Theo nghĩa hẹp: QLNN là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người do các cơ quan hành chính Nhà nước c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN TUẤN SƠN
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là của riêng tôi, trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ
rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Trần Thị Diệu Thúy
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn này tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhiều thầy cô giáo, cá nhân, các cơ quan và tổ chức Tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới tất cả các thầy cô giáo, cá nhân, các cơ quan và tổ chức đã quan tâm giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo, PGS TS Nguyễn Tuấn Sơn, người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Ban Chủ nhiệm Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Bộ môn Kế hoạch và Đầu tư, các thầy cô giáo Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi về nhiều mặt trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Cục Xuất bản, In và Phát hành, Sở Thông tin
và Truyền thông Hà Nội, Lãnh đạo và cán bộ của ba Nhà xuất bản: Khoa học xã hội, Đại học Quốc gia Hà Nội, Chính trị quốc gia – Sự thật đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra thực tế để nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn những người thân và bạn bè đã chia sẻ cùng tôi những khó khăn, động viên và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Trần Thị Diệu Thúy
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục viết tắt vii
Danh mục bảng viii
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÔNG TÁC XUẤT BẢN 4
2.1 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với công tác xuất bản 4
2.1.1 Một số khái niệm liên quan đến quản lý nhà nước về xuất bản 4
2.1.2 Đặc điểm và vai trò cơ bản của quản lý nhà nước về xuất bản ở Việt Nam hiện nay 9
2.1.3 Các nguyên tắc và nội dung của quản lý nhà nước về xuất bản ở Việt Nam hiện nay……… 15
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về xuất bản 20
2.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý nhà nước đối với công tác xuất bản 23
2.2.1 Kinh nghiệm QLNN về công tác xuất bản ở một số nước trên thế giới 23
2.2.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho công tác quản lý nhà nước về xuất bản tại Hà Nội 30
2.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 31
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
Trang 53.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 33
3.1.1 Khái quát thị trường xuất bản ở Hà Nội 33
3.1.2 Đặc điểm của Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội và Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật 34
3.2 Phương pháp nghiên cứu 39
3.2.1 Chọn điểm và chọn mẫu nghiên cứu 39
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 40
3.2.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 41
3.2.4 Phương pháp phân tích 41
3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 42
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43
4.1 Thực trạng quản lý nhà nước về công tác xuất bản trên địa bàn thành phố Hà Nội 43
4.1.1 Tổ chức bộ máy và phân cấp QLNN về xuất bản 43
4.1.2 Về các loại hình tổ chức và hoạt động của nhà xuất bản 46
4.1.3 Thực trạng hoạt động QLNN về xuất bản trên địa bàn Tp Hà Nội 47
4.2 Những nhân tố ảnh hưởng tới QLNN về xuất bản 70
4.2.1 Hệ thống văn bản pháp quy về quản lý công tác xuất bản 71
4.2.2 Công tác tổ chức thực hiện quản lý nhà nước về xuất bản 72
4.2.3 Việc thích ứng với cơ chế thị trường và yêu cầu hội nhập kinh tế 74
4.2.4 Việc chấp hành pháp luật xuất bản 76
4.2.5 Việc xử lý vi phạm trong hoạt động xuất bản 77
4.3 Đánh giá chung về công tác QLNN về xuất bản trên địa bàn thành phố Hà Nội trong những năm qua 78
4.3.1 Những thành tựu đạt được 78
4.3.2 Những tồn tại, hạn chế 80
4.4 Quan điểm và giải pháp tăng cường QLNN về xuất bản trên địa bàn thành phố Hà Nội 84
4.4.1 Yêu cầu khách quan và các quan điểm của việc tăng cường QLNN về xuất bản ở Hà Nội hiện nay 84
Trang 64.4.2 Một số giải pháp tăng cường QLNN về xuất bản trên địa bàn thành
phố Hà Nội 89
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99
5.1 Kết luận 99
5.2 Kiến nghị 101
5.2.1 Đối với Chính phủ và Bộ TT-TT, Sở TT-TT Hà Nội 101
5.2.2 Đối với các Nhà xuất bản trên địa bàn thành phố Hà Nội 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC I 107
Trang 8DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng
Trang
3.1 Phân bổ mẫu điều tra năm 2014 40
4.1 Tổ chức loại hình Nhà xuất bản trên địa bàn thành phố Hà Nội giai
đoạn 2012-2014 47
4.2 Kết quả hoạt động sản xuất – kinh doanh của Nhà xuất bản
CTQG-ST giai đoạn 2012-2014 49
4.3 Kết quả hoạt động sản xuất – kinh doanh của Nhà xuất bản Khoa
học xã hội giai đoạn 2012-2014 53
4.4 Số lượng đề tài khoa học nghiên cứu về ngành xuất bản trên địa bàn
thành phố Hà Nội giai đoạn 2012-2014 60
4.5 Đánh giá của cán bộ quản lý tại các nhà xuất bản về tình hình cơ sở
vật chất và trang thiết bị trên địa bàn thành phố Hà Nội 62
4.6 Tình hình tập huấn, đào tạo về công tác QLNN về xuất bản, in, phát
hành cho các nhà xuất bản trên địa bàn Tp Hà Nội giai đoạn
2012-2014 64
4.7 Tình hình cấp giấy phép trong công tác quản lý hợp tác quốc tế trong
hoạt động xuất bản của Sở TT-TT Hà Nội giai đoạn 2012-2014 66
4.8 Tình hình thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm pháp luật trong hoạt
động XB trên địa bàn Tp Hà Nội giai đoạn 2012-2014 68
4.9 Đánh giá của các cán bộ quản lý về hiệu quả các văn bản pháp quy
đã ban hành về quản lý hoạt động xuất bản năm 2014 71
4.10 Hiệu quả QLNN về công tác xuất bản trên địa bàn thành phố Hà Nội
thời gian qua 73
4.11 Đánh giá vai trò của các giải pháp tăng cường QLNN về xuất bản
trên địa bàn thành phố Hà Nội 97
Trang 9PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau gần 30 năm đổi mới đất nước, hoạt động xuất bản đã đạt được những thành tựu quan trọng, đóng góp không nhỏ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta Hoạt động xuất bản có vai trò đặc biệt trong đời sống xã hội nói chung, văn hóa nói riêng Các quan hệ xã hội về xuất bản rất đa dạng, phong phú
và phức tạp, đan xen giữa văn hóa - tư tưởng với kinh tế, giữa lao động sáng tạo của tư duy với lao động sản xuất vật chất, nó xuyên suốt quá trình sản xuất - lưu thông và tiêu dùng xuất bản phẩm Hoạt động xuất bản là kênh thông tin quan trọng để tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, góp phần ổn định chính trị, phát triển văn hóa và kinh tế, nâng cao dân trí, đời sống tinh thần của nhân dân Song hoạt động xuất bản ở nước ta cũng còn nhiều hạn chế như: chưa mang tính chuyên nghiệp, công tác chỉ đạo, quản lý nhà nước chưa bám sát thực tiễn, chất lượng về nội dung và hình thức của xuất bản phẩm chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của bạn đọc, một số sai phạm diễn ra trong thời gian dài… Do đó, tăng cường quản lý nhà nước (QLNN) về xuất bản là vấn đề quan trọng luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, tháng 11 năm 1946 Quốc hội họp khóa thứ 2 đã thông qua Hiến pháp, bảo đảm các quyền tự do dân chủ cho nhân dân, trong đó có quyền tự do xuất bản: "Công dân Việt Nam có quyền tự
do ngôn luận, tự do xuất bản " Kể từ đó, Đảng và Nhà nước ta thường xuyên sửa đổi, hoàn thiện các chủ trương, đường lối QLNN đối với xuất bản nhằm phát triển kinh tế - xã hội Hoạt động QLNN về xuất bản đã có những đổi mới đáng kể, mang lại những kết quả tích cực, đặc biệt là từ khi Luật Xuất bản năm
1993 và năm 2004 có hiệu lực thi hành và hiện nay là Luật Xuất bản số 19/2012/QH13 của Quốc hội Tuy nhiên, QLNN đối với xuất bản ở Việt Nam nói chung và hoạt động xuất bản tại Hà Nội nói riêng hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế:
Mô hình tổ chức và cơ chế chính sách cho hoạt động xuất bản còn nhiều bất cập, hoạt động xuất bản còn nhiều khó khăn, thách thức gay gắt, hoạt động kém hiệu quả; còn nặng về trông chờ, bao cấp; thị trường xuất bản phẩm chưa được quản lý
Trang 10chặt chẽ, hệ thống phát hành xuất bản phẩm chưa được quan tâm, củng cố đúng mức, đang có nguy cơ bị thu hẹp
Ngoài ra, trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, hoạt động xuất bản còn chịu tác động mạnh từ nhiều phía, việc duy trì hoạt động xuất bản lành mạnh, đảm bảo chất lượng là điều không đơn giản Từ những hạn chế trên đòi hỏi phải tăng cường QLNN đối với hoạt động xuất bản tại Việt Nam nói chung và tại Hà Nội nói riêng Tăng cường QLNN đối với xuất bản được tiến hành trên nhiều phương diện và pháp luật xuất bản là công cụ quan trọng nhất trong QLNN về xuất bản Tuy nhiên, thực tế thời gian qua cho thấy, bên cạnh những mặt ưu điểm, tích cực, QLNN về xuất bản còn chung chung, hiệu quả chưa cao, lạc hậu, nhiều nội dung không phù hợp với thực tiễn hoạt động xuất bản hiện nay của các Nhà xuất bản Chính vì vậy, tăng cường QLNN về công tác xuất bản là một đòi hỏi khách quan, vừa có ý nghĩa cấp thiết vừa mang tính
lâu dài Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Tăng cường quản lý nhà nước về công tác xuất bản trên địa bàn thành phố Hà Nội” để nghiên cứu luận văn thạc sĩ
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đề xuất định hướng và giải pháp tăng cường QLNN về công tác xuất bản ở
Hà Nội trong thời gian tới
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm trả lời các câu hỏi sau đây liên quan đến vai trò của quản lý nhà nước đối với công tác xuất bản tại Hà Nội:
1 Quản lý nhà nước đối với công tác xuất bản hiện nay như thế nào, cụ thể
Trang 11bằng những công cụ nào?
