Do điều kiện cơ sở vật chất nghèo nàn, trình độ canh tác lạc hậu, nhận thức và tiếp thu khoa học kỹ thuật còn hạn chế dẫn đến đất đai bị xói mòn, rửa trôi, phá vỡ kết cấu đất, nghèo dinh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHẠM VĂN SƠN
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG
SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHẠM VĂN SƠN
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG
SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ: 60.85.01.03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN PGS.TS CAO VIỆT HÀ
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, những số liệu, kết quả nghiên cứu trong Luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./
Tác giả luận văn
Phạm Văn Sơn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình và sự đóng góp quý báu của nhiều tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành bản Luận văn này
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc cô giáo PGS.TS Cao Việt Hà đã trực tiếp hướng dẫn, trực tiếp chỉ ra những ý kiến quý báo và giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa Quản lý Đất đai, Ban Quản lý Đào tạo, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của UBND huyện Tân Yên, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất, Chi cục Thống kê huyện Tân Yên, UBND các xã đã tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu, những thông tin cần thiết để hoàn thành Luận văn
Cuối cùng, tôi xin trân trọng cảm ơn những người thân trong gia đình cùng toàn thể các bạn học viên cùng lớp và bạn bè đã động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành Luận văn này
Tác giả luận văn
Phạm Văn Sơn
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4 1.1 Một số vấn đề lý luận về sử dụng đất nông nghiệp 4 1.1.1 Một số khái niệm liên quan về đất và sử dụng đất nông nghiệp 4 1.1.2 Những xu hướng sử dụng đất nông nghiệp bền vững 9 1.1.3 Các yếu tố tác động đến sử dụng đất nông nghiệp 10 1.2 Sử dụng đất nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững 15 1.2.1 Các quan điểm và nguyên tắc về sử dụng đất bền vững 15 1.2.2 Sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả 18 1.2.3 Sử dụng bền vững đất nông nghiệp 21 1.3 Những nghiên cứu và ứng dụng về sử dụng bền vững đất nông nghiệp 24 1.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới 24 1.3.2 Những công trình nghiên cứu ở Việt Nam 27 1.3.3 Một số mô hình sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả vùng Trung du
1.3.4 Những nghiên cứu ở huyện Tân Yên và tỉnh Bắc Giang 30 Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 34 2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 34
Trang 62.1.2 Phạm vi nghiên cứu 34
2.2.1 Điều tra, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có liên quan đến
sử dụng đất nông nghiệp 34 2.2.2 Đánh giá thực trạng sử dụng đất nông nghiệp 34 2.2.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 34 2.2.4 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Tân Yên 35 2.3 Phương pháp nghiên cứu 35 2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 35 2.3.2 Phương pháp thu thập các số liệu, tài liệu 36 2.3.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu 36 2.3.4 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất 36 2.3.5 Phương pháp xử lý số liệu 39 Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 40 3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội có liên quan đến sử dụng
đất nông nghiệp huyện Tân Yên: 40 3.1.1 Điều kiện tự nhiên 40 3.1.2 Các nguồn tài nguyên 46 3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 48 3.1.4 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 49 3.1.5 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập 53 3.1.6 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 54 3.1.7 Đánh giá chung về ảnh hưởng của kinh tế, xã hội của huyện Tân Yên
đến sản xuất nông nghiệp 55 3.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp và thực trạng phát triển nông
3.2.1 Hiện trạng sử dụng các loại đất 57 3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp 58 3.2.3 Biến động quỹ đất nông nghiệp 59 3.2.4 Tình hình sản xuất các cây trồng chính 61
Trang 73.3 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp huyện Tân yên 64 3.3.1 Loại hình sử dụng đất và kiểu sử dụng đất vùng nghiên cứu 65 3.3.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế đất nông nghiệp 67 3.3.3 Hiệu quả xã hội trong sử dụng đất nông nghiệp 74 3.3.4 Hiệu quả môi trường trong sử dụng đất nông nghiệp 76 3.3.5 Đánh gía tính bền vững các loại hình sử dụng đất của huyện Tân Yên 83 3.3.6 Lựa chọn các loại hình sử dụng đất nông nghiệp có triển vọng 87 3.4 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện Tân Yên 88 3.4.1 Quan điểm sử dụng đất của huyện 88 3.4.2 Đề xuất định hướng sử dụng đất nông nghiệp 89 3.4.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 92
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
1.1 Diện tích đất thoái hóa do tác động của con người 21 2.1 Đặc điểm 2 tiểu vùng huyện Tân Yên 35 2.2 Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất 37 2.3 Phân cấp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội 38 2.4 Các chỉ tiêu phân cấp đánh giá hiệu quả môi trường 39
3.3 Các yếu tố khí hậu vùng Bắc Giang- Tân Yên 43 3.4 Các loại đất huyện Tân Yên - Bắc Giang 47 3.5 Tình hình phát triển chăn nuôi qua các năm (2010- 2014) 52 3.6 Biến động dân số của huyện Tân Yên giai đoạn 2010- 2014 53 3.7 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Tân Yên năm 2014 57 3.8 Bảng biến động diện tích đất nông nghiệp huyện Tân Yên
3.9 Thống kê các cây trồng chính tại Tân Yên 62 3.10 Diện tích các loại sử dụng đất của huyện 65 3.11 Các loại hình sử dụng đất toàn huyện 66 3.12 Hiệu quả kinh tế của một số cây trồng chính 68 3.13 Hiệu quả kinh tế các LUT vùng 1 (tính cho 1 ha) 71 3.14 Hiệu quả kinh tế các LUT vùng 2 (tính cho 1 ha) 73 3.15 Đánh giá hiệu quả xã hội của các kiểu sử dụng đất tiểu vùng 1 huyên
Trang 93.18 Kết quả phân cấp hiệu quả môi trường của các kiểu sử dụng đất của
3.19 Tổng hợp đánh giá hiệu quả chung tại tiểu vùng 1 84 3.20 Tổng hợp đánh giá hiệu quả chung tại tiểu vùng 2 85 3.21 Định hướng sản xuất cho tiểu vùng 1 trên địa bàn huyện Tân Yên 88 3.22 Định hướng sản xuất cho tiểu vùng 2 trên địa bàn huyện Tân Yên 88 3.23 Đề xuất diện tích các loại hình sử dụng đất nông nghiệp đến năm
Trang 10DANH MỤC HÌNH
3.1 Cơ cấu kinh tế huyện Tân Yên năm 2014 50 3.2 Cơ cấu đất nông nghiệp huyện Tân Yên 2014 59
Trang 11DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Ý nghĩa của chữ viết tắt
1 ANLT An ninh lương thực
2 BQ Bình quân
3 CAQ Cây ăn quả
4 CNH - HĐH Công nghiệp hóa- hiện đại hóa
5 CNXH Chủ nghĩa xã hội
6 CPTG Chi phí trung gian
7 FAO Tổ chức Nông- Lương Liên Hợp quốc
8 GTGT Giá trị gia tăng
16 TDMNPB Trung du miền núi phía bắc
17 UBND Ủy ban nhân dân
18 UNESCO Tổ chức Văn hóa- Khoa học- Xã hội liên Hợp quốc
19 UNDP Chương trình phát triển Liên Hợp quốc
20 USD Đôla mỹ
21 WB Ngân hàng thế giới
22 STT Số thứ tự
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là tài nguyên thiên nhiên không có khả năng tái tạo, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố của các khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh…Trong quá trình sử dụng đất con người đã làm thay đổi các thuộc tính của đất theo cả hai hướng tốt và xấu Do điều kiện cơ sở vật chất nghèo nàn, trình độ canh tác lạc hậu, nhận thức và tiếp thu khoa học kỹ thuật còn hạn chế dẫn đến đất đai bị xói mòn, rửa trôi, phá vỡ kết cấu đất, nghèo dinh dưỡng, bạc màu hoá…
Nông nghiệp là một ngành sản xuất đặc biệt, là hoạt động có từ xa xưa của loài người; hầu hết các nước trên thế giới đều xây dựng một nền kinh tế từ phát triển nông nghiệp dựa vào khai thác các tiềm năng của đất, trên cơ sở đó để phát triển các ngành khác…Vì vậy, tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất đai hợp lý, có hiệu quả kinh tế cao là nhiệm vụ quan trọng đảm bảo cho nông nghiệp phát triển bền vững
