1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quản lý nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi trên địa bàn huyện việt yên, tỉnh bắc giang

104 541 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: ‘‘Quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi trên địa bàn huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang” để thấy được thực trạng công

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

- -

THÂN THỊ THU HOA

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP

ĐÃ THU HỒI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VIỆT YÊN,

TỈNH BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

HÀ NỘI, NĂM 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

- -

THÂN THỊ THU HOA

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP

ĐÃ THU HỒI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VIỆT YÊN,

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

- Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

- Tôi xin cam đoan rằng mọi sự cộng tác, giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 15 tháng 07 năm 2015

Tác giả luận văn

Thân Thị Thu Hoa

Trang 4

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến thày giáo PGS.TS Phạm Bảo Dương đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện luận văn

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn UBND huyện Việt Yên, Phòng tài nguyên

và môi trường huyện Việt Yên, UBND các xã Hồng Thái, Hoàng Ninh, Quang Châu đã tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp số liệu, tư liệu khách quan giúp tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và người thân

đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện về mọi mặt cho tôi trong quá trình thực hiện

đề tài nghiên cứu

Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 15 tháng 07 năm 2015

Tác giả luận văn

Thân Thị Thu Hoa

Trang 5

MỤC LỤC

2.2.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi ở Việt Nam 16

Trang 6

3.1.2 Điều kiện kinh tế-xã hội 20

3.2.3 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu, thông tin 26

4.1 Thực trạng quản lý nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi trên địa bàn

4.1.2 Ban hành văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng đất nông nghiệp đã thu

4.1.3 Công tác khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính,

bản đồ quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp đã thu hồi 37 4.1.4 Hoạt động quản lý quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp đã thu hồi 40 4.1.5 Hoạt động chuyển mục đích sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử

4.1.6 Công tác quản lý và sử dụng nguồn thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất

4.1.7 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất nông

4.2 Yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi 55 4.2.1 Yếu tố chính sách sử dụng đất và quy hoạch sử dụng đất của huyện 55 4.2.2 Công tác tổ chức và nhân lực thực hiện quản lý đất đai 58 4.2.3 Những vấn đề khó khăn liên quan đến công tác thanh tra, kiểm tra 62 4.2.4 Công tác tuyên truyền, hướng dẫn và công bố các chính sách liên quan 63 4.2.5 Sự tác động của người dân trong vấn đề quản lý nhà nước về đất đai 64

Trang 7

4.3 Các giải pháp chủ yếu hoàn thiện quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp đã

4.3.1 Hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan 66 4.3.2 Xây dựng và chuẩn hoá hệ thống cơ sở dữ liệu, thông tin địa chính hợp lý 67 4.3.3 Đẩy mạnh công tác khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ

địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ quy hoạch sử dụng đất 67 4.3.4 Tăng cường công tác lập và quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

3.1 Biến động đất đai, dân số và kết quả sản xuất kinh doanh của

3.2 Tình hình cơ sở vật chất của huyện năm 2011-2013 23

4.5 Đánh giá sự phù hợp của hệ thống chính sách quản lý đất nông

4.6 Tổng hợp tình hình thực hiện nhiệm vụ đo đạc bản đồ địa chính 38 4.7 Tổng hợp tình hình giao đất, cho thuê đất nông nghiệp 45 4.8 Công tác thu hồi chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp đã

4.9 Tổng hợp kết quả cấp GCNQSD đất đã cấp cho tổ chức từ 01/01/2011

4.10 Tổng hợp tình hình thu và sử dụng nguồn thu tiền sử dụng đất nông

4.11 Diện tích đất trồng lúa cần chuyển mục đích trên địa bàn các xã, thị trấn 57 4.12 Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý đất đai của huyện Việt Yên 59

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

4.2 Đánh giá về công tác lập bản đồ quy hoạch sử dụng đất 39

Trang 11

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất nước chúng ta đang trong thời kì phát triển mạnh về kinh tế, cho nên nhu cầu của Nhà nước về đất đai là rất lớn cho các dự án đầu tư trong nước cũng như cho các khu công nghiệp, khu kinh tế và khu công nghệ cao

Đi cùng với quá trình đó là kế hoạch đât nông nghiệp đã thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp phục vụ cho việc đưa những tiến bộ của nhân loại vào sản xuất nhằm tăng năng suất lao động

Huyện Việt Yên được tỉnh Bắc Giang chọn là địa bàn phát triển các khu công nghiệp, dịch vụ tập trung của tỉnh, với tính chất như vậy nên cơ cấu đất đai của huyện trong những năm qua có nhiều biến động Diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp để nhường cho phát triển công nghiệp, dịch vụ, nhiều hộ nông dân không còn đất để canh tác Đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế - xã

hội nói chung cũng như ngành nông nghiệp của huyện nói riêng, đất nông nghiệp

năm 2014 trên địa bàn huyện có 10.625,51 ha Diện tích đất trồng lúa bị thu hồi, chuyển mục đích sang đất phi nông nghiệp các năm 2011, 2012, 2013 là: 79,86

ha Diện tích đất trồng lúa bị thu hồi, chuyển mục đích sang đất phi nông nghiệp, năm 2014 (tính đến tháng 10 năm 2014) của huyện là 27,70 ha Theo Quy hoạch

sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 - 2015) của huyện Việt Yên đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 147/QĐ-UBND ngày 26/4/2013 Trong giai đoạn 2011-2015, kế hoạch chuyển mục đích từ đất trồng lúa chuyển sang phi nông nghiệp là 449,19 ha

Diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi được chuyển mục đích sử dụng với

43 dự án, với tổng diện tích là 229.484,70 m2 Trong đó có các dự án trọng điểm như: Dự án cải tạo nâng cấp Quốc lộ 1A, đường dây 500 Kv, Cải tạo nâng cấp đường vào chùa Bổ Đà Tuy nhiên quá trình triển khai lập và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp đã thu hồi còn nhiều hạn chế bất cập Việc tổ chức thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất sau thu hồi được

Trang 12

phê duyệt còn thiếu đồng bộ, thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát dẫn đến tình trạng

“quy hoạch treo” Công tác quản lý quy hoạch, quản lý đất đai, còn một số hạn chế; một số địa phương chưa chủ động xử lý những vướng mắc, phát sinh, giải quyết kiến nghị, khiếu nại của các tổ chức làm cho việc bồi thường, giải phóng mặt bằng chậm, ảnh hưởng đến đời sống và việc làm của người dân

Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: ‘‘Quản lý Nhà

nước về đất nông nghiệp đã thu hồi trên địa bàn huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang” để thấy được thực trạng công tác quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp

đã thu hồi trên địa bàn huyện từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi trên địa bàn huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Phân tích tình hình thực hiện công tác quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi trên địa bàn huyện, từ đó đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi tại huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

(1) Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý Nhà nước

về đất nông nghiệp đã thu hồi;

(2) Thực trạng công tác quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi trên địa bàn huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang;

(3) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi trên địa bàn huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang;

(4) Đề xuất các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi trên địa bàn huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

(1) Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang như thế nào?

Trang 13

(2) Công tác quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi trên địa bàn huyện gặp những điều kiện thuận lợi và khó khăn gì?

(3) Các yếu tố nào ảnh hưởng tới công tác quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi trên địa bàn huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang?

(4) Nhằm góp phần hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi trên địa bàn huyện cần các giải pháp nào?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi trên địa bàn huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung

Công tác quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi trong một số KCN và cụm CN trên địa bàn huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

Các giải pháp đề xuất về công tác quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp

đã thu hồi trên địa bàn huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

- Phạm vi không gian

Đề tài được tiến hành trên địa bàn huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang Một

số nội dung chuyên sâu sẽ khảo sát đại diện một số xã có diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi Các xã chọn: Hồng Thái, Quang Châu và Hoàng Ninh

Trang 14

PHẦN II

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Khái niệm về đất nông nghiệp, đất nông nghiệp đã thu hồi

Cho đến ngày nay, khi con người nhờ có KH-KT mà đời sống ngày một cải thiện và chất lượng ngày một nâng cao nhưng cuộc sống con người vẫn không thể tách rời khỏi ĐNN Dọc theo quá trình phát triển ta có thể thấy mục đích đầu tiên của con người đối với đất đai để sản xuất nông nghiệp; và bây giờ

có thêm rất nhiều ngành sản xuất mới ra đời, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ Cho đến nay, con người vẫn không rời bỏ được nền sản xuất nông nghiệp đã tồn tại từ rất lâu đời Như vậy, một nguồn đất trong tổng quỹ đất của loài người là phục vụ cho mục đích trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng quỹ đất đó được gọi là ĐNN

“ĐNN là đất được sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp như: Trồng trọt, chăn nuôi, làm muối, nuôi trồng thuỷ sản hoặc sử dụng để nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp” (Luật đất đai năm 2003)

