1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững trên địa bàn huyện vũ thư tỉnh thái bình

117 630 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 8,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm về đất và đất sản xuất nông nghiệp Đất được hiểu theo nghĩa rộng: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm các cấu thành của môi trường sinh thái ngay bên

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ HẰNG

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP

THEO HƯỚNG BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN VŨ THƯ – TỈNH THÁI BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ HẰNG

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP

THEO HƯỚNG BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN VŨ THƯ – TỈNH THÁI BÌNH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS ĐỖ NGUYÊN HẢI

HÀ NỘI – 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công

bố trong bất kì công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc./

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Nguyễn Thị Hằng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp

đỡ tận tình, những ý kiến đóng góp và những lời chỉ bảo quý báu của tập thể và

cá nhân trong và ngoài Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc TS Đỗ Nguyên Hải, là người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài và hoàn thiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo khoa Quản lý đất đai - Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tôi trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các đồng chí UBND huyện Vũ Thư, phòng Nông Nghiệp và phát triển Nông thôn, phòng thống kê, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Vũ Thư và UBND các xã đã tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu, những thông tin cần thiết để thực hiện luận văn này Trân trọng cảm ơn đối với tất cả tập thể, người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Nguyễn Thị Hằng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC ĐỒ THỊ, HÌNH, SƠ ĐỒ, ẢNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Yêu cầu của đề tài 3

Chương 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Đất và vai trò của đất trong sản xuất nông nghiệp 4

1.1.1 Khái niệm về đất và đất sản xuất nông nghiệp 4

1.1.2 Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất nông nghiệp 4

1.2 Đặc điểm và phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 6

1.2.1 Khái quát về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 6

1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 16

1.2.3 Đặc điểm, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 19

1.3 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam 26

1.3.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới 26

1.3.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam 28

1.4 Một số kết quả đánh giá hiệu quả sử dụng đất ở vùng đồng bằng sông Hồng 31

1.4.1 Quan điểm sử dụng đất vùng đồng bằng sông Hồng 31

1.4.2 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng 32

1.4.3 Một số kết quả đánh giá về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 33

1.5 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Vũ Thư 33

Trang 6

Chương 2.NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 35

2.2 Nội dung nghiên cứu 35

2.3 Phương pháp nghiên cứu 35

2.3.1 Phương pháp điều tra, thu thập các số liệu thứ cấp 35

2.3.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 36

2.3.3 Phương pháp điều tra, thu thập các số liệu sơ cấp 36

2.3.4 Phương pháp đánh giá khả năng sử dụng đất bền vững 37

2.3.5 Phương pháp tham khảo, kế thừa các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu 39

2.3.5 Phương pháp xử lý và tổng hợp số liệu 39

2.3.6 Phương pháp so sánh 39

Chương 3.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội 40

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 40

3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 49

3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Vũ Thư 56

3.1.4 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Vũ Thư 57

3.2 Điều tra thực trạng các loại hình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Vũ Thư 60

3.2.1 Hiện trạng cây trồng trên địa bàn huyện Vũ Thư năm 2014 60

3.2.2 Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của các tiểu vùng 61

3.3 Đánh giá các loại hình sử dụng đất trên địa bàn huyện Vũ Thư 64

3.3.1 Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất 64

3.3.2 Hiệu quả xã hội các loại hình sử dụng đất 69

3.3.3 Hiệu quả môi trường các loại hình sử dụng đất 72

3.3.4 Lựa chọn các loại hình sử dụng đất bền vững cho, sản xuất nông nghiệp cho các tiểu vùng 76

Trang 7

3.4 Đề xuất các loại hình sử dụng đất nông nghiệp và giải pháp nâng cao hiệu

quả sử dụng đất nông nghiệp bền vững cho địa bàn nghiên cứu 79

3.4.1 Đề xuất các loại hình sử dụng đất nông nghiệp cho địa bàn nghiên cứu 79

3.4.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp bền vững cho địa bàn nghiên cứu 83

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89

1 Kết luận 89

2 Kiến nghị 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

PHỤ LỤC 94

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Nghĩa của từ viết tắt

NN & PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Tài nguyên đất của các khu vực trên thế giới 27

Bảng 1.2 Diễn biến tài nguyên đất qua một số năm 29

Bảng 2.1 Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất 37 Bảng 2.2 Phân cấp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội 38

Bảng 2.3 Các chỉ tiêu phân cấp đánh giá hiệu quả môi trường 38

Bảng 3.1 Hiện trang sử dụng đất huyện Vũ Thư năm 2014 45

Bảng 3.2 GTSX trên địa bàn huyện Vũ Thư giai đoạn 2000 - 2014 50

Bảng 3.3 Chuyển dịch cơ cấu GTSX trên địa bàn huyện giai đoạn 2000 - 2014 51

Bảng 3.4 GTSX ngành nông nghiệp trên địa bàn huyện giai đoạn 2005 - 2014 53 Bảng 3.5 GTSX ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp - xây dựng trên địa bàn huyện giai đoạn 2005 - 2014 53

Bảng 3.6 Dân số trên toàn huyện giai đoạn 2009 -2014 55

Bảng 3.7 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm huyện Vũ Thư 2014 59

Bảng 3.8 Hiện trạng hệ thống cây trồng trên địa bàn huyện Vũ Thư năm 2014 60 Bảng 3.9 Các loại hình sử dụng đất ở ven sông Hồng 62

Bảng 3.10 Các loại hình sử dụng đất ở tiểu vùng ven sông Trà Lý 63

Bảng 3.11 Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất tại Tiểu vùng 1 66

Bảng 3.12 Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất tại Tiểu vùng 2 67

Bảng 3.13 Tổng hợp hiệu quả kinh tế theo các LUT trên các tiểu vùng 68

Bảng 3.14 Hiệu quả xã hội các loại hình sử dụng đất tại Tiểu vùng 1 70

Bảng 3.15 Hiệu quả về xã hội các loại hình sử dụng đất tại Tiểu vùng 2 71

Bảng 3.16 Mức đầu tư phân bón trong thâm canh cây trồng tại địa phương 74

Bảng 3.17 Đánh giá chung các loại hình sử dụng đất ở các tiểu vùng 76

Bảng 3.18 Dự kiến kiểu sử dụng đất sản xuất nông nghiệp đến năm 2020 tại Tiểu vùng 1 82

Trang 10

Bảng 3.19 Dự kiến kiểu sử dụng đất sản xuất nông nghiệp đến năm 2020 tại

Tiểu vùng 2 83

DANH MỤC ĐỒ THỊ, HÌNH, SƠ ĐỒ, ẢNH STT Tên hình Trang Hình 3.1 Vị trí địa lý huyện Vũ Thư 40

Hình 3.2 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế trên địa bàn huyện 51

Hình 3.3 Cơ cấu giá trị sản xuất các ngành kinh tế trên địa bàn huyện 52

Hình 3.4 Hiện trạng sử dụng đất năm 2014 huyện Vũ Thư 58

Hình 3.5 Cơ cấu các LUT canh tác ở huyện Vũ Thư 64

Hình 3.6 So sánh hiệu quả kinh tế giữa các tiểu vùng 69

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Đất là một thành phần quan trọng của môi trường, là một tài nguyên vô giá mà tự nhiên đã ban tặng cho con người Đất đai là nền tảng để định cư và tổ chức các hoạt động kinh tế - xã hội, nó không chỉ là đối tượng lao động mà còn

là tư liệu sản xuất không thể thay thế được, đặc biệt là đối với sản xuất nông nghiệp Đất là cơ sở của sản xuất nông nghiệp, là yếu tố đầu vào có tác động manh mẽ đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp, đồng thời cũng là môi trường duy nhất sản xuất ra lương thực, thực phẩm nuôi sống cho con người.Việc sử dụng đất có hiệu quả và bền vững đang trở thành vấn đề cấp thiết với mỗi quốc gia, nhằm duy trì sức sản xuất của đất đai cho hiện tại và tương lai

Xã hội phát triển, dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng về lương thực thực phẩm, chỗ ở cũng như các nhu cầu về văn hóa, xã hội Con người đã tìm mọi cách đề khai thác đất đai nhằm đáp ứng cho những nhu cầu ngày càng tăng do sự bùng nổ dân số trong những thập kỉ gần đây Như vậy đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp có hạn về diện tích nhưng lại có nguy cơ bị suy thoái dưới tác động của thiên nhiên và sự thiếu ý thức của con người trong quá trình sản xuất Bên cạnh đó, sự suy giảm về diện tích đất nông nghiệp do quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa đang diễn ra mạnh mẽ trong khi khả năng khai hoang đất mới lại rất hạn chế Do vậy, việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp từ đó lựa chọn các loại hình sử dụng đất có hiệu quả để sử dụng hợp

lý theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu đang được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm Đối với một nước có nền nông nghiệp chủ yếu như ở Việt Nam, nghiên cứu, đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ngày càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết Việt Nam là một nước nông nghiệp đất chật, người đông, đất đai được sử dụng vào mục đích nông nghiệp chiếm tỷ lệ thấp (chỉ chiếm 28,43% tổng diện tích đất tự nhiên), nên chỉ số về đất nông nghiệp bình quân đầu người là 1.133m2/người Trong những năm gần đây sản xuất nông nghiệp Việt Nam đã đạt

Trang 12

được những thành tựu rất đáng tự hào và đã từng bước chuyển sang sản xuất hàng hoá Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn Nông nghiệp đã đóng góp gần 20% tổng GDP tính theo giá trị hiện hành và đóng góp tới 70% GDP khu vực nông thôn;

tỷ trọng nông nghiệp hàng hoá chiếm khá, nhiều nông sản có giá trị hàng hoá lớn như lương thực (50% là hàng hoá, trong đó 20% là xuất khẩu), các loại cây công nghiệp chiếm tới (90 - 97%)