Trong những năm qua, nền nông nghiệp Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, tạo ra và duy trì quá trình tăng trưởng sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, xóa đói giảm nghèo Nông nghiệp đã và đang chuyển sang hướng sản xuất hàng hóa Theo công bố của Tổng Cục thống kê, năm 2014, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 18,12% trong tổng GDP của cả nước Sản xuất nông nghiệp không những đảm bảo an toàn lương thực quốc gia mà còn mang lại nguồn thu cho nền kinh tế với việc tăng hàng hóa nông sản xuất khẩu Kim ngạch xuất khẩu hàng nông lâm thủy sản năm 2014 đã tăng mạnh so với những năm trước, cụ thể: thủy sản đạt 7,9 tỷ USD, cà phê đạt 3,6 tỷ USD, gạo đạt 3 tỷ USD, hạt điều đạt 2 tỷ USD chiếm 15,5% kinh nghạch xuất khẩu cả nước Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình phát triển và sử dụng đất nông nghiệp nước ta còn một số vấn đề cần xem xét Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi diễn ra với tốc độ nhanh đã làm thay đổi cả phương thức sử dụng tài nguyên thiên nhiên đất, nước, sinh học theo quy mô lớn Việc lạm dụng và sử dụng không đúng kỹ thuật phân hóa hoạc khá phổ biến
Trang 13trong khi đó nguồn phân hữa cơ do phát triển chăn nuôi bị lãng phí và gây ô nhiễm môi trường nói chung và môi trường đất nói riêng Thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất bảo quản nông sản cũng được sử dụng rộng rãi, trong nhiều trường hợp do bảo quản
và sử dụng không hợp lý, đúng kỹ thuật đã gây hậu quả nghiêm trọng cho môi trường Sự đa dạng sinh học và cân bằng sinh thái bị phá vỡ Ngoài ra, đối với đất đồi núi, xói mòn và rửa trôi là những mối đe dọa thường xuyên đối với đất dốc và vùng nhiệt đới ẩm, gây lên sự mất dinh dưỡng và độ phì của lớp mặt đất, dẫn đến thoái hóa đất Bởi vậy, sử dụng bền vững đất nông nghiệp có ý nghĩa chiến lược trong công cuộc phát triển chung, nâng tầm quan trọng của khu vực nông thôn trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay
Tân Yên là huyện miền núi nằm ở phía tây tỉnh Bắc Giang Phía Bắc giáp huyện Yên Thế và huyện Phú Bình (Thái Nguyên); phía Tây và Tây Nam giáp huyện Hiệp Hòa; phía Đông Nam giáp huyện Việt Yên và thành phố Bắc Giang; phía Đông và Đông Bắc giáp huyện Lạng Giang Trung tâm huyện là thị trấn Cao Thượng cách thành phố Bắc Giang 15 km Tân Yên nằm gần vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc: “Tam giác kinh tế phát triển” Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; Cách thủ đô Hà Nội 60 km về phía Tây, cách thành phố Thái Nguyên 50 km về phía Tây Bắc và nằm sát thành phố Bắc Giang ở phía Nam là điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế - văn hoá, khoa học công nghệ giữa các địa phương trong và ngoài huyện
Trong những năm qua, sản xuất nông nghiệp của huyện đã đạt được những kết quả đáng khích lệ; tuy nhiên việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất giữa các xã không đồng đều, sản xuất còn manh mún, hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích còn thấp, chưa tạo được vùng thâm canh tập trung, sản phẩm nông nghiệp hàng hoá chưa nhiều, chưa tạo đà cho công nghiệp chế biến nông sản, hiệu quả đồng vốn đầu
tư còn thấp
Nghiên cứu các loại hình sử dụng đất hiện tại, đánh giá đúng mức độ của các loại hình sử dụng đất để tổ chức sử dụng đất hợp lý có hiệu quả cao theo quan điểm bền vững làm cơ sở cho việc định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp của huyện Tân Yên là vấn đề có tính chiến lược và cấp thiết
Trang 14Xuất phát từ thực tiễn trên, dưới sự hướng dẫn PGS.TS Cao Việt Hà tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá thực trạng và định hướng sử dụng đất nông
nghiệp bền vững trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang"
3 Yêu cầu của đề tài
- Điều tra, đánh giá được điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có liên quan đến
sử dụng đất đai của huyện
- Đánh giá được thực trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện
- Đánh giá được hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của huyện
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp định hướng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang theo quan điểm phát triển bền vững
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số vấn đề lý luận về sử dụng đất nông nghiệp
1.1.1 Một số khái niệm liên quan về đất và sử dụng đất nông nghiệp
1.1.1.1 Những khái niệm chung
Ngay từ xa xưa, trong quá trình lao động sản xuất, con người đã có những hiểu biết nhất định về đất Đô-cu-trai-ep (1886) đã đưa ra khái niệm về đất Theo ông, đất là một thể tự nhiên được hình thành do tác động tổng hợp của 5 yếu tố: khí hậu, sinh vật, đá mẹ, địa hình và tuổi địa phương (dẫn theo Cao Liêm và cs., 1975)
Sau Đô-cu-trai-ep, khoa học thổ nhưỡng ngày càng phát triển theo hướng gắn chặt với cây trồng Về mặt này, định nghĩa của Wiliam đi sâu vào đất trồng hơn Theo ông, đất là lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng sản xuất ra những sản phẩm của cây trồng Cũng theo Wiliam, độ phì của đất là khả năng cung cấp cho cây trồng nước, thức ăn, khoáng chất và các yếu tố cần thiết khác (như không khí, nhiệt độ…) để cây trồng sinh trưởng và phát triển bình thường (dẫn theo Ngô Đức Cát, 2000)
Theo FAO (1976), đất đai được nhìn nhận là một nhân tố sinh thái Với khái niệm này, đất đai bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất Đất theo nghĩa đất đai bao gồm: khí hậu, dáng đất, địa hình địa mạo, thổ nhưỡng, thủy văn, thảm thực vật tự nhiên bao gồm cả rừng, cỏ dại trên đồng ruộng, động vật tự nhiên, những biến đổi của đât do các hoạt động của con người
Trong Hội nghị quốc tế về Môi trường ở Rio de Janerio, Bzazil năm 1992, thì đất đai về mặt thuật ngữ khoa học được hiểu theo nghĩa rộng, đất đai là “ diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó, bao gồm: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước (hồ, sông, suối, đầm lầy), các lớp trầm tích sát bề mặt, cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định
Trang 16cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước, hay hệ thống thoát nước, đường xá, nhà cửa ) (FAO,1993) Theo Luật đất đai Việt Nam năm 1993 “Đất là tài sản quốc gia, là tư liệu sản xuất chủ yếu, là đối tượng lao động đồng thời cũng là sản phẩm lao động Đất còn
là vật mang của các hệ sinh thái tự nhiên và các hệ sinh thái canh tác, đất là mặt phẳng để phát triển nền kinh tế quốc dân” (Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, 1993)
Theo Luật đất đai Việt Nam 2013 “Đất đai là sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của luật này”
Vê mặt thổ nhưỡng, đất có những tính chất hóa học, lý học và các tính chất khác Trong thành phần hóa học của đất, tùy mục đích sử dụng mà các nhà chuyên môn quan tâm đến những chỉ tiêu khác nhau Trong sử dụng đất nông nghiệp những yếu tố liên quan đến cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng được quan tâm (các yếu tố
đa lượng đạm, lân, ka li, hàng lượng mùn, các yếu tố trung và vi lượng; độ chua ; tính chất lý học như thành phần cơ giới, cấu tượng, keo đất, dung tích hấp thụ (Cao Liêm và cs., 1975)
Tùy theo tính chất của đất mà các nhà chuyên môn phân biệt các loại đất với những tên gọi khác nhau Việc đặt tên cho đất và sắp xếp theo thứ bậc của hệ thống phân vị Việc đặt tên đất được dựa trên cơ sở các kết quả nghiên cứu về tiêu chuẩn phân loại có liên quan đến nguồn gốc phát sinh, đặc điểm hình thành, hình thái phẫu diện và đặc điểm lý hóa học đất
Phân loại đất cho một vùng lãnh thổ cần thực hiện 4 bước: Lựa chon hệ thống phân loại và xác định các cấp phân vị cần áp dụng; thu thập và nghiên cứu thông tin về điều kiện hình thành; khảo sát thực địa; phân tích đất (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2012)
- Các chức năng của đất đai: Theo FAO (1993), chức năng của đất đai được
thể hiện qua các mặt sau; sản xuất, điều chỉnh khí hậu, cân bằng sinh thái, tồn trữ và cung cấp nguồn nước, dự trữ (nguyên liệu khoáng sản trong lòng đât); không gian
sự sống; bảo tồn; lịch sử vật mang sự sống; phân dị lãnh thổ
Trang 17+ Chức năng sản xuất: thông qua việc sản xuất sinh khối để cung cấp lương
thực, thực phẩm chăn nuôi, sợi, dầu, gỗ và các vật liệu sinh vật sống khác cho con người sử dụng, một cách trực tiếp hay gián tiếp, thông qua các vật nuôi, nuôi trồng thủy sản và đánh bắt thủy sản
+ Chức năng về môi trường sống: Đất đai là nền tảng của đa dạng hóa sinh
vật trong đất thông qua việc cung cấp môi trường sống cho sinh vật và nơi dự trữ nguồn gen cho thực vật, động vật, và vi sinh vật, ở trên và bên dưới mặt đất
+ Chức năng điều hòa khí hậu: Đất đai và sử dụng đất đai là nguồn và nơi
chứa khí ga từ nhà kính hay hình thành một sự cân bằng năng lượng toàn cầu giữa phân chiếu, hấp thu hay chuyển đổi năng lượng bức xạ mặt trời và của chu kỳ thủy văn của toàn cầu
+ Chức năng điều hòa nước: Đất đai điều hòa sự tồn trữ và lưu thông cùa