Đất đai khi được sử dụng vào mục đích nông nghiệp thì được gọi là ruộng đất Con người tác động vào ĐNN tạo ra của cải, vật chất cho đời sống ĐNN - ruộng đất là đối tượng lao động đồng thời là tư liệu lao động của con người Lúc đầu, con người canh tác chỉ để đáp ứng nhu cầu của bản thân, gia đình nền kinh

tế “tự cung tự cấp” Xã hội phát triển quá trình chuyên môn hoá diễn ra, nông phẩm không đơn giản chỉ để phục vụ cho bản thân người sản xuất nữa Nông phẩm là một mặt hàng quan trọng trên thị trường, mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho người sử dụng đất và cho toàn xã hội Vì vậy, đất đai sử dụng vào sản xuất nông nghiệp - ruộng đất chiếm vị thế đáng kể đối với sự phát triển của nền sản xuất xã hội loài người (Chu Văn Thỉnh, 1999)

Đất nông nghiệp đã thu hồi là đất được Nhà nước ra quyết định thu hồi nhằm chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, thương mại dịch vụ

Trang 15

2.1.2 Sự cần thiết của quản lý nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi

Ở bất cứ quốc gia nào, đất đai là tài sản mà thiên nhiên ban tặng cho cả cộng đồng dân cư, được chính người dân khai thác để hưởng lợi, sinh sống; đồng thời cần được Nhà nước thống nhất quản lý theo chuẩn mực chung là pháp luật Mỗi chủ thể đều có phần quyền định đoạt, trong đó Nhà nước giữ quyền định đoạt cao nhất Đó là quan niệm cần có về chế độ sở hữu toàn dân mà ta đang kiên trì (Chu Văn Thỉnh, 1999)

Như chúng ta đã biết bản chất của công tác quản lý nhà nước là sự tác động một cách có tổ chức, hệ thống nhằm mục đích điều chỉnh các hành vi của con người, tổ chức, cá nhân bằng quyền lực của nhà nước để hướng ý chí và mục đích của họ theo mục đích chung của toàn xã hội

Nhà nước tác động lên các đối tượng thông qua công việc thiết lập các quan hệ xã hội, quan hệ giữa con người với con người, giữa các tập thể với nhau, quan hệ giữa các cá nhân với tập thể các mối quan hệ tồn tại trong xã hội là rất nhiều, tất cả các mối quan hệ đó đều cần phải được điều chỉnh để lợi ích của người này không làm xâm phạm lợi ích của người khác, đảm bảo được lợi ích của đất nước

Trước hết nhà nước vừa là một cơ cấu có tổ chức bao gồm một hệ thống, các cơ quan từ trung ương đến địa phương Những tác động của nhà nước lên các đối tượng quản lý là các tác động có tổ chức chứ không phải tác động một cách đơn lẻ đến một cá nhân, chủ thể đơn giản trong xã hội Mà sự tác động đó đặt trong hệ thống tổng hòa các mối quan hệ của xã hội bao hàm toàn bộ các cá nhân, tổ chức, thành phần kinh tế Tính tổ chức đó đặt ra vấn đề là làm sao hình thành nên các tổ chức, bộ máy quản lý với cơ cấu và cơ chế hoạt động thích hợp Mặt khác, các tổ chức, bộ máy đó hoạt động như thế nào? Sự phối hợp hoạt động phân chia quyền hạn, trách nhiệm giữa các cá nhân, tổ chức như thế nào?

Để bộ máy nhà nước quản lý mang lại hiệu quả tối ưu, đạt được mục tiêu đã đề

ra Đó là một vấn đề lớn đối với công tác tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước (Lê Chi Bá và các cộng sự, 2010)

Trang 16

Nhà nước còn tạo lập nên bộ máy sức mạnh về pháp luật, an ninh, bộ máy

áp chế để thực hiện công tác quản lý của mình đưa cá nhân, tổ chức vào đúng quỹ đạo, hoạt động trong khuôn khổ phục vụ lợi ích cá nhân mà lợi ích đó không gây ảnh hưởng xấu đến xã hội Sự tồn tại của bộ máy áp chế trong cơ cấu các cơ quan chức năng quản lý là một tất yếu khách quan, đó là điều kiện cần thiết để thực hiện nhiệm vụ quản lý trong những trường hợp cần thiết

Quản lý nhà nước còn được thể hiện ở quan hệ chủ thể và khách thể và đối tượng quản lý Chủ thể của sự quản lý nhà nước là bộ máy hành chính từ trung ương đến địa phương, tỉnh, thành, phường, xã,…và toàn bộ các cán bộ công nhân viên chức của nhà nước làm việc trong công tác quản lý Nhà nước Khách thể quản lý là các công dân, tổ chức, các thành phần kinh tế, xã hội Đối tượng của công tác quản lý nhà nước là các quá trình kinh tế, các hoạt động, các mối quan

hệ có liên quan Riêng trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai chủ thể quản

lý nhà nước về đất đai (cụ thể ở đây là đất nông nghiệp) thì nhà nước đóng vai trò

là chủ thể quản lý, khách thể của sự quản lý là các cá nhận, tổ chức, doanh nhân, doanh nghiệp sử dụng đất nông nghiệp, có liên quan đến đất nông nghiệp Và đối tượng của công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp là những mối quan

hệ phát sinh, những vướng mắc, vấn đề có liên quan đến đất nông nghiệp xảy ra trong xã hội

Cụ thể trong công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi, Nhà nước có các vai trò và nhiệm vụ quan trọng sau:

- Nhà nước quản lý toàn bộ quỹ đất đai (đất nông nghiệp đã thu hồi) trên phạm vi cả nước Như đã nói ở trên nhà nước là người đại diện chủ sở hữu đất nông nghiệp đã thu hồi của cả nước Đồng thời nhà nước là chủ thể quản lý của công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi, chính vì vậy nhà nước phải thống nhất quản lý đất đai (đất nông nghiệp đã thu hồi) trên phạm vi cả nước Mục đích của việc này là mang lại lợi ích chung cho xã hội đảm bảo sử dụng đất (đất nông nghiệp đã thu hồi) hợp lý và hiệu quả cao nhất, có tầm nhìn

xa vì mục đích chung của cộng đồng Song song với nó Nhà nước luôn có các chế tài để đảm bảo quyền lợi, trách nhiệm của mình và của người sử dụng đất

Trang 17

nông nghiệp đã thu hồi nói riêng và đất đai nói chung Người sử dụng đất nông nghiệp đã thu hồi phải tuân thủ các quy định đã đặt

Nếu không chấp hành các quy định đó thì người sử dụng đất đã vi phạm pháp luật có thể bị phạt, thu hồi đất, tịch thu tài sản Nhà nước thực hiện công tác quản lý qua những nhiệm vụ sau:

- Nhà nước thông qua quy hoạch, kế hoạch, chiến lược phát triển kinh tế

để định hướng cho quá trình sử dụng đất Nhà nước là người có các quyền tuyệt đối với đất đai: định đoạt, chiếm hữu Do đó, nhà nước có quyền quyết định mục đích sử dụng, thời gian sử dụng của đất đai (đất nông nghiệp đã thu hồi) Trước hết nhà nước xác định tính chất, hiện trạng, đặc tính của đất đai (đất nông nghiệp

đã thu hồi) từ đó xác định được mục đích sử dụng của các loại đất ở từng vùng, địa phương, nhu cầu sử dụng đất của các ngành, các lĩnh vực sao cho phù hợp Qua quy hoạch kế hoách sử dụng đất đã đước thông qua nhà nước đã điều tiết các quỹ đất trong nền kinh tế, nhà nước quyết định mục đích sử dụng đất của vùng, địa phương Người sử dụng đất tuân thủ theo quy hoạch, kế hoạch của nhà nước

đã được thông qua Mô hình chung mục đích sử dụng, cơ cấu sử dụng, diện tích của các loại đất phân bổ được thực hiện bởi người dân nhưng người xác định là Nhà nước Do đó, nhà nước có được chiến lược phát triển lâu dài, bền vững cho đất nước (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007)

- Công tác kiểm kê, đánh giá phân hạng đất nông nghiệp là một việc làm không thể thiếu được của công tác quản lý nhà nước về đất đai (đất nông nghiệp

đã thu hồi) Hàng năm nhà nước phải nắm bắt được cụ thể diện tích, chất lượng, mục đích sử dụng, tình trạng sử dụng của các loại đất nói chung và của đất nông nghiệp đã thu hồi nói riêng, có như thế mới có thể tạo lập được quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp đã thu hồi phù hợp, lâu dài, tính dự báo cáo Để

có được điều đó đòi hỏi công tác kiểm kê đánh giá phân hạng đất nông nghiệp phải được thực hiện triệt để, theo đúng luật, đúng kế hoạch đề ra Công tác này không những giúp cho công tác lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (đất nông nghiệp đã thu hồi) mà nó còn đóng góp rất lớn cho công tác quản lý tài chính về đất nông nghiệp đã thu hồi của nhà nước ta Tạo một nguồn thu quan

