Hiện nay, các loại vacxin phòng bệnh Phó thương hàn đã được một số công ty, xí nghiệp thuốc thú y sản xuất như vacxin nhược độc chủng TS – 177, vacxin có bổ trợ như vacxin keo phèn hay
Trang 1TÌNH HÌNH NHIỄM VI KHUẨN SALMONELLA SPP.TRÊN THỊT BÒ TẠI MỘT SỐ CHỢ SIÊU THỊ VÀ
ĐIỂM GIẾT MỔ NHỎ LẺ THUỘC QUẬN NINH KIỀU
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Trang 2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
TÌNH HÌNH NHIỄMVI KHUẨN SALMONELLA SPP
TRÊN THỊT BÒ TẠI MỘT SỐ CHỢ SIÊU THỊ VÀ
ĐIỂM GIẾT MỔ NHỎ LẺ THUỘC QUẬN NINH KIỀU
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Cần Thơ, 2013
Giáo viên hướng dẫn:
ThS Nguyễn Thu Tâm
Sinh viên thực hiện:
Đặng Phú Cường
MSSV: 3090874 Lớp: Thú Y K35
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
Đề tài: Tình hình nhiễm vi khuẩn Salmonella spp trên thịt bò tại một số
chợ, siêu thị và địa điểm giết mổ nhỏ lẻ thuộc quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ; do sinh viên Đặng Phú Cường thực hiện tại khoa Nông Nghiệp và
Sinh Học Ứng Dụng trường Đại Học Cần Thơ từ tháng 8/2013 đến tháng
12/2013
Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2013
Duyệt Bộ Môn
Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2013
Giáo Viên Hướng Dẫn
Nguyễn Thu Tâm
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2013
Duyệt Khoa NN&SHƯD
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian gần 5 năm được học tập dưới mái trường đại học, ngày hôm nay khi luận văn tốt nghiệp đã hoàn thành tôi nhận được sự giúp đỡ của rất nhiều người Trong những giây phút ít ỏi còn lại của thời sinh viên, tôi không biết nói gì hơn là:
Xin kính dâng cha mẹ người đã sinh thành, dưỡng dục và những người thân trong gia đình tôi đã giúp đỡ, nuôi dưỡng và luôn đặt niềm tin yêu vào tôi lòng biết ơn sâu sắc
Xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thu Tâm người đã hướng dẫn, quan tâm
và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô bộ môn Thú Y, Chăn Nuôi đã tận tình giảng dạy và truyền đạt kiến thức, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học và làm đề tài
Xin chân thành cảm ơn những người bạn thân yêu, cùng tất cả bạn bè thân thiết trong và ngoài lớp thú y K35 luôn giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài này
Cuối cùng, tôi xin nói lời cảm ơn đến Hội Đồng Giám Khảo đã dành thời gian để đọc, xem xét và đóng góp những ý kiến hết sức quý báu cho đề tài tốt nghiệp của tôi
Chân thành cảm ơn!
Đặng Phú Cường
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Loài mắc bệnh và nguyên nhân gây bệnh 14
Bảng 2: Đặc tính sinh hóa của các chủng Salmonella spp.* 30
Bảng 3: Bảng tiêu chuẩn phân tích kết quả đường kính vô trùng 32
Bảng 4: Kết quả phân lập vi khuẩn Salmonella spp theo địa điểm 34
Bảng 5: Kết quả phân lập vi khuẩn Salmonella spp theo các chợ 35
Bảng 6:Tỉ lệ nhiễm Salmonella spp trên thịt bò tại siêu thị 36
Bảng 7: Kết quả kiểm tra tính nhạy cảm đối với một số kháng sinh của các mẫu Salmonella spp phân lập (n=22) 37
Trang 7DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ
Hình 1: Khuẩn lạc vi khuẩn Salmonella nuôi cấy trên môi trường BGA 25
Hình 2: Khuẩn lạc vi khuẩn Salmonella nuôi cấy trên môi trường MLCB 26 Hình 3: Kết quả đặc tính sinh hóa Salmonella 29
Hình 4: Đĩa kết quả thử kháng sinh đồ 31
Sơ đồ 1: Đường lây nhiễm của vi khuẩn Salmonella 17
Sơ đồ 2 Quy trình phân lập vi khuẩn Salmonella 24
Trang 8MỤC LỤC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC HÌNH SƠ ĐỒ iv
MỤC LỤC……… v
TÓM LƯỢC vii
CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
2.1 Một vài nghiên cứu về vi khuẩn Salmonella 3
2.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 3
2.1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 4
2.2 Đặc điểm chung của vi khuẩn Salmonella spp 5
2.2.1 Phân loại vi khuẩn Salmonella spp 7
2.2.2 Đặc điểm hình thái 7
2.2.3 Sức đề kháng của vi khuẩn Salmonella 8
2.2.4 Đặc tính nuôi cấy của vi khuẩn Salmonella spp 8
2.2.5 Đặc tính sinh hóa của vi khuẩn Salmonella spp 9
2.2.6 Độc tố của vi khuẩn Salmonella spp 10
2.2.7 Tính gây bệnh của vi khuẩn Salmonella spp 10
2.2.8 Cấu tạo kháng nguyên 11
2.2.9 Biến dị 13
2.2.10 Đối tượng mắc bệnh 13
2.3 Bệnh thương hàn trên người 14
2.3.1 Bệnh thương hàn ở người 15
2.3.2 Bệnh thương hàn ở bò 17
2.3.3 Triệu chứng bệnh thương hàn ở bò 18
2.3.4 Một số chủng thường phân lập được từ bò 18
2.3.5 Phòng và trị bệnh thương hàn trên bò 19
2.4 Ngộ độc thực phẩm ở người do vi khuẩn Salmonella 20
2.4.1 Triệu chứng ngộ độc thực phẩm do vi khuẩn Salmonella ở người 20
2.4.2 Phòng và trị ngộ độc thực phẩm ở người 21
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 22
3.1 Phương tiện nghiên cứu 22
Trang 93.2.2 Phương pháp lấy mẫu 23
3.2.3 Phương pháp phân lập vi khuẩn Samonella 23
3.2.4 Môi trường thử phản ứng sinh hóa 26
3.2.5 Kiểm tra đặc tính sinh hóa 28
CHƯƠNG 4 33
KẾT QUẢ THẢO LUẬN 33
4.1 Tổng quan về địa điêm lấy mẫu……… 33
4.2 Kết quả phân lập vi khuẩn Salmonella spp từ thịt bò tại 1 số chợ, siêu thị và quầy thịt tại quận Ninh Kiều 33
4.3 Kết quả phân lập vi khuẩn Salmonella spp theo địa điểm 34
4.3 Kết quả thử kháng sinh đồ 36
CHƯƠNG 5 38
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 38
5.1 Kết luận: 38
5.2 Đề nghị: 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