nguồn tài nguyên nước mặt và nước ngầm, và những ảnh hưởng đến chất lượng của nước
+ Chức năng tồn trữ: Đất đai là kho chứa các vật liệu và chất khoáng thô cho
việc sử dụng của con người
+ Chức năng kiểm soát chất thải và ô nhiễm: Đất đai có khả năng hấp thụ,
lọc, đệm và chuyển đổi những thành phần nguy hại
+ Chức năng không gian sống: Đất đai cung cấp nền tảng tự nhiên cho việc
xây dựng khu dân cư, nhà máy cơ sở hạ tầng và những hoạt động xã hội khác như thể thao, nghỉ ngơi
+ Chức năng bảo tồn di tích lịch sử: Đất đai còn là nơi chứa đựng và bảo vệ
các chứng tích lịch sử văn hóa của loài người, và nguồn thông tin về các điều kiện khí hậu và những sử dụng đất đai trong quá khứ
+ Chức năng nối liền không gian: Đất đai cung cấp không gian cho sự vận
chuyển của con người, đầu tư vào sản xuất, và cho sự di chuyển của thực vật, động vật giữa những vùng riêng biệt của hệ sinh thái tự nhiên
Khả năng phù hợp của đất đai cho các chức năng này thay đổi rất lớn khi có những biến động riêng trong bản thân nó cũng như những tác động ảnh hưởng của con người trong cả không gian lẫn thời gian Nhu cầu tăng trưởng kinh tế - xã hội
Trang 18phát triển mạnh, cùng với sự bùng nổ dân số đã làm cho mối quan hệ giữa con người và đất ngày càng căng thẳng, những sai lầm liên tục của con người trong quá trình sử dụng đất (có ý thức hoặc vô ý thức) dẫn đến hủy hoại môi trường đất, một
số chức năng nào đó của đất bị yếu đi Sự suy thoái đất đai có thể được kiểm soát, cải thiện tốt lên nếu như các chức năng phải được chú ý, các mong ước điều lợi trước mắt ngắn hạn được thay bằng các mong ước lợi ích lâu dài và bền vững ở các cấp từ toàn cầu cho đến các quốc gia và địa phương
Trong sử dụng đất nông nghiệp các nhà chuyên môn đưa ra những khái niệm
cơ bản liên quan như:
Hệ thống sử dụng đất: Hệ thống sử dụng đất là một loại hình sử dụng đất cụ
thể thực hiện trên một đơn vị đất đai và liên quan đến đầu tư, thu nhập và khả năng cải tại (FAO,1983) Sử dụng đất trong sản xuất nông nghiệp phản ánh các hoạt động khác nhau như hệ thống (Land Use System- LUS) Những hệ thống sử dụng đất như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, lâm nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố liên quan đến sản xuất như kỹ thuật công nghệ, điều kiện tự nhiên, kinh tế
- xã hội, tổ chức sản xuất, thị trường (Tôn Thất Chiểu và Đỗ Đình Thuận, 1998)
Loại sử dụng đất đai chính Đất đai là nguồn tài nguyên cơ bản cho nhiều
phương thức sử dụng đất (Đào Châu Thu và Nguyễn Khang, 2002): Sử dụng trên cơ
sở sản xuất trực tiếp (làm đất canh tác để trồng trọt, làm đồng cỏ, trồng rừng lấy gỗ ); Sử dụng trên cơ sở gián tiếp (như làm bãi chăn thả, chuồng trại chăn nuôi);
Sử dụng vì mục đích bảo vệ (chống suy thoái đất, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ các loài quý hiếm) Các hình thức sử dụng đất vừa nêu được coi như là loại hình sử dụng đất chính Ở thời kỳ bình minh của nhân loại khi con người mới chỉ tạo ra sản phẩm nông nghiệp bằng hình thức tra lỗ bỏ hạt hay thả rông gia súc trên đồng cỏ tự nhiên, đó là các hình thức của loại sử dụng đất chính được gọi là “canh tác nhờ nước mưa” Sau này khi thủy lợi được áp dụng, con người biết đưa nước từ sông hồ vào đồng ruộng để canh tác lúa và hoa màu Loại sử dụng đất đai chính “nông nghiệp có tưới” ra đời
Loại sử dụng đất và kiểu sử dụng đất đai (Land Use Type- LUT): Loại sử
dụng đất đai là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của một vùng với những
Trang 19phương thức quản lý sản xuất trong các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và kỹ thuật được xác định: Các thuộc tính loại sử dụng đất bao gồm quy trình sản xuất, các đặc tính về quản lý đất đai như kỹ thuật canh tác, sức kéo trong làm đất, đầu tư
kỹ thuật và các đặc tính về kinh tế - xã hội như định hướng thị trường, vốn, lao động, vấn đề sở hữu đất đai (Đào Châu Thu và Nguyễn Khang, 2002)
Có thể liệt kê một số loại sử dụng đất đai trong nông nghiệp khá phổ biến hiện nay như: Chuyên để trồng lúa; chuyên để trồng màu; canh tác lúa- màu; dùng để trồng cây lâu năm; sử dụng đất để làm đồng cỏ; làm đất lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản
1.1.1.2 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Một cách tổng quát, hiệu quả được hiểu là sự phản ánh mối tương quan giữa giá trị thu về với nguồn lực đã bỏ ra, có thể đo bằng giá trị tuyệt đối hay tương đối Với quan điểm phát triển hiện đại, hiệu quả còn cần được đánh giá một cách toàn diện trên 3 góc độ đó là kinh tế, xã hội và môi trường (Lê Thanh và cs., 1993)
- Về phương diện kinh tế, hiệu quả sử dụng đất là một phạm trù kinh tế phản ánh mức độ sinh lời của nguồn lực đất đai bỏ ra như thu nhập, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận Trong sử dụng đất nông nghiệp, hiệu quả kinh tế mang lại chính là việc tăng năng suất đất đai (sản phẩm hay giá trị sản phẩm) được tạo ra trên đơn vị diện tích trong chu kỳ sản xuất nhất định (1 vụ hay 1 năm)
- Về phương diện xã hội, hiệu quả sử dụng đất chính là tác động tích cực về mặt xã hội, phản ánh mức độ giải quyết vấn đề xã hội như xóa đói giảm nghèo, giải quyết công ăn việc làm, nâng cao dân trí Hiệu quả xã hội sử dụng đất nông nghiệp còn mang ý nghĩa tiết kiêm đất trong điều kiện sử dụng đất nông nghiệp ngày càng
bị thu hẹp
- Về hiệu quả môi trường, trong sử dung đất nông nghiệp, hiệu quả mang lại chính là chất lượng đất không những không bị suy kiệt, mà còn được bồi bổ (tăng
độ phì, giảm xói mòn ) Việc đánh giá hiệu quả môi trường có thể thông qua một
số chỉ tiêu như tăng độ che phủ, tăng hàm lượng dinh dưỡng, tăng độ ẩm của đất Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có thể nhìn nhận dưới góc độ thời gian sử dụng đất, hay thời gian quay vòng để tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội Đó là lượng sản phẩm hay giá trị sản phẩm được làm ra trên đơn vị diện tích đất nông
Trang 20nghiệp trong một chu kỳ sản xuất Khi khoa học công nghệ phát triển (như áp dụng các công nghệ tiên tiến, canh tác trong môi trường nhân tạo như trên giá thể, trong nhà lưới, nhà kính, thủy canh ), người sản xuất có thể làm chủ thời vụ, điều khiển một số yếu tố thời tiết khí hậu, cho phép nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm nông nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng đất Từ thực tiễn đó có thể nhắc lại quan
điểm có tính kinh điển của Các Mác nhưng vẫn đúng trong thời đại này, đó là quy
luật tiết kiệm thời gian (Lê Thanh và cs., 1993)
1.1.2 Những xu hướng sử dụng đất nông nghiệp bền vững
1.1.2.1 Những xu hướng phát triển nông nghiệp trên thế giới
Trong sản xuất nông nghiệp thì đất đai là nhân tố vô cùng quan trọng Trên thế giới, mặc dù sự phát triển trong sản xuất nông nghiệp của các nước không giống nhau nhưng tầm quan trọng của nó đối với xã hội thì Quốc gia nào cũng thừa nhận Hầu hết các nước đều coi nông nghiệp là cơ sở, là nền tảng của sự phát triển Tuy nhiên, khi dân số ngày càng tăng nhanh thì nhu cầu lương thực, thực phẩm lại là một sức ép rất lớn Trong khi đó, đất đai lại có hạn, đặc biệt quỹ đất nông nghiệp lại
có xu hướng giảm do chuyển sang các mục đích phi nông nghiệp Để đảm bảo an ninh lương thực, loài người phải tăng cường các biện pháp khai khoáng đất phục vụ cho mục đích nông nghiệp Vì vậy, mà đất đai trở thành đối tượng bị khai thác triệt
để Trong khi đó, các biện pháp bảo vệ và gia tăng độ phì cho đất không được chú trọng dẫn tới hậu quả môi trường sinh thái bị phá vỡ, hàng loạt diện tích đất bị thoái hóa trên trái đất do hoạt động của con người gây ra
Theo P.Busigh (1993) toàn bộ đất nông nghiệp của thế giới chừng khoảng 15
tỷ ha (chiếm khoảng 22% tổng diện tích đất liền) nhưng có khoảng 78% (xấp xỉ 11,7 tỷ ha) không dùng được vào nông nghiệp Đất trồng trọt là đất đang được sử dụng còn có loại đất hiện tại chưa sử dụng nhưng có khả năng trồng trọt Đất đang trồng trọt cả thế giới có khoảng 1,5 tỷ ha (xấp xỉ 10,8% tổng diện tích đất đai vao 46% đất đang có khả năng trồng trọt) Như vậy, còn 54% đất có khả năng trồng trọt đang được khai thác
Trên thế giới đất nông nghiệp phân bố ở khắp các châu lục, trong đó Châu Á
có tỷ lệ sử dụng đất nông nghiệp diện tích đất tự nhiên thấp và lại là khu vực có tỷ
Trang 21lệ dân số đông của thế giới Ở Châu Á đất đồi núi chiếm 35% tổng diện tích, tiềm năng đất trồng trọt nhờ nước trời còn khá lớn khoảng 407 triệu ha, trong đó xấp xỉ
282 triệu ha đang được trồng trọt
