Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật quản lý thuế nói chung và pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân đối với một số loại thu nhập cụ thể để nhận thấy những ưu nhược điểm của pháp
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
CHUNG PHƯƠNG ANH
SO S¸NH PH¸P LUËT QU¶N Lý THUÕ THU NHËP C¸ NH¢N T¹I VIÖT NAM Vµ MéT Sè QUèC GIA TR£N THÕ GIíI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
CHUNG PHƯƠNG ANH
SO S¸NH PH¸P LUËT QU¶N Lý THUÕ THU NHËP C¸ NH¢N T¹I VIÖT NAM Vµ MéT Sè QUèC GIA TR£N THÕ GIíI
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu, tư liệu sử dụng trong Luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Những kết quả nghiên cứu của Luận văn này chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Chung Phương Anh
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 5
1.1 Khái quát về thuế thu nhập cá nhân và quản lý thuế thu nhập cá nhân 5
1.1.1 Khái quát về thuế thu nhập cá nhân 5
1.1.2 Quản lý thuế thu nhập cá nhân 11
1.2 Pháp luật Quản lý thuế thu nhập cá nhân 18
1.2.1 Khái niệm pháp luật Quản lý thuế thu nhập cá nhân 18
1.2.2 Cấu trúc pháp luật quản lý thuế 25
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân 28
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31
Chương 2: PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 32
2.1 Pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam hiện nay 32
2.1.1 Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ thể theo pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân 32
2.1.2 Thực trạng pháp luật về thủ tục hành chính trong quản lý thuế thu nhập cá nhân 35
2.1.3 Thực trạng pháp luật về giám sát và bảo đảm sự tuân thủ pháp luật trong quản lý thuế thu nhập cá nhân 56
2.1.4 Thực trạng quản lý thuế thu nhập cá nhân của một số loại thu nhập cụ thể 67
Trang 52.2 Kinh nghiệm một số nước về quản lý thuế thu nhập cá nhân 71
2.2.1 Về pháp luật thuế thu nhập cá nhân 71
2.2.2 Về pháp luật quản lý thuế 76
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 92
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 93
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Viê ̣t Nam 93
3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân 97
3.2.1 Quy định về quản lý thuế 97
3.2.2 Quy định của pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công 105
3.2.3 Quản lý thuế thu nhập cá nhân đối với những khoản thu không thường xuyên 107
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 111
KẾT LUẬN CHUNG 112
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thuế là một công cụ quan trọng của Nhà nước, nó vừa đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, vừa là công cụ để điều tiết vĩ mô nền kinh tế Để sử dụng hiệu quả công cụ thuế, về cơ bản hệ thống chính sách thuế gồm có thuế gián thu và thuế trực thu Thuế gián thu như thuế Giá trị gia tăng (GTGT), thuế Tiêu thụ đặc biệt, thuế Xuất khẩu, thuế Nhập khẩu Thuế trực thu như thuế Thu nhập cá nhân (TNCN), thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN)
Theo thông lệ của các quốc gia, thuế trực thu sẽ chiếm tỷ trọng lớn, ngược lại giảm dần thuế gián thu Việt Nam đang bước vào hội nhập sâu, rộng với nền kinh tế quốc tế và tiến trình chuyển đổi dần cơ cấu tỷ trọng tăng dần của các sắc thuế trực thu đang là xu hướng tất yếu Thuế TNCN cũng đóng một vai trò đáng kể trong nguồn thu ngân sách và là nghĩa vụ của tất cả những người lao động trên lãnh thổ Việt Nam Thuế TNCN điều tiết thu nhập cá nhân, thể hiện rõ nghĩa vụ của công dân đối với đất nước và được căn cư trên các nguyên tắc: lợi ích, công bằng và khả năng nộp thuế
Trong thời gian qua cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, thu nhập của các tầng lớp dân cư cũng tăng lên đáng kể, thu nhập giữa nhóm người có thu nhập cao và nhóm người có thu nhập thấp cũng có xu hướng ngày càng tăng Đối tượng nộp thuế TNCN và hình thức thu nhập của các bộ phận dân cư và người lao động cũng đa dạng Trong những năm gần đây, các thị trường tài chính, tiền tệ, vốn, lao động có sự phát triển mạnh mẽ Nền kinh tế tăng trưởng nhanh tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân có cơ hội đầu tư, sản xuất kinh doanh, có thêm nhiều nguồn thu nhập Bên cạnh đó, cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, một số người nước ngoài làm ăn sinh sống tại Việt Nam và số người Việt Nam có thu nhập
từ nước ngoài cũng tăng lên Sự đa dạng và gia tăng thu nhập của các cá nhân trong
xã hội sẽ làm cho khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư ngày càng lớn Với tình hình đó, có thể thấy thuế TNCN ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế
Trang 7Ở nước ta hiện nay, quản lý thuế nói chung và quản lý thuế thu nhập cá nhân nói riêng còn nhiều hạn chế Nếu chúng ta không sớm khắc phục những hạn chế này thì sẽ gặp rất nhiều bất lợi trước ngưỡng cửa hội nhập kinh tế toàn cầu Chính vì thế, công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam cần phải được hoàn thiện để đáp ứng những yêu cầu của thực tiễn
Mặc dù, thuế TNCN đã được đưa vào áp dụng ở Việt Nam từ năm 1991 với tên gọi “Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao”, song từ khi Chính phủ công
bố dự thảo lần đầu cho đến khi công bố luật thuế TNCN đến nay thì vẫn còn những
QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ QUỐC GIA
thống pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân để chống lại nạn thất thu thuế thu nhập cá nhân và tăng ngân sách Nhà nước
2 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề quản lý thuế nói chung và quản lý thuế thu nhập cá nhân nói riêng đã
và đang nhận được sự quan tâm của nhiều cá nhân, cơ quan và tổ chức Cho tới nay
đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, có thể kể tên một số công trình tiêu biểu sau:
- Vũ Văn Cương (2012), Pháp luật quản lý thuế trong nền kinh tế thị trường
ở Việt Nam – những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án Tiến sĩ luật học, Trường
Đại học Luật Hà Nội
- Vương Hoàng Long (2000), Hoàn thiện tổ chức bộ máy ngành thuế trong
điều kiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Trường
Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội
- Phạm Thị Phương Mai (2008), Thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm quốc
tế và việc thực thi ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ ngành Kinh tế chính trị, Trường Đại
học Kinh tế
- Trần Vũ Hải (2007), “Thực trạng pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt
Nam hiện nay và phương hướng hoàn thiện”, Tạp chí Luật học
Trang 8- Nguyễn Thị Thương Huyền (2008), “Luật Quản lý thuế và những vấn đề
cần bàn thêm”, Nghiên cứu lập pháp
- Một số luận văn thạc sĩ luật học, khóa luận tốt nghiệp của Trường Đại
học Luật Hà Nội, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội và các cơ sở khác
Các công trình nói trên đã nêu ra nhiều vấn đề cơ bản cả về lý luận và thực tiễn liên quan đến pháp luật quản lý thuế nói chung và quản lý thuế thu nhập cá nhân nói riêng Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình nêu trên và các tài liệu khác có liên quan đến pháp luật về quản lý thuế và thuế thu nhập
cá nhân, luận án đã tiếp cận những quy định của pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam và pháp luật quản lý thuế ở một số quốc gia trên thế giới để từ đó
rút ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Luận văn nghiên cứu và làm sáng tỏ những lý luận cơ bản và thực trạng pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật quản lý thuế nói chung và pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân đối với một số loại thu nhập cụ thể để nhận thấy những ưu nhược điểm của pháp luật hiện hành trong lĩnh vực này, từ đó đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật quản lý thuế thu nhập ở Việt Nam hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đã dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác –Lênin, với phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử trong mối tương quan với tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu, luận văn còn dựa trên cơ sở quan điểm, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và
Trang 9Nhà nước Việt Nam Ngoài ra luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp, mô tả và so sánh, kết hợp nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn
6 Điểm mới của Luận văn
Pháp luật về quản lý thuế ở Việt Nam là một trong những đề tài được không
ít các tác giả trong giới nghiên cứu quan tâm, lựa chọn Tuy nhiên, pháp luật quản
lý thuế thu nhập cá nhân lại chưa được tìm hiểu một cách chuyên sâu và có hệ thống Trên cơ sở kế thừa và phát huy những kết quả đã đạt được, luận văn cũng mạnh dạn đóng góp những điểm mới của đề tài như sau:
- Thứ nhất, luận văn đã khái quát một cách hệ thống những vấn đề lý luận
cơ bản về quản lý thuế cũng như pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam để làm nổi bật lên vấn đề lý luận cơ bản về quản lý thuế thu nhập cá nhân ở nước ta
- Thứ hai, luận văn đưa ra những nhận xét cụ thể về ưu, nhược điểm của
pháp luật Việt Nam về quản lý thuế thu nhập cá nhân Kế thừa các quy định quản lý thuế thu nhập cá nhân ở một số quốc gia trên thế giới Trên cơ sở đó, luận văn mạnh dạn đề xuất những giải pháp cụ thể để hoàn thiện hơn nữa pháp luật về quản lý thuế thu nhập, cũng như giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quản
lý thuế thu nhập cá nhân ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
3 chương:
Chương 1: Thuế thu nhập cá nhân và quản lý thuế thu nhập cá nhân
Chương 2: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam và
pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân ở một số nước trên thế giới
Chương 3: Định hướng hoàn thiện pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân ở
Việt Nam và một số kiến nghị
Trang 10Chương 1 THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ
THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
1.1 Khái quát về thuế thu nhập cá nhân và quản lý thuế thu nhập cá nhân
1.1.1 Khái quát về thuế thu nhập cá nhân
1.1.1.1 Khái niệm
Thuế thu nhập cá nhân là một sắc thuế xuất hiện tương đối sớm Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế phổ biến trên thế giới và có lịch sử hàng trăm năm nay Đến nay đã có hơn 180 nước áp dụng thuế thu nhập cá nhân Trong đó, quốc gia đầu tiên
áp dụng thuế thu nhập cá nhân là Hà Lan năm 1797, sau đó là ở nước Anh vào năm
1799 Đầu tiên nó đã bị phản đối rất nhiều, bản thân Thủ tướng nước Anh William Pitt năm 1798 đã từng nói thật là nhục nhã và xấu hổ đối với cơ quan thuế và hình ảnh của một quốc gia khi bắt một quý ông hay một quý cô phải nói với ai đó về thu nhập của họ Nhưng chỉ một năm sau thì chính ông đã phải thay đổi quan điểm, và
thuế thu nhập cá nhân đã ra đời “Ở Mỹ, thuế thu nhập cá nhân đã xuất hiện trong thời kỳ
chiến tranh 1812 và nó cũng dựa vào điều luật thuế của nước Anh năm 1798” [6] Vậy
thuế thu nhập cá nhân là gì, nó có những đặc điểm và vai trò gì mà khiến các quốc gia đặc biệt quan tâm và đưa nó thành một sắc thuế trong hệ thống thuế?
