân năm 1968, toàn huyện thành lập được 27 tổ rèn gồm 65lao động, 25 tổ mộc gồm 124 lao động; 21 tổ nề gồm 77 lao động, bước đầuđưa sản xuất vào nền nếp Chỉ trong hai năm 1967-1968 giá trị sản lượng tiểuthủ công nghiệp của Hưng Nhân đạt 9.344.000 đồng, trong đó khu vực quốcdoanh đạt 34,4%; thủ công nghiệp và các ngành trong hợp tác xã chiếm65,7% Các mặt hàng thiết yếu phục vụ nông nghiệp, đời sống đều tăng nhưsản xuất công cụ đạt 102%, gạch 102%, vải 100,63%, bao bì 105% Cuối năm
1965, Nhà nước tặng Huân chương Lao động hạng Ba cho Nhà máy đườngHưng Nhân, đơn vị có thành tích xuất sắc trong lao động sản xuất vượt chỉtiêu kế hoạch đề ra [ 59; 182]
Năm 1969, trước yêu cầu của việc phát triển kinh tế và quốc phòng, Hộiđồng Chính phủ ra quyết định số 93/CP ngày 17-6-1969 về việc hợp nhất vàđiều chỉnh địa giới các huyện, trong đó hợp nhất hai huyện Hưng Nhân vàDuyên Hà thành huyện Hưng Hà, đồng thời cắt các xã Bắc Sơn, Đông Đô, Tây
Đô, Hòa Bình, Chi Lăng của huyện Tiên Hưng sát nhập vào huyện Hưng Hà.Trong khí thế hăng hái thi đua chào mừng Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Bình (4-1969) và Đại hội Đại biểu huyện Hưng Hà lần thứ nhất (15-17/10/1970), nhândân Hưng Hà ra sức thi đua sản xuất trong đó có sản xuất TTCN
Mặc dù khó khăn về nguyên liệu, song được sự quan tâm lãnh đạo củacác cấp ủy Đảng, ngành TTCN có bước phát triển Các hợp tác xã thủ công đã
Trang 36tận dụng nguồn nguyên liệu của địa phương và nhân dân để gia công các mặthàng phục vụ sản xuất và đời sống Để đáp ứng yêu cầu của nông nghiệp,huyện tiếp tục củng cố hợp tác xã cơ khí về mặt tổ chức, cơ sở vật chất kỹthuật và năng lực quản lý, tạo điều kiện nâng cao chất lượng công cụ sản xuất.Năm 1970 Hưng Hà đã hoàn thành việc xây dựng 2 hợp tác xã cơ khí và 7 cơ
sở sản xuất TTCN; đẩy mạnh phong trào hai mũi tiến công “năng suất, chấtlượng” Tổng giá trị sản lượng TTCN năm 1971 đạt 11% kế hoạch, trong đósản phẩm phục vụ nông nghiệp là 62%, tiêu dùng 36,8%, xuất khẩu 1,2%.Năm 1972 tổng giá trị sản lượng tiểu thủ công nghiệp vượt 33,3% so với năm
1971 Trong đó, một số hợp tác xã đạt kết quả cao về tổng sản lượng sản xuấtTTCN như; Việt Hưng, Hồng Hà , Hợp Thành,…[59; 214]
Năm 1973-1975, TTCN Hưng Hà tiếp tục phát triển theo hướng tíchcực Cùng với việc tổ chức lại lao động trong các hợp tác xã nông nghiệp theohướng chuyên môn hóa Đồng thời, còn từng bước chuyển lao động từ nôngnghiệp sang sản xuất TTCN Năm 1971 số lao động chuyên trách làm nghềthủ công trong các hợp tác xã là 2.150 người, thì đến năm 1975 là 3.100người Giá trị sản lượng (chỉ tính phần kinh doanh của tập thể ) tăng từ1.329.579 đồng (1971) lên 1.747.886 đồng (1975) Giá trị xuất khẩu từ102.00 0 đồng (1971)lên 1.000.000 đồng (1975) Giá trị sản xuất toàn ngànhnăm 1975 tăng 25,2% so với năm 1974 [59; 236]
