1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dạy học nhóm bài luyện tập từ ngữ cho học sinh lớp 10 theo hướng tích hợp và tích cực

113 983 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 635 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các công trình, các tác giả đã đưa ra được thực trạng dạy học phần Tiếng Việt ở phổ thông, nhấn mạnh đến vấn đề đổi mới dạy học phần này theo hướng tích cực hoá hoạt động của học s

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀTÀI

1.1 Trong hệ thống ngôn ngữ, từ là đơn vị tín hiệu đích thực Bản chất tín

hiệu đã tạo điều kiện cho ngôn ngữ trở thành công cụ giao tiếp của xã hội loài người Từ vựng là một trong những bộ phận không thể thiếu của hệ thống ngôn ngữ Nếu như âm vị chỉ là đơn vị một mặt không có khả năng sử dụng độc lập thì

từ là đơn vị hai mặt đầu tiên được sử dụng độc lập trong ngôn ngữ với số lượng lớn Thực chất của việc nắm hệ thống ngôn ngữ chính là nắm chắc việc sử dụng

từ ngữ

Thực tế cho thấy, việc dạy từ ngữ liên quan trực tiếp và nhiều nhất đến việc dạy văn trong nhà trường.Văn học xây dựng các hình tượng văn học bằng phương tiện ngôn từ Các nhà văn, nhà thơ lớn đều quan tâm nhiều nhất đến việc lựa chọn từ ngữ, hao tốn bao nhiêu công sức để làm việc này Nhiều khi chỉ một

“ nhãn tự” cũng làm cho hình tượng văn học khắc sâu vào tâm khảm người đọc, nêu bật được tứ thơ, câu thơ Do vậy, dạy học từ ngữ tốt sẽ giúp cho học sinh cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong các tác phẩm Nội dung dạy học từ ngữ là một bộ phận không thể thiếu trong chương trình sách giáo khoa nói chung và sách giáo khoa Ngữ văn ở phổ thông nói riêng

1.2 Trong nội dung dạy học từ ngữ, dạy học nghĩa của từ là quan trọng

nhất Mục đích của dạy tiếng Việt trong nhà trường là dạy cách sử dụng tiếng Việt cho học sinh, trong đó có sử dụng từ tiếng Việt Sử dụng từ chủ yếu là sử dụng nghĩa, chọn nghĩa Đặc biệt là trong mọi hoạt động giao tiếp, việc nắm được nghĩa và sử dụng đúng nghĩa của từ càng giữ một vai trò quan trọng Vì thế việc nắm được nghĩa của từ rất quan trọng Nghĩa của từ trong tiếng Việt rất phong phú và đa dạng Nắm được nghĩa của từ và sử dụng có hiệu quả là điều không phải dễ Nó phải trải qua một quá trình tích luỹ và luyện tập Điều đó đặt

ra một yêu cầu là chương trình sách giáo khoa của phần Tiếng Việt phải có phần luyện tập sử dụng nghĩa của từ và các biện pháp tu từ cần thiết Bởi điều đó quyết định việc dạy học Tiếng Việt có hướng vào hoạt động giao tiếp hay không

Trang 2

1.3 Việc dạy từ ngữ đã có từ lâu, nhưng đến sách Ngữ văn 10 vấn đề dạy

Tiếng Việt theo hướng tích hợp và tích cực mới đặt ra rõ ràng và toàn diện Đây

là một quan điểm dạy học mới, hiện đại, hứa hẹn nhiều triển vọng tốt Song cũng

vì tính chất mới mẻ này nên nhiều giáo viên chưa quen (trước kia Tiếng Việt còn

là một phân môn, thời lượng dành cho nó có nhiều thì trong Ngữ văn 10, Tiếng Việt được dạy theo hướng tích hợp, thời gian bị thu hẹp lại) Về phía học sinh, lâu nay môn Tiếng Việt đối với các em là môn học vừa “khó”, vừa “ khổ” Do vậy các em rất ngại và sợ học tiếng Việt Mặt khác, trong chương trình Ngữ văn

10, việc dạy học Tiếng Việt phải tích hợp với phần Đọc hiểu và Làm văn Dạy từ

là dạy kỹ năng dùng từ khi tạo lập văn bản Dạy từ là dạy học sinh hiểu cách dùng từ của nhà văn trong các tác phẩm văn chương Trong thực tế phần văn học trung đại chiếm một thời lượng không nhỏ trong sách Ngữ văn 10 Đặc điểm của văn học giai đoạn này là ngôn từ hàm súc, có những từ hiện nay không còn được

sử dụng phổ biến, cũng không tìm thấy trong từ điển tiếng Việt Điều đó càng khó cho học sinh thời nay có thể hiểu nghĩa của từ Những điều đó làm cho nguời giáo viên không khỏi cảm thấy lúng túng, vướng mắc về phương pháp, cách thức giảng dạy ở những tiết hình thành khái niệm và đặc biệt là hình thành

kỹ năng theo hướng tích hợp và tích cực Họ rất mong muốn có những biện pháp, cách thức cụ thể để quá trình dạy học có hiệu quả hơn, chất lượng hơn, góp phần vào quá trình đổi mới dạy học nói chung và dạy tiếng Việt nói riêng ở nhà trường phổ thông

Xuất phát từ những lý do trên và thông qua thực tiễn dạy học ở trường phổ

thông, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài:“ Dạy học nhóm bài luyện tập từ ngữ cho học sinh lớp 10 theo hướng tích hợp và tích cực”.

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Quá trình tổ chức dạy học nhóm bài luyện tập từ ngữ cho học sinh lớp 10 THPT theo hướng tích hợp và tích cực

Trang 3

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Quá trình tổ chức dạy học nhóm bài luyện tập từ ngữ cho học sinh bao gồm nhiều yếu tố Nhưng chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu việc lựa chọn nội dung, phương pháp, hệ thống dạy học phần từ ngữ có trong sách Ngữ văn lớp 10

3 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

3.1 Về dạy học tích hợp và tích cực trong môn Ngữ văn

Tiếng Việt là một hợp phần trong môn Ngữ văn Vì vậy, việc tổ chức dạy học tiếng Việt cũng tuân theo phương hướng chung của môn Ngữ văn (dạy học theo hướng tích hợp và tích cực) Để nghiên cứu vấn đề dạy học tích hợp và tích cực trong phần Tiếng Việt trước hết phải tìm hiểu như thế nào là tích hợp và tích cực trong dạy học Ngữ văn Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này

Tiêu biểu như:“ Tích hợp trong việc dạy học Ngữ văn bậc THCS” [4]; “ Những

đổi mới của chương trình SGK và yêu cầu dạy học Ngữ văn 10” [13]; “ Tích hợp trong dạy học Ngữ văn”[14]; “ Tích hợp và liên hội hướng tới kết nối trong dạy học Ngữ văn” [ 12]

Mặc dù mỗi công trình kể trên bàn đến một góc độ của dạy học tích hợp và tích cực trong môn Ngữ văn, nhưng nhìn chung các tác giả đều khẳng định vai trò quan trọng và tính tất yếu và khách quan của quan điểm dạy học này Qua đây chúng tôi thấy được những kiến thức lí luận, những ví dụ minh hoạ cùng với những giải pháp cụ thể trong dạy học tích hợp và tích cực trong môn Ngữ văn.Tuy nhiên, những công trình đó có tính khái quát, chưa bàn cụ thể vấn đề dạy học từ ngữ theo hướng tích hợp và tích cực cho học sinh lớp 10 Chúng tôi xin tiếp thu những thành tựu của các công trình trên

3.2 Dạy học tích hợp và tích cực trong phần tiếng Việt

Như đã nói ở trên, vì là một phần của môn Ngữ văn nên Tiếng Việt cũng thể hiện tính tích hợp và tích cực Nhưng đây là một phần riêng, có tính độc lập tương đối, có đặc thù riêng.Vì thế cũng có những công trình nghiên cứu riêng,

tiêu biểu như: “ Phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong giờ học tiếng

Trang 4

Việt” [20]; “ Về việc hình thành và phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học tiếng Việt” [30] Trong các công trình, các tác giả đã đưa ra được thực trạng

dạy học phần Tiếng Việt ở phổ thông, nhấn mạnh đến vấn đề đổi mới dạy học phần này theo hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh, và cuối cùng là đề xuất qui trình hướng dẫn học sinh tìm hiểu một vấn đề tiếng Việt, đưa ra những dẫn chứng cụ thể Đây là những tài liệu cần thiết cho luận văn của chúng tôi Tuy nhiên các tác giả đó cũng vẫn chưa bàn một cách cụ thể vấn đề dạy học luyện tập

từ ngữ cho học sinh THPT

3.3 Dạy học từ ngữ theo hướng tích hợp và tích cực

Dạy học từ ngữ không phải là vấn đề mới, đã có nhiều cuốn sách bàn tới nó

Ví dụ như cuốn: “ Rèn luyện ngôn ngữ” [ 31]; “ Mấy vấn đề lí luận và phương pháp dạy học từ ngữ tiếng Việt trong nhà trường”[29] Và đặc biệt là cuốn

“ Phương pháp dạy học tiếng Việt” [1] Các tác giả trong các cuốn sách này đã đưa ra phương pháp dạy học cụ thể cho mỗi hợp phần tiếng Việt trong chương trình phổ thông trong đó có “ Phương pháp dạy luyện tập từ ngữ” với những dạng bài tập cụ thể Các tài liệu này đã định hướng cho chúng tôi cách thức tổ chức dạy học từ ngữ Đây là cơ sở quan trọng để chung tôi phát triển luận văn ở vấn đề cụ thể hơn

Nhìn chung những công trình trên có vai trò định hướng, mở đường cho đề

tài mà chúng tôi đang quan tâm.Vì thế việc nghiên cứu vấn đề “ Dạy học nhóm

bài luyện tập từ ngữ cho học sinh lớp 10 theo hướng tích hợp và tích cực” là

mong muốn góp phần cụ thể hoá các phương pháp, biện pháp, hình thức dạy học theo hướng tích hợp để quá trình dạy học của giáo viên và học sinh lớp 10 đạt hiệu quả cao

Trang 5

4 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

4.1.Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu quá trình tổ chức dạy học nhóm bài luyện tập từ ngữ cho học sinh lớp 10 THPT theo hướng tích hợp và tích cực nhằm nâng cao chất lượng dạy học luyện tập từ ngữ nói riêng và dạy học tiếng Việt nói chung

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.2.1 Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn cho việc tổ chức dạy học luyện tập

từ ngữ cho học sinh lớp 10 Đánh giá thực trạng nghiên cứu và dạy học nghĩa của từ hiện nay

4.2.2 Đề xuất những giải pháp có tính chất thực thi, có hiệu quả cho việc

dạy nhóm bài này ở lớp 10

4.2.3 Tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra đánh giá khả năng thực

thi, hiệu quả của việc dạy học nhóm bài luyện tập từ ngữ ở lớp 10 mà luận văn

đề xuất

5 GIẢ THIẾT KHOA HỌC

Nếu tổ chức quá trình dạy học luyện tập từ ngữ cho học sinh lớp 10 bằng những phương pháp, hình thức học tập nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh, đồng thời vận dụng quan điểm tích hợp, gắn phần luyện tập trong Tiếng Việt một cách chặt chẽ với phần Đọc hiểu và Làm văn thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học nhóm bài luyện tập từ ngữ, tăng cường năng lực sử dụng từ tiếng Việt của học sinh vào trong giao tiếp và trong việc cảm thụ tác phẩm văn chương

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau :

6.1 Phương pháp tổng hợp lí luận và thực tiễn

Đây là phương pháp cơ bản trong nghiên cứu khoa học, mà bản chất của nó

là dựa trên các thông tin đã có, bằng các thao tác tư duy lô gíc để rút ra kết luận khoa học Phương pháp này được sử dụng để thu thập nguồn tư liệu, nghiên cứu lịch sử vấn đề, cơ sở lí thuyết của đề tài

Trang 6

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để phân tích tổng hợp các quan điểm, luận điểm khoa học trong các tài liệu thuộc nghành khoa học có liên quan để xác lập cơ sở khoa học cho việc tổ chức quá trình dạy học nhóm bài luyện tập từ ngữ cho học sinh lớp 10 theo hướng tích hợp và tích cực.