Đông Nam Á là khu vực đặc biệt, từ số liệu của UNDP năm 2005 cho thấy đây là khu vực dân số khá đông trên thế giới nhưng diện tích canh tác thấp Trong
đó, chỉ có Thái Lan là diện tích đất canh tác trên người khá nhất và Việt Nam đứng hàng thấp nhất trong số các quốc gia ASEAN
1.1.2.2 Xu hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới ẩm Châu Á, có nhiều thuận lợi phát triển sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, nguồn tài nguyên đất có hạn, dân số lại đông, bình quân đất tự nhiên/ người là 0,43 ha, chỉ bằng 1/3 mức bình quân thế giới Mặt khác, dân số tăng nhanh làm cho bình quân diện tích đầu người càng giảm Theo dự kiến, nếu tốc độ tăng dân số là 1- 1.3% năm thì dân số Việt Nam sẽ là 100,8 triệu người vào năm 2015 Vì thế nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là yêu cầu cấp thiết đối với Việt Nam trong những năm tới
Trong những năm qua, nước ta đã quan tâm giải quyết tốt các vấn đề kỹ thuật
và kinh tế, việc nghiên cứu và ứng dụng được tập trung vào những vấn đề như lai tạo các giống cây trồng mới có năng suất cao, bố trí luân canh cây trồng vật nuôi với từng loại đất, thực hiện thâm canh toàn diện, liên tục trên cơ sở ứng dụng tiến
bộ kỹ thuật vào sản xuất
Ngay từ những năm 1960, Bùi Huy Đáp đã nghiên cứu giống lúa xuân giống ngắn ngày và tập đoàn vô đông vào sản xuất, do đó đã tạo nên sự chuyển biến rõ nét trong sản xuất nông nghiệp vùng đồng bằng Sông Hồng
Vấn đề luân canh bố trí hệ thống cây trồng để tăng vụ, gối vụ, trồng xen để
sử dụng tốt hơn nguồn lực đất đai, khí hậu được nhiều tác giả đề cập tới như Bùi Huy Đáp (1979), Ngô Thế Dân (1982), Vũ Tuyên Hoàng (1987)
1.1.3 Các yếu tố tác động đến sử dụng đất nông nghiệp
Đất đai là một vật thể tự nhiên nhưng cùng là một vật thể mang tính lịch sử luôn tham gia vào các mối quan hệ xã hội Do vậy, quá trình sử dụng đất bao gồm phạm vi sử dụng đất, cơ cấu và phương thức sản xuất luôn luôn chịu sự chi phối
Trang 22bởi các điều kiện và quy luật sinh thái tự nhiên cũng như chịu sự ảnh hưởng của các điều kiên, quy luật kinh tế - xã hội và các yếu tố kỹ thuật Những điều kiện và nhân
tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất bao gồm:
1.1.3.1 Nhân tố điều kiện tự nhiên
Việc sử dụng đất đai luôn chịu sự ảnh hưởng của nhân tố tự nhiên, do vậy khi sử dụng đất đai ngoài bề mặt không gian cần chú ý đến việc thích ứng với điều kiện tự nhiên và quy luật sinh thái tự nhiên của đất cũng như các yếu tố bao quanh mặt đất như nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa, không khí và các khoáng sản trong lòng đất Trong điều kiện tự nhiên, khí hậu là nhân tố hạn chế hàng đầu của việc sử dụng đất đai, sau đó là điều kiện đất đai (chủ yếu là địa hình, thổ nhưỡng) và các nhân tố khác
Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng rất lớn, trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người Tổng tích ôn nhiều hay ít, nhiệt độ bình quân cao hay thấp, sự sai khác nhiệt độ về thời gian và không gian, sự sai khác giữa nhiệt độ tối cao và tối thấp, thời gian có sương dài hoặc ngắn trực tiếp ảnh hưởng đến sự phân bố, sinh trưởng và phát triển của cây trồng, cây rừng và thực vật thủy sinh Cường độ ánh sáng mạnh hay yếu, thời gian chiếu sáng dài hay ngắn cũng có tác dụng ức chế đối với sinh trưởng, phát dục và quá trình quang hợp của cây trồng Chế độ nước vừa là điều kiện quan trọng để cây trồng vận chuyển chất dinh dưỡng vừa là vật chất giúp cho sinh vật sinh trưởng và phát triển Lượng mưa nhiều hay ít, bốc hơi mạnh hay yếu có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ và độ ẩm của đất cùng khả năng đảm bảo cung cấp nước cho sự sinh trưởng của động thực vật Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các yếu tố khí hậu có các đặc trưng rất khác biệt giữa các mùa trong năm cũng như các vùng lãnh thổ khác nhau
- Yếu tố địa hình:
Địa hình là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến việc sử dụng đất của các ngành nông nghiệp và phi nông nghiệp Đối với sản xuất nông nghiệp, sự sai khác giữa địa hình, địa mạo, độ cao so với mặt nước biển, độ dốc và hướng dốc, sự bào mòn mặt đất và mức độ xói mòn thường dẫn đến sự khác nhau về đất đai và khí hậu, từ đó ảnh hưởng đến sản xuất và phân bố các ngành nông - lâm nghiệp, hình thành sự
Trang 23phân biệt địa giới theo chiều thẳng đứng đối với nông nghiệp Bên cạnh đó, địa hình
và độ dốc ảnh hưởng đến phương thức sử dụng đất nông nghiệp từ đó đặt ra yêu cầu phải đảm bảo thủy lợi hóa và cơ giới hóa cho đồng ruộng nhằm thu lại hiệu quả sử dụng đất là cao nhất Đối với ngành phi nông nghiệp, địa hình phức tạp sẽ ảnh hưởng đến giá trị công trình và gây khó khăn cho thi công
- Yếu tố thổ nhưỡng:
Mỗi loại đất đều có những đặc tính sinh, lý, hóa học riêng biệt trong khi đó mỗi mục đích sử dụng đất cũng có những yêu cầu sử dụng đất cụ thể Do vậy, yếu
tố thổ nhưỡng quyết định rất lớn đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp Độ phì của đất
là tiêu chí quan trọng về sản lượng cao hay thấp Độ dày tầng đất và tính chất đất có ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng của cây trồng
- Yếu tố thủy văn:
Yếu tố thủy văn được đặc trưng bởi sự phân bố của hệ thống sông ngòi, ao hồ với các chế độ thủy văn cụ thể như lưu lượng nước, tốc độ dòng chảy, 13 chế
độ thủy triều sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng cung cấp nước cho các yêu cầu
sử dụng đất Đặc thù của nhân tố điều kiện tự nhiên mang tính khu vực Vị trí của vùng với sự khác biệt về điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, nguồn nước và các điều kiện
tự nhiên khác sẽ quyết định đến khả năng, công dụng và hiệu quả của việc sử dụng đất đai Vì vậy, trong thực tiễn sử dụng đất cần tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế nhằm đạt được hiệu ích cao nhất về xã hội, môi trường và kinh tế
1.1.3.2 Nhân tố kinh tế - xã hội
Nhân tố kinh tế xã hội bao gồm các yếu tố như chế độ xã hội, dân số và lao động, mức độ phát triển của khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, sử dụng lao động, khả năng áp dụng các tiến bộ khoa học trong sản xuất Nhân tố kinh tế - xã hội thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối với việc sử dụng đất đai Thực vậy, phương hướng sử dụng đất được quyết định bởi yêu cầu của xã hội và mục tiêu kinh
tế trong từng thời kỳ nhất định Điều kiện tự nhiên của đất cho phép xác định khả năng thích ứng về phương thức sử dụng đất Còn sử dụng đất như thế nào, được quyết định bởi sự năng động của con người và các điều kiện kinh tế xã hội, kỹ thuật hiện có Trong một vùng hoặc trên phạm vi một nước, điều kiện vật chất tự nhiên
Trang 24của đất thường có sự khác biệt không lớn, về cơ bản là giống nhau Nhưng với điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, dẫn đến tình trạng có vùng đất đai được khai thác
sử dụng triệt để từ lâu đời và đã đem lại những hiệu quả kinh tế xã hội rất cao nhưng có nơi đất đai bị bỏ hoang hóa hoặc khai thác với hiệu quả kinh tế rất thấp
Có thể nhận thấy, điều kiện tự nhiên của đất chỉ là một tồn tại khách quan, khai thác
và sử dụng đất quyết định vẫn là do con người Cho dù điều kiện tự nhiên có nhiều lợi thế nhưng các điều kiện xã hội, kinh tế kỹ thuật không tương ứng thì ưu thế tài nguyên cũng khó có thể trở thành sức sản xuất hiện thực, cũng như chuyển hóa thành ưu thế kinh tế Ngược lại, khi điều kiện kỹ thuật được ứng dụng vào khai thác
và sử dụng đất thì sẽ phát huy được mạnh mẽ tiềm lực sản xuất của đất, đồng thời góp phần cải tạo điều kiện môi trường tự nhiên, biến điều kiện tự nhiên bất lợi thành điều kiện có lợi cho phát triển kinh tế xã hội Chế độ sở hữu tư liệu sản xuất và chế
độ kinh tế xã hội khác nhau đã tác động đến việc quản lý của xã hội về sử dụng đất đai, khống chế phương thức và hiệu quả sử dụng đất Trình độ phát triển kinh tế và
xã hội khác nhau dẫn đến trình độ sử dụng đất khác nhau Nền kinh tế và các ngành càng phát triển, yêu 14 cầu về đất đai sẽ càng lớn, lực lượng vật chất dành cho việc
sử dụng đất càng được tăng cường, năng lực sử dụng đất của con người sẽ càng được nâng cao Ảnh hưởng của nhân tố kinh tế xã hội đến việc sử dụng đất được đánh giá bằng hiệu quả sử dụng đất Thực trạng sử dụng đất liên quan đến lợi ích kinh tế của người sở hữu, sử dụng và kinh doanh đất đai Trong điều kiện nền kinh
tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đất được dùng cho xây dựng cơ sở