Trang 18

trọng cho ngân sách, phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước về đất nông nghiệp

đã thu hồi Nhà nước tính thuế đất nông nghiệp, thuế chuyển quyền sử dụng đất, tiền đền bù dựa trên khung giá đất nông nghiệp, đất nông nghiệp được chia ra nhiều loại mỗi loại có một khung giá khác nhau Để phân chia được đất nông nghiệp thì công tác đầu tiên là phân hạng, đo đạc, đánh giá đất Qua đây ta có thể thấy vai trò lớn của công tác đo đạc, phân hạng, đánh giá đất đai (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007)

-Đất đai là tài sản quý giá của bất kỳ một quốc gia nào Giá trị của đất đai ngày càng lớn trên thị trường cạnh tranh, mối quan hệ đất đai ngày càng phức tạp hơn Con người đã nhìn nhận thấy được tính quan trọng của đất đai đối với đời sống của mình Chính vì vậy, các tranh chấp, mâu thuận, khiếu kiện trong các quan hệ đất đai thường nổ ra mạnh mẽ Trong công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi, cán bộ, công nhân viên chức có thể lợi dụng quyền hạn

và trách nhiệm, công cụ nhà nước để vụ lợi cho cá nhân, lợi ích của người này làm xâm hại quyền lợi, lợi ích của người khác Chế tài Nhà nước ban hành ra để điều chỉnh, tác động vào mối quan hệ đất nông nghiệp, đảm bảo công bằng Công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện, xử lý vi phạm trong lĩnh vực đất nông nghiệp

đã thu hồi là rất cần thiết để phát hiện, xử lý sớm các vi phạm (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007)

Trong xã hội nước ta, một thời đất đai được xem như “vô giá” đơn giản là

vì đất đai không được mua bán trên thị trường Ngày nay, đất đai là một tài sản

có giá trị lớn, được phép mua đi bán lại Những mâu thuận trong mua bán, cạnh tranh, đất đai nổ ra thường xuyên Ngoài ra còn có nhiều loại hình khác như: thế chấp đất đai, cho thuê đất đai, Nhiều mối quan hệ nảy sinh nhiều vấn đề phát sinh càn phải điều chỉnh Để giảm thiểu những tác tại có thể, công tác thanh tra, kiểm tra phải đặt lên hàng đầu

2.1.3 Nội dung nghiên cứu công tác Quản lý nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi

Theo luật đất đai 2013 nội dung của công tác QLNN về đất đai nói chung gồm có 13 nội dung Tuy nhiên, đối với ĐNN đã thu hồi là một bộ phận của tổng

Trang 19

quỹ đất đai, nó mang những đặc thù riêng biệt, chính vì vậy mà nội dung của công tác quản lý của Nhà nước về ĐNN đã thu hồi cũng có nhiều khác biệt Công tác QLNN về ĐNN đã thu hồi có thể khái quát ở các nội dung sau:

2.1.3.1 Ban hành văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng đất nông nghiệp đã thu hồi và tổ chức thực hiện văn bản

Để đảm bảo được vai trò quản lý của mình, bất kỳ một Nhà nước nào cũng thực thi một chế tài phù hợp Những chế tài này là tiền đề, hành lang cho lĩnh vực áp dụng Không có một quốc gia nào có thể có được hiệu quản quản lý

mà không cần đến chế tài Ngay cả ở nước ta, hệ thống văn bản điều chỉnh các mối quan hệ đất đai nói chung và ĐNN nói riêng rất đa dạng Đó là những công

cụ để Nhà nước thực hiện được quyền quản lý của mình

2.1.3.2 Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất nông nghiệp, lập bản đồ hiện trạng và bản đồ quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp đã thu hồi

Đất nông nghiệp có nhiều loại, tính chất, vùng miền khác nhau chúng được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau Để có một cơ chế quản lý phù hợp,

có được định hướng, quy hoạch và kế hoạch phù hợp với địa phương, tỉnh, thành phố, cả nước Việc đầu tiên bắt buộc Nhà nước phải nắm được các thông tin về đất nông nghiệp như: Diện tích, loại đất tình hình sử dụng, phân bố, mục đích sử dụng, Những thông tin này sẽ đóng góp rất lớn cho công tác QLNN về đất đai nói chung và ĐNN đã thu hồi nói riêng

Đối với ĐNN đã thu hồi, để quản lý được ĐNN đã thu hồi một cách có hệ thống Nhà nước cũng cần những thông tin về ĐNN đã thu hồi: diện tích, tình trạng sử dụng, mục đích sử dụng (trồng cây ngắn ngày, dài ngày ) Từ những thông tin về ĐNN người quản lý có được kế hoạch sử dụng hợp lý và cho ra những quyết định sử dụng đứng đắn, phải thu thập tiếp những thông tin về ĐNN

để biết được tình hình ĐNN đang diễn biến như thế nào từ đó có những điều chỉnh, sửa đổi kế hoạch, quy hoạch, pháp luật đất đai Chính vì vậy, Nhà nước phải tiến hành khảo sát đo đạc đánh giá, phân hạng ĐNN, lập bản đồ hiện trạng

và bản đồ quy hoạch sử dụng ĐNN

Trang 20

2.1.3.3 Lập, quản lý và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp

đã thu hồi

Bất kể quốc gia nào cũng cần có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nói chung và ĐNN nói riêng Đứng trên cương vị là cơ quan QLNN về đất đai nói chung và ĐNN nói riêng Nhà nước là người tiến hành lập quy hoạch, kế hoạch

sử dụng đất cho các vùng, lãnh thổ, ngành Xét trên phạm vi quy hoạch thì quy hoạch, kế hoạch sử dụng ĐNN có thể được lập cho một huyện, thành phố, vùng,

cả nước Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được quy định rất rõ và cụ thể trong luật Đất đai 2003 từ Điều 21 đến Điều 30

Kế hoạch sử dụng ĐNN được lập theo kỳ kế hoạch, và phải dựa trên QHSDĐ đã được ban hành, phù hợp với sự phát triển khoa học công nghệ Trong quá trình thực hiện kế hoạch sử dụng đất nếu cần phải đánh giá và điều chỉnh cho phù hợp với phương hướng phát triển KT-XH của địa phương thì phải tiến hành chỉnh sửa sao cho phù hợp

2.1.3.4 Công tác chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp đã thu hồi

Khi sử dụng ĐNN người sử dụng ĐNN được quyền chuyển đổi mục đích

sử dụng đất khi thấy cần thiết, Nhà nước quy định ở trong luật Đất đai năm 2003 Đây là một biện pháp QLNN về đất nông nghiệp, tạo điều kiện cho người sử dụng ĐNN có điều kiện linh hoạt trong cách sử dụng, nâng cao hiệu quả của đất nông nghiệp, đồng thời, Nhà nước cũng phải nắm được những biến động của ĐNN, nắm bắt được tình hình đất nông nghiệp trong cả nước, chính vì vậy công tác QLNN về ĐNN sẽ thuận lợi, hiệu quả hơn rất nhiều

2.1.3.5 Công tác đăng ký và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp đã thu hồi

“Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý xác nhận mối quan hệ giữa người sử dụng đất và Nhà nước, công nhận quyền sử dụng hợp pháp của người sử dụng đất, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất hợp pháp”

Các cá nhân tổ chức, hộ gia đình sử dụng đất hợp pháp được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Đối với ĐNN người dân làm hồ sơ đăng

Trang 21

ký với cơ quan Nhà nước có chức năng có thẩm quyền, người được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được phép toàn quyền sử dụng đất, trên mặt pháp

lý họ là người chủ duy nhất được thừa nhận quyền sở hữu và được trao, bảo vệ những quyền, lợi ích chính đáng bởi pháp luật Nhà nước

Nói chung những quy định về việc đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ĐNN được quy định rất chi tiết và đầy đủ trong luật Đất đai năm 2003 Việc đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ĐNN là một công tác được Nhà nước ta chú ý và được triển khai khá sớm ở nước ta, kết quả mang lại đã được công nhận

2.1.3.6 Quản lý tài chính đối với đất nông nghiệp đã thu hồi

Công cụ tài chính là một trong những biện pháp của Nhà nước ban hành ra nhằm phân phối lại lợi ích của các bên thân gia trong các mối quan hệ liên quan đến đất nông nghiệp Việc thực thi công cụ tài chính trong quản lý sử dụng ĐNN phải đảm bảo được các yêu cầu mà Nhà nước đặt ra để phục vụ cho công tác quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Việc thu tài chính đất đai nói chung và ĐNN đã thu hồi nói riêng phải tuân theo quy định của pháp luật Việc thu tiền sử dụng đất phải căn cứ vào diện tích, thời hạn sử dụng đất, khung giá đất tương ứng, tuân theo các văn bản hướng dẫn như: thông tư 117/2004/TT-BTC (ngày 07/12/2004), nghị định 198/2004/NĐ-