2 Vì sao phải tăng cường quản lý nhà nước đối với công tác xuất bản?
3 Công tác xuất bản sẽ có thuận lợi khó khăn gì sau khi được quản lý chặt chẽ bởi các quy định của luật xuất bản?
4 Cần những giải pháp gì nhằm tăng cường quản lý nhà nước đối với công tác xuất bản?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác QLNN về hoạt động xuất bản trên địa bàn thành phố Hà Nội bao gồm 3 lĩnh vực: xuất bản, in và phát hành Mỗi lĩnh vực có một vị trí, đặc trưng riêng, song không thể tách rời nhau, trong đó xuất bản sách là trọng tâm
Đối tượng khảo sát: cán bộ Cục Xuất bản, In và Phát hành, Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội, của 3 Nhà xuất bản trên địa bàn Tp Hà Nội được lựa chọn nghiên cứu
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về không gian
Nghiên cứu về quản lý nhà nước về công tác xuất bản trên địa bàn thành phố
Hà Nội, trong đó tập trung nghiên cứu 3 Nhà xuất bản: Khoa học xã hội, Đại học quốc gia Hà Nội và Chính trị Quốc gia - Sự thật
Phạm vi về thời gian
Nghiên cứu công tác QLNN về xuất bản trên địa bàn thành phố Hà Nội trong 3 năm 2012-2014
Trang 12PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÔNG TÁC XUẤT BẢN
2.1 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với công tác xuất bản
2.1.1 Một số khái niệm liên quan đến quản lý nhà nước về xuất bản
2.1.1.1 Khái niệm quản lý
Theo Hoàng Phê (2007) định nghĩa “quản lý” là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo các yêu cầu nhất định
Dưới góc độ khoa học, khái niệm về “quản lý” có nhiều cách tiếp cận khác
nhau Với ý nghĩa thông thường, phổ biến thì quản lý có thể hiểu là hoạt động tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý tới những đối tượng quản lý để điều chỉnh chúng vận động và phát triển với nguồn lực hiện có theo những mục tiêu nhất định đã đề ra (Nguyễn Đình Nhã, 2004) Với cách hiểu trên,
quản lý bao gồm các yếu tố sau:
- Chủ thể quản lý: là tác nhân tạo ra các tác động quản lý Chủ thể có thể là
cá nhân hoặc tổ chức Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ, hình thức và phương pháp thích hợp, cần thiết và dựa trên cơ sở những nguyên tắc nhất định
- Đối tượng quản lý (khách thể quản lý): Tiếp nhận sự tác động của chủ thể
quản lý với những yếu tố thuộc về đối tượng và có liên quan đến đối tượng quản
lý (nội dung quản lý)
- Mục tiêu quản lý: là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểm nhất định
do chủ thể quản lý đề ra Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các tác động quản lý cũng như lựa chọn các hình thức, phương pháp thích hợp
Ở các doanh nghiệp, công ty hoạt động theo cơ chế hoạt động kinh tế thì khái niệm quản lý thường được hiểu là quản trị doanh nghiệp
2.1.1.2 Khái niệm về quản lý nhà nước
Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển phải nhờ vào sự hỗ trợ của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi
Trang 13rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế và chịu một sự quản lý nào đó Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý, theo Đỗ Quốc Sam (2007) cho rằng quản lý là hoạt động nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việc thông qua sự nỗ lực của người khác Quan điểm của Mai Thanh (2004) cho rằng quản lý là một hoạt động thiết yếu bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm Quan điểm của Trương Thị Văn (2007) lại cho rằng quản lý là sự điều
hành, điều khiển, chỉ huy Tuy nhiên, theo quan niệm của chúng tôi “Quản lý là
sự tác động có định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa nó
và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định”
Do vậy, QLNN chính là một loại hình quản lý xã hội nói chung Theo quan niệm này thì: QLNN là sự tác động có định hướng (chỉ huy, điều hành, hướng dẫn ) lên các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người làm cho chúng vận động và phát triển phù hợp với quy luật, đạt được mục đích và theo ý chí của người quản lý
Trong công tác quản lý nói chung và QLNN nói riêng, dù có nội dung phức tạp đến đâu cũng luôn phải bao gồm các yếu tố cơ bản sau:
Thứ nhất, yếu tố con người Theo C.Mác - Ph.Ăngghen (1994) Toàn tập,
tập 6, "Bản chất của con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội" Mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người Do đó, đánh giá đúng về con người, hiểu được tâm lý, nguyện vọng của con người thì hoạt động quản lý mới thực hiện được quan điểm "vì con người, do con người"
Thứ hai, yếu tố chính trị Là việc một người, nhiều người, hay một cơ quan,
một tổ chức đặt ra các mục tiêu, đường lối và tạo ra một môi trường chính trị
nhằm đạt được những mục tiêu đặt ra (C.Mác - Ph.Ăngghen, 1994) Toàn tập,
tập 6)
Thứ ba, yếu tố quyền uy Đó là tổng thể của quyền lực và uy tín, quyền lực
là công cụ để quản lý, nó bao gồm hệ thống pháp luật, điều lệ, kỷ luật, kỷ cương hoạt động theo một nguyên tắc nhất định, có sự phân công rõ ràng trên
cơ sở khoa học quản lý; uy tín là phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị, kiến
thức, năng lực của người quản lý (C.Mác - Ph.Ăngghen, 1994 Toàn tập, tập 6)
Trang 14Thứ tư, yếu tố thông tin Trong công tác quản lý, thông tin là căn cứ để ra
quyết định và tổ chức thực hiện quyết định có hiệu quả (C.Mác - Ph.Ăngghen
(1994) Toàn tập, tập 6)
Từ những vấn đề trên, có thể hiểu QLNN theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp
Theo nghĩa rộng: QLNN là hoạt động của toàn thể bộ máy nhà nước nhằm
thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại Như vậy, hoạt động của tất cả các cơ quan nhà nước (Chính phủ, các Bộ, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp) đều là hoạt động QLNN (Trương Thị Văn, 2007)
Theo nghĩa hẹp: QLNN là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền
lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người do các cơ quan hành chính Nhà nước (còn gọi là cơ quan QLNN) thực hiện để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ nhà nước (Trương Thị Văn, 2007)
Như vậy, QLNN là hình thức biểu hiện và thực hiện quyền làm chủ của
nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đó là tính chính trị của QLNN và là quyền lợi chính trị của nhân dân
Từ khái niệm QLNN như trên có hiểu rằng không phải quản lý nào cũng là QLNN, và Nhà nước quản lý toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội không có nghĩa là các cơ quan QLNN điều chỉnh mọi khía cạnh của đời sống xã hội, mà chỉ điều chỉnh các khía cạnh do luật định
Với quan niệm trên, theo Trương Thị Văn (2007) QLNN là một dạng quản
lý đặc biệt, thể hiện ở các đặc trưng sau:
Một là, QLNN mang tính chất quyền lực Nhà nước QLNN được thực hiện
dựa trên cơ sở quyền lực nhà nước Quyền lực nhà nước mang tính mệnh lệnh đơn phương đòi hỏi phải được chấp hành nghiêm chỉnh, mọi người bình đẳng, không cho phép bất cứ ai dựa vào quyền thế để làm trái với các quyết định quản lý Pháp luật là công cụ quản lý của nhà nước, để QLNN đối với xã hội có hiệu quả thì pháp luật phải đúng đắn Nghĩa là pháp luật phải xuất phát từ đường lối chính trị trong từng thời kỳ, phải phù hợp với các quy luật khách quan, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của đất nước Việc quản lý bằng pháp luật đòi
Trang 15hỏi các cơ quan, các cán bộ, công chức trong tổ chức và hoạt động điều hành phải căn cứ vào luật, phải làm theo đúng quy trình pháp luật, đảm bảo nguyên tắc pháp chế và kết hợp đúng đắn giữa pháp lý và đạo lý
Hai là, QLNN mang tính tổ chức và điều chỉnh là chủ yếu Tổ chức là một khoa học về sự thiết lập các mối quan hệ xã hội giữa con người, giữa các tập thể
để thực hiện một quá trình quản lý xã hội Tổ chức được hình thành do nhu cầu quản lý, nó phải hoạt động và hoạt động có hiệu quả Trong QLNN chức năng tổ chức là quan trọng, vì không có tổ chức thì không quản lý được Nhà nước phải
tổ chức hợp lý để mỗi người đều có một vị trí tích cực và đóng góp đối với xã hội Lênin đã từng viết: "Để quản lý tốt cần phải biết tổ chức về mặt thực tiễn" (Cục Xuất bản, Bộ Thông tin và Truyền thông, 2008)
QLNN nhằm tác động, điều chỉnh bằng pháp luật và các quyết định, quản lý dưới hình thức các quy chế, tiêu chuẩn, biện pháp; nhằm tạo sự phù hợp giữa các chủ thể và khách thể quản lý, tạo sự cân bằng, cân đối giữa các mặt hoạt động của các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người
Ba là, QLNN mang tính khoa học, kế hoạch Hoạt động QLNN là hoạt động mang tính chủ quan của con người, nhưng dựa trên những yêu cầu khách quan Vì vậy, QLNN phải mang tính khoa học, chủ động, sáng tạo trong việc điều hành, phối hợp, huy động mọi lực lượng, phát huy sức mạnh tổng hợp để tổ chức lại nền sản xuất xã hội và cuộc sống của con người trên địa bàn mình theo sự phân công, phân cấp, đúng thẩm quyền, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ Trong QLNN được quyền năng động, sáng tạo để tổ chức thực hiện pháp luật, nhưng không trái với đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước QLNN cũng cần có mục tiêu chiến lược, có chương trình, kế hoạch để thực hiện mục tiêu Vì vậy, đòi hỏi các cơ quan QLNN phải có kế hoạch dài hạn, trung hạn và hàng năm Có chỉ tiêu định hướng chủ yếu, có biện pháp cân đối để thực hiện chỉ tiêu, hoàn thành có hiệu quả các chương trình mục tiêu chiến lược của nhà nước
