TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SHƯD PHẠM HOÀNG NAM ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN VI SINH BIO – KING BÓN QUA GỐC ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA OM4900 TRỒNG TRONG CHẬU Ở VỤ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SHƯD
PHẠM HOÀNG NAM
ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN VI SINH BIO – KING BÓN QUA GỐC ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA OM4900 TRỒNG TRONG CHẬU Ở VỤ THU ĐÔNG 2013
LUẬN VĂN KỸ SƯ NÔNG HỌC
Cần Thơ, 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SHƯD
LUẬN VĂN KỸ SƯ NÔNG HỌC
ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN VI SINH BIO – KING BÓN QUA GỐC ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA OM4900 TRỒNG TRONG CHẬU Ở VỤ THU ĐÔNG 2013
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
MSSV: 3113255
Lớ p: Nông Học K37
Cần Thơ, 2014
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Chứng nhận đã chấp nhận luận văn với đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN VI SINH BIO – KING BÓN QUA GỐC ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA OM4900 TRỒNG TRONG CHẬU Ở VỤ THU ĐÔNG 2013
Do sinh viên Phạm Hoàng Nam thực hiện Kính trình hội đồng chấm luận văn
tốt nghiệp xem xét
Cần Thơ, ngày …… Tháng ………năm 2014
Cán bộ hướng dẫn
ThS Trần Thị Bích Vân
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn với đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN VI SINH BIO – KING BÓN QUA GỐC ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA OM4900 TRỒNG
TRONG CHẬU Ở VỤ THU ĐÔNG 2013
Được tiến hành từ tháng 9/2013 đến tháng 12/2013 do sinh viên Phạm Hoàng Nam thực hiện và bảo vệ trước hội đồng ngày…… tháng 5 năm 2014
Luận văn đã được hội đồng chấp nhận và đánh giá ở mức:………
………
Ý kiến hội đồng:
………
……… DUYỆT KHOA Cần Thơ, ngày … tháng …năm 2014 TRƯỞNG KHOA NN &SHƯD Chủ tịch hội đồng
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liêụ, kết quả trình bài trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ tài liệu nào trước đây
Cần Thơ, ngày 21 tháng 01 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Phạm Hoàng Nam
Trang 6TIỂU SỬ BẢN THÂN
I LÝ LỊCH SƠ BỘ
Họ và tên: Phạm Hoàng Nam Giới tính: Nam
Quê quán: Giồng Riềng – Kiên Giang
Nơi sinh: Giồng Riềng – Kiên Giang
Email: nam113255@student.ctu.edu.vn MSSV: 3113255
Cần Thơ, ngày 21 tháng 01 năm 2014
Người khai
Phạm Hoàng Nam
Trang 7LỜI CẢM TẠ
Trước tiên tôi xin kính gửi đến Cha Mẹ lòng biết ơn sâu sắc người suốt đời tận tụy vì tương lai của con, không ngại gian lao, vất vã, chăm lo để tôi được ăn học đến ngày hôm nay
Xin chân thành cảm ơn Cô Trần Thị Bích Vân đã tận tình hướng dẫn, nhắc nhở, chỉnh sửa và đóng góp ý kiến cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn Thầy Nguyễn Lộc Hiền, cùng các thầy cô của khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng dụng đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức
và những kinh nghiệm quý báo và tạo điều kiện cho tôi khi thực hiện luận văn này
Xin cám ơn bạn Trần Thị Lệ Thu, bạn Liêu Trần Hải Đăng, bạn Trần Văn Cảnh, bạn Lý Thị Diễm Kiều, bạn Võ Thị Mỹ Nhân và bạn Lê Thị Châu Pha đã giúp đở tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Cuối cùng tôi xin cảm ơn tất cả các bạn của lớp Nông Học khóa 37 đã luôn ở bên cạnh cùng tôi nỗ lực và phấn đấu trong học tập và rèn luyện suốt thời gian học Đại học
Phạm Hoàng Nam
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
TIỂU SỬ BẢN THÂN iv LỜI CẢM TẠ v MỤC LỤC vi
DANH SÁCH BẢNG viii
DANH SÁCH HÌNH ix
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT x
TÓM LƯỢC xi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2 1.1 THỜI KỲ SINH TRƯỞNG CỦA CÂY LÚA 2
1.1.1 Giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng 2
1.1.2 Giai đoạn sinh trưởng thực 2
1.1.3 Giai đoạn chín 3 1.2 ĐẶC TÍNH NÔNG HỌC 3
1.2.1 Thời gian sinh trưởng 3 1.2.2 Số chồi 4
1.2.3 Chiều cao cây 4
1.2.4 Chiều dài bông 4 1.3 NĂNG SUẤT VÀTHÀNH PHẦN NĂNG SUẤT 5 1.3.1 Số bông trên mét vuông 5 1.3.2 Phần trăm hạt chắc 5
1.3.3 Số hạt trắc trên bông 5
1.3.4 Trọng lượng 1000 hạt 6 1.3.5 Năng suất thực tế 6 1.3.6 Chỉ số HI 6 1.4 NHU CẦU DINH DƯỠNG CHO CÂY LÚA 7
1.4.1 Yếu tố đạm 7
1.4.2 Yếu tố lân 7 1.4.3 Yếu tố kali 8 1.4.4 Phân vi sinh……… 8
1.4.5 Khái quát về phân vi sinh Bio – King 10 1.4.6 Một số nghiên cứu về hiệu quả của phân hửu cơ vi sinh 13
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 16 2.1 PHƯƠNG TIỆN 16
2.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 16 2.1.2 Vật liệu thí nghiệm 16 2.2 PHƯƠNG PHÁP 17
2.2.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 17
2.2.2 Phương pháp canh tác 19
2.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi 19
