3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 40 4.1 Khái quát về tình hình môi trường nông thôn trên địa bàn huyện Kỳ 4.1.1 Tình hình môi trường tại huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh 44 4.1.2 Thực trạng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TRẦN SUM
VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC ĐOÀN THỂ
TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TRẦN SUM
VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC ĐOÀN THỂ TRONG QUẢN
LÝ MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ : 60.34.04.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN TUẤN SƠN
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, nội dung, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi cũng xin cam kết rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Trần Sum
Trang 4Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Bộ môn Kế hoạch
& đầu tư, Khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn, Trường Học Viện Nông nghiệp Việt Nam đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Tôi xin cảm ơn Lãnh đạo UBND huyện Kỳ anh, Phòng thống kê, phòng Kinh tế; các tổ chức, ban ngành đoàn thể các xã Kỳ Long, Kỳ Thịnh, Kỳ Trinh đã cung cấp số liệu thực tế và thông tin cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đồng nghiệp, bạn bè, cùng toàn thể gia đình, người thân đã động viên, chia sẻ khó khăn, khích lệ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu đề tài
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Trần Sum
Trang 5MỤC LỤC
2.1 Cơ sở lý luận về vai trò của các tổ chức đoàn thể trong quản lý môi
2.1.4 Vai trò của các tổ chức đoàn thể trong quản lý môi trường nông thôn 18 2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của các tổ chức đoàn thể trong
2.2.1 Tình hình quản lý môi trường nông thôn trên thế giới và Việt Nam 23
Trang 63.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 40
4.1 Khái quát về tình hình môi trường nông thôn trên địa bàn huyện Kỳ
4.1.1 Tình hình môi trường tại huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh 44 4.1.2 Thực trạng công tác quản lý môi trường nông thôn tại huyện Kỳ
4.2 Vai trò của các tổ chức đoàn thể trong quản lý môi trường nông thôn
4.2.1 Vai trò của các tổ chức đoàn thể trong tuyên truyền, vận động trong
4.2.2 Tham gia xây dựng các quy chuẩn về quản lý môi trường nông thôn
4.2.3 Vai trò của các tổ chức đoàn thể tham gia quy hoạch và xây dựng cơ
sở hạ tầng quản lý môi trường nông thôn trên địa bàn huyện Kỳ Anh 58 4.2.4 Tham gia huy động nguồn lực cho hoạt động cải thiện môi trường
4.2.5 Tham gia giám sát, đánh giá việc thực hiện quản lý môi trường nông
4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tổ chức đoàn thể trong quản lý
4.3.1 Ý thức của người dân và các hội viên trong việc triển khai các hoạt
4.3.2 Năng lực cán bộ quản lý của các tổ chức đoàn thể trên địa bàn
4.3.3 Nguồn lực tài chính cho hoạt động của các tổ chức đoàn thể tại
Trang 74.4 Định hướng và giải pháp nâng cao vai trò các tổ chức đoàn thể trong quản
lý môi trường nông thôn tại huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh thời gian tới 77
4.4.3 Các giải pháp để nâng cao vai trò của các tổ chức đoàn thể trong
Trang 94.5 Các kênh thông tin mà người dân nhận được thông qua tuyên truyền
4.6 Tiến trình hoạt động về xây dựng các quy chuẩn trong quản lý môi
4.7 Tỷ lệ đại diện các tổ chức đoàn thể và người dân tham gia các cuộc họp 58 4.8 Sự tham gia của hội viên đoàn thể trong công tác quy hoạch 59 4.9 Hệ thống cây xanh công cộng trên địa bàn huyện Kỳ Anh 60 4.10 Quy hoạch tập trung nghĩa trang trên địa bàn huyện Kỳ Anh 61 4.11 Các tổ chức đoàn thể, hội viên tham gia đóng góp kinh phí cho hoạt
4.12 Huy động ngày công lao động xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn 66 4.13 Phân cấp quản lý và sử dụng các công trình nông thôn 68 4.14 Đánh giá mức sẵn lòng tham gia hoạt động cải tạo môi trường nông thôn 70
4.17 Số tiền huy động cho hoạt động của các tổ chức đoàn thể năm 2014 73
Trang 10DANH MỤC ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ, HÌNH, HỘP
4.2 Mô hình tuyên truyền phân loại và xử lý rác của các đoàn thể 63 4.3 Cây vấn đề về năng lực cán bộ của các tổ chức đoàn thể 71
4.2 Hội nông dân xã Kỳ Long ra quân làm vệ sinh môi trường 64 4.3 Hoạt động của mô hình “Đoạn đường thanh niên tự quản” 69
4.1 Tâm sự của cán bộ Hội phụ nữ trong việc tuyên truyền, vận động
4.2 Chia sẻ của cán bộ Đoàn thanh niên trong việc thành lập mô hình
Trang 11PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Xã hội loài người đang tiến gần hơn đến sự phát triển bền vững Đó là việc vừa phát triển kinh tế hiện đại song song với bảo vệ môi trường sinh thái Tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm môi trường vẫn đang hoành hành ở khắp mọi nơi trên hành tinh của chúng ta
Nông thôn Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi, kéo theo đó là sự phát sinh không ít vấn đề mà đặc biệt là tình trạng ô nhiễm môi trường Người dân nông thôn vốn xưa nay còn phải quan tâm nhiều hơn đến cuộc sống mưu sinh Khi đời sống chưa thực sự đảm bảo thì việc bảo vệ môi trường chỉ là thứ yếu Các nguồn chủ yếu gây ra hiện tượng ô nhiễm môi trường ở nông thôn đầu tiên phải kể đến là việc lạm dụng và sử dụng không hợp lý các loại hoá chất trong sản xuất nông nghiệp; việc xử lý rác thải sinh hoạt của từng hộ dân chưa triệt để; nhận thức, ý thức bảo vệ môi trường của người dân sinh sống ở nông thôn còn hạn chế Tiếp đó là sự quan tâm chưa đúng mức của các cấp, ngành và các tổ chức đoàn thể Ô nhiễm môi trường đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng, tác động xấu đến hệ sinh thái nông nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của người dân Vì vậy, bảo vệ môi trường nông thôn đang là một vấn đề cấp bách
Trong nông thôn, vai trò của các tổ chức đoàn thể là hết sức quan trọng
và có ý nghĩa đối với sự phát triển Kinh tế - Xã hội của địa phương cũng như đối với đời sống của mỗi người dân Các tổ chức đoàn thể trong nông thôn ra đời rất sớm chủ yếu có vai trò định hướng, giúp đỡ về mọi mặt đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, đồng thời củng cố bộ máy hoạt động của chính quyền tại địa phương Cho đến nay trong nông thôn vẫn đang tồn tại song song hai hình thức của các tổ chức đoàn thể đó là các tổ chức chính thống và các tổ chức phi chính thống Mỗi hình thức đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng, nếu tồn tại độc lập sẽ hoạt động không hiệu quả, nhưng nếu song song
Trang 12cùng tồn tại thì sẽ khắc phục được hạn chế của nhau từ đó giúp nông thôn phát triển bền vững Bên cạnh những tác động tích cực mà các tổ chức đoàn thể trong nông thôn đã và đang mang lại cho người dân thì một số tổ chức đoàn thể vẫn còn những hạn chế về mặt tổ chức, quản lý cho nên nhiều lúc hoạt động còn mờ nhạt, chưa thực hiện tốt vai trò sẵn có của mình
Huyện Kỳ Anh là một huyện nghèo thuần nông của tỉnh, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn song song với nó là nhận thức về môi trường nông thôn của người dân chưa được cao Các tổ chức đoàn thể trên địa bàn có vai trò rất quan trọng về kinh tế, xã hội, quản lý môi trường nông thôn địa phương
Hoạt động của các tổ chức đoàn thể trên địa bàn huyện Kỳ Anh thực sự đang phát huy những hiệu quả tích cực cho sự phát triển bền vững Để hiểu rõ hơn vai trò
của các tổ chức đoàn thể này chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài : “Vai trò của các
tổ chức đoàn thể trong quản lý môi trường nông thôn trên địa bàn huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 131.3 Câu hỏi nghiên cứu
1 Các tổ chức đoàn thể đóng vai trò như thế nào trong việc quản lý môi trường nông thôn?
2 Tình hình hoạt động của các tổ chức đoàn thể địa phương trong việc quản lý môi trường nông thôn ở huyện Kỳ Anh thời gian qua như thế nào?
3 Phân tích các yếu tổ ảnh hưởng đến các tổ chức đoàn thể liên quan đến quản
lý môi trường nông thôn trên địa bàn huyện Kỳ Anh?