6.2 Phương pháp điều tra, khảo sát

Phương pháp này dùng để điều tra, khảo sát thực trạng dạy học nhóm bài luyện tập từ ngữ ở lớp 10 THPT Chúng tôi tiến hành khảo sát như sau:

- Điều tra chất lượng dạy học nhóm bài luyện tập từ ngữ ở lớp 10 THPT

- Khả năng vận dụng từ ngữ của học sinh trong hoạt động giao tiếp

- Năng lực tổ chức hoạt động dạy học phần luyện tập từ ngữ của giáo viên.Dựa trên kết quả phân loại các số liệu khảo sát, chúng tôi đề xuất phương pháp tổ chức dạy học luyện tập từ ngữ ở lớp 10 theo hướng tích hợp và tích cực

6.3 Phương pháp thực nghiệm

Đây là phương pháp được sử dụng trong giai đoạn thực nghiệm sư phạm phục vụ cho đề tài Công cụ chủ yếu để trắc nghiệm là các phiếu điều tra với nội dung và hình thức khác nhau, hướng tới đích điều tra về trình độ tư duy, kết quả học tập của học sinh Phương pháp này giúp chúng tôi có cơ sở để đánh giá sự thành công và tính khả thi của đề tài

- Thực nghiệm đối chứng: thực nghiệm được sử dụng để kiểm tra các giả thuyết của đề tài

- Qui trình thực nghiệm được tiến hành theo ba bước:

+ Thực nghiệm đối chứng

+ Thực nghiệm triển khai

+ Kiểm tra đánh giá

Trang 7

Tổ chức dạy thực nghiệm nhằm xác định tính hiệu quả, tính khả thi của việc tổ chức dạy học nhóm bài luyện tập từ ngữ theo hướng tích hợp và tích cực Tiến hành thực nghiệm ở một số lớp 10 thuộc hai tỉnh khác nhau Đối chiếu kết qủa thực nghiệm của mỗi lớp trong một trường và các trường với nhau Từ đó xác định mô hình thiết kế hiệu quả nhất cho giờ dạy học luyện tập từ ngữ ở lớp 10 THPT.

7 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN.

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Thư mục tham khảo, phần Nội dung gồm

3 chương :

Chương 1: Một số cơ sở lí luận và thực tiễn của dạy học nhóm bài luyện tập

từ ngữ cho học sinh lớp 10 theo hướng tích hợp và tích cực

Trong chương này, chúng tôi tập trung trình bày những cơ sở lí thuyết và thực tiễn cho việc tìm hiểu quan điểm tích hợp và tích cực, nghĩa của từ và thực trạng việc dạy học luyện tập từ ngữ ở lớp 10 THPT Để thực hiện được điều đó, chúng tôi triển khai những nội dung sau:

- Những luận điểm cơ bản về dạy học tích hợp và tích cực trong Ngữ văn

và phần tiếng Việt

+ Dạy học tích hợp và tích cực trong Ngữ văn.

+ Dạy học tích hợp và tích cực trong phần Tiếng Việt.

- Nghĩa của từ trong hệ thống ngôn ngữ và trong hoạt động giao tiếp.

+ Nghĩa của từ trong hệ thống ngôn ngữ.

+Nghĩa của từ trong hoạt động giao tiếp

- Khảo sát thực trạng dạy học từ ngữ.

+ Chương trình sách giáo khoa

+ Phương pháp dạy học từ ngữ.

+ Năng lực sử dụng từ ngữ ở học sinh.

Trang 8

Chương 2 : Tổ chức dạy học nhóm bài luyện tập từ ngữ cho học sinh lớp 10 theo hướng tích hợp và tích cực.

Chúng tôi tập trung trình bày cách tổ chức cho học sinh hoạt động củng cố

và nâng cao các tri thức lí thuyết về từ ngữ Đồng thời, tổ chức rèn luyện các khả năng nhận diện, phân tích và năng lực sử dụng từ ngữ của học sinh trong học văn, hành văn và trong giao tiếp Từ đó góp phần nâng cao năng lực ngôn ngữ cho học sinh Chương này gồm những nội dung sau:

- Xác định mục tiêu dạy học luyện tập tữ ngữ ở lớp 10 theo hướng tích hợp

và tích cực

+ Cơ sở để xác định mục tiêu dạy học luyện tập tữ ngữ ở lớp 10 theo hướng

tích hợp và tích cực

+ Mục tiêu cần đạt của bài luyện tập từ ngữ.

- Xác định nội dung dạy học luyện tập từ ngữ ở lớp 10 theo hướng tích hợp

và tích cực

+ Sách giáo khoa Ngữ văn 10 cơ bản.

+ Sách giáo khoa Ngữ văn 10 nâng cao.

- Lựa chọn phương tiện và hình thức dạy học luyện tập từ ngữ ở lớp 10 theo

hướng tích hợp và tích cực

+ Lựa chọn và xây dựng hệ thống bài tập từ ngữ.

+ Lựa chọn hình thức tổ chức luyện tập từ ngữ cho học sinh lớp 10 theo

hướng tích hợp và tích cực

+ Kết hợp luyện tập từ ngữ với Làm văn.

Chương 3 : Thực nghiệm sư phạm

Chương này nêu rõ mục đích, đối tượng và phương pháp thực nghiệm, mô

tả toàn bộ quá trình thực nghiệm và bước đầu có những đánh giá nhất định về tính khả thi của đề tài

- Mục đích và ý nghĩa thực nghiệm

Trang 9

- Đối tượng và địa bàn thực nghiệm.

- Phương pháp thực nghiệm.

- Nội dung thực nghiệm.

- Đánh giá kết quả thực nghiệm.

- Kết luận chung về thực nghiệm.

Phần kết luận

Chúng tôi khái quát lại những nội dung cơ bản đã trình bày trong luận văn, khẳng định khả năng thực thi những vấn đề đã nêu trên trong thực tế giảng dạy Ngoài ra, chúng tôi còn nêu một số nhận xét và đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả trong dạy học luyện tập từ ngữ cho học sinh lớp 10 THPT

Trang 10

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC NHÓM BÀI LUYỆN TẬP TỪ NGỮ CHO HỌC SINH LỚP 10 THEO HƯỚNG

TÍCH HỢP VÀ TÍCH CỰC 1.1 NHỮNG LUẬN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ DẠY HỌC TÍCH HỢP VÀ TÍCH CỰC TRONG NGỮ VĂN VÀ PHẦN TIẾNG VIỆT

1.1.1 Dạy học tích hợp và tích cực trong môn Ngữ văn

1.1.1.1 Dạy học tích hợp trong Ngữ văn

a Khái niệm về tích hợp

Tích hợp là một tư tưởng sư phạm đã trở thành xu hướng chung của nhiều nước trên thế giới có nền giáo dục tiên tiến Quan điểm dạy học này đã được nghiên cứu và được sử dụng để xây dựng chương trình, biên soạn sách giáo khoa phổ thông ở nước ta những năm gần đây Đây là vấn đề khá mới nên đã có những quan niệm khác nhau về tích hợp

Theo từ điển tiếng Việt, tích hợp là “Lắp ráp, nối kết các thành phần của một hệ thống theo quan điểm tạo nên một hệ thống toàn bộ” [21, tr 981]

“ Tích hợp là sự phối hợp những tri thức gần gũi, có quan hệ mật thiết với nhau trong thực tiễn, để chúng hỗ trợ và tác động vào nhau, phối hợp với nhau, nhằm tạo nên kết quả tổng hợp nhanh chóng và vững chắc”[3, tr 35]

“ Tích hợp là sự phối hợp các tri thức thuộc một số môn học có những nét

tương đồng vào một lĩnh vực chung, thường là quanh những chủ đề”[4, tr.25].

Mặc dù mỗi người có một cách thể hiện về tích hợp nhưng các tác giả đều có một điểm chung khi cho rằng: Tích hợp không phải là vấn đề cắt xén chương trình, cắt xén nội dung học tập, mà thực chất của vấn đề tích hợp mà sách giáo khoa mới vận dụng là sự phối hợp kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học hoặc các phân môn khác nhau nhằm hình thành kiến thức liên thông, rèn luyện bốn kĩ

Trang 11

b Tích hợp trong môn Ngữ văn

Tích hợp là điểm nổi bật nhất của chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn mới Nó chi phối cách xây dựng chương trình, chỉ đạo nội dung và phương pháp dạy học Ngữ văn Có thể hiểu tích hợp một cách chung nhất đó là phương hướng phối hợp một cách tốt nhất các quá trình học tập của nhiều môn cũng như phần Đọc văn, Tiếng Việt, Làm văn trong một môn như Ngữ văn Nhờ tích hợp mà kết quả nắm vững kiến thức, thành thạo kĩ năng, phát triển phương pháp làm việc của môn học và các phần tốt hơn nhiều

So với các môn học khác trong chương trình, việc thực hiện tích hợp ở môn Ngữ văn có nhiều thuận lợi riêng Cái gốc của quan niệm tích hợp trong dạy học Ngữ văn là ở chỗ :

“- Ngôn ngữ đã được mô hình hoá và lời nói thông dụng giàu sắc thái biểu cảm là phương tiện, công cụ và nội dung giao tiếp của cả phân môn Văn học, phân môn Tiếng Việt và phân môn Tập làm văn

- Văn bản là tính chất chung của cả ba phân môn Dù là bài Văn, Tiếng Việt hay Làm văn đều là những phát ngôn hoàn chỉnh làm nên đơn vị hiểu được trong hoàn cảnh giao tiếp Có thể xem tác phẩm văn học là văn bản sáng tạo, Tiếng Việt là văn bản khai thác, Làm văn là văn bản luyện tập kĩ năng trong quá trình tích hợp Văn bản của cả 3 phân môn đều chứa đựng những mức độ khác nhau của tính khoa học, tính nghệ thuật, tính xã hội và tính sáng tạo của

nó Đó cũng là cơ sở chung để suy nghĩ về sự quy tụ những giao điểm của quá trình tích hợp

- Cuối cùng là sự tích hợp bên trong vừa tự nhiên vừa năng động của chủ thể giáo viên và học sinh, mà ở đó trí thông minh, sức tưởng tượng, trực giác và sự suy luận tỉnh táo đóng góp rất nhiều vào con đường tích hợp Ngữ văn.” [14, tr 9- 13]

Trang 12

Quan điểm tích hợp được vận dụng vào chương trình Ngữ văn 10 THPT

là sự tiếp tục và thể hiện tinh thần tích hợp đã có ở THCS : Tích hợp ba phần Văn học, Tiếng Việt, Làm văn trong môn Ngữ văn (không gọi là ba phần với ý nghĩa là những môn học như quan niệm trước đây mà gọi là ba phần hoặc ba bộ phận của môn Ngữ văn) Như vậy, việc tích hợp được thể hiện ngay từ tên gọi

môn học và tên SGK Các soạn giả chú ý cả tích hợp ngang và tích hợp dọc

Chương trình đã thể hiện rõ định hướng giảng dạy đi theo quan điểm tích hợp, liên thông kiến thức ba phần trên Theo quan điểm tích hợp, các phần Văn học, Tiếng Việt, Làm văn phải gắn kết nhau, hỗ trợ nhau Đây là nguyên tắc

đã thực hiện có hiệu quả ở môn Ngữ văn THCS Tiếp tục thành quả đó, chương trình Ngữ văn THPT hợp nhất ba phần vào một chương trình chung Làm văn kết hợp với kiểu văn bản ở phần Đọc văn, lấy ngữ liệu ở phần Đọc văn Phần Tiếng Việt cũng lấy ngữ liệu ở phần Đọc văn, khai thác các hiện tượng ngôn ngữ để nâng cao năng lực đọc văn Việc tích hợp trong chương trình và SGK Ngữ văn được thể hiện trên các phương diện cụ thể như : Tích hợp các nội dung dạy học của phần Văn học với nội dung dạy học của các phần Tiếng Việt và Làm văn; tích hợp dạy kiến thức với thực hành luyện tập các kĩ năng quan sát, nghe, nói, đọc, viết và rèn luyện tư duy; tích hợp dạy các kiến thức, kĩ năng của môn Ngữ văn với các kiến thức kĩ năng thuộc các ngành khoa học, nghệ thuật khác và thực tiễn đời sống; tích hợp việc dạy của giáo viên với việc học của học sinh

Thực hiện việc tích hợp trong chương trình Ngữ văn là góp phần giải quyết những bài toán muôn thủa của giáo dục như : Mâu thuẫn giữa lượng kiến thức, kĩ năng cần đưa vào nhà trường với quỹ thời gian có hạn, mâu thuẫn giữa việc học (nhận thức) và hành (hoạt động) của người học, mâu thuẫn giữa sự tiếp nối hệ thống của kiến thức và sự trùng lặp kiến thức

Trang 13

Đồng thời việc tích hợp phần học vào trong cùng một bài dạy là nhằm mục đích hình thành bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết và hình thành cho học sinh năng lực phân tích, bình giá, cảm thụ văn học một cách chủ động, sáng tạo Dựa trên một văn bản để dạy các kiến thức, kĩ năng của từng phần, giúp học sinh biết vận dụng linh hoạt những kiến thức, kĩ năng của các phần vào việc giải mã và tạo lập văn bản Trong đó đặc biệt chú ý tới sự hỗ trợ lẫn nhau giữa hai nhóm kĩ năng: Kĩ năng về tiếng Việt và kĩ năng về văn học.