Theo Nguyễn Văn Bộ và Đào Thế Anh (2010), Việt Nam có chỗ dựa vững chắc là nông nghiệp để có thể vượt qua mọi cuộc khủng hoảng Nếu kích thích cho nông nghiệp phát triển sẽ không chỉ đảm bảo kinh tếphát triển mà còn ổn định an ninh xã hội Để đảm bảo phát triển bền vững phải tiến hành song song việc công nghiệp hoá và đô thị hoá cả ở thành thị lẫn nông thôn, trong đó công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn phải thích hợp với điều kiện đất ít người đông

Tuy nhiên, nền nông nghiệp nước ta vẫn mang dáng dấp của nền nông nghiệp sản xuất nhỏ, hiệu quả kinh tế thấp Việc ưu tiên thu hút đầu tư để phát triển các khu công nghiệp đã tạo nên sự mất cân đối trong phát triển kinh tế xã hội nông thôn Một số diện tích đất phù sa màu mỡ chuyên trồng lúa đã phải chuyển sang sử dụng làm mặt bằng sản xuất công nghiệp Người nông dân có đất bị thu hồi chưa được giúp đỡ trong việc sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ vào việc đầu tư phát triển sản xuất nên đời sống gặp khó khăn và không ổn định Từ đó dẫn đến tài nguyên đất bị suy thoái, môi trường bị ô nhiễm, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi cũng mang tính tự phát chưa theo quy hoạch

Vũ Thư là huyện có tiềm năng về đất đai, sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong cơ cấu kinh tế của huyện Sử dụng đất sản xuất nông nghiệp hiệu quả có tầm quan trọng lớn đối với sự phát triển của huyện

Để góp phần vào sự định hướng sử dụng đất hiệu quả, bền vững cho quỹ đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Được sự đồng ý của Khoa Quản lý đất đai và dưới sự hướng dẫn của PGS TS Đỗ Nguyên Hải, tôi thực hiện đề tài:

"Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Vũ Thư – tỉnh Thái Bình"

Trang 13

3 Yêu cầu của đề tài

- Nắm vững được điều kiện tự nhiên đất đai để xác định các loại hình sử dụng đất nông nghiệp phù hợp với các điều kiện kinh tế, xã hội theo hướng bền vững của huyện Vũ Thư

- Điều tra, đánh giá, đề xuất được các loại hình sử dụng đất bền vững trên các phương diện tự nhiên, kinh tế và môi trường cho huyện

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Đất và vai trò của đất trong sản xuất nông nghiệp

1.1.1 Khái niệm về đất và đất sản xuất nông nghiệp

Đất được hiểu theo nghĩa rộng: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm các cấu thành của môi trường sinh thái ngay bên trên và dưới bề mặt đó như: khí hậu thời tiết, thổ nhưỡng, địa hình, mặt nước (hồ, sông suối…), các dạng trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả nghiên cứu trong quá khứ và hiện tại để lại” (Nguyễn Khang và cs, 2000)

Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp

Theo điều 10 Luật Đất đai năm 2013, đất đai được chia thành 3 nhóm lớn là: đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng, (Quốc hội, 2013) Như vậy, đất đai là một khoảng không gian có giới hạn gồm: khí hậu, lớp đất bề mặt, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất Trên bề mặt đất đai là sự kết hợp giữa các yếu tố thổ nhưỡng, địa hình, thuỷ văn, thảm thực vật cùng với các thành phần khác có vai trò quan trọng và ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất và cuộc sống của xã hội loài

người

1.1.2 Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất nông nghiệp

Đất đai đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất Các Mác đã nhấn mạnh “Đất là mẹ, sức lao động là cha sản sinh ra của cải vật chất” Luật đất đai năm 1993 cũng đã khẳng định “Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở y tế, văn hoá, xã hội, an ninh

Trang 15

quốc phòng” Trong sản xuất nông nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng

cơ bản và đặc biệt với những đặc điểm riêng như sau:

Đất đai là tư liệu sản xuất vĩnh cửu không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp nếu biết sử dụng hợp lý thì sức sản xuất của đất đai sẽ ngày càng tăng lên (Đặng Kim Sơn, 2008) Đồng thời, trong quá trình sử dụng đất phải đứng trên quan điểm bồi bổ, bảo vệ, làm tăng độ màu mỡ của đất thông qua những hoạt động có ý nghĩa của con người

Đất đai, ngoài là tư liệu sản xuất quan trọng cơ bản trong sản xuất nông nghiệp nó còn được coi là tư liệu sản xuất đặc biệt so với các tư liệu sản xuất khác bởi vì đất đai là sản phẩm của tự nhiên, đất đai có trước lao động và là điều kiện tự nhiên của lao động nó chỉ là tư liệu sản xuất khi tham gia vào sản xuất khi có sự tác động của lao động Đất đai vận động theo quy luật tự nhiên của nó - nghĩa là độ màu mỡ của đất đai phụ thuộc vào người sử dụng đất, do vậy trong quá trình sử dụng đất phải đứng trên quan điểm bồi dưỡng, bảo vệ, làm giàu cho đất thông qua những hoạt động có ý nghĩa của con người

Đất đai là tài nguyên bị hạn chế bởi ranh giới đất liền và bề mặt lục địa Đặc biệt là đất đai nông nghiệp, sự giới hạn về diện tích đất còn thể hiện ở khả năng có hạn về khai hoang tăng vụ trong từng điều kiện cụ thể Đặc điểm này ảnh hưởng đến khả năng mở rộng quy mô sản xuất nông - lâm nghiệp và sức ép về lao động và việc làm, do nhu cầu nông sản ngày càng tăng trong khi diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp Việc khai khẩn đất hoang hóa đưa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp đã làm cho quỹ đất nông nghiệp tăng lên Đây cũng là

xu hướng vận động cần được quan tâm và khuyến khích Tuy nhiên, đất đưa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp là đất hoang hóa, nằm trong quỹ đất chưa sử dụng Do vậy trong quá trình sử dụng đất cần hết sức quý trọng và tiết kiệm thì mới có thể đáp ứng được nhu cầu sử dụng đất đai ngày càng tăng của xã hội Đất đai là yếu tố đầu vào của sản xuất nông nghiệp, sử dụng nó có ảnh hưởng đến kết quả đầu ra và khả năng sinh lợi Đặc biệt trong hệ thống sản xuất hàng hoá đất được coi như chi phí đầu vào trong sản xuất nông nghiệp, chất

Trang 16

lượng đất và các lợi thế của đất sẽ quyết định khối lượng sản phẩm sản xuất ra và khả năng sinh lợi của đất

Đất đai được coi là một loại tài sản, chủ tài sản đất có quyền nhất định do luật pháp của mỗi nước quy định Đây là điều kiện để chủ tài sản có thể chuyển nhượng và phát huy được hiệu quả sử dụng đất Vì vậy, người sử dụng đất sẽ có các quyền năng nhất định do pháp luật của mỗi nước trao cho, trong quá trình tập trung, tích tụ và chuyển hướng sử dụng đất Từ đó, họ có thể tận dụng được lợi ích và phát huy hiệu quả cao nhất trong việc sử dụng đất nếu biết cách sử dụng hợp lý, tiết kiệm nguồn tài nguyên này

Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy rằng diện tích đất tự nhiên nói chung và đất nông nghiệp nói riêng là có hạn và chúng không thể tự sinh sôi

Trong khi đó, áp lực từ sự gia tăng dân số, sự phát triển của xã hội đã và đang làm đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do chuyển đổi sang mục đích phi nông nghiệp như xây dựng cơ sử hạ tầng, các khu đô thị, khu công nghiệp… đã làm cho đất đai ngày càng khan hiếm về số lượng, giảm về mặt chất lượng và hạn chế khả năng sản xuất Sử dụng đất đai một cách hợp lý, có hiệu quả và bền vững

là một trong những điều kiện quan trọng nhất để phát triển nền kinh tế của mọi quốc gia (Đặng Kim Sơn, 2008)

1.2 Đặc điểm và phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

1.2.1 Khái quát về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

1.2.1.1 Khái niệm và bản chất hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Đánh giá đất cho các vùng sinh thái hoặc các vùng lãnh thổ khác nhau là nhằm tạo ra một sức sản xuất mới, ổn định, bền vững và hợp lý Trong đó đánh giá hiệu quả sử dụng đất là một nội dung hết sức quan trọng Vậy hiệu quả sử dụng đất là gì?