PHỤ CHƯƠNG 43
Trang 10TÓM LƯỢC
Đề tài được tiến hành từ tháng 9 năm 2013 đến tháng 12 năm 2013 trên 50
mẫu thịt bò lấy ngẫu nhiên tại các chợ, siêu thị và điểm giết mổ nhỏ lẻ trên địa bàn quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ Vi khuẩn
Salmonella được tiến hành kiểm tra nuôi cấy trong môi trường
Buffered Peptone Water, môi trường Rappaport Vasiliadis, và môi
trường MLCB và BGA để phân lập vi khuẩn Salmonella spp Kết quả cho thấy tỷ lệ thịt bò có nhiễm vi khuẩn Salmonella spp ở mức rất cao (44%) Tỷ lệ nhiễm Salmonella spp cao nhất là tại các địa điểm giết
mổ (66,67%) kế đến là tại các chợ với tỷ lệ nhiễm là (48%) và hiện
vẫn chưa phát hiện vi khuẩn Salmonella spp trên các mẫu thu thập tại các siêu thị (0%) Tỷ lệ kháng thuốc của vi khuẩn Salmonella spp sau
khi làm kháng sinh đồ với 5 loại kháng sinh Amoxicylin, Gentamycin,
Colistin, Doxycyline và Ciprofloxacin cho thấy vi khuẩn Salmonella
spp kháng hoàn toàn với Amoxycilin (100%) và ngược lại vi khuẩn Salmonella spp nhạy hoàn toàn với Gentamycin và Ciprofloxacin
(100%) cuối cùng là Doxycyline và Colistin với tỷ lệ nhạy là 54,54%
và 63,64%
Trang 11CHƯƠNG 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, trong đà phát triển chung của toàn ngành chăn nuôi, ngành chăn nuôi bò đã được quan tâm nhiều hơn trước Nó đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cần thiết trong cuộc sống của con người Tuy nhiên, trong quá trình chăn nuôi sản xuất và buôn bán các sản phẩm từ thịt bò ngày nay gặp nhiều vấn đề cần lưu tâm như vệ sinh và dịch bệnh làm ảnh hưởng đến hiệu quả sản phẩm cũng như đến sức khỏe của người tiêu dùng Vì thế, việc kiểm soát và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, đặc biệt các sản phẩm chăn nuôi là vấn đề đang được quan tâm nhất hiện nay
Ở nước ta, tình hình ngộ độc thực phẩm năm 2010 diễn biến phức tạp, cả
nước xảy ra 132 vụ ngộ độc làm 4.676 người mắc và có 41 trường hợp tử vong (Bộ y tế) Một trong những vi khuẩn điển hình và thường tìm thấy trong những ca
ngộ độc hiện nay đó là Salmonella spp Vi khuẩn Salmonella là nguyên nhân của
70% vụ ngộ độc thực phẩm ở Việt Nam (Bùi Mạnh Hà, 2006) Tại Mỹ, ước tính hàng năm có khoảng 1,3 triệu ca bệnh liên quan đến ngộ độc thực phẩm do vi
khuẩn Salmonella gây ra (Callaway và ctv., 2005)
Salmonella gây bệnh đường ruột, bệnh thương hàn, phó thương hàn cho
người, gia súc, gia cầm Bình thường có thể phát hiện Salmonella trong ruột
người, heo, bò, gà, vịt và một số động vật khỏe mạnh khác Trong điều kiện sức
đề kháng của vật chủ giảm sút Vi khuẩn sẽ xâm nhập vào nội tạng và gây bệnh
kháng sinh trong chăn nuôi và thú y đã làm cho vi khuẩn Salmonella kháng thuốc
dẫn đến những ca nhiễm bệnh ở người khó điều trị (Angulo và ctv., 2004.)
Xuất phát từ những yêu cầu trên, được sự phân công của Bộ môn Thú Y, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ, chúng tôi
tiến hành đề tài: “Tình hình nhiễm vi khuẩn Salmonella spp trên thịt bò tại
một số chợ, siêu thị và điểm giết mổ nhỏ lẻ thuộc quận Ninh kiều, thành phố Cần Thơ”
Trang 12Mục tiêu đề tài:
Xác định tỷ lệ nhiễm Salmonella spp trên thịt bò tại một số chợ siêu thị và
điểm giết mổ nhỏ lẻ tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
Khảo sát sự nhạy cảm đối với kháng sinh của các chủng Salmonella spp
phân lập được
Trang 13CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Một vài nghiên cứu nghiên cứu về vi khuẩn Salmonella
2.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Vi khuẩn Salmonella và bệnh do chúng gây ra cho người và gia súc cũng đã
được bắt đầu nghiên cứu từ những năm 50 Viện Pasteur Sài Gòn trong những
năm (1951-1953) đã phân lập được 6 chủng Salmonella ở người (4 chủng từ máu,
2 chủng từ nước tiểu) Cũng ở Sài Gòn, trong thời gian này đã phân lập được 35
chủng từ 360 lợn, trong đó có 23 mẫu là S cholereasuis (Đỗ Đức Diên, 1999)
Nguyễn Văn Lãm (1968) đã tiến hành nghiên cứu chế vacxin Phó thương
hàn lợn con từ chủng Salmonella chuẩn của Trung Quốc Hiện nay, các loại
vacxin phòng bệnh Phó thương hàn đã được một số công ty, xí nghiệp thuốc thú
y sản xuất như vacxin nhược độc chủng TS – 177, vacxin có bổ trợ như vacxin keo phèn hay vacxin nhũ hoá có bổ trợ dầu Như vậy, việc nghiên cứu vi khuẩn
Salmonella một cách toàn diện để từ đó đề ra biện pháp phòng chống bệnh hiệu
quả, giữ gìn vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ sức khỏe con người là một yêu cầu rất cần thiết
Năm 1989, Nguyễn Thị Nội và ctv đã tiến hành điều tra tình hình nhiễm vi khuẩn đường ruột tại một số cơ sở chăn nuôi lợn ở miền Bắc đã tìm thấy 37,5%
lợn nhiễm Salmonella Trước tình hình như vậy, nhóm tác giả này đã nghiên cứu
và chế tạo thành công vacxin đa giá Salsco phòng bệnh ỉa chảy cho lợn con Vacxin đã được áp dụng để phòng bệnh có hiệu quả ở nhiều trại chăn nuôi lợn, tỷ
lệ lợn bị tiêu chảy giảm từ 30-50%, tỷ lệ lợn chết do tiêu chảy giảm xuống còn 10-20%
Lê Văn Tạo và ctv (1994) đã phân lập và xác định serotyp của vi khuẩn
Salmonella gây bệnh ở lợn, kết quả cho thấy: 50% các chủng phân lập được
thuộc S choleraesuis; 12,5% S enteritidis; 6,25% S typhimurium và số còn lại
thuộc các serotyp khác Trần Xuân Hạnh (1995) đã phân lập và giám định vi