Như vậy, tích hợp trong môn Ngữ văn có thể hiểu là sự hợp nhất ba phần Văn

- Tiếng Việt - Làm văn lại, “hoà trộn” trong nhau, học cái này thông qua cái kia và ngược lại Cả ba phần đều dựa vào một văn bản chung để khai thác, hình thành kiến thức và rèn luyện kĩ năng theo yêu cầu của mỗi phần trong hệ thống kiến thức của cả ba phần có mối liên hệ chặt chẽ, phụ thuộc vào nhau, ủng hộ lẫn nhau

và làm sáng tỏ cho nhau, tránh được sự chồng chéo và thiếu tính thống nhất

Trong chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn 10 chúng tôi nhận thấy có kiểu tích hợp sau :

Tích hợp ngang: “Là tích hợp kiến thức tiếng Việt với các mảng kiến thức về

văn học, thiên nhiên, con người và xã hội theo nguyên tắc đồng quy” [32, tr 12]

Đó là kiểu tích hợp kiến thức của ba phần: Văn học - Tiếng Việt - Làm văn trong một bài học

Tích hợp dọc: “Là tích hợp ở một đơn vị kiến thức và kĩ năng với những

kiến thức và kĩ năng đã học trước đó, theo nguyên tắc đồng tâm (còn gọi là đồng trục hay vòng tròn xoáy trôn ốc), cụ thể là: Kiến thức và kĩ năng của lớp trên bậc học trên bao hàm kiến thức và kĩ năng của lớp dưới, bậc học dưới, nhưng cao hơn, sâu hơn kiến thức và kĩ năng của lớp dưới, bậc học dưới” [ 32, tr 13]

Tích hợp đồng tâm: “Là tích hợp theo từng vấn đề, tích hợp ở một đơn vị

kiến thức và kĩ năng mới với những kiến thức được học trước đó theo nguyên tắc đồng trục Nói một cách tổng quát, việc giảng dạy theo nguyên tắc hàng ngang (tích hợp ngang) là cách tổ chức giảng dạy theo nguyên tắc đồng tâm (tích hợp đồng tâm) có nâng cao[ 3, tr 39]

Trang 14

Trong các kiểu tích hợp trên, các nhà biên soạn chương trình và sách giáo khoa đặc biệt lưu tâm đến kiểu tích hợp ngang, coi đây như là nguyên tắc chính

để tổ chức nội dung giảng dạy

1.1.1.2 Dạy học tích cực trong Ngữ văn

a Quan điểm dạy học theo hướng tích cực

Hiểu một cách chung nhất thì bản chất của quan điểm dạy học tích cực là người dạy phải tính đến nhu cầu, nguyện vọng của người học, đến những đặc điểm tâm sinh lí và các cấu trúc tư duy của từng người Đó là chiến lược, phương pháp, thủ pháp dạy của thầy giáo sao cho phù hợp với chiến lược, phương pháp, thủ pháp của học trò Việc dạy phải xuất phát từ người học, vì người học, phải đáp ứng được những yêu cầu của người học cũng như của xã hội Tích cực ở đây

là tích cực hoá hoạt động ở cả hai chủ thể người dạy và người học Chính vì thế, việc sắp xếp các nội dung học tập, phương pháp và mục tiêu dạy học phải thực hiện theo cách tăng cường tính chủ động, sáng tạo, rèn luyện kĩ năng tự học ở người học, tạo điều kiện cho người dạy có thể thực hiện được vai trò tổ chức, dẫn dắt các hoạt động học tập ở người học

Dạy học theo hướng tích cực không phải là một phương pháp cụ thể, đặt ngang tầm với các phương pháp dạy học đã có Đó là một tư tưởng, một quan điểm giáo dục chi phối tất cả các yếu tố của quá trình dạy học như: Mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức, đánh giá, hiệu quả

Nếu thực hiện dạy học theo hướng tích cực thì sẽ mang lại hiệu quả trong giáo dục Nhiệm vụ truyền thống trước đây của người giáo viên là chuyển giao thông tin, nay được điều chỉnh và mở rộng thành một nhiệm vụ tạo các điều kiện học tập và hỗ trợ quá trình học tập của học sinh Học sinh được thách thức tham gia một cách tích cực trong xây dựng sự hiểu biết và quan niệm của hoạt động học( tự suy nghĩ và tìm hiểu bên cạnh việc chăm chú nghe giảng, làm bài tập và ghi nhớ thông tin) Bản chất của dạy học theo hướng tích cực nằm trong khái niệm học như một quá trình tích cực và kiến tạo, thông qua đó người học xây dựng mối liên hệ giữa thông tin mới và những kiến thức, kĩ năng sẵn có

Trang 15

Điều này có thể đạt được thông qua rất nhiều các phương pháp dạy và các hoạt động học tập khác nhau, bao gồm các chiến lược và công cụ dạy học truyền thống cũng như các chiến lược và công cụ đổi mới Sự lựa chọn một phương pháp hay hoạt động cụ thể phụ thuộc vào các mục tiêu cụ thể và các kết quả mong muốn trong một nội dung bài học cụ thể.

Những đặc trưng của dạy học theo hướng tích cực là: Dạy học thông qua

tổ chức các hoạt động của học sinh ; dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học; tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác; kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò

Một số phương pháp dạy học tích cực cần được phát triển ở trường THPT là: Vấn đáp tìm tòi; dạy và học phát hiện và giải quyết vấn đề; dạy và học hợp tác trong nhóm nhỏ; dạy học theo dự án

b Quan điểm dạy học Ngữ văn THPT theo hướng tích cực

Trong quá trình dạy học nói chung và dạy học Ngữ văn nói riêng, tích cực

và tích hợp là hai quan điểm chi phối toàn bộ các yếu tố của quá trình này Mặc

dù mỗi quan điểm có những đặc điểm và yêu cầu riêng song chúng lại có mối quan hệ gắn bó, hỗ trợ nhau, cùng thực hiện mục tiêu chung là đào tạo ra những con người năng động, sáng tạo, có khả năng giải quyết những vấn đề do thực tế đặt ra

Chính vì thế, mặc dù chương trình và SGK Ngữ văn THPT hiện nay được biên soạn theo nguyên tắc tích hợp Nhưng trong quá trình thực hiện tích hợp, vai trò của phương pháp của dạy học theo hướng tích cực lại càng được đề cao Bởi vì xu hướng tích hợp không chỉ nhằm mục đích rút ngắn thời lượng trình bày các tri thức mà quan trọng hơn là tập dượt cho học sinh vận dụng tổng hợp các tri thức vào thực tiễn đời sống Trong giáo dục, chương trình được xây dựng theo quan điểm tích hợp trước hết phải dựa trên quan điểm giáo dục nhằm vào việc phát triển năng lực người học Theo quan điểm này “chương trình Ngữ văn tạo điều kiện để học sinh hoà nhập một cách chủ động, tích cực hơn với môi trường

Trang 16

của các em đang học tập, với xã hội tương lai khi các em ra trường”[ 7] Do vậy, một trong những điểm mới của chương trình Ngữ văn 10 mà đã kế thừa từ Ngữ văn THCS là đưa một số văn bản nhật dụng vào giảng dạy Đây là những văn bản rất gần gũi và thường gặp trong cuộc sống hằng ngày, học các văn bản này học sinh có cơ hội và khả năng phân tích, đánh giá, sử dụng các văn bản nhật dụng khác trong cuộc sống

Chương trình và SGK Ngữ văn THPT coi trọng việc rèn luyện và nâng cao các kĩ năng quan sát, nghe, nói, đọc, viết (chú trọng nhiều hơn đến nói và viết) là mục tiêu và cũng là căn cứ để gắn bó việc đọc hiểu văn bản với nội dung Làm văn trong chương trình, SGK Ngữ văn THPT Các nội dung Làm văn được đến với học sinh qua con đường qui nạp và thực hành vận dụng: Từ phân tích ngữ liệu rút ra những kiến thức, kĩ năng cần ghi nhớ và quay trở lại thực hành luyện tập củng cố và nâng cao kĩ năng sử dụng tiếng Việt gắn với những tình huống giao tiếp thông dụng và gần gũi với đa số học sinh lứa tuổi THPT Các ngữ liệu để dạy Làm văn phần lớn được lấy từ các văn bản Đọc hiểu

Phương hướng chủ đạo để đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn bậc THPT là chuyển trọng tâm của hoạt động dạy từ thầy sang trò Quán triệt tinh thần lấy học sinh làm trung tâm Mọi hoạt động trong giờ học Ngữ văn đều nhằm phát huy tính tích cực chủ động của người học Khâu then chốt của quá trình dạy học này chính là việc tổ chức cho học sinh hoạt động tự phát hiện, tự chiếm lĩnh tri thức ngữ văn và hình thành các kĩ năng, kĩ xảo cần thiết (đây cũng chính là nhiệm vụ của quan điểm dạy học theo hướng tích cực)

Một quan điểm cần được quán triệt là thực hiện dạy học theo hướng tích cực không có nghĩa là gạt bỏ các phương pháp truyền thống mà phải vận dụng một cách hiệu quả các phương pháp dạy học hiện có theo quan điểm dạy học tích cực kết hợp với các phương pháp hiện đại Trong hệ thống các phương pháp dạy học Ngữ văn được đào tạo trong nhà trường sư phạm trước đây cũng đã có nhiều phương pháp mang tính tích cực, ngay cả phương pháp thuyết trình cũng sẽ

Trang 17

mang lại tính tích cực nếu người giáo viên văn biết sử dụng đúng lúc, đúng chỗ với mức độ phù hợp Những đổi mới trên của chương trình và SGK Ngữ văn 10

đã chi phối trực tiếp đến phương pháp dạy học của người giáo viên Trước hết là

sự chú trọng đến việc tích hợp các nội dung kiến thức, kĩ năng với nhau trong từng hoạt động dạy học để hình thành và phát triển tốt các năng lực đọc văn và làm văn cho học sinh Sau đó là cách thức dạy học theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học Mục đích của việc dạy học Ngữ văn đã có sự thay đổi theo định hướng người học được thực sự hoạt động (tìm tòi, suy nghĩ, nghe nói, đọc viết…) dưới sự hướng dẫn của giáo viên chứ không thuần tuý chỉ là thụ động tiếp nhận những thông tin áp đặt từ phía người thầy Giáo viên đóng vai trò

là người tổ chức, hướng dẫn chứ không phải là người làm thay, nói hộ các em Giờ học Ngữ văn là giờ học được tiến hành theo phương thức đối thoại, trao đổi

và chia sẻ kinh nghiệm giữa giáo viên với học sinh và giữa học sinh với nhau Cần hạn chế lối giảng giải, trong đó các hoạt động của giáo viên (đọc, phân tích, làm mẫu, ghi bảng…) chiếm vai trò chỉ đạo Vì vậy, có thể nói rằng, khâu đột phá về chất lượng đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn ở trường THPT là bồi dưỡng năng lực thực hành nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên Trước hết đội ngũ giáo viên phải nhận thức việc đổi mới phương pháp dạy học bộ môn thường xuyên là lẽ sống, là trách nhiệm, lương tâm và danh dự của người thầy

Đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn nếu dừng lại ở những nội dung dạy học lí luận bộ môn, những quan niệm, nguyên tắc, yêu cầu, phương pháp … thì không thể đổi mới lâu dài và triệt để Đổi mới phương pháp dạy học phải gắn liền với đổi mới về nội dung Đối với giáo viên trung học phổ thông, đó là cách hiểu mới về môn học, về bản chất khoa học và nghệ thuật của văn chương Yêu cầu nắm vững kiến thức cơ bản về Ngữ văn vẫn là một trong những nhân tố quan trọng về tiềm năng của người giáo viên trong quá trình thực hiện đổi mới phương pháp dạy học

Trang 18

Một điểm nữa là, muốn dạy học Ngữ văn theo hướng tích cực có hiệu quả lâu dài cần phải xem trọng quan điểm đồng bộ Từ đổi mới mục tiêu đào tạo, chương trình, sách giáo khoa đến nội dung và phương pháp, từ người lãnh đạo quản lí giáo dục các cấp cho đến giáo viên và học sinh phải đổi mới nhận thức, đổi mới hoạt động (quản lí dạy, học) Phải kết hợp đổi mới nghiên cứu lí luận sâu, toàn diện, kết hợp với vận dụng, thực nghiệm kĩ lưỡng và lâu dài Tổ chức hoạt động đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn cần phải kết hợp với đôn đốc, theo dõi, đánh giá nghiêm túc, công phu, khoa học thực sự.