Theo các nhà khoa học kinh tế Smuel - Norhuas; “Hiệu quả không có nghĩa là lãng phí Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng số lượng một loại hàng hoá này

mà không cắt giảm số lượng một loại hàng hoá khác”

Theo Trung tâm từ điển ngôn ngữ: “hiệu quả chính là kết quả cũng như

Trang 17

yêu cầu của việc làm mang lại”

Theo khái niệm trên thì hiệu quả sử dụng đất phải là kết quả của quá trình

sử dụng đất Trong đó ta quan tâm nhiều tới kết quả hữu ích, một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên đất đai là hữu hạn với nhu cầu ngày càng tăng của con người mà ta phải xem xét kết quả sử dụng đất được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra để tạo ra kết quả đó là bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì thế khi đánh giá hoạt động sản xuất nông nghiệp không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng các hoạt động sản xuất tạo ra sản phẩm đó Đánh giá chất lượng của hoạt động sản xuất là nội dung đánh giá hiệu quả

Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là sự mong muốn của nông dân - những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp (Viện Quy hoạch & Thiết kế nông nghiệp và Hội khoa học đất Việt Nam, 2011)

Căn cứ vào nhu cầu của thị trường, thực hiện đa dạng hoá cây trồng vật nuôi trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương, từ đó nghiên cứu áp dụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao Đó

là một trong những điều kiện vô cùng quan trọng để phát triển nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá vừa mang tính ổn định vừa đảm bảo sự bền vững (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2001)

Ngày nay, nhiều nhà khoa học cho rằng: xác định đúng khái niệm, bản chất hiệu quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và những nhận thức lí luận của lí thuyết hệ thống, nghĩa là hiệu quả phải được xem xét trên

3 mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường

* Hiệu quả kinh tế

Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là

Trang 18

quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau Theo các nhà khoa học Đức (Stenien, Hanau, Rusteruyer, Simmerman - 1995): Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của xã hội

Như vậy, hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xét cả

về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa 2 đại lượng đó Vì thế hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề:

- Mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật “tiết kiệm thời gian”;

- Hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết hệ thống;

- Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ lợi ích của con người

Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt hiệu quả kinh

tế và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là, cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp Nếu đạt được một trong hai yếu tố hiệu quả kỹ thuật và phân bổ thì khi đó sản xuất mới đạt hiệu quả kinh tế

Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: Bản chất của hiệu quả kinh tế sử dụng đất là trên một diện tích đất nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất, với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội (Phạm Quang Khánh và Vũ Cao Thái, 1994) Xuất phát từ lý do này mà trong quá trình đánh giá đất nông nghiệp cần phải chỉ ra được loại hình sử dụng đất có hiệu quả kinh

tế cao

Trang 19

* Hiệu quả xã hội

Hiệu quả xã hội là phạm trù có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế và thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người, việc lượng hoá các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu phản ánh bằng các chỉ tiêu mang tính định tính như tạo công ăn việc làm cho lao động, xoá đói giảm nghèo, định canh, định cư, công bằng xã hội, nâng cao mức sống của toàn dân

Hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính xã hội rất sâu sắc Theo Nguyễn Duy Tính (1995) thì hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp

Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến những tác động của sản xuất nông nghiệp đến các vấn đề xã hội như: giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ dân trí trong nông thôn

* Hiệu quả môi trường

Hiệu quả môi trường được thểhiện qua các chỉtiêu : Loại hình sử dụng đất phải hạn chế đến mức tối đa tình trạng xói mòn, bảo vệ được độ màu mỡ của đất, ngăn chặn được sự thoái hoá đất bảo vệ môi trường sinh thái Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%) đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (Nguyễn Văn Bộ và Bùi Huy Hiền, 2001)

Trong thực tế, tác động của môi trường sinh thái diễn ra rất phức tạp và theo chiều hướng khác nhau Cây trồng được phát triển tốt khi bố trí phù hợp với đặc tính, tính chất của đất Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất dưới tác động của các hoạt động sản xuất, quản lý của con người hệ thống cây trồng sẽ tạo nên những ảnh hưởng rất khác nhau đến môi trường Hiệu quả môi trường được phân

ra theo nguyên nhân gây nên, gồm: Hiệu quả hoá học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh học môi trường Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả hoá học môi trường được đánh giá thông qua mức độhoá học trong nông nghiệp Đó là việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất cho cây trồng sinh trưởng tốt Cho năng suất cao và không gây ô nhiễm môi trường Hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua mối tác động qua lại giữa cây trồng với đất, giữa cây trồng với các loại dịch hại trong các loại hình sử

Trang 20

dụng đất nhằm giảm thiểu việc sử dụng hoá chất trong nông nghiệp mà vẫn đạt được mục tiêu đề ra Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dụng tốt nhất tài nguyên khí hậu nhưánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu

sử dụng đất để đạt được sản lượng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào (Đỗ Nguyên Hải, 1999)

Theo Đỗ Nguyên Hải (2001), chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường trong quản lý sử dụng đất bền vững ở vùng nông nghiệp được tưới là:

- Quản lý đối với đất đai rừng đầu nguồn;

- Đánh giá các tài nguyên nước bền vững;

- Đánh giá quản lý đất đai;

- Đánh giá hệ thống cây trồng;

- Đánh giá về tính bền vững đối với việc duy trì độ phì nhiêu của đất và bảo vệ cây trồng;

- Đánh giá về quản quản lý và bảo vệ tự nhiên;

- Sự thích hợp của môi trường đất khi thay đổi kiển sử dụng đất

Các nghiên cứu của Phạm Quang Khánh (1995), Trần An Phong và cs (1995), Phạm Dương Ưng và Nguyễn Khang (1995), Nguyễn Văn Toàn (2002, 2010) cũng đều cho rằng đánh giá hiệu quả môi trường của các kiểu sử dụng đất phải thông qua 2 nhóm chỉ tiêu chính gồm khả năng che phủ đất và nhóm thứ 2 là khảnăng duy trì độ phì nhiêu của đất Tất nhiên trong những trường hợp cho phép còn phải tính đến khả năng ảnh hưởng đến tính đa dạng sinh học của vùng nghiên cứu

1.1.1.2 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp

a Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp

Theo Smyth và Dumanski (1993), sử dụng đất bền vững được xác định theo 5 nguyên tắc: Duy trì và nâng cao các hoạt động sản xuất (năng suất) Giảm mức độ rủi ro đối với sản xuất (an toàn) Bảo vệ tiềm năng của các nguồn tài nguyên tự nhiên, chống lại sự thoái hóa chất lượng đất và nước (bảo vệ) Khả thi

về mặt kinh tế (tính khả thi) Được xã hội chấp nhận (sự chấp nhận)

Năm nguyên tắc nêu trên được coi là những trụ cột của sử dụng đất đai bền vững và là những mục tiêu cần phải đạt được Nếu thực tế diễn ra đồng bộ so

Trang 21

với các mục tiêu trên thì khả năng bền vững sẽ đạt được Nếu chỉ đạt được một hay một vài mục tiêu mà không phải là tất cả thì khả năng bền vững chỉ mang tính bộ phận

Theo Bill (1994), nông nghiệp bền vững là một hệ thống thiết kế để chọn môi trường bền vững cho con người, liên quan đến cây trồng, vật nuôi, các công trình xây dựng và cơ sở hạ tầng (nước, năng lượng, đường xá…) Tuy nhiên, nông nghiệp bền vững không hẳn là những yếu tố đó mà chính là mối quan hệ giữa các yếu tố do con người tạo ra, sắp đặt và phân phối chúng trên bề mặt trái đất

Mục tiêu của nông nghiệp bền vững là xây dựng một hệ thống ổn định về mặt sinh thái, có tiềm lực kinh tế, có khả năng thỏa mãn những nhu cầu của con người mà không bóc lột đất, không gây ô nhiễm môi trường Nông nghiệp bền vững sử dụng những đặc tính vốn có của cây trồng, vật nuôi kết hợp với đặc trưng của cảnh quan và cấu trúc diện tích đất sử dụng một cách thống nhất Nông nghiệp bền vững là một hệ thống mà nhờ đó con người có thể tồn tại được, sử dụng nguồn lương thực và tài nguyên phong phú của thiên nhiên mà không liên tục hủy diệt sự sống trên trái đất Đạo đức của nông nghiệp bền vững bao gồm ba phạm trù: chăm sóc trái đất, chăm sóc con người và dành thời gian, tài lực, vật lực vào các mục tiêu đó

Nông nghiệp bền vững là một hệ thống nông nghiệp thường trực, tự xây dựng bền vững, thích hợp cho mọi tình trạng ở đô thị và nông thôn với mục tiêu đạt được sản lượng cao, giá thành hạ, kết hợp tối ưu giữa sản xuất cây trồng, cây rừng, vật nuôi, các cấu trúc hoạt động của con người

Khuynh hướng “nông học hữu cơ”, chủ trương dùng máy cơ khí nhỏ và sức kéo gia súc, sử dụng rộng rãi phân hữu cơ, phân xanh, phát triển cây họ đậu trong hệ thống luân canh cây trồng, hạn chế sử dụng các loại hóa chất để phòng trừ sâu bệnh (Vũ Ngọc Tuyên, 1994)

Anbert và Voisin đã hình thành trường phái “nông nghiệp sinh học”, bác

bỏ việc sản xuất và sử dụng nhiều loại phân hóa học vìnhư thế sẽ ảnh hưởng đến chất lượng nông sản và sức khỏe người tiêu dùng Phần Lan đã đưa ra thị trường những sản phẩm nông nghiệp được sản xuất theo con đường “Green way”,

Trang 22

hoàn toàn không dùng phân hóa học (Đỗ Ánh, 1992)

Ở Việt Nam đã hình thành nền văn minh lúa nước từ hàng ngàn năm nay,

có thể coi đó là một mô hình nông nghiệp bền vững ở vùng đồng bằng, thích hợp trong điều kiện thiên nhiên nước ta Hệ thống mô hình VAC (Vườn, Ao, Chuồng), mô hình nông - lâm kết hợp trên đất đồi thực chất là những kinh nghiệm truyền thống được đúc rút ra từ quá trình đấu tranh lâu dài, bền vững với thiên nhiên khắc nghiệt của con người để tồn tại và phát triển

Thực chất của nông nghiệp bền vững là phải thực hiện được khâu cơ bản

là giữ độ phì nhiêu của đất được lâu bền Vì độ phì nhiêu đất là tổng hòa các yếu

tố vật lý, hóa học và sinh học để tạo môi trường sống thuận lợi nhất cho cây trồng tồn tại và phát triển (Vũ Ngọc Tuyên, 1994)

Sử dụng đất nông nghiệp trong sản xuất nông nghiệp trên cơ sở cân nhắc những mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, tận dụng được tối đa lợi thế

so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên đất Do đó đất nông nghiệp cần được sử dụng theo nguyên tắc