Bốn là, hoạt động QLNN mang tính liên tục và ổn định Sự tác động của
QLNN phải thực hiện liên tục, thường xuyên, các quyết định QLNN phải tương đối ổn định, tránh sự thay đổi quá nhanh chóng và phải được giữ gìn Đây là một
Trang 16đặc điểm quan trọng thể hiện tính trách nhiệm của nhà nước đối với xã hội, với nhân dân Nhà nước là người thay mặt cho nhân dân, là công cụ mạnh mẽ của nhân dân lao động thực hiện quyền lực chính trị Do đó, mọi quyết định quản lý phải phù hợp với lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân Chỉ như vậy và khi đạt được như vậy thì các quyết định quản lý nhà nước mới có hiệu lực và hiệu quả, mới trở thành hiện thực cuộc sống
2.1.1.3 Khái niệm QLNN về xuất bản
Trong quá trình thực hiện quản lý, Nhà nước sử dụng nhiều công cụ quản lý khác nhau Mỗi một công cụ có vai trò, vị trí độc lập tương đối và được sử dụng phù hợp với hoàn cảnh, thời điểm nhất định của hoạt động quản lý Hiến pháp
1992 của nước ta đã ghi nhận: "Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách " ( Trích trong Nguyễn Đình Nhã, 2004) Như vậy, Hiến pháp cũng đã công nhận có nhiều công cụ QLNN Tuy nhiên, với những đặc thù riêng của mình, pháp luật có khả năng triển khai trên quy mô rộng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước một cách có hệ thống, nhanh và hiệu quả nhất
QLNN được thực hiện trên nhiều lĩnh vực của đời sống Trong mỗi một lĩnh vực quản lý, Nhà nước tác động vào những nhóm quan hệ xã hội cơ bản bằng hệ thống pháp luật tương ứng Bởi vậy, theo Nguyễn Đình Nhã (2004) QLNN về xuất bản cũng chỉ là một nội dung của QLNN được hiểu theo hai nghĩa rộng và hẹp
- Theo nghĩa rộng: QLNN về xuất bản là toàn bộ hoạt động của các cơ quan
trong bộ máy nhà nước dựa trên cơ sở pháp luật xuất bản để điều chỉnh hoạt động xuất bản, giữ gìn trật tự, kỷ cương trong hoạt động xuất bản, bảo vệ pháp luật xuất bản, nhằm đạt được các mục tiêu trong hoạt động xuất bản mà nhà nước đã
đề ra
- Theo nghĩa hẹp: QLNN về xuất bản là hoạt động của Chính phủ, các bộ,
các cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh và các cơ quan quản lý chuyên môn về xuất bản trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật xuất bản (văn bản dưới luật), dựa trên cơ sở pháp luật để quản lý hoạt động xuất bản như: đăng ký
Trang 17kế hoạch xuất bản; nhận, đọc, kiểm tra nội dung xuất bản phẩm lưu chiểu; xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp xuất bản đồng thời thực hiện kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động xuất bản
Như vậy, trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài này, khái niệm QLNN về xuất bản được hiểu theo nghĩa rộng
2.1.2 Đặc điểm và vai trò cơ bản của quản lý nhà nước về xuất bản ở Việt Nam hiện nay
2.1.2.1 Đặc điểm của quản lý nhà nước về xuất bản ở Việt Nam hiện nay
Hiện nay, công tác QLNN về xuất bản đã nhiều sự thay đổi so với những năm trước đây và có những đặc điểm cơ bản như sau (Trương Thị Văn, 2007)
Thứ nhất, QLNN về xuất bản là mở đường cho hoạt động sáng tạo ra các tác
phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học để công bố dưới hình thức xuất bản
Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ xuất bản rất đa dạng, phong phú
và phức tạp Nhu cầu về tự do, sáng tạo ra các giá trị khoa học, văn học, nghệ thuật là nhu cầu tự nhiên Các sản phẩm sáng tạo có giá trị chỉ được thực hiện khi
tư duy trong tình trạng hưng phấn cao Mọi sự gò bó và khống chế là ngăn chặn hoạt động sáng tạo Nhà nước khẳng định các giá trị xã hội của quyền con người, nên đã ghi nhận và thể chế hóa các quyền con người, quyền công dân và bảo đảm
về mặt pháp lý cho các quyền đó được thực hiện Do được ghi nhận một cách chính thức các giá trị về quyền tự do ngôn luận, tự do nghiên cứu, sáng tác, bình đẳng trong công bố và phổ biến tác phẩm, pháp luật trở thành phương tiện để các tác giả bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình
Tuy nhiên, mọi sự tự do đều phải là tự do trong khuôn khổ pháp luật Nhà nước ta không chấp nhận thứ tự do hỗn loạn, đặc biệt là tự do "loạn ngôn", "loạn khẩu" Công dân nói chung, nghệ sĩ, trí thức và những người hoạt động trong lĩnh vực xuất bản nói riêng, được giải phóng tư duy, hoàn toàn tự do sáng tạo khuôn khổ pháp luật
Nhà nước quản lý hoạt động của tư duy sáng tạo trong xuất bản bằng pháp luật, là khuyến khích tài năng sáng tạo và đề cao các tác phẩm có giá trị về khoa
Trang 18học, về nghệ thuật Chính từ cơ chế thị trường được pháp luật thừa nhận, là nơi đánh giá công minh các tác phẩm Ở đó, công chúng với tư cách là người tiêu dùng
sẽ là thước đo về năng lực sáng tạo của tác giả qua tác phẩm
Thứ hai, QLNN về xuất bản là bảo tồn, phát triển nền văn hóa dân tộc, hiện
đại, nhân văn; tiếp thu tinh hoa văn hóa và tiến bộ và tiến bộ về khoa học - công nghệ của nhân loại
Văn minh của loài người được nhân loại đánh giá ở các nền văn hóa có bản sắc, ở các cuộc cách mạng khoa học đã diễn ra trong lịch sử Mỗi dân tộc có cội nguồn, có truyền thống riêng, được phản chiếu lên tấm gương văn hóa Nó là gia sản quá khứ, tạo nên dòng chảy cho hiện tại và tương lai dân tộc Vì vậy, việc bảo tồn,
kế thừa, phát triển những giá trị trong di sản văn hóa dân tộc là quốc sách, được ghi nhận trong các bản Hiến pháp
Nhà nước khuyến khích và bồi dưỡng tài năng nghiên cứu, sáng tạo ra các giá trị tinh thần mới, làm giàu vốn văn hóa dân tộc Đồng thời, trao vào tay họ các quyền cao cả mang tính nhân văn sâu sắc trong hoạt động văn hóa nói chung, xuất bản nói riêng Và cũng vì vậy, QLNN về xuất bản đã đưa ra các chế tài nghiêm khắc đối với những hành vi truyền bá xuất bản phẩm có nội dung trái với thuần phong mỹ tục, truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc, nhằm bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc
Nhu cầu giao lưu văn hóa, tiếp thu tinh hoa từ các nền văn hóa của nhân loại là nhu cầu của bản thân nền văn hóa dân tộc Mặt khác, trong thời đại bùng
nổ thông tin hiện nay, với sự phát triển nhảy vọt của Internet, của khoa học và công nghệ, thì việc nhận thức và ứng dụng các tiến bộ mới của khoa học là đòi hỏi bức thiết Mỗi dân tộc phải biết làm giàu bởi trí thức của nhân loại Điều đó chỉ được thực hiện khi nhà nước trao cho các chủ thể được xác định các quyền và nghĩa vụ trong các quan hệ quốc tế về xuất bản
Thứ ba, QLNN về xuất bản là quản lý thuộc lĩnh vực văn hóa - tư tưởng,
đồng thời là hoạt động sản xuất kinh doanh
Với thuộc tính là hoạt động văn hóa - tư tưởng, hoạt động sản xuất kinh doanh, xuất bản chịu sự tác động đồng thời của hệ thống các quy luật phát triển văn hóa và hệ thống các quy luật kinh tế Do tính chất phức tạp như vậy, nên yêu
Trang 19cầu quản lý nhà nước được đặt ra bức thiết hơn QLNN phải mở đường cho tự do sáng tạo, đồng thời phải ngăn chặn những độc hại, tiêu cực do xuất bản gây ra đối với văn hóa, tư tưởng; phải định hướng cho xuất bản phát triển theo đúng quy luật kinh tế, ngăn ngừa những tác hại từ mặt trái của cơ chế thị trường Trong QLNN, nếu coi xuất bản như các tổ chức kinh tế đơn thuần sẽ dẫn đến tình trạng hoạt động xuất bản bị thương mại hóa, chỉ chạy theo lợi nhuận kinh doanh; ngược lại, chỉ đề cao vai trò của xuất bản ở phương diện văn hóa, tư tưởng sẽ dẫn đến khả năng bất chấp quy luật kinh tế Như vậy, hoạt động xuất bản sẽ phá sản trong điều kiện kinh tế thị trường
Có thể nói, QLNN về xuất bản là quản lý hoạt động kinh tế trong văn hóa,
tư tưởng, đồng thời quản lý hoạt động văn hóa, tư tưởng trong cơ chế thị trường
Đó là hai mặt của một số vấn đề phải được quản lý một cách hài hòa, đảm bảo cho xuất bản hoạt động đúng quy luật, phát triển theo trật tự của pháp luật
2.1.2.2 Vai trò của quản lý nhà nước về xuất bản ở Việt Nam hiện nay
Xuất bản là công cụ truyền bá thông tin, công cụ giáo dục, nên có tác động
to lớn đối với sự phát triển kinh tế trên nhiều phương diện, cả với lực lượng sản xuất lẫn quan hệ sản xuất Xuất bản góp phần xây dựng nền tảng tri thức cho xã hội Thông qua sách – xuất bản phẩm chủ yếu, xuất bản giữ vai trò là một kênh
cơ bản phổ biến khoa học kỹ thuật công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài Sách được xuất bản cung cấp cơ sở khoa học và thực tế cho việc xây dựng chiến lược kinh tế, thể chế kinh tế, hoạch định
kế hoạch sản xuất kinh doanh Xuất bản là phương tiện quan trọng trong hoạt động thông tin hai chiều của đời sống kinh tế xã hội, tạo ra sự thông suốt về thông tin trong hoạt động quản lý kinh tế, chuyển gia công nghệ; góp phần nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế cả ở tầm vĩ mô lẫn tầm vi mô Do vậy, QLNN về xuất bản có những vai trò cụ thể như sau (Trương Thị Văn, 2007):