Trước tiên, để hiểu thế nào là thuế thu nhập cá nhân, chúng ta phải hiểu thế nào là thu nhập
Thu nhập là tổng các giá trị tài sản và của cải được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ của một chủ thể nào đó trong nền kinh tế - xã hội tạo ra
và nhận được từ các nguồn lao động, tài sản hay đầu tư thông qua quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong một khoảng thời hạn nhất định (thường là 01 năm) [1]
Về nguyên tắc, bất kỳ một thể nhân hay pháp nhân nào khi nhận được thu nhập dưới bất cứ hình thái nào (hiện vật hay giá trị) và bất kể từ nguồn nào (do lao động, hay đầu tư …) đều phải trích một phần từ thu nhập đó để nộp cho Nhà nước dưới dạng thuế thu nhập
Trang 11Như vậy, thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của mỗi
cá nhân trong xã hội trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)
1.1.1.2 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân
Thu nhập chịu điều tiết của thuế sẽ căn cứ vào cụ thể nguồn gốc phát sinh của các khoản thu nhập và căn cứ vào đặc điểm cư trú hay một số đặc điểm khác tùy theo luật của từng nước
Thông thường các nước vẫn sử dụng nguyên tắc cư trú để đánh thuế thu nhập
cá nhân Quan niệm về nơi cư trú của các quốc gia gần như là tương đồng Nó có những nội dung cơ bản sau: có nơi ở chính tại quốc gia đó hoặc có thời gian sống ở
đó từ 183 ngày trở lên hoặc lâu hơn những nơi khác Thời gian này có thể thay đổi theo quy định của từng quốc gia; Hành nghề chính tại quốc gia đó, tức là phần lớn thu nhập của đối tượng được tạo ra từ những hoạt động này; Có trung tâm lợi ích kinh tế tại quốc gia đó, tức là có phần vốn đầu tư chủ yếu hoặc có trụ sở hoạt động tại quốc gia đó Thu nhập chịu thuế bao gồm tất cả các khoản thu nhập theo quy định của Nhà nước sau đó được khấu trừ đi các khoản chi phí khác được phép khấu trừ theo quy định của Nhà nước Nhà nước sẽ có một danh mục các khoản thu nhập
mà phải tính vào thu nhập chịu thuế, đồng thời sẽ có một danh mục khác liệt kê các chi phí được phép khấu trừ khỏi thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế Ví dụ ở Pháp thì người ta chia ra làm 8 loại thu nhập (thu nhập từ cho thuê bất động sản, thu nhập từ tiền lương, thu nhập từ hoạt động sản xuất công nghiệp và thương mại, thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp …), còn ở Việt Nam, người ta chia thu nhập chịu thuế ra làm 2 loại là thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên Ta sẽ trình bày chi tiết hơn về nội dung thuế của Việt Nam ở các phần sau Ngoài ra, có những trường hợp các cá nhân có thu nhập phát sinh ở nước ngoài mà
đã nộp thuế một phần ở nước ngoài, thì khi đó việc khấu trừ thuế nộp ở trong nước
sẽ phụ thuộc vào hiệp định ký kết giữa quốc gia đó và bên nước ngoài về việc tránh đánh thuế hai lần Các đối tượng không cư trú tại quốc gia đó thì sẽ chỉ có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập cá nhân đối với phần thu nhập phát sinh tại quốc gia đó
Trang 12Do đối tượng nộp thuế đồng thời cũng chính là đối tượng chịu thuế nên thuế thu nhập cá nhân được xếp vào loại thuế trực thu
Phạm vi điều chỉnh của luật thuế thu nhập cá nhân là rất rộng lớn và do đặc điểm đối tượng chịu thuế trực tiếp phải nộp thuế nên sức ảnh hưởng của nó đối với nền kinh tế và thái độ của dân cư là hết sức to lớn Không giống như các loại thuế gián thu, ví dụ thuế tiêu dùng, khoản thuế được tính sẵn trong giá thanh toán nên nó không ảnh hưởng nhiều đến tâm lý của người mua về khoản thuế mình phải nộp, thuế trực thu có thể hiểu bóng bẩy là Nhà nước trực tiếp thò tay vào túi chúng ta và lấy tiền của ta ra, điều đó chắc chắn sẽ có ảnh hưởng mạnh về tâm lý của người nộp thuế Chính vì vậy, mỗi khi Chính phủ có những thay đổi trong chính sách thuế thu nhập cá nhân như việc điều chỉnh thuế suất và thay đổi phạm vi các đối tượng được miễn giảm thuế thì đều gây ra phản ứng mạnh mẽ trong dân cư
Ngay khi Pháp lệnh thuế thu nhập cá nhân lần đầu tiên đi vào thực hiện tại Việt Nam (01/4/1991), các cá nhân người nước ngoài làm việc
và có thu nhập phát sinh tại Việt Nam phản ứng cũng khá quyết liệt khi thấy rằng thuế suất thuế thu nhập cá nhân đối với họ là quá cao, do lúc
đó thu nhập trung bình của nước ta vẫn còn thấp, trong khi đó lương trả cho các chuyên gia nước ngoài thì cao hơn nhiều so với trong nước Ở đây, ta muốn khẳng định lần nữa là thuế thu nhập cá nhân mang đặc điểm là loại thuế trực thu và phạm vi điều tiết rất rộng nên nó có ảnh
hưởng rất mạnh đến tâm lý của dân cư [2]
Thuế thu nhập cá nhân thông thường là loại thuế lũy tiến
Các nước thường xây dựng một biểu thuế lũy tiến, các bậc ứng với mức thu nhập càng cao thì có mức thuế suất càng cao Do đó, những người có thu nhập càng cao thì phải chịu mức thuế đóng góp cao hơn so với những người có mức thu nhập thấp hơn Nó góp phần đảm bảo tính chất công bằng trong phân phối xã hội, công bằng ở đây là công bằng theo chiều dọc Biểu thuế lũy tiến được xây dựng căn cứ vào nguyên tắc đánh thuế dựa vào khả năng nộp thuế của các cá nhân khác nhau Những người có thu nhập cao thì có khả năng nộp thuế cao hơn những người có thu
Trang 13nhập thấp và ngược lại Tư tưởng đánh thuế dựa vào khả năng nộp thuế của nhà vua Writ - vị vua nước Anh vào thế kỷ 17 đã là cơ sở cho sự phát triển rất sớm của các biểu thuế lũy tiến Khoảng cách tương đối giữa các bậc thuế suất sẽ quyết định tính chất lũy tiến mạnh hay yếu của biểu thuế Khoảng cách này mà càng lớn thì mức độ lũy tiến của biểu thuế càng cao và ngược lại
Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế phức tạp và mang tính trung lập đối với cơ cấu kinh tế
Do đặc điểm là điều tiết lên thu nhập của dân cư, phạm vi điều tiết rất rộng nên việc quản lý đối với loại thuế này là hết sức khó khăn Nó dễ gây phản ứng của người nộp thuế Đồng thời do tính chất phân tán và động của đối tượng chịu thuế và nguồn thuế nên công tác quản lý thu rất khó khăn Chính vì đặc điểm này mà chi phí hành thu của thuế thu nhập cá nhân rất cao Ngoài ra, nó điều tiết lên thu nhập chứ không phải là lên tiêu dùng nên nó không có tác động trực tiếp đối với một ngành kinh tế cụ thể nào cả Tuy nhiên, nếu xem xét một cách sâu sắc thì thuế thu nhập cá
nhân vẫn có những tác động nhất định đối với cơ cấu nền kinh tế “Thuế thu nhập
cá nhân được sử dụng như là một công cụ thuế đắc lực trong chính sách tài khóa quốc gia, nó ảnh hưởng đến tổng cầu nền kinh tế, do đó nó cũng có những ảnh hưởng nhất định đối với cơ cấu nền kinh tế” [39]
1.1.1.3 Vai trò của thuế thu nhập cá nhân
Thuế thu nhập cá nhân góp phần quan trọng bảo đảm nguồn thu ngân sách Nhà nước
Chúng ta biết rằng thuế thu nhập cá nhân được thu dựa vào mức thu nhập của dân cư Thu nhập của dân cư càng cao thì nó cũng đồng nghĩa với mức thu từ thuế thu nhập cá nhân sẽ tăng Thông thường, ở những nước càng phát triển thì tỷ trọng đóng góp của thuế trực thu càng lớn, trong đó thuế thu nhập cá nhân chiếm tỷ trọng khá cao Hiện nay ở các nước này, tỷ trọng thu ngân sách của thuế thu nhập cá nhân chiếm rất cao từ 30 - 40%, có một số nước trên 50% như: Hà Lan (52%); Đan Mạch (55,4%); Thụy Điển (56,6%) Còn ở các nước đang phát triển, đời sống người dân chưa cao, thu nhập trung bình mới chỉ đủ cho các hoạt động sinh hoạt cần thiết
Trang 14của người dân và tiết kiệm ra một phần nhỏ Số lượng những người có thu nhập cao, giàu có trong xã hội thì chỉ chiếm một phần rất nhỏ, đại bộ phận dân cư là có thu nhập và mức sống còn thấp so với dân cư các nước phát triển Chính vì vậy, khả năng đóng góp thuế thu nhập cá nhân cho Nhà nước ở các nước đang phát triển vẫn còn rất thấp, chỉ chiếm từ 15 - 30% tỷ trọng thu ngân sách
Thuế thu nhập cá nhân góp phần đảm bảo tính công bằng và giảm bớt sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội
Một chức năng quan trọng của thuế là nhằm đảm bảo tính công bằng và giảm bớt sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội Trong các loại thuế thì thuế thu nhập cá nhân thể hiện rõ nét nhất vai trò này Người có thu nhập cao phải nộp thuế nhiều hơn người có thu nhập trung bình, có thu nhập như nhau nhưng người có hoàn cảnh khó khăn hơn thì nộp thuế ít hơn Tinh thần này luôn được quán triệt khi xây dựng Luật thuế TNCN Do đặc điểm là thuế đánh trên thu nhập của các cá nhân cùng với tính chất lũy tiến của thuế thu nhập cá nhân đã thu hẹp được khoảng cách về thu nhập giữa các cá nhân có mức thu nhập cao và các cá nhân có mức thu nhập thấp Đây là quan điểm công bằng theo chiều dọc, những người có khả năng nộp thuế càng cao thì sẽ nộp nhiều thuế hơn và ngược lại Nó khác so với quan điểm công bằng theo chiều ngang là tất cả mọi người sẽ nộp thuế cùng với một tỉ lệ như nhau Các khoản thuế thu được sau đó có thể được chính phủ sử dụng để trợ giúp lại những người có thu nhập thấp Trên lý thuyết đây là một loại thuế rất ưu việt trong việc điều hòa thu nhập giữa người giàu và người nghèo Tuy nhiên thực tế nó vẫn còn gây rất nhiều tranh cãi Khoảng cách giàu nghèo trong xã hội ngày càng mở rộng hơn, người ta đặt ra câu hỏi liệu chính sách thuế thu nhập cá nhân có thực sự đem lại sự phân phối công bằng hơn cho xã hội hay là nó không có tác dụng gì cả hay nếu có thì là không đáng kể
Vậy cách đánh thuế như thế nào là công bằng? Liệu chính sách thuế thu nhập theo biểu thuế lũy tiến đã là công bằng với những người có thu nhập cao hay chưa?