“đầy đủ và hợp lý” Mặt khác, phải có những quan điểm đúng đắn theo xu hướng tiến bộ phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, làm cơ sở thực hiện sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả kinh tế xã hội cao (FAO, 1990)

b Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững

Đất đai có những tác dụng to lớn đối với hệ sinh thái nói chung và với cuộc sống của con người nói riêng Theo E.R De Kimpe và B.P Warkentin (1998) thì đất có 5 chức năng chính: một là duy trì vòng tuần hoàn sinh hoá học và địa hóa học, hai là phân phối nước, ba là dự trữ và phân phối vật chất, bốn là tính đệm và năm là phân phối năng lượng Những chức năng này đảm bảo cho khả năng điều chỉnh sự cân bằng của hệ sinh thái tự nhiên trước những thay đổi Tuy nhiên, các tác động của con người đã làm cho hệ sinh thái biến đổi nhiều khi vượt quá khả năng điều chỉnh của đất Là một hệ sinh thái một phần do con người tạo ra nhằm mục đích phục vụ con người nên hệ sinh thái nông nghiệp chịu những tác động của con người mạnh mẽ nhất Các động của con người, nhiều khi, đã làm cho hệ sinh

Trang 23

thái biến đổi vượt quá khả năng tự điều chỉnh của đất Con người đã không chỉ tác động vào đất đai mà còn tác động cả vào khí quyển, nguồn nước để tạo ngày một nhiều hơn lương thực, thực phẩm và hậu quả là đất đai cũng như các nhân tố tự nhiên khác bị thay đổi theo chiều hướng ngày một xấu đi Ngày nay, những vùng đất đai màu mỡ đã giảm sức sản xuất một cách rõ rệt và có nguy cơ thoái hoá nghiêm trọng, không những thế sự suy thoái đất đai còn kéo theo sự suy giảm nguồn nước, những hiện tượng thiên tai bất thường

Trước những biểu hiện nói trên, nhằm đảm bảo cho cuộc sống của con người trong hiện tại và tương lai cần phải có những chiến lược về sử dụng đất để không chỉ duy trì những khả năng hiện có của đất mà còn khôi phục những khả năng đã mất Thuật ngữ “sử dụng đất bền vững” ra đời trên cơ sở của những mong muốn trên

Việc tìm kiếm các giải pháp sử dụng đất một cách hiệu quả và bền vững luôn là mong muốn của con người trong suốt cả thời gian Nhiều nhà khoa học và các tổ chức quốc tế đã đi sâu nghiên cứu vấn đề sử dụng đất một cách bền vững trên nhiều vùng của thế giới, trong đó có Việt Nam Việc sử dụng đất bền vững là

sử dụng đất với tất cả những đặc trưng vật lý, hoá học, sinh học có ảnh hưởng đến khả năng sử dụng đất Thuật ngữ đất đai được đề cập đến ở đây gồm thổ nhưỡng, địa hình, khí hậu, thuỷ văn, thực vật và động vật, kể cả vấn đề cải thiện các biện pháp quản lý đất đai Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO) sử dụng thuật ngữ “chất lượng đất đai” trong sử dụng đất bền vững bao gồm các nhân tố ảnh hưởng đến sự bền vững của tài nguyên đất khi sử dụng cho các mục đích nhất định, chất lượng đất đai có thể khác nhau trên nhiều phương diện như khả năng cung cấp nước tưới, khả năng cung cấp chất dinh dưỡng cho mục đích sản xuất nông nghiệp, khả năng chống chịu xói mòn, sức sản xuất tự nhiên và phân bố địa hình ảnh hưởng đến khả năng có giới hoá

Như vậy, theo các tác giả, sử dụng đất bền vững không chỉ thuần tuý về mặt tự nhiên mà còn cả về mặt môi trường, lợi ích kinh tế và xã hội Năm nguyên tắc trên đây là trụ cột của việc sử dụng đất bền vững, nếu trong thực tiễn đạt được cả 5 nguyên tắc trên thì sự bền vững sẽ thành công, ngược lại sẽ chỉ đạt

Trang 24

được ở một vài bộ phận hay sự bền vững có điều kiện Tại Việt Nam, theo ý kiến của Đào Châu Thu và Nguyễn Khang (1998), việc sử dụng đất bền vững cũng dựa trên những nguyên tắc trên và được thể hiện trong 3 yêu cầu sau:

- Bền vững về mặt kinh tế: Cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao và được thị trường chấp nhận;

- Bền vững về mặt môi trường: Loại hình sử dụng đất bảo vệ được đất đai, ngăn chặn sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trường tự nhiên;

- Bền vững về mặt xã hội: Thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống người dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển

Tóm lại, hoạt động sản xuất nông nghiệp của con người diễn ra hết sức đa dạng trên nhiều vùng đất khác nhau và cũng vì thế khái niệm sử dụng đất bền vững thể hiện trong nhiều hoạt động sản xuất và quản lý đất đai trên từng vùng đất xác định theo nhu cầu và mục đích sử dụng của con người Đất đai trong sản xuất nông nghiệp chỉ được gọi là sử dụng bền vững trên cơ sở duy trì các chức năng chính của đất là đảm bảo khả năng sản xuất của cây trồng một cách ổn định, không làm suy giảm về chất lượng tài nguyên đất theo thời gian và việc sử dụng đất không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con người và sinh vật

* Khung đánh giá sử dụng đất bền vững

Vào năm 1991, ở Nairobi đã tổ chức Hội thảo về “Khung đánh giá quản lý đất bền vững ” đã đưa ra định nghĩa: “ Quản lý bền vững đất đai bao gồm tổ hợp các công nghệ, chính sách và hoạt động nhằm liên hợp các nguyên lý kinh tế xã hội với các quan tâm môi trường để đồng thời:

- Duy trì, nâng cao sản lượng (hiệu quả sản xuất);

- Giảm rủi ro sản xuất (an toàn);

- Bảo vệ tiếm năng nguồn lực tự nhiên và ngăn ngừa thoái hoá đất và nước (bảo vệ);

- Có hiệu quả lâu dài (lâu bền);

- Được xã hội chấp nhận (tính chấp nhận)

Năm nguyên tắc trên được coi là trụ cột của sử dụng đất đai bền vững và

là những mục tiêu cần phải đạt được, nếu thực tế diễn ra đồng bộ, so với các mục

Trang 25

tiêu cần phải đạt được Nếu chỉ đạt một hay một vài mục tiêu mà không phải tất

Về chất lượng: sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ tại địa phương, trong nước và xuất khẩu, tùy mục tiêu của từng vùng

Tổng giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích là thước đo quan trọng nhất của hiệu quả kinh tế đối với một hệ thống sử dụng đất Tổng giá trị trong một giai đoạn hay cả chu kỳ phải trên mức bình quân của vùng, nếu dưới mức đó thì nguy

cơ người sử dụng đất sẽ không có lãi, hiệu quả vốn đầu tư phải lớn hơn lãi suất tiền vay vốn ngân hàng

- Bền vững về mặt xã hội: thu hút được lao động, đảm bảo đời sống và phát triển xã hội

Đáp ứng nhu cầu của nông hộ là điều quan tâm trước, nếu muốn họ quan tâm đến lợi ích lâu dài (bảo vệ đất, môi trường ) Sản phẩm thu được cần thoả mãn cái ăn, cái mặc, và nhu cầu sống hàng ngày của người nông dân

Nội lực và nguồn lực địa phương phải được phát huy Về đất đai, hệ thống

sử dụng đất phải được tổ chức trên đất mà nông dân có quyền hưởng thụ lâu dài, đất đã được giao và rừng đã được khoán với lợi ích các bên cụ thể

Sử dụng đất sẽ bền vững nếu phù hợp với nền văn hoá dân tộc và tập quán địa phương, nếu ngược lại sẽ không được cộng đồng ủng hộ

- Bền vững về môi trường: loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ màu

mỡ của đất, ngăn chặn thoái hoá đất và bảo vệ môi trường sinh thái Giữ đất được

Trang 26

thể hiện bằng giảm thiểu lượng đất mất hàng năm dưới mức cho phép

Độ phì nhiêu đất tăng dần là yêu cầu bắt buộc đối với quản lý sử dụng bền vững

Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%)

Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (đa canh bền vững hơn độc canh, cây lâu năm có khả năng bảo vệ đất tốt hơn cây hàng năm )

Ba yêu cầu bền vững trên là để xem xét và đánh giá các loại hình sử dụng đất hiện tại Thông qua việc xem xét và đánh giá các yêu cầu trên để giúp cho việc định hướng phát triển nông nghiệp ở vùng sinh thái

Tóm lại, khái niệm sử dụng đất đai bền vững do con người đưa ra được thể hiện trong nhiều hoạt động sử dụng và quản lý đất đai theo các mục đích mà con người đã lựa chọn cho từng vùng đất xác định Đối với sản xuất nông nghiệp việc sử dụng đất bền vững phải đạt được trên cơ sở đảm bảo khả năng sản xuất

ổn định của cây trồng, chất lượng tài nguyên đất không suy giảm theo thời gian

và việc sử dụng đất không ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con người, của các sinh vật

1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất là hết sức cần thiết, nó giúp cho việc đưa ra những đánh giá phù hợp với từng loại vùng đất

để trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất Các nhân tố ảnh hưởng, có thể chia ra làm 3 nhóm sau đây:

* Điều kiện tự nhiên: Điều kiện tự nhiên bao gồm các yếu tố như dất đai,

khí hậu thời tiết, nước, sinh vật có ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp (FAO, 1990) bởi vì đây là cơ sở để sinh vật sinh trưởng, phát triển và tạo sinh khối Đánh giá đúng điều kiện tự nhiên là cơ sở xác định cây trồng vật nuôi phù hợp và định hướng đầu tư thâm canh đúng, mà cụ thể là đánh giá:

- Đặc điểm lý, hoá tính của đất: trong sản xuất nông lâm nghịêp, thành phần cơ giới, kết cấu đất, hàm lượng các chất hữu cơ và vô cơ trong đất…quyết định đến chất lượng đất và sử dụng đất Quỹ đất đai nhiều hay ít, tốt hay xấu, có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng đất

Trang 27

- Nguồn nước và chế độ nước: là yếu tố rất cần thiết, nó vừa là điều kiện quan trọng để cây trồng vận chuyển chất dinh dưỡng vừa là vật chất giúp cho sinh vật sinh trưởng và phát triển

- Địa hình, độ dốc và thổ nhưỡng: điều kiện địa hình, độ dốc và thổ nhưỡng là yếu tố quyết định lớn đến hiệu quả sản xuất, độ phì đất có ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển và năng suất cây trồng vật nuôi

- Vị trí địa lý: vị trí địa lý của từng vùng với sự khác biệt về điều kiện nguồn nước, gần đường giao thông, khu công nghiệp sẽ quyết định đến khả năng và hiệu quả sử dụng đất Vì vậy, trong thực tiễn sử dụng đất nông lâm nghiệp cần tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế sẵn có nhằm đạt được hiệu quả cao nhất về kinh tế, xã hội và môi trường

- Điều kiện khí hậu:các yếu tố khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người Tổng tích ôn, nhiệt độ bình quân, sự sai khác nhiệt độ ánh sáng, về thời gian và không gian, trực tiếp ảnh hưởng tới sự phân bố, sinh trưởng và phát triển của cây trồng, cây rừng và thực vật thuỷ sinh, lượng mưa, bốc hơi…có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt

độ, độ ẩm của đất, cũng như khả năng đảm bảo cung cấp nước cho sinh trưởng của cây trồng, gia súc, thuỷ sản

*Biện pháp kỹ thuật canh tác: Biện pháp kỹ thuật canh tác là các tác động

của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của quá trình sản xuất để hình thành, phân bố và tích lũy năng suất kinh tế Theo tác giả Đường Hồng Dật, (1995) thì biện pháp kỹ thuật canh tác là những tác động thể hiện sự hiểu biết sâu sắc của con người về đối tượng sản xuất, về thời tiết,về điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo thông minh và sắc sảo Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt mục tiêu đề ra

Theo Frank Ellis và Douglass C.North, ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu đối với tổ chức sử dụng đất Có nghĩa là ứng dụng công nghệ sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh

Trang 28

Cho đến giữa thế kỷ XXI, trong nông nghiệp Việt Nam, quy trình kỹ thuật có thể góp phần đến 30% của năng suất kinh tế Như vậy nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

* Nhân tố kinh tế - xã hội: bao gồm rất nhiều nhân tố như chế độ xã hội,

dân số, cơ sở hạ tầng, môi trường chính sách các yếu tố này có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối với kết quả và hiệu quả sử dụng đất Sau đây là một số nhân tố chủ yếu:

- Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp Trong các yếu tố cơ sở

hạ tầng phục vụ sản xuất thì yếu tố giao thông vận tải là quan trọng nhất, nó góp phần vào việc trao đổi tiêu thụ sản phẩm cũng như dịch vụ những yếu tố đầu vào cho sản xuất Các yếu tố khác như thuỷ lợi, điện, thông tin liên lạc, dịch vụ, nông nghiệp đều có sự ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng Trong đó thuỷ lợi

và điện là yếu tố không thể thiếu trong điều kiện sản xuất hiện nay, giúp cho việc

sử dụng đất theo bề rộng và bề sâu Các yếu tố còn lại cũng có hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất

- Thị trường tiêu thụ sản phẩm nông lâm sản: là cầu nối giữa người sản xuất và tiêu dùng, ở đó người sản xuất thực hiện việc trao đổi hàng hoá, điều này giúp cho họ thực hiện được tốt quá trình tái sản xuất tiếp theo

- Trình độ kiến thức, khả năng và tập quán sản xuất của chủ sử dụng đất thể hiện ở khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất, khả năng về vốn lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh nghiệm truyền thống trong sản xuất và cách xử lý thông tin để ra quyết định trong sản xuất Do vậy, muốn nâng cao hiệu quả sử dụng đất thì việc nâng cao trình độ và cập nhật thông tin khoa học, kỹ thuật là hết sức quan trọng

- Hệ thống chính sách: chính sách đất đai, chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục

vụ sản xuất, chính sách khuyến nông, chính sách hỗ trợ giá, chính sách định canh định cư, chính sách dân số, lao động việc làm, đào tạo kiến thức, chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách xoá đói giảm nghèo…các chính sách này đã có

Trang 29

những tác động rất lớn đến vấn đề sử dụng đất, phát triển và hình thành các loại hình sử dụng đất mới

Trong các nhóm nhân tố chủ yếu tác động đến việc sử dụng đất được trình bày ở trên, từ thực tế từng vùng, từng địa phương có thể nhận biết thêm những nhân tố khác tác động đến hiệu quả sử dụng đất, trong đó có những yếu tố thuận lợi và những yếu tố hạn chế Đối với những yếu tố thuận lợi cần khai thác hết tiềm năng của nó, những nhân tố hạn chế phải có những giải pháp để khắc phục dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn Vấn đề mấu chốt là tìm ra những nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng đất, để có những biện pháp thay đổi cơ cấu sử dụng đất nhằm nâng cao hiệu quả

1.2.3 Đặc điểm, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

1.2.3.1 Đặc điểm đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Diện tích đất có hạn, dân số ngày càng tăng, nhu cầu về lương thực thực phẩm cũng tăng Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là rất cần thiết, cần xem xét ở các khía cạnh sau: cường đầu tư cho nghiên cứu chuyển giao, áp dụng công nghệ và khuyến nông Thay đổi chiến lược chính sách nông nghiệp từ bảo trợ sản xuất sang tăng cường cạnh tranh

- Quá trình sản xuất trên đất nông nghiệp phải sử dụng nhiều yếu tố đầu vào kinh tế và không kinh tế (ánh sáng, nhiệt độ, không khí ) Chính vì vậy, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước tiên phải được xác định bằng kết quả thu được trên 1 đơn vị diện tích cụ thể, thường là 1 ha, tính trên 1 đồng chi phí, 1 lao động đầu tư

- Trên đất nông nghiệp có thể bố trí các cây trồng, các hệ thống luân canh,

do đó cần phải đánh giá hiệu quả của từng cây trồng, từng hệ thống luân canh trên mỗi vùng đất

- Thâm canh là một biện pháp sử dụng đất nông nghiệp theo chiều sâu, tác động đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước mắt và lâu dài Vì thế, cần phải nghiên cứu hiệu quả của việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, nghiên cứu ảnh hưởng của việc tăng đầu tư thâm canh đến quá trình sử dụng đất (môi trường đất, nước)

Trang 30

- Đối với sản xuất nông nghiệp, môi trường vừa là tài nguyên vừa là đối tượng lao động, vừa là điều kiện tồn tại và phát triển của toàn bộ nền nông nghiệp Mặt khác, nông nghiệp thường tác động mạnh mẽ lên môi trường Trong quá trình phát triển, ở nhiều giai đoạn phản ứng của môi trường thường tạo ra những trở ngại to lớn, có khi không thể vượt qua được Phát triển nông nghiệp chỉ có thể thích hợp được khi con người biết cách làm cho môi trường không bị phá huỷ gây tác hại đến đời sống xã hội Đồng thời, cần tạo ra môi trường thiên nhiên và xã hội thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp ở giai đoạn hiện tại và

mở ra những điều kiện phát triển trong tương lai Do đó, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến ảnh hởng của sản xuất nông nghiệp với môi trường xung quanh Cụ thể là khả năng thích hợp của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp có phù hợp với đất đai hay không? Việc sử dụng hoá chất trong nông nghiệp có để lại tồn dư hay không?

- Lịch sử nông nghiệp là một quãng đường dài thể hiện sự phát triển mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên Hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính xã hội rất sâu sắc Nói đến nông nghiệp không thể không nói đến nông dân, đến các quan hệ sản xuất trong nông thôn Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến những tác động của sản xuất nông nghiệp, đến các vấn đề xã hội như: giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ dân trí trong nông thôn

1.2.3.2 Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Hiện nay trên thế giới có khoảng 3,3 tỷ ha đất nông nghiệp Trong đó đã khai thác được 1,5 tỷ ha, còn lại đa phần là đất xấu, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn Để giải quyết nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp của con người, phải thâm canh tăng vụ, tăng năng suất cây trồng và mở rộng diện tích đất nông nghiệp Việc điều tra, nghiên cứu đất đai để nắm vững số lượng và chất lượng đất, bao gồm: điều tra lập bản đồ đất, đánh giá hiện trạng sử dụng đất, đánh giá phân hạng đất và quy hoạch sử dụng đất hợp lý là vấn đề quan trọng mà các quốc gia đang rất quan tâm Để ngăn chặn những suy thoái tài nguyên đất đai do sự thiếu hiểu biết của con người, đồng thời nhằm hướng dẫn những quyết định về sử

Trang 31

dụng và quản lý đất đai, sao cho nguồn tài nguyên này có thể được khai thác tốt nhất mà vẫn duy trì được sức sản xuất của nó trong tương lai, cần thiết phải nghiên cứu thật đầy đủ về tính hiệu quả trong sử dụng đất, đó là sự kết hợp hài hoà cả 3 lĩnh vực hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và bảo vệ môi trường trên quan điểm quản lý sử dụng đất bền vững