Trang 92.2.4 Phương pháp đánh giá chỉ tiêu năng suất và thành phần năng suất 19
2.2.5 Phương pháp xử lý số liệu 20
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ- THẢO LUẬN 21
3.1 NHỮNG GHI NHẬN TỔNG QUÁT 21
3.1.1 Điều kiện khí hậu 21
3.1.2 Tình hình sinh trưởng 21
3.1.3 Tình hình sâu bệnh 21
3.2 CÁC CHỈ TIÊU NÔNG HỌC 22
3.2.1 Chiều cao cây 22
3.2.2 Số chồi trên chậu 23
3.2.3 Chiều dài bông 24
3.3 THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT VÀ NĂNG SUẤT 25
3.3.1 Số bông trên chậu 25
3.3.2 Số hạt trắc trên bông 26
3.3.3 Phần trăm hạt trắc 26
3.3.4 Trọng lượng 1000 hạt 27
3.3.5 Năng suất lý thuyết 27
3.3.6 Năng suất thực tế 27
3.3.7 Chỉ số HI 28
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 29
4.1 KẾT LUẬN 29
4.2 ĐỀ NGHỊ 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
PHỤ CHƯƠNG 35
Trang 103.1 Đặc điểm khí hậu TP Cần Thơ năm 2013 (Trung tâm khí tƣợng thủy
văn Thành Phố Cần Thơ, 2013)
21 3.2 Chiều cao (cm) của giống lúa OM4900 vụ Thu Đông 2013 23 3.3 Số chồi/chậu của giống lúa OM4900 vụ Thu Đông 2013 24 3.4 Chiều dài bông (cm) ở các nghiệm thức thí nghiệm vào vụ Thu Đông
Trang 11DANH SÁCH HÌNH
2.1 Chậu nhựa dùng để trồng lúa trong thí nghiệm 16
Trang 12DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 13TÓM LƯỢC
Đề tài “Ảnh hưởng của phân vi sinh Bio - King bón qua gốc đến sinh trưởng
và năng suất của giống lúa OM4900 trồng trong chậu ở vụ Thu Đông 2013” thí
nghiệm được thực hiện tại nhà lưới bộ môn Khoa học cây trồng, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2013, nhằm mục đích đánh giá hiệu quả của phân vi sinh Bio-king đến sinh trưởng và năng suất từ đó làm cơ sở khuyến cáo người dân sử dụng vào trong sản xuất
Thí nghiệm được được bố trí theo thể hoàn toàn ngẫu nhiên một nhân tố, với 4 nghiệm thức và 5 lần lặp lại Ở bốn mức dộ phân bón là: nghiệm thức 1 (đối chứng) bón phân vô cơ theo nền dinh dưỡng là 100 kg N, 60 kg P 2 O 5 và 30 kg K 2 O/ha, nghiệm thức 2 bón phân vô cơ theo nền dinh dưỡng là 90kg N, 60 kg P 2 O 5 và 30 kg K 2 O/ha và kết hợp phân vi sinh liều lượng 2ml/chậu, nghiệm thức 3 bón phân vô cơ theo nền dinh dưỡng là 80kg N, 60 kg P 2 O 5 và 30 kg K 2 O/ha và kết hợp phân vi sinh liều lượng 2ml/chậu, nghiệm thức 4 bón phân vô cơ theo nền dinh dưỡng là 70kg N, 60 kg P 2 O 5
và 30 kg K 2 O/ha và kết hợp phân vi sinh liều lượng 2ml/chậu Chỉ tiêu sinh trưởng dược đánh giá bởi chiều cao cây ở các giai đoạn 20, 40, 60 và thu hoạch, số chồi lúc
20, 40, 60 và thu hoạch Chỉ tiêu về năng suất được đánh giá qua các thành phần năng suất và chỉ số HI
Kết quả thí nghiệm cho thấy bón phân vi sinh ở các nghiệm thức cây lúa cho chiều cao cây tương đương với đối chứng Về các thành phần năng suất và năng suất ở nghiệm thức bón giảm 10% và 20% lượng đạm có kết hợp với bón phân vi sinh, số hạt chắc/ bông và cho năng suất thực tế tương đương với nghiệm thức đối chứng
Trang 14MỞ ĐẦU
Việt Nam là nước nông nghiệp, phân bón và giống có thể xem là hai yếu tố có tính quyết định đến năng suất và chất lượng Giá và sản lượng lương thực tăng nhưng thu nhập của nông dân vẫn chưa được cải thiện vì chi phí sản xuất cao cho phân bón Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã phát hiện các nhóm vi khuẩn có khả
năng cố định đạm cho cây lúa và giúp tăng năng suất cây lúa từ 10 – 30% (Kapulnik và
ctv 1981; Watanabe và Lin, 1984) Các nhóm vi khuẩn này đã và đang được thử
nghiệm tại nhiều vùng sinh thái khác nhau để tìm các loài thích hợp cho điều kiện khí hậu, đất đai của mổi nước và các giống lúa sản xuất
Cây lúa cần nhiều chất dinh dưỡng khác nhau, trong đó chất đạm là nguồn dinh dưỡng hàng đầu Tuy nhiên, khi bón phân đạm hóa học cho ruộng lúa, chỉ có khoảng
50 – 60% lượng đạm bón vào trong đất được cây lúa hấp thu (Võ Minh Kha, 2003) Do
đó sự lạm dụng phân hóa học sẻ dẫn đến những hậu quả như thay đổi đặc tính lý hóa của đất, giảm độ phì, mất cân bằng sinh thái và gây ô nhiễm môi trường do sự thất thoát nitrat Bón quá nhiều phân đạm hóa học sẽ dẫn đến chi phí cao, không những làm
ô nhiễm môi trường mà còn gây tổn hại đến sức khỏe và ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái Việc thí nghiệm sử dụng phân vi sinh có chứa các vi khuẩn có khả năng cố định đạm hữu hiệu cho cây lúa là góp phần nghiên cứu nguồn đạm sinh học, thay thế một phần phân đạm hóa học và cần thiết cho sự phát triển nông nghiệp bền vững
Đó là lý do chính để thực hiện đề tài: “ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN VI SINH BIO – KING BÓN QUA GỐC ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA OM4900 TRỒNG TRONG CHẬU Ở VỤ THU ĐÔNG 2013”
Trang 15CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 THỜI KỲ SINH TRƯỞNG CỦA CÂY LÚA