4 Cần đề xuất những định hướng và giải pháp nào nhằm nâng cao vai trò của các tổ chức đoàn thể trong quản lý môi trường nông thôn trên địa bàn huyện trong thời gian tới?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của các tổ chức đoàn thể trong quản lý môi trường nông thôn trong quá trình xây dựng NTM hiện nay
Đối tượng khảo sát là các tổ chức đoàn thể ở một số xã của huyện Kỳ Anh nhằm làm rõ vai trò của họ trong quản lý môi trường nông thôn, bao gồm:
- Các hộ gia đình sống và hoạt động sản xuất trên địa bàn huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
- Các thành viên trong tổ chức đoàn thể được nghiên cứu
- Các công cụ quản lý môi trường nông thôn trên địa bàn huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
- Các cơ quan (UBND các xã, UBND và các phòng ban liên quan của huyện Kỳ Anh), những chính sách liên quan đến quản lý môi trường nông thôn tại huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
a) Về nội dung
Đề tài tập trung làm rõ vai trò hoạt động của một số tổ chức đoàn thể trong quản lý môi trường nông thôn; Nghiên cứu đề xuất định hướng và giải pháp nhằm tăng cường vai trò của các tổ chức đoàn thể trong công tác quản lý môi trường nông thôn
Trang 14b) Về không gian
Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên phạm vi huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà
Tĩnh Một số nội dung chuyên sâu được khảo sát trực tiếp tại các hộ gia đình,
một số tổ chức đoàn thể, các đơn vị quản lý môi trường nông thôn trong địa phương
c) Về thời gian
- Các dữ liệu và thông tin phục vụ cho đánh giá thực trạng được thu thập
từ năm 2012 - 2014
- Các dữ liệu sơ cấp được điều tra tại năm 2014
- Các giải pháp đề xuất cho giai đoạn 2015-2020
Trang 15PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận về vai trò của các tổ chức đoàn thể trong quản lý môi trường nông thôn
2.1.1 Khái niệm về vai trò các tổ chức đoàn thể
Trong cấu trúc của hệ thống Chính trị - Xã hội Việt Nam hiện nay bao gồm các tổ chức đoàn thể như: Mặt trận Tổ quốc, Đoàn thanh niên, Hội liên hiệp phụ nữ, Hội nông dân và Hội cựu chiến binh
Các tổ chức đoàn thể thống nhất giữa hai mặt chính trị và xã hội Điều này thể hiện sự tập hợp đoàn kết các lực lượng quần chúng đông đảo để thực hiện các nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước Phương thức tổ chức và hoạt động của các tổ chức này tuy khác với tổ chức Đảng và các cơ quan nhà nước nhưng đều gắn chặt với việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ do Đảng và Nhà nước giao phó Các tổ chức đoàn thể là hình thức tổ chức động viên, triển khai nguồn lực con người cho các mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong công cuộc do Đảng lãnh đạo, Nhà nước thống nhất quản lí Cùng với Đảng, Nhà nước, các tổ chức đoàn thể hợp thành hệ thống chính trị Việt Nam, trong đó Đảng giữ vai trò và trọng trách là người lãnh đạo trực tiếp Trong hệ thống Chính trị - Xã hội Việt Nam, với tính chất chính trị và tính chất xã hội rộng lớn, các tổ chức đoàn thể đóng vai trò là người tổ chức, vận động đông đảo quần chúng nhân dân thực hiện các nhiệm vụ đặt ra đối với cách mạng Việt Nam thông qua những hình thức phù hợp
Đoàn Thanh niên là tổ chức của thanh niên Việt Nam do Đảng Cộng sản
Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là thành viên của hệ thống chính trị, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và Pháp luật của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đoàn phối hợp với các cơ quan nhà nước, các đoàn thể và tổ chức xã hội, các tập thể lao động và gia đình chăm lo giáo dục, đào tạo và bảo vệ thanh thiếu nhi; tổ chức cho đoàn viên, thanh niên tích cực tham gia vào việc quản
lý nhà nước và xã hội (Điều lệ ĐTNCS Hồ Chí Minh, 2014)
Trang 16Hội liên hiệp phụ nữ là tổ chức tập hợp rộng rãi các tầng lớp phụ nữ Việt
Nam Hội tham gia tích cực trong các hoạt động vì hoà bình, đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới Mục đích của Hội là hoạt động vì sự bình đẳng, phát triển của phụ nữ, chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của phụ nữ Từ những tổ chức tiền thân cho đến Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, Hội đoàn kết các tầng lớp phụ nữ, phát huy truyền thống yêu nước, anh hùng, bất
khuất, trung hậu, đảm đang, tài năng, trí tuệ góp phần tích cực vào sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh (Điều lệ Hội Phụ nữ, 2014)
Hội Nông dân là tổ chức của giai cấp nông dân do Đảng Cộng sản Việt
Nam lãnh đạo và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ sở chính trị của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Hội nông dân Việt Nam có chức năng tập hợp, vận động, giáo dục hội viên nông dân phát huy quyền làm chủ, tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực về mọi mặt; đại diện giai cấp nông dân tham gia xây dựng Đảng và Nhà nước; chăm lo bảo vệ các quyền và lợi
ích của nông dân Việt Nam (Điều lệ hội nông dân, 2014)
Hội Cựu chiến binh là tổ chức đoàn thể thành viên của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, một tổ chức trong hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, hoạt động theo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và Điều lệ của Hội Mục đích của Hội là tập hợp, đoàn kết, tổ chức, động viên các thế hệ cựu chiến binh giữ gìn và phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền, chế độ, bảo vệ quyền lợi chính đáng và hợp pháp của cựu chiến binh, chăm lo giúp đỡ nhau về tinh thần và vật chất trong cuộc sống, gắn
bó tình bạn chiến đấu (Điều lệ hội cựu chiến binh,2014)
Các tổ chức đoàn thể bao gồm như: Mặt trận tổ quốc, Đoàn thanh niên, Hội nông dân, Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Hội người cao tuổi là nơi gắn kết các thành viên và hoạt động theo pháp luật, Điều lệ hội, những quy
Trang 17định của từng tổ chức đoàn thể Điểm chung của các tổ chức đoàn thể là được lập
ra do nhu cầu cần thiết của các thành viên, người lãnh đạo và các thành viên đều
tự nguyện, hào hứng tham gia các hoạt động vì lợi ích chung Thông qua vai trò thành viên của một tổ chức, các cá nhân trở nên tích cực hơn, tự giác hơn, họ sẵn sàng tham gia các hoạt động mang lại lợi ích thiết thực cho bản thân và cho các thành viên khác Ở nông thôn, các thành viên của các tổ chức này có gắn kết với nhau bởi tình làng nghĩa xóm, có vai trò tích cực trong các hoạt động khuyến nông, xóa đói giảm nghèo cho các thành viên, tín dụng, vận động các thành viên tham gia tích cực các hoạt động sản xuất, văn hóa, y tế, giáo dục, môi trường Như vậy, các tổ chức đoàn thể trong nông thôn đã và đang hình thành ngày càng thích ứng với nền kinh tế thị trường của đất nước có xu hướng ngày càng phát triển và hoạt động ngày càng có hiệu quả trên nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội trong nông thôn Các tổ chức này đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, trung thành với Đảng và Nhà nước
Mặt trận Tổ quốc là tổ chức liên hiệp tự nguyện của các đoàn thể nhân
dân và các cá nhân tiêu biểu của các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo; là tổ chức đại diện cho ý chí đại đoàn kết và nguyện vọng chân chính của nhân dân; nơi tập hợp trí tuệ của con người Việt Nam yêu nước, nơi thống nhất hành động giữa các tổ chức thành viên, phối hợp với chính quyền thực hiện nền dân chủ, chăm lo bảo vệ lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân; giám sát, bảo
vệ, tham gia xây dựng Nhà nước, quản lí xã hội (Điều lệ MTTQ, 2014)
2.1.2 Khái niệm quản lý môi trường nông thôn
a) Khái niệm môi trường