Và biểu thuế lũy tiến với các bậc thuế như vậy đã là công bằng hay chưa? Các chính phủ đều chấp nhận và coi một biểu thuế lũy tiến là công bằng hơn cho tất cả, tất
Trang 15nhiên nó cũng phải hy sinh quyền lợi của một số ít để đảm bảo quyền lợi số đông Việc điều chỉnh mức thuế suất thuế thu nhập sẽ là công cụ để chính phủ điều chỉnh mức công bằng lệch về phía nào, người có thu nhập cao hay người có thu nhập thấp Chúng ta cần phải hiểu ở đây ý nghĩa công bằng chỉ là mang tính tương đối, nó công bằng cho một bộ phận dân cư này nhưng nó cũng là không công bằng cho một
bộ phận dân cư khác Chính sách thuế thu nhập cá nhân được xây dựng nhằm mục đích là đem lại sự công bằng cao nhất cho xã hội trong điều kiện có thể, tất nhiên nó cũng cần phải đảm bảo các mục tiêu khác của xã hội
Thuế thu nhập cá nhân làm cho mỗi người dân có ý thức hơn về nghĩa vụ và quyền của mình đối với Nhà nước
Điều này ta có thể thấy rõ nét khi đem so sánh về ý thức con người giữa các nước phát triển như Mỹ, Pháp, Đức … với các nước đang phát triển như Việt nam, Lào, Indonesia … Do ở các nước phát triển, hệ thống thuế trực thu đã phát triển và hầu hết mọi người dân đều phải tự tính thuế và nộp thuế cho mình, do đó quan niệm
về thuế của họ rất rõ ràng, họ cảm thấy mình có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước Họ cảm thấy tự hào khi nộp thuế vì biết mình đã đóng góp cho Nhà nước Tất nhiên cũng
có nhiều trường hợp trốn thuế nhưng đây chỉ là những trường hợp cá biệt Còn ở những nước đang phát triển thì sao? Khái niệm nộp thuế cho Nhà nước còn là điều hết sức mới lạ với rất nhiều người Họ không biết mình phải nộp thuế Hàng ngày chúng ta vẫn phải nộp thuế, nhưng do là thuế gián thu nên chúng ta không biết Khi phải tính và nộp thuế trực thu thì nhiều người không hề thấy thoải mái chút nào Chính vì không phải tự tính thuế và nộp thuế cho mình nên ý thức về thuế của người dân ở những nước đang phát triển là rất thấp Minh chứng đơn giản là việc dân cư đi qua cầu phải nộp phí, lệ phí; có phải ai cũng nộp không, nếu trốn được thì họ cũng sẽ sẵn sàng làm ngay cho dù đó chỉ là một khoản tiền rất nhỏ Nhìn những nước phát triển, dù không có người thu tiền phí và lệ phí thì người đi qua những nơi phải nộp phí và lệ phí vẫn tự giác bỏ tiền vào chỗ thu tiền rồi mới đi qua Cũng chính vì sự nhận thức về nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà nước của người dân những nước đang phát triển thấp hơn người dân những nước phát triển cho nên ý thức về quyền con người của họ cũng thấp hơn Những người càng có ý thức về nghĩa vụ của mình đối
Trang 16với Nhà nước càng cao thì họ càng có ý thức về quyền của mình đối với Nhà nước cao hơn, họ đòi hỏi Nhà nước cũng phải thực hiện lại những nghĩa vụ đối với họ Chính vì vậy, ta có thể thấy rằng sự phát triển của thuế thu nhập cá nhân cũng là một bước đánh dấu sự phát triển về nhận thức và văn hóa của con người Đi kèm với sự phát triển về kinh tế bao giờ cũng là sự phát triển về con người
1.1.2 Quản lý thuế thu nhập cá nhân
1.1.2.1 Khái niệm quản lý thuế thu nhập cá nhân
Trước tiên, để hiểu rõ hơn về khái niệm quản lý thuế thu nhập cá nhân nói riêng, hãy tìm hiểu về khái niệm quản lý thuế nói chung
Quản lý thuế được một số tác giả khái niệm hóa như sau:
Quản lý thuế là quản lý việc thực thi và đảm bảo thực thi các chính sách thuế hay là việc thực thi quyền hành pháp và tư pháp của Nhà nước trong lĩnh vực thuế [8]
Quản lý thuế là một quá trình tổ chức thực thi chính sách thuế, thông qua quá trình tác động của cơ quan thuế lên các tổ chức và công dân nhằm đảm bảo và tăng cường sự tuân thủ nghĩa vụ thuế một cách đầy đủ, tự nguyện và đúng thời hạn trong điều kiện môi trường quản lý thuế luôn biến động [34]
Điều 3 Luật Quản lý thuế Việt Nam liệt kê các nội dung quản lý thuế gồm:
“Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; thủ tục hoàn thuế, miễn thuế,
giảm thuế; xóa nợ tiền thuế, tiền phạt; quản lý thông tin về người nộp thuế; kiểm tra thuế, thanh tra thuế; cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật về thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế” [29, Điều 3] Điều này cho
thấy nhà lập pháp Việt Nam xác định quản lý thuế theo nghĩa hẹp
Thuế thu nhập cá nhân là một bộ phận trong hệ thống thuế, do đó, quản lý
thuế thu nhập cá nhân là sự tác động có chủ đích của các cơ quan chức năng trong
bộ máy Nhà nước đối với quá trình tính và thu thuế thu nhập cá nhân để thay đổi quá trình này nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách và đạt được các mục tiêu Nhà nước đặt ra
Trang 17Quản lý thuế thu nhập cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu cơ bản sau:
- Quản lý thuế thu nhập cá nhân có vai trò quyết định trong việc đảm bảo nguồn thu từ thuế thu nhập cá nhân được tập trung chính xác, kịp thời, thường xuyên, ổn định vào NSNN Thông qua việc lựa chọn áp dụng các biện pháp quản lý thuế thu nhập cá nhân có hiệu quả, cũng như xây dựng và áp dụng quy trình, thủ tục
về thuế thu nhập cá nhân hợp lý, cơ quan thuế đảm bảo thu thuế đúng luật, đầy đủ
và kịp thời vào NSNN
Bên cạnh đó, thuế thu nhập cá nhân tác động trực tiếp đến thu nhập của các
cá nhân, có thể làm giảm nỗ lực làm việc và gây nên các phản ứng ngay lập tức từ phía chịu thuế như hành vi trốn thuế … Để tăng cường và ổn định số thu NSNN trong tương lai, công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân cũng cần được chú ý để duy trì và phát triển cơ sở tạo nguồn thu thuế thu nhập các cá nhân
- Thông qua hoạt động quản lý thuế thu nhập cá nhân góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật cũng như các quy định về quản lý thuế thu nhập cá nhân
Những điểm bất cập trong chính sách thuế thu nhập cá nhân và khiếm khuyết trong luật thuế thu nhập cá nhân được phát hiện trong quá trình áp dụng luật vào thực tiễn và qua các hoạt động quản lý thuế thu nhập cá nhân Trên cơ sở đó cơ quan điều hành thực hiện pháp luật đề xuất bổ sung, sửa đổi luật thuế thu nhập cá nhân cho phù hợp [13]
- Thông qua quản lý thuế thu nhập cá nhân, Nhà nước thực hiện kiểm soát và điều tiết các hoạt động kinh tế của các cá nhân trong xã hội Theo quy định của pháp luật thuế, người nộp thuế có trách nhiệm phải kê khai thuế Nội dung kê khai thuế là
kê khai các hoạt động kinh tế có liên quan đến việc tính toán nghĩa vụ thuế của người nộp thuế, tức là phải kê khai các hoạt động kinh tế phát sinh, các giao dịch kinh doanh của người nộp thuế Mặt khác, để quản lý thuế, cơ quan thuế phải tổ chức thu thập, nắm bắt, lưu giữ thông tin về hoạt động sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế; phải tổ chức kiểm tra, thanh tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế Như vậy, thông qua quản lý thuế, Nhà nước đã thực hiện kiểm soát các hoạt động kinh tế của các cá nhân trong xã hội Từ việc kiểm soát các hoạt
Trang 18động kinh tế này, Nhà nước có thể có các chính sách quản lý phù hợp để điều tiết hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế theo định hướng của Nhà nước
1.1.2.2 Nội dung quản lý thuế thu nhập cá nhân
Với khái niệm về quản lý thuế thu nhập cá nhân như đã nêu trên, nội dung chủ yếu của quản lý thuế thu nhập cá nhân bao gồm: thiết kế chính sách thuế thu nhập cá nhân và thể chế hóa thành pháp luật thuế thu nhập cá nhân; xây dựng tổ chức bộ máy quản lý thuế thu nhập cá nhân và tổ chức thực hiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân
a) Thiết kế chính sách thuế và thể chế hóa thành pháp luật thuế thu nhập cá nhân
Chính sách là hệ thống những quan điểm và đường lối để đạt được những mục tiêu nhất định trong quản lý một tổ chức hoặc quản lý Nhà nước Như vậy, nói
đến chính sách là nói đến việc cần làm gì và tại sao phải làm như vậy “Có thể hiểu,
chính sách thuế thu nhập cá nhân là hệ thống những quan điểm, đường lối, phương châm điều tiết thu nhập của các cá nhân trong xã hội thông qua thuế” [13]
Những nội dung cơ bản của chính sách thuế nói chung và chính sách thuế thu nhập cá nhân nói riêng bao gồm: mục tiêu của chính sách thuế, phạm vi tác động của chính sách thuế, thời gian hiệu lực của chính sách, trách nhiệm thực hiện chính sách thuế, phương châm chính sách Ngoài ra, chính sách thuế có thể bao gồm các nội dung khác như: bối cảnh kinh tế - xã hội, …
Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung Như vậy, trong khi pháp luật bắt buộc người ta phải làm gì trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định và không được làm gì thì chính sách chỉ hướng người ta cần làm gì
để đạt được mục tiêu mong muốn Do đó, “nhà nước muốn chính sách đi vào cuộc
sống thì cần thể chế hóa những chính sách ấy thành pháp luật thuế” [13]
Pháp luật thuế nói chung và pháp luật thuế thu nhập cá nhân nói riêng phải quy định đầy đủ các yếu tố: người nộp thuế, cơ sở thuế, mức thu thuế, ưu đãi thuế, thủ tục thuế và xử lý vi phạm về thuế Cũng như các quy định pháp luật khác, một mặt, pháp luật thuế phải thể hiện rõ các mục tiêu, quan điểm, đường lối, chính sách thuế; mặt khác, pháp luật thuế phải minh bạch, phù hợp với điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử nhất định