Đời sống cây lúa bắt đầu từ lúc hạt nẩy mầm cho đến khi lúa chín Có thể chia làm 3 giai đoạn chính: giai đoạn tăng trưởng (sinh trưởng dinh dưỡng), giai đoạn sinh sản (sinh dục) và giai đoạn chín Trong thời gian đó cây lúa phải trải qua các thời kỳ sinh trưởng và các giai đoạn khác nhau Trong mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn không chỉ có những biến đổi về chất mà còn biến đổi về lượng, để hoàn thành chu trình sinh trưởng
và phát triển của nó
1.1.1 Giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng
Giai đoạn tăng trưởng bắt đầu từ khi hạt nẩy mầm đến khi cây lúa bắt đầu phân hóa đòng Giai đoạn này, cây phát triển về thân lá, chiều cao tăng dần và ra nhiều chồi mới (nở bụi) Cây ra lá ngày càng nhiều và kích thước lá ngày càng lớn giúp cây lúa nhận nhiều ánh sáng mặt trời để quang hợp, hấp thụ dinh dưỡng, gia tăng chiều cao, nở bụi và chuẩn bị cho các giai đoạn sau Trong điều kiện đầy đủ dinh dưỡng, ánh sáng và thời tiết thuận lợi, cây lúa có thể bắt đầu nở bụi khi có lá thứ 5 – 6 Chồi ra sớm trong nương mạ gọi là chồi ngạnh trê Sau khi cấy, cây mạ mất một thời gian để hồi phục, bén rễ rồi nở bụi rất nhanh, cùng với sự gia tăng chiều cao, kích thước lá đến khi đạt số chồi tối đa thì không tăng nữa mà các chồi yếu bắt đầu rụi dần (chồi vô hiệu hay còn gọi là chồi vô ích), số chồi giảm xuống (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Thông thường, số chồi hình thành bông (chồi hữu hiệu hay còn gọi là chồi có ích) thấp hơn so với số chồi tối đa và ổn định khoảng 10 ngày trước khi đạt được chồi tối đa Các chồi ra sau đó, thường sẽ tự rụi đi không cho bông được do chồi nhỏ, yếu không đủ khả năng cạnh tranh dinh dưỡng, ánh sáng với các chồi khác, gọi là chồi vô hiệu Theo Nguyễn Thành Hối (2011), giai đoạn này dài ngắn tùy theo giống lúa, các giống cao sản ngắn ngày có giai đoạn này từ 40 – 45 ngày, nhưng các giống lúa mùa dài ngày có khi giai đoạn này kéo dài 4 – 6 tháng
1.1.2 Giai đoạn sinh trưởng thực
Giai đoạn sinh sản bắt đầu từ lúc phân hóa đòng đến khi lúa trổ bông Giai đoạn này kéo dài khoảng 27 – 35 ngày, trung bình 30 ngày và giống lúa dài ngày hay ngắn ngày thường không khác nhau nhiều Lúc này, số chồi vô hiệu giảm nhanh, chiều cao tăng lên rõ rệt do sự vươn dài của 5 lóng trên cùng Đòng lúa hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn, cuối cùng thoát ra khỏi bẹ của lá cờ: lúa trổ bông Trong suốt thời gian này, nếu đầy đủ dinh dưỡng, mực nước thích hợp, ánh sáng nhiều, không sâu bệnh
và thời tiết thuận lợi thì bông lúa sẽ hình thành nhiều hơn và vỏ trấu sẽ đạt được kích
Trang 16thước lớn nhất của giống, tạo điều kiện gia tăng trọng lượng hạt sau này (Nguyễn Ngọc
Đệ, 2008)
1.1.3 Giai đoạn chín
Giai đoạn chín bắt đầu từ lúc trổ bông đến lúc thu hoạch Giai đoạn này trung bình khoảng 30 ngày đối với hầu hết các giống lúa ở vùng nhiệt đới Tuy nhiên, nếu đất ruộng có nhiều nước, thiếu lân, thừa đạm, trời mưa ẩm, ít nắng trong thời gian nầy thì giai đoạn chín sẽ kéo dài hơn và ngược lại (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Giai đoạn này cây lúa trải qua các thời kỳ sau:
Thời kỳ chín sữa (ngậm sữa): các chất dự trữ trong thân lá và sản phẩm quang hợp được chuyển vào trong hạt Hơn 80% chất khô tích lũy trong hạt
là do quang hợp ở giai đoạn sau khi trổ Do đó, các điều kiện dinh dưỡng, tình trạng sinh trưởng, phát triển của cây lúa và thời tiết từ giai đoạn lúa trổ trở đi hết sức quan trọng đối với quá trình hình thành năng suất lúa Kích thước và trọng lượng hạt gạo tăng dần làm đầy vỏ trấu Bông lúa nặng cong xuống nên gọi là lúa “cong trái me” Hạt gạo chứa một dịch lỏng màu trắng đục như sữa, nên gọi là thời kỳ lúa ngậm sữa
Thời kỳ chín sáp: hạt mất nước, từ từ cô đặc lại, lúc bấy giờ vỏ trấu vẫn còn xanh
Thời kỳ chín vàng: hạt tiếp tục mất nước, gạo cứng dần, trấu chuyển sang màu vàng đặc thù của giống lúa, bắt đầu từ những hạt cuối cùng ở chót bông lan dần xuống các hạt ở phần cổ bông nên gọi là “lúa đỏ đuôi”, lá già rụi dần
Thời kỳ chín hoàn toàn: Hạt gạo khô cứng lại, ẩm độ hạt khoảng 20% hoặc thấp hơn, tùy ẩm độ môi trường, lá xanh chuyển vàng và rụi dần Thời điểm thu hoạch tốt nhất là khi 80% hạt lúa ngã sang màu trấu đặc trưng của giống
1.2 ĐẶC TÍNH NÔNG HỌC
1.2.1 Thời gian sinh trưởng
Thời gian sinh trưởng của cây lúa được tính từ khi hạt lúa nảy mầm đến khi chín hoàn toàn, thay đổi tuỳ theo giống và điều kiện ngoại cảnh Thời gian sinh trưởng của một giống chuyên biệt cao theo vùng và theo mùa vụ vì những tương tác giữa sự mẫn cảm của quang kỳ và nhiệt độ của giống với điều kiện thời tiết Các giống có thời gian sinh trưởng quá ngắn có thể không cho năng suất cao vì sự sinh trưởng dinh dưỡng hạn chế, và những giống có thời gian sinh trưởng quá dài có thể không cho năng suất cao vì