Theo luật bảo vệ môi trường(2005) thì Môi trường bao gồm các yếu tố tự
nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người
và tự nhiên
Theo định nghĩa của Tổ chức kinh tế văn hóa xã hội Liên Hợp Quốc (2000) thì Môi trường của con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình (tập quán, niềm tin ),
Trang 18trong đó con người sống và lao động, họ khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu của mình
Như vậy, môi trường sống của con người theo định nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sống, sản xuất của con người như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội,
* Tiêu chuẩn môi trường
Để có những căn cứ nhằm đánh giá chất lượng của môi trường phải sử dụng các tiêu chuẩn môi trường Tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mực, giới hạn cho phép được quy định dùng làm căn cứ để quản lý môi trường
Hệ thống tiêu chuẩn môi trường gồm:
- Tiêu chuẩn môi trường nước: Bao gồm nước mặt nội địa, nước ngầm, nước biển và nước ven biển, nước thải,
- Tiêu chuẩn môi trường không khí: Bao gồm khói bụi, khí thải
- Tiêu chuẩn liên quan đến bảo vệ đất canh tác, sử dụng phân bón trong sản xuất nông nghiệp
- Tiêu chuẩn bảo vệ thực vật, sử dụng thuốc trừ sâu, diệt cỏ
- Tiêu chuẩn liên quan đến bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, các di tích lịch
Tuy nhiên trong phạm vi của đề tài chúng tôi sử dụng tiêu chí môi trường trong bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới làm căn cứ đánh giá thực trạng môi trường nông thôn
b) Khái niệm quản lý môi trường
Hiện nay chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý môi trường Theo Lưu Đức Hải, Nguyễn Ngọc Sinh (2000) cho rằng: Quản lý môi trường bao gồm
hai nội dung chính là về môi trường và quản lý của các doanh nghiệp, các khu dân cư về môi trường
Trang 19Quản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội; có tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kỹ năng điều phối thông tin đối với các vấn đề môi trường có liên quan đến con người; xuất phát từ quan điểm sử dụng hợp lý tài nguyên và hướng tới phát triển bền vững
Có thể tổng hợp: Quản lý môi trường được thực hiện bằng tổng hợp các biện pháp luật pháp, chính sách, kinh tế, kỹ thuật, công nghệ, văn hóa, giáo dục Các biện pháp này có thể đan xen, phối hợp, tích hợp với nhau tùy theo điều kiện cụ thể của vấn đề đặt ra
c) Khái niệm về quản lý môi trường nông thôn
Quản lý môi trường nông thôn là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính
sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống
ở khu vực nông thôn trên cơ sở có sự tham gia của người dân theo phương châm
"dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý thành quả và dân hưởng lợi" Đây là cơ sở để phát huy nội lực, hướng vào xây dựng tính bền
vững cho nông thôn phát triển bền vững (Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới,2010)
Các mục tiêu chủ yếu của công tác về quản lý môi trường nông thôn bao gồm:
- Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinh trong hoạt động sống của con người trong khu vực nông thôn
- Phát triển bền vững kinh tế và xã hội ở khu vực nông thôn theo nguyên tắc bền vững bao gồm: Phát triển bền vững kinh tế, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, không tạo ra ô nhiễm và suy thoái chất luợng môi trường sống, nâng cao sự văn minh và công bằng xã hội
Các nguyên tắc chủ yếu của quản lý môi trường nông thôn bao gồm:
- Hướng công tác quản lý môi trường tới mục tiêu phát triển bền vững kinh tế
xã hội khu vực nông thôn, giữ cân bằng giữa phát triển và bảo vệ môi trường
- Kết hợp giữa chính quyền, các tổ chức kinh tế, xã hội và cộng đồng dân
cư trong việc quản lý môi trường
Trang 20- Quản lý môi trường cần được thực hiện bằng nhiều biện pháp và công cụ tổng hợp thích hợp
- Phòng chống, ngăn ngừa suy thoái môi trường cần được ưu tiên hơn việc phải xử lý, hồi phục môi trường nếu để gây ra ô nhiễm môi trường
- Người gây ô nhiễm phải trả tiền cho các tổn thất do ô nhiễm môi trường gây ra và các chi phí xử lý, hồi phục môi trường bị ô nhiễm Người sử dụng các
thành phần môi trường phải trả tiền cho việc sử dụng gây ra ô nhiễm đó (Cục môi trường, 2001)
d) Khái niệm về nông thôn
Các quốc gia trên thế giới trong quá trình phát triển đều phân các vùng lãnh thổ của mình thành hai khu vực là thành thị và nông thôn Các nhà xã hội học đã đưa ra một số tiêu chí phân biệt khu vực nông thôn và khu vực thành thị như thành phần xã hội của dân số, các di sản văn hóa, sự phồn thịnh, sự phân hóa
xã hội của dân cư, mức độ phức tạp của cấu trúc và đời sống xã hội, cường độ và
sự đa dạng của mối liên hệ xã hội… Sự khác nhau căn bản giữa nông thôn và thành thị được phản ánh rõ nét trong những nguyên lý của xã hội học nông thôn -
đô thị Trong đó những tiêu chí quan trọng giúp phân biệt khu vực nông thôn và
đô thị bao gồm sự khác nhau về nghề nghiệp, về môi trường, quy mô cộng đồng, mật độ dân số, tính hỗn tạp và thuần nhất của dân số, hướng di cư, sự khác biệt
xã hội và phân tầng xã hội, hệ thống tương tác trong từng vùng (Bảng 2.1) (Bộ tiêu chí nông thôn mới,2010)
Sự phân biệt nông thôn và thành thị có thể dựa vào các tiêu chí quy định cho từng vùng Đối với khu vực thành thị, nhiều nước đã thống nhất coi số lượng
dân cư làm tiêu chí để quy định đô thị Theo Từ điển Bách khoa của Liên Xô (cũ) năm 1986 thì đô thị là khu vực dân cư mà phần lớn dân cư ở đó làm ngoài nông nghiệp Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học xuất bản năm 2002 đã định
nghĩa đô thị là nơi dân cư đông đúc, là trung tâm thương nghiệp và có thể cả công nghiệp, thành phố hoặc thị trấn Cho đến nay, trên thế giới đều thống nhất coi đô thị là một điểm dân cư tập trung với số lượng lớn, mật độ cao và tỷ lệ người làm công nghiệp, dịch vụ nhiều hơn hẳn người làm nông nghiệp Tuy nhiên, cũng còn tùy vào tiêu chí cụ thể có sự khác nhau giữa các nước, xuất phát
từ đặc điểm riêng của mỗi nước
Trang 21Bảng 2.1 Tiêu chí phân biệt khu vực nông thôn và khu vực thành thị
Nghề nghiệp
Những người sản xuất nông nghiệp, một số ít phi nông nghiệp
Những người sản xuất công nghiệp, dịch vụ
Môi trường Môi trường tự nhiên ưu trội,
quan hệ trực tiếp với tự nhiên
Môi trường nhân tạo ưu trội, ít dựa vào tự nhiên
Kích cỡ cộng đồng
Cộng đồng làng bản nhỏ, văn minh nông nghiệp
Kích cỡ cộng đồng lớn hơn, văn minh công nghiệp
Mật độ dân số
Mật độ dân số thấp, tính nông thôn tương phản với mật độ dân số
Mật độ dân số cao, tính đô thị và mật độ dân số tương ứng nhau
Đặc điểm cộng
đồng
Cộng đồng đồng nhất hơn về đặc điểm chủng tộc và tâm
lý
Không đồng nhất về chủng tộc và tâm lý
Phân tầng xã hội
Sự khác biệt và phân tầng xã hội ít hơn so với đô thị
di cư cá nhân từ nông thôn ra thành thị
Cường độ di động lớn hơn, có biến động xã hội mới có di cư từ thành thị
về nông thôn
Tác động xã hội
Tác động xã hội tới từng cá nhân thấp hơn Quan hệ xã hội sơ cấp, láng giềng, huyết thống
Tác động tới từng cá nhân lớn hơn Quan hệ xã hội thứ cấp, phức tạp, hình thức hóa
(Nguồn: Mai Thanh Cúc, 2005)
Ở Việt Nam do đặc thù đất chật, người đông nên những quy định về tiêu chí của một đô thị khác nhiều so với các nước khác Quyết định số 132 - HĐBT ngày 5/5/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính Phủ) quy định nước ta có 5 loại đô thị như sau:
Trang 22+ Đô thị loại 1: Dân số đạt từ 1 triệu người trở lên, mật độ dân cư từ 15.000 người/km2, tỷ lệ lao động ngoài nông nghiệp từ 90% trở lên
+ Đô thị loại 2: Dân số đạt từ 350.000 đến 1 triệu người, mật độ dân cư 12.000 người/km2, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp từ 80% trở lên