Thứ nhất, QLNN luôn là phương tiện triển khai thực hiện chủ trương,
đường lối của Đảng đối với hoạt động xuất bản
Tương ứng với từng thời kỳ phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước, Đảng ta có những chủ trương, đường lối trong QLNN đối với xuất bản Lịch
Trang 20sử QLNN đối với xuất bản đã cho thấy điều đó Ngay sau tháng 8/1945, quan điểm của Đảng và Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa là bảo đảm quyền tự do dân chủ cho nhân dân, trong đó có quyền tự do xuất bản, thể hiện trong Hiến pháp đầu tiên (1946): "công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản " Sau cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới với hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng, củng cố miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Từ đó, chế độ tự do xuất bản được thi hành rộng rãi Ngày 18/6/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành sắc luật số 003/SLt về chế độ xuất bản, đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho sự phát triển nền xuất bản Việt Nam Từ khi có Sắc luật 003/SLt, hoạt động xuất bản luôn phát triển đúng định hướng của Đảng, từng bước thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ xuất bản phẩm của nhân dân, góp phần đắc lực vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
Luật Xuất bản đầu tiên đã được Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 07/7/1993 Việc ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ mới, đặc biệt là tin học đã dẫn đến sự phát triển nhảy vọt trong ngành in và xuất bản với sự đa dạng của loại hình xuất bản phẩm, nhiều quan hệ xã hội mới được hình thành trong hoạt động xuất bản Sách có nội dung không lành mạnh xuất hiện và lưu hành tràn lan trên thị trường, tình trạng thương mại hóa đã trở thành xu thế trong hoạt động xuất bản, gây tác hại không nhỏ tới nhận thức, tư tưởng, tình cảm và đời sống tinh thần của nhân dân Trong khi đó các cơ quan Nhà nước liên quan
để xảy ra tình trạng buông lỏng quản lý, thiếu những biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn và lập lại trật tự Để thể chế hóa các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước đối với hoạt động xuất bản thể hiện trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Chỉ thị 22 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí, xuất bản nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất bản phát triển đúng định hướng chính trị của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác quản lý xuất bản và chất lượng xuất bản phẩm Bên cạnh đó, trong xu
Trang 21thế giao lưu và hội nhập quốc tế hiện nay, việc giao lưu văn hóa giữa các quốc gia, các dân tộc là rất cần thiết Đó là những đòi hỏi đã được đáp ứng từ việc ban hành Luật Xuất bản 2004, và gần đây nhất là Luật Xuất bản 2012
Thứ hai, là phương tiện tạo lập môi trường tự do sáng tạo, bình đẳng cho
các chủ thể trong hoạt động xuất bản
Với đặc trưng của lao động sáng tạo nói chung, đặc biệt là lao động sáng tạo
ra tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học thì nhu cầu về tự do sáng tạo, bình đẳng trong việc công bố và phổ biến tác phẩm là một đòi hỏi khách quan Tuy nhiên, tự do và bình đẳng trong sáng tạo phải vì lợi ích xã hội, vì lợi ích cộng đồng, không thể có tự do vượt quá giới hạn cho phép Vì vậy, tự do và bình đẳng trong hoạt động sáng tạo, công bố và phổ biến tác phẩm là tự do trong khuôn khổ pháp luật Ở đó, các chủ thể tham gia hoạt động xuất bản sẽ được làm tất cả những gì pháp luật cho phép Đồng thời, pháp luật đề ra các nghĩa vụ tương ứng cho các chủ thể của hoạt động sáng tạo và quản lý Đó là hành lang pháp lý, là
"cái khung" do pháp luật tạo lập Tư tưởng tự do ngôn luận của Hiến pháp Việt Nam, được thể hiện trong pháp luật xuất bản bằng chế độ không kiểm duyệt tác phẩm trước khi in là ý tưởng nhân văn sâu sắc, mở đường cho tư duy sáng tạo Như vậy, QLNN tạo ra môi trường thuận lợi, tin cậy và chính thức cho tác giả và các tổ chức tự do sáng tạo, bình đẳng trong hoạt động xuất bản
Thứ ba, bảo vệ lợi ích hợp pháp của những người sáng tạo ra các tác phẩm
văn học, nghệ thuật và khoa học
Hoạt động sáng tạo ra các sản phẩm văn hóa tinh thần được xã hội xếp vào loại lao động đặc biệt Các quốc gia trên thế giới đều coi các sản phẩm của trí tuệ
là tài sản Vì vậy, các tác giả được bảo hộ quyền sở hữu Berne là công ước quốc
tế đầu tiên về quyền tác giả, dưới sự điều hành của tổ chức quyền sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) ra đời từ năm 1886 (là tổ chức của Liên hợp quốc từ 1974) để bảo vệ quyền tác giả thuộc gần 100 nước thành viên
Ở Việt Nam, các tác giả được Nhà nước tạo phương tiện để đấu tranh bảo
vệ lợi ích chính đáng của mình Các tranh chấp về quyền tác giả, các hành vi xâm hại lợi ích vật chất và tinh thần của tác giả được xét xử tại Tòa án dân sự Như
Trang 22vậy, thông qua việc bảo hộ quyền tác giả, Nhà nước tiếp tục khuyến khích năng lực sáng tạo của văn nghệ sĩ, trí thức để có nhiều sản phẩm văn hóa tinh thần có giá trị phục vụ xã hội
Thứ tư, góp phần giữ vững ổn định chính trị và trật tự xã hội trong quá trình
phát triển đất nước
Hoạt động xuất bản là lĩnh vực rất nhạy cảm về mặt chính trị, xã hội, là phương tiện lợi hại trong cuộc đấu tranh giai cấp Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, việc đảm bảo nội dung xuất bản phẩm lành mạnh, phù hợp với pháp luật, phù hợp với truyền thống văn hóa Việt Nam là rất cần thiết
Các sản phẩm văn hóa nói chung, xuất bản nói riêng thuộc hàng hóa công cộng, được mọi tầng lớp nhân dân tiêu dùng, nó tác động trực tiếp đến ý thức, tình cảm, suy nghĩ của từng người dân Vì vậy, bằng những xuất bản phẩm của mình, hoạt động xuất bản chuyển tải tới công chúng các ý tưởng cao cả của giai cấp, về việc xây dựng một xã hội tương lai với một bộ máy chính quyền vững mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và thịnh vượng Thông tin và giải đáp kịp thời các vấn đề quốc gia và quốc tế Như vậy, hoạt động xuất bản đã góp phần giữ vững ổn định chính trị và trật tự xã hội trong quá trình phát triển đất nước
Nhận thức rõ vai trò quan trọng của xuất bản, Luật Xuất bản 2004 đã đề ra những chính sách cụ thể, như: Chính sách đặt hàng; trợ cước vận chuyển; mua bản thảo những tác phẩm có giá trị Tất cả những chính sách đó nhằm đảm bảo cho mọi tầng lớp nhân dân hiểu được mọi chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước nhằm xây dựng một đất nước Việt Nam phồn thịnh, hòa bình,
ổn định
Thứ năm, góp phần thúc đẩy quá trình hợp tác và hội nhập quốc tế
Thực hiện chính sách mở cửa hội nhập và hợp tác quốc tế với phương châm: Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước, Việt Nam đã thiết lập quan
hệ với nhiều nước, vùng lãnh thổ và tổ chức trên thế giới Để quá trình hợp tác, hội nhập quốc tế diễn ra thuận lợi, đạt mục đích đặt ra một cách tốt nhất, hai bên đều phải tìm hiểu truyền thống văn hóa, mọi lĩnh vực đời sống xã hội của nhau
và cách tìm hiểu đạt hiệu quả cao và phổ biến là trao đổi các xuất bản phẩm cho
Trang 23nhau QLNN về xuất bản ở Việt Nam có vai trò giải quyết vấn đề này thông qua việc xác định rõ các tổ chức quốc tế, cá nhân nước ngoài được xuất bản các tài liệu, tác phẩm tại Việt Nam; điều kiện để các nhà xuất bản nước ngoài đặt văn phòng đại diện tại Việt Nam; quy định rõ các thủ tục về xuất nhập khẩu và xuất bản phẩm
Nhằm giới thiệu văn hóa Việt Nam với thế giới, góp phần tuyên truyền đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, Nhà nước ta khuyến khích các nhà xuất bản, các cơ sở phát hành xuất bản phẩm xuất khẩu xuất bản phẩm ra nước ngoài Việc xuất khẩu các xuất bản phẩm hợp pháp ra nước ngoài không phải xin phép các cơ quan QLNN về hoạt động xuất bản Đây là một điểm mới cơ bản nhằm đưa hoạt động xuất bản phát triển
Như vậy, QLNN về xuất bản vừa có vai trò tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà xuất bản, các tổ chức, cá nhân nước ngoài làm thủ tục đặt văn phòng đại diện, xuất bản các tài liệu, tác phẩm tại Việt Nam, đồng thời giảm bớt các thủ tục hành chính để việc xuất khẩu các xuất bản phẩm của Việt Nam ra nước ngoài đạt hiệu quả cao Điều đó có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy quá trình hội nhập, hợp tác quốc tế của Việt Nam diễn ra thuận lợi
2.1.3 Các nguyên tắc và nội dung của quản lý nhà nước về xuất bản ở Việt Nam hiện nay
2.1.3.1 Các nguyên tắc quản lý nhà nước về xuất bản
Thứ nhất, QLNN về xuất bản phải đảm bảo quyền tự do sáng tạo, công bố,
phổ biến xuất bản phẩm
Quyền tự do sáng tạo, công bố, phổ biến xuất bản phẩm là quyền con người, quyền công dân đã được Hiến pháp 1992 ghi nhận: QLNN về xuất bản bản tạo lập một hành lang, một môi trường an toàn, thuận lợi cho công dân, các tổ chức
tự do sáng tạo, công bố, phổ biến xuất bản phẩm, đồng thời, nhà nước bảo vệ môi trường tự do cho hoạt động nghiên cứu, sáng tạo, công bố và phổ biến xuất bản phẩm Tuy nhiên, QLNN về xuất bản phẩm đảm bảo sự tự do xuất bản là tự do trong khuôn khổ pháp luật, những hoạt động sáng tạo, công bố, phổ biến xuất bản