Trang 19b) Tổ chức bộ máy quản lý thuế thu nhập cá nhân
Nhà nước xây dựng bộ máy quản lý thuế để quản lý thuế thu nhập cá nhân cũng như các sắc thuế khác Tùy vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của từng nước, bộ máy quản lý thuế cũng được xây dựng một cách tương ứng Nhìn tổng thể trong phạm vi nền kinh tế quốc dân, cơ quan thuế ở các nước trên thế giới đều được
tổ chức thành một hệ thống bao gồm nhiều cấp
Tại nhiều nước, hệ thống đó không hoàn toàn phù hợp với hệ thống chính quyền Nhà nước và bao gồm: cơ quan thuế trung ương, cơ quan thuế cấp tỉnh, thành phố và cơ quan thuế cấp quận, huyện như Việt Nam, Trung Quốc Ngoài ra, ở một số quốc gia hệ thống ngành thuế còn được tổ chức theo các dạng khác [13]
Hiện nay trên thế giới có các mô hình tổ chức bộ máy quản lý thuế như sau:
Mô hình tổ chức theo sắc thuế
Các bộ phận trong cơ quan thuế được bố trí theo sắc thuế Trong mô hình này, ngoài những bộ phận quản lý nội bộ như: tổ chức, nhân sự, tài chính … thì các
bộ phận quản lý còn lại được bố trí thành các phòng/đội quản lý theo sắc thuế Mô hình này có ưu điểm là phát huy sự am hiểu sâu của một cán bộ thuế đối với sắc thuế để quản lý tốt Nhược điểm cơ bản của mô hình này là khó có sự kết hợp tốt trong quản lý các sắc thuế của cùng một đối tượng
Mô hình tổ chức theo chức năng
Các bộ phận trong cơ quan thuế được bố trí theo chức năng quản lý Trong
mô hình này, ngoài những bộ phận quản lý nội bộ như: tổ chức, nhân sự, tài chính
… thì các bộ phận quản lý còn lại được bố trí thành các phòng/đội quản lý theo chức năng quản lý của cơ quan thuế như: phòng/đội quản lý kê khai thuế, phòng/đội
kế toán thuế, phòng/đội thanh tra thuế, phòng/đội kiểm tra thuế, phòng/đội tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế … Ưu điểm của mô hình này là đảm bảo sự chuyên môn hóa sâu theo chức năng Mô hình này có hai nhược điểm cơ bản là: Không xác định rõ nhiệm vụ thực hiện dự toán thu và sự đóng góp của các bộ phận chức năng vào kết quả thu thuế; Không phát huy được sự hiểu biết sâu sắc của cán bộ thuế về người nộp thuế
Trang 20 Mô hình tổ chức theo đối tượng nộp thuế
Các bộ phận trong cơ quan thuế được bố trí theo loại hình đối tượng nộp thuế Trong mô hình này, ngoài những bộ phận quản lý nội bộ như tổ chức, nhân sự, tài chính … thì các bộ phận quản lý còn lại được bố trí thành các phòng/đội quản lý theo đối tượng nộp thuế Đối tượng nộp thuế có thể phân nhóm theo thành phần kinh tế như: doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân, cá nhân … Đối tượng nộp thuế cũng có thể được phân nhóm theo quy mô hoặc theo loại hình doanh nghiệp hoặc theo ngành nghề kinh doanh …
Do vậy, cơ quan thuế sẽ có các phòng/đội quản lý doanh nghiệp Nhà nước, phòng/đội quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, phòng/đội quản lý cá nhân … Mô hình này có ưu điểm là đảm bảo một bộ phận hoặc một cán bộ thuế am hiểu sâu sắc đối tượng nên có thể quản lý tốt đối tượng đó, đồng thời xác định rõ được đối tượng có trách nhiệm thực hiện dự toán thu thuế Tuy nhiên, mô hình này
có nhược điểm là: Tạo môi trường gần gũi giữa cán bộ thuế với người nộp thuế và không chuyên môn hóa sâu
Mô hình tổ chức bộ máy hỗn hợp
Mô hình hỗn hợp là mô hình vừa có những yếu tố của mô hình tổ chức theo sắc thuế, vừa có yếu tố của mô hình tổ chức theo đối tượng và theo chức năng Trong mô hình này có cả các phòng/đội theo chức năng như phòng/đội thanh tra, kiểm tra, phòng/đội quản lý nợ và cưỡng chế thuế; lại vừa có phòng/đội quản lý thu nhập; đồng thời, có thể có cả bộ phận quản lý theo đối tượng, chẳng hạn phòng/đội quản lý doanh nghiệp lớn … Nếu tổ chức tốt thì mô hình này có thể phát huy được những ưu điểm và hạn chế được nhược điểm của các mô hình trên Tuy nhiên, mô hình này có nhược điểm là sự kết hợp thực hiện nhiệm vụ giữa các bộ phận trong cơ quan thuế khá phức tạp
c) Thực hiện quản lý thuế thu nhập cá nhân
Với mục tiêu tối thượng là thực hiện pháp luật thuế, nghĩa là phải đảm bảo
để người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ kê khai nộp thuế cho Nhà nước thì cơ quan thuế cần tác động vào tất cả những yếu tố điều khiển hành vi tuân thủ thuế của
Trang 21người nộp thuế Tức là phải làm cho người nộp thuế hiểu nghĩa vụ thuế, hiểu cách tính toán số thuế phải nộp, thấy được hậu quả của việc không tuân thủ, tạo những điều kiện thuận lợi nhất để người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ kê khai, nộp thuế cho Nhà nước, kiểm soát sự tuân thủ và cưỡng chế tuân thủ thuế Để làm được điều này, cần tổ chức thực hiện các chức năng quản lý thuế thu nhập cá nhân
Tuyên truyền, giáo dục pháp luật thuế thu nhập cá nhân
Chuyển tải thông tin về pháp luật thuế thu nhập cá nhân đến mọi thành viên trong xã hội bằng những phương pháp cụ thể Hoạt động này là nhiệm vụ của cán
bộ thuế, bao gồm các nội dung tuyên truyền từ bản chất của thuế thu nhập cá nhân, lợi ích xã hội từ việc nộp thuế cho đến các biện pháp xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật thuế thu nhập cá nhân … nhằm tạo điều kiện cho người dân trong việc hiểu và có ý thức chấp hành pháp luật thuế thu nhập cá nhân Các biện pháp tuyên truyền kịp thời còn giúp người nộp thuế có thể cập nhật thường xuyên thông tin về thuế thu nhập cá nhân khi có những sự sửa đổi, bổ sung về chính sách để có những điều chỉnh cho thích hợp thực hiện nghĩa vụ của mình
Các hình thức chủ yếu được thực hiện trong công tác tuyên truyền pháp luật thuế nói chung và pháp luật thuế thu nhập cá nhân nói riêng bao gồm: xuất bản các ấn phẩm về thuế thu nhập cá nhân, tuyên truyền qua các phương tiện truyền thông đại chúng, xây dựng các chương trình tăng cường hiểu biết về thuế thuế thu nhập cá nhân …
Hỗ trợ người nộp thuế
Hỗ trợ người nộp thuế là việc hướng dẫn, giải thích, tư vấn cho người nộp thuế hiểu các vấn đề liên quan đến chính sách, chế độ thuế đã được quy định, tạo những điều kiện tốt nhất để người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế của mình Hoạt động này thường được thực hiện theo nguyện vọng và yêu cầu từ phía người nộp thuế Khi người nộp thuế có những vướng mắc trong quá trình kê khai, tính thuế, quyết toán thuế hoặc các vấn đề có liên quan khác, họ có thể đề nghị cán bộ thuế tư vấn hoặc đến các trung tâm cung cấp dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế để được giải đáp
Trang 22 Quản lý thu thuế thu nhập cá nhân
* Quản lý đối tượng nộp thuế
Đây là khâu đặc biệt trong quản lý thuế thu nhập cá nhân Quản lý nhằm xác định thu nhập của tất cả các chủ thể Hàng năm, cơ quan thuế phải tiến hành đăng
ký đối tượng nộp thuế Phương thức thủ công và đăng ký qua internet là hai phương thức đăng ký đối tượng nộp thuế thường được áp dụng Vì đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân ở đây nhiều và không tập trung nên phương thức quản lý bằng mạng
vi tính thích hợp với công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân Theo phương thức này thì cơ quan quản lý thuế cần phải tiến hành cấp mã số thuế cho các đối tượng nộp thuế và cơ quan chi trả thu nhập thống nhất trong phạm vi cả nước Mỗi người nộp thuế có mã số thuế này Mọi thông tin cần thiết về đối tượng nộp thuế được nạp vào máy vi tính với một file riêng mà tên file là mã số của đối tượng nộp thuế Khi cần kiểm tra một đối tượng nộp thuế, cơ quan quản lý chỉ cần mở file theo mã số của đối tượng đó, nhờ đó mà tránh được tình trạng bỏ sót các đối tượng nộp thuế đồng thời cũng đảm bảo sự nhanh gọn cho cơ quan thuế trong công tác quản lý thu thuế
* Các cách tính thuế và nộp thuế:
Thông qua cơ quan ủy nhiệm thu hay cơ quan chi trả thu nhập tính thuế cho các đối tượng nộp thuế làm việc trong đơn vị mình và có thu nhập do đơn vị mình chi trả Sau khi tính thuế và khấu trừ thuế của đối tượng nộp thuế, cơ quan chi trả thu nhập sẽ tiến hành khấu trừ phần thuế phải nộp ra khỏi thu nhập trước thuế của đối tượng nộp thuế để đem nộp cho cơ quan thuế Cơ quan chi trả thu nhập sẽ được hưởng một khoản tiền theo tỉ lệ trên số thuế thu được và nộp cho cơ quan thuế
Đối tượng nộp thuế sẽ trực tiếp kê khai thu nhập của mình và tự tính mức thuế mình phải nộp Sau đó, các đối tượng nộp thuế sẽ đến nộp tờ khai cho cơ quan thuế và tiến hành nộp khoản thuế cho cơ quan thuế hay cơ quan có chức năng thu thuế Cơ quan thuế sẽ có nhiệm vụ ghi lại tất cả các khoản thuế mà các đối tượng nộp thuế phải nộp, để từ đó có thể giám sát và kiểm tra khi cần thiết Đồng thời đó cũng là cơ sở để đảm bảo sự minh bạch trong công tác thu nộp thuế, cho cả đối tượng nộp thuế và cơ quan thuế cũng như cơ quan ủy nhiệm thu
Trang 23 Thanh tra thuế thu nhập cá nhân
“Thanh tra thuế là hoạt động kiểm tra của tổ chức chuyên trách làm công tác
kiểm tra của cơ quan thuế đối với đối tượng thanh tra nhằm phát hiện, ngăn chặn
và xử lý những hành vi trái pháp luật” [13, tr.54]