khuẩn Salmonella ở lợn tại Thành phố Hồ Chí Minh cho kết quả: S typhisuis ở lợn bệnh là 16,9%; ở lợn bình thường 6-16 tuần tuổi là 4,2%; S paratyphi ở lợn 6-16 tuần tuổi là 2,8% Đặc biệt, vi khuẩn S choleraesuis chiếm 38,7% ở lợn
bệnh và 2,8% ở lợn bình thường
Theo Phùng Quốc Chướng (1995) ở Tây Nguyên, mùa khô lợn mắc bệnh do
vi khuẩn Salmonella gây ra là 20,03%, vụ đông là 28,66%
Trang 14Tạ Thị Vịnh và ctv (1996) đã kiểm tra 75 mẫu phân lợn khoẻ và 65 mẫu phân lợn bệnh tại một số vùng thuộc Ba Vì (Hà Tây) và Gia Lâm (Hà Nội) cho
thấy: Tỷ lệ nhiễm Salmonella cao 30-56% ở lợn khoẻ trong giai đoạn 22-60 ngày tuổi Tỷ lệ nhiễm Salmonella ở lợn mắc hội chứng tiêu chảy cao hơn lợn bình
thường và tăng dần theo lứa tuổi, dao động từ 70-90%
Kết quả phân lập vi khuẩn Salmonella ở lợn mắc bệnh tiêu chảy tại 4 cơ sở
chăn nuôi lợn thuộc miền Bắc nước ta của Cù Hữu Phú và ctv (2000) cho biết: Tỷ
lệ tìm thấy Salmonella trung bình ở lợn tiêu chảy nuôi tại 4 cơ sở trên là 80%
Đây là điều đáng lo ngại đối với ngành chăn nuôi lợn ở nước ta
Theo Nguyễn Bá Hiên (2001), tỷ lệ nhiễm Salmonella ở các đàn lợn, ngoại
thành Hà Nội cao nhất là lợn trên 60 ngày tuổi (88,23%), thấp nhất là lợn từ 1-21
ngày tuổi (73,68%) Ngoài ra ngộ độc thực phẩm do vi khuẩn Salmonella cũng đã
và đang được rất nhiều tác giả quan tâm Lê Minh Sơn (2003) đã xác định tỷ lệ
nhiễm Salmonella trong thịt lợn giết mổ tiêu dùng nội địa từ 10,91-16,67% và thịt
lợn xuất khẩu trung bình 1,42%
Tô Liên Thu (2005) đã xác định tỷ lệ nhiễm Salmonella của các mẫu thịt gà
ở Hà Nội là rất cao: 33% các mẫu lấy tại siêu thị, 40% các mẫu lấy từ chợ Lò mổ
là một mắt xích quan trọng có nguy cơ cao ô nhiễm Salmonella vào thân thịt sau
giết mổ
Trần Thị Hạnh và ctv (2009) đã công bố tỷ lệ nhiễm Salmonella tại các cơ
sở giết mổ lợn công nghiệp và cho kết quả: Chất chứa manh tràng của lợn là 59,18%, ở mẫu lau thân thịt là 70%, mẫu lau hậu môn 66%, mẫu lau nền chuồng nhốt lợn chờ giết mổ là 40%, mẫu lau sàn giết mổ là 28%, còn các mẫu nước
kiểm tra không phát hiện Salmonella Tại các cơ sở giết mổ lợn theo phương thức thủ công cho thấy tỷ lệ nhiễm Salmonella ở chất chứa manh tràng của lợn chờ
giết mổ là 87,5%, ở mẫu lau thân thịt là 75%, mẫu lau hậu môn là 55%, mẫu lau nền chuồng nhốt lợn chờ giết mổ là 70%, mẫu lau sàn giết mổ là 80%, mẫu nước
là 50% Cùng với quá trình nghiên cứu chi tiết về vi khuẩn, các biện pháp phòng bệnh đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, trong đó có vacxin phòng bệnh
2.1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Năm 1880, eberth lần đầu tiên quan sát thấy vi khuẩn Salmonella dưới kính
Trang 15Năm 1885, tên gọi Salmonella choleraesuis lần đầu tiên xuất hiện trong báo
cáo năm của phòng chăn nuôi công nghiệp Mỹ Lúc này, Salmon là trưởng phòng nghiên cứu, vì vậy tên ông được lấy đặt cho vi khuẩn mới này Sonh Smith, người cộng sự của salmon mới thật sự là người phát hiện ra
Năm 1891 Jensen, đã phân lập được Salmonella Dublin từ bệnh phẩm của
bê bị tiêu chảy Cũng vào năm đó Salmonell typhimurium được phát hiện ở vùng
Greiswald và Breslau
Năm 1893 tại Breslau đã xảy ra 1 vụ ngộ độc thịt do ăn phải thịt bò ốm, kết quả là bệnh đã xảy ra ở người Kaensche là người tìm thấy vi khuẩn, vì vậy vi khuẩn được đặt tên là trực khuẩn Kaensche (Selbizt và ctv, 1995)
Năm 1934, Kauffmann và White đã thiết lập được bảng cấu trúc kháng nguyên đầu tiên và đặt tên là bẳng phân loại Kauffmann-White
Năm 1993 đã có 2375 serovar Salmonella được định danh ( Selbizt và ctc,
1995[72])
Năm 1997, số serovar đã lên đến 3000 ( Plonait và Birkhardt, 1997[65]) Theo Wilcock và Schwartz (1992), thì tại nước Anh năm 1972 tìm thấy vi
khuẩn Salmonella có trong phân lợn là 9,3%, trong ruột là 7,3%
Tại Nhật Bản, Asai và ctc, (2002) cho thấy tỷ lệ nhiễm Salmonella ở lợn
sau cai sữa bị tiêu chảy là 12,4%; lợn vỗ béo là 17,3%; lợn con theo mẹ là 4,5%
Như vậy, vi khuẩn Salmonella và bệnh do chúng gay ra được rất nhiều các
nhà vi sinh vật trên thế giới quan tâm Mục đích của các nghiên cứu này nhằm tìm ra các biện pháp có hiệu quả để góp phần ngăn chặn và đẩy lùi bệnh do
salmonella gây ra ở động vật và ở người
2.2 Đặc điểm chung của vi khuẩn Salmonella spp
Vi khuẩn Salmonella hiện diện trong đường ruột của người và nhiều loài
động vật Có khoảng 2600 tuýp huyết thanh học đã được xác định (Portillo,
2000) Hầu hết đều có khả năng gây bệnh thương hàn và vi khuẩn Salmonella
paratyphi A, B, C gây bệnh phó thương hàn
Vi khuẩn Salmonella là vi khuẩn đường ruột, Gram âm, thuộc họ
Enterobacteriaceae Những chủng vi khuẩn này phân bố rộng rãi trong môi
trường, có thể tìm thấy trong đất, nước, thực phẩm, đường ruột của người và súc vật (Marcel Deckker, 2001)
Trang 16Giống vi khuẩn Salmonella gồm 2 loài: enteritica và bongori, trong đó loài
enteritica gồm 6 loài phụ là: enteritica I, salmaae II, arizonae IIIa, diarizonae IIIb, houtenae IV và indica VI (Kenneth Todar, 2005)
Loài phụ enteritica chứa nhiều chủng vi khuẩn Salmonella nhất trong số các
loài phụ nêu trên, các chủng này chủ yếu tác động trên đối tượng là người và các
động vật máu nóng Loài phụ thứ III tác động chủ yếu đối với nhóm động vật
máu lạnh (Daoust, 1997)
Vi khuẩn Salmonella cholerae suis chủng Kunzendorf và vi khuẩn
Salmonella typhi suis chủng Voldagsea gây bệnh phó thương hàn cho lợn; vi