Các mặt hàng chủ yếu thời kì này như: nông cụ, thảm đay, vải, chiếu, đồmộc,… Thảm đay là mặt hàng có doanh số thu mua cao Để phát triển nghề theohướng bền vững, Hưng Hà đã bổ sung công cụ cải tiến, công cụ cơ giới và xâydựng nhà xưởng, mở lớp dạy nghề và mở lớp dạy kỹ thuật cho thợ thủ công
Trang 37Văn kiện Đại hội Đảng bộ Huyện lần thứ V (10-1976) đã nhấn mạnh;sản xuất TTCN góp phần tích cực phục vụ nông nghiệp và phục vụ nhu cầuđời sống nhân dân Trong hai năm 1975-1976 toàn huyện tiến hành củng cố
và mở rộng một số hợp tác xã chuyên nghiệp, mở thêm hai cơ sở sản xuất, mởrộng thêm một số nghề thủ công mới trong các hợp tác xã, thu hút lao động.Giá trị sản lượng thời kì này tăng nhanh, năm 1975 là 4.673.000 đồng, đến 6tháng đầu năm 1976 đạt 2.800.000 đồng, vượt 11% so với cùng kì năm trước.Trong giai đoạn 1979-1986, Hưng Hà vẫn là địa bàn hoạt động của cácnghề như: dệt chiếu, làm đồ mộc, dệt thảm len, thảm đay, dệt vải, đồ kim khí,làm đồ sứ, gạch ngói, mây tre đan, làm đường,… Riêng bộ phận tiểu thủ côngnghiệp chuyên toàn huyện có 9 hợp tác xã với lực lượng lao động cao nhất đạt1.845 lao động (1979) Năm 1982 giá trị sản lượng đạt 10.087 nghìn đồng(theo giá cố định năm 1970) Năm 1983 giá trị tổng sản lượng đạt 79.506nghìn đồng (giá cố định 1982)
Trang 38Bảng 1.2 Cơ cấu giá trị sản xuất TTCN huyện Hưng Hà theo thành phần
hộ gia đình tăng lên mạnh mẽ Đây là kết quả của Đại hội Đảng bộ huyện lầnthứ VII (1983) đã đề ra phương hướng nhiệm vụ phát triển CN-TTCN trongtoàn huyện, đặc biệt là phát triển mạnh mẽ kinh tế hộ gia đình
1.4 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và địa phương về phát triển TTCN Hưng Hà trong thời kì Đổi mới.
TTCN Hưng Hà giai đoạn 1986-2012, cũng giống như các địa phươngkhác trong tỉnh Thái Bình nói riêng và cả nước nói chung, có bước chuyển
Trang 39biến mạnh mẽ từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) Tuy nhiênkhông phải đến năm 1986 Đảng và Nhà nước mới đề ra đường lối đổi mớikinh tế đất nước, chuyển từ nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp sang nềnkinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Từ sau Hội nghị lần thứ 6 của BCH Trung ương Đảng khóa IV (1979),kinh tế Việt Nam bước vào thời kì đầu của sự chuyển hướng, từ nền kinh tế
kế hoạch hóa theo cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hànghóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhànước theo định hướng XHCN Tuy nhiên, cho đến trước năm 1986, về cơ bảnnền kinh tế nước ta vẫn mangnặng tính chất tự cấp, tự túc, các yếu tố sản xuấthàng hóa còn yếu, chưa phát triển, các yếu tố thị trường còn sơ khai, chưađồng bộ, cơ chế quản lý cũ theo kiểu mệnh lệnh hành chính nên cứng nhắc vàkém hiệu quả Hậu quả là đã làm cho nền kinh tế rơi vào hiện tượng mất cânđối, lạm phát dẫn đến khủng hoảng suy thoái Tình hình đó đòi hỏi phải đổimới tư duy để thoát khỏi khủng hoảng, thúc đẩy sản xuất hàng hóa trong nướcphát triển Vì vậy, việc chuyển hẳn nền kinh tế nước ta từ cơ chế tập trungquan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường là tất yếu, phù hợp với yêu cầu lịch