Trang 24phẩm trái với quy định của pháp luật đều phải có những biện pháp, chế tài xử lý thỏa đáng
Thứ hai, bảo đảm quyền tự do, bình đẳng trong hoạt động xuất bản QLNN về
xuất bản phải đảm bảo cho các tổ chức và cá nhân có quyền bình đẳng trong việc công bố và phổ biến tác phẩm của mình, đồng thời phải chịu trách nhiệm về tác phẩm của mình trước pháp luật QLNN về xuất bản ở đây phải có các yêu cầu cơ bản sau:
- Các chủ thể xuất bản đều được pháp luật trao cho các quyền nhất định, trong đó có những quyền giống nhau và có những quyền khác nhau do tính chất, đặc điểm hoạt động của các chủ thể quy định Vì vậy, mọi nhà xuất bản chỉ được phép xuất bản những xuất bản phẩm đã đăng ký và được cơ quan QLNN có thẩm quyền cho phép Mọi cơ sở in, tổ chức phát hành chỉ được phép kinh doanh những mặt hàng đã đăng ký và được cơ quan QLNN có thẩm quyền cho phép
Thứ ba, bảo đảm định hướng XHCN đối với xuất bản trong nền kinh tế thị
trường
Định hướng XHCN trong xuất bản là định hướng nhằm đảm bảo không ngừng nâng cao chất lượng chính trị, tư tưởng, khoa học và nghệ thuật của xuất bản phẩm, với chi phí thấp nhất, hiệu quả nhanh nhất để từng bước thỏa mãn nhu cầu đa dạng và phong phú của nhân dân, góp phần mở rộng giao lưu với các nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Để thực hiện được định hướng này, các cơ quan QLNN phải:
- Kết hợp chặt chẽ giữa việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch xuất bản với việc hoạch định chính sách và thể chế dẫn dắt, điều hành ngành xuất bản theo định hướng chính trị
- Khai thác triệt để những mặt tích cực của kinh tế thị trường nhằm phát triển xuất bản Điều tiết, ngăn ngừa để hạn chế tối đa mặt trái của cơ chế thị trường tác động vào xuất bản Như vậy mới có thể giữ vững được định hướng xuất bản
Thực hiện nguyên tắc này, các cơ quan QLNN cần đề phòng hai khuynh hướng: i) Chủ quan, duy ý chí khi xác định mục tiêu, định hướng xuất bản
Trang 25Khuynh hướng này xuất phát từ sự non kém về tri thức, cộng với năng lực tự tin thái quá; ii) Tự phát, vô chính phủ trong hoạt động xuất bản, đưa hoạt động xuất bản chạy theo lợi ích trước mắt bất chấp những hậu quả không có lợi xảy ra Trên đây là các nguyên tắc cơ bản trong QLNN về xuất bản chúng ta cần quan tâm Ngoài ra, để quản lý đạt hiệu quả cao, các cơ quan QLNN trong lĩnh vực xuất bản còn phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của QLNN nói chung như: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân tham gia quản lý, nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc dân chủ
2.1.3.2 Nội dung của quản lý nhà nước về xuất bản
Theo tinh thần Điều 6, Luật Xuất bản 2012, có thể nói đến một số nội dung chủ yếu về QLNN trong lĩnh vực xuất bản như sau:
Một là, xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch,
chính sách phát triển hoạt động xuất bản; ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động xuất bản và bản quyền tác giả trong hoạt động xuất bản
a Về xuất bản:
Xây dựng định hướng xuất bản về loại sách, mảng sách trọng điểm, các chương trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, cấp bộ, cấp cơ sở về sự phát triển văn học nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật và các loại sách giáo khoa ở bậc phổ thông, giáo trình cho các trường cao đẳng, đại học và sau đại học Chú trọng các sách khoa học kỹ thuật phục vụ cho nghiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đào tạo nghề; sách dành cho thanh, thiếu niên, nhi đồng nhằm giáo dục lòng yêu nước,
tự hào về truyền thống văn hoá dân tộc, lòng nhân ái, ý chí tự lực tự cường hình thành nhân cách và lối sống lành mạnh cho thế hệ trẻ
Trang 26- Chú trọng đầu tư để hoàn thiện, nâng cao theo hướng hiện đại hoá công nghệ, nâng cấp thiết bị chế bản, thiết bị phụ trợ khác và vật tư ngành in
c Về phát hành:
- Phấn đấu đưa sách đến mọi miền đất nước, nhất là vùng cao, vùng sâu, vùng
xa, góp phần khắc phục sự chênh lệch về mức độ hưởng thụ văn hoá giữa các vùng miền
Hai là, tổ chức đọc, kiểm tra, thẩm định xuất bản phẩm lưu chiểu
- Kiểm tra việc nộp lưu chiểu của các nhà xuất bản
- Tổ chức đội ngũ chuyên gia đọc xuất bản phẩm lưu chiểu
- Giám sát, kiểm tra, đánh giá kết quả đọc lưu chiểu
- Xử lý những vấn đề nảy sinh, những vi phạm có trong nội dung xuất bản phẩm
- Quản lý và bảo quản tốt kho sách lưu chiểu
Ba là, cấp, thu hồi các loại giấy phép trong hoạt động xuất bản
- Thẩm định, cấp giấy phép thành lập nhà xuất bản
- Cấp chứng chỉ hành nghề đối với cán bộ chuyên môn xuất bản: Tổng biên tập, Phó Tổng biên tập, biên tập viên
Bốn là, nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ trong hoạt động xuất
bản, đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, về hoạt động xuất bản
- Xây dựng chiến lược nghiên cứu khoa học, xây dựng và triển khai đề tài nghiên cứu khoa học các cấp về xây dựng, phát triển ngành, hiện đại hoá công nghệ in - xuất bản
- Xây dựng kế hoạch nghiên cứu khoa học, triển khai công tác đào tạo và bồi dưỡng kiến thức quản lý và nghiệp vụ
- Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao về chuyên môn cũng như về năng lực và trình độ lãnh đạo, quản lý cho ngành
- Cục Xuất bản, Hội Xuất bản phối hợp với các cơ sở đào tạo chuyên ngành (Học viện BC&TT, ĐH Văn hoá) tổ chức các hệ đào tạo, các lớp bồi dưỡng về trình độ chính trị, năng lực lãnh đạo, quản lý, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ xuất bản
Trang 27- Xây dựng quy hoạch phát triển nguồn nhân lực ngành xuất bản
- Tiêu chuẩn hoá các chức danh cán bộ quản lý, các bộ nghiệp vụ, viên chức trong ngành xuất bản
Năm là, quản lý hợp tác quốc tế trong hoạt động xuất bản
- Quản lý hoạt động của xuất bản Việt Nam liên quan đến nước ngoài và hoạt động xuất bản nước ngoài tại Việt Nam
- Cấp giấy phép hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu xuất bản phẩm
- Cấp giấy phép nhập khẩu xuất bản phẩm để kinh doanh
- Cấp giấy phép cho cơ sở phát hành xuất bản phẩm có tư cách pháp nhân của Việt Nam, của nước ngoài được hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh để phát hành xuất bản phẩm tại Việt Nam
- Cấp giấy phép cho tổ chức hoạt động xuất bản nước ngoài được thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam
Sáu là, thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động xuất bản
- Thanh tra, kiểm tra về đăng ký kế hoạch xuất bản
- Thanh tra, kiểm tra về quản lý hoạt động liên doanh, liên kết xuất bản
- Thanh tra, kiểm tra về vấn đề quảng cáo, tổ chức hội chợ, triển lãm sách
- Thanh tra, kiểm tra về vấn đề xuất bản lịch Bloc hằng năm
- Thanh tra, kiểm tra hoạt động in, xử lý in lậu, vi phạm quy chế liên kết trong hoạt động xuất bản
- Giải quyết khiếu nại tố cáo vi phạm Luật Xuất bản, Luật Sở hữu trí tuệ
Bảy là, Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo, thống kê và công tác thi đua,
khen thưởng trong hoạt động xuất bản; tuyển chọn và trao giải thưởng đối với xuất bản phẩm có giá trị cao
- Xây dựng quy chế, tiêu chuẩn, định mức thi đua cho toàn ngành; quản lý công tác thi đua khen thưởng, kỷ luật của ngành xuất bản
- Xây dựng quy chế, chương trình và tổ chức hội chợ, hội thi sách cấp quốc gia; tham dự hội thi sách, triển lãm, hội chợ sách ở khu vực hoặc quốc tế; tuyển chọn và trao giải thưởng cho sách được giải
Trang 282.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về xuất bản
2.1.4.1 Hệ thống văn bản pháp quy đối với công tác QLNN về xuất bản
Ở Việt Nam thời gian qua, công tác QLNN nói chung, công tác hoàn thiện pháp luật về xuất bản nói riêng, đã có nhiều đổi mới Luật Xuất bản, các quy định trong Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ cùng nhiều điều ước, hiệp định về thương mại, về văn hóa mà Việt Nam tham gia và ký kết là những bước đi vừa đáp ứng đòi hỏi phát triển của thực tiễn hoạt động xuất bản, tạo ra những khuôn khổ pháp lý cần thiết để quản lý công tác xuất bản vừa đáp ứng mục tiêu kinh doanh của các đơn vị vừa đáp ứng yêu cầu cung cấp những sản phẩm giáo dục, giải trí, thẩm mỹ với chất lượng tốt cho bạn đọc
Thứ nhất, hệ thống văn bản pháp quy góp phần đẩy mạnh phân cấp quản
lý, đề cao tính chủ động và tự chịu trách nhiệm của cơ quan QLNN, của các tổ chức và cá nhân có liên quan
Luật Xuất bản năm 2004 và 2012 đều quy định rõ việc phân cấp quản lý theo hướng nâng cao vai trò quản lý vĩ mô, đặc biệt trong việc hoạch định chính sách và quy hoạch xây dựng chiến lược phát triển ngành xuất bản của cơ quan quản lý xuất bản Cùng với việc đẩy mạnh phân cấp quản lý, việc quy định rõ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực xuất bản cũng ảnh hưởng rõ rệt đến định hướng phát triển, sự năng động, sáng tạo của từng thành phần tham gia Tuy nhiên, với cơ chế hoạt động, một nhà xuất bản phải chịu sự quản lý của nhiều cơ quan (Ban Tuyên giáo Trung ương,
Bộ Thông tin - Truyền thông và cơ quan chủ quản), cùng với nhiều quy định của pháp luật, khiến hoạt động của các nhà xuất bản gặp nhiều khó khăn Theo Cục