khuẩn Salmonella enteritidis dublin và vi khuẩn S.kostok gây bệnh phó thương hàn cho bò, dê; vi khuẩn Salmonella abortusequi gây sẩy thai cho ngựa; vi khuẩn
Salmonella gallinarum-pullorum gây bệnh thương hàn cho gà
Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1977) thì phần lớn các vi khuẩn Salmonella đều
có thể gây bệnh cho một số gia súc, gia cầm, là một trong những nguyên nhân
chính gây ngộ độc thực phẩm ở người, đặc biệt là vi khuẩn Salmonella enteritidis
và vi khuẩn Salmonella typhimurium khi người ăn hoặc uống phải thức ăn bị
nhiễm Do đó, việc chẩn đoán chính xác loại trực khuẩn thương hàn ở động vật
có ý nghĩa rất quan trọng về mặt bảo vệ sức khỏe cộng đồng, vệ sinh công cộng
và phòng chống bệnh truyền nhiễm
Trang 172.2.1 Phân loại vi khuẩn Salmonella spp
2.2.1.1Phân loại khoa học
Về phân loại khoa học vi khuẩn Salmonella được xếp vào:
Giống: Salmonella lignieres 1900
Loài: S bongori và S Enterica
2.2.1.2 Phân loại theo cấu trúc kháng nguyên:
Dựa vào cấu trúc kháng nguyên vi khuẩn Salmonella được chia thành các nhóm, các loài và các type huyết thanh Lúc đầu, các vi khuẩn Salmonella được
đặt tên theo hội chứng lâm sàng mà chúng gây ra như vi khuẩn S.typhi và vi
khuẩn S.paratyphi A, B, C (typhoid = bệnh thương hàn), hoặc theo vật chủ như vi khuẩn S Typhimurium gây bệnh ở chuột (murine=chuột) Về sau, người ta thấy rằng mỗi loài vi khuẩn Salmonella có thể gây ra một số hội chứng và có thể phân
lập ở nhiều loài động vật khác nhau Vì những lý do đó, cuối cùng người ta gọi các loài mới phát hiện được theo tên địa phương ở đó nó được phân lập như vi
khuẩn S.Teheran, vi khuẩn S.Congo, vi khuẩn S.London (nguồn:
http://www.impe-qn.org.vn/impe-qn/vn/)
2.2.2 Đặc điểm hình thái
Vi khuẩn Salmonella là vi khuẩn Gram âm, hình que ngắn hai đầu tròn, kích
thước 0,4µm – 0,6µm x 1 – 3µm, không hình thành giáp mô và nha bào, phần
lớn vi khuẩn thuộc giống Salmonella có thể di động, có nhiều lông xung quanh thân (trừ S.gallinarum và Salmonella pullorum, các loài vi khuẩn Salmonella
khác đều di động mạnh do có từ 7 – 12 lông xung quanh thân Vi khuẩn dễ bắt màu với các loại thuốc nhuộm thông thường , khi nhuộm bắt màu ở toàn thân
hoặc hơi đậm ở hai đầu (Nagaraja et al., 1991)
Trang 182.2.3 Sức đề kháng của vi khuẩn Salmonella
Theo D’ Aoust(1989) Salmonella có thể tồn tại trong nước, nước thải, phân
gia súc, gia cầm, thực phẩm, thức ăn gia súc một thời gian dài Trong nước có thể tồn tại một tuần, trong nước đá sống 2-3 tháng
Với nhiệt độ, vi khuẩn có sức đề kháng yếu Ở 57oC vi khuẩn bị diệt sau 30 phút, ở 70oC vi khuẩn bị diệt trong 20 phút, ở 100oC vi khuẩn bị diệt trong 5 phút.(Bayne, Garibaldi, 1969)
Theo Bùi Đại, Nguyễn Văn Mùi và Nguyễn Hoàng Tuấn(2002) Salmonella
có thể tồn tại và sinh sản trong tế bào, kể cả đại thực bào, có sức sống tốt, tồn tại
ở ngoại cảnh, trong đất được vài tháng, trong thực phẩm đông lạnh 2-3 tháng Do
đó diệt khuẩn bằng phương pháp Pasteur có tác dụng tốt Ánh sáng mặt trời chiếu
trực tiếp diệt vi khuẩn sau 5 giờ ở nước trong và 9 giờ ở nước đục
Các chất sát trùng thông thường cũng diệt vi khuẩn hoàn toàn: Cloramine 3%, phenol 5%, formol 2%, diệt vi khuẩn trong 15-20 phút Crystal violet, Natri
hyposulfite, muối mật với nồng độ vừa đủ gây độc cho Escherichia coli thì không
ảnh hưởng tới sự phát triển của Salmonella Dựa vào tính chất này người ta chế
tạo ra những môi trường chọn lọc kìm hãm Escherichia coli và giúp cho
Salmonella phát triển dễ dàng
Ở nồng độ muối 6-8% vi khuẩn phát triển chậm và ở nồng độ muối là
8-19% sự phát triển của vi khuẩn bị ngừng lại Tuy vậy, vi khuẩn Salmonella chỉ bị
tiêu diệt khi ướp muối với nồng độ bão hòa trong một thời gian dài Như vậy thịt
cá ướp muối, các món ăn kho mặn chưa thể coi là an toàn đối với vi khuẩn
Salmonella
2.2.4 Đặc tính nuôi cấy của vi khuẩn Salmonella spp
Salmonella vừa hiếu khí vừa kỵ khí không bắt buộc, dễ nuôi cấy ở nhiệt độ
tối hảo 37oC Theo Nagaraja và Pomeroy (1991) Salmonella có thể phát triển
được ở nhiệt độ 5-47oC, pH thích hợp từ 6-7, phát triển được ở pH từ 7-9
Môi trường nước thịt
Cấy vi khuẩn vài giờ đã đục nhẹ, sau 18 giờ đục đều, nuôi cấy lâu ở ống nghiệm có cặn, trên môi trường có màng mỏng (Nguyễn Như Thanh và ctv., 1997)
Trang 19Môi trường thạch
Có thể dùng môi trường thạch để phân lập Salmonella Trong đó phổ biến
nhất là môi trường Brilliant Green Agar (BGA) và Manitol Lysine Crystal Violet Brilliant Green Agar (MLCB) Khuẩn lạc tròn, nhẵn bóng hơi lồi, có màu đỏ nhạt trên BGA và màu xám đen trên MLCB, đường kính khuẩn lạc 2-4mm ( Blackburn, Elllis, 1973)
Gelatin
Vi khuẩn không làm tan chảy gelatin, chúng hình thành màng mỏng hơi mờ trên mặt thạch, khuẩn lạc nhỏ, không trong suốt, chạy theo đường cấy sâu
(Nguyễn Như Thanh và ctv., 1997) Hầu hết các chủng Salmonella của các loài
đều giống nhau về hình thái và tính chất nuôi cấy, do đó không thể phân biệt và định chủng trên môi trường nuôi cấy bình thường
Hầu hết vi khuẩn Salmonella của các chủng đều giống nhau về hình thái và
tính chất nuôi cấy Do đó, không thể phân biệt và định chủng trên môi trường
nuôi cấy bình thường Mặc dù, các vi khuẩn Salmonella có biểu hiện đặc tính
sinh hóa khá rõ, nhưng hầu hết chỉ có thể nhận biết rõ chúng qua phản ứng huyết thanh học (Cater, 1987)
2.2.5 Đặc tính sinh hóa của vi khuẩn Salmonella spp