sự sinh trưởng dinh dưỡng dư có thể gây đổ ngã (Yoshida, 1981) Theo Võ Tòng Xuân (1986) cho rằng các giống lúa có thời gian sinh trưởng từ 110 – 135 ngày luôn cho
Trang 17năng suất cao hơn các giống lúa chín sớm hơn và muộn hơn ở phần lớn điều kiện canh tác
1.2.2 Số chồi
Theo Yoshida (1981) về mặt lý thuyết ở điều kiện đặc biệt, một cây lúa có thể mọc ra 40 chồi Tuy nhiên, trong thực tế tất cả những mầm chồi không nhất thiết phát triển thành chồi Khoảng cách trồng, ánh sáng, nguồn dinh dưỡng và điều kiện môi trường, kỹ thuật canh tác ảnh hưởng đến sự nảy chồi Số chồi hình thành bông (chồi hữu hiệu hay còn gọi là chồi hữu ích) ít hơn so với chồi tối đa và ổn định khoảng 10 ngày trước khi đạt được chồi tối đa Các chồi ra sau đó thường sẽ tự rụi đi không cho bông được do chồi nhỏ yếu không đủ khả năng cạnh tranh dinh dưỡng, ánh sáng với các chồi khác gọi là chồi vô hiệu (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
1.2.3 Chiều cao cây
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008) cây lúa nào có lóng ngắn, thành lóng dầy, bẹ lúa
ôm sát thân thì thân lúa sẽ cứng chắc, khó đổ ngã và ngược lại Nếu đồng ruộng có nhiều nước, sạ cấy dày, thiếu ánh sáng, bón nhiều đạm thì lóng có khuynh hướng thon dài và mềm yếu làm cây lúa dễ đổ ngã Lúa bị đổ ngã thì sự hút dinh dưỡng và quang hợp bị trở ngại, sự vận chuyển các chất bị cản trở, hô hấp mạnh làm tiêu hao chất dự trữ, đưa đến hạt lép nhiều làm giảm năng suất Sự đổ ngã càng sớm, lúa bị thiệt hại càng nhiều và năng suất càng giảm Chiều cao cây lúa thích hợp nhất dao động từ 80 –
100 cm vì nếu chiều cao quá cao sẽ làm tăng sự đổ ngã và giảm tỷ lệ vào chắc (Khush, 2001; Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
1.2.4 Chiều dài bông
Cây lúa có chiều dài bông thay đổi tùy theo giống, vùng đất và kỹ thuật canh tác Chiều dài bông góp phần tăng năng suất Chiều dài bông là một đặc điểm di truyền của giống, nó được tính từ đốt cổ bông đến đầu mút bông Giống có bông dài, hạt xếp khít,
tỷ lệ hạt lép thấp, khối lượng 1000 hạt cao sẽ cho năng suất cao (Vũ Văn Liết và ctv.,
2004) Cây lúa có chiều dài bông thay đổi tùy theo giống, vùng đất và kỹ thuật canh tác, chiều dài bông góp phần tăng năng suất Các giống lúa Mùa có chiều dài bông lúa biến thiên từ 17 – 32 cm, tập trung nhiều ở khoảng 23 – 25 cm Phần đông các giống lúa có cổ bông hở độ thụ phấn tương đối cao (76 – 100%) đến trung bình (51 – 75%), các giống bông dài nhiều hạt thường ít bông (Nguyễn Văn Sánh, 1981) Số hạt chắc/bông, chiều dài bông là tính trạng chính trong việc đóng góp vào năng suất trên những vùng đất nhiễm mặn Tuy nhiên chiều dài bông chịu tác động rất ít bởi môi trường (Đặng Nguyệt Quế, 2011)
Trang 181.3 NĂNG SUẤT VÀ THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT
1.3.1 Số bông trên mét vuông
Số bông trên đơn vị diện tích được quyết định vào giai đọan sinh trưởng ban đầu của cây lúa (giai đoạn tăng trưởng), nhưng chủ yếu là giai đoạn từ khi cấy đến khoảng
10 ngày trước khi có chồi tối đa Số bông trên đơn vị diện tích tùy thuộc vào mật độ sạ cấy và khả năng nở bụi của lúa Mật độ sạ cấy và khả năng nở bụi của lúa thay đổi tùy theo giống lúa, điều kiện đất đai, thời tiết, lượng phân bón nhất là phân đạm và chế độ nước Số bông trên đơn vị diện tích có ảnh hưởng thuận với năng suất Nói chung, đối với giống lúa ngắn ngày, thấp cây, nở bụi ít, đất xấu, nhiều nắng nên cấy dầy để tăng số bông trên đơn vị diện tích Ngược lại, trên đất giàu hữu cơ, thời tiết tốt, lượng phân bón nhiều (nhất là đạm) và giữ nước thích hợp thì lúa nở bụi khỏe có thể sạ cấy thưa hơn Các giống lúa cải thiện thấp cây có số bông/m2
trung bình phải đạt 500 - 600 bông/m2đối với lúa sạ hoặc 350 – 450 bông/m2
đối với lúa cấy, mới có thể có năng suất cao (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Bên cạnh đó, số bông/đơn vị diện tích cũng bị ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ, trong đó vụ Đông Xuân có số bông/m2
cao hơn vụ Hè Thu mưa nhiều làm ảnh hưởng đến khả năng quang hợp, do đó làm giảm khả năng nảy chồi (Nguyễn Bích Hà Vũ, 2006) Đối với lúa sạ thẳng, số bông trên mét vuông tùy thuộc vào lượng giống để sạ
và phần trăm hạt nảy mầm (Yoshida, 1981)
1.3.2 Phần trăm hạt chắc
Phần trăm hạt chắc cũng là một trong những yếu tố cấu thành năng suất lúa Trong điều kiện các thành phần năng suất khác ổn định, tỉ lệ phần trăm hạt chắc trên bông tỉ lệ thuận với năng suất lúa Phần trăm hạt chắc trên bông chịu sự ảnh hưởng rất lớn bởi sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa trong suốt thời kì từ khi cây lúa làm đòng đến khi vào hạt chắc, nhất là thời kỳ phân bào giảm nhiễm (Nguyễn Ngọc Đệ, 1998)
1.3.3 Số hạt chắc trên bông