hạ tầng đều được dựa trên nguyên tắc hạch toán kinh tế thông qua việc tính toán hiệu quả kinh doanh sản xuất Tuy nhiên, nếu có chính sách ưu đãi sẽ tạo điều kiện cải thiện và hạn chế việc sử dụng theo kiểu bóc lột đất đai Bên cạnh đó, cũng cần phải chú ý rằng sự quan tâm quá mức đến lợi nhuận tối đa cũng dẫn đến tình trạng đất đai bị sử dụng không hợp lý, không chú ý đến việc xử lý nước thải, chất thải và khí thải đô thị, công nghiệp sẽ làm mất đi vĩnh viễn diện tích lớn đất canh tác, cùng với việc gây ô nhiễm đất đai, nguồn nước, bầu khí quyển, hủy hoại chất lượng môi trường cũng như những hậu quả khôn lường khác Từ những vấn đề nêu trên cho thấy, các nhân tố điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội tạo ra nhiều tổ hợp
Trang 25ảnh hưởng đến việc sử dụng đất đai Tuy nhiên, mỗi nhân tố giữ vị trí và có tác động khác nhau Trong đó, điều kiện tự nhiên là yếu tố cơ bản để xác định công dụng của đất đai, có ảnh hưởng trực tiếp, cụ thể và sâu sắc nhất là đối với sản xuất nông nghiệp Điều kiện kinh tế sẽ kiềm chế tác dụng của con người trong việc sử dụng đất Điều kiện xã hội tạo ra những khả năng khác nhau cho các yếu tố kinh tế
và tự nhiên tác động tới việc sử dụng đất Vì vậy, cần phải dựa vào quy luật tự nhiên và quy luật kinh tế - xã hội để nghiên cứu, xử lý mối quan hệ giữa các nhân
tố tự nhiên, kinh tế - xã hội trong lĩnh vực sử dụng đất đai Căn cứ vào yêu cầu của thị trường và của xã hội, xác định mục đích sử dụng đất, kết hợp chặt chẽ yêu cầu
sử dụng với ưu thế tài nguyên của đất đai để đạt tới cơ cấu tổng thế hợp lý nhất, với diện tích đất đai có hạn sẽ mang lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội ngày càng cao
và sử dụng đất đai được bền vững (Nguyễn Hữu Ngữ, 2010)
1.1.3.3 Nhân tố không gian
Trong thực tế, mọi ngành sản xuất vật chất hay phi vật chất đều cần đến đất đai như điều kiện không gian (bao gồm cả vị trí và mặt bằng) để hoạt động Đặc tính cung cấp không gian của đất đai là yếu tố vĩnh hằng của tự nhiên ban phát cho loài người Vì vậy, không gian trở thành một trong những nhân tố hạn chế cơ bản nhất của việc sử dụng đất Vị trí và không gian của đất không tăng thêm cũng không mất đi trong quá trình sử dụng do vậy, tác dụng hạn chế của đất sẽ thường xuyên xảy ra khi dân số và xã hội luôn phát triển Không gian mà đất đai cung cấp có đặc tính là không thể gia tăng, không thể hủy diệt cũng không thể vượt qua phạm vi quy
mô hiện hữu, do vậy, theo đà phát triển của dân số và kinh tế xã hội tác dụng ức chế của không gian của đất sẽ thường xuyên xảy ra
Sự bất biến của tổng diện tích đất đai không chỉ hạn chế khả năng mở rộng không gian sử dụng mà còn chi phối giới hạn thay đổi của cơ cấu đất đai Điều này quyết định việc điều chỉnh cơ cấu đất đia theo loại, số lượng được sử dụng căn sức sản xuất của đất và yêu cầu của xã hội nhằm đảm bảo nâng cao lực tải của đất Tài nguyên đất đai có hạn lại giới hạn về không gian vì vậy cần phải thực hiện nghiêm ngặt nguyên tắc sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm có hiệu quả kết hợp với việc bảo vệ đất
Trang 26và bảo vệ môi trường Đối với đất xây dựng đô thị, đất dùng cho công nghiệp, xây dựng công trình, nhà xưởng, giao thông mặt bằng không gian và vị trí của đất đai
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và có giá trị kinh tế rất cao (Nguyễn Hữu Ngữ, 2010)
1.2 Sử dụng đất nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững
1.2.1 Các quan điểm và nguyên tắc về sử dụng đất bền vững
1.2.1.1 Quan điểm về phát triển bền vững
a) Quan điểm toàn cầu về phát triển bền vững
Tuyên bố Stockholm về Môi trường con người: “Bảo vệ và cải thiện môi trường con người cho các thế hệ hôm nay và mai sau đó trở thành mục tiêu cấp bách của nhân loại Mục tiêu mà chúng ta mưu cầu phải phù hợp, hài hòa với những mục tiêu và phát triển kinh tế, xã hội trên toàn thế giới” (Hội nghị LHQ về Môi trường con người Stockholm, Thụy Điển,6-16/6/1972);
Tuyên bố Rio về môi trường và phát triển “Con người là trung tâm của những mối quan hệ về sự phát triển lâu dài Con người cứ quyền được hưởng một cuộc sống hữu ích và lành mạnh hài hòa với thiên nhiên…để thực hiện phát triển bền vững, bảo vệ môi trường nhất thiết sẽ là một bộ phận cấu thành của Quá trình phát triển và không thể xem xét, tách rời Quá trình đó” (Hội nghị LHQ về Môi trường và Phát triển Rio de Janeiro, Brazil 3-4/6/1992)
Tuyên bố Johannesburg về Phát triển bền vững: “ Nhận thức rằng nhân loại đang đứng trước bước ngoặt lịch sử, chúng tôi đã thống nhất cùng quyết tâm, nỗ lực một cách tích cực nhu cầu về việc cần cứ một kế hoạch rõ ràng và khả thi để xóa bỏ nghèo khó và phát triển con người…chúng tôi cũng nhận rằng xóa bỏ nghèo khó, thay đổi các mẫu hình sản xuất và tiêu thụ, bảo vệ và quản lý tài nguyên thiên nhiên phục vụ phát triển kinh tế, xã hội là những mục đích có tính bao quát và là những yêu cầu thiết yếu để phát triển bền vững” (Hội nghị thượng đỉnh thế giới về Phát triển bền vững Johannesburrg, Nam Phi, 26/8- 4/9/ 2002)
(Kế hoạch thực hiện Johannesburg): Hoạt động của con người ngày càng có nhiều tác động đến tính thống nhất của các hệ sinh Thái cung cấp các nguồn tài nguyên căn bản, dịch vụ cho phúc lợi và các hoạt động kinh tế của con người Quản
lý cơ sở tài nguyên thiên nhiên theo phương thức bền vững và tổng hợp là quan
Trang 27trọng đối với sự phát triển bền vững Về khía cạnh này, để đảo ngược xu thế hiện tại càng sớm càng tốt về sự suy thoái các nguồn tài nguyên thiên nhiên, thì cần thiết phải thực hiện các chiến lược bao gồm các mục tiêu đó được thông qua ở cấp quốc gia, và
cứ thể ở cấp khu vực để bảo vệ các hệ sinh thái và đạt được sự quản lý tổng hợp về đất đai, nước và các nguồn tài nguyên sống đồng thời tăng cường năng lực ở cấp địa
phương, quốc gia và khu vực…
b) Quan điểm quốc gia của Việt Nam về phát triển bền vững
- Năm 1992 Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam do Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh dẫn đầu tham gia Hội nghị LHQ về Môi trường và Phát triển Rio de Janeiro, Brazil 3-4/6/1992, ký các văn kiện và công ước chính về Môi trường đó Thông qua tại Hội nghị;
- Năm 1993 Luật Bảo vệ Môi trường, ban hành theo Nghị quyết Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam khóa IX ngày 27/12/1993
- Năm 2002 Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam do Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm dẫn đầu tham gia Hội nghị thượng đỉnh thế giới về Phát triển bền vững Johannesburrg, Nam Phi, 26/8- 4/9/ 2002, ký các văn kiện và công ước chính về Môi trường và Phát triển bền vững đó Thông qua tại Hội nghị;
- Năm 2003 Quyết định số 256/2003/QĐ/TTg ngày 02/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2013
và định hướng đến năm 2020 ở Việt Nam
- Năm 2004 Quyết định 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam)
Theo Quyết định 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ: “ Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam là một chiến lược khung, bao gồm những vấn đề định hướng lớn làm cơ sở pháp lý để các Bộ, ngành, địa phương, tổ chức, cá nhân có liên quan triển khai thực hiện, đồng thời thể hiện sự
cam kết của Việt Nam với quốc tế”
- Năm 2005 Luật bảo vệ Môi trường, ban hành theo Nghị quyết Quốc Hội
nước CHXHCN Việt Nam khóa XI Kỳ họp thứ 8 từ 18/10 đến 29/11/2005 (Nguyễn
Đình Bồng, 09.2008)
Trang 28+ Sử dụng đất bền vững quan hệ đến các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường, hiện tại và tương lai, làm giảm suy thoái đất và nước đến mức tối thiểu, giảm chi phí sản xuất bằng cách sử dụng thông minh các nguồn tài nguyên bên trong và áp dụng hệ thống quản lý phù hợp Sử dụng đất bền vững trong nông nghiệp liên quan trực tiếp đến các hệ thống canh tác cụ thể nhằm duy trì và nâng cao thu nhập, đồng thời bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và thúc đẩy phát triển nông thôn, hiện tại và tương lai
+ Sử dụng đất nông nghiệp với múc đích nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới xuất khẩu, trên cơ sở cân nhắc những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, tận dụng tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hưởng xấu tới môi trường;
1.2.1.3 Các nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp bền vững
Sử dụng đất nông nghiệp hợp lý theo hướng tập trung chuyên môn hoá, sản xuất hàng hoá theo hướng ngành hàng, nhóm sản phẩm, thực hiện thâm canh toàn diện và liên tục Thâm canh là một biện pháp sử dụng đất nông nghiệp theo chiều sâu, tác động đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước mắt và lâu dài Thâm canh cây trồng, vật nuôi vừa để đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp vừa đảm bảo phát triển một nền nông nghiệp ổn định