1.1.2 Dạy học tích hợp và tích cực trong phần Tiếng Việt

1.1.2.1 Dạy học tích hợp trong phần Tiếng Việt

Tiếng việt là một phần trong chương trình và SGK Ngữ văn 10, cho nên

nó cũng vận dụng quan điểm tích hợp trong quá trình đổi mới Trên cơ sở lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc xây dựng chương trình và SGK THPT, tính tích hợp của phần Tiếng Việt được thể hiện như sau:

Tích hợp theo chiều dọc: Là tích hợp một đơn vị kiến thức và kĩ năng với những kiến thức và kĩ năng đã được học trước đó theo nguyên tắc đồng trục Cụ thể là kiến thức, kĩ năng ở bài học lớp sau cao hơn và sâu hơn lớp trước Về cơ bản, kiến thức đã học đầy đủ ở THCS, lên THPT học sinh chỉ còn học về các phong cách ngôn ngữ để hỗ trợ cho việc làm văn và học một số kiến thức về tiếng Việt, như lịch sử tiếng Việt, loại hình tiếng Việt Ngoài ra phần thời lượng còn lại dùng vào các bài tập sử dụng tiếng Việt Như vậy, chương trình không còn là một giáo trình ngữ học thu nhỏ như trước đây Giáo viên THPT cần tìm hiểu chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn THCS mới có thể dạy tốt sách giáo khoa THPT

Tích hợp theo chiều ngang: Là tích hợp kiến thức Tiếng Việt với các mảng kiến thức về văn học, thiên nhiên, con người, xã hội… theo nguyên tắc đồng tâm dựa trên việc lấy các kiểu văn bản để định trục đồng qui của chương trình Tiếng Việt là công cụ hữu hiệu và phương tiện đắc lực để giải mã tác phẩm và lập mã

Trang 19

mới cho Làm văn Tri thức và kĩ năng sử dụng tiếng Việt được xem là phần mang đặc tính trung gian nổi bật nhất, nó càng thấm vào nhận thức của học sinh bao nhiêu thì họ càng có cơ sở khám phá, cảm thụ được đầy đủ nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn học được tác giả xây dựng từ năng lực vận dụng ngôn từ.

Vì là một phần của môn Ngữ văn nên trong khi thực hiện tích hợp cũng Tiếng Việt cùng một lúc phải thực hiện hai nhiệm vụ: Vừa phải đảm bảo tính tích hợp theo hệ thống ngang song song với các phần Văn học và Làm văn vừa phải đảm bảo cung cấp kiến thức theo hệ thống dọc của riêng phần Tiếng Việt Chính vì thế mà hệ thống bài học Tiếng Việt được chia thành các nhóm bài cụ thể (nhóm bài về Phong cách ngôn ngữ, nhóm bài về Hoạt động giao tiếp, bài về Lịch sử tiếng Việt, nhóm bài về Luyện tập thực hành sử dụng tiếng Việt)

Quan điểm dạy học tích hợp trong phần Tiếng Việt đã chỉ đạo cho việc tổ chức dạy học nhóm bài luyện tập từ ngữ Cụ thể là, dạy luyện tập từ ngữ phải gắn với phần Đọc hiểu và Làm văn Giờ luyện tập từ ngữ phải cố gắng chọn các ngữ liệu có trong phần Đọc hiểu Ngược lại, những hiểu biết về từ ngữ, đặc biệt

là những kĩ năng sử dụng từ ngữ sẽ được vận dụng tối đa khi học Đọc hiểu văn bản và Làm văn Chẳng hạn, khi dạy bài “ Luyện tập về nghĩa của từ” chúng ta phải trích được các ngữ liệu từ các bài Đọc hiểu (các bài ca dao, tục ngữ hay trong Truyện Kiều ) Từ đó cho học sinh vận dụng những hiểu biết về từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng âm vào tìm hiểu các văn bản Đặc biệt, những năng lực từ ngữ đó được thể hiện rõ nhất trong bài viết của các em Như vậy, giờ dạy học luyện tập từ ngữ mới đạt được hiệu quả cao

1.1.2.2 Dạy học tích cực trong phần Tiếng Việt

Cũng vì là một bộ phận của môn Ngữ văn, nên Tiếng Việt cũng đứng trước yêu cầu đổi mới về phương pháp dạy học theo hướng tích cực Có thể hiểu tích cực trong giờ học Tiếng Việt chính là sự tích cực hoá của cả hai chủ thể người dạy và người học nhằm hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động ở học sinh

Trang 20

Trong các giờ học Tiếng Việt, học sinh cần được giáo viên hướng vào nhiều hoạt động khác nhau Song hai hoạt động được quan tâm nhất là hoạt động chiếm lĩnh tri thức mới và hoạt động sử dụng tiếng Việt vào thực tế giao tiếp Vấn đề quan trọng trong dạy học Tiếng Việt là cần phải tổ chức cho học sinh tận dụng tiềm năng tư duy, tiềm năng ngôn ngữ của mình để độc lập và chủ động chiếm lĩnh tri thức mà các nhà ngôn ngữ đã phát hiện Tổ chức quá trình này như thế nào

để chuyển tri thức từ ngoài vào trong, biến tri thức chung thành “tài sản riêng” của mỗi học sinh, góp phần rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh chính là nhiệm vụ quan trọng của quá trình dạy học Tiếng Việt

Đối với quá trình dạy học Tiếng Việt theo hướng tích cực thì việc đa dạng hóa các hoạt động của học sinh dưới sự tổ chức, dẫn dắt, giao nhiệm vụ của giáo viên, phù hợp với trình độ, năng lực của từng học sinh chính là con đường tối ưu

để đạt tới hiệu quả dạy học Muốn làm được điều này, trước hết, người giáo viên một mặt phải nắm vững tri thức tiếng Việt, mặt khác phải nắm vững bản chất của quá trình hình thành khái niệm và qui tắc mới, phải nắm được bản chất và quy luật tiếng Việt mà các nhà nghiên cứu đã tiến hành Đồng thời, người giáo viên phải nhận thức rõ vai trò định hướng và chỉ đạo của mình trong quá trình dạy học Phải tìm mọi cách để phát huy cao nhất tiềm năng của học sinh, phải kích thích học sinh say mê học tập, tự đào sâu, phát triển, mở rộng kiến thức, giúp học sinh không chỉ nắm kiến thức trong bài giảng mà còn cả những kiến thức có ích khác ngoài bài giảng Có như vậy, quá trình dạy học sẽ không chỉ dễ hiểu, dễ nhớ mà cao hơn là rèn cho học sinh năng lực làm việc độc lập, sáng tạo, phát huy tối đa khả năng của cá nhân

Như vậy, yêu cầu của dạy học tích cực trong dạy học Tiếng Việt là phải đi từ việc huy động các ngữ liệu để tìm ra dấu hiệu cơ bản của khái niệm, các yếu tố nội dung của qui tắc, trên cơ sở đó khái quát hoá thành khái niệm và qui tắc mới tiến tới hoàn thành nhiệm vụ nhận thức cho học sinh Xây dựng mô hình dạy học theo qui trình dạy học nêu vấn đề: Tạo tình huống có vấn đề - phát hiện và giải bài toán

có vấn đề - hoàn thành nhiệm vụ nhận thức là cách giải quyết có hiệu quả rõ rệt nhằm tiến đến qui trình hoạt động nhận thức tiếng Việt cho học sinh

Trang 21

Trong việc thực hiện phát huy tính tích cực trong quá trình dạy học, bản thân phần Tiếng Việt mang một thuận lợi lớn cho sự chủ động tích cực của học sinh Vì đó là tiếng mẹ đẻ của các em - thứ tiếng mà các em đã được làm quen và

sử dụng từ khi bắt đầu tập nói

“ Với vốn từ ngữ sẵn có từ trước tuổi tới trường cùng với những tri thức khoa học về tiếng Việt đã được tiếp nhận từ lớp học trước, học sinh có thể chủ động trong việc tự tìm hiểu bài Do đó, có một số vấn đề cần được quán triệt trong quá trình dạy học Tiếng Việt ở trương phổ thông là:

- Tất cả các đối tượng học sinh (từ yếu kém đến khá giỏi) đều phải được chú ý phát huy tiềm năng và hoạt động tư duy tích cực nhằm chiếm lĩnh tri thức

và hình thành kĩ năng giao tiếp bằng tiếng Việt

- Năng lực và vốn ngôn ngữ của học sinh cần được phát huy tối đa trong giờ học Tiếng Việt

- Học sinh được hướng dẫn động nhận thức, hoạt động luyện kĩ năng

sử dụng tiếng Việt theo một qui trình có thể kiểm soát được mà giáo viên

Trang 22

Nhằm đa dạng hoá hoạt động nhận thức và gây hứng thú cho học sinh, giáo viên có thể sử dụng mô hình dạy học nêu vấn đề, sử dụng graph… Điều cốt yếu

ở đây là giáo viên tìm ra cách hướng dẫn học sinh giải bài toán và tự rút ra nội dung tri thức chứ không làm thay cho các em

Trong chương trình và SGK Ngữ văn 10, nhóm bài luyện tập từ ngữ tiếng Việt chiếm một dung lượng và thời lượng đáng kể Do vậy nó cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của quan điểm dạy học theo hướng tích cực Điều đó thể hiện rõ trong mục tiêu, nội dung của từng tiết học, bài học cụ thể

Nhóm bài này nhằm mục đích nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt cho học sinh, phục vụ trực tiếp cho việc hiểu văn và làm văn trong chương trình Từ

đó các em hiểu được tầm quan trọng của việc trau dồi và phát triển vốn ngôn ngữ của bản thân theo các yêu cầu chung về sử dụng tiếng Việt, biết vận dụng những hiểu biết vào thực tiễn nghe, nói, đọc viết và cả đọc tiếng Việt Để làm được điều

đó, hơn lúc nào hết cần phải vận dụng quan điểm dạy học tích cực vào quá trình dạy học nhóm bài luyện tập nói chung và dạy học luyện tập từ ngữ nói riêng Cần phải tổ chức việc luyện tập sao cho phát huy hết năng lực của học sinh Chúng ta phải tạo điều kiện cho học sinh được hoạt động nhiều, hoạt động tích cực, chủ động và mang lại hiệu quả rõ rệt trong giờ học Tổ chức giờ luyện tập sao cho mọi học sinh được tham gia vào học tập Muốn vậy, hệ thống bài tập phải được xây dựng cho nhiều đối tượng, nhiều học sinh, kết hợp được giữa luyện tập cá nhân và luyện tập nhóm nhỏ, luyện tập cá nhân với luyện tập tập thể Phải có hoạt động trao đổi, toạ đàm giữa giáo viên và học sinh

Qua giờ học, các em có thể phát huy tối đa những tiềm năng về từ ngữ tiếng Việt vốn có Có những khả năng sử dụng từ ngữ nhằm đạt hiệu quả cao nhất Đó cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng mà phần Tiếng Việt trong chương trình THPT cần thực hiện và phải thực hiện tốt

Trang 23

1.2 NGHĨA CỦA TỪ TRONG HỆ THỐNG NGÔN NGỮ VÀ TRONG HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP

1.2.1 Nghĩa của từ trong hệ thống ngôn ngữ

1.2.1.1 Bản chất tín hiệu ngôn ngữ của từ

Từ và các ngữ cố định là đơn vị ngôn ngữ với tư cách là một hệ thống tín

hiệu Trong hệ thống ngôn ngữ, từ là đơn vị tín hiệu đích thực Bản chất tín hiệu

là tạo điều kiện cho ngôn ngữ trở thành công cụ giao tiếp của xã hội loài người

Theo các nhà ngôn ngữ, từ là đơn vị hiển nhiên, thực tại có hai mặt hình thức và

nội dung dùng để tạo câu Đó là đơn vị mà với chúng ngôn ngữ thực hiện chức năng giao tiếp và thông báo thông qua thao tác kết hợp chúng với nhau Vì là một công cụ giao tiếp nên ngôn ngữ phải được xem xét dưới góc độ tín hiệu học

vì bản chất tín hiệu là nhân tố thứ nhất quyết định tính đặc thù của các đơn vị và

lí giải quy tắc hoạt động của ngôn ngữ

Với tư cách là một tín hiệu, từ gồm hai mặt: Cái được biểu đạt và cái biểu

đạt Trong đó cái biểu đạt là hình thức âm thanh, vỏ vật chất của từ, còn cái được

biểu đạt là nội dung ý nghĩa mà vỏ âm thanh chứa đựng Hai mặt này luôn gắn

bó với nhau như hai mặt của một tờ giấy Không thể nói mặt nào là quan trọng hơn bởi “tín hiệu ngôn ngữ được đặc trưng bởi sự gắn bó, qui định lẫn nhau giữa ngoại biểu và nội dung”[1]

Vỏ âm thanh của từ là quan trọng Bởi không có nó thì từ không tồn tại

được và nghĩa cũng không có Có vỏ âm thanh thì nội dung muốn diễn đạt mới

được thể hiện và truyền đạt cho người khác Nhưng nghĩa của từ là nội dung, nếu không có nội dung thì âm chỉ là cái vỏ mà thôi Do đó, khi dạy từ và dạy nghĩa của từ, chúng ta phải dạy học sinh nắm được âm gắn với nghĩa vì nghĩa nằm

trong âm và âm thể hiện nghĩa Hay nói một cách khái quát thì những tri thức về

cấu tạo từ tiếng Việt và quan hệ giữa chúng với nghĩa của từ, những hiểu biết về

ngữ nghĩa từ tiếng Việt là cơ sở khoa học chính yếu tạo nên nội dung dạy học từ ngữ trong chương trình THPT

Trang 24

1.2.1.2 Nghĩa của từ là một cấu trúc

Nghĩa của từ là một vấn đề phức tạp, không thể nhận diện và hiểu nó một

cách dễ dàng Vì thế đã có nhiều cách hiểu khác nhau về nghĩa của từ: Nghĩa

của từ là “cái sự vật, hoạt động, tính chất, số lượng…v.v mà từ biểu thị”[ 22] ;

“Nghĩa của từ về phương diện tâm lí (…) là thuộc tính thiên hướng của kí hiệu

mà với thuộc tính thiên hướng đó các quá trình tâm lí diễn ra ở người nghe là phản ứng được thay đổi phụ thuộc vào các hoàn cảnh đi kèm, còn kích thích là

sự tri giác kí hiệu bằng thính giác” (CH Stevenson); “Nghĩa của từ là cái xuất hiện (hay được gợi lên) trong trí óc mọi người khi nghe thấy (hoặc đọc) từ ấy” [ 29, tr 120]

Nếu xét trong mối tương quan với nhiều phương diện khác của từ thì ý nghĩa của từ chính là nội dung tinh thần mà từ đó gợi ra Ý nghĩa của từ vừa là cái riêng của từng từ vừa là cái chung cho từ cùng loại Nắm được cái chung, cái riêng trong ý nghĩa của từ thì mới thực sự hiểu từ, thực sự hiểu được cái tinh tế trong từ và mới hiểu được những đặc sắc của ngôn ngữ ở phương diện nội dung.