Đặc tính số hạt chắc/bông chịu tác động rất lớn của điều kiện môi trường Số hạt chắc/bông nhiều hay ít tùy thuộc vào số gié hoa phân hóa và số gié hoa không phân hóa Số hoa/bông quá nhiều dễ dẫn đến tỷ lệ hạt chắc thấp (Trần Hữu Phúc, 2008) Muốn năng suất cao, thì tỷ lệ hạt chắc phải trên 80% (Nguyễn Thị Lam Viên, 2010) Nguyễn Ngọc Đệ (2008) cho rằng lúa sạ có trung bình từ 80 – 100 hạt/bông và
100 – 120 hạt/bông đối với lúa cấy là tốt nhất trong điều kiện ở Đồng Bằng Sông Cửu Long Trên cùng một cây lúa, những bông chính thường có nhiều hạt, những bông phụ phát triển sau thường có ít hạt hơn
Trang 19Số hạt chắc/bông liên hệ mật thiết với số hạt/bông và tỷ lệ hạt chắc Để có sự vận chuyển tổng hợp carbohydrate ở thân lá cũng như việc vận chuyển tổng hợp những chất khô vào hạt tốt hơn thì bộ lá có cấu tạo dày, xanh đậm hơn, tuổi thọ lá kéo dài là một đặc tính rất quan trọng và cần thiết Bộ lá thẳng đứng thì cây lúa sử dụng ánh sáng hiệu quả hơn (Yoshida, 1976)
1.3.4 Trọng lƣợng 1000 hạt
Trọng lượng từng hạt thay đổi ở vài trường hợp nhưng giá trị trung bình không đổi Đặc tính trọng lượng 1000 hạt rất ít chịu tác động của điều kiện môi trường và có
hệ số di truyền cao (Nguyễn Đình Giao và ctv., 1997) Theo Huỳnh Như Điền (2009),
trọng lượng 1000 hạt tập trung nhiều nhất ở cỡ hạt 25 – 27g và đối với các giống lúa địa phương vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long thì trọng lượng 1000 hạt có sự tương quan nghịch với yếu tố số hạt/bông
Theo Lê Xuân Thái (2003) chọn giống có trọng lượng 1000 cao thì rất cần thiết trong việc gia tăng năng suất, nhưng không nên chọn các giống có trọng lượng 1000 hạt quá cao vì như thế sẽ kèm theo bạc bụng nhiều
1.3.5 Năng suất thực tế
Trong thực tế, khi môi trường canh tác càng ít được kiểm soát, năng suất lúa thường đạt thấp hơn rất nhiều so với tiềm năng của nó Năng suất thực tế do đặc tính giống quy định và phụ thuộc vào bốn thành phần năng suất, tuy nhiên nó bị ảnh hưởng rất lớn bởi các yếu tố môi trường và kỹ thuật canh tác Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008),
sự sụt giảm năng suất so với tiềm năng là do hạn chế về mặt sinh học, như sự thích nghi của giống đối với điều kiện đất, nước dinh dưỡng, sâu bệnh, cỏ dại Ngoài ra điều kiện kinh tế xã hội của nông dân cũng góp phần quan trọng làm sụt giảm năng suất so với tìm năng của nó Trong đó, kiến thức và tập quán canh tác của nông dân là hết sức quan trọng, chi phí và lợi nhuận cũng là yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới quyết định đầu tư của người dân và do đó ảnh hưởng đến năng suất lúa
1.3.6 Chỉ số HI
Chỉ số HI (hệ số kinh tế K) là một trong những đặc tính chủ yếu đáp ứng với việc gia tăng năng suất, gia tăng chỉ số thu hoạch làm cho lúa ít rơm rạ hơn hoặc các thành phần không quang hợp của cây ít hơn và chiều cao của cây giảm, giúp tăng khả năng
chống đổ ngã (Tanaka và ctv., 1996; trích bởi Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Theo Nguyễn Văn Hiển và Nguyễn Văn Hoan (1999) hệ số kinh tế của lúa nước
ta thay đổi từ 0,2 đến 0,6 Hệ số này quyết định bởi ba yếu tố: khả năng tích lũy tinh bột trong thân, bẹ lá và trong lá: khả năng vận chuyển các chất tích lũy trong thân lá vào hạt và phụ thuộc vào khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng của bông và hạt lúa
Trang 201.4 NHU CẦU DINH DƢỠNG CHO CÂY LÚA
Theo Lê Minh Triết (2005) để tạo ra một tấn lúa ở vùng nhiệt đới, lượng NPK được huy động là 19 – 24 kg N, 4 – 6 kg P2O5 và 3 – 5 kg K2O
-) kém hiệu quả do đạm ammon khi bón sâu vào đất sẽ được keo đất giữ lại và cây lúa sẽ hút từ từ Trong khi đó, đạm nitrat lại bị quá trình phản nitrat hoá thành dạng đạm ở thể khí (N2) và khi đất ngập nước, đạm nitrat sẽ bị rửa trôi rất mạnh Thừa đạm, lúa dễ bị đổ ngã, bị đạo ôn, sâu đục thân và lem lép cao Khi bón quá nhiều đạm sẽ dẫn đến ức chế quá trình sinh trưởng, phát triển của cây lúa do cây tích lũy quá nhiều amoniac (NH3) vượt quá yêu cầu của cây, trở thành chất kiềm hãm các quá trình Càng tăng NH3 trong mô rễ thì càng có sự tích luỹ không bình thường các oxi, do đó kiềm hãm sự sinh trưởng của rễ Ở giai đoạn sinh sản, nếu thiếu đạm cây lúa
sẽ cho bông ngắn, ít hạt, hạt nhỏ và có nhiều hạt lép
Trong điều kiện đất ngập nước, lượng phân đạm bón vào thường bị mất đi do nhiều nguyên nhân khác nhau Do đó, tỷ lệ đạm cây hút được trên lượng đạm bón vào, chỉ vào khoảng 30 – 50% ở vùng nhiệt đới (Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang, 2010), tùy thuộc vào tính chất đất; phương pháp, số lượng, thời gian bón đạm và những kỹ thuật khác Tỷ lệ này có xu hướng cao khi mức đạm bón thấp và bón đạm sâu vào trong đất hoặc bón thúc ở các thời kỳ sinh trưởng về sau Ở vùng nhiệt đới, hiệu suất sử dụng đạm vào khoảng 50%
1.4.2 Yếu tố lân