Vi khuẩn Salmonella có khả năng lên men một số loại đường nhất định và không đổi Theo Nagaraja et al (1991), phần lớn loài Salmonella lên men có tính
sinh hơi glucose, maltose, galactose, aribinose Một số loài cũng lên men các loại
đường nhưng không sinh hơi như: Salmonella typhi suis, S typhimurium, S
cholerae suis, S enteritidis, S gallinarum, S typhimurium không lên men
aribinose
Tất cả các vi khuẩn Salmonella đều không lên men đường lactose
Để kiểm tra tính chất lên men đường, người ta thường dùng nước peptone
có thêm 0,5% một loại đường đơn cần kiểm tra và thêm chất chỉ thị màu như: Bromothymol Blue hoặc Bromocresol hoặc Phenol red
Các vi khuẩn Salmonella đều không sinh indole, acetone, urease
Các vi khuẩn Salmonella đều cho phản ứng dương tính với citrate, methyl
red, ornithine, lysine,…(Kenneth Todar, 2005)
Trang 20Khoảng 96% vi khuẩn Salmonella đều tiết ra enzyme khử các carboxyl đối
với lysine, arginine, orthnithine
Hầu hết các chủng đều sinh H2S trừ vi khuẩn Salmonella paratyphi A, vi khuẩn Salmonella abortusequi, vi khuẩn Salmonella typhi suis, vi khuẩn
Salmonella choleraesuis
2.2.6 Độc tố của vi khuẩn Salmonella spp
Tùy theo độc lực của vi khuẩn và sức đề kháng của cơ thể mà mức độ bệnh
khác nhau Theo Koupal (1997), vi khuẩn Salmonella có 2 loại độc tố: nội độc tố
và ngoại độc tố
Nội độc tố (enterotoxin): còn gọi là độc tố L-T (heat-labile toxin), không
bền với nhiệt, có trọng lượng phân tử khoảng 110.000 dalton (Houston, 1981) tác
động gây độc rất mạnh, với liều lượng thích hợp tiêm tĩnh mạch, vi khuẩn giết
chết chuột bạch, chuột lang trong vòng 48 giờ với bệnh tích đặc trưng là ruột non xuất huyết, mảng payer phù nề, đôi khi hoại tử Độc tố gây độc thần kinh, hôn
mê, co giật, nội độc tố có hai loại là độc tố gây xung huyết và mụn loét
Ngoại độc tố: chỉ phát hiện được khi lấy vi khuẩn có độc tính cao cho vào
túi colodion rồi đặt vào ổ bụng chuột lang để nuôi, sau 4 ngày lấy ra rồi cấy truyền như vậy từ 5-10 lần, sau cùng đem lọc, nước lọc này có khả năng gây bệnh cho động vật thí nghiệm Ngoại độc tố chỉ hình thành trong điều kiện invivo (trong ống nghiệm) và trong nuôi cấy kỵ khí Ngoại độc tố tác động vào hệ thần kinh và ruột Ngoại độc tố có thể chế thành giải độc tố (anatoxin) bằng cách trộn thêm 5% formon để ở 37oC trong 20 ngày Giải độc tố tiêm cho thỏ sẽ tạo ra kháng thể qua đường miệng, qua thức ăn, nước uống
2.2.7 Tính gây bệnh của vi khuẩn Salmonella spp
Tính gây bệnh trên vật chủ còn phụ thuộc nhiều yếu tố: chủng độc lực của
vi khuẩn Salmonella, tình trạng đề kháng của cơ thể vật chủ, nguồn, số lượng
mầm bệnh nhiễm vào và đường xâm nhập của vi khuẩn vào cơ thể của vật chủ (Wilcock, 1992)
Theo Koupal (1997), Salmonella gây bệnh đường ruột cho người, gia súc,
gia cầm gọi là bệnh thương hàn và phó thương hàn nhiễm trùng huyết, viêm ruột
Vi khuẩn Salmonella có thể phát hiện thường xuyên trong ruột người, bò, lợn, gà,
Trang 21khuẩn xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa, vi khuẩn bám dính vào tế bào nhung mao ruột để xâm nhập vào tế bào biểu mô, sản sinh độc tố đường ruột và phá hủy niêm mạc ruột gây tiêu chảy Vi khuẩn tiếp tục xâm nhập vào hệ thống lâm ba, vào máu đến cơ quan phủ tạng sinh nội độc tố và ngoại độc tố gây xuất huyết, tụ huyết ở các cơ quan, gây sốc cho gia súc, gia cầm bệnh Sau khi lành bệnh thì mầm bệnh vẫn tồn tại trong cơ thể của gia súc, gia cầm trong một khoảng thời gian dài và tiếp tục được bài xuất theo phân ra ngoài làm ô nhiễm môi trường, thức ăn, nước uống,
Trong thời gian bị bệnh, con vật có thể thải ra một lượng vi khuẩn 107 S
typhimurium (Gutzmann et al., 1976)
2.2.8 Cấu tạo kháng nguyên
Để phân loại vi khuẩn Salmonella spp., ngoài đặc tính nuôi cấy, đặc tính
sinh hóa, cần nắm vững được cấu trúc kháng nguyên Ở vi khuẩn Salmonella
ngoài phản ứng huyết thanh đặc hiệu của từng vi khuẩn còn có hiện tượng ngưng kết chéo giữa kháng nguyên của vi khuẩn này với kháng thể của loài khác Đó là
do thành phần kháng nguyên của vi khuẩn Salmonella rất phức tạp, gồm các
thành phần đặc hiệu và không đặc hiệu đại diện cho cả nhóm, loài, type huyết thanh
Theo Nagaraja et al (1991) kháng nguyên của vi khuẩn Salmonella gồm 3
loại: kháng nguyên O, kháng nguyên H, kháng nguyên Vi (K)
Kháng nguyên O: là loại kháng nguyên rất quan trọng Hiện nay, người ta
tìm thấy 65 yếu tố khác nhau Một vi khuẩn Salmonella có thể có một hoặc nhiều
yếu tố trong các yếu tố đó, mỗi một yếu tố người ta đánh bằng các số La Mã hay
số Ả Rập Kháng nguyên O là một phần của màng tế bào, gồm có 4 lớp: lớp lipopolisaccharide (LPS), lớp phospholipide, lớp lipoprotein, lớp peptidoglycan Kháng nguyên H: là kháng nguyên lông, bản chất là protein Kháng nguyên
H chỉ có ở Salmonella có lông, đây là loại kháng nguyên góp phần cho việc xác
định một cách chính xác giống vi khuẩn Salmonella, kháng nguyên H chia làm 2
phase:
Phase 1: có tính đặc hiệu, kháng nguyên lông được biểu thị bằng các chữ Latinh thường a, b, c, …
Phase 2: không có tính chất đặc hiệu, loài này có thể nhưng kết với các loài
khác, đôi khi thành phần này có thể gặp ở vi khuẩn E.Coli (Nguyễn Như Thanh,
Trang 221997) Phase 2 được biểu thị bằng chữ cái Ả Rập: 1, 2, 3, 4, … hay chữ thường:
e, n, x, …
Kháng nguyên H của vi khuẩn Salmonella có thể có tính đặc hiệu đơn hay kép Những loài vi khuẩn Salmonella có kháng nguyên H mang tính đặc hiệu