Sử dụng đất nông nghiệp cứ hiệu quả đảm bảo giá trị lợi nhuận trên một đơn
Trang 29vị diện tích cao Nâng hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở thực hiện đa dạng hoá hình thức sở hữu, tổ chức sử dụng đất nông nghiệp, đa dạng hoá cây trồng vật nuôi phù hợp với sinh thái và bảo vệ môi trường Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cũng gắn liền với chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất và quá trình tập trung ruộng đất nhằm giải phóng bớt lao động sang các hoạt động phi nông nghiệp khác Tận dụng triệt để các nguồn lực thuận lợi, khai thác lợi thế so sánh về khoa học kĩ thuật, đất đai, lao động qua liên kết trao đổi để phát triển cây trồng, vật nuôi
có tỉ suất cao, tăng sức cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu
Sử dụng đất nông nghiệp hợp lý, hiệu quả trên cơ sở sử dụng bền vững phải quan tâm tới ba hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trường Về hiệu quả kinh tế, là với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội Về hiệu quả xã hội, tạo được công
ăn việc làm cho lao động, xoá đói giảm nghèo, định canh, định cư, cân bằng xã hội, nâng cao mức sống của toàn dân Về hiệu quả môi trường, đảm bảo được lợi ích hiệu quả mà không ảnh hưởng xấu tới tài nguyên đất và môi trường sinh thái Ngăn ngừa suy thoái, khắc phục vụ nhiễm và bảo tồn được đa dạng sinh học Trong Quá trình sử dụng đất nông nghiệp cần phải chú trọng tới cả ba hiệu quả trên
1.2.2 Sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả
Việc sử dụng đất phụ thuộc nhiều vào các yếu tố liên quan Vì vậy, xác định bản chất và khái niệm hiệu quả dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của C.Mác và những nhận thức lý luận của lý thuyết hệ thống:
- Hiệu quả phải được xem xét trên ba mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường;
- Phải xem xét tới lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài;
- Phải xem xét cả lợi ích riêng của người sử dụng đất và lợi ích chung của cả cộng đồng;
- Phải xem xét giữa hiệu quả sử dụng đất và hiệu quả sử dụng các nguồn lực khác;
- Đảm bảo sự phát triển thống nhất giữa các ngành
Khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất người ta thường đánh giá trên ba khía
Trang 30cạnh: hiệu quả về mặt kinh tế sử dụng đất, hiệu quả về mặt xã hội và hiệu quả về mặt môi trường
1.2.2.1 Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế, xã hội là đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất và tinh thần của toàn xã hội, khi nguồn lực sản xuất của toàn xã hội ngày càng trở nên khan hiếm, việc nâng cao hiệu quả là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội
- Theo C.Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau Như vậy, theo quan điểm của C.Mác, tăng hiệu quả phải được hiểu rộng và nó bao hàm cả việc tăng hiệu quả kinh tế và xã hội
- Theo Samuel- Nordhuas “Hiệu quả có nghĩa là không lãng phí” Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội, “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hoá mà không cắt giảm sản lượng một loại hàng hóa khác Mọi nền kinh tế có hiệu quả nằm trên đường giới hạn khả năng năng suất của nó”
Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp và tới tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác Vì thế, hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được ba vấn đề:
Một là, mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật “Tiết kiệm thời
gian”, nó là động lực phát triển của lực lượng sản xuất, là điều kiện quyết định phát triển văn minh xã hội và nâng cao đời sống con người qua mọi thời đại
Hai là, hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết hệ thống Quan điểm của lý thuyết hệ thống cho rằng nền sản xuất xó hội là một hệ thống các yếu tố sản xuất và các quan hệ vật chất hình thành giữa con người với con người trong quá trình sản xuất Do vậy, việc tận dụng khai thác các điều kiện sẵn
có, hay giải quyết các mối quan hệ phù hợp giữa các bộ phận của một hệ thống với yếu tố môi trường bên ngoài để đạt được khối lượng sản phẩm tối đa là mục tiêu của từng hệ thống
Trang 31Ba là, hiệu quả kinh tế là một phạm trò phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực có sẵn phục vụ cho lợi ích của con người Do những nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng, vì thế nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được
là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xột mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó
Vì vậy, bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng đầu
tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng
về vật chất của xã hội
1.2.2.2 Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là phạm trù có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế và thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người, việc lượng hoá các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả
xã hội còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu phản ánh bằng các chỉ tiêu mang tính chất định tính như tạo công ăn việc làm cho lao động, xoá đói giảm nghèo, định canh, định
cư, công bằng xã hội, nâng cao mức sống của toàn dân Trong sử dụng đất nông nghiệp, hiệu quả về mặt xã hội chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện
tích đất nông nghiệp (Nguyễn Duy Tính, 1995)
1.2.2.3 Hiệu quả môi trường
Môi trường là một vấn đề mang tính toàn cầu, hiệu quả môi trường được các nhà môi trường học rất quan tâm trong điều kiện hiện nay Một hoạt động sản xuất được cho là hiệu quả khi hoạt động đó không gây tổn hại hay có những tác động xấu đến môi trường như đất, nước, không khí và hệ sinh học là hiệu quả đạt được khi quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra không làm cho môi trường xấu đi mà ngược lai, quá trình đó làm cho môi trường tốt hơn, mang lại môi trường xanh - sạch - đẹp hơn trước Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính lâu dài, vừa đảm bảo lợi ích hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến
Trang 32tương lai, nó gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất và môi trường sinh thái
1.2.3 Sử dụng bền vững đất nông nghiệp
Báo cáo của Viện Tài nguyên Thế giới cho thấy gần 20% diện tích đất đai Châu Á bị suy thoái do những hoạt động của con người Hoạt động sản xuất nông nghiệp là một nguyên nhân không nhỏ làm suy thoái đất thông qua quá trình thâm canh tăng vụ đã phá hủy cấu trúc đất, xói mòn và suy kiệt dinh dưỡng (ESCAp/FAO/UNIDO, 1993)
Con người và hoạt động sản xuất là những nguyên nhân chính gây nên thoái hóa đất trên thế giới Diện tích đất bị thoái hóa theo các nguyên nhân khác nhau đã được Oldeman thống kê và được thể hiện chi tiết trong bảng 1.1
Bảng 1.1 Diện tích đất thoái hóa do tác động của con người
Đơn vị tính: triệu ha
Khu vực Chặt phá
Rừng
Chăn thả quá mức
Quản lý quá mức
Khai thac quá mức
Hoạt động công nghiệp
Nguồn: Oldeman et al (1992)
Nhu cầu lương thực thực phẩm ngày càng tăng nên việc nâng cao năng suất cây trồng vật nuôi đòi hỏi đặt ra khi sử dụng đất, nhất là hiện nay khi quỹ đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp Biện pháp canh tác chủ yếu dựa vào tự nhiên trước đây thay bằng việc thâm canh, tăng vụ, sử dụng nhiều phân bón, thuốc trừ sâu, thức
ăn công nghiệp Nhờ đó, có thể làm tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp Nhưng việc sử dụng những yếu tố đầu vào
Trang 33không hợp lý, sẽ gây nên hiệu ứng tiêu cực, ảnh hưởng đến chất lượng đất và môi trường bị xuống cấp
Nếu trong quá trình phát triển nông nghiệp, con người lạm dụng các nguồn lực về đất đai, nước và các nguyên liệu để tăng năng suất trong nông nghiệp, thì kết quả tất yếu sẽ làm cho chất lượng của các nguồn lực tự nhiên giảm xuống Không ít quốc gia đã thúc đẩy sản xuất tới mức nếu cứ tiếp tục duy trì các biện pháp chăn nuôi và canh tác như hiện nay, thì có thể sẽ xuất hiện trạng thái không thể tiếp tục tăng cường được nữa Điều đó đòi hỏi các quốc gia phải tính đến việc lựa chọn một
mô hình phát triển nông nghiệp theo hướng bảo tồn được môi trường, nghĩa là việc tiếp tục tăng trưởng các hoạt động sản xuất nông nghiệp không dẫn tới giảm năng suất trong tương lai gần (Chu Tiến Quang và Lê Xuân Đình, 2007)
Theo Nguyễn Vi (1998), chiến lược phát triển nông nghiệp không thể tách rời chiến lược đất đai và môi trường và “sử dụng đất hợp lý, bảo vệ bồi dưỡng đất