Lân có vai trò quan trọng trong thời gian sinh trưởng đầu của cây lúa, xúc tiến sự phát triển của bộ rễ và số chồi lúa, có ảnh hưởng đến tốc độ đẻ nhánh của cây lúa Lân còn làm cây lúa trổ bông đều, chín sớm hơn, tăng năng suất và phẩm chất hạt thóc Nhu cầu lân cây hút vào để tạo ra một tấn lúa: khoảng 7,1kg P2O5 trong đó tích lũy chủ yếu vào hạt (6kg) Cây hút lân mạnh nhất vào thời kỳ đẻ nhánh và thời kỳ làm đòng nhưng xét về cường độ thì cây lúa hút mạnh nhất vào thời kỳ đẻ nhánh (Nguyễn Như Hà, 2006)
Theo Võ Tòng Xuân (1984), cây lúa cần lân nhất là trong giai đoạn đầu, nên cần bón lót trước khi sạ cấy Khi lúa trổ, khoảng 37 – 83% chất lân được chuyển lên bông Khi ngập nước, hàm lượng lân hòa tan gia tăng từ 0,05 ppm đến khoảng 0,6 ppm, sau
đó giảm xuống và ổn định ở khoảng 40 – 50 ngày sau khi ngập Hàm lượng lân di động trong dung dịch đất phụ thuộc vào độ pH Ở pH = 4 - 8 các ion chủ yếu có mặt trong dung dịch đất là H PO - và HPO 2-
Thiếu lân, cây lúa lùn hẳn lại, nở bụi kém, lá rất
Trang 21thẳng hẹp và màu sậm hơn bình thường hoặc ngã sang màu tím bầm, lúa sẽ trổ và chín, hạt không no đầy và phẩm chất giảm
1.4.3 Yếu tố kali
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008), kali giúp cho quá trình vận chuyển và tổng hợp các chất trong cây, duy trì sức trương của tế bào, giúp cây cứng cáp, tăng khả năng chống sâu bệnh, chống đổ ngã, chịu hạn và mạnh khỏe hơn, tăng số hạt chắc trên bông
và là hạt no đầy hơn Kali tập trung chủ yếu trong rơm rạ, chỉ khoảng 6 – 20% ở trên bông
Thiếu kali cây lúa có chiều cao và số chồi gần như bình thường, lá vẫn xanh nhưng mềm rũ, yếu ớt, dễ đổ ngã, dễ nhiễm bệnh nhất là bệnh đốm nâu, lá già rụi sớm Thiếu kali thường xảy ra ở đất thoát nước kém do các độc chất sinh ra trong điều kiện yếm khí đã ngăn cản sự hấp thụ kali của cây lúa Ở đất phèn cây lúa thiếu kali thường kết hợp với triệu chứng ngộ độc do sắt Thiếu kali có thể xảy ra trên đất cát, nghèo dinh dưỡng Khi đất ngập nước, nồng độ kali trong dung dịch đất tăng lên Nhu cầu kali đối với giai đoạn sinh trưởng đầu của cây lúa cao, sau đó giảm xuống và lại tăng lên ở giai đoạn cuối Do cây lúa cần kali với số lượng lớn nên việc bón bổ sung phân kali cho lúa kéo dài đến lúc trổ bông là rất cần thiết
1.4.4 Phân vi sinh
Theo tiêu chuẩn Việt Nam năm 1996 phân bón vi sinh vật được định nghĩa:
“Phân bón vi sinh vật (gọi tắt là phân vi sinh) là sản phẩm chứa một hay nhiều chủng vi sinh vật sống, đã được tuyển chọn có mật độ đạt theo tiêu chuẩn hiện hành Thông qua các hoạt động của chúng sau quá trình bón vào đất tạo nên các chất dinh dưỡng mà cây trồng sử dụng được (N, P, K ) hay các hoạt chất sinh học, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng nông sản Phân vi sinh bảo đảm không gây ảnh hưởng xấu đến người, động thực vật, môi trường sinh thái và chất lượng nông sản”
Sự phát triển và hoạt động của vi sinh vật đất ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng
đất, sự phát triển của cây trồng (Hill và ctv., 2000) Theo Ademir và ctv., (2009) vi sinh
vật đất góp phần quan trọng trong việc đánh giá chất lượng đất Một trong những chức năng quan trọng của vi sinh vật đất là chuyển hóa chất hữu cơ trong đất và tham gia
vào các chu trình chuyển hóa carbon, đạm, lân… (Melero và ctv., 2005 và Ademir và
ctv., 2008)
Trên cơ sở tính năng tác dụng của các vi sinh vật chứa trong phân bón, phân vi sinh còn được phân loại sau:
Phân vi sinh vật cố định đạm (phân đạm vi sinh)
Phân đạm vi sinh là sản phẩm chứa các vi sinh vật sống cộng sinh với cây họ đậu (đậu tương, lạc, đậu xanh,v.v.,), hội sinh trong vùng rễ cây trồng cạn hay tự do trong
Trang 22đất, nước có khả năng sử dụng N2 từ không khí hợp thành đạm cung cấp cho đất và cây
trồng Các vi sinh vật này bao gồm tảo lam, vi khuẩn Azobacter, Bradyrhizobium,
Rhizobium, Actinomycetes, Klebsiella (Ngô Ngọc Hưng và ctv, 2004)
Các vi sinh vật này hấp thụ N2 trong không khí chuyển N2 thành NH3 để nuôi chính bản thân mình, NH3 dư thừa sẽ tiết ra ngoài hoặc khi vi sinh vật chết để lại phần xác giàu đạm và chất dinh dưỡng Đây là nguồn phân bón tốt cho cây trồng (Nguyễn Thanh Hiền, 2003)
Phân vi sinh phân giải hợp chất lân khó tan (phân lân vi sinh)
Phân lân vi sinh sản xuất từ các sinh vật có khả năng chuyển hóa các hợp chất lân khó tan thành dễ tiêu cho cây trồng sử dụng bằng cách tiết ra các acid hữu cơ
Trong đất có một nhóm sinh vật có khả năng hòa tan lân có tên là PSM (photphate solubilizing miroorgranisms) Nhóm vi sinh vật PSM có khả năng hòa tan được photphate, sắt, apatite, chuyển lân không tan thành dễ tan Nhóm này có
Asp.niger, Pseudomonas, Bacilus, Micrococcus,… Dễ dàng nuôi cây, tạo sinh khối hay