1.2.3.3 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Việc nâng cao hiệu quả là mục tiêu chung, chủ yếu xuyên suốt mọi quá trình sản xuất của xã hội Tuỳ theo nội dung của hiệu quả mà có những tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả khác nhau ở mỗi thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau Tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả là một vấn đề phức tạp và có nhiều ý kiến chưa thống nhất Tuy nhiên, đa số các nhà kinh tế đều cho rằng tiêu chuẩn cơ bản

và tổng quát khi đánh giá hiệu quả là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí và tiêu hao các nguồn tài nguyên, sự ổn định lâu dài của hiệu quả

Trên cơ sở đó, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có thể xem xét ở các mặt sau:

+ Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả đối với toàn xã hội là khả năng thoả mãn nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng cho xã hội bằng của cải vật chất sản xuất ra Đối với nông nghiệp, tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả là mức đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội, môi trường do xã hội đặt ra như tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng chất lượng và tổng sản phẩm hướng tới thoả mãn tốt nhu cầu nông sản cho thị trường trong nước và tăng xuất khẩu, đồng thời đáp ứng yêu cầu về bảo vệ hệ sinh thái nông nghiệp bền vững

+ Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có đặc thù riêng, trên 1 đơn

vị đất nông nghiệp nhất định có thể sản xuất đạt được những kết quả cao nhất với chi phí bỏ ra ít nhất, ảnh hưởng môi trường ít nhất Đó là phản ánh kết quả quá trình đầu tư sử dụng các nguồn lực thông qua đất, cây trồng, thực hiện quá trình sinh học để tạo ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường xã hội với hiệu quả cao

+ Các tiêu chuẩn đó được xem xét với sự ứng dụng lý thuyết sản xuất cơ

Trang 32

bản theo nguyên tắc tối ưu hoá có ràng buộc Sử dụng đất phải đảm bảo cực tiểu hoá chi phí các yếu tố đầu vào, theo nguyên tắc tiết kiệm khi cần sản xuất ra một lượng nông sản nhất định, hoặc thực hiện cực đại hoá lượng nông sản khi có một lượng nhất định đất nông nghiệp và các yếu tố đầu vào khác

+ Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất ngành nông nghiệp, đến hệ thống môi trờng sinh thái nông nghiệp, đến những ngời sống bằng nông nghiệp Vì vậy, đánh giá hiệu quả sử dụng đất phải theo quan điểm sử dụng đất bền vững hướng vào 3 tiêu chuẩn chung như sau:

* Bền vững về mặt kinh tế

+ Loại cây trồng nào cho hiệu quả kinh tế cao, phát triển ổn định thì được thị trường chấp nhận Do đó, phát triển sản xuất nông nghiệp là thực hiện tập trung, chuyên canh kết hợp với đa dạng hoá sản phẩm

+ Hệ thống sử dụng đất phải có mức năng suất sinh học cao trên mức bình quân vùng có cùng điều kiện đất đai Năng suất sinh học bao gồm các sản phẩm chính và phụ (đối với cây trồng là gỗ, củi, hạt, củ, quả, và tàn dư để lại) Một

hệ thống nông nghiệp bền vững phải có năng suất trên mức bình quân vùng, nếu không sẽ không cạnh tranh được trong cơ chế thị trường Mặt khác, chất lượng sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ tại địa phương, trong nước và hướng tới xuất khẩu tuỳ theo mục tiêu của từng vùng

+ Tổng giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích là thước đo quan trọng nhất của hiệu quả kinh tế đối với một hệ thống sử dụng đất Tổng giá trị trong một giai đoạn hay cả chu kỳ phải trên mức bình quân của vùng, nếu dưới mức của vùng thì nguy cơ người sử dụng đất sẽ không có lãi, hiệu quả vốn đầu tư phải lớn hơn lãi suất tiền vay vốn ngân hàng

* Bảo vệ về môi trường

+ Loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ phì đất, ngăn ngừa sự thoái hoá đất bảo vệ môi trường sinh thái

+ Độ phì nhiêu của đất tăng dần là yêu cầu bắt buộc đối với việc quản lý

và sử dụng đất nông nghiệp bền vững Độ che phủ phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%) Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (đa canh bền vững

Trang 33

hơn độc canh, )

* Bền vững về mặt xã hội

+ Thu hút được nguồn lao động trong nông nghiệp, tăng thu nhập, tăng năng suất lao động, đảm bảo đời sống xã hội Đáp ứng được các nhu cầu của nông hộ là điều cần quan tâm trước tiên nếu muốn họ quan tâm đến lợi ích lâu dài (bảo vệ đất, môi trường, ) Sản phẩm thu được phải thoã mãn cái ăn, cái mặc

và nhu cầu hàng ngày của người nông dân

+ Tiêu chuẩn đảm bảo hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, trong cung cấp tư liệu sản xuất, xử lí chất thải có hiệu quả

1.2.3.4 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Phương pháp xác định với chỉ tiêu đánh giá đúng sẽ định hướng phát triển sản xuất và đưa ra các quyết định phù hợp để tăng nhanh hiệu quả

* Cơ sở để lựa chọn hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

- Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

- Nhu cầu của địa phương về phát triển hoặc thay đổi loại hình sử dụng đất nông nghiệp

- Các khả năng về điều kiện tự nhiên, KT-XH và các tiến bộ kỹ thuật mới được đề xuất cho các thay đổi sử dụng đất đó

* Nguyên tắc khi lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

- Hệ thống chỉ tiêu phải có tính thống nhất, tính toàn diện và tính hệ thống Các chỉ tiêu có mối quan hệ hữu cơ với nhau, phải đảm bảo tính so sánh có thang bậc

- Để đánh giá chính xác, toàn diện cần phải xác định các chỉ tiêu chính, các chỉ tiêu cơ bản, biểu hiện mặt cốt yếu của hiệu quả theo quan điểm và tiêu chuẩn đã chọn, các chỉ tiêu bổ sung để hiệu chỉnh chỉ tiêu chính, làm cho nội dung kinh tế biểu hiện đầy đủ hơn, cụ thể hơn

- Hệ thống chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả một cách khách quan, chân thật và đúng đắn nhất theo tiêu chuẩn và quan điểm đã vạch ra ở trên để soi sáng sự lựa

Trang 34

chọn các giải pháp tối ưu và phải gắn với cơ chế quản lý kinh tế, phù hợp với đặc điểm và trình độ hiện tại của nền kinh tế

- Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại nhất là những sản phẩm có khả năng xuất khẩu

- Phải có tác dụng kích thích sản xuất phát triển

Dựa trên cơ sở khoa học của hiệu quả, yêu cầu nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi lựa chọn các chỉ tiêu sau:

* Hệ thống chỉ tiêu trong tính toán hiệu quả kinh tế

Có hai cách tính hiệu quả kinh tế sử dụng đất biểu hiện bằng hai hệ thống chỉ tiêu sau:

- Cách thứ nhất: để tính được hiệu quả kinh tế sử dụng đất phải tính được

các chỉ tiêu

+ Giá trị sản xuất (GO): là giá trị toàn bộ sản phẩm sản xuất ra trong kỳ sử dụng đất (một vụ, một năm, tính cho từng cây trồng và có thể tính cho cả công thức luân canh hay hệ thống sử dụng đất)

+ Chi phí trung gian (IE): Là toàn bộ chi phí vật chất qui ra tiền sử dụng trực tiếp cho quá trình sử dụng đất (giống, phân bón, thuốc hoá học, dụng cụ, nhiên liệu, nguyên liệu…)

Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả:

+ Giá trị gia tăng (VA): Là giá trị mới tạo ra trong quá trình sản xuất được xác định bằng: giá trị sản xuất trừ chi phí trung gian

VA = GO – IE Thường tính toán ở 3 góc độ hiệu quả:

VA/ 1ha đất

VA/ 1 đơn vị chi phí (1VNĐ, 1USD…)

VA/ 1 công lao động

+ Thu nhập hỗn hợp (MI): Là thu nhập sau khi đã trừ các khoản chi phí trung gian, thuế hoặc tiền thuê đất, khấu hao tài sản cố định, chi phí lao đông

Trang 35

thuê ngoài

MI = VA – T (thuế) – A (khấu hao) – L (chi công lao động thuê)

Thường tính trên 3 góc độ hiệu quả:

MI/ 1ha đất

MI/ 1 đơn vị chi phí (1VNĐ, 1USD…)

MI/ 1 công lao động

- Cách tính thứ hai:

Các chỉ tiêu tính toán để tính hiệu quả kinh tế sử dụng đất:

+ Giá trị sản xuất (GO)

+ Chi phí biến đổi (VC) hay chi phí khả biến, là chi phí thay đổi khi qui

mô năng suất và khối lượng đầu ra thay đổi

Chỉ tiêu hiệu quả kinh tế :

+ Lãi thô (GM) là phần dôi ra khi so sánh giá trị sản xuất với chi phí biến

Chỉ tiêu hiệu quả kinh tế :

+ Lãi ròng (NI) còn gọi là lãi tinh hay lãi thuần là phần lãi còn lại sau khi trừ toàn bộ chi phí biến đổi và chi phí cố định

NI = GM – FC Thường tính trên 3 góc độ hiệu quả

NI/ 1ha đất

NI/ 1 đơn vị tiền tệ chi phí (1VNĐ, 1USD…)

NI/ 1 công lao động

Trong quá trình nghiên cứu đề tài chúng tôi lựa chọn cách tính thứ nhất vì cách tính này thường áp dụng tính cho các hộ nông dân, các trang trại quy mô

Trang 36

nhỏ mà chưa bóc tách được chi phí lao động

* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội

Hiệu quả xã hội chính là mối tương quan so sánh giữa kết quả xã hội (kết quả xét về mặt xã hội) và tổng chi phí bỏ ra Các chỉ tiêu hiệu quả xã hội thể hiện

cụ thể:

- Mức thu hút lao động, mức độ sử dụng lao động, tạo việc làm, tăng thu nhập;

- Trình độ dân trí, trình độ hiểu biết khoa học: khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất;

+ Đời sống người lao động: tổng thu nhập, lãi thuần, giá trị ngày công lao động…

* Các chỉ tiêu về hiệu quả môi trường

Hiệu quả môi trường sinh thái có thể phân tích thông qua các chỉ tiêu sau: + Mức độ thích hợp của hệ thống cây trồng đối với đất: tỷ lệ các loại cây trồng có khả năng cải tạo đất và bảo vệ đất);

+ Mức đầu tư phân bón (đánh giá mức đầu tư phân bón vô cơ và hữu cơ); + Mức đầu tư thuốc bảo vệ thực vật (đánh giá mức đầu tư thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hóa học và sinh học)

Đánh giá hiệu quả sử dụng đất cần kết hợp chặt chẽ giữa ba hệ thống chỉ tiêu kinh tế- xã hội và môi trường trong một thể thống nhất Tuy nhiên, tuỳ từng điều kiện cụ thể mà ta có thể nhấn mạnh từng hệ thống chỉ tiêu ở mức độ khác nhau

1.3 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam

1.3.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới

Đất nông nghiệp là yếu tố vô cùng quan trọng đối với sản xuất nông - lâm nghiệp Trên thế giới, mặc dù nền sản xuất nông nghiệp của các nước phát triển ở trình độ không giống nhau nhưng tầm quan trọng của nông nghiệp đối với đời sống con người thì quốc gia nào cũng phải thừa nhận Hầu hết các nước coi sản xuất nông nghiệp là cơ sở của sự phát triển Tuy nhiên, khi dân số tăng nhanh thì nhu cầu lương thực, thực phẩm là một sức ép rất lớn Để đảm bảo an ninh lương thực, loài người phải tăng cường khai hoang để có thêm đất sử dụng vào mục

Trang 37

đích nông nghiệp Thêm nữa, đất đai lại bị khai thác triệt để, không có biện pháp

ổn định độ phì nhiêu của đất Kết quả là, hàng loạt diện tích đất bị thoái hoá trên phạm vi toàn thế giới Đất bị mất chất dinh dưỡng, hữu cơ do bị xói mòn, nhiễm mặn…Ước tính có tới 15% tổng diện tích đất toàn cầu bị thoái hoá do nhân tác Diện tích đất có khả năng canh tác của lục địa chỉ có 3.030 triệu ha Hiện nhân loại mới khai thác được 1.500 triệu ha đất canh tác

Đất đồi núi trên thế giới chiếm 50,60%, riêng ở Đông Nam Á và Thái Bình Dương diện tích đất dốc chiếm 54,50% đất nông nghiệp (Nguyễn Thị Kim Anh, Phạm Thị Mỹ Dung, 2000)

Theo Đào Thế Tuấn và Pascal Bergeret (1998), tổng diện tích đất cũng như diện tích đất nông nghiệp ở các khu vực khác nhau trên thế giới được thể hiện ở bảng 1.1

Bảng 1.1 Tài nguyên đất của các khu vực trên thế giới

ĐVT: triệu ha

Khu vực Tổng diện

tích Đất NN

Đất canh tác hiện nay

Đất được tưới

(Nguồn: Đào Thế Tuấn và Pascal Bergeret,1998)

Đất đai trên thế giới phân bố ở các châu lục không đều Tuy có diện tích đất nông nghiệp khá cao so với các Châu lục khác nhưng Châu Á lại có tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp trên tổng diện tích đất tự nhiên thấp Mặt khác, châu Á là nơi tập trung phần lớn dân số thế giới, ở đây có các quốc gia dân số đông nhất nhì thế giới là Trung Quốc, Ấn Độ, Indonexia Ở Châu Á, đất đồi núi chiếm 35% tổng diện tích Tiềm năng đất trồng trọt nhờ nước trời nói chung là khá lớn

Trang 38

khoảng 407 triệu ha, trong đó xấp xỉ 282 triệu ha đang được trồng trọt và khoảng

100 triệu ha chủ yếu nằm trong vùng nhiệt đới ẩm của Đông Nam Á Phần lớn diện tích này là đất dốc và đất nhiễm phèn có độ chua cao; khoảng 40-60 triệu ha trước đây vốn là đất rừng tự nhiên che phủ, nhưng đến nay do bị khai thác khốc liệt nên rừng đã bị phá và thảm thực vật đã chuyển thành cây bụi và cỏ dại (Lê

Xuân Cao, 2002)

Đất canh tác của thế giới có hạn và được dự đoán là ngày càng tăng do khai thác thêm những diện tích đất có khả năng sử dụng vào lĩnh vực nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu về lương thực thực phẩm cho loài người Tuy nhiên, do dân

số ngày một tăng nhanh nên bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người ngày một giảm

1.3.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam

Việt Nam là đất nước dân số chủ yếu là sản xuất nông nghiệp Trong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa như hiện nay đã ảnh hưởng rất sâu sắc đến nền sản xuất nông nghiệp, quỹ đất nông nghiệp có xu hướng giảm để nhường chỗ cho các khu công nghiệp, khu kinh tế

Theo kết quả kiểm kê đất đai năm 2010, Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33.094.706 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp có 10.118.221 ha, dân

số là 86.927,7 nghìn người, bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp là

1.163,9 m2/ người

Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm thoả mãn nhu cầu cho

xã hội về sản phẩm nông nghiệp đang trở thành vấn đề cáp bách luôn được các nhà quản lý và sử dụng đất quan tâm Thực tế cho thấy, trong những năm qua do tốc độ công nghiệp hoá cũng như đô thị hoá diễn ra khá mạnh mẽ ở nhiều địa phương trên phạm vi cả nước làm cho diện tích đất nông nghiệp ở Việt Nam có nhiều biến động, theo những tư liệu của Tổng cục Thống kê và Bộ Tài nguyên và Môi trường thì biến động về số lượng đất nông nghiệp của nước ta trong những

năm gần đây được thể hiện ở Bảng 1.2

Trang 39

Bảng 1.2 Diễn biến tài nguyên đất qua một số năm

Dân số (1000 người)

Bình quân diện tích đất sản xuât nông nghiệp m 2 /người

(Nguồn: Niên giám thống kê 2010)

Theo số liệu kiểm kê sơ bộ năm 2007, tổng diện tích tự nhiên của cả nước

là 33,121 triệu ha, diện tích đất nông nghiệp 24,696 triệu ha (chiếm 0,75% diện tích tự nhiên) Khu vực đồng bằng Sông Hồng có tổng diện tích là 1,486 triệu ha, diện tích đất sản xuất nông nghiệp 0,756 triệu ha Bình quân diện tích đất nông

nghiệp trên đầu người 0,29 ha/người Diện tích trồng lúa năm 2007 vẫn đạt 7,2

triệu ha (quy đổi cho 3 vụ trên diện tích thực là 4,2 triệu ha), tuy đã giảm từ 7,5 triệu ha của năm 2002 Năng suất cũng khá ổn định do có khoảng 80% diện tích

là đất trồng lúa tưới, chỉ có 20% là đất phụ thuộc vào mưa

Theo kết quả kiểm kê đất đai năm 2010, Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33.094.706 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp có 10.118.221 ha, dân số là 86.927,7 nghìn người, bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 1.163,9 m2/ người

Hệ số sử dụng đất cây trồng hàng năm tăng lên (từ 1,4 năm 1995 tăng lên 1,6 năm 2000) Trong cơ cấu diện tích đất chuyên lúa, diện tích lúa 2 đến 3 vụ tăng do đẩy mạnh công tác thủy lợi, tiến bộ kỹ thuật về thâm canh, tăng vụ và đa

Trang 40

dạng hóa giống lúa Sản xuất nông nghiệp đã dần biến chuyển theo hướng bền vững, biểu hiện qua việc tăng diện tích cây lâu năm có hiệu quả kinh tế cao, giảm diện tích các loại cây hàng năm trồng thuần trên đất dốc Tuy nhiên, trong cơ cấu

sử dụng đất nông nghiệp tỷ lệ diện tích đất cây hàng năm vẫn còn chiếm trên 60%, mặt khác khả năng tăng diện tích đất canh tác từ diện tích đất chưa sử dụng

sẽ khó khăn trong thời gian tới

Những năm vừa qua, trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, nhiều diện tích đất nông nghiệp đã được chuyển đổi thành những khu công nghệ, các nhà máy, khu chung cư vì lẽ đó mà diện tích đất phục vụ cho nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp Tại các địa phương việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang phục vụ cho công nghiệp diễn ra khá lớn, hàng nghìn ha đất nông

nghiệp màu mỡ bị mất đi

Bên cạnh việc giảm diện tích đất nông nghiệp do quá trình đô thị hóa, thì vấn đề suy thoái chất lượng đất nông nghiệp cũng đang là vấn đề nhức nhối của toàn cầu Tình trạng suy giảm chất lượng đất nông nghiệp do rửa trôi, xói mòn, khô hạn và sa mạc hóa, mặn hóa, phèn hóa, chua hóa, thoái hóa, lý hóa học đất, ô nhiễm…Những tác động tiêu cực trên ảnh hưởng trực tiếp đến hơn 50% diện tích