và bảo vệ môi trường” thực sự phải là bộ phận hợp thành của chiến lược nông nghiệp ở nước ta
Theo WCED (1987), khái niệm “sử dụng bền vững tài nguyên” chỉ có thể
áp dụng đối với nguồn tài nguyên tái tạo được (như đất đai) nghĩa là phải có cách sử dụng để cho nguồn tài nguyên đó còn khả năng tái tạo được
Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ giữa người và đất đai Theo Lal and Miller (1993), con người cần phải sử dụng đất khoa học và hợp lý Trong sử dụng đất, vai trò quản lý tài nguyên đất bền vững có nghĩa là duy trì sức sản xuất cao trên mỗi đơn vị diện tích trên một cơ sở liên tục, với sự tăng cường chất lượng của sử dụng đất bền vững là: Sử dụng các tài nguyên đất đai trên một cơ sở dài hạn; Đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không hủy hoại tiềm năng tương lai; Tăng cường sản xuất trên đầu người; Duy trì/tăng cường chất lượng môi trường; phục hồi sức sản xuất và khả năng điều hòa môi trường của các hệ sinh thái bị suy thoái và nghèo nàn (dẫn theo Hoàng Hữu Cải, 2008)
Theo Đào Lệ Hằng (2008), phát triển nông nghiệp bền vững phải đi liền với sử dụng bền vững đất nông nghiệp Nông nghiệp bền vững là bảo vệ môi trường, tạo dựng môi trường trong lành và sử dụng một cách hợp lý tài nguyên thiên
Trang 34nhiên, không làm hủy diệt đất đai, không làm ô nhiễm môi trường
Mục tiêu chính của một hệ thống sử dụng đất bền vững là duy trì một sức sản xuất ở mức cao, duy trì hay cải thiện các thuộc tính môi trường và thẩm mỹ cảnh quan, và tăng cường chất lượng đất
Chất lượng đất nói đến khả năng của đất trong việc sản xuất sản phẩm và dịch vụ kinh tế, và duy trì các tiêu chuẩn chấp nhận được của chất lượng môi trường cùng các chắc năng trong phạm vi các tiềm năng và hạn chế của hệ sinh thái Chất lượng đất phụ thuộc vào một loạt các tính chất và tiến trình của đất Tính chất của đất quan trọng đối với chất lượng của nó là cấu trúc của đất, hàm lượng chất hữu cơ của đất, nước hữu dụng cho thực vật và dự trữ dưỡng liệu, sự thoáng khí, và vận tốc
và cường độ chu chuyển và biến đổi dưỡng liệu Sự hư hỏng chất lượng đất ảnh hưởng lên các tiến trình hỗ trợ sự sống của đất
Theo nghiên cứu của Cho (2003), ở Viện canh tác tự nhiên Janong Hàn Quốc, canh tác tự nhiên và hữu cơ là xu hướng của sản xuất nông nghiệp bền vững Phương pháp canh tác này đều thể hiện ở các mặt năng suất cao, chất lượng tốt, giá thành hạ và thân thiện môi trường
Dưới góc độ khoa học- công nghệ và môi trường, khai thác, sử dụng đất và nước phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững là vấn đề có ý nghĩa chiến lược và quan trọng nhất Các mô hình xây dựng phát triển bền vững của vùng hướng vào việc bảo vệ môi trường như chống phá rừng bừa bãi; thực hiện định canh định cư; cải tạo và bảo vệ đất, chống xói mòn đất, phủ xanh đất trống đồi trọc, bảo vệ rừng đầu nguồn, cảnh quan sinh thái, đa dạng sinh học; bảo vệ nguồn nước (Nguyễn Trọng Thu, 1999)
Theo Vũ Năng Dũng và Nguyễn Hoàng Đan (1996), khả năng ổn định và bền vững tương đối của các loại sử dụng đất được xem xét ở các phương diện: tác động đến môi trường (cả tác động tích cực và tiêu cực), khả năng cải thiện, phát triển của từng loại sử dụng đất; loại sử dụng đất có hiệu quả kinh tế
Theo Smyth and Dumanski (1993) sử dụng đất bền vững được xác định theo 5 nguyên tắc:
- Duy trì và nâng cao các hoạt động sản xuất (năng suất),
Trang 35- Giảm mức độ rủi ro đối với sản xuất (an toàn)
- Bảo vệ tiềm năng của các nguồn tài nguyên tự nhiên, chống lại sự thoái hóa chất lượng đất và nước (bảo vệ)
- Khả thi về mặt kinh tế (tính khả thi)
- Được xã hội chấp nhận (sự chấp nhận)
Năm nguyên tắc nêu trên được coi là kim chỉ nam của sử dụng đất đai bền vững và là những mục tiêu cần phải đạt được Nếu thực tế diễn ra đồng bộ so với các mục tiêu mà không phải là tất cả thì khả năng bền vững chỉ mang tính bộ phận
Từ những luận giải trên có thể đi đến khái niệm tổng quát “Sử dụng bền vững đất nông nghiệp là phạm trù phản ánh hiệu quả tổng hợp 3 phương diện kinh tế, xã hội
và môi trường trong hiện tại vẫn duy trì và hướng cải thiện trong tương lai”
Nhận thức được tầm quan trọng của phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững, trong đại hội Đảng lần thứ XI (năm 2011) vấn đề “Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững” đã được đề cập vào thảo luận
Sử dụng đất nông nghiệp vùng trung du miền núi phía bắc được nhấn mạnh phát triển theo hướng sản xuất lâm nghiệp, cây công nghiệp, cây ăn quả và chăn nuôi gia súc, bảo vệ và phát triển rừng “Phát triển khoa học và công nghệ là động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh và bền vững” Chính phủ Việt Nam cũng đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội nông thôn miền núi nói chung và phát triển nông nghiệp miền núi nói riêng
1.3 Những nghiên cứu và ứng dụng về sử dụng bền vững đất nông nghiệp
1.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới, mặc dù sự phát triển sản xuất nông nghiệp của các nước không giống nhau nhưng hầu hết các nước đều coi nông nghiệp là cơ sở, nền tảng của sự phát triển Khi dân số ngày càng tăng nhanh thì nhu cầu lương thực, thực phẩm là sức ép rất lớn Trong khi đó đất đai có hạn, đặc biệt quý đất nông nghiệp lại có xu hướng giảm do chuyển sang các mục đích phi nông nghiệp Để đảm bảo an ninh lương thực con người phải tăng cường các biện pháp khai thác, khai hoang đất đai phục vụ mục đích nông nghiệp (Rosemary, 1994)
Bước vào thế kỷ XXI với những thách thức về an ninh lương thực, dân số,
Trang 36môi trường sinh thái thì nông nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng đối với loài người Nhu cầu của con người ngày càng tăng đã gây sức ép nặng nề lên đất, đặc biệt là nông nghiệp Đất nông nghiệp bị suy thoái, biến chất và ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng nông sản (Vũ Năng Dũng, 2004)
Diện tích đất đai có hạn trong khi dân số ngày càng tăng, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài là vấn đề quan trọng, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới Các phương pháp đã được nghiên cứu, áp dụng dùng để đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp được tiến hành ở các nước Đông Nam Á như phương pháp chuyên khảo, phương pháp mô phỏng, phương pháp phân tích kinh tế, phương pháp phân tích chuyên gia Bằng những phương pháp đó, các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu việc đánh giá hiệu quả đối với từng loại cây trồng, từng giống cây trồng trên mỗi loại đất, để từ đó có thể sắp xếp, bố trí lại cơ cấu cây trồng phù hợp, nhằm khai thác tốt hơn lợi thế so sánh của từng vùng
Hàng năm, các Viện nghiên cứu Nông nghiệp ở các nước trên thế giới cũng
đã đưa ra nhiều giống cây trồng mới, những công thức luân canh mới giúp cho việc tạo thành một số hình thức sử dụng đất mới ngày càng có hiệu quả hơn Viện lúa Quốc tế (IRRI) đã có nhiều thành tựu về lĩnh vực giống lúa và hệ thống cây trồng trên đất canh tác Tạp chí “Farming Japan” của Nhật ra hàng tháng đã giới thiệu nhiều công trình ở các nước trên Thế giới về các hình thức sử dụng đất đai, đặc biệt
là của Nhật
Các nhà khoa học Nhật Bản cho rằng quá trình phát triển của hệ thống nông nghiệp nói chung và hệ thống cây trồng nói riêng là sự phát triển đồng ruộng đi từ cao đến thấp Điều đó có nghĩa là hệ thống cây trồng đã phát triển trên đất cao trước, sau đó mới đến đất thấp Đó là quá trình hình thành của sinh thái đồng ruộng Nhà khoa học Otak Tanakad đã nêu lên những vấn đề cơ bản về sự hình thành của sinh thái đồng ruộng và từ đó cho rằng yếu tố quyết định của hệ thống cây trồng trên đất canh tác; là sự phối hợp giữa các cây trồng và gia súc, các phương pháp trồng trọt và chăn nuôi Cường độ lao động, vốn đầu tư, tổ chức sản xuất, sản phẩm làm ra, tính chất hàng hóa của sản phẩm
Trang 37Kinh nghiệm Trung Quốc cho thấy, việc khai thác và sử dụng đất đai là yếu
tố quyết định để phát triển kinh tế xã hội nông thôn toàn diện Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra các chính sách quản lý và sử dụng đất đai, ổn định chế độ sở hữu, giao ruộng đất cho nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm và tính chủ động sáng tạo của nông dân trong sản xuất Thực hiện chủ trương “ly nông bất ly hương” đã thúc đẩy phát triển KT- XH nông thôn phát triển toàn diện và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Ở Thái Lan, Ủy ban chính sách Quốc gia đã có nhiều quy chế mới ngoài hợp đồng cho tư nhân thuê đất dài hạn, cấm trồng những loại cây trồng không thích hợp trên từng loại đất nhằm quản lý việc sử dụng và bảo vệ đất tốt hơn