trộn bào tử vào đá photphorit apatite cho cây, sử dụng chế phẩm PSM mang lại hiệu quả cao cho vùng thiếu lân trầm trọng (Nguyễn Thị Quý Mùi, 1999; trích dẫn bởi Ngô
Ngọc Hưng và ctv, 2004)
Phân vi sinh vật kích thích điều hòa sinh trưởng thực vật
Chứa các vi sinh vật có khả năng tổng hợp các hoạt chất sinh học có tác dụng điều hòa hoặc kích thích quá trình trao đổi chất của cây
Phân vi sinh vật chức năng là một dạng phân bón vi sinh vật ngoài khả năng tạo nên các dưỡng chất cho đất, cây trồng, còn có khả năng ức chế, kìm hãm sự phát sinh, phát triển của một số bệnh vùng rễ cây trồng do nấm và vi khuẩn gây nên
Trang 23Bảng 1.1 Sự khác biệt giữa phân vi sinh và phân hóa học
- Phân vi sinh là các vi sinh vật sống - Phân hóa học là các chất hóa học
- Cung cấp dưỡng chất hữu cơ từ từ và - Cung cấp dinh dưỡng hóa học với khối
và kéo dài lượng lớn một lúc (mỗi lần bón)
- Cải tạo đất - Làm cho đất ngày càng nén dẻ
- Không gây ô nhiễm môi trường nước - Gây ô nhiễm môi trường nước do lượng
NO-3 tồn dư
- Không gây ảnh hưởng xấu đến chất - Gây ảnh hưởng đến chất lượng nông
lượng sản phẩm sản do tồn dư lượng NO-3
- Đây là các vi sinh vật sống nên thời - Bảo quản được lâu, đóng gói kín
gian bảo quản không quá 3 tháng cất trữ
có thể để không khí lọt vào được, không
được đóng gói kín
- Bón phân vi sinh không sợ cây bị lốp - Bón quá phân hóa học cây sẽ bị
và đất sẽ được cải tạo tốt hơn lốp và sẽ bị chết
1.4.5 Khái quát về phân vi sinh Bio - King
Phân sinh học vi sinh Bio - King, được sản xuất theo công nghệ của Cộng Hòa Liên Bang Đức, là phân bón 100% sinh học, dạng nước nên được dùng để phun qua lá, tưới vào gốc Không có chất hóa học và những chất có hại cho cây trồng khác, gồm những vi sinh vật có khả năng phân giải lân, cố định đạm, phân giải cellulose…và một
số vi sinh chức năng khác
Tác dụng của phân vi sinh Bio - King
Giảm được 50% lượng phân bón vô cơ
Giúp hệ thống rễ phát triển cực khỏe, rễ dài, trắng, tăng khả năng hấp thu
Tăng sức đề kháng cho cây, giảm sâu bệnh
Có thể giảm tới 80% lượng thuốc BVTV
Giúp hạt lúa no tròn, màu sắc đẹp
Giải độc các độc chất và mầm bệnh trong đất, giúp rễ phát triển tốt ngay cả điều kiện bất lợi như: ngộ độc phèn, mặn, hữu cơ… giúp đất tươi xốp, nâng cao độ màu mỡ cho đất
Giúp cây lúa cứng cây, hạn chế đổ ngã
Vi khuẩn Azospirillum lipoferum
Azospirillum được phân lập đầu tiên bởi Beijerinck năm 1925 từ vùng đất cát
nghèo dinh dưỡng ở Hà Lan và có tên gọi đầu tiên là Spirillum lipoferum Loài
Trang 24Azospirillum có thể xuất hiện trên bề mặt gốc rễ của nhiều loài thực vật (Bashan và ctv., 1989), bề mặt vỏ của các loại ngũ cốc (Levanony và ctv., 1989), các tế bào bị cô
lập (Eyers và ctv., 1988), chúng phân bố bố dọc theo hệ thống rễ (Baldani và ctv.,
1986)
Theo mô tả của Bashan và ctv., (2004) thì Azospirillum lipoferum là một loại vi
khuẩn gram âm, hình que cong hoặc hình chữ S, chiều rộng 1 - 1,5 mm và chiều dài 2,0
- 3,0 mm, sinh trưởng tốt ở 30oC và pH từ 6,0 - 7,0 Chiên mao của chúng có vành lông rung với những bước sóng ngắn được dùng để tạo thành tập đoàn khi di chuyển và một chiên mao dùng để bơi lội trong môi trường lỏng Sự sinh trưởng và phát triển của chúng xảy ra dưới cả hai điều kiện hiếu khí và yếm khí (khử nitơ) nhưng thích hợp trong điều kiện vi hiếu khí với sự có hoặc không có đạm trong môi trường (Dobereiner
và Pedrosa, 1987)
Nhiệt độ tối ưu cho sự phát triển của các vi khuẩn Azospirillum lipoferum khoảng
35 – 37oC Khuẩn lạc của chúng trong môi trường agar khoai tây, có màu hồng nhạt
hay đậm Vi khuẩn Azospirillum lipoferum phát triển tốt trên môi trường có muối hữu
cơ như malate, succinate, lactate hay pyruvate Vi khuẩn này không sử dụng đường đơn mà sử dụng đường fructose và các đường đa khác làm nguồn carbon của chúng
(Bashan và ctv 2004)
Bashan và Levanony (1990) cho rằng vi khuẩn Azospirillum lipoferum có thể tiết
ra những kích thích tố tăng trưởng như IAA acetic acid), IBA butyric acid), ABA (Abscisic acid) và cytokynine Những kích thích tố này làm tăng chiều dài rễ, kích thước rễ và số lượng rễ cây trồng Từ đó, chúng có khả năng hấp thu các khoáng chất và nước, dẫn đến sự sinh trưởng và phát triển cũng như năng suất của
(Indole-3-cây trồng tăng Vi khuẩn Azospirillum là vi khuẩn Gram âm, có khả năng chuyển động
và có dạng hình que ngắn, là vi khuẩn cố định đạm thúc đẩy sự phát triển của cây, giúp tăng năng suất cây trồng, tổng hợp IAA, hòa tan dạng lân khó tan và các chất dinh dưỡng khác (Cao Ngọc Điệp, 2010)
Những nghiên cứu về khả năng cố định đạm của những loài vi khuẩn trên cây
trồng không thuộc họ đậu như Azospirillum, Herbaspirillum, Acetobacter và Azoarcus (Baldani và ctv., 1980) đã được biết đến Trong đó vi khuẩn Azospirillum lipoferum
được phân lập từ bộ phận rễ cây lúa và cho những kết quả thiết thực trong việc cố định