CP Nghị định 74/NĐ-CP ngày 25/10/1993 quy định chi tiết thi hành luật thuế sử dụng ĐNN

2.1.3.7 Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật của người dân sử dụng đất nông nghiệp và của cơ quan Quản lý nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi

Thanh tra việc QLNN về đất nông nghiệp của UBND các cấp, Thanh tra việc chấp hành pháp luật về đất nông nghiệp của người dân, tổ chức, cá nhân Việc thanh tra đất đai đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ giàu kinh nghiệm, nghiệp vụ và lực lượng thanh tra đủ lớn, Mục đích của công tác thanh tra là mang lại những thông tin nhanh và chính xác về tình hình sử dụng đất đai phát hiện sớm những trường hợp vi phạm để xử lý kịp thời, Mặt khác thanh tra đội

Trang 22

ngũ thực hiện công tác QLNN để phát hiện hành vi gian lận, tham ô, thanh lọc bộ máy, hạn chế, triệt tiêu hành động có hại cho lợi ích xã hội, tư lợi cá nhân

2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về đất đã thu hồi

Có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới quản lý nhà nước về đât nông nghiệp đã thu hồi Trong nghiên cứu này, có một số nhân tố chủ yếu sau:

- Công tác quy hoạch, thu hồi, đền bù và giải phóng mặt bằng của chính quyền địa phương

Khi tiến hành quy hoạch KCN, nếu có sự tham gia đóng góp của người dân địa phương thì sẽ phù hợp với tình hình thực tế của địa phương hơn vì hơn ai hết, người dân địa phương sẽ là người nắm rõ tường tận mọi vấn đề tốt, xấu trên địa phương của họ, đặc biệt là trên những mảnh đất họ đang sản xuất Vì vậy, khâu lập quy hoạch khu công nghiệp càng có nhiều người dân địa phương tham gia thì sẽ hạn chế được nhiều hơn những điều không tốt xảy đến, nói cách khác

sẽ hạn chế được rủi ro cho họ (Chu Văn Thỉnh, 1999)

Khâu thu hồi, đền bù và giải phóng mặt bằng cũng là nhân tố làm ảnh hưởng tới rủi ro của hộ nông dân bị thu hồi đất Bởi vì: hình thức đền bù đất như thế nào? Quá trình đền bù được tiến hành ra sao? Nhanh hay chậm? một lần hay nhiều lần? đều ảnh hưởng tới việc sử dụng tiền đền bù của hộ và như thế sẽ ảnh hưởng tới rủi ro sử dụng tiền của hộ và ảnh hưởng tới việc làm của hộ

Quá trình giải phóng mặt bằng tiến hành nhanh hay chậm? sẽ ảnh hưởng nhiều tới việc làm của lao động của hộ mất đất, vì: quá trình giải phóng mặt bằng diễn ra nhanh chóng, đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp sẽ sớm có đất để tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và

sẽ sớm đi vào hoạt động Điều này, đồng nghĩa với việc lao động của hộ sẽ sớm được vào các doanh nghiệp làm, giảm thời gian phải chờ đợi doanh nghiệp từ đó giảm được rủi ro về việc làm do phải chờ đợi doanh nghiệp (Chu Văn Thỉnh, 1999)

- Công tác thẩm định, giám sát hoạt động quản lý đất đai của chính quyền địa phương

Trước khi đồng ý cho doanh nghiệp vào KCN hoạt động, chính quyền địa phương sẽ tiến hành thẩm định tính khả thi trong hoạt động sản xuất kinh doanh của

Trang 23

doanh nghiệp Khâu thẩm định nếu tốt sẽ lựa chọn được đúng vị trí phát triển KCN phù hợp, hạn chế tình trạng mất đất nông nghiệp tràn lan Nếu khâu thẩm định chưa tốt, sẽ có ảnh hưởng ngược lại, làm tăng rủi ro cho lao động của hộ Sau khi thẩm định, khâu giám sát hoạt động đền bù, giải phóng mặt bằng có vai trò rất lớn trong việc phát hiện các khâu sai phạm trong quản lý đất đai, từ đó có những can thiệp kịp thời nhằm hạn chế tình trạng kiện cáo kéo dài (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007)

- Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong quản lý đất đai

Nhìn chung, trong những năm qua, hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý sử dụng đất đai đã có những chuyển biến tích cực Cơ chế, chính sách về quản lý sử dụng đất ngày càng hoàn thiện và chặt chẽ hơn Tuy vậy, vẫn còn nhiều những vi phạm về quản lý sử dụng đất đai Nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên là do các

cơ quan chuyên môn thực hiện việc giải quyết hồ sơ, thủ tục về đất đai chậm so với thời gian quy định, gây lãng phí về thời gian, về kinh tế cũng như cơ hội đầu

tư cho các doanh nghiệp Thủ tục giao đất chưa đúng quy định như thiếu ký hiệu thửa đất, thiếu biên bản bàn giao mốc giới, chậm cập nhật ngày biến động địa giới hành chính, chưa điều chỉnh kịp thời hệ thống bản đồ địa chính Tỷ lệ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các quận, huyện phần lớn còn chậm, gây không ít khó khăn cho công tác quản lý và giải quyết những vấn đề phát sinh của người dân trong quá trình sử dụng đất (Chu Văn Thỉnh, 1999)

Do đó, việc thanh tra, kiểm tra, giám sát là một hoạt động rất quan trọng

và cần thiết trong việc quản lý đất đai.Trên cơ sở thanh tra, kiểm tra, những sai phạm đã được phát hiện cũng như chỉ ra những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới những sai phạm trên, ngành thanh tra đã đưa ra những kiến nghị nhằm chấn chỉnh, xử lý kịp thời, nghiêm minh để nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước về đất đai

- Các công tác tuyên truyền ở địa phương

Các hoạt động tuyên truyền ở địa phương, đặc biệt là công tác tuyên truyền về quy hoạch, giải phóng mặt bằng, giá đền bù… có ảnh hưởng lớn tới nhận thức của người dân trong hoạt động quản lý đất đai Nếu các công tác đó tốt

sẽ góp phần ổn định tình hình, phản ánh kịp thời các tâm tư nguyện vọng của

Trang 24

người dân với chính quyền địa phương Nếu công tác tuyên truyền mà chưa tốt sẽ

có ảnh hưởng ngược lại (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007)

- Cán bộ quản lý nhà nước: Trình độ cán bộ, chất lượng cán bộ quản lý đất nông nghiệp Mỗi chế độ chính trị được thiết lập thì có một số bộ máy quản

lý khác nhau Cơ cấu tổ chức, phân công chức năng, quyền hạn của bộ máy quản

lý đó cũng khác nhau, phù hợp với từng điều kiện cụ thể

Năng lực và kết quả hoạt động quản lý đất nông nghiệp đã thu hồi phụ thuộc rất nhiều vào trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ của đội ngũ CBQLĐĐ Để đánh giá năng lực CBQLĐĐ đã thu hồi, xem xét về trình độ kỹ năng nghiệp vụ của chính bản thân CBQLĐĐ trên các khía cạnh như: i) Nắm hệ thống pháp luật đất nông nghiệp và pháp luật khác có liên quan đến quản lý, sử dụng đất; ii) Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; iii) Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất và bồi thường giải phóng mặt bằng, tái định cư; iv) Đăng ký đất nông nghiệp, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận; v) Kiểm kê và thống kê đất nông nghiệp; vi) Công tác giải quyết tranh chấp đất nông nghiệp, thanh tra, kiểm tra và giải quyết khiếu nại tố cáo (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007)

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước về quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp

đã thu hồi

- Kinh nghiệm ở Singapore

Singapore là một quốc đảo bao gồm một đảo chính và 63 đảo nhỏ xung quanh, với diện tích chỉ gần 700 km2 Thời kỳ mới giành được độc lập (năm 1965), đô thị Singapore còn hết sức ngổn ngang, quá trình đô thị hóa cũng phát sinh nhiều “căn bệnh đô thị” như dân số tăng nhanh, tắc nghẽn giao thông, ngập nước, thiếu nhà ở… Nhưng chỉ sau hơn 30 năm thực hiện đô thị hóa, đất nước này đã trở thành một trong những đô thị hiện đại bậc nhất thế giới Một trong những yếu tố góp phần vào thành tựu vượt bậc ấy của Singapore là công tác quản

lý và quy hoạch đất đai (Lê Chi Bá và các cộng sự, 2010)

Ở Singapore không có tình trạng quy hoạch "treo"