+ Đô thị loại 3: Dân số từ 100.000 đến 350.000 người, mật độ dân cư đạt từ 10.000 người/km2 trở lên, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp từ 70% trở lên
+ Đô thị loại 4: Dân số từ 30.000 đến 100.000 người, mật độ dân cư đạt từ 8.000 người/km2 trở lên, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp từ 70% trở lên
+ Đô thị loại 5: Dân số từ 4.000 đến 30.000 người, mật độ dân cư đạt từ 6.000 người/km2 trở lên, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp từ 60% trở lên
Như vậy, khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối, nó có thể thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nhìn nhận dưới góc độ quản
lý, có thể hiểu “Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có
nhiều nông dân Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa - Xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác”
Một số đặc điểm riêng của nông thôn Việt Nam đó là:
Ở vùng nông thôn, các cư dân chủ yếu là nông dân và làm nghề nông, đây là địa bàn hoạt động chủ yếu của các ngành sản xuất vật chất nông, lâm, ngư nghiệp
và các ngành nghề sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp Trong các làng xã truyền thống, sản xuất nông nghiệp chiếm vị trí chủ chốt và là nguồn sinh kế chính của đại bộ phận nông dân Cùng với sự phát triển và tiến bộ của đất nước, đặc điểm này có sự thay đổi Các vùng nông thôn trong tương lai sẽ không phải chủ yếu có các nông dân sinh sống và làm nông nghiệp, thay vào đó là các cư dân cư trú và tiến hành các hoạt động kinh tế khác nhau, gồm cả sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp và thương mại dịch vụ Theo đó tỷ trọng lao động
và GDP của các ngành kinh tế ở nông thôn cũng thay đổi theo hướng gia tăng cho công nghiệp và dịch vụ
Trang 23Nông thôn thể hiện tính chất đa dạng về điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái, các vùng nông thôn quản lý một lượng tài nguyên thiên nhiên to lớn, phong phú và đa dạng, bao gồm các tài nguyên đất, nước, không khí, rừng, sông suối,
ao hồ, khoáng sản, hệ động thực vật gồm cả tự nhiên và do con người sáng tạo ra
Cư dân nông thôn có mối quan hệ họ tộc và gia đình khá chặt chẽ với những quy định cụ thể của từng họ tộc và gia đình Ở nông thôn, có nhiều gia đình trong một dòng họ cùng sinh sống và gắn bó gần gũi, khăng khít lâu đời Những người ngoài dòng họ cùng chung sống, góp sức phòng tránh thiên tai, giúp đỡ nhau trong sản xuất và đời sống hàng ngày tạo nên tình làng nghĩa xóm bền chặt Nông thôn lưu giữ và bảo tồn nhiều di sản văn hóa của quốc gia như các phong tục tập quán cổ truyền về đời sống, lễ hội, sản xuất nông nghiệp và ngành nghề truyền thống, các di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh… Đây chính
là nơi chứa đựng kho tàng văn hóa dân tộc, đồng thời là khu vực giải trí và du
lịch sinh thái phong phú và hấp dẫn đối với mọi người (Mai Thanh Cúc, 2005)
2.1.3 Nội dung quản lý môi trường nông thôn
a) Xây dựng các quy chuẩn về quản lý môi trường nông thôn
Quản lý môi trường nông thôn là tiêu chí số 17 trong Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới Môi trường đóng một vị trí quan trọng trong thực hiện Đối với từng địa phương, tùy đặc thù của mình để xây dựng các quy chuẩn và triển khai thực hiện cho phù hợp
Về môi trường được quy định trong Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới Đó là, tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn Quốc gia; các cơ sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường; không có các hoạt động gây suy giảm môi trường và có các hoạt động phát triển môi trường Xanh - Sạch - Đẹp; nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch; chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định
* Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn Quốc gia
Tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh và nước sạch là tỷ lệ hộ gia đình được
sử dụng nước theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt - QCVN 02:2009/BYT
Trang 24Đối với khu vực trung du miền núi phía Bắc và Tây Nguyên: 80% số hộ, trong đó 45% số hộ sử dụng nước sạch đáp ứng quy chuẩn quốc gia
Đối với vùng Đồng bằng sông Hồng, Đông nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long: 90% số hộ, trong đó 50% số hộ sử dụng nước sạch đáp ứng quy chuẩn quốc gia
Đối với vùng Bắc trung Bộ và Duyên hải Nam trung Bộ: 85% số hộ, trong đó 50% số hộ sử dụng nước sạch đáp ứng quy chuẩn quốc gia
* Các cơ sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường
Cơ sở sản xuất, kinh doanh hoạt động tại khu vực nông thôn, làng nghề đạt đủ các tiêu chuẩn qui định về môi trường là các Cơ sở sản xuất kinh doanh phải có một trong các điều kiện như: Cam kết không gây ô nhiễm môi trường, báo cáo đánh giá tác động môi trường,… Được cơ quan chức năng chấp thuận (cấp phép hoặc chứng nhận,…)
* Không có các hoạt động gây suy giảm môi trường và có các hoạt động phát triển môi trường Xanh - Sạch - Đẹp
Việc thực hiện các hoạt động phát triển môi trường môi trường xanh, sạch, đẹp được thực hiện qua các hình thức sau:
- Phát động và thực hiện các hoạt động cải thiện môi trường xanh sạch đẹp: + Có phát động và thực hiện tốt phong trào Xanh – Sạch - Đẹp
+ Định kỳ tổ chức tổng vệ sinh với sự tham gia của các tổ chức đoàn thể cùng người dân
+ Tổ chức trồng cây xanh ở nơi công cộng, đường giao thông và các trục giao thông chính nội đồng
- Cơ sở sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm môi trường: Được các cơ quan chức năng như: Cảnh sát môi trường, tài nguyên môi trường… Lập biên bản vi phạm, cảnh cáo, phạt đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường của các cơ sở sản xuất kinh doanh
* Nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch
- Nghĩa trang nhân dân được xây dựng phục vụ cho việc chôn cất của nhân dân trong xã hoặc cụm xã theo qui hoạch được UBND huyện phê duyệt
Trang 25- Phải đảm bảo khoảng cách ly vệ sinh của nghĩa trang đối với khu dân cư
≥100m; diện tích đất xây dựng cho mỗi mộ chôn cất một lần tối đa không quá 5m2
- Có quy chế về quản lý nghĩa trang quy định cụ thể khu nghĩa trang phải
có nơi trồng cây xanh, có lối đi thuận lợi cho việc thăm viếng Mộ phải đặt theo hàng, xây dựng đúng diện tích và chiều cao quy định
- Cùng với việc quy hoạch và xây dựng quy chế quản lý nghĩa trang cần vận động người dân:
+ Thực hiện hoả táng thay cho chôn cất ở những nơi có điều kiện
+ Thực hiện chôn cất tại nghĩa trang thay cho chôn cất tại vườn
- Đối với các xã chưa có quy hoạch nghĩa trang nhân dân phải đưa vào qui hoạch xây dựng nông thôn mới
* Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định
- Các cơ sở phải thực hiện thu gom, xử lý chất thải, nước thải theo quy định
- Các cơ sở phải thực hiện thu gom, phân loại chất thải rắn thông thường tại nguồn bằng các dụng cụ hợp vệ sinh theo hướng dẫn của tổ chức thu gom, vận chuyển;
- Phải ký hợp đồng dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn
b) Quy hoạch và xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ quản lý môi trường nông thôn
Để quản lý môi trường nông thôn được tốt thì vấn đề quy hoạch cơ sở hạ tầng cần được đặt lên hàng đầu Nếu quy hoạch không đi trước một bước và không có chất lượng thì không thể thực hiện hiệu quả trong việc quản lý môi trường
Quy hoạch cơ sở hạ tầng phục vụ quản lý môi trường nông thôn bao gồm: Thứ nhất, quy hoạch, xây dựng công trình cung cấp nước sạch cho địa phương nhằm đảm bảo cung cấp nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn Quốc gia cho các hộ dân Bên cạnh đó, cần quy hoạch, xây dựng hệ thống cung cấp nước sách đến từng hộ dân, đảm bảo tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước sạch