Xuất bản, In và Phát hành: “…phần lớn các nhà xuất bản hoạt động trong tình trạng èo uột với trang thiết bị lạc hậu, nhân lực mỏng, thiếu vốn, không tổ chức được bản thảo, không tìm được đầu ra, nên lệ thuộc vào đối tác liên kết, không thu hồi được vốn, thậm chịu thua lỗ, nạn in sao lậu tràn lan đã khiến các nhà xuất bản gặp nhiều khó khăn” (Cục Xuất bản, In và Phát hành, 2009)
Thứ hai, hệ thống văn bản pháp quy góp phần giảm thiểu thủ tục hành
chính và các loại giấy phép
Trang 29Một trong những rào cản tới sự phát triển nói chung và ngành kinh tế nói riêng là những thủ tục hành chính Một nền hành chính với nhiều thủ tục phức tạp, rườm rà sẽ làm giảm sức cạnh tranh cũng như tạo cơ hội cho một số bộ phận cán bộ quản lý “nhũng nhiễu”, làm sai lệch các quy định quản lý của nhà nước Thời gian xử lý, cấp giấy phép góp phần tạo nên cơ hội thành công cho các đơn
vị kinh doanh, vì vậy trong các văn bản quy phạm cần quy định rõ về thời gian phê duyệt, cấp giấy phép liên quan đến hoạt động xuất bản: đăng ký xuất bản, giấy phép xuất nhập khẩu xuất bản phẩm, cấp (đổi) giấy phép thành lập… Mặc
dù, Việt Nam đã gia nhập Công ước Bern từ năm 2004 về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật nhưng những thủ tục về tác quyền đối với các tác phẩm nước ngoài như mua bản quyền, dịch, biên tập, in ấn, phát hành… rất phức tạp, tốn kém và mất thời gian
Thứ ba, hệ thống văn bản pháp luật quy định và quản lý chặt chẽ việc thực
hiện tôn chỉ, mục đích, chức năng hoạt động của từng thành phần Hiện nay đang diễn ra sự “chồng chéo” về tôn chỉ, mục đích của các nhà xuất bản Ngay trong giấy phép thành lập cơ quan cấp phép thành lập phải tìm hiểu, rà soát kĩ lĩnh vực hoạt động của đơn vị xin thành lập để trên cơ sở đó phê duyệt chính xác và hợp
lý lĩnh vực hoạt động, tránh sự trùng lặp về tôn chỉ, mục đích hay loại xuất bản phẩm được phép xuất bản của các nhà xuất bản có nhiều, tránh tạo nên sự hỗn
loạn trên thị trường
2.1.4.2 Công tác tổ chức thực hiện QLNN về xuất bản
Theo Luật Xuất bản 2012, Chính phủ thống nhất QLNN về hoạt động xuất bản trong phạm vi cả nước; Bộ Thông tin và Truyền thông chịu trách nhiệm trước Chính phủ việc thực hiện QLNN về hoạt động xuất bản; Các bộ, cơ quan ngang bộ phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện quản lý nhà nước
về hoạt động xuất bản theo thẩm quyền; Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung thực hiện QLNN về hoạt động xuất bản tại địa phương Như vậy, việc phân cấp QLNN khá rõ ràng, để quản lý hoạt động xuất bản hiệu quả, mỗi
cơ quan phải phát huy tốt chức năng của mình Bộ Thông tin – Truyền thông giao Cục Xuất bản, In và Phát hành quản lý ngành xuất bản thì Cục phải nắm rõ, theo
Trang 30kịp tình hình phát triển của ngành để xây dựng chiến lược phát triển ở tầm vĩ mô phù hợp, sử dụng các công cụ quản lý hợp lý điều hành hoạt động của ngành Đối với UBND cấp tỉnh, thành phố giao cho Sở Thông tin – Truyền thông địa phương chịu trách nhiệm trực tiếp việc kiểm tra và quản lý chất lượng xuất bản phẩm trên địa bàn quản lý
Cơ quan chủ quản của các nhà xuất bản có vai trò không nhỏ trong việc quyết định thành lập/xóa bỏ, định hướng phát triển, quản lý hoạt động, chỉ đạo sắp xếp tổ chức bộ máy… của nhà xuất bản Do đó, cần có những quy định cụ thể về trách nhiệm của cơ quan chủ quản về kết quả hoạt động của mỗi nhà xuất bản
2.4.1.3 Việc thích ứng với cơ chế thị trường và yêu cầu hội nhập
Chiến lược phát triển và kế hoạch công tác của các Nhà xuất bản giữ vai trò quan trọng trong việc QLNN trong mỗi giai đoạn, nếu như Nhà Nước không xây dựng được định hướng chiến lược phát triển và kế hoạch cụ thể trong từng giai đoạn trước mắt và lâu dài, thì chắc chắn công tác QLNN về xuất bản sẽ không đạt hiệu quả
Việc xây dựng chiến lược phát triển cho các Nhà xuất bản trước hết phải có mục tiêu cụ thể, bao quát được tất cả các yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến hoạt động xuất bản Từ chiến lược phát triển sẽ hoạch định ra kế hoạch xuất bản cụ thể cho từng năm, từng giai đoạn Hoạt động xuất bản là hoạt động thuộc lĩnh vực văn hóa - tư tưởng, bởi vậy, chiến lược phát triển của Nhà xuất bản cần phải dựa vào đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước qua từng giai đoạn, yêu cầu nhiệm vụ chính trị của từng lĩnh vực và đặc biệt phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mỗi Nhà xuất bản
- Chất lượng đội ngũ cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ làm công tác xuất bản
Đội ngũ biên tập viên là yếu tố quan trọng nhất của các yếu tố bên trong, là lực lượng nòng cốt trong công tác xuất bản của các nhà xuất bản, dựa trên kế hoạch xuất bản, đội ngũ này trực tiếp thực hiện việc tổ chức bản thảo Chất lượng các xuất bản phẩm phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ biên tập viên
Ngoài việc đảm bảo các yêu cầu về chính trị - tư tưởng, đội ngũ biên tập viên phải đảm bảo có trình độ chuyên môn (tốt nghiệp đại học) đúng chuyên ngành, lĩnh
Trang 31vực Bên cạnh đó, cần có chuyên môn và kĩ năng về biên tập báo chí - xuất bản, có kinh nghiệm làm công tác xuất bản, biết lựa chọn các vấn đề cấp bách của xã hội, nhận biết những vấn đề “nhạy cảm’ trong thực tiễn phát triển đất nước Trong quá trình biên tập, cùng với những yêu cầu về nội dung khoa học, xuất bản phẩm phải có
bố cục rõ ràng, logic, chặt chẽ, súc tích, giúp người đọc hiểu một cách chính xác về nội dung, đồng thời về hình thức, xuất bản phẩm cần được trình bày rõ ràng, chất lượng in tốt, khổ sách và độ dày vừa phải, thuận tiện cho người sử dụng
Như vậy, khi tổ chức bản thảo và biên tập một xuất bản phẩm đòi hỏi biên tập viên phải có trình độ, kinh nghiệm để biên tập về nội dung và hình thức, đảm bảo sách không có sai sót về chủ đề tư tưởng, nội dung, đồng thời phải đảm bảo cả yếu tố kĩ thuật, mĩ thuật, thuận tiện cho người đọc khi sử dụng, tra cứu Có thể nói, nếu không xây dựng được đội ngũ biên tập viên mạnh, có trình độ chuyên môn, năng động, linh hoạt trong khâu tổ chức và biên tập bản thảo thì công tác QLNN
về xuất bản sẽ gặp rất nhiều khó khăn
Hiện nay, hoạt động phát hành sách là bài toán khó khăn đối với tất cả các nhà xuất bản, đòi hỏi đội ngũ cán bộ làm công tác phát hành phải hết sức năng động, có tầm nhìn và chiến lược, tổ chức việc khai thác thị trường, nắm bắt nhu cầu của bạn đọc Tùy thuộc vào từng loại sách, từng đối tượng bạn đọc, cán bộ phát hành sách phải có kĩ năng tiếp thị, maketing linh hoạt để thực hiện công tác phát hành hiệu quả, thông qua việc điều tra xã hội học, trên cơ sở phản hồi của bạn đọc và tư vấn cho lãnh đạo nhà xuất bản trong quá trình chuẩn bị nội dung, quyết định số lượng in phù hợp với thị trường
2.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý nhà nước đối với công tác xuất bản
2.2.1 Kinh nghiệm QLNN về công tác xuất bản ở một số nước trên thế giới
2.2.1.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Cơ cấu và phương thức hoạt động
Theo số liệu báo cáo gần đây của Hội Xuất bản Nhật Bản thì hiện đất nước này có khoảng 4.500 nhà xuất bản lớn nhỏ khác nhau Nếu tính cả các chi nhánh của họ thì con số có thể lên tới 5.405 cơ sở với tổng số nhân viên là 97.188 người, khoảng 80% các nhà xuất bản tập trung tại thủ đô Tokyo Phần lớn các
Trang 32nhà xuất bản thuộc quy mô nhỏ và trung bình Khoảng dưới 50% là nhà xuất bản
có số lượng nhân viên chỉ dưới 05 người Số lượng nhà xuất bản có trên 1.000 nhân viên chỉ chiếm 1%, trong số đó có 05 nhà là thuộc loại hàng đầu (Cục Xuất bản, Bộ Văn hóa Thông tin (1998)
Phần lớn các nhà xuất bản Nhật Bản tiến hành in ấn và hoàn thiện sản phẩm
theo hình thức “thuê ngoài” (outsourcing) Họ chọn lựa các nhà cung ứng dịch
vụ này trong nước là chủ yếu vì sẽ có lợi thế về chi phí sản xuất, giảm chi phí vận chuyển và có thể đáp ứng được đơn đặt hàng kịp thời Một nét đặc biệt là các nhà xuất bản lớn có thể “thuê ngoài” luôn cả một số phần hoạt động cơ bản của quá trình xuất bản, ví dụ như xây dựng kế hoạch đề tài, kế hoạch xuất bản và
thậm chí là biên tập nội dung vì ở Nhật Bản có loại hình hãng dịch vụ lập kế hoạch và biên tập bản thảo Hình thức thuê ngoài này chỉ mới bắt đầu vào những
năm 1980 khi các nhà xuất bản thấy cần phải hạ chi phí lao động xuống, đồng thời
do các nhà xuất bản có các loại hình ấn phẩm đa dạng về đề tài, nội dung nên từng nhà một khó có đủ các loại biên tập viên và nhân viên lập kế hoạch Do vậy, “thuê ngoài” bảo đảm tận dụng được kỹ năng đa dạng của nguồn nhân lực bên ngoài, từ các hãng chuyên nghiệp
Quản lý nhà nước và pháp luật về xuất bản
Cho đến hiện nay, chưa thấy có tài liệu gì nói về sự hiện hữu của Luật Xuất bản của Nhật Bản Theo Chủ tịch Hội Xuất bản Nhật Bản cho biết: Nhật Bản không có Luật Xuất bản riêng Cũng theo báo cáo của Hội Xuất bản Nhật Bản, thì ngành xuất bản được điều chỉnh bởi một số luật, trong đó có Hiến pháp và Luật Bản quyền chứ không có Luật Xuất bản riêng