Các bước tiến hành quy hoạch của Singapore gồm 3 bước:

Trang 25

- Quy hoạch chiến lược (còn gọi là quy hoạch ý niệm): Các ý tưởng quy

hoạch giai đoạn này tính toán cho dài hạn tới 30- 40 năm sau Năm 1971, Singapore hoàn thành bản quy hoạch chiến lược đầu tiên, sau 10 năm được hiệu chỉnh, xét duyệt một lần Nội dung quy hoạch giai đoạn này dựa trên các ý tưởng

về cơ cấu kinh tế, phân vùng và bố trí cơ cấu sử dụng đất hợp lý, ưu tiên đất đai cho phát triển kinh tế, hình thành các trục giao thông chủ đạo, các khu công nghiệp, cảng biển, sân bay, các khu chung cư cho nhân dân và đề ra các chương trình hành động cho từng giai đoạn

- Quy hoạch tổng thể: Căn cứ vào quy hoạch chiến lược, các ý tưởng quy

hoạch giai đoạn này tính toán cho 10-15 năm sau Nội dung quy hoạch giai đoạn này quy định chi tiết từng ô phố, từng khu đất bao gồm diện tích, mật độ xây dựng, mục đích sử dụng đất… và công khai cho mọi người biết để thu hút đầu tư

và hướng dẫn người dân thực hiện theo quy hoạch

- Quy hoạch triển khai chi tiết: Giai đoạn này do các chủ đầu tư dự án trên

các khu đất được giao quản lý thực hiện Căn cứ vào quy hoạch tổng thể và yêu cầu sử dụng đất, chủ đầu tư phối hợp với các tổ chức tư vấn quy hoạch chi tiết trình các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt về những thông số kỹ thuật cơ bản như mật độ xây dựng, chiều cao, lộ giới, kích thước cơ bản của công trình, khoảng cách giữa các tòa nhà, cảnh quan cây xanh… trước khi tiến hành xây dựng

Đất đai ở Singapore hầu hết do Nhà nước quản lý Các dự án phần lớn đều được Chính phủ cho thuê đất có thời hạn từ 50-90 năm Việc giải toả, thu hồi đất do Nhà nước thực hiện và được áp dụng các hình thức chủ yếu như giải toả tự nguyện

và giải toả bắt buộc, giá cả đền bù tương đương theo giá thị trường do các công ty định giá, trường hợp không thoả thuận được thì toà án xử lý Ngoài ra, còn có hình thức Nhà nước thoả thuận mua lại đất của người dân theo giá thị trường, hoặc thực hiện đền bù bổ sung không chính thức nhằm bù đắp những giá trị khác chưa được tính toán để thực hiện các dự án theo quy hoạch ( Nguyễn Kim Sơn, 2000)

- Ở Đức, điển hình là thành phố Berlin, hệ thống quy hoạch sử dụng đất đã được xây dựng từ rất sớm Chỉ vài năm sau khi có sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ đất nước, năm 1994, hệ thống quy hoạch sử dụng đất được xây dựng với bản đồ tỉ lệ

Trang 26

1 :50.000 Sau đó, việc điều chỉnh và cập nhật những biến động đất đai cho phù hợp với sự thay đổi của nền kinh tế, xã hội và mục tiêu của Chính phủ được tiến hành thường xuyên Do đó, hệ thống quy hoạch sử dụng đất ở thành phố Berlin nói riêng, của Đức nói chung có hiệu quả cao, đảm bảo sử dụng đất hiệu quả, tiết kiệm và bền vững, tạo đà cho sự phát triển nền kinh tế ( Nguyễn Kim Sơn, 2000)

- Ở Pháp, quy hoạch sử dụng đất được xây dựng theo hình thức mô hình hóa nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao trong việc sử dụng tài nguyên, môi trường và lao động, áp dụng bài toán quy hoạch tuyến tính có cấu trúc sản xuất hợp lý, thúc đẩy nền kinh tế phát triển

- Ở Campuchia, do nền kinh tế kém phát triển, có xuất phát điểm thấp, tình hình chính trị rối loạn, nhiều nhà khoa học đã bị giết, nên trước những năm

2000, công tác quản lý đất đai chưa được quan tâm, chưa hình thành được hệ thống luật đất đai và quy hoạch sử dụng đất Đến năm 2000, Bộ quy hoạch đất đai và xây dựng đã hoàn thiện luật Đất đai, nhưng công tác quy hoạch sử dụng đất còn gặp nhiều khó khăn, kế hoạch sử dụng đất ở từng địa phương không rõ ràng nên sử dụng đất kém hiệu quả và làm suy thoái đất Mặc dù vậy, nhờ có sự

cố gắng tìm hiểu, học hỏi, nghiên cứu công tác quản lý, sử dụng đất đai của các nhà khoa học nên Campuchia đã xây dựng được hệ thống Luật đất đai, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đồng bộ ( Nguyễn Kim Sơn, 2000)

Nhìn chung, hệ thống pháp luật đất đai ở các nước phát triển tương đối hoàn thiện nên công tác xây dựng và thực hiện quy hoạch sử dụng đất được triển khai tốt, sử dụng đảm bảo hiệu quả 3 mặt: kinh tế, xã hội và môi trường Ở các nước kém phát triển, do thiếu kinh phí, thiếu cán bộ có trình độ chuyên môn, nên

hệ thống Luật đất đai không đồng bộ, hệ thống quy hoạch sử dụng đất có hiệu quả không cao, ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế

2.2.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi ở Việt Nam

Ở Việt Nam, từ năm 1994 chính phủ đã triển khai xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai cả nước đến năm 2010 năm 1997, Quốc hội có Nghị quyết số: 01/1997/QH9 về quy hoạch sử dụng đất cả nước 5 năm 1996 – 2000 và được Quốc hội khóa XI phê duyệt tại kỳ họp thứ 5

Trang 27

Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức triển khai công tác quy hoạch sử dụng đất ở nước ta cho thấy còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ; quy hoạch chồng chéo giữa địa phương và Trung ương, thu hồi nhưng không sử dụng hoặc sử dụng quá chậm, đặc biệt với các dự án khu công nghiệp, khu đô thị mới Diện tích đất thực

tế đã sử dụng xây nhà xưởng so với diện tích đã giao, cho thuê tại các KCN chiếm tỷ lệ thấp, so với diện tích quy hoạch đã thu hồi còn thấp hơn nữa (Lê Chi

Bá và các cộng sự, 2010)

Tại Hà Nội, việc hoàn thành xây dựng đường Láng - Hòa Lạc (Đại lộ

Thăng Long) và nâng cấp Quốc lộ 32 được kỳ vọng là "lực đẩy" cho các dự án bất động sản (BĐS) phía Tây Hà Nội Nhưng dù đường đã thông, hầu hết dự án vẫn ngổn ngang Cụ thể như:

Một trong những dự án đã được được giới thiệu đình đám cách đây nhiều năm, dự báo sẽ trở thành tâm điểm trong chuỗi đô thị phía Tây Hà Nội là Khu đô thị Bắc An Khánh (đã đổi tên thành Dự án Splendora cách đây hơn 1 năm) Dự

án này do Công ty Vinaconex và Tập đoàn Posco E & C làm chủ đầu tư, với số vốn hơn 2,5 tỷ USD, diện tích chiếm đất hơn 264 ha Công trình được chính thức khởi công từ tháng 4/2007 và dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2013 Tuy nhiên, đến thời điểm này, phần lớn diện tích dự án vẫn chưa hoàn thành việc san lấp mặt bằng Ngay cả trung tâm marketing và diện tích 50 ha trong giai đoạn I của dự án hiện vẫn trong quá trình xây dựng và san lấp mặt bằng

Dự án Khu đô thị mới Kim Chung - Di Trạch, do Công ty cổ phần Thương mại Vietracimex làm chủ đầu tư, với diện tích hơn 170 ha, cũng đã từng được giới đầu tư đất Hà Nội hết sức quan tâm khoảng 1 năm về trước Đến thời điểm hiện tại, bên ngoài tường rào của dự án đã được chủ đầu tư dựng biển giới thiệu về các hạng mục công trình, nhưng bên trong hầu như vẫn là khu đất hoang

Thành phố Tây Ninh, những dự án quy hoạch “treo vô thời hạn” ở thành

phố Tây Ninh Có khoảng hơn 100 dự án được quy hoạch từ năm 2001 đến 2013, nhưng cho đến bây giờ vẫn chưa xác định được thời gian thực hiện Trong đó chỉ riêng phường 1 có khoảng 8 dự án giao thông, 10 dự án dân dụng và khoảng 5

dự án quy hoạch công viên (Lê Chi Bá và các cộng sự ,2010)