Thứ hai, bố trí, sắp xếp các khu chức năng, sản xuất, dịch vụ; hạ tầng môi trường trên địa bàn, theo tiêu chuẩn nông thôn mới, gắn với đặc thù, tiềm năng, lợi thế của từng địa phương; được mọi người dân của xã trong mỗi làng, mỗi gia đình ý thức đầy đủ, sâu sắc và quyết tâm thực hiện
Trang 26Thứ ba, quy hoạch, xây dựng hệ thống công viên cây xanh, hồ nhân tạo và trồng xây xanh công cộng, đường giao thông và các trục giao thông chính nội đồng, đảm bảo phát triển môi trường xanh, sạch, đẹp
Thứ tư, quy hoạch, xây dựng Nghĩa trang nhân dân phục vụ cho việc chôn cất của nhân dân trong xã hoặc cụm xã Việc quy hoạch cần phải đảm bảo khoảng cách ly vệ sinh của nghĩa trang đối với khu dân cư ≥100m; diện tích đất xây dựng cho mỗi mộ chôn cất
Thứ năm, quy hoạch, xây dựng hệ thống các khu xử lý rác thải, các bãi rác tập trung đảm bảo các yếu tố: Khoảng cách từ bãi chôn lấp đến các khu vực dân
cư, giải trí, các dòng chảy, thủy vực và các địa điểm sản xuất nông nghiệp và đô thị Các tầng nước ngầm hiện hữu, các nguồn nước mặt và các khu bảo tồn thiên nhiên trong khu vực Điểu kiện địa chất, điểu kiện thủy văn trong khu vực Các rủi ro do ngập lụt, sụt lún, lở đất, tuyết lở tại địa điểm dự kiến bãi rác Việc bảo
vệ di sản thiên nhiên và văn hóa trong khu vực
c) Huy động nguồn lực tham gia xây dựng và quản lý môi trường nông thôn
Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam đặt vị trí quan trọng của công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động phát triển kinh tế, xã hội Quan điểm này được thể hiện rõ trong Chỉ thị số 36/CT-TW ngày 25-6/1998: “Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân”
Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg, ngày 2-12-2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 cũng nhấn mạnh: “Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ của toàn xã hội, của các cấp, các ngành, các tổ chức, cộng đồng và mọi người dân” Các tổ chức bao gồm nhiều loại hình, như các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội Cộng đồng có thể hiểu theo nghĩa rộng trên phạm vi toàn xã hội, nhưng thông thường được hiểu là cộng đồng ở cơ sở, tức là nhóm người sống tại cùng một địa phương hoặc dưới sự quản lý của cùng một chính quyền địa phương Các tổ chức, cộng đồng, tuy có tính chất và đặc điểm khác nhau, nhưng đều phát huy vai trò trong hoạt động bảo vệ môi trường
Trang 27Vai trò bảo vệ môi trường được thể hiện qua việc đóng góp cả vật chất, lao động của toàn xã hội vào thực hiện xây dựng và quản lý môi trường, cụ thể:
- Huy động, liên kết với các doanh nghiệp xây dựng công trình cung cấp nước sạch và hệ thống cung cấp nước sạch đến từng cụm dân cư nhằm đảm bảo cung cấp nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn Quốc gia Việc liên kết có thể theo hình thức BOT
- Bố trí, di chuyển các doanh nghiệp, các tổ chức sản xuất di chuyển đến các khu chức năng, sản xuất, dịch vụ; hạ tầng môi trường trên địa bàn nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường trong khu dân cư Đồng thời vận động các tổ chức sản xuất ký cam kết bảo vệ môi trường
- Huy động người dân tham gia xây dựng hệ thống công viên cây xanh, hồ nhân tạo và trồng xây xanh công cộng, đường giao thông và các trục giao thông chính nội đồng
- Vận động người dân hiến đất xây dựng Nghĩa trang nhân dân phục vụ cho việc chôn cất của nhân dân trong xã hoặc cụm xã
- Vận động góp vốn, công sức xây dựng khu xử lý rác thải, các bãi rác tập trung Xây dựng các đội tự quản giữ gìn vệ sinh thôn, xóm Vận động nhân dân đóng góp hàng năm để trả tiền thu gom rác thải góp phần giảm ô nhiễm môi trường
d) Giám sát, đánh giá việc thực hiện quản lý môi trường nông thôn
Việc triển khai có hiệu quả các nội dung về quản lý môi trường nông thôn luôn là một thách thức đối với các địa phương Kể từ khi Luật bảo vệ môi trường hiện hành được thông qua vào năm 2005, lực lượng cảnh sát môi trường đã được thành lập Đây là một bước tiến lớn trong công tác bảo vệ môi trường Tuy nhiên, điều quan trọng là làm sao phải thu hút được các tổ chức đoàn thể và người dân tham gia bảo vệ môi trường mới có hiệu quả Quản lý môi trường cần được thực hiện tốt theo phương châm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”
Thực tế hiện nay, các tổ chức quần chúng ở tất cả các cấp từ trung ương đến địa phương và các nhóm công dân khó có thể tiếp cận được các dự thảo báo cáo đánh giá tác động môi trường và thậm chí cả các bản báo cáo đã được phê duyệt
Trang 28Do đó, trong thời gian tới để việc thực hiện giám sát, đánh giá môi trường khả thi cần công khai công khai các báo cáo đánh giá tác động môi trường trên trang tin điện tử của mình, để các nhóm dân cư có thể giám sát xem các biện pháp nêu trong báo cáo đã thực sự được thực hiện chưa
Cần xây dựng cơ chế quy định rõ hơn các quyền và nghĩa vụ của người dân, các nhóm cộng đồng dân cư không chính thức và các tổ chức chính trị - xã hội tham gia vào công tác bảo vệ môi trường Đối với các “tổ chức, cá nhân đã gây ra những tổn hại nghiêm trọng cho môi trường làm ảnh hưởng xấu lâu dài tới môi trường và sức khỏe của con người, thì tùy theo mức độ phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại và phục hồi môi trường theo quy định của Chính phủ” Tuy nhiên, thực tế hiện nay các hộ gia đình rất khó giám định và làm các bản đánh giá về các thiệt hại như vậy, cũng như sử dụng các bản đánh giá này để thưa kiện thành công, đặc biệt trong trường hợp họ không có nhiều tiền, thời gian kiến thức về khoa học và pháp lý bị hạn chế Do dó, chính quyền địa phương cần có cơ chế hỗ trợ công đồng dân cư trong việc giám sát, đánh giá tác động môi trường Với việc triển khai các dự án xây dựng công trình bảo vệ môi trường cần huy động sự tham gia giám sát của các tổ chức đoàn thể cùng người dân từ khâu quy hoạch, thiết kế, triển khai xây dựng và vận hành
2.1.4 Vai trò của các tổ chức đoàn thể trong quản lý môi trường nông thôn
Quản lý môi trường nông thôn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và xã hội Xác định rõ điều đó, các tổ chức đoàn thể đã phát huy vai trò của mình trong việc quản lý môi trường nông thôn, là thành viên trong Ban chỉ đạo tích cực tham gia đóng góp ý kiến xây dựng các quy chuẩn, lập quy hoạch và xây dựng cơ sở
hạ tầng phục vụ cho quản lý môi trường nông thôn; Tham gia giám sát, đánh giá việc thực hiện quản lý môi trường nông thôn; Tuyên truyền vận động nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong việc quản lý môi trường nông thôn
Vai trò trong quản lý môi trường nông thôn được thể hiện như sau:
Hội Cựu chiến binh: Phát huy bản chất truyền thống anh Bộ đội cụ Hồ cán
bộ, hội viên Hội Cựu chiến binh luôn nêu cao tính tiên phong gương mẫu, tham gia đóng góp tích cực về quản lý môi trường nông thôn ở địa phương, thường
Trang 29xuyên đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, hội viên
về ý nghĩa và mục đích của việc quản lý môi trường nông thôn Gắn phong trào thi đua "Cựu chiến binh gương mẫu" với phong trào thi đua toàn dân về bảo vệ môi trường Nhờ vậy nhiều cán bộ, hội viên đã tham gia đóng góp ngày công,
tiền bạc vào quản lý môi trường nông thông của địa phương ( Điều lệ hội cựu chiến binh, 2014)
Hội Phụ nữ: Thực hiện quản lý môi trường nông thôn Hội Phụ nữ đã chủ
động và tích cực tham gia trong công tác chỉ đạo, điều hành thông qua việc xây dựng quy chuẩn, thành viên ban chỉ đạo giám sát, đánh giá các công trình phục