Điều 21 của Hiến pháp bảo đảm “Quyền tự do ngôn luận, báo chí và tất cả mọi hình thức biểu đạt khác”, và sau đó là điều khoản cấm kiểm duyệt Tuy nhiên, vẫn có những quy định cấm có liên quan tới xuất bản nếu ấn phẩm vu khống, bôi nhọ, phỉ báng cá nhân hay có nội dung trụy lạc, gây hại về thuần phong mỹ tục Ngành xuất bản Nhật Bản đã xây dựng, phát triển quy định về đạo đức cho nội dung xuất bản phẩm và một hệ thống để thực thi điều này, tránh sự can thiệp của Chính phủ Bên cạnh đó, ngành xuất bản Nhật Bản còn bị chi phối
Trang 33bởi Luật Bản quyền Luật Bản quyền (hiện đại) của Nhật Bản được xây dựng năm 1899 khi Nhật Bản tham gia Công ước Berne và thể hiện ý nguyện tuân thủ các điều khoản bản quyền tác giả cả ở phạm vi quốc tế Vì thế, năm 1999, Nhật Bản đã kỷ niệm 100 năm Luật Bản quyền Nhật và một loạt các sự kiện được tổ chức để chào đón sự kiện này (Hồng Vinh, 2011)
Khi Luật Bản quyền này công bố thì không có điều khoản nào quy định quyền của nhà xuất bản mà lại nhấn mạnh đến sự kiểm soát của Chính phủ đối với ngành xuất bản Các nhà xuất bản hợp sức nhau lại tiến hành một chiến dịch rộng rãi và mạnh mẽ vào năm 1925 để đấu tranh đòi luật pháp thừa nhận quyền lợi của ngành Kết quả là năm 1934, Luật Bản quyền được sửa đổi để có thêm quy định liên quan tới xuất bản
Mặc dù năm 1971, Luật này được rà soát lại và chỉnh sửa một cách toàn diện nhất thì Chương III vẫn còn giữ lại quy định rằng khi một nhà xuất bản đã có quyền xuất bản ấn phẩm trên cơ sở hợp đồng thỏa thuận với tác giả thì nhà xuất bản đó có độc quyền (exclusive right) xuất bản tác phẩm nhằm mục đích phát hành tới độc giả
Hoạt động của ngành xuất bản Nhật Bản được điều phối bởi một loạt các thiết chế nhà nước, trong đó Hội đồng Văn hóa, đặc biệt là Cục Bản quyền giữ vai trò chính yếu Ngoài ra, Hội Xuất bản Nhật Bản là một đầu mối quan trọng điều phối hoạt động của các hội viên ( Hồng Vinh, 2011)
2.2.1.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Cơ cấu và phương thức hoạt động
Sau khi Trung Quốc chính thức gia nhập WTO (2001) yêu cầu cải cách, quy hoạch ngành xuất bản thông tin được đặt ra cấp bách, trong đó vấn đề xây dựng các tập đoàn xuất bản, phát thanh, truyền hình, phát hành, điện ảnh, tập đoàn báo chí quy mô lớn được Chính phủ Trung Quốc hết sức chú trọng Chỉ trong một thời gian ngắn, Trung Quốc đã thành lập được 57 tập đoàn báo chí, xuất bản, phát hành (Trương Thị Văn, 2007)
Quản lý nhà nước và pháp luật về xuất bản
Trang 34Ở Trung Quốc, định hướng nội dung các xuất bản phẩm do Bộ Tuyên truyền Trung ương chỉ đạo, quản lý Về mặt mô hình và cơ chế hoạt động, ngành xuất bản Trung Quốc không khác Việt Nam nhiều, trừ loại hình Tập đoàn xuất bản, Tập đoàn phát hành và Công ty xuất bản lên sàn là điều đặc sắc của Trung Quốc Ở Trung Quốc, cơ quan thay mặt Bộ Tuyên truyền Trung Ương thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về xuất bản là Tổng cục Xuất bản - Thông tin Trung Quốc Để tăng cường công tác QLNN về xuất bản, ngày 25/12/2001, Quốc vụ
viện nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã thông qua Sắc lệnh số 343 về Điều
lệ quản lý xuất bản của Trung Quốc Điều lệ mới này thay cho “Điều lệ quản lý xuất bản” do Quốc vụ viện ban hành ngày 02/01/1997 và chính thức có hiệu lực
thực hiện vào ngày 01/02/2002 (Trương Thị Văn, 2007)
a) Việc thành lập và quản lý đơn vị xuất bản
Theo Điều lệ quản lý xuất bản, các ấn phẩm dưới dạng báo giấy, ấn phẩm đăng tải định kỳ, sách, ấn phẩm hình ảnh, báo điện tử đều do đơn vị xuất bản chịu trách nhiệm xuất bản Đơn vị xuất bản theo quy định của điều này bao gồm Tòa soạn báo, Tòa soạn báo đăng tải định kỳ, Nhà xuất bản sách, Nhà xuất bản
ấn phẩm hình ảnh, Nhà xuất bản sản phẩm xuất bản số (báo điện tử) Pháp nhân xuất bản báo giấy, ấn phẩm đăng tải định kỳ mà không thành lập tòa soạn thì ban biên tập báo giấy, ban biên tập báo đăng tải định kỳ nói trên được coi như một đơn vị xuất bản (Điều 9) Cơ quan hành chính xuất bản của Quốc vụ viện sẽ quy hoạch, định hướng về số lượng, cơ cấu, bộ máy tổ chức của các đơn vị xuất bản trong cả nước, cùng hỗ trợ phát triển sự nghiệp xuất bản (Điều 10)
Về điều kiện thành lập đơn vị xuất bản, Điều 11 của Điều lệ nêu rõ:
- Đơn vị xuất bản phải có tên, điều lệ của mình;
- Có đơn vị chịu trách nhiệm chính và cơ quan chủ quản phù hợp với quy định của cơ quan hành chính xuất bản của Quốc vụ viện;
- Có phạm vi nghiệp vụ cụ thể;
- Có vốn đăng ký từ 300.000 NDT trở lên và có trụ sở làm việc cố định
- Có bộ máy tổ chức và đội ngũ nhân viên có chuyên môn biên tập, xuất bản phù hợp, đáp ứng yêu cầu của phạm vi nghiệp vụ do Nhà nước quy định…
Trang 35Để thành lập đơn vị xuất bản, cơ quan chủ quản của đơn vị xuất bản phải xin phép cơ quan hành chính xuất bản của chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, khu tự trị; sau khi cơ quan hành chính xuất bản của chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, khu tự trị kiểm tra và đồng ý sẽ báo cáo lên cơ quan hành chính xuất bản của Quốc vụ viện trình duyệt (Điều 12)
Cũng theo quy định của Điều lệ quản lý xuất bản, các đơn vị xuất bản không được bán hoặc chuyển nhượng dưới hình thức khác tên gọi, vi-nhét, mã số xuất bản hoặc mã số bản, trang in của mình cho bất kỳ tổ chức hoặc cá nhân nào, đồng thời không được cho thuê tên gọi hoặc mã số xuất bản của đơn vị mình (Điều 22) Trước khi phát hành xuất bản phẩm, đơn vị xuất bản phải gửi sách mẫu miễn phí cho Thư viện quốc gia, Thư viện sách Trung Quốc và cơ quan hành chính xuất bản Quốc vụ viện theo quy định của Nhà nước (Điều 23)
b) Quy định về xuất bản xuất bản phẩm
Điều lệ quản lý xuất bản quy định rõ: Các xuất bản phẩm phải đăng tải rõ tên, địa chỉ, vi-nhét, mã số xuất bản hoặc mã số bản, thời gian xuất bản, kỳ xuất bản và các nội dung liên quan khác của tác giả, đơn vị xuất bản, đơn vị in ấn hoặc đơn vị nhân bản, đơn vị phát hành theo quy định có liên quan của Nhà nước Quy cách, khổ sách, ma-két trang in, thiết kế mỹ thuật, hiệu đính thẩm định… phải phù hợp với yêu cầu về tiêu chuẩn và quy phạm của Nhà nước, đảm bảo chất lượng của xuất bản phẩm (Điều 29) Đồng thời, Điều lệ cũng có những quy định nghiêm cấm các xuất bản phẩm có nội dung vi phạm những điều khoản liên quan đến an ninh, chủ quyền quốc gia, đoàn kết dân tộc, mê tín dị đoan, gây nguy hại đến đạo đức xã hội, v.v…
c) Quy định về in ấn hoặc nhân bản, phát hành xuất bản phẩm
Theo quy định của Điều lệ quản lý xuất bản, đơn vị in ấn hoặc nhân bản xuất bản phẩm phải xin phép bằng văn bản với Cơ quan hành chính xuất bản của
chính quyền cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, khu tự trị nơi sở tại, sau khi được phê duyệt, cấp giấy phép và đến làm các thủ tục có liên quan tại cơ quan công an và cơ quan quản lý hành chính công thương theo quy định của Nhà nước, có thể triển khai công tác in ấn hoặc nhân bản xuất bản phẩm Đơn vị nào
Trang 36chưa được phê duyệt và chưa làm các thủ tục có liên quan sẽ không được phép in
ấn hoặc nhân bản báo chí, ấn phẩm đăng tải định kỳ, sách, không được nhân bản
ấn phẩm hình ảnh, điện tử (Điều 32)
Về vấn đề kinh doanh, phát hành sách, Điều lệ quản lý xuất bản nêu rõ: Đối
với đơn vị kinh doanh về lĩnh vực in ấn hoặc nhân bản xuất bản phẩm, sau khi được Cơ quan hành chính xuất bản của chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, khu tự trị xét duyệt cho phép, người đứng đầu đơn vị phải trình báo để
Cơ quan hành chính xuất bản Quốc vụ viện thẩm tra, phê chuẩn, đồng thời làm thủ tục lấy giấy phép kinh doanh tại Cơ quan quản lý hành chính công thương theo quy định
2.2.1.3 Kinh nghiệm của Thái Lan
Cơ cấu và phương thức hoạt động
Thái Lan luôn nhìn nhận ngành xuất bản là một động lực phát triển xã hội vì
nó góp phần hỗ trợ cho giáo dục và tạo ra một cộng đồng công chúng học tập suốt đời Bất chấp tác động của sự suy thoái kinh tế toàn cầu, và bất ổn định chính trị kéo dài trong nước, ngành xuất bản Thái Lan vẫn tăng trưởng, xét về mặt chất lượng sách, loại hình nhà xuất bản và giá trị thị trường Việc khảo sát những con số và dữ kiện sau đây cho thấy một bức tranh tổng thể của ngành xuất bản Thái Lan trong những năm gần đây (Lê Thanh Bình, 2004)
Ở Thái Lan, người ta tạm chia các nhà xuất bản ra làm 03 loại hình, tùy
thuộc vào quy mô vốn của các nhà xuất bản: Loại lớn: vốn trên 100.000.000 baht; Loại trung bình: trên 30.000.000 baht; Loại nhỏ: dưới 30.000.000 baht
Về cơ cấu tổ chức, các nhà xuất bản nhỏ thường là doanh nghiệp cá nhân hoặc doanh nghiệp gia đình với số lượng nhân viên cũng ít, khoảng chừng 10 người Loại trung bình và loại lớn thường là các công ty hay tập đoàn, có số lượng nhân viên đông và sản phẩm đa dạng hơn, hoặc hoạt động trong nhiều lĩnh vực hơn Trong số nhà xuất bản cỡ lớn có loại hình tập đoàn xuất bản đa phương tiện, quản lý khá nhiều công ty thành viên với số lượng lên tới hàng trăm người
Quản lý nhà nước và pháp luật về xuất bản
Đạo luật đầu tiên về Báo chí và xuất bản ở Thái Lan thời hiện đại được ban hành năm 1941 Sau cuộc đảo chính năm 1976, chính phủ mới ban hành Nghị