Thanh tra thuế được thực hiện bởi cơ quan thanh tra chuyên ngành thuế Đối tượng thanh tra thuế là cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập cá nhân cho Nhà nước và bao gồm cả các đơn vị thuộc ngành thuế Mục tiêu thanh tra thuế là phát hiện và xử lý các trường hợp sai phạm nhằm giảm bớt tổn thất cho Nhà nước và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật Đồng thời thông qua đó, cơ quan thuế có thể phát hiện những thiếu sót, bất cập trong văn bản pháp luật thuế và quá trình tổ chức thực hiện, từ đó tìm ra những hướng giải quyết nhằm hoàn thiện công tác quản
lý thuế Thu nhập cá nhân Thanh tra thuế được thực hiện dưới các hình thức và phương pháp khác nhau
Cưỡng chế thuế thu nhập cá nhân
Đây là hoạt động sử dụng các cách thức, biện pháp để buộc người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân, thực hiện quyết định hành chính thuế thu nhập cá nhân Để đảm bảo mục tiêu buộc người nộp thuế tuân thủ quyết định hành chính thuế, công tác cưỡng chế thuế có nội dung cơ bản là thông báo cho người nộp thuế biết trách nhiệm phải thực hiện nghĩa vụ thuế và những hậu quả có thể phải chịu nếu không thực hiện nghĩa vụ Đồng thời, bằng các biện pháp cưỡng chế như khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập; trích tiền từ tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế … để thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế
1.2 Pháp luật Quản lý thuế thu nhập cá nhân
1.2.1 Khái niệm pháp luật Quản lý thuế thu nhập cá nhân
Trên thế giới hiện nay, hệ thống pháp luật thuế ở các quốc gia được thiết kế
có cấu trúc khác nhau Có những nước quy định tất cả các sắc thuế trong một Bộ luật chung về thuế, gọi là Bộ luật thuế vụ Trong Bộ luật này, nhà làm luật vừa quy định về nội dung cụ thể của các sắc thuế trong hệ thống thuế, vừa quy định về trình
tự, thủ tục hành thu và cơ chế quản lý thuế và cả xử lý vi phạm, giải quyết các tranh
Trang 24chấp về thuế Ngược lại, có những nước lựa chọn giải pháp thiết kế mỗi sắc thuế được ban hành bằng một đạo luật riêng, độc lập với nhau nhưng vẫn đảm bảo tính tương thích với nhau và đồng thời tách bạch các quy định về quản lý thuế bằng một đạo luật riêng với các đạo luật quy định sắc thuế, cách làm này đang là xu hướng
hội nhập kinh tế toàn cầu vì nó cho phép nhà làm luật có thể sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh các quy định trong các đạo luật thuế một cách dễ dàng hơn so với việc đưa tất cả các quy định về thuế trong một Bộ luật chung về thuế” [40]
Theo TS Nguyễn Văn Tuyến:
Xét về cấu trúc tổng quát, hệ thống pháp luật thuế nói chung của các nước đều được cấu thành bởi hai bộ phận chính bao gồm:
- Các quy định về nội dung của các sắc thuế trong hệ thống thuế;
- Các quy định về hình thức tổ chức và đảm bảo thực hiện (quy trình hành thu) hệ thống thuế Các quy định này thường được quan niệm như là những quy định về hình thức của pháp luật thuế, bởi nó có nhiệm
vụ xác định trình tự, thủ tục hành thu thuế và quản lý thuế cũng như xử
lý vi phạm và giải quyết các tranh chấp về thuế Hiểu theo nghĩa rộng nhất, tất cả các quy định liên quan đến hoạt động này đều có thể gói gọn trong một thuật ngữ là “pháp luật quản lý thuế” và tùy thuộc vào quan điểm của từng nước mà chúng có thể được quy định chung trong Bộ luật thuế hay các đạo luật thuế, hoặc được tách bạch riêng rẽ thành một đạo luật về quản lý thuế [40]
Theo TS Nguyễn Thị Thương Huyền:
“Xét về lý thuyết, pháp luật thuế bao gồm: pháp luật vật chất hay còn gọi là pháp luật nội dung và pháp luật thủ tục hay còn gọi là pháp luật hình thức Trong
đó pháp luật nội dung ghi nhận, phản ánh chính sách thuế, còn pháp luật thủ tục quy định các vấn đề về quản lý thuế” [15]
Các quan hệ mà pháp luật quản lý thuế điều chỉnh khá đa dạng Nếu căn
cứ vào chủ thể tham gia quan hệ thì pháp luật quản lý thuế điều chỉnh các nhóm quan hệ sau:
Trang 25- Quan hệ giữa cơ quan quản lý thuế với người nộp thuế phát sinh trong quá trình quản lý thu, nộp các loại thuế, đây là nhóm quan hệ chủ đạo, chiếm tỷ lệ lớn trong các quan hệ mà pháp luật quản lý thuế điều chỉnh
- Quan hệ giữa cơ quan quản lý thuế với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến quản lý thuế Nhóm quan hệ này chủ yếu liên quan đến việc cung cấp thông tin về người nộp thuế và phối hợp với cơ quan quản lý thuế trong việc tuyên truyền, hỗ trợ và trong cưỡng chế thi hành các quyết định hành chính thuế
- Quan hệ phát sinh trong nội bộ cơ quan quản lý thuế, nhóm quan hệ này liên quan đến việc tổ chức bộ máy quản lý thuế và phân định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền giữa các cơ quan, bộ phận trong hệ thống cơ quan quản lý thuế
- Quan hệ giữa người nộp thuế với chủ thể khác có liên quan đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế như: quan hệ giữa người nộp thuế với tổ chức tín dụng trong việc bảo lãnh số tiền thuế hoặc thực hiện dịch vụ thanh toán tiền thuế cho người nộp thuế
Căn cứ vào nội dung hoạt động quản lý thuế, pháp luật quản lý thuế điều chỉnh các quan hệ về đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, xóa nợ tiền thuế, tiền phạt; quản lý thông tin về người nộp thuế; kiểm tra thuế, thanh tra thuế
Dưới góc độ luật thực định, để xác định quy định nào thuộc pháp luật quản lý thuế, quy định nào thuộc pháp luật về nội dung các sắc thuế trong pháp luật thuế thì không chỉ căn cứ hình thức thể hiện ở tên của văn bản pháp luật mà cần căn cứ vào nội dung điều chỉnh để xác định
Thực tiễn lập pháp các nước cho thấy, xây dựng pháp luật quản lý thuế có hai xu hướng:
Một là, các vấn đề về quản lý thuế được ghi nhận trong các Luật thuế Ở nước ta trước khi có Luật Quản lý thuế, pháp luật quản lý thuế được xây dựng theo
xu hướng này Bởi vậy, các quy định về quản lý thuế nằm rải rác trong rất nhiều các văn bản pháp luật khác nhau, trong các văn bản pháp luật quy định từng sắc thuế đều có quy định về quản lý thuế để áp dụng cho sắc thuế đó Ngoài ra, các văn bản
Trang 26pháp luật khác cũng có những quy định liên quan đến công tác quản lý thuế như: các văn bản pháp luật về kế toán, về hóa đơn chứng từ, về xử phạt vi phạm hành chính, về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo; các văn bản pháp luật về thanh tra, kiểm tra, các văn bản pháp luật về tổ chức bộ máy các cơ quan tài chính
Hai là, các vấn đề về quản lý thuế được quy định riêng trong đạo luật gọi là Luật Quản lý thuế để quản lý thống nhất đối với tất cả các loại thuế Cách làm này có
ưu điểm bao quát hết các nội dung quản lý thuế, nâng cao tính pháp lý cho các quy định về quản lý thuế, bảo đảm tính đồng bộ, tạo thuận lợi cho cơ quan quản lý thuế và người dân dễ dàng tìm hiểu, nắm bắt và thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật quản lý thuế Đồng thời, nó làm cho hệ thống pháp luật thuế trở nên đơn giản, rõ ràng, minh bạch hơn, tạo cơ sở và điều kiện thuận lợi để cơ quan quản lý thuế thực hiện việc hiện đại hóa, chuyên nghiệp hóa các hoạt động quản lý thuế của mình
Theo TS Nguyễn Thị Thương Huyền:
Ranh giới giữa pháp luật quản lý thuế và pháp luật về nội dung các sắc thuế không hoàn toàn rạch ròi trong cách thể hiện Điều này phụ thuộc vào kỹ thuật, trình độ lập pháp và sự lựa chọn của các nhà làm luật Chẳng hạn: các quy định quản lý có tính chất đặc thù của từng sắc thuế
có thể sẽ được đưa vào các văn bản pháp luật nội dung của sắc thuế đó, còn các quy định quản lý mang tính chất chung sẽ được đưa vào Luật quản lý thuế Điều này không phá vỡ nguyên tắc chung đồng thời đạt được hiệu quả cao [15]
Pháp luật quản lý thuế (một bộ phận của pháp luật thuế có tính độc lập tương đối) dù được xây dựng, thiết kế theo xu hướng nào thì giữa pháp luật quản lý thuế
và pháp luật quy định từng sắc thuế bao giờ cũng cần có mối quan hệ biện chứng, thống nhất với nhau
Pháp luật về nội dung từng sắc thuế là cơ sở, là tiền đề xây dựng và hoàn thiện pháp luật quản lý thuế Bởi vì, pháp luật quản lý thuế là pháp luật tổ chức thực hiện các luật thuế, đưa luật thuế vào cuộc sống, hiện thực hóa các quy định của luật thuế Cho nên, sự thay đổi pháp luật về nội dung các sắc thuế tất yếu kéo theo sự
Trang 27thay đổi ít nhiều của pháp luật quản lý thuế, đặc biệt là các quy định có tính chất đặc thù của từng sắc thuế Ngược lại, pháp luật quản lý thuế có vai trò hết sức quan trọng và tác động rất lớn đến pháp luật về nội dung các sắc thuế Hiệu quả của các Luật thuế phụ thuộc khá lớn vào pháp luật quản lý thuế Cho dù các luật thuế phản ánh chuẩn xác, khoa học về chính sách thuế nhưng nếu pháp luật quản lý thuế không phù hợp và thiếu tính khoa học thì tính hiệu quả và mục tiêu của các luật thuế
là không đạt được
Pháp luật quản lý thuế mặc dù phụ thuộc vào pháp luật quy định nội dung các sắc thuế, nhưng nói như vậy không có nghĩa là mọi sự thay đổi của pháp luật quản lý thuế hoàn toàn phụ thuộc vào sự thay đổi của pháp luật về nội dung từng sắc thuế, mà pháp luật quản lý thuế còn có tính độc lập tương đối Sự thay đổi của pháp luật quản lý thuế phần lớn phụ thuộc vào cơ chế quản lý thuế của một quốc gia, phụ thuộc vào ý thức tuân thủ luật pháp của các thành viên trong xã hội Ngoài