đơn, khi gặp kháng huyết thanh tương ứng sẽ mất khả năng hoạt động Nhũng
loài vi khuẩn Salmonella có kháng nguyên H mang tính đặc hiệu kép, khi nuôi
cấy chúng trong môi trường có kháng huyết thanh tương ứng với kháng nguyên
H, thì nó vẫn di động và biểu hiện tính đặc hiệu kháng nguyên H ( nguồn: http://www.impe-qn.org.vn/)
Kháng nguyên Vi (K): là kháng nguyên không tham gia vào quá trình gây bệnh Vi là chữ viết tắt của Virulence Kháng nguyên Vi không phức tạp, chỉ có ở
vi khuẩn Salmonella typhi, vi khuẩn Salmonella dublin, vi khuẩn Salmonella
hirsechfekii, kháng nguyên Vi gặp kháng thể Vi gây ra hiện tượng ngưng kết
chậm và xuất hiện các hạt ngưng kết nhỏ Bản chất kháng nguyên Vi là phức hợp glucid – lipid – polipeptide gần giống như kháng nguyên O, kháng nguyên Vi không tham gia vào quá trình gây bệnh
Trước 1983, dựa vào phản ứng sinh hóa người ta chia làm 3 loại: vi khuẩn
S.typhi (một type huyết thanh), vi khuẩn Salmonella cholerae suis (một type
huyết thanh) và vi khuẩn Salmonella enteritidis (trên 1500 type huyết thanh) Các
type huyết thanh khác nhau bởi kháng nguyên thân (kháng nguyên O) và kháng nguyên lông (kháng nguyên H), hầu hết đều có khả năng gây bệnh cho người và
động vật
Sau năm 1983, dựa vào phương pháp mã di truyền ADN, trung tâm nghiên
cứu Salmonella thế giới chia Salmonella làm hai loài chính Tuy nhiên, trên thực
tế việc định danh loài và loài phụ ít sử dụng
Salmonella Enterrica (gây bệnh): được chia làm 6 loài phụ:
Salmonella Enterica subsp Enterica
Salmonella Enterica subsp Salamae
Salmonella Enterica subsp Arizonae
Salmonella Enterica subsp Houtenne
Salmonella Enterica subsp Diarizonae
Trang 23Salmonella Bongori (không gây hay ít gây bệnh)
Ngày nay, người ta có xu hướng không đặt tên các chủng vi khuẩn
Salmonella nữa mà biểu thị chúng bằng công thức kháng nguyên
Có nhiều loài vi khuẩn Salmonella gây bệnh cho người và vật nuôi Dựa
vào đặc tính thích nghi với ký chủ gây bệnh, người ta chia các chủng thành 2
nhóm: nhóm vi khuẩn Salmonella thích nghi và gây bệnh riêng cho từng loài
động vật và nhóm có thể tác động trên nhiều đối tượng (Nguyễn Lương,1993)
Chẳng hạn như vi khuẩn Salmonella typhi, vi khuẩn Salmonella paratyphi A, B,
C chủ yếu gây bệnh ở người Vi khuẩn Salmonella abortus equi ở ngựa, vi khuẩn
Salmonella Dublin ở bò, vi khuẩn Salmonella pullorum, vi khuẩn Salmonella gallinarum chỉ gây bệnh trên gà,… Riêng loài vi khuẩn S.typhimurium và vi
khuẩn S.enteritidis có thể tìm thấy trên nhiều loài ký chủ và chúng có thể phát
triển thành bệnh gây hại cho ký chủ mà nó khu trú, đồng thời chúng có thể lây truyền từ đối tượng này sang đối tượng khác, đặc biệt là chúng có thể truyền từ
động vật sang người Do đó, vi khuẩn S.typhimurium và vi khuẩn S.enteritidis
không chỉ gây hại đến sức khỏe vật nuôi mà còn ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con người và là một trong những nguyên nhân chính gây ngộ độc thực phẩm ở người (Ziprin and Hume, 2001)
Vi khuẩn Salmonella spp gây bệnh cho người phổ biến nhất là Salmonella
typhi, Salmonella paratyphi, một số chủng ít gặp hơn như: S beidelberg, S
Trang 24cholerae suis, S.panama, S.newport, S.anatum, S.sendai, S gallinarum, S virchow, S Dublin (Bùi Đại et al., 2002)
Bảng 1 Loài mắc bệnh và nguyên nhân gây bệnh ( Bettye C Hobs (1978))
Nguyên nhân Loài mắc bệnh Bệnh
Trang 252.3 Bệnh thương hàn trên người
2.3.1 Bệnh thương hàn ở người
Bệnh thường xảy ra khi người ăn phải thịt gia súc, gia cầm, … bị nhiễm vi
khuẩn Salmonella Nguy hiểm nhất là khi ăn trứng và thịt bị nhiễm S enteritidis
và Salmonella typhimurium chưa được nấu chín kỹ Hai chủng vi khuẩn
Salmonella này được xem là một trong những nguyên nhân chính gây ngộ độc
thực phẩm ở người
Triệu chứng điển hình của việc trúng độc thường xảy ra sau 24 giờ, bệnh nhân thường nhức đầu, rối loạn tiêu hóa, sốt tăng dần, biếng ăn, buồn nôn, tiêu chảy Bệnh ở trẻ em thường nặng và dễ gây tử vong
Bệnh thương hàn ở người gây ra bởi trực khuẩn thương hàn (S typhi) gram
âm, có 107 chủng kháng nguyên và 3 phó thương hàn là S enteritidis (ParaTyphi A), S schottmulleri (ParaTyphi B), S paraTyphi C Tỷ lệ mắc bệnh do thương
hàn và phó thương hàn là 10:1 Đây là bệnh nhiễm khuẩn toàn thân, diễn biến rất nặng nếu không có biện pháp điều trị tích cực
Hàng năm trên thế giới có khoảng 17 triệu trường hợp măc với khoảng 600.000 người chết do thương hàn Việt Nam có khoản 10.000 đến 20.000 trường hợp mắc bệnh hàng năm Mỗi năm có khoảng hàng chục trường hợp từ vong Bệnh xảy ra ở nhiều tỉnh hay gặp các vụ dịch nhỏ ở đồng bằng sông Cửu Long, ven biển miền Trung, một số tỉnh đồng bằng Bắc bộ và cả ở miền núi phía Bắc Bệnh phổ biến ở những nơi kém vệ sinh
Người bệnh và nhất là người lành mang trùng là ổ chứa chính của bệnh thương hàn Vi khuẩn thương hàn thường sống trong túi mật và được đào thải qua phân trong thời gian dài Ổ chứa phó thương hàn đôi khi gặp ở vật nuôi trong nhà
Người bị mắc bệnh do dùng thức ăn hoặc uống nước bị nhiễm trực khuẩn thương hàn và phó thương hàn Những phương thức lây truyền phổ biến là:
Uống nước chưa đun sôi bị nhiễm mầm bệnh (như uống nước lã, nước đá)
Ăn phải thức ăn bị nhiễm vi khuẩn nhất là ăn trai, sò, ốc, hến bị nhiễm vi