Trang 28

Phường 3 có khoảng 8 dự án quy hoạch giao thông, 7 dự án dân dụng, 4

dự án công viên Phường IV có đến 17 dự án quy hoạch giao thông mà qua tìm hiểu thực tế, phần lớn đều là mở mới đi qua khu dân cư hiện hữu rất khó thực hiện Cũng ở phường IV có khoảng 7 dự án dân dụng, 3 dự án công viên

Căn cứ quy hoạch có thể nhận ra những điều bất hợp lý, chẳng hạn như một số tuyến đường mới trên địa bàn phường IV có lộ giới từ 19-27m lại nằm sát ngay bên tuyến đường hẻm sẵn có; trên con lộ chính môn A và B vẽ ra nhiều tuyến đường mới cắt đường hiện trạng thành rất nhiều giao lộ ngã 5 hoặc ngã 6 Theo một cán bộ quản lý đô thị thành phố Tây Ninh, phần lớn các dự án quy hoạch được thực hiện trước đây, nay đã bộc lộ một tư duy và tầm nhìn hạn chế, lạc hậu, thể hiện qua nhiều điều bất cập, bất hợp lý so với thời điểm hiện nay Vì thế rất cần phải rà soát, xem xét lại tính khả thi của những dự án quy hoạch trên địa bàn Thành phố UBND Thành phố cũng đã nhận ra điều này nhưng cái khó khăn là nguồn kinh phí để thực hiện việc rà soát, điều chỉnh khá lớn Hiện Thành phố đang trình UBND tỉnh đề nghị cho chủ trương và cấp vốn để thực hiện

Chất lượng quy hoạch sử dụng đất ở nước ta còn thấp, sự phối hợp giữa quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế, xã hội và quy hoạch phát triển các ngành, địa phương chưa đồng bộ Quy hoạch sử dụng đất chủ yếu dừng lại ở việc giải quyết, sắp xếp quỹ đất theo mục đích sử dụng, chưa căn cứ vào tiềm năng đất, chưa thực sự tính toán đầy đủ tới mục tiêu, hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường Vấn đề này dẫn đến thực trạng sản xuất nông nghiệp còn manh mún, rừng tiếp tục bị tàn phá, diện tích trống đồi trọc, đất bị xói mòn còn lớn Đặc biệt là sử dụng đất tại các khu công nghiệp, doanh nghiệp, đô thị, công trình hạ tầng ở tình trạng vừa thừa, vừa thiếu quỹ đất, nhiều nhà đầu tư được giao đất, cho thuê đất nhưng không sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả gây lãng phí quỹ đất (Lê Chi Bá và các cộng sự, 2010)

Trang 29

PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm địa bàn huyện Việt Yên

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

Việt Yên là huyện nằm ven sông Cầu, có địa giới hành chính như sau:

● Phía nam giáp tỉnh Bắc Ninh,

● Phía tây giáp huyện Hiệp Hòa,

● Phía đông giáp huyện Yên Dũng,

● Phía bắc giáp huyện Tân Yên và thành phố Bắc Giang

Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Việt Yên

(Nguồn: Phòng TM&MT huyện Việt Yên, 2014)

Trang 30

Việt Yên có vị trí tương đối thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế-xã hội : là đầu mối của một số tuyến giao thông quan trọng như quốc lộ 37, tỉnh lộ

298, nối vùng đồng bằng tỉnh Bắc Giang với các huyện miền núi phía Tây Bắc và Bắc của tỉnh và các tỉnh lân cận; có các tuyến giao thông huyết mạch xuyên Việt như quốc lộ 1A, đường sắt Bắc Nam và giao thông đường thủy trên sông Cầu; Nằm tương đối gần với thủ đô Hà Nội (cách 42 km) và một số trung tâm kinh tế - văn hóa – du lịch như thành phố Bắc Giang, thành phố Bắc Ninh, Với vị trí của mình Việt Yên có điều kiện để phát huy tiềm năng đất đai cũng như các nguồn lực khác cho sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn nói riêng và toàn tỉnh Bắc Giang nói chung

3.1.2 Điều kiện kinh tế-xã hội

3.1.2.1 Dân số và lao động

Dân số và lao động là nhân tố chủ lực điều tiết quá trình sản xuất và quyết định kết quả của quá trình sản xuất Do đó, trình độ của con người quyết định rất lớn đến hiệu quả của quá trình sản xuất Tình hình dân số và lao động của huyện Việt Yên thể hiện qua bảng 3.1:

Trang 31

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 21

Bảng 3.1 Biến động đất đai, dân số và kết quả sản xuất kinh doanh của huyện Việt Yên (2011-2013)

3 Tổng số nhân khẩu Người 165.954 100,00 167.896 100,00 169.719 100,00 101,17 101,09 101,13

Trang 32

Qua bảng 3.1 cho thấy, ở Việt Yên tốc độ phát triển bình quân dân số qua

3 năm tăng 1,13% Cùng với việc gia tăng về dân số thì số hộ cũng tăng tốc độ bình quân 3 năm tăng 1,12% Năm 2011, số hộ nông nghiệp là 38.755 hộ chiếm 85,56%, số hộ phi nông nghiệp là 6.540 hộ chiếm 14,44% Cơ cấu này trong năm

2012 và 2013 lần lượt là 82,1% số hộ nông nghiệp và 80,38%

Năm 2013 toàn huyện có tổng số 83.196 lao động, trong đó lao động nông nghiệp là 72.505 lao động chiếm 87,15%, còn lại là lao động ngành nghề khác Tốc độ lao động tăng các ngành nghề khác khá cao, đặc biệt là CN – TTCN tăng bình quân 3 năm là 16,91% Điều dễ nhận thấy là trong tình trạng đất canh tác có

xu hướng ngày càng giảm đi thì người lao động cần phải tìm cho mình một công việc khác ngoài nông nghiệp nếu hộ muốn nâng cao thu nhập Đây là một xu hướng tốt trong việc phân công lại lao động, chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp nông thôn, nhưng cũng là một thách thức lớn đối với các cấp, các ngành và toàn

xã hội trong việc tạo công ăn việc làm nâng cao thu nhập và đời sống của cư dân nông thôn

3.1.2.2 Tình hình phát triển kinh tế

Giá trị sản xuất của huyện năm 2013 đạt 2.796.489,4 triệu đồng; trong đó giá trị sản xuất ngành nông lâm nghiệp chiếm 32,24% đạt 901.558,2 triệu đồng, ngành công nghiệp – xây dựng có tốc độ phát triển cao năm 2010 đạt 854.211 triệu đồng đến năm 2012 đạt 1.260.098,1 triệu đồng, chiếm 45,06%, tăng 405.887,1 triệu đồng mức tăng bình quân qua 3 năm là 21,46%, ngành thương mại – dịch vụ đạt 481.003,7 triệu đồng năm 2011 đến năm 2013 đạt 634.803,1 triệu đồng tăng 153.779,4 triệu đồng mức bình quân qua 3 năm ngành thương mại - dịch vụ là 14,91%

Tính theo giá hiện hành, tốc độ tăng trưởng bình quân của toàn huyện đạt 14,13%, trong đó mức tăng thấp nhất là ngành nông lâm nghiệp với mức tăng đạt 5,45% và cao nhất là ngành công nghiệp – xây dựng với mức tăng là 21,46% Tốc độ tăng trưởng có sự khác nhau là do đặc thù của từng ngành sản xuất

3.1.2.3 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng

Trang 33

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 23

Bảng 3.2 Tình hình cơ sở vật chất của huyện năm 2011-2013

(Nguồn:Phòng thống kê huyện Việt Yên,2013)

Trang 34

Giao thông thủy bộ :Giao thông: hiện nay hệ thống giao thông trong huyện khá thuận lợi Với các tuyến đường bộ, đường thủy, đường sắt Tổng diện tích đất của ngành giao thông 831,92 ha, trong đó chủ yếu là đường bộ Các tuyến đường bộ có tổng chiều dài 105,63km (chưa kể đường liên xã, liên thôn, nội đồng), trong đó:

Quốc lộ 1A và quốc lộ 37 có tổng chiều dài 21,5 km với hệ thống đường nhựa Diện tích chiếm đất các quốc lộ là 19,09 ha Tuyến đường quốc lộ mới (cao tốc) đi qua Việt Yên với chiều dài 11,18 km, chiếm 24,59 ha đất,

Tỉnh lộ có 3 tuyến đường qua huyện (tỉnh lộ 298, 284, 269) có tổng chiều dài 17,3 km, các tuyến đường này đều đã được nhựa hóa Năm 2008 tuyến đường tỉnh lộ 298 kéo dài nối đường quốc lộ 1A và đường cao tốc chiều dài 3 km, nâng chiều dài đường tỉnh lộ 20,3 km