sử trong nước và xu hướng phát triển thế giới Để hạn chế những khuyết điểmcủa nền kinh tế thị trường, đạt được sự ổn định tương đối, tăng trưởng đồngthời thực hiện những mục tiêu phúc lợi xã hội, Đại hội Đảng toàn quốc lầnthứ VI (12-1986) đã xác định: đó là một nền kinh tế thị trường, có sự quản lýcủa Nhà nước và định hướng xã hội chủ nghĩa [54;129]
Trong công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế đất nước, đặc biệt làtrong việc thực hiện ba chương trình kinh tế, nội dung chủ yếu của kế hoạchkinh tế 5 năm 1986-1990 (lương thực-thực phẩm-hàng tiêu dùng, hàng xuấtkhẩu), vai trò của TTCN càng trở nên quan trọng, nhất là đối với việc phục vụhàng xuất khẩu và hàng tiêu dùng Chính vì vậy đã thúc đẩy các ngành
Trang 40TTCN chế biến nông sản, các ngành phục vụ cho nhu cầu nhân dân trongnước cũng như xuất khẩu nhằm thu ngoại tệ cho đất nước
Tuy nhiên, TTCN cả nước nói chung chỉ thực sự có chuyển biến từ khi
có Nghị quyết 16 của Bộ Chính trị (khóa VI) ngày 15-7-1988 về đổi mới cơchế và chính sách đối với các cơ sở sản xuất thuộc thành phần kinh tế ngoàiquốc doanh Theo tinh thần nghị quyết thì các thành phần kinh tế ngoài quốcdoanh bao gồm: kinh tế tập thể (Hợp tác xã và tổ hợp tác), kinh tế gia đình,kinh tế công tư hợp doanh và kinh tế tư nhân (hộ cá thể, hộ tiểu chủ, xí nghiệp
tư bản tư doanh) Nhà nước đảm bảo sự bình đẳng trước pháp luật của các cơ
sở sản xuất thuộc tất cả các thành phần kinh tế, Các đơn vị kinh tế ngoàiquốc doanh được bình đẳng trước pháp luật, trong quan hệ với các đơn vịkinh tế quốc doanh, trong việc giao dịch mua sắm vật tư thiết bị và trong cáchoạt động xuất nhập khẩu
Về nghề và ngành nghề, Nghị quyết cũng khẳng định: “Ưu tiên phát
triển các ngành nghề sử dụng nhiều lao động, nhiều nguyên liệu có sẵn tại địa phương và trong nước, các ngành nghề gắn với nông nghiệp ở nông thôn
và các ngành nghề tiêu hao ít năng lượng và nguyên liệu; các ngành nghề nhanh chóng tạo ra lợi nhuận”[5].
Đồng thời với việc phát triển nghề, làng nghề và các đơn vị trong sảnxuất TTCN, Đảng và Nhà nước ta chủ trương phải áp dụng các thành tựu
khoa học kỹ thuật vào sản xuất:“Thúc đẩy quá trình phân công lao động,
chuyên môn hóa, hợp tác hóa, đẩy mạnh áp dụng tiến bộ kỹ thuật, thực hiện đúng phương châm “tiểu công nghiệp hiện đại-thủ công nghiệp tinh xảo” Tăng nhanh sản lượng, chất lượng và thành quả kinh tế của các hoạt động công nghệ”.[5].
Vận dụng đường lối chỉ đạo của Trung ương Đảng, Tỉnh ủy, Ủy bannhân dân tỉnh Thái Bình đã đề ra những chủ trương và biện pháp tích cực đối