Từ là tín hiệu ngôn ngữ và đảm nhiệm chức năng tín hiệu học nhất định

Mặt khác, ý nghĩa học ngày nay cho thấy rằng cái là nghĩa của từ không phải là

một khối thuần nhất mà là tập hợp các thành phần nhất định Tuỳ theo chức năng

mà từ đảm nhiệm, các thành phần ý nghĩa của từ được tách ra

Từ nào cũng có nghĩa, nghĩa của từ là sự kết hợp chặt chẽ giữa nghĩa từ

vựng và nghĩa ngữ pháp Nghĩa của từ vựng là ý nghĩa cụ thể riêng cho từng từ, chỉ ra nội dung cụ thể của một từ này với từ khác Còn ý nghĩa ngữ pháp là ý nghĩa chung cho từng loại từ, có hình thức biểu thị nhất định, nó ứng với chức năng ngữ pháp của từ Theo Đỗ Hữu Châu, ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp được phân biệt bởi hai tiêu chí: Tính đồng loạt và tính bắt buộc của ngoại biểu

Ý nghĩa ngữ pháp có tính đồng loạt chung cho từng từ cùng loại, ý nghĩa từ vựng

có tính đồng loạt riêng cho từng từ Ý nghĩa ngữ pháp phải được diễn đạt bởi những hình thức ngữ pháp cũng có tính đồng loại Còn ý nghĩa từ vựng không diễn đạt bởi những hình thức chung

Trang 25

Hai loại nghĩa này gắn bó thành một chỉnh thể: Ý nghĩa ngữ pháp có chức năng tổ chức câu, nhờ chúng mà các từ liên kết lại thành thông điệp Ý nghĩa từ vựng có chức năng đưa chính hiểu biết về sự vật, hiện tượng thành các đơn vị ngữ nghĩa để tạo ra nội dung miêu tả cụ thể của câu Ý nghĩa từ vựng của từ bao gồm các thành phần ý nghĩa cơ bản:

Ý nghĩa biểu vật: Là nghĩa ứng với sự vật hiện tượng, trạng thái tính chất

được từ gọi tên Ý nghĩa biểu vật qui định phạm vi sự vật mà từ dùng để biểu

hiện Có những từ chỉ có ý nghĩa biểu vật hẹp, chỉ ứng với một sự vật hiện tượng duy nhất trong thực tế Ví dụ, từ “gật ” chỉ hành động của đầu người Nhưng có những từ lại có tính khái quát lớn bao hàm một phạm vi sự vật to lớn, ví dụ như

từ “chỗ” chỉ mọi nơi mọi chốn Có những từ có nhiều nghĩa biểu vật, tức là từ đó

ứng với nhiều loại sự vật hiện tượng Chẳng hạn từ đầu của tiếng Việt trước hết

chỉ bộ phận của cơ thể người hoặc động vật (bộ phận ở trên cùng hay trước hết

của cơ thể, thường chứa bộ não có chức năng điều khiển cơ thể) Từ đầu còn chỉ

bộ phận trước hết có chức năng điều khiển của vật (đầu máy, đầu tàu hoả…), chỉ

bộ phận ở vị trí trước hết của vật thể (đầu nhà, đầu bàn, đầu ngón tay…), chỉ vị trí trước hết trong không gian (đầu làng, đầu sông, đầu chợ…), hoặc thời gian (đầu tháng, đầu mùa, đầu năm…)

Nghĩa biểu vật là thành phần nghĩa giúp chúng ta hiểu từ một cách chính xác Song, không nên hiểu lầm ý nghĩa biểu vật trùng hoàn toàn với sự vật, hiện tượng, tính chất… trong thực tế khách quan Bởi ý nghĩa biểu vật là sự phản ánh

sự vật, hiện tượng trong thực tế vào ngôn ngữ Đó là những mẩu, những mảnh, những đoạn cắt của thực tế nhưng không hoàn toàn trùng với thực tế Ý nghĩa

biểu vật tuy bắt nguồn từ sự vật, hiện tượng khách quan, song do chịu sự tác động qua lại của các từ khác, do chịu sự khái quát hoá và chịu tác động của những qui tắc cấu tạo từ, cho nên trở thành sự kiện ngôn ngữ, chứ không còn là những sự kiện ngoài ngôn ngữ nữa Vì thế, để hiểu từ, việc nắm được các ý nghĩa biểu vật của nó là cần thiết (Tuy nhiên không nên hiểu một cách đơn giản

Trang 26

về chúng: Không phải cứ nắm được sự vật, hiện tượng là nắm được ý nghĩa biểu vật) Nghĩa biểu vật là cơ sở để xác định phương pháp giải nghĩa của từ: Sử dụng phương pháp trực quan và các phương pháp khác để đi đến tìm hiểu các khía cạnh ý nghĩa của từ Nắm được ý nghĩa biểu vật, chúng ta nắm được khả năng kết hợp cũng như để phát hiện các biện pháp tu từ

Ý nghĩa biểu niệm: Sự vật hiện tượng trong thực tế khách quan được phản

ánh vào ngôn ngữ ý nghĩa biểu vật và từ có ý nghĩa biểu vật sẽ có ý nghĩa biểu niệm tương ứng Ý nghĩa biểu niệm sẽ là những hiểu biết mà từ gợi ra về các sự vật, hiện tượng, hoạt động, trạng thái, tính chất Những hiểu biết: Thuộc tính, đối tượng, tổng hợp các tính đó tạo thành nội dung của khái niệm Mỗi thuộc tính đó được phản ánh trong nghĩa biểu niệm của từ, thành một nét nghĩa Và mỗi nét

nghĩa như vậy có thể có trong ý nghĩa biểu niệm của nhiều từ Ví dụ, các từ bàn,

ghế, giường, tủ… có chung nét nghĩa “đồ dùng” nhưng giữa chúng lại có nét

nghĩa riêng biệt

Một từ cũng có thể có nhiều nghĩa biểu niệm nếu nó ứng với nhiều cấu trúc

biểu niệm Ví dụ từ chạy có các nghĩa biểu niệm khác nhau như sau:

+ Chạy: Hoạt động, tự dời chỗ, bằng chân, của người hay động vật, ở trên

mặt đất, với tốc độ cao( mỗi nét nghĩa được tách ra bằng dấu phảy)

+ Chạy: Hoạt động, dời chỗ một vật khác, với tốc độ cao.

+ Chạy: Hoạt động tìm kiếm người hay vật cần thiết, một cách khẩn trương,

vất vả

+ Chạy: Hoạt động trốn tránh điều nguy hiểm, một cách khẩn trương.

Cấu trúc biểu niệm là tập hợp các nét nghĩa trong một từ, nhưng tập hợp này có qui tắc và giữ chúng có quan hệ với nhau Muốn phát hiện ra các nét nghĩa của từ phải áp dụng nguyên tắc hệ thống, phải tìm ra nét nghĩa chung, đồng nhất trong những từ sau đó mới đến lập các từ có các nét nghĩa chung đó với nhau để phát hiện ra nét nghĩa cụ thể riêng biệt

Trang 27

Nghĩa biểu cảm (còn gọi là thành phần tình thái): Là những ý nghĩa biểu

thị đánh giá (to, nhỏ, mạnh, yếu), thái độ (trọng, khinh, yêu, ghét), cảm xúc (dễ chịu, sợ hãi, khó chịu) mà từ gợi ra cho người nói và người nghe Sự vật hiện tượng được biểu thị trong ngôn ngữ đều là những sự vật, hiện tượng được nhận thức, được thể hiện trong cuộc sống Vì thế, cùng tên gọi con người thường gửi kèm cách đánh giá của mình và nhiều khi chính mình lại không biết điều thú vị đó

Thành phần nghĩa tình thái có thể là một nét nghĩa trong cấu trúc biểu niệm của từ Ví dụ so sánh các từ sau:

+ Cho: Hoạt động, mang vật sở hữu của mình để người khác dùng, mà

không cần trả lại hoặc đổi bằng vật khác, với sắc thái tình cảm trung hoà (bình thường)

+ Biếu: Nghĩa như từ cho + sắc thái tình cảm kính trọng, quý mến.

+ Thí: Nghĩa như từ cho + sắc thái khinh miệt.

Nhưng có những từ thiên về nghĩa tình thái, mà không mang nghĩa biểu vật

và nghĩa biểu niệm Đó là từ tình thái

Ví dụ: Ối là một tình thái từ không có nghĩa biểu vật và biểu niệm Nó là từ

làm dấu hiệu cho một cảm xúc (ngạc nhiên, sửng sốt, vui sướng hoặc đau khổ…)

Trong văn chương nhiều khi nói về một cái gì không quan trọng bằng nói

về cái đó với tình cảm thái độ như thế nào Văn chương là nơi thổ lộ nỗi lòng, bộc lộ thái độ tình cảm của con người Vì vậy, khi đọc tác phẩm văn học phải chú ý đến lớp nghĩa này của từ

Ba thành phần nghĩa trên đây thường được quan niệm là nghĩa từ vựng của

từ, để phân biệt với thành phần nghĩa ngữ pháp của từ

Ý nghĩa ngữ pháp: Từ nào cũng có nghĩa ngữ pháp Trước hết, đó là nghĩa

khái quát chung cho tất cả các từ thuộc cùng một từ loại, tiểu loại Nghĩa khái quát này dựa trên nét nghĩa phạm trù trong cấu trúc biểu niệm của từ Ví dụ:

Trang 28

nghĩa sự vật ở danh từ, nghĩa hoạt động – trạng thái ở động từ, nghĩa đặc điểm tính chất ở tính từ, nghĩa số lượng ở số từ… Hoặc các nghĩa ngữ pháp của các tiểu loại, như các nghĩa ở động từ chỉ hoạt động tác động, chỉ hoạt động sai khiến, chỉ hoạt động biến hoá, chỉ hoạt động ban phát, chỉ hoạt động tri giác, suy nghĩ, nói năng…

Có những từ chỉ có nghĩa ngữ pháp Đó là các hư từ Chẳng hạn các quan hệ

từ là những từ làm dấu hiệu cho các quan hệ ngữ pháp: Quan hệ nguyên nhân

(vì, bởi, tại, do); quan hệ sở hữu (của); quan hệ đối lập (nhưng, song, mà); quan

hệ giả thiết điều kiện (nếu, giá, hễ…).