đạm, tăng khả năng hấp thụ khoáng (Murty và Ladha, 1987) Ngoài ra theo Tien và ctv (1979) thì Azospirillum sp Còn có khả năng sinh sản ra chất kích thích tăng trưởng
Gibberellin tác động đến sự phát triển của hệ thống rễ cây trồng
Vi khuẩn Azospirillum là loài vi khuẩn cố định đạm hiện diện ở trong rễ, vùng đất
xung quanh rễ, thân và lá của cây trồng Chúng sống tự do trong đất hay cộng sinh với
Trang 25rễ của các loại ngũ cốc, cỏ và cây có củ (Nguyễn Hữu Hiệp và ctv., 2005) Sự hiện diện của Azospirillum ở các vị trí khác nhau trên các cây trồng khác nhau được mô tả trong
bảng 1.2
Bảng 1.2 Sự hiện diện của vi khuẩn Azospirillum ở một số loại hoa màu (Dobereiner và ctv., 1995)
Vi khuẩn Loại cây Nơi hiện diện/các bộ phận của cây
Azospirillumbrasilense
Ngũ cốc
Cỏ Mía Cây cọ dầu
Rễ, thân, hạt, nhựa nguyên
Loài Pseudomonas stutzeri được phân lập đầu tiên bởi Burrin và Stutzeri vào năm
1895, có dạng hình que được Van Neil, Allen đặt tên năm 1952 (Lalucat và ctv., 2006)
Chúng được tìm thấy chủ yếu trong đất và nước, là loài có tính đa dạng sinh học cao
(Zumft, 1997) Rosello và ctv (1991) phân lập 49 dòng Pseudomonas stutzeri từ những
mẫu bệnh lý, bùn biển và trong hệ thống nước thải
Vi khuẩn Pseudomonas là vi khuẩn Gram âm, hình que, có chiên mao ở cực, có
khả năng di chuyển tốt trong nước, không có khả năng tạo bào tử Chúng có khả năng
hô hấp hiếu khí hay kị khí trong môi trường không có oxy Nhiệt độ để chúng phát triển là 30 – 370C Tuy nhiên một số chủng Pseudomonas lại có thể sống ở 400
C
Pseudomonas có thể nuôi trong môi trường đơn giản và ở pH trung tính Một vài chủng
có thể tạo huỳnh quang dưới ánh sáng tia cực tím ở bước sóng 254nm (Chan và ctv.,
1994)
Loài Pseudomonas stutzeri được xác định khả năng cố định đạm từ lâu (Krotzsky
và Werner, 1987) Vào năm 1983, nông dân Trung Quốc đã sử dụng loài vi khuẩn
Alcagenes faecalis A15 cố định đạm cho cây lúa cao sản Đến năm 1999 thì Alcagenes faecalis A15 được các nhà khoa học Bỉ phân loại chính xác dựa trên bộ genome của nó
là Pseudomonas stutzeri (Vermeiren và ctv., 1999), thế nhưng các loài thuộc giống
Trang 26Pseudomonas có khả năng cố định đạm đã được xác định từ những năm 1994 (Chan và ctv., 1994) Cố định đạm sinh học trên lúa làm tăng đạm tổng số lên 20-25%
(Döbereiner, 1992) Theo thí nghiệm của Cao Ngọc Điệp (2005), khi tưới dịch vi
khuẩn Pseudomonas sp lên lúa cao sản trồng trên đất phù sa ở Cần Thơ đã giúp tăng năng suất lúa lên 20 – 37% Ngoài ra, một số chủng Pseudomonas sp được phân lập từ
đất vùng rễ lúa cũng đã được xác định có khả năng cố định đạm và giúp tăng năng suất
lúa (Nguyễn Ngọc Dũng và ctv., 2000; Ngô Thanh Phong và ctv., 2011)
Chủng vi khuẩn Pseudomonas sp BT1 được xác định có khả năng tăng năng suất
lúa lên 37,4% và cũng như có khả năng thay thế 50% đạm hóa học cho cây lúa
OM2517 trồng trong chậu Ngoài ra, chủng Pseudomonas sp BT1 giúp chiều cao cây
lúa đạt 107% và khối lượng khô cây lúa đạt 112% so với đối chứng (Ngô Thanh Phong, 2011)
Vi khuẩn Pseudomonas là dạng phân bón sinh học hòa trong đất cung cấp cho
cây trồng, đã được sử dụng cho lúa ở đất thấp, giúp giảm lượng phân lân vô cơ từ 25 – 50% tùy theo lượng lân có sẳn trong đất Khi thay thế supper photphate bằng photphate khó tan và chủng vi khuẩn hòa tan lân trong sản xuất vẩn có thể cho năng suất ổn định (Kundu và Gaur, 1984), làm tăng chiều dài rễ chồi trên rau xà lách, cà chua, khoai tây, táo, đậu (Rodriguez và Reynado, 1999)
Vi khuẩn hòa tan lân Pseudomonas stutzeri được phân lập từ đất vùng rễ cây họ đậu ở Đồng Tháp và có khả năng hòa tan lân khó tan cao (Cao Ngọc Điệp và ctv.,
2009), ứng dụng chúng trong sản phẩm phân sinh học bón cho lúa cao sản đạt hiệu quả
cao (Cao Ngọc Điệp và ctv., 2010; Cao Ngọc Điệp và Phan Văn Tùng, 2010)
Theo Nguyễn Thị Quý Mùi (1999), nhóm vi khuẩn hòa tan phosphate sắt, phosphorid, apatite và chuyển hóa lân không tan thành dễ tan, trong đó có vi khuẩn
Pseudomonas Theo Nguyễn Thị Quý Mùi (1999), khi sử dụng chế phẩm sinh học
PSM (Phosphate Solubilizin Microragnisms) mang lại hiệu quả cao cho vùng đất thiếu lân trầm trọng Khi gặp các nhóm thực vật thích hợp, chúng sống cộng sinh trên rễ cây góp phần hòa tan lân để cung cấp cho cây trồng
1.4.6 Một số nghiên cứu về hiệu quả của phân hửu cơ vi sinh
Ở Thái Lan, thí nghiệm được tiến hành trên cây bắp (1984 – 1985) và sản lượng
tăng 15 – 35% và có thể kết luận là chủng Azospirilum làm giảm số lượng phân bón từ 1/3 – 1/2 (Vasuvat và ctv., 1986)
Ở Isurel, 40 thì thí nghiệm (1979 – 1986) được tiến hành lấy mẫu chi tiết và phương pháp cụ thể ở các ruộng bắp, lúa mì, lúa miến, cỏ cho gia súc và cây lấy hạt Đối với bắp 7 trong 12 thí nghiệm năng suất tăng 20 – 30% so với mẫu đối chứng
(Zaely và ctv., 1994)