vụ cho quản lý môi trường nông thôn Đặc biệt trong công tác tuyên truyền, phổ biến về lợi ích việc quản lý môi trường xung quanh Thông qua hoạt động tuyên truyền đã góp phần nâng cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm của mọi tầng lớp nhân dân, trong đó có nhiều cán bộ, hội viên phụ nữ trở thành lực lượng nòng cốt tham gia quản lý môi trường nông thôn, nhiều mô hình hay, cách làm tốt do cán
bộ phụ nữ thực hiện, nhiều tấm gương điển hình trong mô hình “Đoạn đường phụ
nữ tự quản”, “5 không 3 sạch”, góp tiền, ngày công lao động, Góp phần bảo vệ
môi trường ở các vùng nông thôn trong thời gian qua (Điều lệ hội phụ nữ, 2014)
Hội Nông dân: Vai trò nòng cốt trong việc tổ chức vận động Hội viên,
Nông dân tích cực tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường, đóng góp vào
sự phát triển bền vững của đất nước Những năm gần đây, cùng với sự phát triển không ngừng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, vai trò, vị trí của tổ chức Hội Nông dân ngày càng được khẳng định Với vai trò trung tâm và nòng cốt trong các phong trào nông dân Trong công tác bảo vệ môi trường, cán bộ, hội viên, toàn dân cả nước đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền các hội viên hội nông dân về các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước
về bảo vệ môi trường Phổ biến cho cán bộ hội viên nông dân và cộng đồng dân
cư hiểu rõ nguyên nhân của ô nhiễm môi trường, suy thoái cạn kiệt tài nguyên nước; phát động phong trào toàn dân tham gia tổng vệ sinh đường làng ngõ xóm, khơi thông cống rãnh, thu gom xử lý rác thải khu dân cư và nơi công cộng Đồng thời sử dụng an toàn và hiệu quả thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông
Trang 30nghiệp, trồng nhiều cây xanh, duy trì phong trào “Sạch từ nhà ra ngõ” và “Sạch
từ ngõ vào nhà”, “Sạch làng, tốt ruộng, đẹp quê hương”; xây dựng các mô hình chi tổ hội, tổ hợp tác thu gom phân loại, xử lý rác thải, câu lạc bộ tự quản về vệ sinh môi trường; tích cực tham gia có hiệu quả vào việc đầu tư quản lý và bảo vệ các công trình nước sạch nông thôn
Ngoài ra vận động, khuyến khích, động viên hội viên nông dân và cộng đồng dân cư phát huy nội lực, tham gia xây dựng mới, sửa chữa, nâng cấp và quản lý các công trình nước sạch, vệ sinh chuồng trại, xây dựng nhà tiêu hợp
vệ sinh, từng bước cải thiện đời sống, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cộng đồng góp phần bảo vệ môi trường nông thôn Huy động nguồn lực từ bên ngoài thông qua các dự án, kết hợp với trách nhiệm của cộng đồng, sự đóng góp của cán bộ, hội viên, nông dân để thực hiện có hiệu quả nhiều mô hình bảo vệ môi trường ở nông thôn như: Mô hình thu gom rác thải sinh hoạt tại khu dân cư
Do tích cực triển khai các hoạt động nhằm bảo vệ môi trường, so với trước đây nhận thức của hội viên và bà con nông dân về công tác bảo vệ môi trường
đã có chuyển biến rõ rệt, từ đó có thay đổi hành vi sống thân thiện với môi trường và hướng tới xây dựng môi trường nông thôn Xanh - Sạch - Đẹp và
bền vững (Điều lệ hội nông dân, 2014)
Đoàn Thanh niên: Là một lực lượng quan trọng xung kích trong các
phong trào thi đua xây dựng quê hương ngày càng văn minh giàu đẹp, đi đầu trong các hoạt động, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm Mỗi thanh niên là những người tích cực hưởng ứng, thực hiện hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền, vận động
đến với các các tầng lớp nhân dân ( Điều lệ đoàn thanh niên,2014)
Vận động thanh niên nông thôn tham gia học tập, nâng cao trình độ, tổ chức và xây dựng các phong trào thanh niên tại địa phương như: Thanh niên nông thôn trong công tác bảo vệ môi trường, thanh niên nông thôn trong phong trào văn nghệ, văn hóa của địa phương
Ngoài ra mỗi đoàn viên là một tuyên truyền viên, vận động gia đình, hàng xóm hiểu rõ được vai trò quan trọng trong việc quản lý môi trường nông thôn
Trang 31Tham gia đi đầu trong các hoạt động trồng cây xanh bảo vệ môi trường, vệ sinh các khu vực công cộng,
Tham gia xây dựng các quy chuẩn về quản lý môi trường nông thôn; vận động nông dân tiền của và góp ngày công để xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho quản lý môi trường; xây dựng các công trình bãi tập kết rác thải sinh hoạt,
vệ sinh khơi thông cống rãnh, tổ chức hoạt động các mô hình như “Đường thanh niên tự quản”,…
Trong nhiều năm qua đoàn thanh niên các cấp đã có nhiều phong trào hoạt động sôi nổi, thiết thực và hiệu quả Đặc biệt nhiều phong trào xung kích đã hướng về nông thôn khơi dậy tinh thần xung kích, vượt khó của thanh niên nông thôn góp phần quản lý môi trường nông thôn Thông qua các phong trào "4 đồng hành với thanh niên trên con đường lập thân lập nghiệp", "5 xung kích phát triển kinh tế - xã hội và Bảo vệ Tổ quốc" Đoàn thanh niên đã cùng các cấp, các ngành hỗ trợ thanh niên nông thôn trong các hoạt động như; chuyển giao kiến thức, kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt; hỗ trợ vốn vay để phát triển sản xuất, kinh doanh; phối hợp đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động trẻ Chính điều này đã từng bước hình thành lớp thanh niên nông thôn có kiến thức, tay nghề, có khát vọng vươn lên làm giàu chính đáng trên chính mảnh đất quê
hương mình (Điều lệ đoàn thanh niên, 2014)
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của các tổ chức đoàn thể trong quản lý môi trường nông thôn
Một là ý thức của người dân và các hội viên tham gia trong công tác quản lý môi trường nông thôn: Hiện nay, nhận thức của người dân về công tác quản lý môi
trường còn hạn chế, ý thức bảo vệ môi trường chung còn yếu Phần lớn người dân nhận thức việc quản lý môi trường chung là trách nhiệm của nhà nước, của chính quyền Tình trạng chất thải xả bừa bãi ở khu vực nông thôn trước hết là do người dân và các chủ cơ sở sản xuất còn thiếu ý thức bảo vệ môi trường Nhiều người có tâm lý "sạch riêng, bẩn chung”, cứ xả chất thải xa chỗ ở và cơ sở sản xuất là được
mà không cần quan tâm đến vệ sinh chung của cộng đồng Mặt khác, hiện nay là hầu hết các hộ dân đều chưa tự phân loại và xử lý rác ngay tại gia đình, để lẫn lộn
Trang 32rác hữu cơ và vô cơ rồi đổ ra bãi Thêm vào đó, thực trạng chạy theo lợi nhuận đã khiến các cơ sở sản xuất kinh doanh không mấy quan tâm đến trách nhiệm bảo vệ môi trường, tuy nhiên chính quyền không có các biện pháp xử lý thỏa đáng gây mất
lòng tin của người dân
Bên cạnh đó còn phụ thuộc vào yếu tố văn hóa từng địa phương Các hoạt
động về quản lý, bảo vệ môi trường của các tổ chức đoàn thể như cách thức thu gom, xử lý rác thải, nguồn nước… Ở các vùng nông thôn còn mang nhiều tính tự phát và chưa có hệ thống Khi bắt đầu có những nhân tố mới, làm thay đổi thói quen này thì họ lại chưa kịp thích ứng, cả về nhận thức, quan niệm và hành vi
Do vậy, vẫn có một bộ phận người dân chưa thực hiện thu đúng quy định gây ô nhiễm môi trường Bên cạnh đó, hành vi của tập thể và cộng đồng cũng chi phối đến hành vi của cá nhân Điều này được thể hiện khá rõ trong các cuộc thảo luận, bàn bạc lấy ý kiến người dân cũng như các cá nhân trong tổ chức đoàn thể Mặt khác, hiện nay các tổ chức cộng động không được trang bị các quyền cần thiết để quản lý môi trường sống của họ
Hai là năng lực vận động, tổ chức quần chúng của cán bộ các tổ chức đoàn thể: Trình độ chuyên môn của cán bộ hội viên tổ chức đoàn thể còn nhiều
hạn chế: thiếu năng lực, trình độ chuyên môn cho nên việc tuyên truyền, vận động không được phong phú dẫn đến người dân không hiểu và hiệu quả quản lý môi trường thấp Mặt khác, các cán bộ của các tổ chức chủ yếu là những người