ra, pháp luật quản lý thuế không chỉ có mối quan hệ chặt chẽ với các luật thuế mà còn có mối quan hệ chặt chẽ với các bộ phận pháp luật khác trong hệ thống pháp luật Vì vậy, khi xây dựng và hoàn thiện pháp luật quản lý thuế cần có sự cân nhắc cẩn trọng để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật
Căn cứ vào nội dung điều chỉnh thì pháp luật quản lý thuế được TS Vũ Văn
Cương định nghĩa như sau: “Pháp luật quản lý thuế là một bộ phận của pháp luật
thuế quy định về quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của người nộp thuế, cơ quan quản
lý thuế và các chủ thể liên quan đến quản lý thuế; quy định trình tự, thủ tục, cách thức, phương pháp tổ chức thực hiện các luật thuế”
Pháp luật quản lý thuế là một bộ phận quan trọng trong pháp luật thuế ở các quốc gia, là công cụ chủ yếu được Nhà nước sử dụng để thực hiện công tác quản lý thuế Pháp luật quản lý thuế là tổng hợp các quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quản lý thuế của Nhà nước (quan hệ quản lý trong việc thu nộp thuế cho ngân sách Nhà nước của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với các đối tượng nộp thuế và các đối tượng khác có liên quan) Luật quản lý thuế Việt Nam
Trang 28được Quốc hội khóa XI thông qua tại kỳ họp thứ 10 ngày 22/11/2006, có hiệu lực thi hành từ 1/7/2007 Về phạm vi điều chỉnh, Luật quản lý thuế quy định việc quản
lý đối với các loại thuế: Thuế Giá trị gia tăng, Thuế Tiêu thụ đặc biệt, Thuế Thu nhập doanh nghiệp, Thuế Thu nhập cá nhân,… do cơ quan quan lý thuế của cơ quan hải quan thực hiện Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu đề tài, xin chỉ tập trung khái quát về pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân
Về nội dung, Luật quản lý thuế không có quy định riêng một phần về quản lý thuế thu nhập cá nhân mà là quy định đan xen với các sắc thuế khác trong từng phần Tuy nhiên, nhìn một cách khái quát, chúng ta có thể tổng kết được các nội dung về quản lý thuế thu nhập cá nhân, được chia thành 3 nhóm như sau:
Nhóm 1: Các thủ tục hành chính thuế, bảo đảm các điều kiện cho người nộp
thuế thực hiện nghĩa vụ kê khai, nộp thuế đầy đủ, đúng hạn, bao gồm các nội dung: Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; Thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; Xóa nợ thuế, tiền phạt
Nhóm 2: Giám sát việc tuân thủ pháp luật thuế của cơ quan quản lý thuế đối
với người nộp thuế, bao gồm các nội dung: Quản lý thông tin về người nộp thuế; Kiểm tra thuế, thanh tra thuế
Nhóm 3: Các chế tài bảo đảm các chính sách thuế được thực thi có hiệu lực,
hiệu quả, bao gồm các nội dung: Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế;
Xử lý vi phạm pháp luật về thuế; Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế
Để đảm bảo các quy định của Luật Quản lý thuế nói chung và quản lý thuế thu nhập cá nhân nói riêng đi vào đời cuộc sống ngay từ ngày đầu có hiệu lực, Chính phủ,
Bộ Tài chính đã ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Hệ thống các văn bản này hướng dẫn toàn diện các nội dung quản lý thuế thu nhập cá nhân từ các thủ tục hành chính thuế, xử lý vi phạm hành chính thuế, cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế, ủy nhiệm thu thuế, hoạt động hành nghề dịch vụ làm thủ tục hành chính thuế đến việc tổ chức lại bộ máy ngành thuế theo mô hình quản lý hỗn hợp coi trọng quản lý theo chức năng Hiện nay, tồn tại rất nhiều các văn bản hướng dẫn thi hành, tuy nhiên, trong phạm vi đề tài chỉ đề cập đến các văn bản liên quan đến Luật
Trang 29Quản lý thuế thu nhập cá nhân và các văn bản hướng dẫn thi hành Các văn bản hướng dẫn thi hành mới nhất được tính đến năm 2014 đó là:
Quy định chung:
Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật thuế thu nhập cá nhân
Nghị định 65/2013/NĐ-CP hướng dẫn Luật thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi Luật thuế thu nhập cá nhân
Thông tư 111/2013/TT-BTC Hướng dẫn Luật thuế thu nhập cá nhân và Nghị định 65/2013/NĐ-CP
Nghị định 83/2013/NĐ-CP hướng dẫn Luật quản lý thuế và Luật quản lý thuế sửa đổi
Thông tư 156/2013/TT-BTC hướng dẫn Nghị định 83/2013/NĐ-CP hướng dẫn Luật quản lý thuế và Luật quản lý thuế sửa đổi
Quy định về đăng ký, quyết toán, thu nộp Thuế Thu nhập cá nhân
Công văn số 336/TCT-Thu nhập cá nhân về việc hướng dẫn quyết toán thuế thu nhập cá nhân năm 2013
Quy định về ưu đãi, miễn giảm thuế Thu nhập cá nhân:
Nghị quyết 29/2012/QH13 chính sách thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho tổ chức và cá nhân
Nghị định 60/2012/NĐ-CP hướng dẫn Nghị quyết 29/2012/QH13 về chính sách thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho tổ chức và cá nhân
Thông tư 140/2012/TT-BTC hướng dẫn Nghị định 60/2012/NĐ-CP hướng dẫn Nghị quyết 29/2012/QH13 về chính sách thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho tổ chức và cá nhân
Xử lý vi phạm về thuế Thu nhập cá nhân:
Nghị định 129/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế
● Nghị định 109/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý giá, phí, lệ phí, hóa đơn
Trang 301.2.2 Cấu trúc pháp luật quản lý thuế
Nghiên cứu cấu trúc pháp luật quản lý thuế thực chất là nghiên cứu việc sắp xếp các nhóm quy phạm pháp luật về quản lý thuế theo những tiêu chí nhất định để phục vụ cho mục đích xây dựng pháp luật hướng tới việc tạo ra một cấu trúc hợp lý
để điều chỉnh các quan hệ xã hội hoặc mục đích tạo thuận lợi cho việc phục vụ công tác quản lý thuế…
Thứ nhất, căn cứ vào nguồn quy phạm pháp luật thì pháp luật quản lý thuế có cấu trúc sau:
- Các quy phạm pháp luật quản lý thuế được quy định ở Luật Quản lý thuế và các văn bản quy định chi tiết hướng dẫn thi hành Các quy phạm pháp luật này là các quy phạm pháp luật chuyên ngành được ưu tiên áp dụng trong quản lý thuế Thông thường các quy phạm pháp luật này được áp dụng để thực hiện quản lý chung các sắc thuế và các khoản thu NSNN khác mà pháp luật có quy định
- Các quy phạm pháp luật quản lý thuế được quy định trong các văn bản hướng dẫn thi hành luật thuế Nhóm quy phạm pháp luật này là nhóm quy phạm pháp luật quản lý thuế có tính đặc thù được ưu tiên áp dụng để quản lý trong một loại thuế cụ thể mà không áp dụng để quản lý các loại thuế khác
- Các quy phạm pháp luật quản lý thuế được quy định trong các luật khác có liên quan Các quy phạm pháp luật này sẽ được sử dụng khi các văn bản pháp luật chuyên ngành quản lý thuế không quy định cụ thể
Thứ hai, căn cứ vào nội dung quy phạm pháp luật quản lý thuế thì pháp luật quản lý thuế có thể sắp xếp theo cấu trúc sau:
- Nhóm quy phạm pháp luật quy định những vấn đề chung có tính nguyên tắc trong quản lý thuế như: xác định phạm vi, đối tượng áp dụng pháp luật quản lý thuế; các nguyên tắc trong quản lý thuế; quyền và nghĩa vụ cơ bản của người nộp thuế; quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan đến quản lý thuế và những vấn đề có tính chất chung khác trong quản lý thuế;
Trang 31- Bộ phận pháp luật quy định cụ thể về từng nội dung trong quản lý thuế như: Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; Thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; Xóa nợ tiền thuế, tiền phạt; Quản lý thông tin về người nộp thuế; Kiểm tra thuế, thanh tra thuế; Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; Xử lý vi phạm pháp luật về thuế; Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế và tổ chức hoạt động của hệ thống cơ quan quản lý thuế Trong đó mỗi nội dung quản lý pháp luật quản lý thuế quy định về quyền và nghĩa vụ cụ thể các chủ thể tham gia quan hệ đó và trình tự, thủ tục mà các chủ thể phải tuân theo trong khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ cụ thể ấy như: thủ tục về kê khai thuế; nộp thuế; quyết toán thuế; thủ tục hoàn thuế …
Thứ ba, căn cứ vào tư cách chủ thể quản lý và biện pháp áp dụng trong quản
lý thuế thì pháp luật quản lý thuế có thể chia thành hai bộ phận sau:
- Bộ phận pháp luật quy định việc thực thi chức năng quản lý thuế của nhà nước với tư cách là chủ thể quyền lực, trong đó cơ quan quản lý thuế là đại diện thực thi công quyền và biện pháp được sử dụng là biện pháp hành chính bắt buộc như các quy định về ấn định thuế, cưỡng chế thuế, xử lý vi phạm pháp luật thuế …
- Bộ phận pháp luật quy định việc thực thi chức năng quản lý mang tính phục
vụ người nộp thuế, cơ quan quản lý thuế thực hiện vai trò của cơ quan cung cấp dịch vụ thuế cho người nộp thuế như các quy định về việc hướng dẫn, tuyên truyền,
hỗ trợ, giải đáp vướng mắc về chính sách thuế, quản lý thuế và giải quyết các thủ tục hành chính thuế cho người nộp thuế, biện pháp quản lý được cơ quan thuế sử dụng mang tính hành chính phục vụ và cung cấp các dịch vụ cho người nộp thuế
Thứ tư, căn cứ vào đối tượng thi hành pháp luật quản lý thuế thì pháp luật quản lý thuế được chia thành 3 bộ phận
- Bộ phận pháp luật quy định về địa vị pháp lý của người nộp thuế;
Người nộp thuế là đối tượng được từng luật thuế cụ thể xác định Ngoài ra, còn có các tổ chức có trách nhiệm nộp thuế thay người nộp thuế; tổ chức được giao nhiệm vụ thu phí, lệ phí thuộc NSNN … cũng chịu sự điều chỉnh của pháp luật quản lý thuế và có các quyền, trách nhiệm như tổ chức, cá nhân nộp thuế