Trang 37định 42 bổ sung cho đạo luật trên nhằm thắt chặt hơn quyền kiểm soát của chính phủ đối với báo chí và xuất bản để ổn định trật tự xã hội Nghị định 42 tồn tại đến năm 1990 thì bị bãi bỏ Ngày 18/12/2007, Luật mới bắt đầu đi vào hiệu lực, sau khi được Nghị viện thông qua, nhà vua Thái Lan phê chuẩn và đăng ở Công báo Hoàng gia (Nguyễn Công Hòa (2011)
Luật này gồm 29 điều, áp dụng cho sách, báo, tạp chí và các loại ấn phẩm tương
tự Về đại thể, nội dung Luật Đăng ký xuất bản bao quát các nội dung như:
1 Định nghĩa về các loại xuất bản phẩm, kể cả báo chí;
2 Các loại xuất bản phẩm không cần đăng ký;
3 Đăng ký các xuất bản phẩm;
4 Thành lập nhà xuất bản và cơ quan báo chí;
5 Xử phạt các vi phạm (hành chính - hình sự);
6 Điều khoản tạm thời
Luật quy định, khi thành lập nhà xuất bản, người đứng đơn xin phải có địa chỉ
cư trú ở Thái Lan và ít nhất là 20 tuổi trở lên; không phải là người đang chịu án của luật pháp; chưa từng vào tù (trừ khi người đó đã được thả tự do ít nhất là 03 năm tính đến thời điểm xin thành lập nhà xuất bản; hoặc chịu án rất nhẹ như án vì tội vu khống)
Việc thành lập báo chí thì đòi hỏi những quy định khắt khe hơn Các nhà xuất bản Thái Lan thường kết hợp cả xuất bản báo chí, nhất là các tập đoàn đa phương tiện lớn Do vậy, các điều luật quy định đối với báo chí cũng liên quan mật thiết đến hoạt động của ngành xuất bản
Luật Đăng ký xuất bản quy định, khi muốn thành lập một tờ báo hay tạp chí, thì người đứng đơn phải đáp ứng các điều kiện sau:
* Phải trình đầy đủ các hồ sơ theo quy định;
* Phải có biên tập viên có trình độ nghề nghiệp tương ứng;
* Chủ sở hữu phải là người Thái Nếu đó là một thực thể pháp nhân thì ít nhất 70% cổ đông và ¾ Hội đồng Quản trị phải là người Thái
Khi hồ sơ đã trình đầy đủ theo yêu cầu, thì cơ quan cấp phép của Chính phủ không có quyền đặt ra câu hỏi, nên hay không nên cấp giấy phép cho người đứng đơn mà phải có trách nhiệm xem xét hồ sơ và cấp phép ngay
Trang 38Một quy định cũng đáng lưu ý khác là tất cả các ấn phẩm xuất bản tại Thái Lan thì phải có biên tập viên là người Thái đứng tên
Thái Lan không có cơ quan chuyên trách quản lý nhà nước về xuất bản Vì vậy, hoạt động của ngành xuất bản chủ yếu do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng Bộ Giáo dục chi phối và Hội Xuất bản Thái Lan (PUBAT) trở thành tác nhân chính trong việc phối hợp hoạt động của các hội viên
2.2.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho công tác quản lý nhà nước về xuất bản tại
Hà Nội
Một là, tiến hành sắp xếp hợp lý hệ thống nhà xuất bản; rà soát, chấn
chỉnh tình trạng các nhà xuất bản xa rời tôn chỉ, mục đích và không chấp hành nghiêm luật pháp, nhất là Luật Xuất bản; nhà xuất bản phải là có cơ quan chủ
quản chịu trách nhiệm và phải đáp ứng yêu cầu về số vốn điều lệ tối thiểu
Hai là, dù có tồn tại hay không một bộ luật xuất bản riêng thì cũng phải
có các qui định chi tiết về xuất bản phẩm, cách tổ chức in ấn và phát hành xuất bản phẩm đó
Ba là, thực hiện nghiêm túc quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng; rà soát, kiện toàn, phê duyệt đúng cán bộ lãnh đạo và kiểm duyệt trình độ biên tập viên xuất bản; bảo đảm tiêu chuẩn chính trị, nghề nghiệp; kiên quyết không cấp chứng chỉ hành nghề đối với biên tập viên yếu kém về phẩm chất, năng lực, có quan điểm sai trái và khuyết điểm kéo dài Chấn chỉnh những thiếu sót, khuyết điểm, chỉ đạo quản lý tốt kinh tế xuất bản, các hoạt động trong kinh doanh dịch
vụ, theo đúng các quy định của pháp luật Kiến nghị Chính phủ, các cơ quan chức năng xem xét việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp của các nhà xuất bản
Bốn là, các cơ quan chủ quản phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn
của mình, chịu trách nhiệm về hoạt động của cơ quan xuất bản thuộc quyền theo đúng các chủ trương, nguyên tắc của Đảng và các quy định của pháp luật Đề cao trách nhiệm đối với việc chỉ đạo, quản lý đối với các nhà xuất bản, nhà in và phát hành thuộc phạm vi phụ trách của mình Thi hành nghiêm chỉnh các quy định của Luật Xuất bản và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chủ quản Tăng cường lãnh đạo công tác cán bộ, nhất là chỉ đạo, quản
lý nội dung, định hướng chính trị, kinh tế, thu chi của các nhà xuất bản
Trang 39Năm là, thường xuyên kiểm tra, hướng dẫn và làm tốt công tác khen
thưởng, qua đó động viên, khuyến khích ngành xuất bản làm tốt vai trò, trách nhiệm; chỉ đạo, uốn nắn kịp thời và xử lý đúng pháp luật các sai phạm của xuất bản, kiên quyết không để xảy ra hiện tượng tư nhân hóa ngành xuất bản dưới mọi hình thức, không để bất cứ tổ chức, cá nhân nào lợi dụng, chi phối ngành xuất bản nhằm phục vụ lợi ích riêng, gây tổn hại đến lợi ích của đất nước và nhân dân; quản lý chặt chẽ việc liên kết trong hoạt động xuất bản
2.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đến nay, từ các góc độ tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu, học giả và nhà quản lý của Việt Nam đã có một số công trình, bài viết nghiên cứu về QLNN về hoạt động xuất bản nói chung, về từng lĩnh vực cụ thể khác nhau, như:
- Về những vấn đề chung của hoạt động xuất bản Việt Nam trong cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế thời gian qua, ví dụ như cuốn “Xuất bản Việt Nam trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế” / Nhiều tác giả, Nhà xuất bản Thời
đại, 2012 - là kết quả nghiên cứu của Đề tài độc lập cấp Nhà nước, mã số ĐTĐL.2009G/32 do PGS TS Nguyễn Hồng Vinh làm chủ nhiệm
Có thể nói, đây là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện về quá trình phát triển của ngành xuất bản Việt Nam trong gần một thế kỷ qua, đặc biệt từ khi nước ta tiến hành công cuộc Đổi mới đến nay Cuốn sách đã góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận, hệ thống quan điểm về QLNN về xuất bản và đề xuất chủ trương, cơ chế chính sách nhằm thể chế hóa các quan điểm của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong bối cảnh mới, đánh giá thực trạng và phân tích tác động của hai yếu tố chính là cơ chế thị trường
và hội nhập quốc tế, đồng thời bước đầu đề xuất các nhóm giải pháp góp phần thúc đẩy phát triển lĩnh vực xuất bản trong thời gian ngắn và trung hạn
Ngoài ra, còn một số ít các nghiên cứu về hoạt động xuất bản ở nước ta
(không phổ biến) ví dụ như Kỷ yếu hội thảo: Hoạt động xuất bản Việt Nam trong
cơ chế thị trường/Cục Xuất bản (1998); Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: Xuất bản trong cơ chế thị trường ở nước ta; Xây dựng ngành xuất bản hiện đại và đồng bộ/ Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2005); Đề tài nghiên cứu của Ban Đảng: Tình trạng in lậu sách ở nước ta hiện nay: Thực trạng, vấn đề đặt ra, giải
Trang 40pháp khắc phục/PGS.TS Lê Văn Yên (KHBĐ/2010-09); Xây dựng tập đoàn xuất bản ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay/TS Nguyễn Duy Hùng
(KHBĐ/2010 -12)…
- Về các nghiên cứu trong từng lĩnh vực cụ thể của ngành xuất bản nước ta, chủ yếu là các đề tài, đề án như: Báo cáo đề tài khoa học: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý văn phòng đại diện của nước ngoài tại Việt Nam, hoạt động trong lĩnh vực xuất bản và phát hành xuất bản phẩm/ Cục Xuất bản -
Bộ Thông tin - Truyền thông (MS 53-10-KHKT-QL, 2010)
Nhìn chung, những tác phẩm này là tài liệu tham khảo bổ ích, cung cấp cho bạn đọc những kiến thức cơ bản về xuất bản, làm cơ sở cho việc nhận thức cũng như tăng thêm kiến thức cho các nhà quản lý, cán bộ, sinh viên… những người hoạt động trong lĩnh vực xuất bản, chứ không đi sâu phân tích về năng lực quản
lý nhà nước đối với công tác xuất bản
- Một số luận án, luận văn ở các cơ sở đào tạo sau đại học thuộc Học viện Báo chí - Tuyên truyền đề cập đến từng mặt hoạt động xuất bản cụ thể, như: về xuất bản sách giáo khoa, sách thiếu nhi, về thị hiếu người đọc, về giá thành sách; hoặc một số bài báo đề cập đến những khó khăn chung của công tác xuất bản; những vấn đề cần quan tâm trong công tác QLNN về hoạt động xuất bản…
- Về QLNN trong hoạt động xuất bản của nước ta nói chung và QLNN về xuất bản tại Thành phố Hà Nội nói riêng, theo tác giả được biết, chưa có công trình nghiên cứu nào
Về cách tiếp cận, các nghiên cứu trên đây tập trung vào những vấn đề cụ
thể, trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động xuất bản nói chung, phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu là phân tích, đánh giá, chưa khái quát các vấn đề mang tính lý luận cũng như thực tiễn hoạt động xuất bản và tình hình công tác QLNN ở nước ta trong bối cảnh kinh tế thị trường
và hội nhập quốc tế
Về nội dung, các nghiên cứu này chưa thực sự đáp ứng nhu cầu phát triển
của thực tiễn đòi hỏi của xã hội đối với ngành xuất bản Các đề tài, đề án nói trên chỉ tập trung nghiên cứu một số lĩnh vực hẹp đối với QLNN về xuất bản, chưa mang tính tổng quát và chưa nghiên cứu toàn diện công tác QLNN về xuất bản trong bối cảnh mới hiện nay