làm việc bán chuyên trách nên thời gian và sự nhiệt tình còn có nhiều hạn chế
Ba là thể chế, chính sách: Việc quản lý môi trường nông thôn được lồng
ghép trong đánh giá “Gia đình văn hóa” và “xây dựng nông thôn mới” sẽ thúc đẩy cho quá trình đảm bảo vệ sinh môi trường tại các khu dân cư Tuy nhiên, xuất hiện một thực tế là các chính sách khi triển khai chưa đạt hiệu quả cao Bên cạnh đó, một số chính sách và quy định quản lý vẫn có những hiệu ứng phụ, hạn chế sự tham gia của các tổ chức đoàn thể Một số chính sách không hợp lý, hoặc việc phổ biến chính sách, thông tin chưa đầy đủ cũng hạn chế sự tham gia của các tổ chức đoàn thể Việc tuyên truyền vận động người dân trong việc bảo vệ môi trường không thường xuyên, còn mang nặng tính hình thức, phong trào,
Trang 33công tác quản lý ô nhiễm không được chú trọng, quy hoạch thiếu đồng bộ… Ngoài ra, các chính sách khen thưởng chưa được triển khai ở khu dân cư cũng hạn chế mức độ tham gia của người dân cũng như các tổ chức đoàn thể
Bốn là nguồn lực cho hoạt động: Hiện nay nguồn kinh phí cho các tổ chức
đoàn thể hoạt động gần như là không có Nguồn thu chủ yếu chỉ dựa vào quỹ đóng góp của hội viên và hỗ trợ của chính quyền địa phương nhưng không đáng kể Những yếu tố trên đây lý giải phần nào về tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn trong những năm qua ngày càng gia tăng và trầm trọng Tình trạng ô nhiễm này ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển bền vững Bên cạnh các cơ
sở sản xuất, các doanh nghiệp ở khu vực nông thôn hiện nay còn thiếu vốn đầu
tư, khoa học kỹ thuật trong việc xử lý các chất thải cũng gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường ngày một lan rộng từ môi trường không khí, môi trường nước đến môi trường đất Đối với các làng nghề thì hầu như chưa có hệ thống xử lý nước và chất thải Nhiều trang trại, hộ chăn nuôi hay doanh nghiệp có hầm khí biogas và bể xử lý nhưng lượng nước thải lớn nên chưa bảo đảm giải quyết triệt
để Các chất thải ngày ngày được tích tụ trong không khí, trong nước và trong đất không được xứ lý là những hiểm hoạ mà đời sau phải gánh chịu
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình quản lý môi trường nông thôn trên thế giới và Việt Nam
a) Trên thế giới
Trung Quốc là một quốc gia đông dân nhất thế giới (trên 1,3 tỷ người),
trong những năm qua, Trung Quốc đã đạt được những thành tựu đáng kể trong công tác bảo vệ môi trường Các nhà lãnh đạo Trung Quốc cho rằng, bảo vệ môi trường là việc lớn, làm cho dân giàu, nước mạnh, đất nước ổn định và liên quan tới an ninh môi trường của nhà nước Thực chất của bảo vệ môi trường tức là bảo
vệ sản xuất, phải thiết lập, hoàn thiện cơ chế quyết sách tổng hợp về môi trường
và phát triển, cán bộ địa phương phải đích thân nắm bắt và chịu trách nhiệm về vấn đề môi trường Tăng cường việc quản lý và giám sát thống nhất môi trường, tăng thêm vốn đầu tư cho bảo vệ môi trường, khuyến khích công chúng tham gia công tác BVMT Phải kiên trì song song phòng chống việc gây ô nhiễm và bảo
vệ sinh thái với 4 chủ trương lớn:
Trang 34Thứ nhất, đổi mới biện pháp bảo đảm: Theo nguyên tắc “ai làm ô nhiễm,
người đó xử lý”, kết hợp với tình hình thực tế của địa phương để đưa ra một cách khoa học những tiêu chuẩn và quy phạm về xử lý môi trường nông thôn, đồng thời lấy đó làm tiêu chuẩn và căn cứ cho các kết quả nghiệm thu xử lý Thống nhất quy hoạch và đẩy nhanh xây dựng một loạt các bãi chôn lấp rác thải và bãi
xử lý vô hại hóa rác thải, tăng cường nghiên cứu khoa học kỹ thuật về xử lý môi trường nông thôn, đưa ra những hỗ trợ kỹ thuật đối với công tác xử lý môi trường nông thôn Ngoài ra, thông qua phát động tuyên truyền để dẫn dắt đông đảo quần chúng nông dân tích cực, chủ động tham gia công tác xử lý môi trường, động viên lực lượng trong các phương diện xã hội quan tâm và tham gia công tác, hình thành phong trào toàn xã hội tham gia, toàn dân cùng xây dựng Phát huy đầy đủ tác dụng của các phương tiện thông tin truyền thông, kịp thời phát hiện các hành
vi vi phạm pháp luật, các hành vi gây rối loạn trong quá trình xử lý ô nhiễm môi trường nông thôn
Thứ hai, đổi mới phương thức xử lý: Về phương diện xử lý ô nhiễm và thu
gom rác thải sinh hoạt nông thôn, thực hiện người dân nông thôn tự xử lý, khích
lệ các làng thành lập Hội đồng nhân dân, dưới sự chỉ đạo của UBND xã, động viên tổ chức đông đảo người dân tham gia công tác xử lý môi trường Đẩy mạnh phương thức vận hành hoạt động thị trường hóa trong xử lý rác thải bằng cách đề
ra các biện pháp chính sách, mở rộng kênh tài chính, giảm chi phí xử lý môi trường Đẩy nhanh phát triển kinh tế tuần hoàn nông nghiệp, nỗ lực mở rộng mô hình sản xuất nông nghiệp sinh thái, xây dựng hệ thống tuần hoàn sinh thái, hệ thống tuần hoàn tài nguyên, hệ thống tiêu dùng xanh… Ngành nông nghiệp, tận dụng hết mức có thể các loại rác thải và tài nguyên tái sinh nông nghiệp, giảm bớt lượng xử lý cuối cùng của rác thải Về phương diện xử lý ô nhiễm tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại nông thôn và ô nhiễm môi trường nước, phát huy đầy đủ vai trò chỉ đạo của chính quyền, các cơ quan chủ quản hành chính các cấp cần tăng cường tổ chức lãnh đạo, căn cứ chức năng của mình để quản lý theo pháp luật, thực hiện tốt nhiệm vụ, tích cực đẩy mạnh công tác xử lý môi trường
Trang 35Thứ ba, đổi mới cơ chế đầu tư: Nguồn kinh phí cần thiết cho việc xử lý môi
trường nông thôn được giải quyết theo biện pháp “Bên trên chi một ít, thành phố và huyện chi một ít, tư bản xã hội chi một ít, thị trấn và xã chi một ít, cộng đồng thôn
và các hộ nông dân chi một ít” “Bên trên chi một ít” có nghĩa là tích cực chủ động tranh thủ sự hỗ trợ của tỉnh và Nhà nước đối với công tác xử lý môi trường nông thôn “Thành phố và huyện chi một ít” tức là tài chính hai cấp huyện và thành phố sẽ đưa kinh phí xử lý môi trường nông thôn vào dự toán tài chính “Tư bản xã hội chi một ít” tức là sử dụng phương thức vận dụng thị trường hóa, thu hút tư bản xã hội tham gia xử lý môi trường nông thôn “Thị trấn và xã chi một ít” tức là các xã và thị trấn cần sắp xếp một nguồn kinh phí nhất định cho xử lý môi trường nông thôn
“Cộng đồng thôn và các hộ nông dân chi một ít” tức là cộng đồng thôn có cơ sở nhất định trong kinh tế tập thể có thể chi một phần trong kinh tế tập thể, phần còn lại thông qua đề xuất với người nông dân hoặc thành lập Hội đồng nông dân của làng
để tập trung người nông dân tham gia xử lý môi trường nông thôn
Thứ tư, đổi mới thể chế quản lý: Theo nguyên tắc quản lý thuộc địa hóa,
kiên trì phương thức kết hợp sự dẫn dắt của Chính phủ, dân làng tự trị, xã hội tham gia để đẩy mạnh xử lý môi trường nông thôn Tích cực tìm tòi phương thức vận hành hoạt động thị trường hóa trong xử lý môi trường nông thôn, phải đề ra các kế hoạch, biện pháp, phương án có hệ thống, phản ánh rõ nét toàn bộ quá trình công tác xử lý môi trường thông qua quản lý phần mềm máy tính, xây dựng
cơ chế cạnh tranh và khích lệ, từng bước làm mờ nhạt vai trò chủ đạo của Chính phủ, tích cực dẫn dắt và thu hút tư bản xã hội tham gia xử lý, bảo vệ và quản lý môi trường nông thôn để công tác xử lý môi trường nông thôn được đưa vào quỹ đạo quản lý chế độ hóa, quy phạm hóa và có hiệu quả lâu dài
Với các chủ trương trên Trung Quốc đã có những biện pháp cứng rắn và kiên quyết đối với những cơ sở sản xuất gây ô nhiễm nghiêm trọng, những năm gần đây, Trung Quốc đã đóng cửa và xóa sổ hơn 84.000 doanh nghiệp nhỏ gây ô nhiễm nghiêm trọng Trên 90% trong số 238.000 doanh nghiệp gây ô nhiễm đã đạt tiêu chuẩn chất thải chủ yếu Đối với các doanh nghiệp, xí nghiệp đăng ký mới, luật pháp Trung Quốc yêu cầu phải giải trình về các biện pháp chống ô nhiễm môi trường