đã và đang sản xuất nông nghiệp, đồng thời cũng là thách thức to lớn đối với sự phát triển nông nghiệp bền vững ở nước ta Mặt khác, việc sử dụng đất còn lãng phí, chỉ tính riêng ở 68 nông trường quốc doanh và 33 vùng kinh tế mới và chuyên canh trước đây đã có trên 30.000 ha sau khi khai hoang lại bị bỏ hóa trở

lại, không đưa vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp

Ở Việt Nam hiện có 16,7 triệu ha bị xói mòn, rửa trôi mạnh, chua nhiều, 9 triệu ha có tầng mỏng và độ phì thấp, 3 triệu ha đất thường bị khô hạn và sa mạc

hóa, 1,9 triệu ha đất bị phèn hóa, mặn hóa mạnh

Theo số liệu thống kê, các địa phương trong cả nước có khoảng 9,35 triệu

ha đất nông nghiệp bị thoái hóa Các tỉnh thuộc khu vực Nam Trung Bộ có đến hàng trăm ngàn ha đất khô hạn vĩnh viễn hoặc khô hạn theo mùa và gần như trở thành hoang hóa Tại các tỉnh ven biển miền Trung có gần 500 nghìn ha đất cát

Ngày đăng: 17/09/2015, 16:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
20. Phạm Quang Khánh (1995). Phương pháp đánh giá đất do FAO đề nghị áp dụng ở vùng Đông Nam Bộ, Hội thảo quốc gia về đánh giá và quy hoạch sửdụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp đánh giá đất do FAO đề nghị áp dụng ở vùng Đông Nam Bộ
Tác giả: Phạm Quang Khánh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1995
21. Phan Sỹ Mẫn, Nguyễn Việt Anh (2001). Định hướng và tổ chức phát triển nền nông nghiệp hàng hóa, Tạp chí nghiên cứu kinh tế, số 273, trang 21–29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng và tổ chức phát triển nền nông nghiệp hàng hóa
Tác giả: Phan Sỹ Mẫn, Nguyễn Việt Anh
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu kinh tế
Năm: 2001
22. Cao Liêm, Đào Châu Thu, Trần Thị Tú Ngà (1990). Phân vùng sinh thái nông nghiệp Đồng bằng sông Hồng, Đề tài 52D.0202, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân vùng sinh thái nông nghiệp Đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Cao Liêm, Đào Châu Thu, Trần Thị Tú Ngà
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1990
27. Đặng Kim Sơn (2008). Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam: Hôm nay và mai sau, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam: Hôm nay và mai sau
Tác giả: Đặng Kim Sơn
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
28. Trần Danh Thìn, Nguyễn Huy Trí (2006). Hệ thống trong phát triển nông nghiệp bền vững, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống trong phát triển nông nghiệp bền vững
Tác giả: Trần Danh Thìn, Nguyễn Huy Trí
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2006
29. Đào Châu Thu, Nguyễn Khang (1999), Giáo trình đánh giá đất, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đánh giá đất
Tác giả: Đào Châu Thu, Nguyễn Khang
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
30. Vũ Thị Thương (2007). Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, Luận văn thạc sỹ nông nghiệp, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng
Tác giả: Vũ Thị Thương
Nhà XB: trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2007
33. Vũ Ngọc Tuyên (1994). Bảo vệ môi trường đất, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ môi trường đất
Tác giả: Vũ Ngọc Tuyên
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1994
36. A.J Smyth, J. Dumaski (1993). FESLM An International Frame- Work for Evaluating Sustainable Land Management. World soil Report No. 73, FAO, Rome, pp 74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: FESLM An International Frame- Work for Evaluating Sustainable Land Management
Tác giả: A.J Smyth, J. Dumaski
Nhà XB: FAO
Năm: 1993
39. FAO (1990). Land Evaluation and farming syatem analysis for land use panning. Working document Sách, tạp chí
Tiêu đề: Land Evaluation and farming system analysis for land use planning
Tác giả: FAO
Nhà XB: Working document
Năm: 1990
40. Smyth A. Jand Dumaski (1993). FESLM An International Framework for Evaluation Sustainable Land Management, World soil Report, FAO, Rome Sách, tạp chí
Tiêu đề: FESLM An International Framework for Evaluation Sustainable Land Management
Tác giả: Smyth A., Dumaski
Nhà XB: World Soil Report
Năm: 1993
16. Đỗ Nguyên Hải (1999). Xác định các chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường trong quản lý sử dụng đất đai bền vững cho sản xuất nông nghiệp, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Khác
17. Đỗ Nguyên Hải (2001). Đánh giá đất và hướng sử dụng đất bền vững trong sản xuất nông nghiệp của huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh, Luận án tiến sĩ nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Khác
19. Nguyễn Khang, Tôn Thất Chiểu, Lê Thái Bạt (2000). Đánh giá phân hạng sử dụng đất. Hội khoa học đất Việt Nam Khác
25. Nông nghiệp bền vững - cơ sở và ứng dụng, Nxb Nông nghiệp, 1997 Khác
26. Trần An Phong và cộng sự (1996). Các vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam. Kết quả nghiên cứu thời kỳ 1986 - 1996, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Khác
31. Nguyễn Văn Toàn (2002). Báo cáo tổng kết đề tài cấp bộ, Chiến lược quản lý bền vững tài nguyên và môi trường lưu vực Vu Gia – Thu Bồn, Hà Nội Khác
32. Đào Thế Tuấn và Pascal Bergeret (1998). Hệ thống nông nghiệp lưu vực sông Hồng, Hợp tác Pháp - Việt chương trình lưu vực sông Hồng, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Khác
34. Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp (2006). Đánh giá tác động của các TBKHKT đã được công nhận trong 10 năm qua đối với ngành nông nghiệp Khác
35. Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp và Hội Khoa học đất Việt Nam (2011). Chỉ tiêu phân cấp một số yếu tố lý hóa học phục vụ đánh giá độ phì nhiêu hiện tại của đất, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Hiện trang sử dụng đất huyện Vũ Thư năm 2014 - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững trên địa bàn huyện vũ thư   tỉnh thái bình
Bảng 3.1. Hiện trang sử dụng đất huyện Vũ Thư năm 2014 (Trang 55)
Bảng 3.2. GTSX trên địa bàn huyện Vũ Thư giai đoạn 2000 - 2014 - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững trên địa bàn huyện vũ thư   tỉnh thái bình
Bảng 3.2. GTSX trên địa bàn huyện Vũ Thư giai đoạn 2000 - 2014 (Trang 60)
Hình 3.2. Giá trị sản xuất các ngành kinh tế trên địa bàn huyện - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững trên địa bàn huyện vũ thư   tỉnh thái bình
Hình 3.2. Giá trị sản xuất các ngành kinh tế trên địa bàn huyện (Trang 61)
Hình 3.4. Hiện trạng sử dụng đất năm 2014 huyện Vũ Thư - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững trên địa bàn huyện vũ thư   tỉnh thái bình
Hình 3.4. Hiện trạng sử dụng đất năm 2014 huyện Vũ Thư (Trang 68)
Bảng 3.7. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm huyện Vũ Thư 2014 - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững trên địa bàn huyện vũ thư   tỉnh thái bình
Bảng 3.7. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm huyện Vũ Thư 2014 (Trang 69)
Bảng 3.8. Hiện trạng hệ thống cây trồng trên địa bàn huyện Vũ Thư - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững trên địa bàn huyện vũ thư   tỉnh thái bình
Bảng 3.8. Hiện trạng hệ thống cây trồng trên địa bàn huyện Vũ Thư (Trang 70)
Bảng 3.12. Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất tại Tiểu vùng 2 - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững trên địa bàn huyện vũ thư   tỉnh thái bình
Bảng 3.12. Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất tại Tiểu vùng 2 (Trang 77)
Bảng 3.13. Tổng hợp hiệu quả kinh tế theo các LUT trên các tiểu vùng   Hạng mục - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững trên địa bàn huyện vũ thư   tỉnh thái bình
Bảng 3.13. Tổng hợp hiệu quả kinh tế theo các LUT trên các tiểu vùng Hạng mục (Trang 79)
Hình 3.6. So sánh hiệu quả kinh tế giữa các tiểu vùng - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững trên địa bàn huyện vũ thư   tỉnh thái bình
Hình 3.6. So sánh hiệu quả kinh tế giữa các tiểu vùng (Trang 80)
Bảng 3.14. Hiệu quả xã hội các loại hình sử dụng đất tại Tiểu vùng 1 - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững trên địa bàn huyện vũ thư   tỉnh thái bình
Bảng 3.14. Hiệu quả xã hội các loại hình sử dụng đất tại Tiểu vùng 1 (Trang 81)
Bảng 3.15. Hiệu quả về xã hội các loại hình sử dụng đất tại Tiểu vùng 2 - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững trên địa bàn huyện vũ thư   tỉnh thái bình
Bảng 3.15. Hiệu quả về xã hội các loại hình sử dụng đất tại Tiểu vùng 2 (Trang 82)
Bảng 3.16. Mức đầu tư phân bón trong thâm canh cây trồng  tại địa phương - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững trên địa bàn huyện vũ thư   tỉnh thái bình
Bảng 3.16. Mức đầu tư phân bón trong thâm canh cây trồng tại địa phương (Trang 85)
Bảng 3.17. Đánh giá chung các loại hình sử dụng đất ở các tiểu vùng - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững trên địa bàn huyện vũ thư   tỉnh thái bình
Bảng 3.17. Đánh giá chung các loại hình sử dụng đất ở các tiểu vùng (Trang 88)
HÌNH ẢNH MINH HỌA - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững trên địa bàn huyện vũ thư   tỉnh thái bình
HÌNH ẢNH MINH HỌA (Trang 107)
Hình 1: Cảnh quan trồng hoa xã Vũ Vân - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững trên địa bàn huyện vũ thư   tỉnh thái bình
Hình 1 Cảnh quan trồng hoa xã Vũ Vân (Trang 107)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w