Nhìn chung mạng lưới giao thông đường bộ của Việt Yên được phân bố khá hợp lý và thuận tiện Tuy nhiên đối với đường liên thôn, nội thôn, nội đồng chất lượng đường còn thấp, bề mặt nhiều tuyến còn hẹp, mặt đường xấu, xuống cấp, hạn chế lớn đến khả năng lưu thông Trong thời gian gần đây, hệ thống giao thông của huyện đang từng bước được cải tạo, nâng cao chất lượng nền đường để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội ngày càng cao

Đường sắt: Chạy qua huyện có tuyến đường sắt quốc tế thành phố Hồ Chí Minh – Hà Nội – Đồng Đăng – Trung Quốc với chiều dài 110km và một ga đưa đón khách (ga Sen Hồ) Tổng diện tích chiếm đất là 8,8ha đã góp phần không nhỏ vào việc giao lưu hàng hóa phát triển kinh tế địa phương và đi lại của nhân dân Đường thủy: Sông Cầu chảy qua huyện 22 km Hiện nay nhân dân đang

sử dụng chuyên chở hàng hóa, vật liệu xây dựng rất thuận tiện tới các xã nằm ven sông ở phía nam huyện, cụ thể như xã Vân Hà có hàng Vân Hà là thuận lợi cho việc tiêu thụ hàng hóa bằng đường thủy Diện tích giao thông đường thủy được tính vào đất sông suối ở trong vùng

Nói chung, đất giao thông của huyện chiếm một tỷ lệ khá lớn (5,47% diện tích tự nhiên) bình quân 58m2/đầu người Qua đó cho thấy mạng lưới giao thông trong huyện đã phát triển ở mức khá, đáp ứng cơ bản sự phát triển kinh tế xã hội

Trang 35

của huyện Tuy nhiên, để đáp ứng được tốc độ phát triển kinh tế xã hội của huyện trong những năm tới, ngoài việc nâng cấp, sửa chữa và mở rộng các tuyến đường hiện có, cần phải xây dựng thêm một số tuyến đường mới (chủ yếu là đường xã thôn, nội đồng), đồng thời cũng phải dành ra một diện tích nhất định để phát triển

hệ thống giao thông tĩnh như bến xe, bãi đỗ xe

Điện: Hiện nay 100% số xã, thị trấn có điện lưới quốc gia với hơn 100%

số hộ được dùng điện Mạng lưới điện hiện nay tương đối ổn định với 51,83 km đường cao thế, 196,63 km đường điện hạ thế, 68 trạm biến áp hạ thế, với tổng công suất 11680 kwA Nhờ có điện lưới dùng vào sinh hoạt và sản xuất nên mức sống của người dân Việt Yên ngày một được cải thiện

Bưu điện – truyền thông: Trong huyện có bưu điện trung tâm, trạm phát sóng truyền thanh, ngoài ra còn có 4 bưu cục (Hồng Thái, Sen Hồ, Tràng, Quảng Minh)

Nhờ đưa kỹ thuật số và tin học nên mạng lưới thông tin liên lạc của huyện hòa nhập vào mạng lưới quốc gia và quốc tế, sóng truyền hình Trung ương phủ khắp tất cả các xã

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp tiếp cận

Trong nghiên cứu này, đã sử dụng các phương pháp tiếp cận sau :

- Tiếp cận theo hệ thống: là phương pháp sưu tầm, đọc, phân tích các chính sách, văn bản luật có liên quan đến đất đai, thu hồi đất Trong quá trình phân tích có những mặt đạt được nhưng tác giả tập trung nghiên cứu những vấn

đề còn tồn đọng, yếu kém

- Tiếp cận có sự tham gia của người dân : Phương pháp này được vận dụng trong nghiên cứu này nhằm cùng với người dân bàn bạc, thảo luận và đi đến thống nhất các phương án thu hồi đất để đảm bảo tính công khai, dân chủ và minh bạch

3.2.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Nghiên cứu này được tiến hành trên địa bàn huyện Việt Yên Tuy nhiên,

do hạn chế về nguồn lực, thời gian nên đề tài tập trung khảo sát 3 xã đại diện của huyện là: Xã Hồng Thái, xã Quang Châu và xã Hoàng Ninh

Trang 36

Lý do chọn 3 xã:

- Xã Hồng Thái là xã có diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tổng diện tích đất của huyện Việt Yên Trong những năm qua, công tác quản lý Nhà nước về đât nông nghiệp đã thu hồi để xây dựng khu công nghiệp Đình Trám đã bước đầu giải quyết việc làm cho gần 1.500 lao động Tuy nhiên việc thực hiện quy hoạch còn nhiều hạn chế

- Xã Quang Châu là xã có khu công nghiệp Quang Châu Đây là KCN lớn

và quan trọng hàng đầu của tỉnh Bắc Giang với tổng diện tích 426 ha được xây dựng theo mô hình quần thể kiến trúc hiện đại gồm: KCN - Khu đô thị - Khu vui chơi giải trí và dịch vụ nhưng công tác quản lý Nhà nước về thu hồi đất chưa hiệu quả

- Xã Hoàng Ninh là xã có cụm công nghiệp Hoàng Mai có tổng diện tích 19

ha, đến nay đã có 4 dự án đầu tư, trong đó 02 dự án đã đi vào sản xuất tuy nhiên công tác quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi chưa đạt hiệu quả

Một phần nguyên nhân dẫn đến công tác quản lý Nhà nước về đât nông nghiệp đã thu hồi chưa đạt được kết quả như mong đợi bởi vì chưa chủ động xử

lý những vướng mắc, phát sinh, giải quyết kiến nghị, khiếu nại của người dân

Do đó, tôi tiến hành nghiên cứu tại huyện Việt Yên với 3 xã điển hình này với mong muốn sẽ tìm ra được các nguyên nhân dẫn đến công tác quản lý Nhà nước

về đât nông nghiệp đã thu hồi chưa cao, từ đó có thể đề xuất các kiến nghị nâng cao công tác quản lý Nhà nước về đât nông nghiệp đã thu hồi trên địa bàn huyện

3.2.3 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu, thông tin

3.2.3.1 Thu thập tài liệu thứ cấp

Tôi thu thập những số liệu phản ánh tình hình đât nông nghiệp đã thu hồi giao cho khu công nghiệp ở tỉnh Bắc Giang và ở huyện Việt Yên; những thông tin liên quan đến việc quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp đã thu hồi; Những thông tin có qua sách báo tham khảo của các tác giả trong và ngoài nước, các công trình nghiên cứu về lĩnh vực đât nông nghiệp đã thu hồi…

Thu thập những số liệu phác họa điều kiện tự nhiên (Vị trí địa lý, địa hình, khí hậu,…), điều kiện kinh tế xã hội (diện tích đất đai, dân số, lao động, )

Trang 37

Những số liệu này được lấy từ báo cáo tổng kết hàng năm của UBND, HĐND huyện, xã, từ các phòng ban của huyện Việt Yên, phòng tài nguyên và môi trường, phòng NN&PTNT, phòng thống kê, phòng tài chính, phòng lao động TB&XH và ban giải phóng mặt bằng huyện

3.2.3.2 Thu thập số liệu sơ cấp

Điều tra tình hình thực hiện công tác quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi trên địa bàn huyện Việt Yên

Điều tra, phỏng vấn trực tiếp ban quản lý dự án, ban bồi thường - giải phóng mặt bằng huyện Việt Yên, sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Bắc Giang

Lập phiếu điều tra 03 cán bộ Phòng Tài nguyên Môi trường huyện Việt Yên, 27 cán bộ của các xã, thôn và 07Cán bộ Quản lý các KCN

Lập phiếu điều tra 60 hộ dân có diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi

3.2.4 Phương pháp xử lý và tổng hợp thông tin

Các dữ liệu sau khi thu thập được, tôi tiến hành tổng hợp lại, kiểm tra và hiệu chỉnh theo yêu cầu đầy đủ, chính xác và logic

Để phân tích, xử lý và đánh giá các kết quả nghiên cứu, tôi xử lý các số liệu thống kê bằng phần mềm EXCEL

3.2.5 Phương pháp phân tích thông tin

Các phương pháp phân tích thông tin được sử dụng trong nghiên cứu này là:

- Thống kê mô tả: Sử dụng các chỉ tiêu như số tương đối, số tuyệt đối, số bình quân,…nhằm:

+ Mô tả các mức độ về đất đai, nhân khẩu, lao động và thu thập của từng nhóm hộ

+ Mô tả tình hình thực hiện công tác quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp

đã thu hồi trên địa bàn huyện

- So sánh: So sánh tình hình thực hiện công tác quản lý Nhà nước về đất đai của các nhóm hộ nông dân có đất bị thu hồi

- Ý kiến đánh giá của người dân, cán bộ, lãnh đạo Đảng, Chính quyền…

Trang 38

3.2.6 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

3.2.6.1 Nhóm chỉ tiêu thể hiện tình hình đât nông nghiệp đã thu hồi

- Diện tích đất thu hồi của toàn huyện và của các nhóm điều tra

+ Cơ cấu đất đai huyện Việt Yên;