khuẩn từ nguồn nước bị nhiễm bẩn mà chưa được nấu chín
Rau quả: ăn sống rau quả được bón bằng phân tươi
Sữa và các chế phẩm từ sữa bị nhiễm vi khuẩn thương hàn khi chế biến
Trang 26Ruồi gây nhiễm bẩn thực phẩm và trong môi trường thực phẩm đó vi khuẩn nhân lên đủ liều gây bệnh
Vi khuẩn có trong phân người bệnh từ tuần thứ nhất đến hết thời kỳ lại sức (khoảng 1-3 tuần) Khoảng 10% bệnh nhân không được điều trị sẽ thải vi khuẩn qua phân trong vòng 3 tháng
Bệnh cảnh lâm sàng thường có sốt tăng dần, rối loạn tiêu hóa, bụng chướng
có dấu hiệu gõ đục hố chậu phải, phát ban dạng sởi ở vùng quanh thắt lưng Độc
tố thương hàn tác động vào các mảng bạch huyết ở họng và ruột gây ra loét họng, loét ruột, gây chảy máu ruột Độc tố cũng gây nhiễm độc thần kinh; nhiễm độc cơ tim gây viêm cơ tim, trụy tim mạch Trường hợp nhẹ giống như viêm dạ dày ruột gây tiêu chảy thường
Chẩn đoán xác định khi cấy máu có mọc vi khuẩn thương hàn Xét nghiệm
bổ sung giúp cho chẩn đoán là sử dụng kháng thể đơn dòng phát hiện kháng nguyên H trong máu bệnh nhân
(www.mail.pasteurhcm.org.vn/gdsk/10benhtcmr)
Điều trị
Đưa người bệnh đến cơ sở y tế gần đó
Dung các thuốc trị vi khuẩn gram âm và cung cấp chất điện giải
Theo Betty.C., Hobbs (1978) trong tự nhiên, sự lây nhiễm vi khuẩn
Salmonella được thể hiện bằng sơ đồ:
Trang 27Sơ đồ trên cho ta thấy sự lây nhiễm và trú ẩn của vi khuẩn Salmonella xảy
ra ở mọi nơi và mọi đối tượng Sự xâm nhiễm của vi khuẩn Salmonella vào cơ
thể người và động vật, sự bài thải của chúng theo phân, chất tiết tạo thành một vòng khép kín
2.3.2 Bệnh thương hàn ở bò
Trong thời gian 5 năm, một nghiên cứu của trường đại học Cornell về nuôi
cấy và phân lập S typhimurium từ 731 mẫu vật có nguồn gốc động vật, kết quả
chỉ có 2 mẫu dương tính từ trâu bò (Jensen và Mackey, 1971)
Theo Jensen và Mackey (1971) một nghiên cứu trên 7.365 vụ dịch bệnh thương hàn nhưng chỉ có 39 trong số đó là liên quan đến trâu bò
Năm 1965, một nghiên cứu về bệnh thương hàn tại các nông trại ở Michigan trên 39 vụ dịch kéo dài khoảng 20 tháng với tỉ lệ chết 23% ở bò cái
Người
Chim chóc
Gặm nhắm, chó, mèo
Heo, trâu, bò
Chợ, chuyên chở
Lò mổ
Sản phẩm từ thịt
Sơ đồ 1: Đường lây nhiễm của vi khuẩn Salmonella
Trang 28thiệt hại về kinh tế và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng (Vassen và ctv., 1998)
Đặc biệt đối với bò đang cho sữa vừa gây thiệt hại về kinh tế do làm giảm hoặc
mất sữa, nhưng lại vừa tiềm ẩn nguy cơ đối với sức khỏe cộng đồng Mức độ
trầm trọng của bệnh do Salmonella thay đổi rất lớn từ dạng động vật mang trùng
không có triệu chứng lâm sàng cho đến bệnh nặng có thể gây chết gia súc
2.3.3 Triệu chứng bệnh thương hàn ở bò
Bệnh thương hàn ở trâu bò có thể xảy ra ở 4 thể: nhiễm trùng huyết cấp tính, viêm ruột cấp, thể mãn tính và thể sẩy thai
Thể nhiễm trùng cấp tính: thường xảy ra ở 2 tuần tuổi Nuôi trong điều
kiện quá chật chội, mất vệ sinh Với triệu chứng sốt cao nhiệt độ từ 40.5-42oC, bê
có thể chết ngay, hoặc có thể suy yếu chết trong vòng 24-48 giờ Bê có các triệu chứng thần kinh có khi bê chết mà không có triệu chứng tiêu chảy nào
Thể viêm ruột cấp: có thể xảy ra ở tất cả các lứa tuổi của bê, biểu hiện thân
nhiệt tăng 40-41oC, tiêu chảy, đôi khi có trường hợp kiết, phân hôi thối chứa màng nhày Những con vật non nếu còn sống sau khi ốm thì gầy còm, chậm lớn Với bò sữa thì đột nhiên giảm hay ngừng tiết sữa có biểu hiện đau bụng, bò kêu rên rỉ, mất nước nhiễm độc làm bò suy sụp nhanh và chết Bệnh kéo dài 2-7 ngày
Thể mãn tính: thường xảy ra ở bê lớn và bò trường thành, kế tiếp sau thể
cấp tính với biểu hiện tiêu chảy kéo dài, dẫn đến gầy còm Sốt nhẹ 39oC kém ăn
và có máu ở phân bò khi bò đi tiêu
Thể sẩy thai: bệnh thương hàn có thể biểu hiện triệu chứng vì các tác động
sau quá trình viêm ruột cấp hoặc á cấp tính, hiện tượng sẩy thai không có kèm
theo một triệu chứng bất kỳ nào khác, đặc biệt khi do S dublin gây ra Sẩy thai
chỉ chiếm 2-6% số trâu bò bệnh thương hàn (Phạm Sĩ Lăng, 2002)
2.3.4 Một số chủng thường phân lập được từ bò
S dublin là nguyên nhân gây nhiễm trùng máu bò cái đẻ và gây còi cọc ở bò
trưởng thành đang cho sữa Gia súc mắc bệnh thương hàn sau khi khỏi cơ thể trở thành vật mang trùng và bài thải vi khuẩn theo phân (Sojka và ctv., 1974) Vi
khuẩn S dublin cũng bài thải qua sữa 1ml sữa tuơi có thể chứa 100.000 tế bào vi
khuẩn Bệnh thương hàn ở người có thể do người tiêu thụ sữa chưa qua tiệt trùng
hay sản phẩm sữa có sự vấy nhiễm vi khuẩn Salmonella S dublin nổi tiếng là vi
Trang 29được nghiên cứu và tỉ lệ chết cao khoảng 35% (Taylor và ctv., 1982)
S enteritidis còn có tên là Bacillus Enteritidis, B Gaetner thuộc nhóm C do
Gaetner phân lập năm 1888 từ bò mắc bệnh S enteritidis gây bệnh phó thương
hàn cho bê với triệu chứng viêm ruột cấp tính Vi khuẩn thường có trong đường ruột của động vật có vú như bò, chó, ngựa con, chồn và một số loài gia cầm Vi khuẩn cũng có thể vào đường tiêu hóa do thức ăn nước uống rồi gây chứng viêm ruột (Phan Chí Tạo, 2006)
2.3.5 Phòng và trị bệnh thương hàn trên bò
Điều trị
Phải điều trị bằng kháng sinh mẫn cảm:
Gentamycin 20mg/kg thể trọng/ngày, cho uống hoặc tiêm
Trimethoprim 30mg/kg thể trọng phối hợp với Sulphadiazin liều 30mg/kg thể trọng Liệu trình sử dụng ít nhất 5 ngày
Trong thời gian điều trị nên kết hợp với truyền các dung dịch chất điện giải