Trang 32- Bộ phận pháp luật quy định về địa vị pháp lý của các cơ quan quản lý thuế bao gồm hệ thống cơ quan thuế và cơ quan hải quan
Cơ quan thuế được tổ chức theo ngành dọc thống nhất theo hệ thống hành chính các cấp từ Trung ương đến địa phương để quản lý thu các khoản thuế, các khoản thu NSNN phát sinh trong nội địa Cơ quan hải quan được tổ chức tập trung tại cấp trung ương và khu vực địa bàn hải quan để quản lý thu các khoản thuế, các khoản thu NSNN phát sinh tại cửa khẩu hải quan Pháp luật giao cho cơ quan quản
lý thuế các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn nhất định để tổ chức thực thi chính sách thuế có hiệu lực, hiệu quả
- Bộ phận pháp luật quy định về các tổ chức, cá nhân có liên quan đến quản
lý thuế bao gồm: các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội,
tổ chức xã hội, tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp, doanh nghiệp, cá nhân có liên quan đến hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế, liên quan đến việc tuân thủ pháp luật của người nộp thuế hoặc liên quan đến công tác quản lý của cơ quan quản lý thuế
Việc quy định các tổ chức, cá nhân có liên quan trong đối tượng áp dụng Luật Quản lý thuế nhằm đảm bảo nâng cao vai trò trách nhiệm pháp lý của cộng đồng xã hội trong việc thực thi và giám sát chấp hành nghĩa vụ thuế với Nhà nước
Cơ quan nhà nước, các tổ chức đoàn thể có trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ cơ quan thuế trong quản lý thuế; đồng thời giám sát cả cơ quan thuế và người nộp thuế trong việc chấp hành pháp luật về thuế
Thứ năm, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ quản lý thuế, pháp luật quản lý thuế được phân thành các bộ phận như sau:
- Bộ phận pháp luật quy định về các thủ tục hành chính thuế, bảo đảm các điều kiện cho người nộp thuế thực hiện các quyền và nghĩa vụ nộp thuế, bao gồm các nội dung: Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế…
- Bộ phận pháp luật quy định về giám sát và bảo đảm việc tuân thủ pháp luật thuế của cơ quan quản lý thuế đối với người nộp thuế, bao gồm các nội dung: Quản
lý thông tin về người nộp thuế; Kiểm tra thuế, thanh tra thuế; Cưỡng chế thi hành
Trang 33quyết định hành chính thuế; Xử lý vi phạm pháp luật về thuế; Giải quyết khiếu nại,
tố cáo về thuế
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân Mỗi yếu tố đều có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực tùy theo tính chất và trạng thái của yếu tố đó Nhiệm vụ của các cơ quan chức năng trong bộ máy Nhà nước là phải tìm cách hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực cũng như phát huy những ảnh hưởng tích cực nhằm hoàn thiện pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân
1.2.3.1 Luật thuế thu nhập cá nhân
Pháp luật quản lý thuế được xây dựng, ban hành để tổ chức thực hiện luật thuế thu nhập cá nhân Luật thuế thu nhập cá nhân là cơ sở, là tiền đề cho xây dựng pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân Luật thuế thu nhập cá nhân nếu được quy định đơn giản, rõ ràng, ổn định, ít có ngoại lệ thì pháp luật quản lý thuế sẽ giảm tính phức tạp, quy trình, thủ tục triển khai thực hiện được dễ dàng, thuận tiện Xu hướng cải cách phát triển hệ thống thuế ở các nước đều cho thấy cải cách hệ thống thuế được kết hợp chặt chẽ và tương thích giữa nội dung luật thuế với pháp luật quản lý thuế
1.2.3.2 Cơ chế quản lý thuế được nhà nước lựa chọn áp dụng
Pháp luật là yếu tố cơ bản cấu thành trong cơ chế quản lý Mỗi cơ chế quản
lý thuế khác nhau đòi hỏi pháp luật điều chỉnh khác nhau cho phù hợp với cơ chế quản lý thuế đó Chẳng hạn, ở nước ta trước đây khi thực hiện cơ chế quản lý thuế
“chuyên quản” trực tiếp theo từng đối tượng, từng sắc thuế thì pháp luật quản lý thuế phải đặt ra quy định phù hợp để thích ứng với cơ chế quản lý thuế này, có như vậy cơ chế quản lý thuế mới có thể vận hành được Khi chuyển sang áp dụng quản lý thuế theo cơ chế “tự khai, tự nộp thuế” thì pháp luật quản lý thuế đã thay đổi lớn Pháp luật quản lý thuế quy định đầy đủ trách nhiệm, quyền hạn của người nộp thuế, của cơ quan quản lý thuế và tổ chức, cá nhân có liên quan trong quản lý thuế Trong đó đề cao quyền và tính tự chịu trách nhiệm của người nộp thuế; nhấn mạnh chức năng tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế, công khai minh bạch các thủ tục và thời hạn giải quyết hồ sơ thuế, gắn trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế,
Trang 34công chức quản lý thuế trong việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ thuế; coi trọng hơn việc kiểm tra, thanh tra, xử lý các vi phạm pháp luật thuế của cơ quan quản lý thuế; các thủ tục hành chính thuế được quy định đơn giản, rõ ràng, minh bạch nhằm nâng cao trách nhiệm, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người nộp thuế, tạo điều kiện cho người nộp thuế chấp hành tốt pháp luật thuế; Vấn đề xây dựng
hệ thống thông tin về người nộp thuế được coi trọng trong pháp luật quản lý thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế
1.2.3.3 Tình hình kinh tế - xã hội của đất nước
Để pháp luật phản ánh đúng, đầy đủ thực tiễn khách quan, những tiến trình đang diễn ra trong đời sống xã hội thì phải thường xuyên hoàn thiện pháp luật trên
cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng kinh tế xã hội, thực trạng pháp luật hiện hành
Từ thực trạng đó phát hiện ra những điểm không phù hợp trong các quy định của pháp luật để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn khách quan Đồng thời, trên
cơ sở đánh giá đúng thực trạng kinh tế xã hội mà phát hiện ra những nhu cầu điều chỉnh mới của pháp luật để kịp thời xây dựng và ban hành pháp luật
Để pháp luật đi vào cuộc sống, việc xây dựng và hoàn thiện các quy định về quản lý thuế cần xuất phát từ thực trạng kinh tế xã hội của đất nước trong từng giai đoạn để đặt ra các quy định pháp luật cho phù hợp
1.2.3.4 Ý thức chấp hành pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế
Văn hóa tuân thủ thuế là một yếu tố quan trọng trong việc xác định nội dung điều chỉnh của pháp luật Khi người nộp thuế có kiến thức, hiểu biết đầy đủ về pháp luật thuế, có tinh thần đạo đức thuế tốt thì khi đó mới đảm bảo rằng họ tự giác thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ thuế, tuân thủ pháp luật thuế, từ đó mới đảm bảo nguồn
thu cho NSNN Sự hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật thuế càng cao sẽ hạn chế
các vi phạm của người nộp thuế như trốn thuế, lậu thuế … đồng thời, cũng làm giảm chi phí hành thu của cơ quan thuế Trái lại, sự hiểu biết và chấp hành pháp luật thuế của người nộp thuế còn thấp thì tình trạng trốn thuế, lậu thuế còn diễn ra, những tiêu cực trong quản lý thuế vẫn còn tồn tại Do vậy, việc quy định trong pháp luật quản lý thuế phải tính đến yếu tố này, bởi vì, ở nước ta hiện nay, ý thức trách
Trang 35nhiệm về nghĩa vụ thuế, sự hiểu biết về các luật thuế và quy trình thủ tục thực hiện các nghĩa vụ thuế của người nộp thuế nói riêng và người dân nói chung còn hạn chế
1.2.3.5 Trình độ, phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ thuế
Trình độ, năng lực quản lý của cơ quan thuế, cán bộ ngành thuế là một yếu tố quan trọng chi phối pháp luật quản lý thuế Trong pháp luật quản lý thuế, các quy định về quy trình, thủ tục, cách thức thực hiện, thời gian giải quyết công việc liên quan đến các nội dung quản lý thuế phải dựa trên trình độ, năng lực thực tế và điều kiện cơ sở vật chất hiện có Mặt khác, để nâng cao trình độ quản lý thuế ở nước ta hiện nay, pháp luật quản lý thuế cần đóng vai trò để bảo đảm bộ máy quản lý thuế được tổ chức xây dựng hợp lý, khoa học hơn, phân công, phân cấp cụ thể, rõ ràng, trách nhiệm quyền hạn được quy định cụ thể, đủ để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ; cán bộ được bố trí, phân công hợp lý theo hướng chuyên môn hóa đối với bộ phận nghiệp vụ, thực hiện quản lý thuế theo chức năng và có sự độc lập tương đối giữa các bộ phận để tạo ra sự kiểm tra, giám sát lẫn nhau Đồng thời, pháp luật quản lý thuế phải xây dựng được những khuôn mẫu và tiêu chuẩn chung cho đội ngũ cán bộ thuế Bên cạnh đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức, tác phong công tác của cán bộ quản lý thuế được đặc biệt quan tâm để đáp ứng được yêu cầu quản lý trong tình hình phát triển mới của xã hội
Để có thể ban hành những chính sách thuế đúng đắn, đáp ứng được yêu cầu của những thay đổi kinh tế xã hội và đảm bảo được mục tiêu của công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân thì đội ngũ cán bộ thuế cấp cao – tầm hoạch định chính sách cần phải có trình độ cao về vấn đề thực tế cũng như cơ bản liên quan đến thuế
Trang 36KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về thuế thu nhập cá nhân và quản lý thuế thu nhập cá nhân cho phép rút ra những kết luận sau:
1 Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của mỗi cá nhân trong xã hội trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) Thuế thu nhập cá nhân góp phần quan trọng đảm bảo nguồn thu ngân sách nhà nước; đảm bảo tính công bằng, giảm bớt sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội và làm cho mỗi người dân có ý thức hơn về quyền và nghĩa vụ của mình đối với nhà nước