+ Tình hình sử dụng đất nông nghiệp sau thu hồi;

+ Diện tích đất NN đã thu hồi qua các năm;

- Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi bình quân

3.2.6.2 Nhóm chỉ tiêu thể hiện tình hình công tác quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi

+ Kiểm kê diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi;

+ Diện tích đất NN đã thu hồi phân theo mục đích sử dụng;

+ Số liệu cán bộ Quản lý đất nông nghiệp sau thu hồi huyện Việt Yên; + Chất lượng đội ngũ quản lý đất đai của huyện Việt Yên;

+ Tổng hợp các công trình, dự án thu hồi đất năm 2014;

+ Tình hình thu và sử dụng nguồn thu tiền sử dụng đất nông nghiệp đã thu hồi;

3.2.6.3 Nhóm chỉ tiêu thể hiện yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản lý Nhà nước

về đât nông nghiệp đã thu hồi

+ Số lượng cán bộ QLNN về ĐNN đã thu hồi;

+ Mức độ hài lòng với công việc của cán bộ QLNN về ĐNN đã thu hồi; + Đánh giá của CBQLĐĐ về kỹ năng nghiệp vụ

Trang 39

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Thực trạng quản lý nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi trên địa bàn huyện Việt Yên

4.1.1 Khái quát chung

4.1.1.1 Khái quát chung về đất nông nghiệp đã thu hồi

Địa giới hành chính huyện Việt Yên có 17 xã và 02 thị trấn Theo số liệu thống kê đất đai năm 2013 tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Việt Yên là 17014,76 ha Trong đó, đất nông nghiệp có diện tích lớn nhất 10957,17 ha chiếm 64,40% tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện Đất phục vụ cho các hoạt động phi nông nghiệp có tổng diện tích là 5803,16 ha chiếm 34,11% tổng diện tích đất

tự nhiên Còn lại diện tích chưa sử dụng là 254,43 ha chiếm 1,50% tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện

Biểu đồ 4.1 Cơ cấu đất đai của huyện Việt Yên

(Nguồn: Phòng TM&MT huyện Việt Yên, 2014)

Diện tích đất nông nghiệp của huyện hiện có 10957,17 ha chiếm 64,40% tổng diện tích đất tự nhiên Bình quân đất nông nghiệp toàn huyện là 693,6 m2/người

Đến nay, thực kế hoạch thu hồi, chuyển mục đích sử dụng đất năm 2014, trên địa bàn huyện Việt Yên đã thực hiện thu hồi, chuyển mục đích được 43 dự

Trang 40

án, với tổng diện tích là 229.484,70 m2 Trong đó có các dự án trong điểm như:

Dự án cải tạo nâng cấp Quốc lộ 1A, đường dây 500 Kv, Cải tạo nâng cấp đường vào chùa Bổ Đà , về cơ bản việc thu hồi bồi thường, GPMB đảm bảo tiến độ,

có mặt bằng cho chủ đầu tư và nhà thầu thi công, công trình, đảm bảo tiến độ; làm cơ sở cho việc giao đất, cho thuê đất, xây dựng các công trình phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội

Theo đó, tổng số dự án trên địa bàn huyện Việt Yên được thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh chấp thuận thông qua cho phép thu hồi, chuyển mục đích là

15 dự án, với tổng diện tích là 254.400 m2 (trong đó diện tích đất trồng lúa là 237.500 m2) Ngay sau khi có văn bản chấp thuận trên, UBND huyện đã triển khai, chỉ đạo yêu cầu các phòng ban chuyên môn và UBND các xã, thị trấn thực hiện kết quả như sau:

- Số dự án đã triển khai thực hiện, ban hành thông báo thu hồi đất, đã hoàn thiện hồ sơ, đang chờ giá đất cụ thể, để làm cơ sở ban hành quyết định thu hồi, phê duyệt phương án GPMB là 09 dự án/15 dự án, với diện tích là 173.805,0 m2, đạt 60% số dự án, đạt 68% số diện tích

Số dự án chưa triển khai là 6/15 dự án, chiếm 40 % Nguyên nhân, do một

số dự án như: Dự án xây dựng Kho bạc Nhà nước chưa triển khai thực hiện theo

Kế hoạch, một số công trình tại xã Tăng Tiến, Bích Sơn tới nay mới đang chuẩn

bị hồ sơ để triển khai thông báo thu hồi đất theo quy định

Ngày đăng: 17/09/2015, 18:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện  Việt Yên - quản lý nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi trên địa bàn huyện việt yên, tỉnh bắc giang
Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Việt Yên (Trang 29)
Bảng 3.1 Biến động đất đai, dân số và kết quả sản xuất kinh doanh của huyện Việt Yên (2011-2013) - quản lý nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi trên địa bàn huyện việt yên, tỉnh bắc giang
Bảng 3.1 Biến động đất đai, dân số và kết quả sản xuất kinh doanh của huyện Việt Yên (2011-2013) (Trang 31)
Bảng 3.2 Tình hình cơ sở vật chất của huyện năm 2011-2013 - quản lý nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi trên địa bàn huyện việt yên, tỉnh bắc giang
Bảng 3.2 Tình hình cơ sở vật chất của huyện năm 2011-2013 (Trang 33)
Bảng 4.1 Kết quả triển khai thực hiện các dự án - quản lý nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi trên địa bàn huyện việt yên, tỉnh bắc giang
Bảng 4.1 Kết quả triển khai thực hiện các dự án (Trang 41)
Bảng 4.3 Diện tích đất sử dụng trong TM - DV - quản lý nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi trên địa bàn huyện việt yên, tỉnh bắc giang
Bảng 4.3 Diện tích đất sử dụng trong TM - DV (Trang 42)
Bảng 4.4 Diện tích đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp - quản lý nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi trên địa bàn huyện việt yên, tỉnh bắc giang
Bảng 4.4 Diện tích đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp (Trang 43)
Bảng 4.5  Đánh giá sự phù hợp của hệ thống chính sách quản lý đất nông nghiệp đã thu hồi - quản lý nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi trên địa bàn huyện việt yên, tỉnh bắc giang
Bảng 4.5 Đánh giá sự phù hợp của hệ thống chính sách quản lý đất nông nghiệp đã thu hồi (Trang 46)
Bảng 4.6  Tổng hợp tình hình thực hiện nhiệm vụ đo đạc bản đồ địa chính - quản lý nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi trên địa bàn huyện việt yên, tỉnh bắc giang
Bảng 4.6 Tổng hợp tình hình thực hiện nhiệm vụ đo đạc bản đồ địa chính (Trang 48)
Bảng 4.7 Tổng hợp tình hình giao đất, cho thuê đất nông nghiệp - quản lý nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi trên địa bàn huyện việt yên, tỉnh bắc giang
Bảng 4.7 Tổng hợp tình hình giao đất, cho thuê đất nông nghiệp (Trang 55)
Bảng 4.8 Công tác thu hồi chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp đã - quản lý nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi trên địa bàn huyện việt yên, tỉnh bắc giang
Bảng 4.8 Công tác thu hồi chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp đã (Trang 56)
Bảng 4.9 Tổng hợp kết quả cấp GCNQSD đất đã cấp cho tổ chức từ 01/01/2011 đến 15/8/2014 - quản lý nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi trên địa bàn huyện việt yên, tỉnh bắc giang
Bảng 4.9 Tổng hợp kết quả cấp GCNQSD đất đã cấp cho tổ chức từ 01/01/2011 đến 15/8/2014 (Trang 58)
Bảng 4.10  Tổng hợp tình hình thu và sử dụng nguồn thu tiền sử dụng đất - quản lý nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi trên địa bàn huyện việt yên, tỉnh bắc giang
Bảng 4.10 Tổng hợp tình hình thu và sử dụng nguồn thu tiền sử dụng đất (Trang 60)
Bảng 4.11 Diện tích đất trồng lúa cần chuyển mục đích trên địa bàn các xã, - quản lý nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi trên địa bàn huyện việt yên, tỉnh bắc giang
Bảng 4.11 Diện tích đất trồng lúa cần chuyển mục đích trên địa bàn các xã, (Trang 67)
Bảng 4.13  Đánh giá của CBQLĐĐ về kỹ năng nghiệp vụ - quản lý nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi trên địa bàn huyện việt yên, tỉnh bắc giang
Bảng 4.13 Đánh giá của CBQLĐĐ về kỹ năng nghiệp vụ (Trang 72)
Bảng 4.1: Kết quả thực hiện các công trình dự án theo CV 1023 - quản lý nhà nước về đất nông nghiệp đã thu hồi trên địa bàn huyện việt yên, tỉnh bắc giang
Bảng 4.1 Kết quả thực hiện các công trình dự án theo CV 1023 (Trang 88)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w