để chống mất nước, dung long não nước, cafein và các loại Vitamin B1, C để trợ sức (Lê Văn Tạo, 2004)
Phòng bệnh
Phòng đặc hiệu bằng vaccine formon keo phèn Vaccine này thường cho miễn dịch ngắn và không ổn định
Vì vi khuẩn Salmonella phân bố rộng nên thanh toán triệt để là không khả
thi, biện pháp phòng chống phải thiết kế để giảm tối đa tiếp xúc giữa gia súc mắc bệnh với gia súc khỏe, hạn chế tình trạng lây nhiễm mầm bệnh qua thức ăn, nước uống Cụ thể chúng ta cần thực hiện như sau:
Mua gia súc, gia cầm ở những nơi không có dịch bệnh, khi đưa về phải nhốt riêng theo dõi 15 ngày nếu thấy khỏe mới cho nhập đàn
Chuồng nuôi phải thoáng mát và khô ráo, phân rác ủ riêng
Quản lý súc vật ốm, xử lý phân để diệt khuẩn trong giai đoạn mang trùng và thải trùng
Tăng cường quản lý nguồn nước, hạn chế hoạt động của loài gậm nhấm và côn trùng truyền bệnh
Trang 30
2.4 Ngộ độc thực phẩm ở người do vi khuẩn Salmonella
Tác nhân gây ngộ độc thức ăn chủ yếu là các vi khuẩn phó thương hàn,
trong đó hàng đầu là S typhimurium, S cholerae suis và sau đó đến S enteritidis Khả năng gây ngộ độc thức ăn của Salmonella cần có hai điều kiện:
Thức ăn phải bị nhiễm một lượng lớn vi khuẩn vì khả năng gây ngộ độc của
Salmonella yếu
Vi khuẩn vào cơ thể phải phóng ra một lượng độc tố lớn Vấn đề này phụ thuộc nhiều vào phản ứng cơ thể của từng người Điều này giải thích hiện tượng nhiều người cùng ăn một loại thức ăn như nhau nhưng có người bị ngộ độc có người không bị, có người bị nhẹ, có người bị nặng… thông thường thì những người già, người yếu và trẻ em bao giờ cũng bị nặng hơn
(www.suckhoecongdong.com/content/view/)
2.4.1 Triệu chứng ngộ độc thực phẩm do vi khuẩn Salmonella ở người
Theo Bùi Đại và ctv, (2002) triệu chứng lâm sàng khi nhiễm khuẩn – ngộ
độc thức ăn do Salmonella spp ở các dạng:
Thể viêm dạ dày và ruột cấp: (Gặp phổ biến nhất)
Triệu chứng xuất hiện trung bình từ 12 – 36 giờ sau khi ăn:
Ở thể nhẹ: không sốt, đi phân lỏng vài lần, bụng hơi đau
Ở thể vừa và nặng: với 3 hội chứng điển hình:
Hội chứng nhiễm khuẩn – nhiễm độc: sốt 38-40oC, rét run, nhức đầu, mệt mỏi, số lượng bạch cầu trong máu bình thường
Hội chứng viêm dạ dày – ruột cấp: đau bụng vùng thượng vị và quanh
rốn Đôi khi lan tỏa khắp vùng bụng Buồn nôn và nôn nhiều lần trong ngày, phân thối có nhiều nước Trong phân có thể lẫn thức ăn chưa tiêu, đôi khi có ít dịch nhầy và máu
Hội chứng mất nước, mất chất điện giải: khát nước, khô môi, mắt trũng,
gầy sút Nếu nặng hơn thì mạch nhanh, nhỏ, huyết áp hạ, thiểu niệu, bụng chướng, chuột rút, chân tay lạnh
Tiến triển của bệnh: với cơ thể khỏe mạnh thường tự khỏi bệnh sau 2-3
Trang 31giải hoặc biến chứng nhiễm trùng huyết
Thể nhiễm trùng huyết giống như thương hàn
Có nhiều điểm giống với thương hàn nhưng không có tổn thương giải phẫu bệnh đặc hiệu của bệnh thương hàn
Có biểu hiện lâm sàng: sốt kéo dài, nhiễm độc thần kinh nặng, bụng chướng, gan, lách to… nhưng bệnh khởi phát cấp tính hơn thương hàn
Thể khu trú nội tạng
Thể này thường tiếp sau nhiễm trùng ruột, mặc dù không có tiêu chảy sớm
Triệu chứng: đột ngột sốt cao, rét run, sốt dao động, vã mồ hôi, nhiễm độc
thần kinh nặng, cấy máu dương tính, số lượng bạch cầu trong máu bình thường Kết hợp với viêm hoặc áp xe ở nhiều cơ quan
Tiến triển bệnh: thường nặng nề và điều trị khó khăn
Thể mang trùng lành
Chỉ phát hiện được trong ổ dịch,
Không có triệu chứng lâm sàng, chỉ phát hiện khi cấy phân dương tính Thời gian mang trùng: từ 1-3 tuần, có thể tới hai tháng hoặc lâu hơn
2.4.2 Phòng và trị ngộ độc thực phẩm ở người
Điều trị:
Không có thuốc điều trị đặc hiệu và phải nhanh chóng tìm mọi cách để đưa thức ăn bị nhiễm trùng ra ngoài cơ thể bệnh nhân như rửa dạ dày, gây nôn…Nếu bệnh nhân bị mất nước nhiều thì phải truyền nước và điện giải, đồng thời cho thuốc trợ tim khi cần thiết
Người bệnh phải được ủ ấm và yên tĩnh, ăn uống theo chế độ ăn kiêng đặc biệt (theo hướng dẫn của bác sĩ) trong 3-5 ngày cho đến khi bệnh nhân trở lại bình thường (www.suckhoecongdong.com/content/view/)
Phòng bệnh:
Đảm bảo thời hạn cất giữ thức ăn và chế biến các nguyên liệu
Sử dụng rộng rãi việc ướp lạnh khi bảo quản thức ăn và nguyên liệu
Đun sôi thức ăn trước khi ăn là biện pháp phòng bệnh tích cực và hiệu quả
nhất (Dương Thị Thanh Thảo, 2005)
Trang 32CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM
3.1 Phương tiện nghiên cứu
Thời gian và địa điểm thực hiện
Thời gian thực hiện: từ tháng 08/2013 đến tháng 12/2013
Địa điểm thực hiện: Các Chợ, siêu thị và điểm giết mổ nhỏ lẻ trên địa bàn
quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ Mẫu thịt sau khi lấy được đem về phân tích tại phòng vi trùng và miễn dịch của Bộ môn Thú Y, Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại học Cần Thơ
Đối tượng nghiên cứu
Thịt bò được lấy tại các chợ, siêu thị và quầy thịt trên địa bàn quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
Brilliant Green Agar (BGA)
Kligler Iron Agar (KIA)
Voges Proskauer (VP)
Simmons Citrate Agar
Các môi trường sử dụng do hãng MERCK của Đức sản xuất
Dụng cụ, trang thiết bị
Ống nghiệm, đĩa petri, chai, ống đong, ống hút, cân điện tử, tủ sấy, tủ ấm, tủ
lạnh, buồng cấy vô trùng, autoclave, nồi hấp cách thủy, que cấy, găng tay, đèn cồn và một số dụng cụ thí nghiệm khác