Có những từ chuyên là thành tố phụ để làm dấu hiệu cho một số ý nghĩa bổ

sung: Ý nghĩa đồng nhất (đều, cũng, vẫn, cứ, còn, lại…), ý nghĩa phủ định ( không, chưa, chẳng…), ý nghĩa mức độ (rất, quá, lắm, vô cùng, cực kì)…Đó là

những phụ từ

Nghĩa ngữ pháp là thành phần nghĩa luôn luôn có mặt trong từ, kể cả thực

từ và hư từ Tất cả các thành phần ý nghĩa (nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu cảm, nghĩa ngữ pháp) họp thành bình diện nghĩa của từ, các thành phần nghĩa đan quyện vào nhau, chế định lẫn nhau chứ không tồn tại một cách biệt lập và không phải có một đường ranh giới rõ ràng, dứt khoát Ngay cả sự phân biệt nghĩa từ vựng với nghĩa ngữ pháp cũng chỉ là tương đối, trong nhiều trường hợp có thể thấy rõ: Nghĩa ngữ pháp có cơ sở ngay trong nghĩa từ vựng của từ Vì thế, khi dạy ý nghĩa của từ chúng ta không chỉ dạy ý nghĩa định danh

mà phải vươn tới dạy cho học sinh nắm được tri thức mà loài người đã nhận thức, lồng vào đó khám phá ra sắc thái tình cảm khác nhau trong các từ Mặt khác, chúng ta không chỉ dạy từ với ý nghĩa hoàn toàn xác định, được cộng đồng ngôn ngữ thừa nhận như một quy ước chung mà phải dạy từ trong hoạt động giao

tiếp Bởi chính trong hoạt động giao tiếp, ở từ thường diễn ra quá trình biến đổi

và chuyển hoá ý nghĩa với các mức độ khác nhau Những sự biến đổi, chuyển hoá có thể dẫn đến sự hình thành các nghĩa mới Các nghĩa mới này nếu hình thành theo đúng qui luật, nếu đáp ứng nhu cầu tư duy và giao tiếp của xã hội thì

Trang 29

càng ngày càng được xã hội chấp nhận ở diện rộng và trở thành một nghĩa ổn định của từ Sự vận động của ngôn ngữ nói chung và bình diện nghĩa của từ nói riêng là thường xuyên, liên tục, ở mọi nơi, mọi lúc.

Ngoài sự phân biệt các thành phần nghĩa như trên, chúng ta có thể phân biệt các nét nghĩa theo giao tiếp của chúng với sự thông báo: Nét nghĩa tiền giả định, nét nghĩa thông báo tường minh và nét nghĩa thông báo hàm ngôn

Nét nghĩa tiền giả định là nét nghĩa được dùng làm điều kiện tiên quyết cho các nét nghĩa khác Nét nghĩa tiền giả định không bị phủ định khi từ dùng trong các hoạt động phủ định, các nét nghĩa thông báo tường minh và hàm ngôn thì có thể có mặt hoặc bị loại trừ tuỳ thuộc vào từng văn cảnh cụ thể Ví dụ: từ “cao”

trong phát ngôn hàng cây này không cao chỉ nét nghĩa có số đo lớn hơn trung

bình bị loại trừ, còn nét nghĩa đặc điểm xét theo chiều thẳng đứng thì không bị mất đi Nét nghĩa thông báo có ý nghĩa thông báo trực tiếp, nét nghĩa này bị phủ định trong các hình thức phủ định

Việc nghiên cứu các thành phần ý nghĩa của từ có vai trò quan trọng đối với ngữ nghĩa học và đối với việc dạy luyện tập về nghĩa nghĩa của từ Chúng ta phải xác định các thành phần nghĩa của từ trong hệ thống từ vựng (nghĩa từ điển) và nghĩa trong văn cảnh, với thái độ, tình cảm và dụng ý nghệ thuật của tác giả Đồng thời phải giúp học sinh nắm được nghĩa của từ thì các em mới nắm được một cách thấu đáo về từ Trên cơ sở đó các em mới có thể vận dụng những kiến thức đó vào việc cảm thụ văn chương và sử dụng trong hoạt động giao tiếp Có như vậy, dạy nghĩa của từ mới có kết quả

1.2.1.3 Hiện tượng chuyển nghĩa của từ

Chúng ta biết rằng, ngôn ngữ luôn đứng trước sự đòi hỏi phải kịp thời sáng tạo ra những phương thức mới để biểu thị sự vật hiện tượng và những nhận thức mới trong cuộc sống, để thay thế cách diễn đạt cũ Những tên gọi đã quá sáo mòn cũ kĩ sẽ không còn khả năng gợi tả, bộc lộ cảm xúc và gây ấn tượng mạnh cho người nghe Vì thế cần phải thay đổi ý nghĩa từ sẵn có, thổi vào chúng một luồng sinh khí mới là biện pháp tiết kiệm, sống động, mang tính nhân dân đậm

đà, dễ dàng được chấp nhận Sự chuyển nghĩa của từ đã đáp ứng nhu cầu của

Trang 30

giao tiếp và sáng tạo thẩm mĩ Đây chính là phương thức tạo từ mới, là cách khai thác, phát triển tiềm năng của ngôn ngữ tốt nhất.

Sự chuyển nghĩa dẫn đến hiện tượng nhiều nghĩa của từ Tức là lúc đầu từ chỉ có một ý nghĩa biểu vật, sau một thời gian sử dụng nó thể thêm nghĩa mới Các nghĩa này được phân biệt thành nghĩa đen và nghĩa bóng, nghĩa gốc và nghĩa phái sinh, nghĩa của từ vựng và nghĩa tu từ Dù tên gọi như thế nào đi chăng nữa thì các nghĩa của từ luôn có quan hệ với nhau, gắn bó mật thiết với nhau và lập thành một hệ thống Mối quan hệ đó thể hiện ở chỗ nghĩa gốc của từ có một vài nét nghĩa được duy trì trong các nét nghĩa khác

Ví dụ, từ “ngọt” nghĩa gốc chỉ vị giác Nhưng nét nghĩa này được duy trì khi từ “ngọt” chỉ đặc điểm của lời nói và nét nghĩa nhẹ nhàng, dễ nghe, dễ làm xiêu lòng

Hiện tượng nhiều nghĩa có thể xảy ra với cả ý nghĩa biểu vật, biểu niệm và biểu cảm Đó là cơ sở giúp ta nắm được tính nhiều nghĩa của từ trong lời nói Khi xem xét từ trong văn bản chúng ta phải chú ý tới hiện tượng nhiều nghĩa của

từ Sự hiểu biết về tính đa nghĩa của từ giúp chúng ta phát hiện ra lớp từ đa nghĩa

- một lớp từ đặc sắc của ngôn ngữ nghệ thuật

Quá trình chuyển nghĩa có quan hệ với quá trình nhận thức Sự nhận thức

và sự gọi tên của con người thường dựa vào mối quan hệ của các sự vật, trong đó

có hai mối quan hệ đươc chú ý là quan hệ tương đồng (giống nhau) và quan hệ tương cận (gần nhau) Đây là sự chuyển nghĩa của từ dựa vào hai phương thức

ẩn dụ và hoán dụ Đó là những phương thức chuyển nghĩa phổ biến nhất của các ngôn ngữ trên thế giới

Ẩn dụ: Là phương thức chuyển nghĩa dựa vào mối quan hệ tương đồng

Con người đã nhận ra hoặc coi các sự vật nào đó có nét nghĩa giống nhau nên dùng tên gọi các sự vật, hiện tượng này để gọi tên cho sự vật hiện tượng kia Kết quả là cùng một từ (cùng một tên gọi) được dùng để biểu hiện các sự vật hiện tượng khác nhau nhưng có nét giống nhau

Trang 31

Hoán dụ: Là phương thức chuyển nghĩa dựa vào mối quan hệ tương cận

(gần nhau) Các sự vật có quan hệ gần gũi, tương cận nhau tuy không có gì giống nhau nhưng có thể gọi tên sự vật này sang sự vật khác

Nghĩa của từ và hiện tượng chuyển nghĩa của từ là nội dung quan trọng trong nhóm bài luyện tập từ ngữ ở lớp 10 và luận văn của chúng tôi Khi dạy luyện tập từ ngữ, chúng tôi chủ yếu là dạy luyện tập về hiện tượng chuyển nghĩa

của từ Cụ thể là luyện tập về các biện pháp tu từ ẩn dụ, hoán dụ; luyện tập về từ

đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng âm Chính vì thế, trong quá trình dạy học

chúng tôi phải giúp cho học sinh thấy được bản chất hiện tượng chuyển nghĩa của từ Hiện tượng này giúp cho quá trình biểu đạt của ngôn ngữ phong phú và sinh động, mang tính nghệ thuật Nó sẽ là cơ sở cho việc xác định nghĩa mới của

từ Từ những hiểu biết đó, học sinh có thể chủ động trong việc nắm và sử dụng nghĩa của từ

1.2.1.4 Hệ thống từ vựng có quan hệ về nghĩa

Hệ thống từ vựng là một hệ thống rất lớn và phức tạp Các từ trong hệ thống đó không tồn tại một cách cô lập mà chúng có liên hệ với nhau, thiết lập nên những quan hệ Giữa các từ có không ít những sự đồng nhất cả về nội dung

và hình thức Căn cứ vào cái chung đó người ta phân lập hệ thống từ vựng thành những hệ thống nhỏ hơn và từ đó phát hiện ra những quan hệ giữa các từ trong từ vựng Quan hệ ngữ nghĩa của từ vựng cũng vậy, ý nghĩa của từ được đặt vào các tiểu hệ thống con thích hợp và được gọi là một trường nghĩa Đó là một tập hợp từ đồng nhất nhau về ngữ nghĩa (căn cứ vào những nét nghĩa độc lập về mặt ngữ nghĩa của các từ ta chia trường nghĩa ra nhỏ hơn gọi là nhóm hay các miền, các lớp)

Sự phân lập này dẫn đến hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa của từ trong ngôn ngữ “Đồng nghĩa” là những từ có chung một hay một số nét nghĩa mà không có nét nghĩa trái ngược nhau Một từ có thể có nhiều nghĩa nên ta có thể

đi vào các trường nghĩa khác nhau Mức độ đồng nghĩa nhiều hay ít phụ thuộc vào số nét nghĩa trùng nhau nhiều hay ít Hiện tượng từ trái nghĩa thì ngược lại,

Trang 32

xảy ra giữa các từ có nét nghĩa trái ngược nhau Hiện tượng trái nghĩa cũng là hiện tượng xảy ra giữa các từ trong cùng một trường Đó là trạng thái lưỡng hoá của cùng một nét nghĩa.

Như vậy, từ vựng là một hệ thống lớn trong đó chứa đựng nhiều hệ thống nhỏ Các từ không tồn tại độc lập mà thành một hệ thống, thành nhóm Nghĩa của từ cũng vậy, không chỉ tồn tại riêng cho từng từ mà chúng tạo thành một hệ thống ngữ nghĩa, thành các trường nghĩa Vấn đề này có ý nghĩa quan trọng đối với việc dạy từ nói chung và dạy luyện tập về nghĩa của từ nói riêng Khi dạy luyện tập về nghĩa của từ, ta không dạy cho học sinh nghĩa của từ cô lập, đơn lẻ

mà phải đặt từ trong nhóm, theo trường nghĩa nhất định Phải cho học sinh thấy được mối quan hệ giữa các nghĩa ấy, bản chất của các hiện tượng chuyển nghĩa Trên cơ sở đó các em có thể hiểu và sử dụng nghĩa của từ một cách chính xác và đạt hiệu quả cao

1.2.2 Nghĩa của từ trong hoạt động giao tiếp

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp Trong cuộc sống có nhiều phương tiện giao tiếp như cử chỉ, điệu bộ, tín hiệu Nhưng có một phương tiện giao tiếp thuận lợi nhất là ngôn ngữ, “ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu nhất của xã hội loài người” [11, tr 17]

Tuy nhiên, ngôn ngữ chỉ có sức sống khi được dùng trong giao tiếp Nếu tách khỏi giao tiếp thì đó là ngôn ngữ chết Chỉ có tham gia vào thực hiện chức năng làm công cụ giao tiếp thì bản chất của hệ thống ngôn ngữ mới được thể hiện một cách tường minh Hơn nữa, một số ngôn ngữ lại mang thêm đặc điểm mới Qua đó ta thấy, vai trò của hoạt động giao tiếp đối với ngôn ngữ là rất quan trọng Đặc biệt, từ vựng là đơn vị không biến hoá về hình thức, nhưng khi tham gia vào hoạt động giao tiếp thì bản chất của từ lại càng thể hiện rõ hơn

Như ở phần trên, ta thấy từ là đơn vị ngôn ngữ sẵn có, tồn tại trong hệ thống ngôn ngữ, tạo thành kho từ vựng của mỗi ngôn ngữ Ở mỗi người, từ được tích luỹ dần và tồn tại trong tiềm năng ngôn ngữ, tạo nên vốn từ của từng người Trong kho từ vựng của ngôn ngữ và trong vốn từ của từng người, từ tồn tại ở trạng thái tĩnh, với các tiềm năng nhất định

Trang 33

Nhưng khi các cá nhân thực hiện hoạt động giao tiếp với nhau thì các từ cần thiết trong vốn từ được huy động và kết hợp với nhau thành các cụm từ, các câu, các ngôn bản để thể hiện các nội dung giao tiếp và làm cơ sở để các cá nhân đạt được mục tiêu giao tiếp Chính trong quá trình tham gia vào các hoạt động giao tiếp, từ mới thực sự có cuộc sống sinh động, mới bộc lộ rõ và cụ thể hoá các thuộc tính hay đặc điểm thuộc các bình diện khác nhau của nó, và thậm chí có thể có những sự biến đổi và chuyển hoá đa dạng, phong phú hơn so với khi nó tồn tại ở trạng thái tĩnh của hệ thống ngôn ngữ Nói tóm lại khi tham gia vào các hoạt động giao tiếp cụ thể, các từ hiện thực hoá các thuộc tính, các đặc điểm trừu tượng, mang tính tiềm năng của mình Sự hiện thực đó diễn ra ở các bình diện của từ Nhưng ở đây chúng tôi chỉ xét ở bình diện nghĩa.