Một trong những chính sách tập trung vào hỗ trợ phát triển nông nghiệp quan trọng nhất là đầu tư vào sản xuất nông nghiệp Theo số liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới (2000), Ở Mỹ tổng số tiền trợ cấp là 66,2 tỉ USD (chiếm 28,3% tổng thu nhập nông nghiệp), Canada là 5,7 tỉ USD (chiếm 39,1%), Oxtraylia là 1,7 tỉ (chiếm 14,5%), Cộng đồng Châu Âu là 67,2 tỉ USD (chiếm 42,1 %), Nhật Bản là 42,3 tỉ USD (chiếm 28,9%)
Những năm gần đây, cơ cấu kinh tế nông nghiệp của các nước đã gắn phương thức sử dụng đất truyền thống với phương thức hiện đại và chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn Các nước Châu Á đã rất chú trọng trong việc đẩy mạnh công tác thủy lợi, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về giống, phân bón, các công thức luân canh để ngày càng nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Một mặt, phát triển ngành công nghiệp chế biến nông sản, gắn sự phát triển công nghiệp đối với bảo vệ môi sinh, môi trường
Một số nước đã ứng dụng công nghệ thông tin xác định hàng lượng dinh dưỡng dựa trên phân tích lá, phân tích đất để bón phân cho cây ăn quả như ở Israel, Philipin, Hà Lan, Mỹ, Nhật kết hợp giữa bón phân vào đất, phun phân qua lá, phân
vi lượng, chất kích thích, điều hòa sinh trưởng đã mang lại hiệu quả rất cao trong sản xuất như sở Mỹ, Israel, Trung Quốc, Đài Loan, Úc, Nhật Bản (Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, 2007)
Các nhà khoa học Nhật Bản đã hệ thống tiêu chuẩn hiệu quả sử dụng đất đai
Trang 38thông qua hệ thống cây trồng trên đất canh tác: là sự phối hợp giữa các cây trồng và gia súc, các phương pháp trồng trọt và chăn nuôi, cường dộ lao động, vốn đầu tư, tổ chức sản xuất, sản phẩm làm ra, tính chất hàng hóa của sản phẩm ( dẫn theo Nguyễn Duy Tính, 1995)
Philipin có hệ thống SALT với những bãi cỏ tự cải thiện cho chăn thả gia súc giữa 2 hàng rào cây Có nhiều loại SALT khác nhau phù hợp với từng loại địa hình
và lập địa khác nhau cho thu nhập tổng hợp và phòng chống xói mòn rất có hiệu quả (Trung tâm Thông tin Phát triển Nông nghiệp Nông thôn, Bộ NN và PTNT, 2006) Các nghiên cứu trên đã và đang được phát triển nhằm giúp con người duy trì quỹ đất hiện có, nâng cao hiệu quả sử dụng đất để đáp ứng nhu cầu lương thực thực phẩm ngày càng tăng của xã hội và góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu
1.3.2 Những công trình nghiên cứu ở Việt Nam
Việt Nam thuộc vùng nhiệt đới ẩm Châu Á có nhiều thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp Những năm gần đây có các công trình nghiên cứu liên quan đến nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và sản xuất nông nghiệp bền vững như:
Công trình nghiêncứu phân vùng sinh thái, hệ thống giống lúa, hệ thống cây
trồng vùng đồng bằng sông Hồng do Đào Thế Tuấn (Đào Thế Tuấn, 1987) chủ trì
và hệ thống cây trồng đồng bằng sông Cửu Long do Nguyễn Văn Luật chủ trì cũng đưa ra một số kết luận về phân vùng sinh thái khác nhau nhằm khai thác sử dụng đất mang lại hiệu quả kinh tế cao
Chương trình đồng trũng 1985- 1987 do Uỷ ban kế hoạch nhà nước chủ trì, Chương trình bản đồ canh tác 1988- 1990 do Uỷ ban khoa học nhà nước chủ trì cũng đó đưa ra những quy trình hướng dẫn sử dụng giống và phân bón có hiệu quả trên các chân ruộng vùng úng trũng đồng bằng sông Hồng, giúp phần làm tăng năng suất, sản lượng cây trồng các vùng sinh thái khác nhau
Từ năm 1998, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (VASI), nay
là Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) đó phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế vì sự phát triển (CIRAD) và các thành viên khác như Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI), Viện Nghiên cứu và sự phát triển (IRD)
đó thực hiện các dự án cho các hệ thống nông nghiệp tại các tỉnh miền núi phía Bắc
Trang 39Việt Nam (dự án SAM); các dự án này đặc biệt chú trọng vào công tác nghiên cứu, phát triển và chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật trên đất dốc bền vững như biện pháp gieo ủ hạt trực tiếp trên mặt đất, bảo vệ lớp bề mặt đất, ruộng bậc thang có che phủ, biện pháp thâm canh, luân canh, vv
“Nghiên cứu áp dụng các giải pháp kỹ thuật và trị trường nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất ngô và đậu tương hàng hóa tại một số tỉnh miền núi phía bắc” do ThS Nguyễn Quang Tin, trưởng Bộ môn khoa học đất và sinh thái vùng cao, Viện khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía bắc
Kết quả nghiên cứu quy trình sản xuất chè an toàn theo tiêu chuẩn GMP do
TS Nguyễn Văn Toàn, Viện nghiên cứu nông lâm nghiệp miền núi phía bắc chủ trì tiến hành nghiên cứu cung cấp cho người sản xuất chè những kiến thức cơ bản nhất
để đảm bảo cho sản xuất chè dưới những điều kiện vệ sinh, đồng thời ngăn chặn được các nguy cơ rủi do từ vi sinh vật, hóa chất hoặc điều kiện tự nhiên và thiết lập các công đoạn cho việc kiểm soát dịch hại làm tăng năng suất, chất lượng chè, sản phẩm an toàn, nâng cao độ phì và bảo vệ môi trường sinh thái
Chương trình quy hoạch tổng thể vùng đồng bằng sông Hồng (VIE/89/032) đó nghiên cứu đề xuất dự ánphát triển đa dạng hoá nông nghiệp đồng bằng sông Hồng Các đề tài nghiên cứu trong chương trình KN- 01 (1991- 1995) do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn chủ trì đó tiến hành nghiêncứu hệ thống cây trồng trên các vùng sinh thái khác nhau như vùng núi và trung du phía Bắc, vùng đồng bằng sông Cửu Long, nhằm đánh giá hiệu quả của các hệ thống cây trồng trên từng vùng đất đó
Đề tài đánh giá hiệu quả một số mô hình đa dạng hoá cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng của Vũ Năng Dũng- 1997 cho thấy, ở vùng này đó xuất hiện nhiều
mô hình luân canh 3–4 vụ/ năm đạt hiệu quả kinh tế cao Đặc biệt ở các vung ven
đê, vùng tưới tiêu chủ động đó có những điển hìnhvề sử dụng đất đai đạt hiệu quả kinh tế rất cao Nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tế cao đó được bố trí trong các phương thức luân canh: cây ăn quả, hoa, cây thực phẩm cao cấp, đạt giá trị sản lượng
bình quân từ 30–35 triệu đồng/ năm (Vũ Năng Dũng, 1997)
Trang 401.3.3 Một số mô hình sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả vùng Trung du miền vùng núi phía bắc
* Vùng núi cao
Một trong những mô hình sử dụng bền vững ở vùng núi cao có khí hậu ôn đới là
mô hình chuyển đổi phương thức canh tác chè truyền thống sang chè hữu cơ (chè an toàn); du lịch nông nghiệp sinh thái Tại xã Thông Nguyên (Hoàng Su Phì, Hà Giang), cây chè thuộc đối tượng cây hàng hóa chủ lực có tiếng từ lâu (trên địa bàn xã đã xây dựng xưởng chế biến chè Tả Phìn) Những năm qua người dân đã chuyển đổi trồng chè
từ phương thức truyền thống sang chè hữu cơ, thị trường ngày càng mở rộng, có sức cạnh tranh Cây chè hữu cơ đã cho GTSX gập 1,53 lần và TNHH gấp 1,88 lần so với chè truyền thống Hoạt động sản xuất chè được tổ chức kết hợp với sự phát triển chế biến và dịch vụ du lịch (Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, 2010)
* Vùng trung du và đồng bằng, khu vực có độ dốc >25°
Ở vùng này phát huy được hiệu quả tốt nhất là các mô hình sử dụng đất theo kiểu tổng hợp nông- lâm kết hợp Theo kết quả nghiên cứu đề tài cấp nhà nước KN- 01- 18 (nghiên cứu hệ thống cây trồng cho vùng trung du miền núi và đất cạn đồng bằng), một số mô hình có tính khả thi bền vững và hiệu quả như:
Ở mô hình vường theo hướng nông- lâm kết hợp ở các vùng sinh thái miền núi Đông Bắc (dẫn theo Nguyễn Văn Luật, 2005) trên đất dốc ở Bắc Giang, Bắc Kạn tùy theo độ dốc của đất mà chia lô thửa theo đường đồng mức khác nhau: trồng cây phân xanh, cốt khí để chống rửa trôi xón mòn; trên đỉnh đồi trồng rừng, bảo vệ rừng tái sinh;
tử trên xuống dưới trồng tiếp tràm (cây lâm nghiệp), tiếp đến nhãn, vải thiều, na và cây
có múi (cam, quýt) ở chân đồi; khi cây dài ngày chưa giao tán, trồng cây ngắn ngày thích hợp (lạc, đậu, dứa, khoai mỡ )
Mô hình vườn đồi tại núi Tây Bắc (Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình) có trồng xen cây ngắn ngày (dẫn theo Nguyễn Văn Luật, 2005) trên cơ sở cây lâu năm được xác định là
mơ, mận, cà phê, cây ăn quả có múi (cam); cây ngắn ngày trồng xen là mía, lạc, đậu Nhất là trồng mía cho hiệu quả khá cao ở vùng đất này thay cho cây lúa cạn, thu được 10-12 triệu đồng/ha/năm Thu hoạch cây lâu năm có những trường hợp tới hàng trăm triệu đồng/ha