Trang 36Đối với hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường: hiện nay, Trung Quốc đã ban hành 6 bộ luật về bảo vệ môi trường, 10 văn bản pháp luật về tài nguyên và hơn 30 đạo luật BVMT, công bố hơn 90 quy tắc bảo vệ môi trường, ấn định 430 tiêu chuẩn bảo vệ môi trường quốc gia, 1.020 văn bản pháp quy bảo vệ môi trường địa phương
Đối với công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức về môi trường: giáo dục bảo vệ môi trường ở Trung Quốc đã được đưa vào nội dung giáo dục nghĩa vụ 9 năm, hoạt động xây dựng nhà trường xanh và cộng đồng trung cư xanh đã có ảnh hưởng xã hội ngày càng to lớn Trung Quốc khuyến khích công chúng tham gia bảo vệ môi trường, đặt đường dây điện thoại tố giác những người có hành vi xâm phạm môi trường mang số 12369 Tăng cường việc công bố thông tin môi trường, lần lượt dự báo và công bố chất lượng không khí mỗi ngày của 47 thành phố quan trọng, mỗi tuần thông báo về chất lượng nước mặt sông, ra thông báo về tình hình chất lượng môi trường cả nước trong 1 năm nhân ngày môi trường thế giới 5/6
hàng năm (Trương Thu Trang, 2009)
b) Ở Việt Nam
Cà Mau là một trong những địa phương đi đầu trong phòng trào triển khai
mô hình “Khu dân cư tự quản bảo vệ môi trường” nhằm nâng cao hiệu quả quản lý
mô trường nông thôn Mô hình này giúp cải thiện môi trường ngày càng Xanh - Sạch - Đẹp, góp phần tích cực trong phong trào xây dựng nông thôn mới hiện nay
Để tạo nên phong trào bảo vệ môi trường trong cộng đồng dân cư ở địa phương, Uỷ ban MTTQVN tỉnh Cà Mau đã phối hợp chặt chẽ với Sở Tài nguyên
và Môi trường thực hiện các hoạt động:
In ấn, phát hành hàng ngàn bảng cam kết, tờ rơi và các biểu mẫu khảo sát
để phục vụ cho công tác tuyên truyền, động viên, tổ chức các phong trào
Hướng dẫn tổ Mặt trận Tổ quốc các cấp chỉ đạo cơ sở tổ chức đăng ký cam kết công tác bảo vệ môi trường đến từng hộ trên địa bàn khu dân cư
Bên cạnh đó, Ban công tác Mặt trận các địa phương huy động các nguồn vốn vận động người dân Bê-tông hoá các tuyến đường dân sinh, xây dựng cống rãnh thoát nước, các bãi chứa rác thải, làm nhà vệ sinh tự hoại, bể nước sạch; đào
hố rác trong khuôn viên gia đình để xử lý chất thải tại chỗ
Trang 37Nhờ thực hiện tốt các hoạt động trên, tỉnh có 6 khu tự quản bảo vệ môi trường, trong đó có 2 điểm chỉ đạo của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam được duy trì thực hiện từ năm 2008 đến nay là ấp 10 (xã Trí Phải, huyện Thới Bình) và ấp Hố Gùi (xã Tam Giang Đông, huyện Năm Căn) Hằng năm, tại các điểm đều có tổ chức sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm, xét khen thưởng các tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc tự quản bảo vệ môi trường tại khu dân cư Đồng thời tập huấn công tác mặt trận nhằm trang bị những kỹ năng, kiến thức cơ bản trong cán bộ, đoàn viên và nhân dân về xây dựng đời sống văn hoá
Trên cơ sở thành công của các mô hình điểm, tỉnh xây dựng và nhân rộng phong trào “Khu dân cư Xanh - Sạch - Đẹp”, “Xã, phường an toàn và trong sạch môi trường” gắn với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” Tạo điều kiện thuận lợi để mọi tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình tham gia hoạt động BVMT; phát triển hình thức tự quản và tổ chức hoạt động dịch vụ vệ sinh môi trường hình thành nếp sống, thói quen và ý thức gìn giữ
vệ sinh môi trường trong nhân dân
2.2.2 Bài học vận dụng về quản lý môi trường nông thôn
Từ kết quả phân tích những kinh nghiệm trong về bảo vệ môi trường trên thế giới và Việt Nam, ta có thể rút ra những bài học vận dụng cho công tác quản
lý môi trường nông thôn như sau:
Thứ nhất, nhà nước cần phải đóng vai trò chủ chốt trong việc quản lý môi
trường Bằng các công cụ quản lý của mình, đồng thời kết hợp với việc tuyên truyền vận động và triển khai sâu rộng đến quần chúng nhân dân Mặt khác, để đạt được hiệu quả cao, Nhà nước cần mạnh tay và cứng rắn áp dụng các biện pháp xử lý đối với các trường hợp vi phạm
Thứ hai, hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý môi trường, đặc biệt là
việc cụ thể hóa các văn bản Cho đến nay, trong hệ thống luật pháp của nước ta chưa có một văn bản nào quy định cụ thể về việc xử lý vi phạm trong quản lý môi trường nông thôn, điều này gây khó khăn cho công tác QLMT
Thứ ba, tăng cường sử dụng các công cụ kinh tế trong quản lý vấn đề
chống ô nhiễm môi trường Tuy đã được hình thành, song các công cụ kinh tế
Trang 38được áp dụng chưa phát huy được tác dụng trong việc hạn chế và giảm thiểu ô nhiễm môi trường Nguyên nhân là việc áp dụng chưa cứng rắn, một số công cụ còn quá chung chung, biểu thuế chưa thật sự phù hợp với đặc điểm tình hình nền kinh tế nước ta Việc hoàn thiện và tăng cường sử dụng các công cụ kinh tế là cần thiết nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả trong kiểm soát ONMT
Thứ tư, quản lý môi trường là nhiệm vụ của toàn xã hội do đó cần phải tăng
cường công tác tuyên truyền, giáo dục để nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của người dân, các biện pháp cần thiết lôi kéo sự tham gia của cộng đồng vào việc giải quyết các vấn đề về môi trường nông thôn Xây dựng khu dân cư “Xanh - Sạch - Đẹp”, “Xã, phường an toàn và trong sạch môi trường” gắn với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”
Trang 39PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Kỳ Anh nằm ở phía Đông Nam tỉnh Hà Tĩnh, vào khoảng 17,5 – 18,1 độ
vĩ Bắc; 106,28 độ kinh Đông Vị trí địa lý của huyện như sau: Phía Bắc và Tây Bắc giáp huyện Cẩm Xuyên, phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Quảng Bình, phía Đông giáp Biển Đông; có bờ biển dài 63km, quốc lộ 1A chạy dọc huyện có chiều dài 57km, quốc lộ 12 nối với cửa khẩu Cha Lo Diện tích tự nhiên: 105.429 ha, trong đó 74% diện tích là đồi núi Dân số năm 2013 là 192.740 người, lao động 90.343 người
Kỳ Anh có 32 xã và 1 thị trấn, trong đó có 9 xã ở phía nam với tổng diện tích 22.781ha, năm trong khu kinh tế Vũng Áng theo quyết định 72-QĐ/TTg ngày
03/04/2006) của thủ tướng chính phủ ( UBND tỉnh Hà Tĩnh,2014)
Hình 3.1 Bản đồ huyện Kỳ Anh
Trang 403.1.1.2 Đặc điểm khí hậu, thời tiết
Số liệu từ trung tâm khí tượng thủy văn vùng cho thấy huyện Kỳ Anh nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa Sự phân hóa khí hậu không thật sự rõ rệt theo quy luật thời gian và khá khắc nghiệt đặc điểm chung là chia thành 2 mùa; mùa khô từ tháng 12 năm trước đến tháng 6 năm sau và mùa mưa từ tháng
7 đến tháng 11 Nhiệt độ bình quân hàng năm 24,50C, nhiệt độ tối cao là 39,20C (ở tháng 5 và tháng 6), nhiệt độ tối thấp là 9,40C (ở tháng 11) Tổng lượng mưa bình quân hàng năm tương đối lớn, trung bình 2.462,8mm nhưng phân bố không đều giữa các tháng trong năm Lượng mưa chủ yếu tập trung từ tháng 5 đến tháng 11 là 2.005,4mm (chiếm 81,4% cả năm) Tổng lượng mưa các tháng còn lại chỉ chiếm khoảng 18,6% lượng mưa cả năm Lượng bốc hơi; mùa Đông khi nhiệt độ không khí thấp, độ ẩm tương đối cao, ít gió, áp lực không khí lại lớn nên lượng bốc hơi rất nhỏ, chỉ chiếm từ 15 - 55% lượng mưa Mùa nóng, do nhiệt độ không khí cao, độ ẩm thấp, gió lớn, áp lực không khí giảm nên cường độ bốc hơi lớn, lượng bốc hơi của 6 – 7 tháng mùa nóng bằng 106-150% lượng mưa, như vậy có sự chênh lệch rất lớn về lượng bốc hơi giữa các tháng trong mùa nóng và mùa lạnh Độ ẩm không khí bình quân là 81,5%
3.1.1.3 Tài nguyên thiên nhiên