Trong hệ thống ngôn ngữ, cũng như ở trạng thái riêng rẽ cô lập, nghĩa của

từ còn mang tính chất trừu tượng Từ chưa được đặt trong mối quan hệ tương ứng với một cái được biểu đạt cụ thể nào Mỗi một từ mới chỉ là hình thức ngữ

âm ứng với một cái được biểu đạt còn chung chung Chẳng hạn, từ cất trong tiếng Việt Ở ngoài hoạt động giao tiếp, cất mới chỉ có nghĩa là “nhấc lên, đưa lên” Từ cất như thế vẫn chưa cho ta biết một cách cụ thể về nhiều phương diện

khác nữa của hoạt động đó Chẳng hạn như hoạt động đó do ai thực hiện, thực hiện như thế nào, ở đâu, bao giờ, để làm gì, thực hiện với ai và đối tượng là cái

gì ? v.v…Nhiều thông tin xung quanh hoạt động cất còn chưa được cung cấp

Chính vì thế, nghĩa của từ khi chưa được dùng trong hoạt động giao tiếp còn mang tính trừu tượng khái quát Nhưng khi tham gia vào hoạt động giao tiếp (vào câu, vào ngôn bản) nghĩa của từ dần được cụ thể hoá ở các mức độ khác

nhau Ví dụ, từ cất đi vào hoạt động giao tiếp trong câu thơ sau:

Người đi cất bước trên đường thẳm Rát mặt đêm thu trận gió hàn

( Hồ Chí Minh)

Rõ ràng nghĩa của từ cất đã được xác định cụ thể hơn: Ở đây là cất bước,

hoạt động của con người, là nhấc chân lên, đưa chân lên bắt đầu hoạt động để di

chuyển Như thế, nghĩa của từ cất đã được cụ thể hoá về các phương diện đối

tượng của hoạt động( cất cái gì ? ), ( do ai thực hiện ?) ( ở đâu ? )…

Trang 34

Ở trường hợp từ có nhiều nghĩa, khi tham gia vào hoạt động giao tiếp cụ

thể thì tính đa nghĩa bị triệt tiêu Ví dụ như từ đi trong tiếng Việt với nhiều nghĩa

như sau:

1) (Người, động vật) tự di chuyển bằng những động tác liên tiếp của chân, lúc nào cũng vừa có chân tựa trên mặt đất, vừa có chân giơ lên đặt tới chỗ khác

Trẻ chưa đi vững Đi bách bộ).

2) Rời bỏ cuộc đời, chết Cụ ốm nặng, đã đi hôm qua rồi.

3) (Phương tiện vận tải) di chuyển trên bề mặt Xe đi chậm rì…

Tuy thế, tính nhiều nghĩa của từ đi chỉ là khả năng khi nó chưa tham gia vào hoạt động giao tiếp Còn trong hoạt động giao tiếp, từ đi chỉ hiện thực hoá

một trong các nét nghĩa đó, các nghĩa khác chỉ nằm trong mối quan hệ tiềm tàng

Ví dụ như câu, Bác ấy ốm nặng từ tuần trước, đã đi tối hôm qua rồi Như vậy, ở đây từ đi có nghĩa là rời bỏ cuộc đời, chết Còn các nghĩa khác của nó không phù

hợp với câu này

Đối với các từ đơn nghĩa, trong hoạt động giao tiếp, nghĩa của từ vẫn có sự

hiện thực hóa cụ thể hơn Giả sử từ bàn trong tiếng Việt chỉ có một nghĩa: “ đồ dùng

thường làm bằng gỗ, có mặt phẳng và chân đứng, để bày đồ đạc, thức ăn, để làm

việc[21,tr 27) Với nghĩa này, từ bàn vẫn là tên gọi của tất cả các vật có đặc tính như

trên chứ không phải là tên gọi của một cá thể nào Hơn nữa, nghĩa trên đây của từ

bàn đã có phần nào trừu tượng hoá khỏi nhiều thuộc tính cụ thể của nó: có những cái

bàn bằng các chất liệu khác nhau (gỗ, nhựa, đá, kim loại…), với các kích thước khác nhau (to, nhỏ…), với số lượng và hình dáng chân khác nhau (3 chân, 4 chân…), với màu sắc khác nhau và cả chức năng khác nhau…

Khi tham gia vào hoạt động giao tiếp, nghĩa của từ được đặt trong mối tương quan với một đối tượng cụ thể xác định, nghĩa là được qui chiếu vào một đối tượng xác định trong hiện thực khách quan Sự hiện thực hoá ý nghĩa như thế

của từ được gọi là sự quy chiếu hay sự chiếu vật Nhờ thế nghĩa của từ không

còn chung chung, trừu tượng mà trở nên cụ thể, xác định

Trang 35

Một số từ khi tham gia vào hoạt động giao tiếp lại mang những nét nghĩa mới Đó là sự chuyển nghĩa, ẩn dụ, hoán dụ tu từ Ví dụ như trong câu thơ:

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ

Từ mặt trời ở câu thơ thứ hai không còn là mặt trời của thiên nhiên, với

nghĩa là một thiên thể, mà nó là hình ảnh ẩn dụ, ngầm so sánh với Bác Hồ - vị cha già của dân tộc

Do sự hiện thực hoá nghĩa của từ trong hoạt động giao tiếp nên khi dạy từ ngữ nói chung và dạy luyện tập từ ngữ nói riêng, chúng ta phải dạy từ ngữ khi đang thực hiện chức năng giao tiếp Phải tổ chức cho học sinh quan sát, phân tích các hiện tượng từ ngữ khi nó tham gia vào hoạt động giao tiếp Có như vậy học sinh mới có thể nhanh chóng nắm được bản chất và sự biến đổi về nghĩa của từ

1.3 KHẢO SÁT THỰC TRẠNG DẠY HỌC TỪ NGỮ

1.3.1 Chương trình và sách giáo khoa

Qua tìm hiểu thực tế chúng tôi thấy, chương trình và sách giáo khoa (SGK)

đã thể hiện rõ ý đồ dạy học theo hướng tích hợp và tích cực một cách khoa học và rất phù hợp với mục tiêu cấp học THPT ở nước ta hiện nay

Ở Ngữ văn 10, ba phần Văn học, Tiếng Việt, Làm văn đã được chương trình qui định và phân phối chặt chẽ để tạo thành một môn Ngữ văn chỉnh thể thống nhất, tạo điều kiện tốt cho việc biên soạn SGK và tài liệu tham khảo, đồng thời cũng thuận lợi cho giáo viên thiết kế bài giảng theo hướng tích hợp

và tích cực

Phần Tiếng Việt được bố trí xen kẽ với Văn học và Làm văn rất nhịp nhàng, hợp lí cho việc dạy học theo hướng tích hợp và tích cực Kể cả bài giảng cung cấp tri thức mới, bài luyện tập thực hành, tổng kết kiểm tra kiến thức Các bài được bố trí từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Trong phần Tiếng Việt, các kiến thức về cấp độ khái quát nghĩa, các biện pháp tu từ, đặc điểm văn bản, phong cách chức năng, những yêu cầu về sử dụng tiếng Việt, luyện tập về từ ngữ tuy chưa đầy

đủ nhưng phù hợp với văn bản, tập làm văn, nhất là phù hợp với lứa tuổi học sinh lớp 10 và phù hợp với tích hợp chiều dọc trục đồng tâm từ cấp THCS

Trang 36

Theo phân phối chương trình THPT ban hành phần Tiếng Việt được quy định về thời lượng như sau:

- Nội dung phần Tiếng Việt trong Ngữ văn 10 nâng cao gồm 19 tiết, có thể chia thành ba cụm: Bài thuần lí thuyết, bài nửa luyện tập nửa thực hành, và bài thuần thực hành

Như vậy, trừ một tiết dành cho bài Ôn tập Tiếng Việt, trong 18 tiết học phần Tiếng Việt SGK Ngữ văn 10, nội dung có tính chất lí thuyết chiếm 7,5 tiết

( hơn 40%), nội dung có tính chất thực hành chiếm 10,5 tiết( non 60%) Trong non 60% đó thì phần luyện tập thực hành về từ ngữ chiếm 3/4 số bài, 3/5số tiết dành cho phần thực hành Điều đó cho thấy rằng phần Tiếng Việt trong Ngữ văn

10 coi trọng yêu cầu thực hành, đặc biệt là phần thực hành các năng lực sử dụng

từ ngữ cho học sinh, tránh được lối “kinh viện”, lối “hàn lâm” mà dư luận thường phê phán đối với SGK môn Tiếng Việt trước đây

- Nội dung phần Tiếng Việt trong Ngữ văn 10(cơ bản) gồm 15 tiết, số bài

là 10 Ngoài ra trong sách này nội dung dạy học tiếng Việt còn được thực hiện ở các mục chú giải từ ngữ ngay sau mỗi văn bản, ở mục câu hỏi đọc - hiểu về ngôn ngữ trong văn bản, ở những mục đề cập đến ngôn ngữ trong làm văn, bảng tra cứu về từ ngữ Hán Việt Nội dung phần Tiếng Việt ở Ngữ văn 10 (cơ bản) có thể chia làm hai loại bài: Hình thành kiến thức và kĩ năng mới và Củng cố kiến thức

và kĩ năng mà học sinh đã học ở các lớp dưới hoặc đã có hiểu biết sơ giản Trong

đó, ở loại bài thứ nhất chiếm 6 bài, tuy có những kiến thức mới, song những kiến thức chỉ được hình thành thông qua sự phân tích ngữ liệu từ thực tế giao tiếp ngôn ngữ Do đó cấu trúc của bài, ngoài kết quả cần đạt thường gồm ba phần: Tìm hiểu và phân tích ngữ liệu; hình thành kiến thức và ghi nhớ; luyện tập củng

cố và mở rộng kiến thức, kĩ năng Phần luyện tập thực hành chiếm dung lượng đáng kể Ở loại bài thứ hai có 4 bài, chỉ có hoạt động thực hành luyện tập, tức là chỉ tương đương với bước ba trong loại bài thứ nhất Trong đó nhóm bài luyện tập từ ngữ chiếm hơn 2 bài, tương ứng là hơn 2 tiết học Qua đó chúng ta thấy rằng, cũng như ở SGK Ngữ văn 10 nâng cao, SGK Ngữ văn 10 cơ bản coi trọng

Trang 37

yêu cầu thực hành, rèn luyện năng lực sử dụng tiếng Việt cho học sinh trong đó

có sử dụng từ ngữ Đồng thời chú trọng đến nguyên tắc tích hợp và phương pháp dạy học tích cực trong quá trình giảng dạy Đây cũng chính là một điểm mới của

cả hai bộ sách này

1.3.2 Phương pháp dạy học từ ngữ

- Một số ưu điểm của phương pháp dạy học từ ngữ trong Ngữ văn 10

Phương pháp dạy học phần Tiếng Việt nói chung và dạy học từ ngữ nói riêng trong Ngữ văn 10 đã góp phần đáp ứng những đổi mới của môn Ngữ văn

Dạy học theo nguyên tắc tích hợp: Thể hiện qua việc thống nhất về mục

tiêu chung của cả ba phần Văn học, Tiếng Việt và Làm văn là củng cố, nâng cao

và hoàn thiện Ngữ văn cho học sinh Điều đó được thấy rõ qua sự phối hợp giữa

ba phần này Ví dụ, dựa trên cơ sở những ngữ liệu từ văn bản văn học, qua sự phân tích rút ra những nhận xét, kết luận về các hiện tượng ngôn ngữ Từ đó lại vận dụng những kết luận đó vào phân tích văn bản văn học và ứng dụng vào môn Làm văn Kết quả của quá trình là tạo ra kiến thức và kĩ năng tổng hợp ở học

sinh Kết quả này biểu hiện tập trung nhất ở bài viết của học sinh Ở đó chúng ta

có thể đánh giá được năng lực sử dụng tiếng Việt của học sinh, cũng tức là đánh giá được kết qủa của việc dạy tiếng Việt trong nhà trường

Phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập: Phần tiếng Việt nói chung và nhóm bài từ ngữ nói riêng có cơ sở thuận lợi vì học sinh đã có vốn tiếng Việt, cụ thể hơn là những kiến thức về từ ngữ nhờ kinh nghiệm Cho nên trong quá trình giảng dạy người giáo viên chỉ cần nêu câu hỏi gợi mở để dẫn dắt học sinh tự tìm hiểu những tri thức về từ ngữ Vì thế, phần lớn các bài dạy học từ ngữ đều tiến hành hoạt động thực hành, để qua thực hành học sinh tự hình thành kiến thức, kĩ năng Như vậy, nội dung thực hành (luyện tập) từ ngữ được coi trọng, từ nội dung thực hành về từ ngữ có trong mỗi bài SGK, học sinh cần biết

và xử lý những trường hợp tương tự về tiếng Việt Hơn nữa, thực hành còn đòi hỏi học sinh phải biết vận dụng kiến thức về từ ngữ vào việc đọc - hiểu các loại

Trang 38

văn bản, vào việc viết các loại văn bản Sau đó học sinh lại còn phải biết tự đánh giá bài viết của mình theo những yêu cầu của việc sử dụng từ tiếng Việt, biết phát hiện và sửa lại những lỗi dùng từ mắc phải trong bài viết Tiến trình một bài giảng thường qua ba bước:

- Bước 1: Học sinh đọc ngữ liệu, rồi tìm hiểu, phân tích ngữ liệu câu hỏi hay yêu cầu trong sách giáo khoa

- Bước 2: Giáo viên dẫn dắt để học sinh dần dần hình thành kiến thức và

kĩ năng

- Bước 3: Luyện tập thực hành để củng cố, mở rộng kiến thức và kĩ năng

Về cơ bản, giáo viên không truyền thụ đơn phương kiến thức cho học sinh Học sinh là trung tâm, tích cực chủ động trong quá trình lĩnh hội tri thức, giáo viên giữ vai trò chủ đạo, định hướng trong quá trình dạy học Như vậy, việc dạy học phần từ ngữ được tiến hành một cách có kế hoạch, mang tính chủ động, chứ không còn dạy tản mạn, tuỳ tiện như trước kia Việc dạy gắn liền giữa lí thuyết

và thực hành

Nhìn chung nhóm bài dạy học từ ngữ ở Ngữ văn 10 bao gồm phần lớn những kiến thức đã có trong chương trình Tiếng Việt cũ được hệ thống lại đưa vào chương trình SGK mới cho nên nó có nhiều ưu điểm hơn so với SGK cũ Vì thế nó giúp ích lớn cho người học Đó là học sinh được cung cấp những kiến thức, những kĩ năng rất gần gũi, phục vụ trực tiếp và góp phần nắn chỉnh hành vi nói năng của các em, đồng thời cung cấp thêm cho người dạy cơ hội để trang bị, bồi dưỡng thêm cho học sinh mình những kiến thức và sự tự tin trong các cuộc giao tiếp trong và ngoài giờ học Người học có những kiến thức cần thiết để có thể sử dụng ngay trong quá trình giao tiếp sư phạm, học sinh được rèn rũa cách ứng xử linh hoạt với những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình giao tiếp thông thường

Trang 39

Một ưu điểm nữa cần chú ý của phần Tiếng Việt trong Ngữ văn 10 là dạy

từ ngữ cho học sinh trên cơ sở phối hợp cả hai cách dạy từ ngữ Đó là cách dạy

từ qua văn bản và ngoài văn bản Trong mỗi bài, các soạn giả đã chọn và dựa vào một văn bản thích hợp (thường trích từ các tác phẩm văn học, ca dao, thành ngữ, tục ngữ), tuy ngắn gọn nhưng có chứa đủ nội dung thông tin về từ ngữ hoặc hiện tượng ngôn ngữ cần dạy Từ đó rút ra những từ ngữ, hiện tượng ngôn ngữ học cần thiết Cuối cùng là dùng các hình thức luyện tập để rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt cho các em

- Mấy hạn chế của phương pháp dạy học từ ngữ trong Ngữ văn 10

Mặc dù các soạn giả SGK Ngữ văn 10 đã rất cố gắng khắc phục tình trạng quá tải về kiến thức ở chương trình sách giáo khoa cũ, song vẫn không tránh khỏi được thực trạng khối lượng kiến thức nhiều trong khoảng thời gian hạn chế Bởi vậy, tình trạng học sinh “cưỡi ngựa xem hoa” là khó tránh khỏi Đồng thời gây khó khăn cho giáo viên trong quá trình dạy học nhất là phải dạy theo hướng tích hợp và tích cực, phải dành nhiều thời gian cho phần thực hành

Cũng vì sức ép trên mà có những giờ dạy giáo viên chỉ có thể dừng lại ở việc giới thiệu khái niệm ngôn ngữ học cần dạy và nêu chức năng, tác dụng của

nó mà thôi Tình trạng coi trọng lí thuyết vẫn còn Tức là giáo viên chỉ truyền thụ đơn vị kiến thức chứ chưa thực sự chú trọng đến việc luyện tập, rèn luyện thực hành để học sinh có năng lực tự tạo lập ngôn ngữ của mình để giao tiếp Chẳng hạn, khi dạy bài “Thực hành biện pháp tu từ ẩn dụ và hoán dụ”, giáo viên quá chú trọng đến việc củng cố kiến thức lí thuyết về hai biện pháp tu từ mà không

đủ thời gian dành cho phần luyện tập nâng cao kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ

ẩn dụ và hoán dụ Hay khi dạy bài “Những yêu cầu về sử dụng tiếng Việt”, do phân phối thời gian không hợp lí nên giáo viên chỉ kịp làm công việc liệt kê các lỗi về sử dụng từ ngữ mà không đủ thời gian dành cho phần thực hành chữa lỗi

về dùng từ

Trang 40

Qua thực tế dự giờ chúng tôi nhận thấy một thực trạng: Nhiều giáo viên chưa thực sự hiểu đúng, hiểu sâu về khái niệm tích hợp trong dạy học nói chung

và tích hợp trong dạy học từ ngữ nói riêng Họ cho rằng, cái mà chúng ta vẫn gọi

là tích hợp thực chất họ đã làm từ lâu, chẳng có gì mới lạ Đó là việc liên hệ giữa kiến thức Văn - Tiếng Việt với các kiến thức khác như Sử, Địa lí, các vấn đề xã hội Thực ra, đây là nhận thức chưa đúng về tích hợp Những việc làm đó chỉ là

sự liên hệ kiến thức nhỏ lẻ, mang tính tự phát, chưa theo một nguyên tắc nào cả Chính vì thế, việc tích hợp trong quá trình giảng dạy là chưa triệt để, hiệu quả chưa cao

Cũng qua tìm hiểu thực tế chúng tôi thấy một số giáo viên còn có quan điểm bảo thủ về đổi mới phương pháp dạy học từ ngữ Họ cho rằng, mới chẳng hay bằng cũ, thậm chí lại còn khó dạy hơn Có giáo viên đã lớn tuổi còn nói: Tôi dạy theo phương pháp cũ từ nhiều năm nay rồi, học sinh vẫn hiểu, vẫn thi đỗ Vậy thì việc gì tôi phải đổi mới Những quan điểm như vậy đang gây cản trở rất nhiều cho quá trình đổi mới phương pháp dạy học nói chung và dạy học từ ngữ nói riêng

Một điểm nữa cần chú ý là do từ ngữ ở THPT chưa phải là một phân môn, phương pháp dạy học từ ngữ hầu như chưa được hình thành nên giáo viên còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng trong việc tổ chức một tiết dạy học từ ngữ sao cho vừa đáp ứng được yêu cầu về kiến thức của từ ngữ vừa đảm bảo yêu cầu về dạy học tích hợp và tích cực Trong SGK loại bài tập cùng kiểu còn xuất hiện khá nhiều gây tâm lí nặng nề, nhàm chán cho các em Tất cả những khó khăn trở ngại nói trên đã tạo ra ở giáo viên một tâm lí tiêu cực là rất ngại phải dạy tiết học về

từ ngữ Chính vì thế, hiệu quả các tiết dạy học nhóm bài về từ ngữ trong nhà trường còn thấp

Nguyên nhân của một số hạn chế trên phần lớn do chất lượng giáo viên Thực tế hiện nay cho thấy chất lượng giáo viên chưa đồng đều, còn song song tồn tại giáo viên ở nhiều hệ đào tạo khác nhau Do đó ảnh hưởng đến chất lượng

Ngày đăng: 17/09/2015, 18:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A - Nguyễn Quang Minh - Bùi Minh Toán(2001), Phương pháp dạy học Tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Tác giả: Lê A - Nguyễn Quang Minh - Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
2. Nguyễn Ngọc Bảo, Lí luận dạy học ở trường trung học cơ sở(2005), Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học ở trường trung học cơ sở(
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo, Lí luận dạy học ở trường trung học cơ sở
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2005
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2002), Chương trình THCS môn Ngữ văn, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình THCS môn Ngữ văn
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2002), Dự thảo chương trình môn Ngữ văn THPT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo chương trình môn Ngữ văn THPT
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2002
5. Bộ Giáo dục và đào tạo (2006), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên, thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 10 trung học phổ thông, Ngữ văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên, thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 10 trung học phổ thông, Ngữ văn
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Năm: 2006
6. Bộ Giáo dục và đào tạo(2006), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên, thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 10 trung học phổ thông, Ngữ văn nâng cao. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên, thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 10 trung học phổ thông, Ngữ văn nâng cao
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Năm: 2006
7. Chương trình THCS (2004), (ban hành kèm theo QĐ số 03/ 2002/ QĐ - BGD và ĐT ngày 24/1/2003 của Bộ trưởng Bộ GD và ĐT – Nxb Giáo dục) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình THCS
Tác giả: Chương trình THCS
Nhà XB: Nxb Giáo dục)
Năm: 2004
8. Đỗ Hữu Châu (2003 ), Cơ sở ngữ dụng học, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ dụng học
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
9. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
11. Nguyễn Trọng Giáp, Đoàn Thiện thuật, Nguyễn Minh Thuyết(2001), Dẫn luận ngôn ngữ. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Trọng Giáp, Đoàn Thiện thuật, Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
12. Nguyễn Trọng Hoàn (2002), Tích hợp và liên hội hướng tới kết nối trong dạy học Ngữ văn”, Tạp chí Giáo dục, số 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích hợp và liên hội hướng tới kết nối trong dạy học Ngữ văn"”
Tác giả: Nguyễn Trọng Hoàn
Năm: 2002
13. Nguyễn Thuý Hồng (2006), Những đổi mới của chương trình SGK và yêu cầu dạy học Ngữ văn 10, Tạp chí Giáo dục, kỳ 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đổi mới của chương trình SGK và yêu cầu dạy học Ngữ văn 10, Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Thuý Hồng
Năm: 2006
14. Nguyễn Thanh Hùng (3/2006) Tích hợp trong dạy học Ngữ văn”, Tạp chí nghiên cứu khoa học Giáo dục, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích hợp trong dạy học Ngữ văn"”, "Tạp chí nghiên cứu khoa học Giáo dục
15. Đinh Trọng Lạc (2001), 99 phương tiện và biện pháp tu từ Tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 phương tiện và biện pháp tu từ Tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
16. Phan Trọng Luận (2006), (Tổng chủ biên), Sách giáo khoa ngữ văn10, tập 1Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa ngữ văn10
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
17. Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên), Sách giáo khoa ngữ văn10, tập 2 NXB Giáo dục, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa ngữ văn10
Nhà XB: NXB Giáo dục
18. Phan Trọng Luận (2006), (Tổng chủ biên), Bài tập ngữ văn10, tập 1, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập ngữ văn10
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
19. Phan Trọng Luận (2006), (Tổng chủ biên), Bài tập ngữ văn10, tập 2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Bài tập ngữ văn10
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
20. Trần Thị Hiền Lương (1999), Phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong giờ học tiếng Việt, Nghiên cứu giáo dục, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong giờ học tiếng Việt, Nghiên cứu giáo dục
Tác giả: Trần Thị Hiền Lương
Năm: 1999
21. Hoàng Phê (2004) (chủ biên), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Đối tượng và địa bàn thực nghiệm - Dạy học nhóm bài luyện tập từ ngữ cho học sinh lớp 10 theo hướng tích hợp và tích cực
Bảng 3.1 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm (Trang 71)
Bảng 3.2: Bảng thống kê kết qủa thực nghiệm - Dạy học nhóm bài luyện tập từ ngữ cho học sinh lớp 10 theo hướng tích hợp và tích cực
Bảng 3.2 Bảng thống kê kết qủa thực nghiệm (Trang 97)
BẢNG CHÚ THÍCH CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT - Dạy học nhóm bài luyện tập từ ngữ cho học sinh lớp 10 theo hướng tích hợp và tích cực
BẢNG CHÚ THÍCH CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT (Trang 112)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w