2 Quản lý thuế thu nhập cá nhân là hoạt động tất yếu của nhà nước nhằm thực hiện việc thu thuế vào NSNN và giải quyết các vấn đề liên quan đến thu thuế thu nhập cá nhân Nội dung chủ yếu của quản lý thuế thu nhập cá nhân bao gồm: thiết kế chính sách thuế thu nhập cá nhân và thể chế hóa bằng pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân; xây dựng tổ chức bộ máy quản lý thuế thu nhập cá nhân và
tổ chức thực hiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân
3 Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến việc quản lý thuế thu nhập cá nhân như: luật thuế thu nhập cá nhân, bộ máy hành thu của cơ quan thuế, tình hình kinh tế và mức sống của người dân, ý thức chấp hành pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế
… Mỗi nhân tố đều có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực tới công tác quản lý thuế tùy theo tính chất và trạng thái của nhân tố đó
Trang 37Chương 2 PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
2.1 Pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam hiện nay
2.1.1 Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ thể theo pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân
2.1.1.1 Quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế
Người nộp thuế được trao quyền tự định đoạt việc đóng thuế thông qua chấp hành chế độ tự kê khai, xác định số thuế phải nộp
Điều 6 Luật Quản lý thuế năm 2006 và Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế 2012 quy định quyền của người nộp thuế theo đó có thể chia các quyền của người nộp thuế thành ba nhóm như sau:
- Nhóm quyền của người nộp thuế trong quá trình kê khai, nộp thuế đó là: Được hỗ trợ, hướng dẫn thực hiện việc nộp thuế; cung cấp thông tin, tài liệu để thực hiện nghĩa vụ, quyền lợi về thuế Yêu cầu cơ quan quản lý thuế giải thích về việc tính thuế, ấn định thuế; yêu cầu cơ quan hải quan xác định trước mã số, trị giá hải quan, xác nhận trước xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trước khi làm thủ tục hải quan theo quy định của Chính phủ; yêu cầu cơ quan, tổ chức giám định số lượng, chất lượng, chủng loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Được giữ bí mật thông tin theo quy định của pháp luật Hưởng các ưu đãi về thuế, hoàn thuế theo quy định của pháp luật về thuế Ký hợp đồng với tổ chức kinh doanh dịch vụ làm
thủ tục về thuế
- Nhóm quyền của người nộp thuế trong việc thực hiện thanh tra, kiểm tra và xác định số thuế phải nộp của cơ quan thuế đó là: Nhận văn bản kết luận kiểm tra thuế, thanh tra thuế của cơ quan quản lý thuế; yêu cầu giải thích nội dung kết luận kiểm tra thuế, thanh tra thuế; bảo lưu ý kiến trong biên bản kiểm tra thuế, thanh tra thuế Yêu cầu cơ quan quản lý thuế xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của mình
- Nhóm quyền của người nộp thuế liên quan đến khiếu nại, tố cáo và bồi thường thiệt hại bao gồm: Được bồi thường thiệt hại do cơ quan quản lý thuế, công
Trang 38chức quản lý thuế gây ra theo quy định của pháp luật Khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình Tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật của công chức quản lý thuế và tổ chức,
cá nhân khác
Bên cạnh đó, người nộp thuế có nghĩa vụ đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế,
có quyền yêu cầu hoàn thuế, giảm thuế, miễn thuế, gia hạn thuế Điều 7 Luật Quản lý
thuế năm 2006 quy định nghĩa vụ của người nộp thuế theo đó có thể phân làm hai
lý, sử dụng hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật Ghi chép chính xác, trung thực, đầy đủ những hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế, khấu trừ thuế và giao dịch phải kê khai thông tin về thuế Lập và giao hoá đơn, chứng từ cho người mua theo đúng số lượng, chủng loại, giá trị thực thanh toán khi bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ theo quy định của pháp luật
- Nghĩa vụ của người nộp thuế trong việc thực hiện thanh tra, kiểm tra thuế của cơ quan thuế đó là: Cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế, số hiệu và nội dung giao dịch của tài khoản
mở tại ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác; giải thích việc tính thuế, khai thuế, nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế Chấp hành quyết định, thông báo, yêu cầu của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế theo quy định của pháp luật
Bên cạnh hai nhóm nghĩa vụ trên pháp luật quản lý thuế còn quy định người nộp thuế phải có nghĩa vụ chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật trong trường hợp người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền thay mặt người nộp thuế thực hiện thủ tục về thuế sai quy định
Trang 392.1.1.2 Quyền và nghĩa vụ của cơ quan thuế
Thực chất, nghĩa vụ của người nộp thuế song song với quyền thu thuế của Nhà nước, còn quyền của người nộp thuế gắn với quyền yêu cầu Nhà nước bảo vệ quyền lợi của mình trong quá trình thực hiện nghĩa vụ nộp thuế
Điều 9 Luật Quản lý thuế 2006 và Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế năm 2012 có quy định quyền hạn của cơ quan quản lý thuế, theo đó quyền của có thể chia làm hai nhóm:
- Thứ nhất, trong quá trình kê khai nộp thuế, cơ quan thuế có quyền ấn định thuế, quyết định hoàn thuế, giảm thuế, miễn thuế, gia hạn thuế, xóa nợ và tiền phạt bằng việc: Yêu cầu người nộp thuế cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế, số hiệu, nội dung giao dịch của các tài khoản được mở tại ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác và giải thích việc tính thuế, khai thuế, nộp thuế Yêu cầu tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế và phối hợp với cơ quan quản lý thuế để thực hiện pháp luật về thuế Ấn định thuế
Bởi vì, không phải trong mọi trường hợp, yêu cầu của Nhà nước đã được người nộp thuế thực hiện đúng Do vậy, để đảm bảo quyền thu thuế của Nhà nước
và công bằng xã hội, cơ quan thuế có thẩm quyền ấn định thuế, điều tra thuế để bảo đảm số thuế được thu theo đúng qui định của pháp luật
- Thứ hai, cơ quan quản lý thuế có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra thuế, cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế và xử lý vi phạm (xử phạt vi phạm pháp luật về thuế theo thẩm quyền; công khai trên phương tiện thông tin đại chúng các trường hợp vi phạm pháp luật về thuế; áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý vi phạm pháp luật về thuế theo quy định của pháp luật)
Về trách nhiệm của cơ quan thuế, theo Điều 8 Luật Quản lý thuế 2006 và Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế năm 2012 thì trách nhiệm của cơ quan thuế có thể phân chia làm ba nhóm như sau:
- Thứ nhất, trách nhiệm trong việc tổ chức thực hiện thu thuế, thực hiện quá trình kê khai, nộp thuế của người nộp thuế bao gồm: Tổ chức thực hiện thu thuế
Trang 40theo quy định của pháp luật Tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn pháp luật về thuế; công khai các thủ tục về thuế tại trụ sở, trang thông tin điện tử của cơ quan quản
lý thuế và trên các phương tiện thông tin đại chúng Cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm giải thích, cung cấp thông tin liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế cho người nộp thuế; cơ quan thuế có trách nhiệm công khai mức thuế phải nộp của hộ gia đình, cá nhân kinh doanh trên địa bàn xã, phường, thị trấn; cơ quan hải quan
có trách nhiệm xác định trước mã số, trị giá hải quan, xác nhận trước xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trước khi làm thủ tục hải quan theo quy định của Chính phủ Giữ bí mật thông tin của người nộp thuế theo quy định của Luật này Thực hiện việc miễn thuế, giảm thuế, xoá nợ tiền thuế, xóa nợ tiền phạt, hoàn thuế theo theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật về thuế Giám định
để xác định số thuế phải nộp của người nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
- Thứ hai, trách nhiệm của cơ quan thuế trong quá trình thanh tra, kiểm tra thuế và xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế đó là: Xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế khi có đề nghị theo quy định của pháp luật Giao kết luận, biên bản kiểm tra thuế, thanh tra thuế cho đối tượng kiểm tra thuế, thanh tra thuế và giải thích khi có yêu cầu
- Thứ ba, trách nhiệm của cơ quan thuế trong việc giải quyết khiếu nại tố cáo
và bồi thường thiệt hại: Giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc thực hiện pháp luật về thuế theo thẩm quyền Bồi thường thiệt hại cho người nộp thuế theo quy định của Luật quản lý thuế
2.1.2 Thực trạng pháp luật về thủ tục hành chính trong quản lý thuế thu nhập cá nhân
2.1.2.1 Về đăng ký thuế
Theo quy định của pháp luật, “tổ chức, hộ gia đình, cá nhân kinh doanh có
nghĩa vụ phải đăng ký thuế” [29, Điều 21] Theo đó, đăng ký thuế là một thủ tục mà
người nộp thuế thực hiện khai báo sự hiện diện của mình và nghĩa vụ phải nộp một hoặc một số loại thuế với cơ quan quản lý thuế Người nộp thuế kê khai những